1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự và thương mại điển hình

305 570 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 305
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:a Phần di sản không được định đoạt trong di chúc; b Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu l

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP

VỤ PHỐ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

TÌM HIỂU CÁC VỤ VIỆC PHÁP LUẬT

VỀ DÂN SỰ, THƯƠNG MẠI

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN:

Nguyễn Thúy Hiền, Thứ trưởng Bộ Tư pháp, Trưởng Ban chỉ đạo Đề án

TỔ CHỨC BIÊN SOẠN:

Nguyễn Duy Lãm, Vụ trưởng Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp

Phạm Thị Hòa, Phó Vụ trưởng Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp

THAM GIA BIÊN SOẠN:

1 ThS Nguyễn Thị Hạnh, Học viện Tư pháp

2 ThS Nguyễn Thị Hằng Nga, Học viện Tư pháp

Trang 4

LỜI GIỚI THIỆU

Ngày 27/02/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 270/2009/QĐ-TTg phê duyệt Đề án: “Củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển của đất nước ” thuộc

Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ từ năm 2008 đến năm 2012 Một trong các hoạt động của Đề án là cung cấp,

hỗ trợ tài liệu nghiệp vụ, tài liệu pháp luật cho các đối tượng của Đề án, góp phần nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ của độingũ thực hiện công tác này trong thời kỳ mới

Nhằm đáp ứng nhu cầu về bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật đối với những người trựctiếp thực hiện công tác này, đặc biệt là đội ngũ báo cáo viên pháp luật, Ban chỉ đạo Đề án tổ chức biên soạn và phối hợp với Nhà xuất

bản Tư pháp xuất bản cuốn: “Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại” Cuốn sách cung cấp cho báo cáo viên các vụ

việc pháp luật trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh thương mại đã và đang diễn ra phổ biến trên thực tế như thừa kế, ly hôn, các hợp đồngthuê, hợp đồng tín dụng, hợp đồng góp vốn… cùng với đó là những bình luận pháp luật và hướng giải quyết của các tác giả về những

Trang 5

PH ẦN I

C ÁC VỤ VIỆC PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỰ

Trang 7

I TRANH CHẤP THỪA KẾ

VỤ VIỆC SỐ 1

Nội dung vụ án:

Cụ Bùi Văn P chết ngày 29/12/2002 Cụ Hoàng Thị C chết ngày 03/01/1995

Sinh thời các cụ sinh được 04 người con là ông Bùi Văn T, ông Bùi Văn H, ông Bùi Văn Th, bà Bùi Thị M Ngoài ra, các cụ không

có người con riêng, con nuôi nào khác

Tài sản thuộc sở hữu chung của hai cụ khi còn sống gồm: Diện tích nhà, đất 57m2 tại số 8 HĐ, quận HK, thành phố H và diện tích 1396m2đất tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H

Đối với ngôi nhà tại số 8 HĐ thì năm 1954 do có người thuê nên hai cụ P và cụ C đã uỷ quyền cho anh Bùi Văn H tiến hànhcác thủ tục tại các cấp Toà án để đòi nhà Theo Bản án số 02/DSST ngày 26/02/1993 của Toà án nhân dân quận HK đã tuyên “Xửchấp nhận yêu cầu đòi nhà cho thuê của ông Bùi Văn P do anh Bùi Văn H đại diện…” Tại Bản án số 79/DSPT ngày 29/5/1993 củaToà án nhân dân thành phố H đã giữ nguyên bản án sơ thẩm nói trên của Toà án nhân dân quận HK

Sau khi anh Bùi Văn H tiến hành việc đòi nhà theo sự ủy quyền và đã được cơ quan thi hành án tiến hành thi hành án bàn giao trảnhà số 8 HĐ thì hai cụ P và cụ C đã cùng anh H về sinh sống tại ngôi nhà này Quá trình ở tại đây, anh H đã xây dựng, sửa chữa nhưlàm toàn bộ trần bằng toocxi, lát lại toàn bộ nền nhà, xây mới khu phụ, làm lại gác xép, cầu thang… Đến năm 2002, anh Bùi Văn H đãlàm thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà số 8 HĐ Trên cơ sở đó, theo Quyết định số 1730/QĐ-UB

ngày 19/3/2002 của Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) thành phố H, nhà số 8 HĐ đứng tên chủ sở hữu nhà, sử dụng đất là

anh Bùi Văn H (Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 5019.2002 ngày 19/3/2002 của UBND

Trang 8

thành phố H).

Còn đối với diện tích nhà, đất 1396m2 tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H cũng là di sản của hai cụ P và cụ C Sinh thờihai cụ cũng có sinh sống tại nhà cấp 4 diện tích 52m2 được xây dựng trên thửa đất này cùng với vợ chồng anh Bùi Văn T Sau này, nhàcấp 4 của các cụ được vợ chồng anh T sửa chữa, tôn tạo để sử dụng Đến ngày 11/7/1999, cụ Bùi Văn P lập di chúc cho anh Bùi Văn Tđược toàn quyền sử dụng phần diện tích nhà đất tại tổ 18 phường NT

Ông Bùi Văn T chết ngày 20/5/2001, có vợ là Lương Thị AH và 02 người con là anh Bùi Duy H, chị Bùi Thị X Ngoài ra, vợchồng ông T không có người con riêng, con nuôi nào khác

Cụ Hoàng Thị C chết năm 1995 không để lại di chúc Cụ Bùi Văn P chết năm 2002, có để lại di chúc định đoạt cho anh Bùi Văn Tđược toàn quyền sử dụng phần tài sản của cụ tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H

Ngày 24/2/2010, bà Bùi Thị M có đơn khởi kiện ông Bùi Văn H, bà Lương Thị AH, anh Bùi Duy H về việc chia thừa kế di sản củahai cụ P và cụ C gồm ngôi nhà số 8 HĐ, quận HK, thành phố H và nhà, đất tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H Tại đơn khởikiện bổ sung ngày 26/8/2010, bà Bùi Thị M đề nghị Toà án chia thừa kế nhà số 8 HĐ theo pháp luật Còn đối với nhà đất ở phường NTthì công nhận di chúc của cụ P, còn lại 1/2 là phần của cụ C do thừa kế hết thời hiệu nên đề nghị Toà án chia tài sản thuộc sở hữuchung Nhưng sau đó, bà M lại thay đổi yêu cầu của mình đối với phần di sản nhà và đất tại tổ 18 phường NT hiện bà Lương Thị AH,anh Bùi Duy H đang quản lý, bà yêu cầu chia theo pháp luật vì di chúc của cụ P không có hiệu lực

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn Th đề nghị Toà án chia theo hiện vật và chia chung

Phía bị đơn ông Bùi Văn H trình bày:

Sau khi được bố, mẹ ủy quyền đòi lại nhà số 8 HĐ, ông đã tiến hành các thủ tục để đòi lại nhà Và sau khi đòi được thì hai cụ P và

cụ C ở với ông và đã cho ông toàn bộ diện tích nhà này Ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đấtngày 19/3/2002

Quá trình sử dụng, ông đã xây dựng, sửa chữa như lát lại toàn bộ nền, xây mới khu phụ, làm mái cầu thang, gác xép, lợp mái…

Trang 9

Nay trước yêu cầu chia thừa kế của phía nguyên đơn thì ông H không đồng ý chia, vì bố, mẹ ông đã cho ông ngôi nhà này Còn đối vớiphần di sản tại tổ 18 phường NT, ông yêu cầu chia theo pháp luật.

Anh Bùi Duy H trình bày:

Về huyết thống gia đình, bố anh là Bùi Văn T là một trong 04 người con của cụ Bùi Văn P và cụ Hoàng Thị C Bố anh mấtnăm 2001 Sinh thời, cụ P có di chúc để lại toàn bộ nhà, đất phần của cụ ở tổ 18 phường NT cho bố anh Sau khi bố anh chết thì

mẹ anh là Lương Thị AH và các con là Bùi Duy H, Bùi Thị X, vẫn quản lý, sử dụng Nay trước yêu cầu của phía nguyên đơn,quan điểm của anh là không đồng ý chia thừa kế vì ông nội anh (Bùi Văn P) đã cho bố anh (Bùi Văn T) phần di sản của hai cụ.Đối với phần di sản của bà nội anh (Hoàng Thị C) anh cũng không đồng ý chia tài sản chung

Bà Lương Thị AH và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Bùi Thị X trình bày thống nhất với quan điểm với anh BùiDuy H

Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Theo Công văn số 1941/TNMT và NĐ-CS ngày 30/3/2011 của Sở Tài nguyên, môi trường và nhà đất thì: Nhà số 8 HĐ,thành phố H trên thửa đất số 827 tờ bản đồ số 15, khu A nay bằng khoán điền thổ số 720, ĐX tên chủ sở hữu là ông Bùi Văn P

và bà Hoàng Thị C, trước bạ và đăng ký tại thành phố H ngày 29/5/1956 Văn bản uỷ quyền được lập ngày 12/6/1992 của cụ P

và cụ C ủy quyền cho ông H có nội dung: “Ông Bùi Văn P, bà Hoàng Thị C uỷ quyền cho con trai là Bùi Văn H thay mặt tiến hành việc đòi nhà số 8 HĐ, thành phố H… và đứng tên trước bạ cho con trai tôi”

Bản di chúc ngày 11/7/1999 cụ Bùi Văn P có nội dung:

“Tôi là Bùi Văn P, vợ là Hoàng Thị C có một thửa đất thổ cư diện tích 1396m 2 trên thửa đất có 01 ngôi nhà xây cấp 4, nhà bếp, nhà tắm (theo bản đồ địa chính số 154 tờ số 4 của xã) Tôi thấy tuổi đã cao, các con đều đã trưởng thành… Để tạo điều kiện cho con trai tôi là Bùi Văn T được toàn quyền sử dụng phần tài sản của tôi trên thửa đất tại là tổ 18, phường NT, quận LB, thành phố H và sau này có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên Nay trong tình trạng thể chất tinh thần minh mẫn, tôi làm di chúc này giao toàn quyền tài sản của tôi cho con trai là Bùi Văn T được toàn quyền sử dụng”

Về hình thức của bản di chúc có chữ ký của cụ Bùi Văn P là người lập di chúc, có xác nhận của 2 người làm chứng, có xác nhận của UBND

Trang 10

xã NT, huyện GL (nay là phường NT, quận LB).

Bình luận:

* Về người để lại thừa kế, người thừa kế, thời điểm mở thừa kế, thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Cụ Hoàng Thị C chết ngày 03/01/1995 để lại tài sản thừa kế, cụ Bùi Văn P chết ngày 29/12/2002 Sinh thời các cụ sinh được 04 người con

là ông Bùi Văn T, ông Bùi Văn H, ông Bùi Văn Th, bà Bùi Thị M Thời điểm ông T, cụ P chết là thời điểm BLDS năm 1995 đang có hiệu lựcnên áp dụng các quy định về thừa kế của BLDS năm 1995 để giải quyết vụ án Ngoài 04 người con đẻ cụ C và cụ P không có người con riêng,con nuôi nào khác Ông Bùi Văn T chết năm 2001, sinh được 02 người con là anh Bùi Duy H, Bùi Thị X Căn cứ Điều 634 BLDS năm 1995xác định cụ C, cụ P là người để lại thừa kế Theo Điều 638 BLDS năm 1995 thì ông T, ông H, ông Th, bà M là người thừa kế di sản của cụ C.Tuy nhiên theo tình tiết trong vụ án, ông T chết trước cụ P nên không được thừa kế tài sản của cụ P, vì vậy theo Điều 680 BLDS năm 1995 thìanh Bùi Duy H, chị Bùi Thị X là người thừa kế thế vị hưởng di sản của cụ P để lại Vì vậy, ông H, ông Th, bà M; anh H, chị X là người thừa kế

di sản của cụ P

Theo Điều 636 Bộ luật Dân sự (sau đây viết tắt là BLDS) năm 1995 thời điểm mở thừa kế lần 1 - cụ C chết ngày 03/01/1995;

thời điểm mở thừa kế lần 2 - cụ P chết ngày 29/12/2002 Ngày 24/02/2010, bà M làm đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ để lạinên theo Điều 648 BLDS sự năm 1995 thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản của cụ C đã hết Do đó, không chia phần di sản của cụ C để lạicho những người thừa kế

Điều 634 BLDS năm 1995 quy định:

Quyền thừa kế của cá nhân

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo

di chúc hoặc theo pháp luật.

Điều 635 BLDS năm 1995 quy định:

Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân

Trang 11

Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Điều 636 BLDS năm 1995 quy định:

Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1 Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết, thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này.

2 Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng, thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản.

Điều 648 BLDS năm 1995 quy định:

Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Điều 680 BLDS năm 1995 quy định:

Thừa kế thế vị

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước người để lại di sản, thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng đã chết trước người để lại di sản, thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

* Về tính hợp pháp của bản di chúc cụ P lập ngày 11/7/1999

Cụ Bùi Văn P chết ngày 29/12/2002 Khi còn sống, ngày 11/7/1999 cụ Bùi Văn P đã lập 01 bản di chúc với nội dung: Chuyển quyền sử dụngnhà đất cho con trai của cụ là ông Bùi Văn T ở tại thôn GT, xã NT, huyện GL, thành phố H (từ năm 2004 là tổ 18, phường NT, quận LB, thành phốH) Bản di chúc này có nội dung:

Trang 12

“Tôi là Bùi Văn P, vợ là Hoàng Thị C có một thửa đất thổ cư diện tích 1396m 2 trên thửa đất có 01 ngôi nhà xây cấp 4, nhà bếp, nhà tắm (theo bản đồ địa chính số 154 tờ số 4 của xã) Tôi thấy tuổi đã cao, các con đều đã trưởng thành… Để tạo điều kiện cho con trai tôi là Bùi Văn T được toàn quyền sử dụng phần tài sản của tôi trên thửa đất và sau này có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên Nay trong tình trạng thể chất tinh thần minh mẫn, tôi làm di chúc này giao toàn quyền tài sản của tôi cho con trai là Bùi Văn T được toàn quyền

Điều 638 BLDS năm 1995 quy định:

Người thừa kế

1 Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa

kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.

2 Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức, thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Điều 678 BLDS năm 1995 quy định:

Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

Trang 13

2 Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền hưởng

di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.

Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Bùi Văn P bao gồm 4 người con đẻ của cụ P còn sống tại thời điểm viết di chúc: Ông Bùi Văn T, BàBùi Thị M , ông Bùi Văn Th, ông Bùi Văn H (ông Bùi Văn T chết năm 2001) Hai người con của ông T - anh Bùi Duy H, chị Bùi Thị X

là thừa kế thế vị được hưởng tài sản thừa kế của cụ P

* Về di sản thừa kế:

Về nguồn gốc nhà số 8 phố HĐ, quận HK, thành phố H và 1396 m2 đất trên đó xây dựng 1 ngôi nhà cấp 4, nhà tắm, nhà vệ sinh tại

tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H

- Đối với nhà số 8 phố HĐ, quận HK, thành phố H: Theo Công văn số 1941/TNMT và NĐ-CS ngày 30/3/2011 của Sở Tài nguyên, môi

trường và nhà đất thì: Nhà số 8 HĐ, thành phố H trên thửa đất số 827 tờ bản đồ số 15, khu A nay bằng khoán điền thổ số 720, ĐX tên chủ sởhữu là ông Bùi Văn P và bà Hoàng Thị C trước bạ và đăng ký tại thành phố H ngày 29/5/1956

Trang 14

Do nhà số 8 phố HĐ, thành phố H cho hộ gia đình khác ở thuê từ trước, vào năm 1992, cụ Bùi Văn P và cụ Hoàng Thị C đã uỷ quyềncho ông Bùi Văn H thay mặt 2 cụ để tiến hành các thủ tục pháp lý: Đòi nhà cho thuê Theo Quyết định của bản án sơ thẩm số 02/DSST ngày26/02/1993 của Toà án nhân dân quận HK và Bản án phúc thẩm số 79/DSPT ngày 29/5/1993 của Toà án nhân dân thành phố H đều xác định

cụ Hoàng Thị C và cụ Bùi Văn P là đồng sở hữu nhà số 8 phố HĐ, thành phố H Đồng thời, án tuyên buộc hộ gia đình đang ở thuê tại số nhà

số 8 phố HĐ, thành phố H trả lại toàn bộ diện tích nhà đang thuê cho cụ P, cụ C do ông Bùi Văn H là đại diện Bản án phúc thẩm đã được thihành án xong và từ sau khi lấy lại nhà cụ P, cụ C, gia đình ông Bùi Văn H về sống tại số 8 HĐ, thành phố H Cho đến năm 1998, thực hiệnchủ trương của Nhà nước về việc đăng ký kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà Ngày 28/3/1998, ông Bùi Văn H

đã làm đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với nhà số 8 HĐ, quận HK, thành phố H và ngày19/3/2002, UBND thành phố H đã cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở số 1010519018 cho ông Bùi Văn H tại số

8 phố HĐ, thành phố H theo Quyết định số UB ngày 19/3/2002 Cơ sở để UBND thành phố H ban hành Quyết định số

1730/QĐ-UB ngày 19/3/2002 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với nhà số 8 phố HĐ, quận HK, thành phố H

cho ông Bùi Văn H là dựa trên nội dung của văn bản uỷ quyền được lập ngày 12/6/1992 có nội dung: Ông Bùi Văn P, bà Hoàng Thị C uỷ quyền cho con trai là Bùi Văn H thay mặt tiến hành việc đòi nhà số 8 HĐ, thành phố H… và đứng tên trước bạ cho con trai tôi

Như vậy, xét về phạm vi của việc cụ P, cụ C uỷ quyền cho ông Bùi Văn H là thực hiện hành vi tiến hành các thủ tục đòi nhà số 8

HĐ, thành phố H đồng thời chỉ là người đứng tên trong trước bạ nhà số 8 HĐ, thành phố H chứ giấy uỷ quyền này không thể hiện nộidung cụ P, cụ C cho (tặng) định đoạt nhà số 8 HĐ, thành phố H cho ông Bùi Văn H Việc ông H đứng tên sở hữu nhà là không đúng vìthực chất là nhà số 8 phố HĐ, thành phố H vẫn thuộc quyền sở hữu của cụ P, cụ C Do đó, xác định nhà số 8 phố HĐ là di sản của cụ C,

cụ P để lại theo Điều 637 BLDS năm 1995

Điều 637 BLDS năm 1995 quy định:

Di sản

1 Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

2 Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo quy định tại Phần thứ năm của Bộ luật này.

- Đối với diện tích nhà đất tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H: Quá trình giải quyết vụ kiện tại Toà án các bên đương sự

Trang 15

đều có lời khai xác nhận nguồn gốc diện tích 1396m2 đất, trên có nhà cấp 4 và nhà tắm, nhà vệ sinh là do cụ P, cụ C mua Sau đó, cho

vợ chồng ông T, bà Lương Thị AH về ở tại đây, hiện toàn bộ thửa đất này mang số thửa 87, tờ bản đồ số 4 đo vẽ năm 1993 Hiện bàLương Thị AH và anh Bùi Duy H đang quản lý sử dụng Bà AH, anh H cho rằng, phần di sản của cụ P thì cụ P đã lập di chúc cho ôngBùi Văn T nên đề nghị Toà án chia theo di chúc Vấn đề này như phần trên đây đã nhận định, phân tích về di chúc của cụ Bùi Văn P là

di chúc không có hiệu lực nên di sản thừa kế của cụ P được chia theo pháp luật

Xác định di sản thừa kế của cụ P, cụ C là 2 khối tài sản: Nhà số 8 phố HĐ, thành phố H và diện tích 1396m2 nhà và đất tại tổ 18phường NT, quận LB, thành phố H Nay phía nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với 2 khối di sản trên của cụ P, cụ C.Nhà số 8 phố HĐ mà ông H đang quản lý sử dụng theo biên bản định giá thì tổng cộng giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựngcòn lại của nhà số 8 HĐ là di sản thừa kế của cụ P, cụ C tính thành tiền là: 12.150.000.000 đồng (giá trị quyền sử dụng đất) +32.815.000 đồng (giá trị xây dựng còn lại) = 12.182.815.000 đồng

Thời điểm mở thừa kế để chia di sản thừa kế của cụ C là năm 1995 Di sản thừa kế của cụ C để lại tại số 8 HĐ là 1/2 giá trị nhà số 8 phố

HĐ thành phố H thành tiền là: 12.182.815.000 đồng : 2 = 6.091.407.500 đồng Tính đến thời điểm bà Bùi Thị M khởi kiện vụ án dân sự Chia thừa kế là ngày 01/7/2010 thì thời hiệu để chia phần di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị C đã hết thời hiệu Bà M có yêu cầu: Đối với phần

-di sản của cụ C đề nghị Toà án chia tài sản chung theo quy định của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình Về yêu cầu này của

bà M nhận thấy:

Theo quy định tại tiểu mục 2.4 Mục 1 Phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án

nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình hướng dẫn: “… Sau khi kết thúc thời hạn 10 năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản thừa kế do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế…”.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại Toà án: Ông H trình bày nhà số 8 phố HĐ, thành phố H đã được bố mẹ cho ông và ông khôngđồng ý chia, do vậy viện dẫn và áp dụng mục 2.4 điểm a của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình thì yêu cầu chiatài sản chung đối với phần di sản thừa kế của cụ C của bà M không được thoả mãn với quy định của pháp luật

Trang 16

Tiểu mục 2.4 Mục 1 Phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình:

2.4 Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa

kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1) Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2) Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3) Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang

do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác

đó để đòi lại di sản.

Đối với phần di sản thừa kế của cụ P tại số 8 phố HĐ, thành phố H là 1/2 nhà tính thành tiền có giá trị là: 6.091.407.500 đồng Thờiđiểm mở thừa kế để chia di sản của cụ P là năm 2002 và di sản thừa kế được chia theo pháp luật Tuy nhiên, khi chia thừa kế đối vớiphần di sản thừa kế của cụ P, cũng cần xem xét đến công sức duy trì và bảo quản di sản cũng như quá trình vào năm 1992 ông H đãthay mặt cụ P, cụ C tiến hành các thủ tục đòi nhà cho thuê và từ sau khi cụ P, cụ C mất đi, ông đã quản lý di sản trong nhiều năm; vìvậy trích 01 kỷ phần thừa kế cho ông H về công sức đi đòi nhà và bảo quản di sản thừa kế là phù hợp Theo quy định tại Điều 679

Trang 17

BLDS năm 1995 thì hàng thừa kế thứ nhất của cụ P gồm: 03 người con đẻ còn sống tại thời điểm mở thừa kế và 02 người cháu là thừa

kế thế vị: ông Bùi Văn H, ông Bùi văn Th, Bà Bùi Thị M và anh Bùi Duy H, chị Bùi Thị X (01 kỷ phần thừa kế thế vị của ông T).Xác định di sản thừa kế của cụ P có tổng giá trị thành tiền là 6.091.407.500 đồng và chia 4 kỷ phần + 01 kỷ phần trích trừ công sứccho ông H, chia toàn bộ hiện vật nhà số 8 phố HĐ cho ông H sở hữu Tổng di sản 6.091.407.500 đồng : 5 Như vậy, mỗi kỷ phần thừa

kế của cụ P được hưởng di sản thừa kế tính thành tiền là 6.091.407.500 đồng : 5 Riêng ông Bùi Văn H được nhận một kỷ phần thừa kế

và một suất công sức quản lý, bảo quản di sản

Chia toàn bộ bằng hiện vật phần di sản thừa kế của cụ P cho ông Bùi Văn H được hưởng và ông Bùi Văn H, có nghĩa vụ thanhtoán lại giá trị bằng tiền cho các đồng thừa kế khác Phần di sản hết thời hiệu chia thừa kế của cụ C Tòa án không chia cho những ngườithừa kế

Điều 679 BLDS năm 1995 quy định:

Người thừa kế theo pháp luật

1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.

2 Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3 Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng thừa kế hoặc từ chối nhận di sản.

Đối với di sản thừa kế tại tổ 18 NT, quận LB, thành phố H do bà Lương Thị AH, anh Bùi Duy H đang quản lý Theo biên bản địnhgiá 1396 m2 đất cùng các công trình xây dựng trên đất thì tổng di sản tính thành tiền gồm giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng

Trang 18

còn lại thuộc di sản thừa kế là 6.994.368.000 đồng.

Thời điểm mở thừa kế để phân chia di sản thừa kế của cụ C là năm 1995 di sản của cụ C gồm 1/2 quyền sử dụng đất là 698m2 đất,tính di sản thành tiền là: 3.497.184.000 đồng (gồm cả giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng) Như trên đã nhận định, thời hiệu đểphân chia di sản thừa kế của cụ C đã hết thời hiệu chia thừa kế, phía nguyên đơn yêu cầu phân chia tài sản chung thì cũng không thoảmãn những quy định tại mục 2.4 điểm a của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhândân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình

Đối với phần di sản thừa kế của cụ P tại tổ 18 phường NT, quận LB là 1/2 diện tích quyền sử dụng đất và 1/2 giá trị xây dựng, cụthể là 698m2 quyền sử dụng đất tính thành tiền có giá trị là: 3.497.184.000 đồng (bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xâydựng) Cụ P chết năm 2002, đây là thời điểm mở thừa kế để chia di sản thừa kế của cụ P, di sản được chia theo pháp luật Theo quyđịnh tại Điều 679 BLDS năm 1995 thì hàng thừa kế thứ nhất của cụ P gồm: 03 người con đẻ của cụ và 02 cháu nội (con ông T là thừa

kế thế vị) Tuy nhiên, khi chia thừa kế đối với di sản thừa kế của cụ P, cũng cần xem xét đến công sức duy trì, quản lý khối di sản của

bà Lương Thị AH, anh Bùi Duy H, chị Bùi Thị X là những người đã trực tiếp duy trì, bảo quản di sản và có công sức tôn tạo tại đây nêntrích chia tương đương với 01 kỷ phần cho những người này Như vậy, di sản thừa kế của cụ P sẽ được chia làm 5 suất (riêng anh H, chị

X, bà AH được thêm 01 suất) chia cụ thể: mỗi kỷ phần thừa kế được nhận di sản tính thành tiền là: 3.497.184.000 đồng : 04 kỷ phần + 1

kỷ phần tính công sức Ông Th, ông H, bà M mỗi người được nhận 01 kỷ phần Chị X, anh H được nhận 01 kỷ phần thừa kế Chị X,anh H, bà AH được nhận 01 kỷ phần tính công sức

Từ những phân tích trên đây, vụ việc có thể giải quyết như sau:

1 Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của bà Bùi Thị M đối với di sản thừa kế tại số 8 HĐ, thành phố H và tổ 18 phường NT, quận

LB, thành phố H (do bà Lương Thị AH, anh Bùi Duy H đang quản lý)

2 Xác nhận nhà số 8 HĐ, thành phố H và diện tích 1396m2 đất trên có nhà cấp 4 tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H là di sảnthừa kế của cụ Bùi Văn P và cụ Hoàng Thị C để lại

3 Xác định di sản thừa kế của cụ Bùi Văn P gồm: 1/2 giá trị đất và giá trị xây dựng còn lại của nhà số 8 HĐ, thành phố H và diện tích

1396m2 đất trên có nhà cấp 4 tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H được chia cho các thừa kế của cụ P

Trang 19

4 Xác định di chúc của cụ Bùi Văn P lập ngày 11/7/1991 không có hiệu lực pháp luật Toàn bộ di sản thừa kế của cụ Bùi Văn P

được chia theo pháp luật

X yêu cầu chia phần của chị và 03 con chung vào một khối

Tại bản tự khai ngày 05/10/2007, ông Vương Văn Tr trình bày:

Năm 1992, con trai ông là Vương Văn V lấy chị Nguyễn Thị X về làm vợ và sinh được 03 người con là Vương Thị H, Vương Văn Th vàVương Văn A Năm 2006, con trai là anh Vương Văn V mất do tai nạn lao động Nay chị X kiện ông yêu cầu chia diện tích đất nông nghiệp tại

xứ đồng bờ Tuỳ là 1.080m2, ông không chấp nhận vì diện tích đất trên là do ông đổi cho các hộ khác (ông K, ông C, ông H, ông M là ngườicùng làng), về gần nhà để tiện canh tác, còn sổ đỏ cấp cho anh V là không đúng vì ông Nguyễn Xuân H lúc đó là chủ nhiệm hợp tác xã đã tựghi tên anh V vào trong đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp (2.472m2) Hiện tại, ông Tr đang canh tác diện tích đấtnày, do vậy ông không đồng ý với yêu cầu của chị X

Trang 20

Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Lời khai của ông Nguyễn Xuân H - nguyên chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp LC, nguyên Trưởng tiểu ban cấp Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất nông nghiệp, tại biên bản lấy lời khai ngày 12/02/2009 có nội dung: Ông là họ hàng của cả ông Tr và chị X Thực hiện Nghị định

số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ ban hành bản Quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dàivào mục đích sản xuất nông nghiệp, ông H đến nhà anh V - chị X, lúc đó ông Tr đang ở cùng để làm thủ tục kê khai Họ đã thống nhất và nhờông ký tên hộ Khi có Giấy chứng nhận ông H đã giao cả 02 bản cho chính ông Tr Đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nôngnghiệp cho hộ gia đình hiện đang lưu giữ tại UBND huyện S, cũng như Công văn số 242/UBND-TNMT ngày 17/3/2009 của UBND huyện S

có nội dung đối tượng được cấp Giấy chứng nhận 2.472m2 đất là hộ gia đình ông Vương Văn V Hộ gia đình anh V tại thời điểm cấp Giấychứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đất tranh chấp hộ gia đình anh Vương Văn V gồm ông Tr, anh V, chị X

Bình luận:

* Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Tranh chấp giữa chị X và ông Tr là tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp vì diện tích đất nông nghiệp là 2.472m2tại các xứ đồng thuộc thôn LC, xã XG, huyện S, tỉnh H đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998mang tên anh Vương Văn V, số sổ là 863/QSDĐ Năm 2006, anh V chết, ông Vương Văn Tr đã chiếm giữ, sử dụng diện tích 1.080 m2đất tại xứ đồng bờ Tùy, chị X đòi nhiều lần nhưng ông Tr không trả Chị X khởi kiện ông Tr yêu cầu Toà án chia thừa kế theo pháp luậtdiện tích đất 1.080m2 tại xứ đồng bờ Tuỳ

* Về người thừa kế, di sản thừa kế:

Anh Vương Văn V chết có tài sản để lại vì vậy anh V là người để lại thừa kế, anh V chết không để lại di chúc vì vậy di sản của anh

V được chia theo pháp luật Bên nguyên đơn không yêu cầu chia toàn bộ di sản của anh V để lại mà chỉ yêu cầu chia thừa kế theo phápluật diện tích đất 1.080m2 tại xứ đồng bờ Tuỳ nên Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của nguyên đơn Người thừa kế theopháp luật thuộc hàng thứ nhất của anh V theo quy định tại Điều 676 BLDS năm 2005 gồm 05 người: ông Vương Văn Tr, chị NguyễnThị X, cháu Vương Thị H, cháu Vương Văn Th, cháu Vương Văn A Cháu Vương Thị H - sinh năm 1994; cháu Vương Văn Th - sinhnăm 1996, cháu Vương Văn A - sinh năm 1998 Chị X khởi kiện ngày 20/8/2008 khi đó các cháu chưa thành niên nên chị X là ngườiđại diện hợp pháp của 03 con chị

Trang 21

* Về di sản thừa kế:

Ông Tr cho rằng 1.080m2 đất đang có tranh chấp là tài sản của ông, do ông đổi với một số hộ dân cùng thôn từ những năm 1988, ôngNguyễn Xuân H lúc đó là chủ nhiệm hợp tác xã đã tự ghi tên anh V vào trong đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp(2.472m2) nên việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh V là không đúng Còn chị X có quan điểm, diện tích đất tranh chấp vợchồng chị đã nhận chuyển nhượng của ông K, nhưng hiện nay ông K đã chết và giấy tờ thì không có Song thực tế là từ tháng 01/1998 thìdiện tích đất có tranh chấp đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ anh Vương Văn V

Theo nội dung lời khai của ông Nguyễn Xuân H - nguyên chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp LC, nguyên Trưởng tiểu ban cấpGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp thực hiện Nghị định số 64-CP, thì ông là người trực tiếp đến nhà anh V - chị X, lúc đóông Tr đang ở cùng để làm thủ tục kê khai (ông H là họ hàng của cả ông Tr và chị X), ông Tr, anh V, chị X đã thống nhất và nhờ ông

ký tên hộ Khi có Giấy chứng nhận ông đã giao cả 02 bản cho chính ông Tr

Căn cứ vào các đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình hiện đang lưu giữ tại UBND huyện

S, cũng như căn cứ vào Công văn số 242/UBND-TNMT ngày 17/3/2009 của UBND huyện S đã khẳng định đối tượng được cấp Giấychứng nhận 2.472m2 đất là hộ gia đình anh Vương Văn V (gồm ông Tr, anh V, chị X) Từ những căn cứ trên, xác định diện tích đấttranh chấp là tài sản của hộ gia đình anh Vương Văn V theo quy định tại Điều 106, 107, 108, 688 BLDS năm 2005 Do vậy, anh V, ông

Tr, chị X có quyền ngang nhau đối với diện tích họ đang có tranh chấp là 1.080 m2 Do xác định diện tích đất tranh chấp là tài sảnchung của ông Tr, anh V chị X nên chia ba sau khi anh V chết Ông Tr, anh V, chị X mỗi người được chia bằng nhau

Ðiều 106 BLDS năm 2005 quy định:

Hộ gia đình

Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này.

Ðiều 107 BLDS năm 2005 quy định:

Trang 22

Ðại diện của hộ gia đình

1 Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ.

Chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự

2 Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình

Ðiều 108 BLDS năm 2005 quy định:

Tài sản chung của hộ gia đình

Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ.

Ðiều 109 BLDS năm 2005 quy định:

Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình

1 Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thỏa thuận.

2 Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.

Ðiều 688 BLDS năm 2005 quy định:

Căn cứ xác lập quyền sử dụng đất

1 Ðất đai thuộc hình thức sở hữu nhà nước, do Chính phủ thống nhất quản lý

Trang 23

2 Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất.

3 Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác cũng được xác lập do được người khác chuyển quyền

sử dụng đất phù hợp với quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai.

Phần đất của anh V được chia có diện tích 360 m2 là tài sản chung của vợ chồng anh V, chị X theo quy định tại Điều 27 LuậtHôn nhân và gia đình năm 2000 Anh V chết, thanh toán chia tài sản chung của vợ chồng nên xác định quyền sử dụng đất là di sảncủa anh V để lại là 360 m2 : 2 còn 180m2 chia đều cho 05 người thừa kế theo quy định tại các điều 676, 689, 735 BLDS: 180 m2 : 5

= 36 m2 (gồm ông Tr = chị X = cháu H = cháu Th = cháu A) Như vậy, ông Tr, chị X, cháu H, cháu Th, cháu A được chia mỗingười 36 m2 từ 180 m2 đất di sản thừa kế của anh V

Ðiều 689 BLDS năm 2005 quy định:

Hình thức chuyển quyền sử dụng đất

1 Việc chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Ðiều này.

2 Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật

3 Việc thừa kế quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại các điều từ Ðiều 733 đến Ðiều 735 của Bộ luật này.

Ðiều 733 BLDS năm 2005 quy định:

Trang 24

Cá nhân để thừa kế quyền sử dụng đất

Cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định tại Phần thứ tư của Bộ luật này và pháp luật về đất đai

Ðiều 735 BLDS năm 2005 quy định:

Thừa kế quyền sử dụng đất được Nhà nước giao cho hộ gia đình

Hộ gia đình được Nhà nước giao đất nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để lại cho những người thừa kế theo quy định tại Phần thứ tư của Bộ luật này và pháp luật về đất đai

Như vậy, phần ông Tr được thừa kế là 180 m2 : 5 = 36 m2, nhập vào chung với phần ông Tr được chia trước đó 360 m2 = 396 m2.Phần của chị X và 03 con là cháu A, H, Th được hưởng thừa kế của anh V là: 36 m2 x 4 = 144 m2 Diện tích đất chị X được chia tàisản chung khi chia tài sản của hộ gia đình là 360 m2, chia tài sản chung của vợ chồng là 180 m2 Cộng gộp lại là chị X và 03 con đượcchia diện tích 684 m2

Từ những phân tích trên đây, vụ việc có thể giải quyết như sau:

1 Chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng 1.080 m2 đất nông nghiệp tại xứ đồng bờ Tuỳ, thôn LC, xã XG, huyện S, tỉnh Hcủa Nguyễn Thị X đối với ông Vương Văn Tr

2 Xác định quyền sử dụng 1.080 m2 đất nông nghiệp đo thực tế tại xứ đồng bờ Tuỳ thuộc thôn LC (bản đồ địa chính lập năm 1992) đượccấp cho hộ gia đình anh Vương Văn V gồm: anh Vương Văn V, chị Nguyễn Thị X, ông Vương Văn Tr Chia đều mỗi người được quyền sửdụng 360 m2 đất

3 Xác định thời điểm mở thừa kế di sản của anh Vương Văn V là ngày 28/3/2006

Hàng thừa kế thứ nhất của anh V là ông Vương Văn Tr, chị Nguyễn Thị X, các cháu Vương Thị H, Vương Văn Th, Vương Văn A.Mỗi thừa kế được chia 36m2

4 Ghi nhận sự tự nguyện của chị X và 03 con xin chia chung vào một khối Chia cho chị Nguyễn Thị X và 03 con là Vương Thị H,

Trang 25

Vương Văn Th, Vương Văn A quyền sử dụng 684 m2 đất nông nghiệp còn lại tại xứ đồng bờ Tuỳ, thôn LC, xã XG, huyện S, tỉnh H.

5 Chia cho ông Vương Văn Tr quyền sử dụng 396 m2 đất nông nghiệp tại xứ đồng bờ Tuỳ, thôn LC, xã XG, huyện S, tỉnh H (trong1.080 m2 đất nông nghiệp đang có tranh chấp)

Các bên không phải thanh toán cho nhau khoản tiền nào và có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê khai xin cấpGiấy chứng nhận theo quyết định của Toà án

VỤ VIỆC SỐ 3

Nội dung vụ án:

Ông Nguyễn Th mất ngày 09/5/2007, có vợ là bà Hồng Bảo A Ông Th, bà A có 03 con chung là Nguyễn Hồng C; Nguyễn Hồng S

và Nguyễn Hồng Q, ngoài ra ông Th không có người con đẻ, con nuôi, con riêng nào khác

Nguồn gốc căn hộ tại phòng 116 (cũ phòng 16) - C1 - tập thể KL - quận Đ - thành phố H do Bộ kiến trúc phân cho bà Hồng Bảo Angày 14/7/1967 Năm 1987, ông Th được phân thêm 01 căn hộ tại phòng 103 (cũ phòng 3) - C5 - tập thể KL - quận Đ - thành phố H.Năm 1991, ông bà ly hôn đã tự phân chia tài sản cụ thể: Ông Th được chia 1/2 căn hộ tại phòng 116 (cũ phòng 16) - C1 - tập thể KL vàcăn hộ tại phòng 103 (cũ phòng 3) - C5 - tập thể KL Ngày 06/12/2000, ông Nguyễn Th được UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhậnquyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với diện tích đất ông được chia Sau khi ông Th ly hôn thì 02 căn hộ này do ông Thcùng gia đình anh C ở quản lý và sử dụng

Ngày 18/4/2006, ông Th lập chúc thư, di chúc do ông Th viết tay, không có người làm chứng Di chúc gồm có 02 trang, mỗi trang đều cóchữ ký của ông Th, nội dung để lại tài sản cho các con của ông Th cụ thể: Anh C được hưởng toàn bộ diện tích nhà đất tại phòng 103 (cũ phòng3) - C5 - tập thể KL - quận Đ - thành phố H gồm có phần đất tự tạo (lưu không) và 10m2 kiốt tại phòng 116 - C1 Anh S được hưởng 2/3 diệntích phòng 116 nhà C1 tập thể KL; chị Q được hưởng 1/3 diện tích phòng 116 nhà C1 tập thể KL bao gồm cả phần đất tự tạo (lưu không: cóphần nhà xây trên đất lưu không liền kề phần nhà chính có diện tích 22,75m2) Ngày 15/01/2008, chị Q khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sảncủa ông Th theo di chúc

Anh Nguyễn Hồng C cũng nhất trí với lời khai của chị Q nhưng theo anh toàn bộ diện tích lấn chiếm là do anh tự lấn chiếm, tự xây

Trang 26

nhà Nay anh chỉ đồng ý phần di chúc của ông Th đối với diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Phần lấn chiếm bốanh định đoạt cả là không đúng nên anh chỉ đồng ý trả phần nhà 20,2m2 đã được cấp Giấy chứng nhận, phần anh lấn chiếm anh khôngđồng ý trả

Anh Nguyễn Hồng S thống nhất với lời khai của chị Q yêu cầu Tòa công nhận di chúc

Chị Trần Thị Kim T (vợ anh C) nhất trí với lời khai của anh C

Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/4/2008, anh C khai có nội dung vào cuối năm 2006 anh đã dùng tiền của bố để sửa nhà Tại phiênhòa giải ngày 24/6/2008, chị Q, anh Sơn cũng đã tự nguyện thanh toán khoản tiền 24.944.160 đồng là tiền sửa chữa xây dựng cho anhC

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh C có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký của ông Nguyễn Th tại chúc thư lập ngày

18/4/2006 Tại Kết luận giám định số 920/C21 (P6) ngày 06/5/2009 của Viện khoa học hình sự, Tổng cục cảnh sát đã kết luận: “Chữ ký đứng tên “Nguyễn Th” dưới mục “người viết chúc thư” trên 20trang tài liệu cần giám định đề “chúc thư” ngày 18/4/2006 (ký hiệu A1-2) với chữ ký của ông Nguyễn Th trên các trang tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1; M2; M3; M4; M5-2; M6-2; M7-2 là do cùng một người ký ra”.

Diện tích 10m2 kiốt, các đồ dùng sinh hoạt trong gia đình các đương sự đã tự giải quyết không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết

Bình luận:

* Về người để lại thừa kế, người thừa kế:

Ông Nguyễn Th mất ngày 09/5/2007, có vợ là bà Hồng Bảo A Ông bà có 03 con chung là anh C, anh S, chị Q Năm 1991, ông bà

ly hôn đã tự chia nhau tài sản xong Ngoài ba người con đẻ, ông Th không còn con đẻ, con nuôi, con riêng nào khác Căn cứ BLDS năm

2005, xác định ông Th là người để lại thừa kế Theo quy định tại Điều 635 BLDS năm 2005, anh C, anh S, chị Q được ông Th chỉ địnhtrong di chúc hưởng di sản thừa kế của ông và còn sống vào thời điểm mở thừa kế nên là người thừa kế theo di chúc của ông Th

* Về di sản thừa kế:

Trang 27

Anh C, anh S và chị Q đều xác định ông Th mất đi có để lại 02 khối tài sản gồm căn hộ P116 (cũ P16) - C1 diện tích 20,2m2 và căn hộP103 (cũ P3) - C5 diện tích 18,5m2 tại khu tập thể KL hiện đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Th.Ngoài ra, còn xây dựng nhà trên phần đất lưu không liền kề với 02 căn hộ trên Theo chị Q, anh S thì phần xây dựng nhà là tiền của, côngsức của ông Th bỏ ra Theo anh C, chị T thì toàn bộ tiền của, công sức xây dựng nhà trên phần đất lưu không là của vợ chồng anh chị bỏ

ra Tuy nhiên, anh C, chị T không đưa ra được các chứng cứ chứng minh cho việc sửa chữa của mình Hơn nữa, anh C còn xác nhận vàocuối năm 2006 anh đã dùng tiền của bố để sửa nhà Về thực tế, ông Th là chủ sở hữu 02 căn hộ nêu trên Trong quá trình ở và quản lý nhànày, ông Th mới là người được quyền lấn chiếm xây dựng phần đất lưu không phía trước hoặc phía sau căn hộ Trong quá trình giải quyết

vụ án, chị Q, anh S cũng đã tự nguyện thanh toán khoản tiền 24.944.160 đồng là tiền sửa chữa xây dựng cho anh C

Tuy nhiên, phần đất lưu không nói trên thuộc quyền quản lý của nhà nước nên diện tích đất này không phải là di sản thừa kế củaông Th Do đó, xác định di sản của ông Th để lại bao gồm: Nhà tại P116 - C1 theo biên bản định giá có giá trị là: 353.663.136 đồng (giátrị của căn hộ P116) + 24.944.160 đồng (giá trị vật liệu xây dựng trên phần đất lưu không) = 378.607.296 đồng Nhà tại P103 - C5 theobiên bản định giá có giá trị là: 259.000.000 đồng (giá trị của căn hộ P103) + 28.574.000 đồng (giá trị vật liệu xây dựng trên phần đấtlưu không) = 287.574.000 đồng

Đối với diện tích 10m2 kiốt, các đồ dùng sinh hoạt trong gia đình các đương sự đã tự giải quyết không yêu cầu Tòa án xem xét nênkhông phải xét

* Về tính hợp pháp của di chúc:

- Về hình thức của di chúc:

Bản di chúc do ông Th viết tay, không có người làm chứng Di chúc gồm có 02 trang, mỗi trang đều có chữ ký của ông Th Nhưvậy, đây là di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, căn cứ theo quy định tại Điều 653, 655 BLDS năm 2005 hình thức củabản chúc thư ông Th lập ngày 18/4/2006 là đúng quy định của pháp luật

- Về nội dung của di chúc:

Ngày 18/4/2006, ông Th có lập chúc thư để lại tài sản cụ thể: Phần cho con trai cả Nguyễn Hồng C trước đây tôi đã cho C sử dụng

để ở phần nhà bên C5, nay tôi vẫn để cho C ở như cũ Sau khi tôi mất đi, tôi sẽ cho thêm C một kiốt gần 10m2 ở đầu hồi nhà C1, ngoài

Trang 28

C ra sau này là của cháu nội tôi là Nguyễn Thanh L mới được hưởng, còn những người khác không có phần Phần nhà đất liền kề tự tạo

ở P116 - C1 tập thể KL (kể cả sân) bằng 50,2m2 tôi sẽ cho S 2/3 và cho Q 1/3

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh C có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký của ông Nguyễn Th tại chúc thư lập ngày

18/4/2006 Tại Kết luận giám định số 920/C21 (P6) ngày 06/5/2009 của Viện khoa học hình sự, Tổng cục cảnh sát đã kết luận: “Chữ ký đứng tên “Nguyễn Th” dưới mục “người viết chúc thư” trên trang 2 tài liệu cần giám định đề “chúc thư” ngày 18/4/2006 (ký hiệu A1-2) với chữ ký của ông Nguyễn Th trên các trang tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1; M2; M3; M4; M5-2; M6-2; M7-2 là do cùng một người ký ra”

Như vậy, ông Th lập di chúc là hoàn toàn tự nguyện, thể hiện ý chí đích thực của ông Di chúc có nội dung định đoạt tài sản thuộcquyền sở hữu của ông cho 03 người con Vì vậy, nội dung của bản di chúc này là hợp pháp

Di chúc ngày 18/4/2006 có nội dung và hình thức phù hợp với pháp luật nên được công nhận

Từ những phân tích trên, xác định phần diện tích nhà đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng sở hữu hợp pháp mang tênông Nguyễn Th là di sản thừa kế của ông Nguyễn Th và công nhận di chúc của ông Th về phần nhà đất này là có căn cứ và đúng phápluật

Ðiều 652 BLDS năm 2005 quy định:

Di chúc hợp pháp

1 Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2 Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3 Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

Trang 29

4 Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Ðiều này.

5 Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Ðiều 653 BLDS năm 2005 quy định:

Nội dung của di chúc bằng văn bản

1 Di chúc phải ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng

di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản;

đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

2 Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Ðiều 655 BLDS năm 2005 quy định:

Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

Người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Ðiều 653 của Bộ luật này.

Trang 30

Từ những phân tích trên đây, vụ việc có thể được giải quyết như sau:

1 Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo di chúc của chị Nguyễn Hồng Q đối với anh Nguyễn Hồng C về việc chia thừa kế di sản

của ông Nguyễn Th

2 Xác định khối tài sản của ông Nguyễn Th để lại gồm có căn hộ tại P116 - C1 và căn hộ P103 - C5 khu tập thể KL, quận Đ, thành

phố H có tổng diện tích là 38,7m2 được UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/12/2000 mang tên ôngNguyễn Th cộng với giá trị phần nguyên vật liệu xây dựng trên phần đất lưu không tại 02 căn hộ nêu trên là di sản thừa kế của ôngNguyễn Th

3 Xác định thời điểm mở thừa kế di sản của ông Nguyễn Th là ngày 09/5/2007.

4 Hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Th gồm: Anh Nguyễn Hồng C; chị Nguyễn Hồng Q; anh Nguyễn Hồng S.

5 Xác định di chúc do ông Nguyễn Th lập ngày 18/4/2006 là hợp pháp đối với di sản là căn hộ P116 - C1 và căn hộ P103 - C5 khu

tập thể KL, quận Đ, thành phố H cộng với giá trị phần nguyên vật liệu xây dựng trên phần đất lưu không tại 02 căn hộ nêu trên thuộcquyền sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Th

- Giao cho anh Nguyễn Hồng S, chị Nguyễn Hồng Q sở hữu, sử dụng chung căn hộ P116 - C1 tập thể KL, phường KL, quận Đ,thành phố H diện tích 20,2m2 đã được UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Th ngày06/12/2000 và toàn bộ giá trị vật liệu xây dựng đã được xây dựng tại phần đất lưu không (bao gồm 01 gian nhà + sân) liền kề với căn

hộ P116 nêu trên

- Giao cho anh Nguyễn Hồng C sở hữu, sử dụng căn hộ P103 (cũ phòng 3) - C5 tập thể KL, quận Đ, thành phố H diện tích 18,5m2

đã được UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Th ngày 06/12/2000 và toàn bộ giá trịvật liệu xây dựng tại phần đất lưu không liền kề với căn hộ P103 nêu trên

- Các đương sự phải chấp hành các quy định của các cơ quan có thẩm quyền về quản lý, sử dụng đất

6 Ghi nhận sự tự nguyện của anh S và chị Q thanh toán cho anh C, chị T 24.944.160 đồng tiền nguyên vật liệu xây dựng trên đất

lưu không

Trang 31

II TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

VỤ VIỆC SỐ 1

Nội dung vụ án:

Nguyên đơn anh Nguyễn Duy Ch trình bày:

Ngày 22/5/1997, vợ chồng anh Ch mua đất của vợ chồng ông bà Đ - M, đã được UBND xã KS xác nhận Sau đó, vợ chồng anh Chlàm nhà ở khoảng hơn 60 m2 xâydựng Ngày 09/01/2007, vợ chồng anh Ch được UBND thành phố ST cấp Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất số AG 485463, thửa số 54, tờ bản đồ số 09 với diện tích 397,5 m2 (trong đó đất ở 50 m2, đất trồng cây lâu năm 347,5 m2).Thửa đất có kích thước như sau: điểm 1-2 là 10,07m, điểm 2-3 là 39,20m, điểm 3 - 4 là 8,37m, điểm 4-5 là 1,71m, điểm 5-1 là 39,78m Tháng 3/2007, anh Nguyễn Văn K là hộ liền kề có cho vợ chồng em trai là anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị G đất để làm nhà.Khi xây dựng, vợ chồng anh C đã xây lấn sang phần đất của gia đình anh Ch, bản thân anh đã gặp anh K và anh C để trao đổi và đềnghị phía gia đình anh C phải tôn trọng mốc giới đất đai khi xây dựng, nhưng anh C vẫn tiếp tục xây dựng Anh Ch đã có đơn gửiUBND xã KS yêu cầu giải quyết UBND xã đã tổ chức đo đạc và tiến hành hòa giải giữa hai gia đình nhưng không có kết quả Vợchồng anh C vẫn tiếp tục xây dựng hoàn thiện ngôi nhà ba tầng Cụ thể phần tường nhà xây lấn sang phần đất nhà anh chỗ sâu nhấtkhoảng 40cm, phần máng chảy lấn sang 30cm chạy dọc theo nhà dài khoảng 20cm, phía sau nhà xây 01 rãnh thoát nước rộng khoảng30cm Tổng diện tích đất xây lấn chiếm khoảng 08 m2, trên diện tích đất bị lấn chiếm không có tài sản gì

Nay anh Ch yêu cầu anh K và anh C phải cùng có trách nhiệm trả lại phần đất đã lấn chiếm của gia đình anh là khoảng 08 - 10m2.Riêng phần đất lấn chiếm đã xây dựng thành nhà kiên cố thì anh yêu cầu thanh toán bằng tiền để đảm bảo giá trị của công trình đã xâydựng, còn diện tích đất khác phải trả cho gia đình anh kể cả phần mái chảy ở trên

Trang 32

Chị Đỗ Lệ Th (vợ anh Ch) trình bày thống nhất với anh Ch.

Bị đơn anh Nguyễn Văn K trình bày:

Năm 1985, gia đình anh K được UBND xã KS cấp đất với diện tích 1227,9m2 Ngày 01/11/2005, gia đình anh K được UBNDthành phố ST cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 707973 với diện tích là 1227,9 m2 thửa số 53, tờ bản đồ số 09 (trong đó có

200 m2 đất ở và 1027,9 m2 đất vườn) Thửa đất có kích thước như sau: điểm 1-2 là 23,98m, điểm 2-3 là 0,12m, điểm 3-4 là 39,78m,điểm 4-5 là 1,71m, điểm 5-6 là 3,42m, điểm 6- 7 là 11,51m, điểm 7-8 là 9,17m, điểm 8-9 là 8,29m, điểm 9-10 là 0,54m, điểm 10-11 là22,14m, điểm 11-12 là 0,66m, điểm 12-13 là 0,94m, điểm 13-14 là 5,29m, điểm 14-1 là 29,65m Nhưng trên thực tế so với diện tích đấtđược cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì gia đình anh còn thiếu 79m2

Tháng 3/2007, vợ chồng anh K cho vợ chồng người em trai là anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị G đất để làm nhà Khi xâydựng, anh C xây trên phần đất của gia đình anh cho, không lấn chiếm sang đất của nhà anh Ch Khi anh Ch có đơn đề nghị UBND xã

KS giải quyết, xã đã thành lập đoàn kiểm tra đến đo đạc thì đất phía mặt tiền thiếu 30 cm, phía sau giáp nhà anh Ch thiếu 10 cm và vợchồng anh K cho rằng anh C khi xây nhà không lấn chiếm đất đai của vợ chồng anh Ch, Thực tế, tường rào do gia đình anh Ch xây năm

1998 vẫn tồn tại, cách tường nhà của anh chị khoảng 30cm Việc anh Ch kiện vợ chồng anh là không đúng, anh K không đồng ý vớiyêu cầu của anh Ch đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật

Chị Phùng Thị N (là vợ anh K) thống nhất với lời khai của anh K

Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị G trình bày:

Do chưa có nhà ở nên năm 2002 vợ chồng anh K có cho vợ chồng anh C khoảng 100 m2 đất, hướng Tây - Bắc giáp đường đi củathôn, hướng Đông - Bắc giáp nhà anh Ch

Tháng 3/2007, do nhu cầu cần nhà ở nên vợ chồng anh C làm nhà, khi xây dựng vợ chồng anh có làm đơn xin phép thôn và xã,chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép xây dựng Trong quá trình xây dựng, nhà anh Ch cho rằng vợ chồng anh đã xâylấn sang phần đất của nhà anh Ch, hai bên có xảy ra va chạm Anh Ch làm đơn đề nghị xã KS giải quyết Chính quyền xã đã thành lậpđoàn kiểm tra đến đo đạc, giải quyết và hoà giải, song phía anh Ch đã không đồng ý Hiện tại, nhà cửa của vợ chồng anh đã xây xong,

Trang 33

nhà xây 02 tầng, 01 tum Khi xây dựng vợ chồng anh xây cách tường rào ngăn cách đất nhà anh Ch, chỗ rộng nhất khoảng 0,6m; hẹpnhất 0,2m để làm rãnh thoát nước Anh khẳng định không hề lấn chiếm đất của gia đình anh Ch, vì vậy anh không đồng ý với yêu cầucủa anh Ch.

Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Hợp đồng mua bán ngày 22/5/1997 giữa vợ chồng anh Ch, chị Th và vợ chồng ông Lê Văn Đ - bà Nguyễn Thị M có xác nhận củaUBND xã KS Diện tích chuyển nhượng được ghi trong văn bản mua bán là 356 m2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 485463đứng tên vợ chồng anh Ch, chị Th do UBND thành phố ST cấp ngày 09/01/2007 thửa số 54, tờ bản đồ số 09 có diện tích 397,5 m2(trong đó đất ở 50 m2, đất trồng cây lâu năm 347,5 m2)

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 707973 đứng tên anh K, chị N do UBND thành phố ST cấp ngày 01/11/2005 có diện tích là1227,9 m2 thửa số 53, tờ bản đồ số 09 (trong đó có 200 m2 đất ở và 1027,9 m2 đất vườn) Theo biên bản thẩm định tại chỗ thì thực tế tínhtoán trên các số đo trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thì diện tích đất anh K, chị N đang quản lý, sử dụng còn thiếu khoảng

79 m2

Toàn bộ diện tích nhà đất của hai hộ liền kề của gia đình anh Ch và gia đình anh K đều được bao bọc bởi tường rào xây gạch, chiềucao khoảng 1,50m Phía giáp ranh giữa gia đình anh Ch và anh K tường rào xây gạch do anh Ch xây từ năm 1998, cao khoảng 1,5m.Đến nay đã hơn 10 năm không có tranh chấp

Bình luận:

* Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

- Diện tích nhà đất của vợ chồng anh Nguyễn Duy Ch, chị Đỗ Lệ Th liền kề và giáp với diện tích nhà đất của vợ chồng anh NguyễnVăn K, chị Phùng Thị N tại thôn KT - xã KS - thành phố ST - tỉnh H Cả hai gia đình đều đã được UBND thành phố ST cấp Giấychứng nhận quyền sử dụng đất Quá trình sử dụng đất đã xảy ra tranh chấp, bên nguyên đơn anh Ch, chị Th cho rằng vợ chồng anh K đãlấn khoảng 08 -10 m2 đất nên khởi kiện yêu cầu bên bị đơn anh K, anh C phải trả lại phần đất đã lấn chiếm của gia đình anh Chvà thanhtoán bằng tiền phần đất lấn chiếm đã xây dựng thành nhà kiên cố Từ các tình tiết của vụ án và yêu cầu của nguyên đơn, xác định quan

Trang 34

hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004.

* Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp:

Diện tích đất tranh chấp đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên theo quy định tại Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 tranhchấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 quy định:

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:

1 Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết;

2 Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy

tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:

a) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;

b) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.

* Về giải quyết yêu cầu của bên nguyên đơn:

- Nguyên thủy nhà đất của anh Ch - chị Th là mua lại của vợ chồng ông Đ - bà M từ ngày 22/5/1997 Việc mua bán chuyển nhượng

Trang 35

có sự xác nhận của UBND xã KS Diện tích chuyển nhượng được ghi trong văn bản mua bán là 356 m2 Năm 2002, UBND thành phố

ST đã kiểm tra đo đạc bằng máy, lập hồ sơ kỹ thuật để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình anh Ch - chị Th với diệntích là 397,5 m2 thuộc tờ bản đồ số 9, thửa số 54 Chính vì vậy, ngày 09/01/2007, vợ chồng anh Ch, chị Th được UBND thành phố STcấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 485463, thửa số 54, tờ bản đồ số 09 với diện tích 397,5 m2 (trong đó đất ở 50 m2, đấttrồng cây lâu năm 347,5 m2)

- Đối với diện tích của gia đình anh K - chị N được UBND xã KS cấp, giao sử dụng từ năm 1985 diện tích 1227,9 m2 Tháng11/2005, anh K - chị N được UBND thành phố ST cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 9, thửa 53 Song trênthực tế tính toán trên các số đo trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp với diện tích thực tế đất anh K, chị N đang sử dụngthì còn thiếu khoảng 79 m2

- Toàn bộ diện tích nhà đất của các hộ liền kề của gia đình anh Ch và gia đình anh K đều được bao bọc bởi tường rào xây gạch,chiều cao khoảng 1,50m Phía giáp ranh giữa gia đình anh Ch và anh K tường rào xây gạch do anh Ch xây từ năm 1998, cao khoảng1,5m Đến nay đã hơn 10 năm không có tranh chấp gì, các bên đều thừa nhận

- Năm 2007 vợ chồng anh K - chị N đã tặng cho em trai anh K là anh C và chị G một phần diện tích đất khoảng 100 m2 để làm nhà

ở theo quy định tại Điều 722 BLDS năm 2005 Sau đó, vợ chồng anh C - chị G đã tiến hành xây nhà 3 tầng giáp với nhà đất của giađình anh Ch - chị Th và đã xảy ra tranh chấp Việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng anh K, chị N và vợ chồng anh C, chị Gchỉ thực hiện bằng miệng, song giữa vợ chồng anh K - chị N và vợ chồng anh C -chị G không có tranh chấp về việc tặng cho quyền sửdụng đất nên căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Tòa án không xem xét, giải quyết quan hệ hợp đồng tặng cho quyền sửdụng đất

Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định:

Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

1 Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu

Trang 36

- Anh Ch cho rằng, đất của gia đình anh phía ngoài tường rào còn khoảng 8 - 10m2, chiều rộng khoảng 40cm chạy dài theo khổ đấtkhoảng 28m Khi xây tường rào năm 1998 anh đã để lại làm rãnh thoát nước Nay anh C - chị G xây nhà đã lấn sang phần đất này nênanh yêu cầu đòi lại Phía anh K - anh C khẳng định ranh giới đất giữa hai gia đình được giới hạn bởi tường rào xây gạch do chính tayanh Ch xây năm 1998, nên khi làm nhà anh C - chị G vẫn phải xây lùi về phía đất anh K cho anh chị, cách tường rào khoảng 20 cm đểlàm rãnh thoát nước.

- Xem xét thực tế sau khi anh C - chị G đã xây nhà, tường nhà cách tường rào ngăn cách đất giữa đất của vợ chồng anh Ch với đấtcủa vợ chồng anh K thì đoạn hẹp nhất là 0,2 m, đoạn rộng nhất là 0,6 m Anh Ch khai rằng, đất của vợ chồng anh còn nằm ngoài tườngrào song không đưa ra một căn cứ nào chứng minh đối với vấn đề này

Mặt khác, trong giấy tờ mua bán chuyển nhượng giữa anh Ch - chị Th với vợ chồng ông Đ - bà M (năm 1997) thì diện tích đất vợchồng anh Ch, chị Th được chuyển nhượng chỉ có 356 m2, song trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã tăng lên 41,5 m2. Anh

Ch, chị Th cũng không lý giải được số diện tích đất thừa ra do anh mua bán hoặc lấn ở phía nào

- Khi xem xét thực tế, tường rào ngăn cách đất giữa gia đình ông Đ - bà M trước năm 1997 hiện còn móng tường trong vườn nhàanh Ch do anh Ch phá và xây lấn về phía đất của gia đình anh K - chị N để có bức tường rào ngăn cách giữa 2 nhà như hiện nay và kể

từ đó cho đến nay hai bên không có tranh chấp gì Để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Ch và vợ

Trang 37

chồng anh K thì khi Uỷ ban nhân dân xã KS đến kiểm tra, đo đạc, xác định mốc giới giữa 2 gia đình, các hộ liền kề anh Ch, anh K đều

ký vào biên bản xem xét đo đạc hiện trạng, không có khiếu nại thắc mắc gì

Từ các phân tích trên cho thấy, anh Ch kiện đòi quyền sử dụng đất của vợ chồng anh K - chị N, anh C - chị G là không có căn cứ,

do đó không chấp nhận yêu cầu đòi quyền sử dụng đất của anh Ch đối với gia đình anh K - chị N, anh C - chị G và cần giữ nguyên vềtình trạng ranh giới đất giữa gia đình anh Ch - chị Th với gia đình anh K - chị N, anh C - chị Giang như hiện nay và được giới hạn bởibức tường hàng rào xây gạch do gia đình anh Ch đã xây dựng từ năm 1998 là phù hợp với quy định tại Điều 265 BLDS năm 2005

Ðiều 265 BLDS năm 2005 quy định:

Nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản

1 Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận của các chủ sở hữu hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ ba mươi năm trở lên mà không có tranh chấp.

2 Người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất liền kề của người khác.

Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3 Trong trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng thì người sử dụng đất có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung; không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách.

Thực tế đo đạc diện tích đất tranh chấp là 8 m2 và theo kết quả định giá của Tòa án cấp sơ thẩm ngày 16/9/2008 giá trị 1.200.000đồng/m2 x 8m2 = 9.600.000 đồng Vì vậy, anh Ch - chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo giá trị tài sản tranh chấp do không được

Trang 38

chấp nhận yêu cầu

Từ những phân tích trên đây, vụ việc có thể được giải quyết như sau:

1 Không chấp nhận yêu cầu đòi quyền sử dụng đất 8m2 và tranh chấp ranh giới đất của anh Nguyễn Duy Ch đối với vợ chồng anhNguyễn Văn K - chị Phùng Thị N và vợ chồng anh Nguyễn Văn C - chị Nguyễn Thị G

2 Giữ nguyên về tình trạng ranh giới đất giữa gia đình anh Ch - chị Th với gia đình anh K - chị N, anh C - chị Giang như hiện nay,

được giới hạn bằng bức tường rào xây gạch do anh Ch đã xây dựng năm 1998

VỤ VIỆC SỐ 2

Nội dung vụ án:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:

Gia đình ông có 2 mảnh đất: Mảnh thứ nhất theo bản đồ năm 1960 là thửa số 102 tờ bản đồ 05 diện tích 263m2 tại thôn T, xã C,huyện TL, tỉnh H; chủ sử dụng là Nguyễn Ngọc L - bố ông Mảnh thứ hai theo văn tự gia đình ông lưu giữ thì ông Nh, bà L bán cho chịgái ông là bà Nguyễn Thị Th vào năm 1942 diện tích 348m2, bà Th mua cho bố mẹ ông mảnh đất này Bản đồ năm 1987 hai mảnh đấttrên nhập thành một thửa diện tích 580m2 tờ bản đồ 01 thửa số 584

Mảnh đất hiện nhà ông đang sử dụng ở liền kề với ngõ đi vào nhà bà S Ranh giới đất giữa nhà ông và ngõ vào nhà bà S có hai cộtmốc xây gạch do chủ cũ xây và hàng rào khúc tần Năm 1984, khi ông xây nhà mái bằng trên mảnh đất vườn giáp ngõ đi vào nhà bà S,ông đã bớt lại 50cm để mở cửa sổ và để ô văng che cửa sổ Nhà bà S không ai phản đối Năm 2001, sợ có người phá cột mốc cũ, ông đãcho chôn hai cột mốc bê tông ở phía bên trong và bên ngoài để giữ nguyên móng cột mốc cũ Nay ông muốn xây tường rào để ngăn cáchđất nhà ông và ngõ đi vào nhà bà S theo cột mốc cũ thì bà S không cho xây với lý do nhà ông xây nhà đã xây hết đất Vì vậy, ông đề nghịToà xác định mốc giới đất giữa nhà ông và ngõ đi nhà bà S ranh giới là tâm cột mốc cách tường nhà ông 0,5m

Bị đơn bà Trần Thị S uỷ quyền cho anh Nguyễn Xuân P trình bày:

Ngõ đi vào nhà anh P giáp đất nhà ông H Ranh giới đất giữa nhà ông H và ngõ đi vào nhà anh trước đây là hàng rào cây duối chứ

Trang 39

không có cột mốc như ông H khai Khi ông H xđy nhă thì ông H đê phâ hăng răo cđy duối đi vă xđy hết đất Móng nhă ông H đến đđu

lă cõi đến đó Ông H mở cửa sổ vă để ô văng cửa sổ sang ngõ đi nhă anh, gia đình anh đê phản đối nhưng ông H vẫn cố tình lăm nínanh không cho mở cửa sổ Nay ông H đề nghị Toă xâc định mốc giới giữa hai gia đình, anh nhất trí nhưng anh không đồng ý ranh giới

lă tđm cột mốc câch tường nhă ông H 0,5m

Ngăy 30/8/2006, anh P nộp đơn phản tố: Đề nghị Toă xâc định mốc giới đất nhă ông H vă ngõ đi văo nhă anh lă móng tường nhẵng H đê xđy năm 1984 Buộc ông H phải dỡ bỏ đoạn móng tường ông H xđy trín ngõ đi nhă anh

Cụ Ngh lă mẹ ông H trình băy: Nguồn gốc đất hiện nay mă ông H vă cụ sử dụng lă của câc cụ để lại cho vợ chồng cụ vă của congâi cụ lă bă Th mua cho vợ chồng cụ Vợ chồng cụ chỉ có 1 mình ông H lă con trai nín hai cụ đê thống nhất cho ông H mảnh đất năy.Ông H muốn lăm gì thì lăm

Bă Lưu Thị N lă vợ ông H nhất trí với ông H, không có ý kiến gì thím

Tăi liệu trong hồ sơ vụ ân thể hiện:

Theo bản đồ năm 1987 thôn T thì thửa 584 tờ bản đồ 01 có diện tích 580m2 Quâ trình kiểm tra, đo đạc xâc định đất sử dụng diệntích 580m2 từ 1987 nhưng ông H không thắc mắc, khiếu nại gì Quâ trình sử dụng diện tích đất trín ông H đóng thuế sử dụng 580m2 văkhông khiếu nại gì về diện tích trín Trong quâ trình giải quyết vụ ân, ông H đê thuí Công ty đo đạc đến đo bằng mây thì diện tích đấtnhă ông đang sử dụng hiện tại lă 579,4m2 (tính đến phần móng nhă cấp 4 nổi trín mặt đất)

Nội dung biín bản xem xĩt thẩm định tại chỗ ngăy 02/7/2008 thì: Cột mốc như ông H trình băy hiện nay không còn nhưng cònmóng vă được thể hiện trong văn tự mua bân đất năm 1942 giữa ông Nh, bă L với bă Th Sau khi ông H đăo hết phần móng tường nhẵng thì ở độ sđu đó lộ ra 2 móng cột xđy gạch ở 2 phía đầu nhă Móng cột phía ngoăi sât móng nhă, câch tường hậu nhă ông H 32cm,móng cột phía trong câch tường hậu nhă ông H 42cm Hai móng cột năy nằm sđu dưới nền đất có chu vi không đều nhau, ông H chorằng đđy lă móng cột mốc có từ trước năm 1942, còn phía anh P đại diện cho bă S không công nhận, cho rằng móng năy lă ông H tựxđy, xđy từ bao giờ anh không biết

Theo nội dung biín bản lấy lời khai ngăy 16/7/2008 người lăm chứng lă bă Nguyễn Thị H vă ông Trần Văn S ở gần gia đình ông H

Trang 40

cũng khẳng định, chưa bao giờ nhìn thấy cột mốc Trong quá trình giải quyết vụ án, tại biên bản hòa giải ngày 14/9/2008, anh P đã côngnhận là bức tường ranh giới giữa nhà anh và nhà ông M khi xây, ông M nhất trí lùi lại phía đất nhà ông M một ít đất cho bức tườngđược thẳng nhưng cụ thể bao nhiêu anh không biết.

Bình luận:

* Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

- Diện tích 580m2 đất của gia đình ông H tại thửa 584 tờ bản đồ 01 liền kề với ngõ đi vào nhà bà S Quá trình sử dụng đất đã xảy ratranh chấp về mốc giới Bên nguyên đơn đã khởi kiện bị đơn yêu cầu xác định mốc giới nhà ông và ngõ đi nhà bà S cách tường nhà ông0,5m Bên bị đơn nhất trí yêu cầu Tòa án xác định mốc giới đồng thời có yêu cầu phản tố xác định mốc giới đất nhà ông H và ngõ đivào nhà bị đơn là móng tường nhà ông H đã xây năm 1984 Buộc ông H phải dỡ bỏ đoạn móng tường ông H xây trên ngõ đi Từ cáctình tiết của vụ án và yêu cầu của nguyên đơn chúng ta xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về mốc giớiquyền sử dụng đất Đây là một loại tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 7 Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự năm2004

* Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp:

Diện tích đất tranh chấp đã có tên trong sổ địa chính nên theo quy định tại Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 tranh chấp này thuộcthẩm quyền giải quyết của Tòa án

Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định:

Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1 Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam

2 Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản.

3 Tranh chấp về hợp đồng dân sự.

4 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 29 của Bộ luật này.

Ngày đăng: 09/03/2015, 10:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w