1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dấu ấn folklore tày nùng trong thơ dương thuấn

134 192 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

biểu có thể kể ra như Lê Kinh Khiêm với bài viết nghiên cứu về quan hệ giữa văn học dân gian và văn hóa, in trên tạp chí Văn học, số 1, năm 1980; Chu Xuân Diên với bài viết Nhà văn và sá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS Lê Chí Quế Các kết quả và số liệu nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một công trình khoa học nào

Những luận điểm sử dụng của tác giả khác, tác giả luận văn đều có ghi chú rõ ràng nguồn gốc Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

Trương Hồng Thúy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới GS.TS Lê Chí Quế - người thầy đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt và giúp đỡ tôi trong suốt

quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Văn học, khoa Sau đại học trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn nhà thơ Dương Thuấn – đã tạo điều kiện và chỉ bảo cho tôi rất nhiều

Tác giả luận văn chân thành biết ơn những người thân trong gia đình

và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian qua

Hà Nội, ngày 25 thág 10 năm 2015

Tác giả

Trương Hồng Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

I Lý do chọn đề tài 1

II Mục đích nghiên cứu 2

III Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

IV Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 3

V Phương pháp nghiên cứu 4

VI Bố cục 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC TÀY – NÙNG VÀ FOLKLORE TÀY – NÙNG 5

1.1 Tổng quan về tộc người Tày – Nùng ở Việt Nam 5

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên – xã hội, cảnh quan thiên nhiên và lịch sử tộc người 5

1.1.2 Nghệ thuật tạo hình dân gian 9

1.1.3 Nghệ thuật biểu diễn dân gian 15

1.1.4 Tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội và phong tục tập quán 20

1.1.5 Văn học dân gian 24

1.2 Folklore dân tộc Tày – Nùng 35

1.2.1 Khái niệm Folklore 35

1.2.2 Folklore dân tộc Tày – Nùng 40

Tiểu kết 41

CHƯƠNG 2 DẤU ẤN VĂN HÓA DÂN GIAN TÀY – NÙNG TRONG THƠ DƯƠNG THUẤN 43

2.1 Khái quát thơ ca Tày – Nùng thời kì hiện đại 43

2.2 Dương Thuấn – cuộc đời và sự nghiệp 48

2.3 Khái niệm văn hóa Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học 51

2.3.1 Khái niệm văn hóa 51

2.3.2 Mối quan hệ văn hóa – văn học 52

2.4 Dấu ấn văn hóa dân gian Tày Nùng trong thơ Dương Thuấn 54

Trang 6

2.4.1 Hình ảnh núi rừng và con người miền núi trong thơ Dương Thuấn 54

2.4.2 Những yếu tố văn hóa truyền thống của dân tộc Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn 68

Tiểu kết……… ………82

CHƯƠNG 3 DẤU ẤN NGỮ VĂN DÂN TỘC TÀY – NÙNG TRONG THƠ DƯƠNG THUẤN 83

3.1 Ngôn ngữ diễn đạt 83

3.2 Thể thơ 92

3.3 Dấu ấn của các loại thể văn học dân gian Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn 93

3.3.1 Cao dao – thành ngữ - tục ngữ 94

3.3.2 Dân ca dân gian dân tộc Tày Nùng 100

3.3.3 Truyện cổ tích – Sự tích – Truyền thuyết – Huyền thoại 108

3.3.4 Các thể loại khác 111

Tiểu kết……….114

KẾT LUẬN 117

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119 PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

Dương Thuấn đã trở thành một cái tên quen thuộc và ấn tượng trên thi đàn Việt Nam bởi ông có một hồn thơ độc đáo, khỏe khoắn và dung dị, nhưng trên hết, bởi ông là một nhà thơ dắn bó, thủy chung với dân tộc và quê hương mình Thơ của Dương Thuấn có bản sắc độc đáo, được rất nhiều độc giả yêu mến

Thật may mắn là chúng ta đã và đang có một đội ngũ các nhà thơ thật sự gắn

bó và tâm huyết với bản sắc văn hóa dân tộc mình, họ luôn trăn trở, day dứt trong việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy và giới thiệu với các dân tộc anh em trong nước, cũng như với thế giới những cái hay, cái đẹp của dân tộc mình Bằng tất cả sự tài năng và nhiệt huyết, họ đã có những đóng góp lớn lao đối với văn học dân tộc thiểu

số nói riêng và đối với thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung Dương Thuấn là một nhà thơ tiêu biểu như thế Bên cạnh tên tuổi của các nhà thơ, nhà văn dân tộc thiểu

số đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc như Nông Quốc Chấn, Hoàng Văn Thụ, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Triều Ân, Ma Trường Nguyên, Y Phương, thì Dương Thuấn đã khẳng định được chỗ đứng của mình bằng những đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của văn học dân tộc thiểu số nói riêng và thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung

Nhà thơ Dương Thuấn sinh năm 1959, tại Bắc Kạn Ông là người dân tộc Tày, hiện đang sống và làm việc tại Hà Nội Dương Thuấn từng được trao Giải A Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1992 và hàng chục giải thưởng của các cuộc thi thơ trên các báo, tạp chí, nhà xuất bản của trung ương, các tổ chức quốc tế Ông đã có hơn 20 tác phẩm được in và chủ biên khoảng 30 đầu sách Đáng chú

ý, tuyển tập Dương Thuấn vừa được tổ chức Guiness Việt Nam công nhận 2 kỷ lục:

Bộ sách song ngữ Tày – Việt đầu tiên và Bộ Tuyển tập thơ dày nhất Việt Nam (hơn

2000 trang, gồm 3 tập) Thuộc thế hệ kế tiếp đội ngũ các nhà thơ dân tộc có tên tuổi vững chắc, Dương Thuấn đã tiến thêm một bước đến gần hơn với độc giả trẻ, bởi thơ Dương Thuấn rất gần gũi, thân thuộc, đồng cảm với những người trẻ tuổi, do đó

mà thơ ông được đông đảo bạn đọc trẻ yêu mến

Trang 8

Dấu ấn folklore Tày – Nùng in đậm tạo nên phong cách riêng cho thơ Dương Thuấn, vừa dồi dào chất liệu văn hóa dân gian, vừa đậm đà hương vị văn học dân gian dân tộc Thơ ông như chính con người ông, đối với quê hương như bát nước đầy, thủy chung đầu cuối, gắn bó sắt son, chân thành, đằm thắm Đọc thơ Dương Thuấn mà ngỡ như tìm lại được lời ru của bà của mẹ vương vít trên nương hay văng vẳng đâu đây trong nhà sàn những đêm cả nhà quây quần bên bếp lửa Nhịp thơ như nhịp cây đàn tính quê hương, tiếng thơ như tiếng Lượn, tiếng Sli, hồn thơ như hồn dân tộc, càng đi xa càng muốn về gần Trong thời đại hội nhập ngày nay, cùng với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự phát triển vượt bậc của kinh

tế - xã hội và những đổi thay lớn lao của thời cuộc đã tác động mạnh mẽ và làm biến đổi nhiều mặt của đời sống xã hội cũng như đời sống văn hóa truyền thống, thì những gì thơ Dương Thuấn đã đem lại càng trở nên đáng trân quý, nâng niu

Là một đứa con dân tộc Tày – Nùng của núi rừng Việt Bắc, lớn lên và chứng kiến nhiều giá trị truyền thống của dân tộc mà mình hằng yêu mến, tự hào đang dần mai một, đang dần mất đi, thì đối với cá nhân tôi, những thứ mà nhà thơ Dương Thuấn đang cố gắng, nỗ lực giữ gìn, bảo tồn cũng chính là những điều tôi muốn làm nhưng khả năng của bản thân còn hạn chế, bằng sự ngưỡng mộ và kính trọng sâu sắc, tôi đã chọn “Dấu ấn folklore Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình

II Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thơ Dương Thuấn, chúng tôi muốn làm

rõ những dấu ấn của folklore Tày – Nùng trong thơ ông để thấy được sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa và văn học truyền thống dân tộc trong quá trình sáng tác của tác giả, qua đó khẳng định những đóng góp của Dương Thuấn trong việc bảo lưu, giữ gìn những nét đẹp của folklore dân tộc

III Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Lịch sử nghiên cứu ảnh hưởng Folklore trong văn học viết: Folklore trong văn học viết đã được khá nhiều nhà nghiên cứu trong nước chú ý đến Tuy chưa có một công trình nào thật sự vĩ mô, nhưng cũng đã có một số lượng khá phong phú những bài nghiên cứu trên các tạp chí có đề cập đến folklore trong văn học viết, tiêu

Trang 9

biểu có thể kể ra như Lê Kinh Khiêm với bài viết nghiên cứu về quan hệ giữa văn học dân gian và văn hóa, in trên tạp chí Văn học, số 1, năm 1980; Chu Xuân Diên với bài viết Nhà văn và sáng tác dân gian trên Tạp chí Văn học, số 1, năm 1981; Bùi Nguyên với bài viết Âm vang tục ngữ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi trên Tạp chí văn học; hay Đặng Thanh Lê với bài viết Văn hóa dân tộc qua bài thơ Mời Trầu – Hồ Xuân Hương; Nguyễn Thế Việt với bài viết Từ kiệt tác Truyện Kiều nghĩ

về quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết… Và một số sách như cuốn tự sự dân gian trong văn xuôi Việt Nam hiện đại của Vũ Quang Trọng, Nxb Khoa học xã hội, 1990; Cuốn M.Gorki và văn nghệ dân gian của Hồ Sĩ Vịnh, Nxb Văn hóa Thông tin… Nhìn chung, các bài nghiên cứu đều tập trung làm bật lên yếu tố folklore trong các tác phẩm văn học viết, qua đó khẳng định sức sống bền bỉ, mãnh liệt của folklore trong văn học thành văn

Lịch sử nghiên cứu ảnh hưởng của Floklore Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn: Dương Thuấn là một nhà thơ dân tộc Tày có dấu ấn riêng biệt trong văn học các dân tộc thiểu số nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các thi phẩm của Dương Thuấn Trong

đó có giá trị hơn cả là các bài viết trong cuốn “ Dương Thuấn - Hành trình từ Bản

Hon” do thạc sĩ Đỗ Thị Thu Huyền tuyển chọn và giới thiệu, Nxb Hội Nhà văn ấn

hành năm 2009 Cuốn sách này đã tập hợp gần 50 bài viết của các nhà phê bình Cái tên Dương Thuấn còn được nhắc đến nhiều trong những công trình nghiên cứu về văn học các dân tộc thiểu số và là đối tượng trong một số bài viết của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở việc nhìn nhận, đánh giá, đề cập đến một vài tác phẩm, vài khía cạnh cụ thể chứ chưa có một công trình nào đi sâu khảo sát, nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về những ảnh hưởng của folklore Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn

IV Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của luận văn là toàn bộ những sáng tác của Dương Thuấn, nhưng do khuôn khổ hạn chế của bài viết, chúng tôi tập trung đi sâu vào khai thác những tác phẩm mang đậm dấu ấn folklore Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn

Trang 10

V Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích tài liệu: kế thừa những công trình nghiên cứu, những bài viết, luận văn, các bài báo, tạp chí và các tài liệu online, chúng tôi tiến hành tra cứu và phân tích tài liệu, sàng lọc những vấn đề có liên quan và những tài liệu này cũng chính là tiền đề khoa học gợi mở, tạo điều kiện cho chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này

Phương pháp liên ngành: Nghiên cứu văn học không thể nào tách rời với nghiên cứu văn hóa, đặc biệt là dấu ấn văn học dân gian lại mang dấu ấn văn hóa dân gian sâu sắc Vì vậy, bài viết soi chiếu các vấn đề văn học dưới góc nhìn văn hóa dân tộc để thấy được đầy đủ toàn diện các khía cạnh của vấn đề ở các phương diện khác nhau

Phương pháp thi pháp học: Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu nhằm

khám phá những nét đẹp về hình tượng nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật cũng như làm bật lên những ảnh hưởng của thi pháp văn học dân gian truyền thống dân tộc Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác như phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp… với các mức độ khác nhau trong bài viết này

VI Bố cục

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục tham khảo và phụ lục thì luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1 Tổng quan về dân tộc Tày –Nùng và Folklore Tày – Nùng

Chương 2 Dấu ấn văn hóa dân gian Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn

Chương 3 Dấu ấn ngữ văn dân tộc Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC TÀY – NÙNG VÀ FOLKLORE

TÀY – NÙNG

1.1 Tổng quan về tộc người Tày – Nùng ở Việt Nam

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên – xã hội, cảnh quan thiên nhiên và lịch sử tộc người

1.1.1.1 Về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên – xã hội và cảnh quan thiên nhiên

Người Tày – Nùng ở Việt Nam hiện có khoảng 2.333.926 người (theo số liệu Tổng điều tra dân số năm 1999, trong đó người Tày chiếm 1.477.514 người, người Nùng chiếm 867.412 người), là dân tộc thiểu số có số dân đông đảo nhất, cư trú rải rác trên khắp lãnh thổ Việt Nam, nhưng tập trung nhiều ở khu vực miền núi phía Bắc, đặc biệt là Đông Bắc, mật độ dày đặc nhất ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn… Đây là nơi có địa hình dạng cánh cung với những dãy núi đá vôi trung bình và thấp, đan xen vào đó là các thung lũng hẹp, khí hậu mát mẻ, có mùa đông lạnh, sinh giới phong phú, đa dạng về chủng loại Cảnh quan gắn liền với đồi núi, cỏ cây, thiên nhiên còn nhiều nét hoang sơ dẫu nhiều nơi đã bị tàn phá, khai thác phục vụ cho những mục đích khác nhau của con người

Người Tày – Nùng tụ cư chủ yếu ở các thung lũng quanh chân núi - nơi đất đai thổ nhưỡng tương đối màu mỡ, có nguồn nước dồi dào, khí hậu nóng ẩm thích hợp cho trồng trọt và chăn nuôi, còn phía trên sườn núi hay đỉnh núi cao là nơi sinh sống của đồng bào Dao, H’mông Đặc trưng sinh thái tộc người này đã được hình thành và ổn định từ rất lâu, trải qua nhiều thế hệ, tạo nên truyền thống ứng xử với

môi trường và những tri thức bản địa hết sức phong phú, đa dạng Người Tày, Nùng

là các tộc người thung lũng, phân biệt với các tộc người sinh sống ở rẻo giữa và rẻo cao [41] Sau 1975, một bộ phận đồng bào Tày, Nùng tới hơn mấy chục ngàn

người di cư vào phía Nam, trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên như Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Gia Lai, Kon Tum… đây là sự kiện mang tính bước ngoặt trong việc mở rộng địa bàn cư trú của người Tày, Nùng từ vùng thung lũng miền núi phía Bắc đến miền sơn nguyên đất đỏ phía Nam

Trang 12

Thiên nhiên núi rừng có nhiều ưu đãi, đem đến những tiềm năng kinh tế to lớn về cả nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp nặng và tiểu thủ công nghiệp, trong

đó nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo và quan trọng nhất Người Tày - Nùng đã biết cách thích ứng, và phát triển trong điều kiện tự nhiên như vậy, tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế về phương pháp và trình độ nên chưa khai thác một cách triệt để và

có hiệu quả nhất những lợi thế ở địa bàn cư trú và đôi khi có những tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên

Bên cạnh những ưu đãi, thuận lợi thì thiên nhiên cũng là một thử thách với đời sống của họ Các thiên tai tự nhiên do hệ quả xấu của những hành động tàn phá môi trường của con người như xói mòn đất đai, lũ lụt, hạn hán, sương giá, cùng với địa hình không bằng phẳng nhiều dốc đứng làm hạn chế về giao thông… đã tạo ra rất nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế của đồng bào Tày - Nùng

1.1.1.2 Về nguồn gốc, lịch sử dân tộc Tày – Nùng

Tày, Nùng là hai tộc người có nhiều nét tương đồng do có sự giao thoa, ảnh hưởng văn hóa rất mạnh mẽ, sâu sắc lẫn nhau, đồng thời, lại có tác động lan tỏa mạnh mẽ đến văn hóa của cộng đồng các dân tộc cùng cộng cư

Trong suốt chiều dài lịch sử, hai tộc người Tày – Nùng chia sẻ với nhau địa bàn sinh sống, họ sống đan cài xen lẫn nhau, có tác động qua lại lẫn nhau trong nhiều mặt của đời sống lao động và đời sống văn hóa Người Tày – Nùng tuy về ngôn ngữ có đôi chút khác biệt, nhưng họ đều có thể dễ dàng nghe hiểu được nhau, thậm chí, họ còn cùng nhau sáng tạo ra nhiều giá trị chung mang đậm bản sắc của

cả hai dân tộc

Người Tày – Thái cổ có mặt ở vùng Đông Bắc Việt Nam từ rất sớm, có thể

từ cuối thiên niên kỉ I trước Công nguyên Các truyền thuyết Pú Lương Quân, Cẩu Chủa Cheng Vùa nói về sự có mặt của họ từ những thời kỳ xa xưa ở Việt Nam và những công tích của họ trong xây dựng đất nước Trải qua lịch sử hàng nghìn năm,

do chịu ảnh hưởng của các dân tộc khác, họ đã dần dần bị phân hóa, trở thành những bộ phận cư dân khác nhau Trong cộng đồng người Tày hiện nay, còn bao gồm cả một bộ phận người Việt từ vùng đồng bằng lên miền núi (quan lại triều đình lên trấn ải biên cương, theo chế độ lưu quan…) qua nhiều thế hệ đã bị Tày hóa

Trang 13

Người Tày cổ đã cùng với người Việt cổ dựng nên nhà nước Âu Lạc và theo truyền thuyết của người Tày ở vùng Cao Bằng thì An Dương Vương Thục Phán chính là

người Tày cổ

Trong cuốn Văn hóa dân gian Tày Nùng ở Việt Nam, nhóm các nhà nghiên cứu do Hà Đình Thành chủ biên [41] có giải thích về nguồn gốc tên gọi dân tộc Tày

Nùng như sau: Tày là tên gọi có từ lâu đời, có nguồn gốc chung với tên gọi của

nhiều dân tộc thuộc nhóm Thái – Choang ở Nam Trung Quốc và Đông Nam Á như Tai, Tay, Táy, Thai… đều có nghĩa chung là “người” Người Tày ở Việt Nam còn

có tên gọi khác là Thổ, có nghĩa là người vốn ở đất này từ lâu, nên những người tới sau gọi họ là Thổ (thổ trước), tuy nhiên, tộc danh này không chỉ có ở người Tày mà còn là tên gọi của một số cư dân bản địa khác

Tộc danh Nùng có thể có nguồn gốc từ tên dòng họ Nùng, một dòng họ có thể lực ở Tả Giang và Hữu Giang tỉnh Quảng Tây thời nhà Đường Nếu ở người Tày hầu như không có sự phân biệt rõ rệt giữa các nhóm địa phương thì ở người Nùng điều này là nét nổi bật Hiện tại nếu căn cứ vào tên gọi của các nhóm người Nùng

có thể phân chia thành 2 loại: a/ Loại tên gọi căn cứ vào đặc trưng trang phục thường do những người láng giềng của họ gọi, như Nùng Khen Lài (người Nùng mặc áo có các khoanh vải màu), Nùng Hu Lài (người Nùng đội khăn chàm có đốm trắng), Nùng Slử Tỉn (người Nùng mặc áo ngắn chấm mông)… b/ Loại tên gọi theo địa danh, nơi họ sinh sống trước khi di cư tới Việt Nam, như: Nùng An (từ châu An Kết), Nùng Inh (từ châu Long Anh), Nùng Phàn Slình (từ châu Vạn Thành), Nùng Cháo (từ Long Châu), Nùng Quý Rịn (từ Quy Thuận), Nùng Lòi (từ châu Hạ Lôi)… Ngoài ra còn có các tên gọi khác mà giới khoa học chưa xác định được nguồn gốc, như: Nùng Dín, Nùng Xuồng, Nùng Tùng Xin, Nùng Viền, Nùng Chủ…

Rõ ràng, các tên gọi kể trên hình thành trong quá trình phân hóa cộng đồng người Nùng (nằm trong khối Nam Choang), khi họ di cư theo những con đường khác nhau, vào các thời điểm khác nhau tới Việt Nam Khi tới Việt Nam, họ lại sống tách biệt, xen cài với các tộc bản địa, nên được các cư dân bản địa gọi với các tên gọi khác nhau.(…)

Trang 14

Mặc dù có cùng nguồn gốc từ xa xưa, nhưng trong quá trình phát triển đã tách thành hai tộc người riêng Tuy nhiên, ít nhất từ hai trăm năm này, hai tộc người này đã cùng sống chung xen cài ở vùng Việt Bắc, nên đã và đang diễn ra quá trình tiếp xúc, giao lưu ảnh hưởng qua lại Không kể những bộ phận người Nùng hóa Tày hay ngược lại thì giữa Tày và Nùng cũng đang hình thành những yếu tố văn hóa chung Tày – Nùng, thể hiện trong ngôn ngữ, phong tục, tín ngưỡng, văn học nghệ thuật… khiến nhiều nhà nghiên cứu ngày nay lúng túng khi phân biệt văn hóa Tày hay Nùng

Người Nùng di cư sang Việt Nam trong khoảng vài trăm năm trở lại đây, trong quá trình sinh sống đan xen với người Tày, đã bị người Tày đồng hóa bởi người Tày có một nền văn hóa bản địa rất mạnh, họ thậm chí còn đồng hóa những quan lại người Kinh lên vùng Cao Bằng theo triều nhà Mạc, nên mới có câu “Kinh già hóa thổ” là như vậy Như vậy, từ gốc chung là Thái – Choang, cộng đồng Tày – Nùng đã diễn ra quá trình phân ly cách đây 2, 3 ngàn năm, nay lại hội nhập trở lại Hôn nhân hỗn tạp giữa người Tày và người Nùng đã trở nên phổ biến, là một nhân

tố thúc đẩy quá trình hội nhập của cộng đồng người Tày, Nùng với nhau

Trong quá trình dựng nước và giữ nước, đấu tranh giành độc lập, đồng bào Tày - Nùng đã có những đóng góp hết sức to lớn trong việc bảo toàn sự toàn vẹn lãnh thổ vùng biên cương phía Bắc của Tổ quốc, chống lại sự bành trướng của các thế lực phong kiến ngoại bang

Từ khi Đảng Cộng Sản Đông Dương ra đời (1930), các cơ sở Cách mạng lần lượt được xây dựng tại các tỉnh Việt Bắc Nhiều người con ưu tú của dân tộc Tày, Nùng đã sớm giác ngộ cách mạng, trở thành những Đảng viên Cộng sản lớp đầu tiên, tiêu biểu như Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Dong… Đến khi Bác Hồ về nước (1941), vùng Việt Bắc trở thành quê hương Cách Mạng, là căn cứ địa vững chắc cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 lịch sử, dựng nên nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Việt Bắc lại được vinh dự chọn làm thủ đô gió ngàn, là nơi đóng trụ sở của các cơ quan trung ương và

Trang 15

cũng là nơi làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều vị lãnh đạo cao cấp khác của Đảng và Nhà nước

Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhiều con em người Tày Nùng đã gia nhập các lực lượng vũ trang, trực tiếp cầm súng chiến đấu hoặc tham gia thanh niên xung phong, làm nhiệm vụ mở đường, vận tải vũ khí, khí tài, lương thực, thực phẩm phục vụ cho các chiến dịch Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, đặc biệt là trong thời kì đổi mới, người Tày – Nùng lại ra sức phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, góp phần to lớn vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, làm giàu cho bản thân mình và quê hương, đất nước

1.1.2 Nghệ thuật tạo hình dân gian

1.1.2.1 Ẩm thực

Cơm là thực phẩm chính trong bữa cơm hàng ngày của người Tày – Nùng Cây ngô đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt của đồng bào Tày Nùng Ngô là thức ăn cho gia cầm, thân ngô, là ngô là thức ăn cho gia súc, những ngày giáp hạt, ngô trở thành nguồn lương thực quan trọng, đồng bào Tày Nùng xay nhỏ ngô để nấu cháo (cháo bẹ), hoặc giã nhỏ để nấu độn với cơm, cháo…

Người Tày Nùng có vườn để trồng rau và cây ăn quả Các loại rau chính thường là khoai lang, khoai sọ, các loại rau, đậu…

Gia súc và gia cầm chủ yếu được nuôi để lấy phân bón, sức kéo, thịt…

Một số nơi phát triển nghề nuôi ong lấy mật để ăn hoặc làm thuốc

Nhiều nơi vùng thấp còn có ao cá hoặc thả cá ruộng, vừa làm sạch ruộng, vừa cải thiện bữa ăn

Xôi là một nét đặc sắc trong văn hóa ẩm thực của người Tày Nùng Xôi ngũ sắc hay còn gọi là xôi đăm đeng (xôi đỏ đen), được làm từ gạo nếp và các loại lá rừng Xôi thường có 5 màu cơ bản: đỏ, đen, trắng, vàng, tím, ngoài ra còn có màu xanh cốm, màu xanh cổ vịt… Tùy vào các loại lá và cách chế biến khác nhau mà khi ngâm với gạo sẽ có những màu sắc khác nhau… Những lá cây thường được dùng để nhuộm xôi gồm là cẩm (màu tím và màu đỏ, màu xanh), là cây sâu sâu (màu đen), hoa Bjóc phón… (màu vàng…) tất cả đều có nguồn gốc từ lá cây rừng vừa có màu đẹp tự nhiên, vừa có tác dụng làm thuốc chữa bệnh Đồng bào Tày

Trang 16

Nùng quan niệm ăn xôi ngũ sắc vào những dịp lễ Tết sẽ đem lại nhiều may mắn Ngoài xôi ngũ sắc, người Tày Nùng còn có xôi trám, xôi trứng kiến, xôi rau ngót, xôi bảy màu…

Người Tày Nùng có truyền thống làm các loại bánh từ bột gạo nếp Đặc sắc như bánh dày, bánh gai, bánh dợm… Và các loại bánh khác như coóc mò, bánh sắn, bánh mật, bánh củ chuối, bánh trứng kiến và cơm lam…

Người Tày Nùng từ rất xa xưa đã biết lấy măng rừng, ớt, tỏi, quả mác mật đem chế biến thành măng ớt dùng làm gia vị trong các bữa ăn Măng ớt hiện nay đã trở thành đặc sản và được giới thiệu rộng rãi ra nhiều vùng lân cận

Sinh hoạt gắn với thiên nhiên nên người Tày Nùng biết cách nhận biết các loại rau rừng Các loại rau tiêu biểu như bò khai, khỉ cáy, thau ca, rau ngót rừng… vừa có giá trị về ẩm thực, vừa là thuốc chữa bệnh

Trong lễ hội của người Tày Nùng luôn có trứng màu (trứng gà nhuộm xanh đỏ), khẩu sli, một số vùng còn có bánh khảo, bành chè lam…

Người Tày Nùng nói chung, về cách chế biến thức ăn, thường chuộng xào nấu, chiên nướng, nhiều dầu mỡ, bởi lẽ địa hình núi cao, mùa đông lạnh, cơ thể cần dung nạp nhiều chất béo để có đủ năng lượng chống chọi với cái lạnh giá mùa đông

Người Tày Nùng trong quá trình chế biến thức, cũng ít quan trọng về bày vẽ trang trí, hình thức, màu sắc mà chú trọng nhiều đến mùi vị món ăn Các món ăn cũng thường cầu kì về gia vị, sử dụng tương đối nhiều các gia vị của núi rừng như bột khinh phja (gừng núi), bột hạt mác mật, hung lìu…

1.1.2.2 Trang phục

Theo phó giáo sư – tiến sĩ Lê Bá Nam trong lời giới thiệu cuốn Văn hóa các

dân tộc Việt Nam của thạc sĩ Đỗ Thị Hòa (NXB Văn hóa dân tộc -2004) thì “Trang

phục là một trong những thành tố quan trọng của văn hóa tộc người và là một trong những sáng tạo lớn của nhân loại Chính vì thế có thể coi trang phục là bức thông điệp của các cộng đồng dân cư về quá trình lịch sử và giao lưu văn hóa Thông qua trang phục, chúng ta có thể giải mã về quá trình tộc người, các tri thức bản địa, quan niệm của tộc người về thẩm mĩ, về nhân sinh quan và thế giới quan trong môi trường tự nhiên và xã hội.”[13, tr.5]

Trang 17

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, sắc thái văn hóa Việt Nam vừa thống nhất vừa đa dạng Trang phục các tộc người là một hiện tượng văn hóa đặc sắc, nó không chỉ là thành tố quan trọng góp phần tạo nên những giá trị văn hóa truyền thống của các tộc người mà nó còn tạo nên sắc thái văn hóa riêng độc đáo cho từng dân tộc, từng nhóm ngôn ngữ và từng vùng văn hóa.”[13, tr.7]

Người Tày Nùng sinh sống và canh tác hòa hợp với thiên nhiên, trang phục của họ cũng phù hợp với điều kiện thiên nhiên và canh tác ấy Trang phục của người Tày Nùng ăn mặc chân phương, giản dị, theo phương châm “ăn chắc mặc bền”, quần áo được cắt may đơn giản, thường là tối màu, được làm bằng sợi tơ tằm hoặc vải bông nhuộm chàm do họ tự trồng bông, kéo sợi, dệt và nhuộm vải Áo chàm có tác dụng chống nắng vào mùa hè, giữ ấm vào mùa đông, màu áo làm cho con người trở nên hài hòa hơn với thiên nhiên núi rừng Trang phục của họ có sự phân biệt theo giới tính và lứa tuổi

Trang phục nam giới người Tày Nùng cũng như nhiều dân tộc miền núi khác, gồm áo cánh ngắn, áo dài, quần, khăn và giầy Bộ nữ phục Tày Nùng thì tương đối phức tạp hơn, có nhiều bộ phận và chi tiết khác nhau, nhưng tựu chung lại thì gồm có: áo cánh ngắn, áo dài, váy, quần, thắt lưng, khăn đội đầu, tạp dề, xà cạp, giày vải và các đồ trang sức khác Quần áo trẻ em Tày Nùng về cơ bản cũng giống như quần áo của người lớn nhưng được giản tiện hơn, thường được cắt may lại từ quần áo cũ của người lớn

Đồ trang sức: Đồ trang sức của người Tày và Nùng thường được làm từ bạc

trắng Nam giới thường đeo vòng tay, vòng cổ, nhẫn bạc, phụ nữ cũng vậy nhưng có thêm khuyên tai và bộ xà tích bằng bạc ở ngang lưng Dây xà tích là thứ trang sức không thể thiếu được khi mặc áo dài truyền thống, một đầu dắt vào thắt lưng, đầu kia buông thõng tự nhiên, khi người phụ nữ di chuyển, bộ xà tích ánh lên màu trắng bạc, uyển chuyển nhịp nhàng theo từng cử động của người phụ nữ, tô điểm thêm

cho nét duyên dáng của họ

Người Tày – Nùng quan niệm, bạc trắng không chỉ làm tôn thêm vẻ đẹp, phô trương sự giàu có, đầy đủ, sung túc mà còn có tác dụng bảo vệ sức khỏe, giúp họ tránh được gió máy, thậm chí ma tà… Người Tày Nùng cho rằng người khỏe đeo

Trang 18

bạc thì bạc sẽ giữ được màu trắng sáng, còn nếu cơ thể yếu hay khi bị ốm, bạc sẽ bị sạm, xỉn màu, vì thế, mỗi khi bị ốm đau, trúng gió, đồng bào Tày Nùng vẫn thường lấy bạc trắng để đánh gió giải cảm

Hoa văn, họa tiết trang trí trên sản phẩm may mặc: Trên các sản phẩm

may mặc của người Tày Nùng, tuy không diêm dúa, cầu kì với các họa tiết thêu thùa bắt mắt như trang phục của người Dao, người Mông… nhưng các hoa văn họa tiết trang trí của người Tày Nùng lại rất nhã nhặn, tinh xảo, và thanh thoát Có thể phân thành các dạng cơ bản sau: Một là, hoa văn hoa, lá, quả; Hai là, hoa văn hình

động vật; Ba là, hoa văn hình người; Bốn là, hoa văn hình học

Thật đáng tiếc là ngày nay, cùng với xu thế hội nhập và hiện đại hóa, sự phát triển của giao thông và các phương tiện truyền thông đại chúng đã thúc đẩy sự giao lưu kinh tế, văn hóa giũa các vùng miền, các dân tộc, kéo theo những hệ quả không mong muốn là những nét văn hóa truyền thống của dân tộc đang dần đứng trước nguy cơ bị mai một Những bộ quần áo truyền thống của người Tày Nùng hiện tại chỉ còn có thể nhìn thấy ở những nơi vùng sâu, vùng xa, và chỉ còn những người lớn tuổi mặc vào những ngày lễ tết hay cưới xin, còn đại đa số nam nữ thanh thiếu niên người Tày, Nùng đã bị ảnh hưởng và tiếp thu sâu sắc lối ăn mặc hiện đại của người Kinh

1.1.2.3 Kiến trúc nhà ở

Nhà sàn (rườn chạn), là kiểu nhà truyền thống của người Tày Nùng Nhà sàn của người Tày và người Nùng nhìn chung giống nhau, chỉ khác ở một số tiểu tiết Người Tày Nùng có câu tục ngữ “Nhìn đàn ông thì nhìn ngôi nhà, nhìn đàn bà thì nhìn bếp lửa” (Ngòi vỏ chài lẻ ngòi ăn rườn, ngòi mẻ nhình lẻ ngòi kiềng phầy), thể hiện tầm quan trọng của ngôi nhà mà đại gia đình cùng chung sống

Nếu có dịp đến với nơi Việt Bắc của Tổ quốc, có lẽ hình ảnh mái nhà sàn bình yên nép mình bên những chân đồi, chân núi sẽ để lại cho chúng ta những ấn tượng đẹp Những ngôi nhà lẻ hay những chòm bản lấp ló đâu đó dưới những tán cây, làn khói chiều mềm mại len qua những kẽ hở của mái ngói âm dương vờn bay trong tiếng mõ trâu về bản, tiếng trẻ con nô đùa, tiếng gà giục nhau vào ổ gợi nhắc nét gì đó hoang sơ và thanh thản, gợi nhắc về một cuộc sống giản dị và ấm áp tình

Trang 19

người… Mỗi ngôi nhà nằm trong một khuôn viên riêng với hàng rào bao bọc xung quanh Bên cạnh nhà chính còn có một vài công trình kiến trúc khác như nhà phụ, sàn phơi, chuồng lợn, chuồng trâu, chuồng gà, am thờ Thổ công… Nhà gồm 3 loại hình chính là nhà sàn (3 gian, diện tích sàn khoảng 100 – 120m2, là kiểu truyền thống, đã có từ rất lâu đời), nhà đất (mới xuất hiện trong vài thập kỉ gần đây do chịu ảnh hưởng của người Việt) và nhà phòng thủ Tuy nhiên, mỗi vùng, mỗi địa phương, kiểu dáng ngôi nhà, nguyên vật liệu làm nhà có khác nhau…

Nhà sàn là kiểu kiến trúc nhà ở đặc biệt, phù hợp với điều kiện thiên nhiên núi rừng Nhà sàn được làm bằng gỗ, xung quanh ghép ván, dưới các cột gỗ chân nhà sàn thường kê bằng cối đá, rất chắc chắn Nhà có gầm sàn cao vừa khô thoáng, vừa để tránh thú dữ, trước đây gầm sàn còn là nơi nuôi nhốt gia súc, gia cầm Nhà

có gác để tích trữ lương thực và được coi là kho cất đồ Nhà sàn của người Tày Nùng thường có sàn phơi lộ thiên để phơi phóng quần áo, lúa, ngô, khoai, sắn và là nơi nghỉ ngơi, hóng mát, nơi cán bông, kéo sợi, may vá Sàn phơi thường được ghép từ thân những cây vầu già, bốn góc có trụ chống chắc chắn, cao bằng hoặc thấp hơn một chút so với sàn nhà

Nhà sàn bao giờ cũng có hai cầu thang lên nhà, cầu thang dành riêng cho nam giới và khách đặt ở đầu nhà, thường có 7 bậc ứng với 7 vía, cầu thang dành cho

nữ giới đặt ở hông nhà, thường thông vào bếp Dưới chân cầu thang nhà sàn của người Tày Nùng bao giờ cũng có các ống nước hoặc bắc các máng nước để khách rửa chân trước khi lên nhà

Nhà sàn là nơi diễn ra mọi sinh hoạt hàng ngày của người Tày Nùng Trong nhà sàn, nơi tôn nghiêm nhất là nơi đối diện cửa chính – nơi đặt bàn thờ thờ cúng tổ tiên Bếp cũng là nơi quan trọng trong nhà sàn, đó là nơi chế biến thức ăn, nơi cả nhà quây quần đoàn tụ sưởi ấm Người Tày – Nùng kiêng gõ bát đĩa xoong chảo, kiêng nhổ bọt vào tro bếp vì tin rằng có vua bếp trú ngụ và trông nom, chứng kiến mọi việc làm trong nhà Vì thế nhiều nơi còn đặt bàn thờ vua bếp

1.1.2.4 Các nghề thủ công truyền thống

Nghề mộc: Cuộc sống của đồng bào Tày – Nùng gắn liền với núi rừng cây

cỏ, các vật dụng sinh hoạt hằng ngày của họ vì thế mà cũng đều được làm từ gỗ

Trang 20

Không giống như miền xuôi, hầu như đồng bào Tày – Nùng không có người nào chuyên làm gỗ mộc, mà phàm là đàn ông của núi rừng, ai cũng đều giỏi đi rừng, đốn gỗ làm đồ mộc, các đồ dùng trong nhà hầu hết là do họ tự chế tác ra Từ cây gỗ tươi hoặc ngâm nhiều ngày dưới ao, người Tày Nùng chế ra các công cụ phục vụ lao động sản xuất như cái cày, bừa, máng gỗ, cối nước giã gạo (chộc nặm), cối xay thóc, dụng cụ ép mía, cán bông, bật bông, guồng sợi, khung cửi, đóng xe trâu, xe ngựa… các công cụ phục vụ sinh hoạt như chõ đồ xôi, khuôn ép bún, nồi nấu rượu, chạn bát, chậu gỗ, máng gỗ, bàn ghế giường tủ, rương hòm… Nhìn chung các sản phẩm mộc của người Tày Nùng đều giản dị chân phương, không cầu kì trang trí, chỉ

thiên về chắc chắn, tiện dụng

Nghề đan lát: Đan lát là một nghề phụ của đồng bào Tày Nùng gắn với cuộc

sống sinh hoạt tự cấp tự túc, trong những lúc rảnh rỗi nông nhàn họ thường vót mây, tre, nứa, đan lát thành các vật dụng phục vụ cho lao sộng sản xuất và sinh hoạt của gia đình, cũng có khi làm được nhiều, người ta có thể đem ra chợ bán hoặc trao đổi Các sản phẩm đan lát chủ yếu bao gồm các đồ dùng để đựng và mang vác như

bồ thóc, sọt, giỏ, làn, thạ, dậu… các dụng cụ để phơi phóng như chiếu nong, chiếu cót, giần, sàng, mẹt… đan lát hàng rào, phên liếp, đan gianh lợp mái nhà Các sản phẩm đan lát của người Tày Nùng rất bền, chắc, tinh tế, thể hiện sự khéo léo, tỉ mỉ

của đồng bào trong thủ công

Nghề rèn: Các làng nghề rèn của đồng bào Tày Nùng tuy không nhiều

nhưng khá nổi tiếng, nhất là làng rèn Phúc Sen của người Nùng An ở Cao Bằng Các sản phẩm rèn khá phong phú, có thể cung ứng đầy đủ nhu cầu về dụng cụ sản xuất và đồ gia dụng cho các gia đình Các sản phẩm rèn của người Tày Nùng đạt đến sự đồng bộ về sản phẩm của trọng lượng cùng chủng loại và kiểu dáng Ngoài

ra các đường nét trên sản phẩm được tỉa, chạm, đánh bóng khá cẩn thận Các sản phẩm rèn là những sản phẩm cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt thường ngày như: dao,

liềm, kéo cắt vải

Nghề đục đá: Các sản phẩm chính của nghề đục đá của người Tày Nùng

gồm các dụng cụ gia dụng như cối xay, cối giã, trục lăn, đá tảng kê chân cột nhà và

Trang 21

đá xếp cầu thang Ngoài ra ở một sô vùng có nhiều núi đá vôi, đồng bào còn đục đá

để rào vườn, rào nương và rào làng

Nghề làm ngói: Cũng là một nghề thủ công truyền thống thể hiện tính tự

cung tự cấp trong sinh hoạt của người Tày Nùng Nguyên liệu chính để làm ngói là đất sét mịn và củi hoặc than để đun ngói Ở cộng đồng người Tày Nùng không hình thành lớp người chuyên làm nghề gạch ngói như ở miền xuôi, thường thì người ta tự sản tự tiêu, chỉ dựng lò làm ngói khi nào cần có ngói để lợp nhà Ngói của người Nùng An thường to bản, dày đều và được nung chín kỹ nên ngói lợp rất dôi, bền

lâu, khi vận chuyển ít bị bể vỡ

Nhìn chung, nghệ thuật tạo hình dân gian Tày Nùng khá giản dị, chân phương, mộc mạc, hài hòa với cảnh quan môi trường tự nhiên, thể hiện sự thích nghi và hòa nhập của con người đối với môi trường sinh hoạt Nghệ thuật tạo hình dân gian Tày Nùng có tính hữu dụng cao thể hiện nhận thức thẩm mỹ hài hòa, khả năng thích nghi với môi trường linh hoạt, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa tự nhiên với con người Bên cạnh những nét tương đồng, nghệ thuật tạo hình dân gian Tày Nùng cũng có những nét dị biệt, điều này thể hiện đặc trưng riêng của dân tộc trong

hệ thống tạo hình nói chung

Nghệ thuật tạo hình dân gian Tày Nùng cũng có sự tiếp thu và ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài, tiếp thu khoa học kỹ thuật để có những thay đổi phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại, nhưng vẫn tiếp tục bảo lưu những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình, đưa các sản phẩm đặc trưng của dân tộc trở thành hàng hóa được ưa chuộng trên thị trường như sản phẩm rèn của người Nùng

An, thổ cẩm của người Tày…

1.1.3 Nghệ thuật biểu diễn dân gian

Biểu diễn hay còn gọi là là hình thức diễn xướng dân gian, là môi trường tạo

dựng và tồn tại của văn hoá dân gian Diễn xướng là "có diễn (có hành động, có sự

việc) và có xướng (nói năng ca hát) nhưng thông thường người ta vẫn hiểu hai yếu

tố đó gắn bó với nhau Diễn tuy không có lời nhưng lời câu vẫn là một cách thông báo Xướng tuy không có hành động nhưng vẫn gây cảm giác về một hành động"

[25,tr.13] Các hình thức biểu diễn dân gian của dân tộc Tày – Nùng gồm có:

Trang 22

1.1.3.1 Âm nhạc và ca hát dân gian

Âm nhạc chính là cánh cửa bước và thế giới tinh thần của tộc người Cũng như các dân tộc khác, âm nhạc dân gian Tày Nùng là những vốn quý mang bản sắc riêng độc đáo, góp phần làm phong phú, giàu đẹp thêm chi kho tàng âm nhạc dân gian Việt Nam

Người Tày Nùng biết thổi kèn, sáo, đánh trống, la thanh, não bạt, kéo nhị, gẩy đàn, nhất là đàn tính – một loại đàn có tính chất dân tộc độc đáo

Người Tày Nùng có nhiều bài hát ru con, ru em với mục đích dỗ cho trẻ con ngủ ngoan, không khóc quấy Nội dung các bài hát ru gắn liền với những hoạt động lao động và cuộc sống sinh hoạt thường ngày của đồng bào như lên nương, ra ruộng, lấy củi, chăn trâu, ra suối bắt cá…

Trẻ em Tày Nùng cũng có những bài hát đồng dao gắn liền với các trò chơi của riêng mình Các bài đồng dao này thường hồn nhiên, ngộ nghĩnh, phản ánh thế giới quan của trẻ nhỏ hết sức phong phú, mộc mạc, đáng yêu Các em có những bài đồng dao bắt chuồn chuồn, gọi kiến, gọi gió, gọi mưa, gọi trăng, gọi sao, gọi đom đóm bay ra khỏi bụi cây… Các bài đồng dao của trẻ em Tày Nùng thường được hát lên với những giai điệu đơn giản, khác với đồng dao của trẻ em người Kinh chỉ bao gồm lời thơ và trò chơi

Trong thể loại dân ca giao duyên, các làn điệu Sli, Hà Lều (Nùng), Lượn, Nàng ới (Tày) là phong phú hơn cả, phổ biến khắp các địa phương, hấp dẫn đối với tất cả mọi người thuộc các giới, các lứa tuổi khác nhau

Lượn là hình thức hát giao duyên trực tiếp bằng cách nam nữ đối đáp (lượn cuộc) Người Tày Nùng, vì thế, gọi là Hắt lượn (làm lượn), nghĩa là trong quá trình đối đáp, nam nữ không chỉ đơn giản là hát một bài mà còn là chủ thể sáng tạo, phải ghi nhớ nhiều bài lượn và vận dụng chúng thật linh hoạt, phù hợp trong cuộc giao duyên Lượn giữa các vùng của người Tày là không giống nhau Xét theo thể thơ dùng làm ca từ người ta chia Lượn ra làm ba loại: Lượn Cọi (thể thơ thất ngôn), Lượn Khắp (thể thơ tự do), Lượn Sương (thể thơ tứ tuyệt), trong đó Lượn Cọi là phổ biến hơn cả

Trang 23

Ngoài ra còn phải kể đến phong slư Có thể ví như các điệu hát ngâm của người Việt Được gọi là phong slư vì đó thường là những bài thơ tình được viết và gửi cho nhau giữa thanh niên nam nữ Lối hát thường chậm rãi, dàn trải theo kiểu ngâm vịnh Phong Slư là một làn điệu hát thơ riêng biệt, có kết cấu nhất định bằng thể thơ thất ngôn gieo vần lưng triệt để với phong cách ngâm vịnh riêng biệt độc đáo Nam nữ thanh niên Tày - Nùng trước kia rất ít người biết chữ, nên trai gái muốn viết thư tỏ tình với nhau thì phải thông qua một người trung gian chuyên viết thư gọi là slấy cá Bởi thế, các lá thư tình này thường được đem ra đọc chung và dùng làn điệu phong slư để ngâm hát theo nhịp thơ cho mọi người cùng nghe

Ngoài ra còn có các điệu then, những bài văn than (những bài con ca), ca cúng trong đám ma, những bài ca trong đám cưới (gọi là cò lẩu)

Thiên nhiên rừng núi Việt Bắc hùng vĩ, hoang sơ, đồng bào Tày Nùng sống chan hòa, bình dị, những điệu Sli, điệu Lượn vừa là bầu bạn, vừa gợi nhắc một cảm giác tha thiết với cuộc sống và quê hương Sli lượn là tài sản văn hóa tinh thần quý báu của người Tày Nùng, nó là nghệ thuật diễn xướng dân gian có tính nghệ thuật cao

Nói đến âm nhạc dân gian dân tộc Tày, không thể không nhắc đên cây đàn tính Nếu như cây đàn bầu là biểu trưng cho hồn dân tộc Việt thì cây đàn tính chính

là lời của núi rừng chim muôn cây cỏ, là nỗi lòng ghét thương, là tâm sự của đồng bào Tày – Nùng đời đời kiếp kiếp

Tiếng đàn tính không thể thiếu trong các dịp hội hè, lễ tết, trai gái giao duyên Người ta còn dùng tiếng đàn tính vỗ về, xoa dịu một ngày lao động vất vả, tiếng đàn tính giúp trút bỏ những mệt mỏi, muộn phiền lo âu, và là nơi giãi bày gửi gắm tâm tình Qua thời gian, dọc theo chiều dài lịch sử và bề sâu văn hóa, nó trở thành tiếng lòng, tiếng quê hương, trở thành thứ âm thanh thấm thía hồn dân tộc, mà những người con xa xứ khắc khoải nhớ về

Ngày nay, mặc dù các phương tiện truyền thông đại chúng đã phát triển nhưng cây đàn tính dân tộc với sức sống bền lâu vẫn là một món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào Tày – Nùng Và trước cơn lốc dữ dội của thời đại mới - thời đại kinh tế thị trường, thì cây đàn tính vẫn được các nghệ nhân dân tộc giữ gìn và

Trang 24

bảo tồn, truyền lại niềm đam mê và vốn quý của dân tộc cho các thế hệ đi sau tiếp thu và phát triển

1.1.3.2 Múa dân gian

Tày và Nùng là hai tộc người có tính cộng đồng cao, vì vậy các sinh hoạt văn hóa tập thể rất phổ biến, đó là dịp để đồng bào sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật Trong những ngày lễ tết, hội hè hàng năm, người Tày Nùng thường múa các điệu múa dân gian đặc sắc như múa chầu, múa quạt, múa giã cốm, múa tung còn, múa hạc, múa xòe chiêng, múa lân, múa rồng, múa võ… Đây là những điệu múa truyền thống chứa đựng những cảm xúc thẩm mỹ và cấu trúc nghệ thuật của đồng bào Tày Nùng, đồng thời phản ảnh chân thực sâu sắc những khía cạnh sinh hoạt tinh thần trong đời sống lao động và chiến đấu của đồng bào Chúng hình thành và phát triển trong môi trường tự nhiên, văn hóa, kinh tế - xã hội của cộng đồng người Tày Nùng

và rất được nhân dân yêu thích

1.1.3.3 Sân khấu và trò diễn dân gian

Trong kho tàng diễn xướng dân gian Tày Nùng, chúng ta dễ dàng chọn lựa được đầy đủ các yếu tố cơ bản của nghệ thuật sân khấu đích thực như diễn viên và nghệ thuật biểu diễn, nhân vật và hành động sân khấu, người xe và sự thưởng thức Các yếu tố này bộc lộ không đồng đều và tập trung, mà rải rác nơi nhiều nơi ít, nơi

có nơi không Đáng chú ý hơn cả là các diễn xướng lớn, các lễ hội mang tính chất tiền sân khấu hay có thể gọi là nghệ thuật sân khấu dân gian [41]

Nếu như người Kinh có múa rối nước thì người Tày Nùng lại có múa rối cạn không kém phần đặc sắc Trong một số lễ hội, trò múa rối cạn thu hút được sự chú ý

và yêu thích của đông đảo khán giả, bất kể người lớn hay trẻ em Các con rối được làm từ nguyên liệu chủ yếu là gỗ và giấy, được các nghệ nhân không chuyên tái hiện lại những tích truyện cổ, thổi vào những con rối vô tri một linh hồn sinh động, với những hành trình hấp dẫn

Then là một diễn xưỡng tín ngưỡng phổ cập của đồng bào Tày Nùng, thể hiện bài bản, quy mô bao gồm ca hát nhảy múa và các động tác cách điệu do đội ngũ các ông bà Then đảm nhiệm trong các dịp cụ thể như lễ Kỳ yên, Cấp sắc, Cầu mùa, Chữa bệnh… Trong đó tiêu biểu nhất là đại lễ Cấp sắc cho Then, phải trình

Trang 25

bày một bản trường ca khoảng vài nghìn câu văn vần mô tả hành trình của đoàn binh mã Then từ trần gian lên thiên giới thỉnh cầu Ngọc hoàng phong chức cấp sắc cho một thầy Then Cuộc hành quân này được chia thành nhiều mốc, chặng với nội dung và tình tiết khác nhau do thầy Then có cấp sắc cao nhất chủ trì nghi lễ, kéo dài trong suốt ba ngày đêm Nội dung của trò diễn này nói lên công việc mang lễ vật lên dâng cúng qua nhiều chặng đường gian nan, khổ ải, nguy hiểm mà đội quân Then phải dùng nhiều mưu mẹo, pháp thuật mới vượt qua được Hành trình bao gồm 25 chặng theo những trình tự nghiêm ngặt, trong đó có nhiều màn trò diễn có thể xếp vào loại hình sân khấu dân gian đích thực như gọi ông chở đò, tìm thợ rèn thợ đúc ở chợ Tam Quang, đánh thức ông khổng lồ, trò bắt phu gánh lễ đi tạ ơn các pháp sư…

Bên cạnh Then, Phướng cũng là một hình thức biểu diễn âm nhạc và hát xướng Phướng bắt buộc phải có trong các đám ma xưa ở vùng đồng bào Tày Bắc Kạn, Thái Nguyên Phướng được tổ chức thành phường ban chuyên, gồm khoảng tám người để phục vụ các nghi lễ như tế, lễ mại xe, tiến hương, tiến hoa, diễn trò Nhạc cụ trong Phướng thường có pí lè, đàn, tiêu, sáo, ngoài ra còn có các dụng cụ phụ trợ như cây hoa, giấy màu, một số loại bánh chay, vòng cổ, vòng tay, xà tích bằng bạc, đôi khi còn có mặt nạ khỉ, mặt nạ chim, đười ươi chồng và đười ươi vợ để phục vụ trong trò diễn

Có thể thấy nghệ thuật biểu diễn dân gian của dân tộc Tày – Nùng là một di sản quý báu, vùa thể hiện sự phong phú trong đời sống tinh thần, vừa bộc lộ một cảm quan nghệ thuật hết sức độc đáo, riêng biệt của đồng bào Tày Nùng Trong đời sống tinh thần của đồng bào Tày Nùng, âm nhạc múa và sân khấu dân gian giữ một vai trò quan trọng

Về nội dung, âm nhạc dân gian đã phản ảnh một cách chân thực sống động những tình cảm, tâm tư, nguyện vọng của người Tày Nùng Âm nhạc dân gian vừa mang chất trữ tình, tự sự trong các làn điệu hát ru lượn Then của người Tày có khi lại mang sắc thái sôi nổi, vui tươi của các điệu Cò lẩu, sự trong sáng khỏe khoắn trong các làn điệu Si của người Nùng

Trang 26

Về phương diện nghệ thuật âm nhạc, có thể thấy âm nhạc dân gian Tày Nùng mang đậm bản sắc dân tộc, vừa mang tính thống nhất, vừa đậm đà sắc thái địa phương, tộc người

Múa dân gian Tày Nùng thường có các động tác vận động cổ tay, chân, các động tác thường khỏe mạnh, dứt khoát, phóng khoáng, ít gò bó

Nghệ thuật sân khấu, trò diễn dân gian Tày Nùng gắn bó chặt chẽ với tín ngưỡng, là một biểu hiện của nghi thức tín ngưỡng dân gian

1.1.4 Tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội và phong tục tập quán

1.1.4.1 Tín ngưỡng, tôn giáo

Thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng tiêu biểu nhất của người Tày – Nùng Theo quan niệm dân gian, ông bà cha mẹ sau khi chết thì linh hồn vẫn tồn tại ở trên trời (Mường phạ), do đó con cháu phải lập bàn thờ để thờ cúng trong nhà, vào những dịp nhất định trong năm phải làm cúng giỗ mời tổ tiên về chứng giám và phù hộ cho gia đình mạnh khỏe, bình an, làm ăn phát đạt Bàn thờ tổ tiên được đặt ở chỗ trang trọng, trung tâm nhất trong nhà, được trang hoàng đẹp nhất và thường để trên cao, ngang xà nhà Thờ cúng tổ tiên là nhiệm vụ của gia trưởng Ngoài các dịp lễ tết, mỗi tháng hai lần vào ngày mùng 1 và ngày rằm, người Tày – Nùng phải cúng hương hoa, lễ vật Bàn thờ được quét dọn sạch sẽ, thắp hương, cúng chè, rượu Trước khi cúng, gia chủ thường phải tắm gội, mặc quần áo chỉnh tề Mỗi khi gia đình có việc như làm nhà mới, sinh đẻ, cưới hỏi hoặc có người chết thì phải cúng bái, mời tổ tiên

về chứng giám, cầu tổ tiên phù hộ Do tính chất trang trọng này, nên người Tày - Nùng có những điều kiêng kị riêng như cấm phụ nữ, nhất là con dâu, cháu dâu tới gần bàn thờ Chiếc giường trước bàn thờ để không, khách lạ không được ngồi, nằm lên đó Phụ nữ mới sinh con hay đang hành kinh không được đến gần chỗ thờ tổ tiên

Trong phạm vi thôn bản còn thờ cúng thần thổ công (cốc bản), thổ địa, thờ các vị thánh ở trong rừng

Cũng như nhiều dân tộc miền núi anh em, ở người Tày Nùng, các tàn dư của tín ngưỡng sơ khai vẫn còn đậm nét Đồng bào Tày Nùng là những người nông dân canh tác lúa nước ở các thung lũng và lúa khô trên các nương rẫy Do đó, nhịp điệu

Trang 27

thời tiết chi phối nhịp điệu sản xuất nông nghiệp, nên trong cộng đồng người Tày Nùng tồn tại những tín ngưỡng, nghi lễ liên quan đến sản xuất như: tục lệ mừng sấm đầu mùa, các lễ cầu mưa, nghi thức cúng Khoăn Vài (vía trâu), lễ cơm mới, hội cốm…

Trong tín ngưỡng xa xưa của người phương Đông nói chung, vẫn tin tưởng ở những mức độ khác nhau sự tồn tại của các hình thức ma thuật, xã hội của người Tày Nùng cũng không phải là cá biệt Người Tày Nùng tin rằng có những loại ma thuật có khả năng làm hại người khác bằng biện pháp vô hình, cũng có các loại ma thuật kết hợp với thuốc Nam dùng để chữa bệnh, có các loại Phi Cáy (ma gà) gây ra những điều tai hại, xui xẻo

Người Tày Nùng cũng chịu những ảnh hưởng nhất định của Tam giáo từ Trung Quốc, mà đặc biệt là Đạo giáo, với quan niệm về thế giới ba tầng, hệ thống thần linh Có thể coi các hình thức thờ cúng của Tào, Mo, Then, Pựt là các biến dạng của Đạo giáo dân gian

Cũng như ở hầu hết các tộc người khác, đối với người Tày Nùng, tín ngưỡng tôn giáo đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành và tồn tại của các phong tục và lễ hội Các hình thức tín ngưỡng tiêu biểu như thờ cúng tổ tiên, các nghi lễ nông nghiệp, quan niệm về linh hồn, các nghi thức Mo, Then, Tào, Pựt… đã tạo nên biết bao phong tục, nghi lễ, kiêng cữ, hội hè của người Tày Nùng trong phạm vi gia đình, dòng họ, thôn bản Trong hệ thống các phong tục lễ hội ngày nay

đã có những biến đổi nhất định cho phù hợp bởi có những phong tục đã trở nên lạc hậu, lỗi thời, nhưng nhìn chung nó vẫn giữ được những nét đẹp, tính nhân bản, sự độc đáo, góp phần tạo nên nền văn hóa đặc sắc của hai tộc người này

1.1.4.2 Lễ hội dân gian

Ngày tết lớn nhất của đồng bào Tày Nùng là Tết Nguyên Đán và rằm tháng bảy, ngoài ra còn có các dịp khác như Tết Thanh Minh, tết Đoan Ngọ, Tết Thần Ruộng, Thần Trâu, Tết cúng tổ tiên và vong linh cô hồn, Tết Trung Thu, Tết Cốm mới, Cơm mới, Tết Đông chí… và nhiều lễ hội lớn trong năm, nhất là vào dịp đầu xuân Các lễ hội lớn như hội Lồng Tồng, hội pháo hoa, lễ hội Nàng Hai… là những

lễ hội cổ xưa của cư dân nông nghiệp, với ý nghĩa là cầu mưa thuận gió hòa, cây cối

Trang 28

sinh sối, vạn vật phát triển Trong dịp lễ hội thường tổ chức các trò chơi dân gian như múa lân mua rồng, dấu vật, đẩy gậy, đánh đu, tung còn… được mọi người rất yêu thích Lễ hội còn là nơi thanh niên nam nữ trao đổi, gặp gỡ, tâm tình, nơi thể hiện các điệu hát múa truyền thống của dân tộc

1.1.4.3 Phong tục tập quán

Người Tày Nùng có những phong tục tập quán truyền thống rất đặc sắc

Về cưới hỏi: Là một việc vô cùng trọng đại nên có rất nhiều thủ tục, nghi

thức kèm theo, với những trình tự khắt khe buộc phải tuân thủ Đám cưới của người Tày Nùng nhìn chung khá long trọng và tốn kém, với nhiều sính lễ, lễ vật Lễ vật có thể nhiều ít khác nhau nhưng số lượng mỗi loại bao giờ cũng là một con số chẵn với

ý nghĩa cầu mong cho con cái của họ “thành cặp, thành đôi” và sống bên nhau cho đến trọn đời, mãn kiếp Những lễ vật đặt lên bàn thờ tổ tiên nhà gái được “gắn mác đỏ” với mong ước cuộc tình duyên của đôi trẻ sẽ bền lâu và luôn gặp vận đỏ Trong

số đó không thể thiếu một tấm vải sợi bông, một nửa nhuộm màu hồng còn nửa kia giữ nguyên màu trắng, gọi là “lằm khấư” có nghĩa là vải phần ướt, phần khô (người

mẹ khi nuôi con còn nhỏ, con tè dầm ra giường, mẹ sẽ nằm chỗ ướt, nhường lại phần khô để con nằm) tặng cho mẹ đẻ cô dâu Đây là món quà quý giá, có ý nghĩa sâu sắc, mang tính nhân văn cao và là một nét đẹp trong phong tục cưới xin của người Tày Nùng; thể hiện lòng biết ơn đối với bà mẹ đã chịu bao vất vả, khó nhọc,

hi sinh trong việc nuôi dạy con cái

Về sinh con: Người Tày Nùng muốn có nhiều con, cho nên khi kén dâu bao

giờ họ cũng chú ý tới những cô gái được sinh ra trong gia đình đông con, người mẹ khỏe mạnh, dễ sinh nở và dễ nuôi con Tính chất phụ quyền thể hiện rất rõ nét trong cộng đồng người Tày – Nùng nên họ quý con trai hơn Quan niệm của họ là con trai duy trì tôn thống (tế tự tổ tiên, lưu truyền huyết thống) Vì vậy, trong cộng động

người Tày Nùng có thành ngữ “nhình đại, chài ớ” (gái thôi, trai đấy)

Mừng thọ: Lễ mừng thọ người cao tuổi là một trong những sinh hoạt văn

hóa tâm linh hết sức nhân văn của dân tộc Tày Nùng với mong muốn là người già trong nhà được khỏe mạnh, sống lâu cùng con cháu Theo tiếng Tày Nùng, lễ mừng thọ gọi là Pủ Liềng hoặc Pủ Lường, nghĩa là “bổ” thêm lương vào bịch gạo

Trang 29

mệnh”… Thông thường, khoảng trên 60 tuổi là con người đã có biểu hiện của tuổi già như mắt kém tinh, răng kém chắc, tóc điểm bạc… Sỡ dĩ có những biểu hiện về sức khỏe trên người ta cho rằng bịch gạo mệnh đã úa vàng, nên phải tổ chức lễ Pủ Liềng, bổ thêm lương cho bịch gạo mệnh được đầy, bắc lại cây cầu cho vững chắc, trồng lại cây mệnh xanh tươi… Vì vậy người Tày – Nùng tổ chức lễ mừng thọ cho người già cả trong gia đình để cầu mong họ được sống lấu hơn

Về tang ma: Tang lễ của người Tày – Nùng khá long trọng với nhiều nghi

thức Thường khi có người mất, gia đình sẽ xem giờ để phát tang, nếu không được giờ phát tang (người mất vào giờ kiêng, giờ không lành…) thì sẽ đắp chăn, buông màn nằm như đang ngủ, con cháu cũng chưa được phép khóc than mà phải đợi đến giờ lành Tang gia phải mời thầy mo, thầy pựt đến để chủ trì các nghi lễ trong đám

ma, đôi khi đám ma diễn ra trong vài ngày thậm chí là cả tuần lễ nếu không chọn được giờ ra cửa, ngày nay tang lễ của người Tày Nùng đã được giản tiện đi rất nhiều để phù hợp với thời đại Trong lễ tang, con cháu của người đã khuất đem tới rất nhiều lễ vật, gồm gạo, rượu, một con lợn, cây tiền và những bức trướng… để thể hiện lòng hiếu thảo, ghi nhớ công ơn của người đã khuất

Mối quan hệ gia đình, cộng đồng, xã hội: Xung quanh việc sinh hoạt trong

gia đình, người Tày Nùng xưa có quy định rất nghiêm ngặt như: khi con gái và con dâu đi vào buồng ngủ thì không được đi qua phần trên trước bàn thờ mà phải đi dọc theo gian phần dưới nhà, cho tới khi có một, hai đứa con rồi người con dâu mới được đi qua mé trên Con dâu cũng không được phép ngồi chung mâm với bố chồng hoặc anh chồng và người cao tuổi, khi nhà có khách là phụ nữ đến chơi thì khách không được vượt qua bếp vào trên nhà – nơi tiếp khách của đàn ông Do việc có nhiều thế hệ cùng sinh sống dưới một mái nhà nên người Tày Nùng có khá nhiều quy định vừa nghiêm ngặt vừa tế nhị trong cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình, nhất là giữa bố chồng và con dâu Thậm chí, trong gia đình người Nùng,

bố chồng nàng dâu còn tránh ngồi lẫn vị trí chỗ ngồi của nhau, hoặc nếu có ngồi thì

cũng phải là khi vắng mặt một trong hai người

Tày Nùng là hai tộc người có sự kết cấu cộng đồng rất cao Do lịch sử từ xa xưa, đồng bào Tày Nùng vốn là cư dân nông nghiệp, cuộc sống lao động sản xuất

Trang 30

phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, trong cuộc đấu tranh chống lại và cải tạo tự nhiên để sinh tồn ấy, họ cần phải liên hệ, đoàn kết với nhau, tạo nên sức mạnh tập thể, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong mọi mặt của đời sống Cho đến ngày nay, bản làng người Tày Nùng vẫn giữ được sự cố kết bền chặt này Cá nhân chan hòa, nhiệt thành với cộng đồng, không tách khỏi mối quan hệ mật thiết với cộng đồng Người Tày Nùng nhìn chung rất thật thà, hiếu khách, suy nghĩ phóng khoáng, giản đơn, đối với làng xóm thân tình, gắn bó Mỗi khi một gia đình có việc lớn như dựng nhà hay tang ma hiếu hỷ, bà con trong làng bản sẽ tự giác đến phụ giúp gia đình, không màng công cán Mùa gặt, khi lúa nhà nào chín trước, cả làng sẽ cử một người trong gia đình mình đến nhà đó hộ gặt, khi tới lượt mình cũng sẽ có nhiều người đến giúp Trong vườn nhà có loại hoa trái nào, khi trẻ con hàng xóm đến xin thì sẽ vui vẻ đồng ý, hầu như không có chuyện mua bán giữa những người cùng làng với nhau… Đây chỉ là một số ví dụ đơn cử để thể hiện tinh thần cộng đồng sâu sắc và ý thức đoàn kết của đồng bào Tày Nùng

Có thể thấy đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Việt Bắc nói chung và dân tộc Tày – Nùng nói riêng, có những nét cơ bản giống các khu vực khác Về tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng dân gian của cư dân Tày- Nùng hướng niềm tin của con người đến thần bản mệnh, trời đất, tổ tiên Họ thờ nhiều thần linh như thần sông, thần núi, thần đất Ngoài ra, còn có các ông vua, Giàng Then cũng được đồng bào nơi đây kính cẩn thờ phụng

1.1.5 Văn học dân gian

“Văn học dân gian là thuật ngữ dùng để chỉ những thể loại sáng tác dân gian trong đó thành phần nghệ thuật ngôn từ (tức thành phần văn học) chiếm vị trí quan trọng, song bao giờ cũng có mối quan hệ hữu cơ với các thành phần nghệ thuật và phi nghệ thuật khác” [18, tr.8] Như đã biết, văn học dân gian có nhiều chức năng

như chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ và chức năng

sinh hoạt, chúng hợp thành một thể thống nhất [23,tr.15], qua đó thể hiện nhận thức

của người dân về tất cả những lĩnh vực đó Nói cách khác, văn học dân gian của một dân tộc là toàn bộ những kết tinh, tinh hoa về đời sống tinh thần và mang bản sắc rất đặc trưng của dân tộc đó

Trang 31

Văn học dân gian Tày Nùng rất phong phú, đa dạng và độc đáo, là một bộ quan trọng trong văn hóa dân gian Tày Nùng, nó phản ánh chân thực, sinh động cuộc sống sinh hoạt, lao động và đấu tranh của đồng bào, là tâm tư, tình cảm, ước

mơ, khát vọng, là sự nhận thức và trí tuệ dân gian từ thuở xa xưa

Văn học dân gian của dân tộc Tày Nùng là một kho tàng có khối lượng đồ sộ với rất nhiều các thể loại Nhìn chung, có thể chia thành hai mảng chính là văn học truyền miệng và văn học thành văn Theo cuốn Các dân tộc Tày – Nùng ở Việt Nam, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Dân tộc học, 1992, do Giáo sư Bế Viết Đằng chủ nhiệm [7] thì có thể phân loại 2 mảng này như sau:

Mảng văn chương truyền miệng gồm các thể loại chính là:

1 Lời ca nghi lễ: thể loại này lại bao gồm

- Lời ca đám cưới và có lẩu

- Mo, then, pụt

- Mại xe, văn tế, văn than, lòan

2 Lời ca giao duyên: thể loại này bao gồm

- Lượn: phổ biến hai làn điệu: lượn cọi (khắp) và lượn slương

Trang 32

cuộc sống, của tự nhiên, được thể hiện dưới hình thức nghệ thuật Tục ngữ có nguồn gốc rất cổ xưa, và người sáng tạo ra nó phải là những người không những chỉ biết nhận thức mà còn hiểu thấu được ý nghĩa thực tại bao quanh Một tiền đề nữa không thể thiếu được để tục ngữ có thể xuất hiện, là một trình độ phát triển nhất định của ngôn ngữ và khả năng của con người sử dụng nó nhằm tái hiện thực tại một cách khái quát, logic và mang tính nghệ thuật Lịch sử tồn tại của tục ngữ

và sự phát triển không ngừng của nó liên quan chặt chẽ với sự hình thành xã hội

loài người [ 41]

Người Tày – Nùng rất ưa chuộng kiểu nói vần, nói văn vẻ ví von và sử dụng vốn thành ngữ, tục ngữ của dân tộc mình một cách rất linh hoạt vào lời ăn tiếng nói hằng ngày Có thể thấy không một lĩnh vực nào của cuộc sống xã hội con người là không được phản ánh, đúc rút thành kinh nghiệm truyền đời trong thành ngữ tục ngữ

Tục ngữ, thành ngữ nói chung và tục ngữ, thành ngữ của người Tày – Nùng nói riêng đều là tấm gương phản ánh những quan niệm, những tình cảm và thể hiện thế giới quan của nhân dân về mọi mặt của đời sống, từ lao động sản xuất, đến tâm

tư tình cảm hay các vẫn đề xã hội lớn lao khác Vì vậy, thông qua tục ngữ thành ngữ, ta có thể nhận dạng đặc điểm lao động sản xuất, xu hướng tình cảm, đời sống sinh hoạt của dân tộc đó như thế nào Thành ngữ, tục ngữ của người Tày Nùng, bởi thế, chính là sự khái quát về những kinh nghiệm sản xuất, lao động, kinh nghiệm

ứng xử, lối tư duy, cách nghĩ, tâm tư tình cảm của đồng bào Tày – Nùng Trong giai

đoạn phát trển đầu tiên của lịch sử loài người, cũng như mọi hoạt động tinh thần khác, nghệ thuật không tồn tại dưới dạng độc lập mà gắn bó và hầu như hòa làm một với hoạt động thực tiễn của con người [23,tr.10] Bởi thế, thành ngữ - tục ngữ đều có dấu ấn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống [7 ,tr.268], và người Tày – Nùng

đã để lại những thông điệp riêng của mình về thế giới quan, nhân sinh quan của họ

trong những câu thành ngữ, tục ngữ của dân tộc mình như thế

Truyện cổ tích: Truyện cổ tích thể hiện tư tưởng và ước mơ của người xưa,

nó được bổ sung qua các thế hệ [7,tr.268], ngoài ra, truyện cổ tích còn thể hiện

những nhận thức dẫu còn mang những nét ngây thơ và đơn giản về thế giới và các

Trang 33

hiện tương tự nhiên xung quanh con người, thể hiện trình độ và mơ ước của người xưa trong việc cải biến, chinh phục và lí giải các hiện tượng tự nhiên Đáng kể nhất

có cuốn Truyện cổ Tày Nùng gồm 25 truyện, được Hoàng Quyết biên soạn, nhà xuất bản Văn hóa in năm 1986 [36] Ngoài ra, năm 1988 Hội văn nghệ Lạng Sơn in tập truyện do Mã Thế Vinh soạn gồm 10 truyện và trước đó Sở Văn hóa Bắc Thái cũng cho in một cuốn có khoảng 10 truyện khác Tới nay còn rất nhiều truyện tiêu biểu loại này chưa được sưu tầm và giới thiệu… Một số huyền thoại rất phổ biến ở các dân tộc Tày Nùng, đã để lại những dấu ấn về quê hương xứ sở của họ Truyền thuyết “Chín chúa tranh vua” nói tới nhiều địa danh không chỉ ở Việt Nam như Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Thái mà còn nói đến cả Thin Tẳng (Trịnh Tây), Thái Ninh (Thái Bình phủ)…thuộc Quảng Tây, Trung Quốc ngày nay Truyền thuyết Pú Lương Quân cũng gắn chặt với các địa danh Cao Bằng như “lốc chả Phiêng Pha, đăm nà Tổng Chúp” (nhổ mạ Phiêng Pha, cấy lúa Tổng Chúp), nà Tổng Lằn (ruộng trống lăn)… Còn truyền thuyết Va Thái Hà chinh phục Hồ Ba Bể thì kể: nhà vua đã

có công đục núi đá Bó Lù hạ thủy cho vùng Nhu Viễn có đất làm ruộng Truyền thuyết Tải Ngào (ông khổng lồ) mỗi bước đi hàng vạn dặm, được kể ở nhiều nơi mà đặc biệt biệt là ở Bắc Kạn có nhiều ý nghĩa lớn… Ngoài ra còn có những truyền thuyết khác có thể có cùng gốc với nhiều dân tộc khác ở Đông Nam Á với nạn hồng thủy làm loài người chết hết chỉ còn lại hai anh em ruột chui vào quả bầu sống sót, sau phải lấy nhau để duy trì nòi giống Những truyền thuyết này đã mang dấu ấn rõ

nét trong nền văn học dân gian của hai dân tộc Tày – Nùng [7,tr.268]

Đời sống tinh thần của người Tày Nùng khá phong phú, đa dạng và điều này được thể hiện rõ trong hệ thống các truyện cổ tích và thần thoại Trong kho tàng truyện thần thoại, cổ tích của người Tày, có một số đã ra đời từ thời cổ như truyện Quả bầu, Pú Luông – Già Cải, Cẩu Chủa Cheng Vùa, vừa nói về sự có mặt của họ

từ những thời kì xa xưa ở Việt Nam, còn phần nhiều xuất hiện trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn đã gay gắt, đấu tranh trở nên quyết liệt như truyện Cẩu Khây, Thạch Sanh, Tổng lằn, truyện Nùng Trí Cao… Bên cạnh nền thơ ca cổ truyền phong phú hơn cả, cũng có hàng trăm truyện thơ khuyết danh bằng chữ Nôm Tày

Trang 34

Phuối pác, phuối rọi (ví): Phuối pác là một nét đặc sắc trong giao tiếp của

người Tày Đó là cách nói có ví von, có vần điệu, nghe mềm mại, xuôi tai, rất dễ

nhớ, dễ vận dụng Phuối pác là lời nói nên còn có các tên: “cảng pác” (nói miệng),

“phuối tói” (nói đôi), “rọi” (nói thành vần) Trai gái mới gặp nhau, dùng lối nói

này để làm quen Từ đấy nhiều khi đi đến hôn nhân [7,tr.207]

Phuối pác rất giàu hình ảnh ví non ẩn dụ, nội dung rất phong phú, câu từ đơn gản nhưng ý nghĩa thâm thúy sâu xa Trai gái khi làm quen hoặc thăm dò ý tứ nhau thường dùng lối nói rất khiêm nhường, đề cao đối phương và tự hạ mình xuống để

gây thiện cảm Được thời gian gọt giũa những lời phuối pác, phuối rọi ngày càng cô

đọng bóng bẩy và mềm mại một chất thơ lãng mạn Nội dung chính của các bài hát này là lòng yêu lao động, tình yêu trai gái, tùy tài năng và cảm xúc của người hát

mà làn điệu bài bản các thể hát đó được biến hoá, sáng tạo không ngừng Phuối pác

là thể dân ca hát đối đáp, có làn điệu nhưng không ngân nga như lượn, thường được

dùng nhiều nhất trong hai trường hợp: khi mới gặp nhau và lúc tạm biệt nhau

Câu đố và đồng dao: Câu đố và dồng dao là 2 loại hình văn chương truyền

miệng, song cái chung là đều dùng cho đối tượng thiếu niên nhi đồng nhằm mục đích giáo dục theo lối giải trí Tác dụng của nó rất đa diện, góp phần đắc lực vào

việc hình thành nhân cách và bản sắc tộc người.[7,tr.272]

Câu đố là một hình thức nhận thức và miêu tả sự vật, sự việc Thông thường

theo logic, sự vật được nhận thức qua thuộc tính cơ bản Thuộc tính đó trong câu

đó cũng được nêu lên nhưng lại được ngụy trang bằng những biện pháp mỹ từ như nhân hóa, động vật hóa, thực vật hóa, chơi chữ… Thuộc tính, sau khi được ngụy trang, được diễn ra thành ngôn ngữ có vần điệu, hình ảnh, ngôn ngữ nghệ thuật

Trang 35

- Đồng dao kể về một tích truyện nào đó một cách ngắn gọn

Đồng dao là niềm vui bất tận của thuở thiếu thời Trong đó có trò giúp các

em mở rộng sự hiểu biết, bổ sung kiến thức trong nhà trường Ngoài ra đồng dao còn là vườn ươm cho các thể loại thơ ca dân gian như ngũ ngôn, thất ngôn… mà các em sẽ tiếp cận khi lớn lên.[7,tr.276]

Ca dao - Dân ca: Người Tày Nùng có một kho tàng ca dao rất phong phú,

giàu đẹp Ca dao là một phận chủ yếu và quan trọng nhất của thơ ca dân gian, là

loại thơ ca dân gian truyền thống có phong cách riêng, được các tác giả dân gian sáng tác, lưu truyền phổ biến trong quảng đại quần chúng nhân dân nhằm diễn tả nhận thức, tình cảm, tâm lý của họ đối với môi trường thiên nhiên hùng vĩ, đối với

đời sống tình cảm cha con, mẹ con, vợ chồng, nhất là tình yêu đôi lứa.[7]

Về cấu tứ, nghệ thuật ca dao Tày Nùng có ba lối: phú (miêu tả, trình bày, kể lại, thuật lại), ti (so sánh, ví von, có thể trực tiếp, có thể gián tiếp), hứng (cảm hứng, hứng khởi được nảy sinh từ sự vật hiện tượng khách quan)

Về nghệ thuật biểu hiện, ca dao Tày Nùng sử dụng nhiều biện pháp tu từ như nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, thậm xưng…

Dân ca có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng của người Tày – Nùng nhất so với các thể loại văn học khác Dân ca giao duyên phong phú

về thể loại, có phong slư, lượn, phuối pác (hát đối đáp)… thường được các đôi

trai gái sử dụng khi tìm hiểu nhau, do đó làn điệu thường ngân nga nhấn nhá

vang xa trong không gian thể hiện tâm trạng, tình cảm, nỗi nhớ nhung Phong slư

là những bức thư tình, một thể thơ hết sức đặc sắc của trai gái Tày Bức thư này

viết bằng chữ Nôm Tày trên nền vải sa tanh đỏ Phong slư nói về cung bậc tình

cảm của những người đang yêu Khi là tiếng nói thủ thỉ tâm tình, lúc hóa thành dòng thác nhớ nhung tha thiết Tình yêu nam, nữ thể hiện trong phong slư thường là tình yêu trong xa cách, trắc trở, tan vỡ Bởi vậy tiếng hát, giai điệu phong slư thường buồn da diết Tuy nhiên nó không hề bi lụy mà nỗi buồn ấy lấp lánh những ước mơ lãng mạn, nhân văn

Lượn là một bộ phận thuộc loại hình nghệ thuật dân ca sinh hoạt của người

Tày Lượn có nhiều tiểu loại, ngoài hai loại cơ bản là lượn cọi và lượn slương,

Trang 36

người Tày còn có lượn Then, lượn nàng Hai, lượn khắp,… Trong cái nhìn đối sánh với văn hóa dân tộc Kinh, lượn là lối hát giao duyên có thể tương tự như lối hát

quan họ ở Bắc Ninh, loại dân ca này có giai điệu vang xa tha thiết, lay động lòng

người, gợi cảm giác bâng khuâng, thương nhớ Có thể nói lượn đã trở thành một

thực thể trong đời sống tinh thần, một thành phần có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu bộc lộ tình cảm của những người dân Tày yêu thích ca

hát Thông qua lượn mà tiếng hát, lời ca ngân lên mọi lúc, mọi nơi, trong bản ngoài

mường, trở thành một phần không thể thiếu được trong đời sống tinh thần người Tày

Dân ca là một thể loại được phổ biến rộng rãi và có một vị trí quan trọng trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của đồng bào Tày – Nùng Dân ca có nội dung phản ánh một giai đoạn lịch sử, phê phán một hiện tượng xã hội nào đó, qua đấy bày tỏ nỗi lòng, bộc lộ tâm tư tình cảm, thái độ của nhân dân về những hiện tượng

xã hội đương thời

Về mảng văn học thành văn:

Lời ca nghi lễ: là loại thứ nhất được ghi chép lại bằng chữ nôm Nhờ đó mà

có thể tìm hiểu những văn phẩm hàng thế kỉ trước [7,tr.278], nổi bật nhất là hình

thức quan làng trong các đám cưới Các quan làng (đại diện nhà trai) thường hát đối đáp với các pả mẻ (đại diện cho nhà gái) phục vụ cho tiến trình nghi thức của một đám cưới Dân ca tín ngưỡng là lời xướng, giọng ca của những người hành nghề mang tính tâm linh… Ngay từ tên gọi đã có thể thấy rằng loại dân ca này được phụng vụ cho việc tiến hành các nghi lễ cúng bái, cho nên nếu muốn tìm hiểu văn hóa dân tộc Tày thông qua dân ca nghi lễ thì không thể thoát li hoàn toàn các hình thái ý thức tinh thần ra khỏi phần lời hay văn bản bài dân ca được Qua việc tìm hiểu dân ca nghi lễ

ta có thể thấy chính các nghi lễ tín ngưỡng (nguyên sơ và hiện đại) đã sử dụng các

thành quả văn học dân tộc để vận hành và tồn tại [7,tr.278] Dân ca nghi lễ được

chia thành 3 loại:

- Dân ca đám cưới và cỏ lẩu: trong đó dân ca đám cưới phổ biến ở người

Tày còn cỏ lẩu lại phố biến ở người Nùng Dân ca đám cưới nhằm phục vụ cho hôn

lễ, do những người thuộc nhiều thơ, có khả năng đối đáp linh hoạt khéo léo và có

Trang 37

chất giọng tốt trong đoàn đón đưa dâu đảm nhận Các bài ca nghi lễ trong hôn lễ có một ý nghĩa rất quan trọng, nó vừa theo sát vừa tham gia vào mọi thủ tục của lễ thành hôn, nó tuân thủ theo một trình tự có nhưng cũng đòi hỏi sự linh hoạt ứng đối

và phụ thuộc vào trình độ của người hát Dân ca đám cưới gồm 8 mục tương ứng với các trình tự trong lễ cưới: hát căng dây, hát giữ cửa, hát trải chiếu, mời uống nước ăn trầu, hát mời cơm, hát trình tổ, hát bái tổ, hát nộp dâu, rể Trong hệ thống bài hát này, mỗi mục riêng có hàng loạt bài, mà việc vận dụng nó thế nào hoàn toàn phụ thuộc và trình độ và sự linh hoạt ứng biến của người hát Nội dung của thơ đám cưới gồm thơ kể về phong tục, thơ lịch sử, thơ giao duyên

- Mo, then, pụt (pựt), tào: Then, pựt là một hình thức cúng bái mang tính

chất saman giáo bản địa của người Tày – Nùng [53, tr.31] Nó là những nghi thức

cúng dân gian tồn tại từ rất lâu đời Mo là cấp thấp nhất, trải qua các cấp sắc mới được lên các bậc trên là then, pụt Chức sắc cao nhất là tào Hầu hết các cung đoạn của pụt, then đều có những cách diễn xướng tương ứng còn mo chỉ diễn như cách

nói thông thường mà dân gian gọi là tàm pẹc (nói trơn) Mo, then, pụt, tào có ý

nghĩa cúng quỷ, trừ tà cho người ốm, nhiều nơi, then, pụt còn tham gia trong đám tang để đưa linh hồn người đã khuất lên trời hay lễ kì yên vào đầu xuân để cầu cho một năm yên ổn Đội ngũ mo, then, pựt, tào được cho là có khả năng truyền đạt nguyện vọng, ước mơ của người trần lên với Ngọc Hoàng hay dẫn dắt linh hồn

người chết, xua đuổi được tà ma Nói cách khác, mo, then, pụt, tào được coi là “loại

người có khả năng môi giới giữa thế giới siêu nhiên và con người” [35] Ngoài ra

pụt và then còn cụ thể hóa một số truyền thuyết và huyền thoại về quá khứ xa xưa của loài người, một số bài còn thuyết minh về phong tục của dân tộc mình hay thể

hiện sự áp bức bất công trong xã hội Nó không chỉ chi phối đời sống tâm linh của

người dân mà còn để lại những dấu ấn sâu đậm trong đời sống văn hóa nghệ thuật của dân tộc [44,tr.19] Nói tóm lại, then, pụt là hình thức cúng bái trong tín ngưỡng dân gian có thể có hàng ngàn năm lịch sử, được hình thành trên cơ sở bổ sung, hoàn thiện dần của biết bao thế hệ, và có sức hấp dẫn với các thế hệ Tày Nùng.[7,tr.284]

Trang 38

- Mại xe, Văn tế, Văn than, Loàn: trong đó, mại xe, văn tế, văn than chỉ

dùng trong đám tang, còn Loàn dùng trong lễ hội Lồng tồng Mại xe nghĩa khúc hát chia tay người chết Văn tế và văn than dùng để đọc trước vong linh người quá cố, lời ca thống thiết, đau thương, có sức tác động lớn lao đến cảm xúc của người nghe, gây xúc động mạnh, đôi khi không cầm được nước mắt Lồng tồng là một trong những lễ hội lớn của cư dân nông nghiệp Loàn là bài văn trong nghi lễ chúc thánh của lễ hội này, nội dung chính là mời thần thánh về dự lễ hội cầu mùa, tạ ơn các thánh, tiễn các thánh và khách thập phương đã về dự lễ

Lời ca giao duyên: Những bài hát giao duyên là một bộ phận quan trọng của

thơ ca thành văn dân tộc Tày – Nùng Nổi bật nhất trong số đó là Sli, Lượn (có lượn cọi, lượn slương) và phong slư Rất nhiều bài trong số đó đã được sưu tầm, ghi chép lại từ rất sớm bởi đội ngũ tri thức bản địa dân tộc Tày – Nùng

- Sli là dân ca giao duyên của người Nùng Tương tự như các hình thức hát giao duyên của các dân tộc khác, sli là những bài ca nói về tình cảm lứa đôi, tình yêu trai gái, về nỗi nhớ nhung buồn khổ, về sự hi vọng, chờ mong khi hẹn hò, làm quen, tán tỉnh, khi bày tỏ, thổ lộ tâm tình… được các thế hệ thanh niên nam nữ

người Nùng hết sức yêu thích

- Lượn: Lượn không phải là cách trình diễn nhằm để mọi người nghe hoặc

xem, mà trong bản chất nó là hình thức giao duyên của tuổi trẻ [7,tr.288] Lượn

nói chung, chính là sự phác họa thế giới thực tại và tinh thần trong quá khứ của người Tày, nên nội dung của nó rất phong phú, từ những chuyện của tuổi thơ, những cuộc tình duyên trong lịch sử, đến gắn liền với các sự kiện như mừng ruộng đồng làng bản, mừng nhà cửa cây cối, đi chợ, đi đường… đều được đề cập tới

- Phong slư: là những bức thư tình đặc sắc của các thế hệ trẻ người Tày – Nùng được viết trên nền giấy vải rất công phu Vải viết thư thường là vải khổ to, rộng trên dưới một mét vuông, được vẽ hoa biên là hai con rồng miệng há to chầu

mặt trời, hoặc là chim muôn hoa lá, được trang trí rất ngoạn mục Phong slư có một

thể loại riêng biệt, có kết cấu nhất định bằng thơ thất ngôn gieo vần lưng triệt để với phong cách ngâm vịnh riêng Trước 1945, gần 100% phụ nữ Tày mù chữ, nhưng phong slư vẫn phát triển, nên một lớp người có nho học làm thơ cho cả đôi

Trang 39

trai gái gọi là “slấy cá” được hình thành Những phong slư nay còn gặp được, ít nhất cũng do những trí thức dân tộc sáng tạo nên Mở đầu của phong slư bao giờ cũng xác định thời điểm của 4 mùa, tiếp đó mới nói đến hoàn cảnh tâm tư của mình.[7,tr.291] Trung bình, mỗi bài phong slư dài khoảng trăm câu, nhưng cũng có

những bài cá biệt dài đến cả nghìn câu Các bài phong slư giàu hình ảnh, giàu xúc cảm và thường rất lâm li, tha thiết…

Truyện thơ và thơ ca xã hội

- Truyện thơ (Hay truyện thơ Nôm Tày): là những truyện dân gian truyền

miệng thể hiện bằng văn vần mà hình thức là thơ bảy chữ trường thiên, gieo vần ở

từ thứ năm và thứ bảy mỗi câu.[37,tr.187] Có thể nói truyện thơ Tày Nùng là cái khung của nền văn học thành văn nơi đây Chính nó mới là tác phẩm văn học đúng với nghĩa thực của nó Truyện thơ ở đây đều là những tác phẩm khuyết danh, công tác văn bản học chưa được tiến hành, lại là những tác phẩm viết tay nên có nhiều dị bản Truyện thơ Tày Nùng phản ánh cuộc sống hiện thực và tâm tư nguyện vọng của dân tộc… là sản phẩm của trí thức dân tộc nên có kết cấu chặt chẽ, nội dung tư tưởng mạch lạc…[7 ,tr.293-294] Nội dung chủ yếu của truyện thơ là phản ánh hiện

thực xã hội, đề cao tinh thần dũng cảm, hi sinh chống giặc, giành lại cuộc sống yên bình cho đồng bào, bênh vực kẻ yếu, lên án các thế lực cường quyền tàn bạo

Các truyện thơ Tày – Nùng khá phong phú về số lượng, có thể kể tên nhiều truyện thơ tiếu biểu: Bjóc lả, Chiêu Đức – Kim Nữ, Đính Quân, Lý Thế Khanh, Nam Kim – Thị Đan, Nàng Quế, Chim Sáo (Nộc Kéo), Nàng Hán, Slam Péc – Anh Tài, Xuân Lan, Khảm Hải…

- Thơ ca xã hội: Bách giáo (nghĩa là răn dạy trăm điều), nó không phải là

loại tác phẩm mang thuần chất văn học nhưng lại là những bài học đạo đức truyền thống đã và đang giáo dưỡng những thế hệ người bản tộc [7, tr.296] Bách giáo

gồm 673 câu, trong đó không chỉ chứa đựng những tư tưởng Khổng Nho mà còn là

những chuẩn mực cơ bản của cuộc sống hàng ngày Hoàn toàn có lí để nghĩ rằng hệ

thống đạo đức vốn có của dân tộc từng tồn tại trong lịch sử đã được đan ghép vào những quan niệm nổi tiếng của Khổng Nho nhằm hoàn thiện nền kỉ cương của cộng đồng.[7,tr.297]

Trang 40

- Thơ ca Hoàng Đức Hậu (1980 – 1945): trước Hoàng Đức Hậu có Bế Văn Phủng và Nông Quỳnh Văn, đây là ba đại diện tiêu biểu có vị trí khá rõ trong nền thơ ca truyền thống có tác giả cụ thể từ cổ đại đến cận đại của dân tộc Tày Hoàng Đức Hậu quê ở vùng đồng Hòa An thuộc Cao Bằng, ông có vốn kiến thức và văn hóa dân tộc phong phú, lại rất ham học hỏi, thường đi khắp nơi dạy học nên được nhân dân yêu mến gọi là “Đồ Hậu” Trong khi đi bôn ba nhiều nơi để dạy học, ông

đã làm nhiều bài thơ được nhân dân yêu thích, học thuộc và truyền miệng Trên những nẻo đường kiếm sống bằng nghề dạy học, ông đã gần gũi và thấu hiểu cuộc sống sinh hoạt, lao động của những người dân, những làng bản, ông cũng được chứng kiến những bất công, những cay đắng, những hủ tục chướng tai gai mắt… tất

cả những điều ấy đi vào thơ ông với những trăn trở âu lo Có thể nói, ông là nhà thơ

Tày duy nhất đúng với nghĩa của nó trước 1945 [7,tr.300]

Có thể nhận xét rằng di sản văn học dân gian Tày Nùng là một vốn quý của cộng đồng Tày Nùng nói riêng và kho tàng văn học dân gian Việt Nam nói chung

Hệ thống văn học dân gian Tày Nùng vừa phong phú đa dạng, vừa đặc sắc ấn tượng, vừa phản ánh sự hòa hợp giữa con người và môi trường tự nhiên, vừa thể hiện mối quan hệ gắn kết của con người giữa cộng đồng Trong văn học dân gian Tày Nùng, phong tục tập quán tín ngưỡng tôn giáo… được biểu hiện ở nhiều mức

độ và khía cạnh khác nhau

Văn học dân gian là một bộ phận cấu thành của văn hóa dân gian, nó có mối liên hệ chặt chẽ và mật thiết với các thành tố dân gian khác Phần lời của các làn điệu dân ca Tày Nùng, phần ngữ văn trong các bài cúng tế của mo, then, pựt cũng chính là một bộ phận của văn học dân gian Tày – Nùng

Văn học dân gian chính là tấm gương phản chiếu mọi mặt đời sống của con người dân gian Văn học dân gian Tày Nùng, bởi thế, là sự khúc xạ đời sống của đồng bào Tày Nùng, với một cảm quan nghệ thuật độc đáo, với một phong vị miền núi không sao trộn lẫn Đời sống tinh thần phong phú, lối sống lối nghĩ phóng khoáng, thật thà, mộc mạc hồn nhiên không cầu kì rào đón của đồng bào đã làm cho văn học dân gian Tày Nùng giản dị, gần gũi như lời ăn tiếng nói của đồng bào,

Ngày đăng: 25/04/2016, 08:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Vĩnh Cư (2010), “Tôi rất sung sướng thưởng ngọan tập thơ Dương Thuấn”, http://vn.360plus.yahoo.com/DuongThuan59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi rất sung sướng thưởng ngọan tập thơ Dương Thuấn”
Tác giả: Phạm Vĩnh Cư
Năm: 2010
3. Nông Quốc Chấn (1972), Đường ta đi, Nxb Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường ta đi
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Việt Bắc
Năm: 1972
4. Triệu Lam Châu (2011), “Nét thần diệu của tâm hồn Tày trong thơ Dương Thuấn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét thần diệu của tâm hồn Tày trong thơ Dương Thuấn
Tác giả: Triệu Lam Châu
Năm: 2011
5. Nguyễn Đức Dân (1986), “ Vận dụng thành ngữ, tục ngữ và danh ngôn trên báo chí ” , Tạp chí Ngôn ngữ ( số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng thành ngữ, tục ngữ và danh ngôn trên báo chí”", Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1986
6. Lê Hải Đăng, Nghi lễ gia đình của người Tày – Nùng ở Nghệ An, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ gia đình của người Tày – Nùng ở Nghệ An
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
7. Bế Viết Đằng (1992), Các dân tộc Tày – Nùng ở Việt Nam, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện dân tộc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc Tày – Nùng ở Việt Nam
Tác giả: Bế Viết Đằng
Năm: 1992
8. Nguyễn Khoa Điềm (2010), giới thiệu Tuyển tập thơ Dương Thuấn, tập I, Bản Hon và những nơi khác, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ Dương Thuấn
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2010
9. Nhiều tác giả (1990), Các vấn đề của Khoa học văn học, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề của Khoa học văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1990
10. Nhiều tác giả (1994), Những gương mặt thơ mới, tập 1, tập 2, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những gương mặt thơ mới
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1994
11. Nguyễn Bích Hà, “Nghiên cứu văn học dân gian từ giải mã văn hóa”, tài liệu đánh máy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học dân gian từ giải mã văn hóa
12. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
13. Đỗ Thị Hòa (2004), Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Hòa
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2004
14. Viện ngôn ngữ học (2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học
Năm: 2005
15. Đường Thiên Huệ, “Nhà thơ Dương Thuấn: Tôi là con trai của núi cao rừng thẳm”, http://60s.com.vn/index/1788198/1112008.aspx, cập nhật thứ 3 11/11/2008, 15:17 (GMT+7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Dương Thuấn: Tôi là con trai của núi cao rừng thẳm”," http://60s.com.vn/index/1788198/1112008.aspx
16. Đỗ Thị Thu Huyền (2009), Dương Thuấn – Hành trình từ Bản Hon, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dương Thuấn – Hành trình từ Bản Hon
Tác giả: Đỗ Thị Thu Huyền
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2009
17. Đỗ Thị Thu Huyền (2008), “ Dương Thuấn – một hồn thơ rộng mở ” , Báo Dân trí (số 11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dương Thuấn – một hồn thơ rộng mở”, "Báo Dân trí
Tác giả: Đỗ Thị Thu Huyền
Năm: 2008
18. Nguyễn Thị Việt Hương (chủ biên), Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Đại học Văn hóa Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Văn hóa Hà nội
19. Diệu Hường Mimmi BergStrom Hường, “Cảm nghĩ đọc thơ Dương Thuấn của một người xa quê hương”, Stakholm, Thụy Điển, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm nghĩ đọc thơ Dương Thuấn của một người xa quê hương
20. Inrasara (2006), “ Thơ dân tộc Chăm từ ngồn gốc đến hiện đại ” , Tạp chí nghiên cứu văn học (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ dân tộc Chăm từ ngồn gốc đến hiện đại”, "Tạp chí nghiên cứu văn học
Tác giả: Inrasara
Năm: 2006
21. Đỗ Hồng Kỳ (1997), “ Những biểu hiện của tôn giáo, tín ngưỡng trong truyện thơ Nôm Tày – Nùng ” , tạp chí Văn hóa dân gian ( số 3), tr.16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biểu hiện của tôn giáo, tín ngưỡng trong truyện thơ Nôm Tày – Nùng”, tạp chí "Văn hóa dân gian
Tác giả: Đỗ Hồng Kỳ
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w