Bên cạnh tên tuổi của các nhà thơ, nhà văn dân tộc thiểu số đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc như Nông Quốc Chấn, Hoàng Văn Thụ, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Triều Ân, Ma Tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
********
TRƯƠNG HỒNG THÚY
DẤU ẤN FOLKLORE TÀY - NÙNG TRONG THƠ DƯƠNG THUẤN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
********
TRƯƠNG HỒNG THÚY
DẤU ẤN FOLKLORE TÀY - NÙNG TRONG THƠ DƯƠNG THUẤN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 60 22 01 25
Người hướng dẫn: GS.TS Lê Chí Quế
HÀ NỘI – 2015
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Dương Thuấn đã trở thành một cái tên quen thuộc và ấn tượng trên thi đàn Việt Nam bởi ông có một hồn thơ độc đáo, khỏe khoắn và dung dị, nhưng trên hết, bởi ông là một nhà thơ dắn bó, thủy chung với dân tộc và quê hương mình Thơ của Dương Thuấn có bản sắc độc đáo, được rất nhiều độc giả yêu mến
Thật may mắn là chúng ta đã và đang có một đội ngũ các nhà thơ thật sự gắn
bó và tâm huyết với bản sắc văn hóa dân tộc mình, họ luôn trăn trở, day dứt trong việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy và giới thiệu với các dân tộc anh em trong nước, cũng như với thế giới những cái hay, cái đẹp của dân tộc mình Bằng tất cả sự tài năng và nhiệt huyết, họ đã có những đóng góp lớn lao đối với văn học dân tộc thiểu
số nói riêng và đối với thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung Dương Thuấn là một nhà thơ tiêu biểu như thế Bên cạnh tên tuổi của các nhà thơ, nhà văn dân tộc thiểu
số đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc như Nông Quốc Chấn, Hoàng Văn Thụ, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Triều Ân, Ma Trường Nguyên, Y Phương, thì Dương Thuấn đã khẳng định được chỗ đứng của mình bằng những đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của văn học dân tộc thiểu số nói riêng và thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung
Nhà thơ Dương Thuấn sinh năm 1959, tại Bắc Kạn Ông là người dân tộc Tày, hiện đang sống và làm việc tại Hà Nội Dương Thuấn từng được trao Giải A Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1992 và hàng chục giải thưởng của các cuộc thi thơ trên các báo, tạp chí, nhà xuất bản của trung ương, các tổ chức quốc tế Ông đã có hơn 20 tác phẩm được in và chủ biên khoảng 30 đầu sách Đáng chú
ý, tuyển tập Dương Thuấn vừa được tổ chức Guiness Việt Nam công nhận 2 kỷ lục:
Bộ sách song ngữ Tày – Việt đầu tiên và Bộ Tuyển tập thơ dày nhất Việt Nam (hơn
2000 trang, gồm 3 tập) Thuộc thế hệ kế tiếp đội ngũ các nhà thơ dân tộc có tên tuổi vững chắc, Dương Thuấn đã tiến thêm một bước đến gần hơn với độc giả trẻ, bởi thơ Dương Thuấn rất gần gũi, thân thuộc, đồng cảm với những người trẻ tuổi, do đó
mà thơ ông được đông đảo bạn đọc trẻ yêu mến
Trang 4Dấu ấn folklore Tày – Nùng in đậm tạo nên phong cách riêng cho thơ Dương Thuấn, vừa dồi dào chất liệu văn hóa dân gian, vừa đậm đà hương vị văn học dân gian dân tộc Thơ ông như chính con người ông, đối với quê hương như bát nước đầy, thủy chung đầu cuối, gắn bó sắt son, chân thành, đằm thắm Đọc thơ Dương Thuấn mà ngỡ như tìm lại được lời ru của bà của mẹ vương vít trên nương hay văng vẳng đâu đây trong nhà sàn những đêm cả nhà quây quần bên bếp lửa Nhịp thơ như nhịp cây đàn tính quê hương, tiếng thơ như tiếng Lượn, tiếng Sli, hồn thơ như hồn dân tộc, càng đi xa càng muốn về gần Trong thời đại hội nhập ngày nay, cùng với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự phát triển vượt bậc của kinh
tế - xã hội và những đổi thay lớn lao của thời cuộc đã tác động mạnh mẽ và làm biến đổi nhiều mặt của đời sống xã hội cũng như đời sống văn hóa truyền thống, thì những gì thơ Dương Thuấn đã đem lại càng trở nên đáng trân quý, nâng niu
Là một đứa con dân tộc Tày – Nùng của núi rừng Việt Bắc, lớn lên và chứng kiến nhiều giá trị truyền thống của dân tộc mà mình hằng yêu mến, tự hào đang dần mai một, đang dần mất đi, thì đối với cá nhân tôi, những thứ mà nhà thơ Dương Thuấn đang cố gắng, nỗ lực giữ gìn, bảo tồn cũng chính là những điều tôi muốn làm nhưng khả năng của bản thân còn hạn chế, bằng sự ngưỡng mộ và kính trọng sâu sắc, tôi đã chọn “Dấu ấn folklore Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình
II Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thơ Dương Thuấn, chúng tôi muốn làm
rõ những dấu ấn của folklore Tày – Nùng trong thơ ông để thấy được sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa và văn học truyền thống dân tộc trong quá trình sáng tác của tác giả, qua đó khẳng định những đóng góp của Dương Thuấn trong việc bảo lưu, giữ gìn những nét đẹp của folklore dân tộc
III Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lịch sử nghiên cứu ảnh hưởng Folklore trong văn học viết: Folklore trong văn học viết đã được khá nhiều nhà nghiên cứu trong nước chú ý đến Tuy chưa có một công trình nào thật sự vĩ mô, nhưng cũng đã có một số lượng khá phong phú những bài nghiên cứu trên các tạp chí có đề cập đến folklore trong văn học viết, tiêu
Trang 5biểu có thể kể ra như Lê Kinh Khiêm với bài viết nghiên cứu về quan hệ giữa văn học dân gian và văn hóa, in trên tạp chí Văn học, số 1, năm 1980; Chu Xuân Diên với bài viết Nhà văn và sáng tác dân gian trên Tạp chí Văn học, số 1, năm 1981; Bùi Nguyên với bài viết Âm vang tục ngữ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi trên Tạp chí văn học; hay Đặng Thanh Lê với bài viết Văn hóa dân tộc qua bài thơ Mời Trầu – Hồ Xuân Hương; Nguyễn Thế Việt với bài viết Từ kiệt tác Truyện Kiều nghĩ
về quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết… Và một số sách như cuốn tự sự dân gian trong văn xuôi Việt Nam hiện đại của Vũ Quang Trọng, Nxb Khoa học xã hội, 1990; Cuốn M.Gorki và văn nghệ dân gian của Hồ Sĩ Vịnh, Nxb Văn hóa Thông tin… Nhìn chung, các bài nghiên cứu đều tập trung làm bật lên yếu tố folklore trong các tác phẩm văn học viết, qua đó khẳng định sức sống bền bỉ, mãnh liệt của folklore trong văn học thành văn
Lịch sử nghiên cứu ảnh hưởng của Floklore Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn: Dương Thuấn là một nhà thơ dân tộc Tày có dấu ấn riêng biệt trong văn học các dân tộc thiểu số nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các thi phẩm của Dương Thuấn Trong
đó có giá trị hơn cả là các bài viết trong cuốn “ Dương Thuấn - Hành trình từ Bản
Hon” do thạc sĩ Đỗ Thị Thu Huyền tuyển chọn và giới thiệu, Nxb Hội Nhà văn ấn
hành năm 2009 Cuốn sách này đã tập hợp gần 50 bài viết của các nhà phê bình Cái tên Dương Thuấn còn được nhắc đến nhiều trong những công trình nghiên cứu về văn học các dân tộc thiểu số và là đối tượng trong một số bài viết của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở việc nhìn nhận, đánh giá, đề cập đến một vài tác phẩm, vài khía cạnh cụ thể chứ chưa có một công trình nào đi sâu khảo sát, nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về những ảnh hưởng của folklore Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn
IV Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của luận văn là toàn bộ những sáng tác của Dương Thuấn, nhưng do khuôn khổ hạn chế của bài viết, chúng tôi tập trung đi sâu vào khai thác những tác phẩm mang đậm dấu ấn folklore Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn
Trang 6V Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tài liệu: kế thừa những công trình nghiên cứu, những bài viết, luận văn, các bài báo, tạp chí và các tài liệu online, chúng tôi tiến hành tra cứu và phân tích tài liệu, sàng lọc những vấn đề có liên quan và những tài liệu này cũng chính là tiền đề khoa học gợi mở, tạo điều kiện cho chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này
Phương pháp liên ngành: Nghiên cứu văn học không thể nào tách rời với nghiên cứu văn hóa, đặc biệt là dấu ấn văn học dân gian lại mang dấu ấn văn hóa dân gian sâu sắc Vì vậy, bài viết soi chiếu các vấn đề văn học dưới góc nhìn văn hóa dân tộc để thấy được đầy đủ toàn diện các khía cạnh của vấn đề ở các phương diện khác nhau
Phương pháp thi pháp học: Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu nhằm
khám phá những nét đẹp về hình tượng nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật cũng như làm bật lên những ảnh hưởng của thi pháp văn học dân gian truyền thống dân tộc Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác như phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp… với các mức độ khác nhau trong bài viết này
VI Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục tham khảo và phụ lục thì luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về dân tộc Tày –Nùng và Folklore Tày – Nùng
Chương 2 Dấu ấn văn hóa dân gian Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn
Chương 3 Dấu ấn ngữ văn dân tộc Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC TÀY – NÙNG VÀ FOLKLORE
TÀY – NÙNG
1.1 Tổng quan về tộc người Tày – Nùng ở Việt Nam
1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên – xã hội, cảnh quan thiên nhiên và lịch sử tộc người
1.1.1.1 Về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên – xã hội và cảnh quan thiên nhiên
Người Tày – Nùng ở Việt Nam hiện có khoảng 2.333.926 người (theo số liệu Tổng điều tra dân số năm 1999, trong đó người Tày chiếm 1.477.514 người, người Nùng chiếm 867.412 người), là dân tộc thiểu số có số dân đông đảo nhất, cư trú rải rác trên khắp lãnh thổ Việt Nam, nhưng tập trung nhiều ở khu vực miền núi phía Bắc, đặc biệt là Đông Bắc, mật độ dày đặc nhất ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn… Đây là nơi có địa hình dạng cánh cung với những dãy núi đá vôi trung bình và thấp, đan xen vào đó là các thung lũng hẹp, khí hậu mát mẻ, có mùa đông lạnh, sinh giới phong phú, đa dạng về chủng loại Cảnh quan gắn liền với đồi núi, cỏ cây, thiên nhiên còn nhiều nét hoang sơ dẫu nhiều nơi đã bị tàn phá, khai thác phục vụ cho những mục đích khác nhau của con người
Người Tày – Nùng tụ cư chủ yếu ở các thung lũng quanh chân núi - nơi đất đai thổ nhưỡng tương đối màu mỡ, có nguồn nước dồi dào, khí hậu nóng ẩm thích hợp cho trồng trọt và chăn nuôi, còn phía trên sườn núi hay đỉnh núi cao là nơi sinh sống của đồng bào Dao, H’mông Đặc trưng sinh thái tộc người này đã được hình thành và ổn định từ rất lâu, trải qua nhiều thế hệ, tạo nên truyền thống ứng xử với
môi trường và những tri thức bản địa hết sức phong phú, đa dạng Người Tày, Nùng
là các tộc người thung lũng, phân biệt với các tộc người sinh sống ở rẻo giữa và rẻo cao [41] Sau 1975, một bộ phận đồng bào Tày, Nùng tới hơn mấy chục ngàn
người di cư vào phía Nam, trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên như Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Gia Lai, Kon Tum… đây là sự kiện mang tính bước ngoặt trong việc mở rộng địa bàn cư trú của người Tày, Nùng từ vùng thung lũng miền núi phía Bắc đến miền sơn nguyên đất đỏ phía Nam
Trang 8Thiên nhiên núi rừng có nhiều ưu đãi, đem đến những tiềm năng kinh tế to lớn về cả nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp nặng và tiểu thủ công nghiệp, trong
đó nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo và quan trọng nhất Người Tày - Nùng đã biết cách thích ứng, và phát triển trong điều kiện tự nhiên như vậy, tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế về phương pháp và trình độ nên chưa khai thác một cách triệt để và
có hiệu quả nhất những lợi thế ở địa bàn cư trú và đôi khi có những tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên
Bên cạnh những ưu đãi, thuận lợi thì thiên nhiên cũng là một thử thách với đời sống của họ Các thiên tai tự nhiên do hệ quả xấu của những hành động tàn phá môi trường của con người như xói mòn đất đai, lũ lụt, hạn hán, sương giá, cùng với địa hình không bằng phẳng nhiều dốc đứng làm hạn chế về giao thông… đã tạo ra rất nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế của đồng bào Tày - Nùng
1.1.1.2 Về nguồn gốc, lịch sử dân tộc Tày – Nùng
Tày, Nùng là hai tộc người có nhiều nét tương đồng do có sự giao thoa, ảnh hưởng văn hóa rất mạnh mẽ, sâu sắc lẫn nhau, đồng thời, lại có tác động lan tỏa mạnh mẽ đến văn hóa của cộng đồng các dân tộc cùng cộng cư
Trong suốt chiều dài lịch sử, hai tộc người Tày – Nùng chia sẻ với nhau địa bàn sinh sống, họ sống đan cài xen lẫn nhau, có tác động qua lại lẫn nhau trong nhiều mặt của đời sống lao động và đời sống văn hóa Người Tày – Nùng tuy về ngôn ngữ có đôi chút khác biệt, nhưng họ đều có thể dễ dàng nghe hiểu được nhau, thậm chí, họ còn cùng nhau sáng tạo ra nhiều giá trị chung mang đậm bản sắc của
cả hai dân tộc
Người Tày – Thái cổ có mặt ở vùng Đông Bắc Việt Nam từ rất sớm, có thể
từ cuối thiên niên kỉ I trước Công nguyên Các truyền thuyết Pú Lương Quân, Cẩu Chủa Cheng Vùa nói về sự có mặt của họ từ những thời kỳ xa xưa ở Việt Nam và những công tích của họ trong xây dựng đất nước Trải qua lịch sử hàng nghìn năm,
do chịu ảnh hưởng của các dân tộc khác, họ đã dần dần bị phân hóa, trở thành những bộ phận cư dân khác nhau Trong cộng đồng người Tày hiện nay, còn bao gồm cả một bộ phận người Việt từ vùng đồng bằng lên miền núi (quan lại triều đình lên trấn ải biên cương, theo chế độ lưu quan…) qua nhiều thế hệ đã bị Tày hóa
Trang 9Người Tày cổ đã cùng với người Việt cổ dựng nên nhà nước Âu Lạc và theo truyền thuyết của người Tày ở vùng Cao Bằng thì An Dương Vương Thục Phán chính là
người Tày cổ
Trong cuốn Văn hóa dân gian Tày Nùng ở Việt Nam, nhóm các nhà nghiên cứu do Hà Đình Thành chủ biên [41] có giải thích về nguồn gốc tên gọi dân tộc Tày
Nùng như sau: Tày là tên gọi có từ lâu đời, có nguồn gốc chung với tên gọi của
nhiều dân tộc thuộc nhóm Thái – Choang ở Nam Trung Quốc và Đông Nam Á như Tai, Tay, Táy, Thai… đều có nghĩa chung là “người” Người Tày ở Việt Nam còn
có tên gọi khác là Thổ, có nghĩa là người vốn ở đất này từ lâu, nên những người tới sau gọi họ là Thổ (thổ trước), tuy nhiên, tộc danh này không chỉ có ở người Tày mà còn là tên gọi của một số cư dân bản địa khác
Tộc danh Nùng có thể có nguồn gốc từ tên dòng họ Nùng, một dòng họ có thể lực ở Tả Giang và Hữu Giang tỉnh Quảng Tây thời nhà Đường Nếu ở người Tày hầu như không có sự phân biệt rõ rệt giữa các nhóm địa phương thì ở người Nùng điều này là nét nổi bật Hiện tại nếu căn cứ vào tên gọi của các nhóm người Nùng
có thể phân chia thành 2 loại: a/ Loại tên gọi căn cứ vào đặc trưng trang phục thường do những người láng giềng của họ gọi, như Nùng Khen Lài (người Nùng mặc áo có các khoanh vải màu), Nùng Hu Lài (người Nùng đội khăn chàm có đốm trắng), Nùng Slử Tỉn (người Nùng mặc áo ngắn chấm mông)… b/ Loại tên gọi theo địa danh, nơi họ sinh sống trước khi di cư tới Việt Nam, như: Nùng An (từ châu An Kết), Nùng Inh (từ châu Long Anh), Nùng Phàn Slình (từ châu Vạn Thành), Nùng Cháo (từ Long Châu), Nùng Quý Rịn (từ Quy Thuận), Nùng Lòi (từ châu Hạ Lôi)… Ngoài ra còn có các tên gọi khác mà giới khoa học chưa xác định được nguồn gốc, như: Nùng Dín, Nùng Xuồng, Nùng Tùng Xin, Nùng Viền, Nùng Chủ…
Rõ ràng, các tên gọi kể trên hình thành trong quá trình phân hóa cộng đồng người Nùng (nằm trong khối Nam Choang), khi họ di cư theo những con đường khác nhau, vào các thời điểm khác nhau tới Việt Nam Khi tới Việt Nam, họ lại sống tách biệt, xen cài với các tộc bản địa, nên được các cư dân bản địa gọi với các tên gọi khác nhau.(…)
Trang 10Mặc dù có cùng nguồn gốc từ xa xưa, nhưng trong quá trình phát triển đã tách thành hai tộc người riêng Tuy nhiên, ít nhất từ hai trăm năm này, hai tộc người này đã cùng sống chung xen cài ở vùng Việt Bắc, nên đã và đang diễn ra quá trình tiếp xúc, giao lưu ảnh hưởng qua lại Không kể những bộ phận người Nùng hóa Tày hay ngược lại thì giữa Tày và Nùng cũng đang hình thành những yếu tố văn hóa chung Tày – Nùng, thể hiện trong ngôn ngữ, phong tục, tín ngưỡng, văn học nghệ thuật… khiến nhiều nhà nghiên cứu ngày nay lúng túng khi phân biệt văn hóa Tày hay Nùng
Người Nùng di cư sang Việt Nam trong khoảng vài trăm năm trở lại đây, trong quá trình sinh sống đan xen với người Tày, đã bị người Tày đồng hóa bởi người Tày có một nền văn hóa bản địa rất mạnh, họ thậm chí còn đồng hóa những quan lại người Kinh lên vùng Cao Bằng theo triều nhà Mạc, nên mới có câu “Kinh già hóa thổ” là như vậy Như vậy, từ gốc chung là Thái – Choang, cộng đồng Tày – Nùng đã diễn ra quá trình phân ly cách đây 2, 3 ngàn năm, nay lại hội nhập trở lại Hôn nhân hỗn tạp giữa người Tày và người Nùng đã trở nên phổ biến, là một nhân
tố thúc đẩy quá trình hội nhập của cộng đồng người Tày, Nùng với nhau
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, đấu tranh giành độc lập, đồng bào Tày - Nùng đã có những đóng góp hết sức to lớn trong việc bảo toàn sự toàn vẹn lãnh thổ vùng biên cương phía Bắc của Tổ quốc, chống lại sự bành trướng của các thế lực phong kiến ngoại bang
Từ khi Đảng Cộng Sản Đông Dương ra đời (1930), các cơ sở Cách mạng lần lượt được xây dựng tại các tỉnh Việt Bắc Nhiều người con ưu tú của dân tộc Tày, Nùng đã sớm giác ngộ cách mạng, trở thành những Đảng viên Cộng sản lớp đầu tiên, tiêu biểu như Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Dong… Đến khi Bác Hồ về nước (1941), vùng Việt Bắc trở thành quê hương Cách Mạng, là căn cứ địa vững chắc cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 lịch sử, dựng nên nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Việt Bắc lại được
vinh dự chọn làm thủ đô gió ngàn, là nơi đóng trụ sở của các cơ quan trung ương và
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO