“Hình tượng nhân vật trữ tình là “con người đồng dạng” của tác giả - nhà thơ - hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình một chùm thơ, toàn bộ trường ca, hay toàn bộ sáng tác thơ như một c
Trang 1
PHÙNG TRỌNG VĨNH
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ DƯƠNG THUẤN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Thái Nguyên - Năm 2012
Trang 2
PHÙNG TRỌNG VĨNH
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ DƯƠNG THUẤN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn: TS Lê Hồng My
Thái Nguyên - Năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính bản thân tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn của TS Lê Hồng My Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một công trình khoa học nào, mọi sự trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực
và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Phùng Trọng Vĩnh
Trang 4Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian qua
Thái Nguyên, ngày….tháng… năm 2012
Tác giả
Phùng Trọng Vĩnh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục các chữ viết tắt ii
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 12
Chương 1 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT VÀ HÌNH ẢNH CON NGƯỜI TRONG THƠ DƯƠNG THUẤN 12
1 “Khu vườn thiếu nhi” với những nhân vật gần gũi trẻ thơ 12
2 Không gian bản Hon và “Người xứ Mây” qua những khúc hát quê hương 21
3 Không gian Trường Sa và những người lính biển qua “Mười bảy khúc đảo ca” 42
4 Những miền đất mới và “người muôn phương” 52
Chương 2 NHÂN VẬT TRỮ TÌNH 56
1 “Chú bé bản Hon” với cái nhìn trong sáng tinh khôi 56
2 “Chàng trai của núi” nặng tình với quê hương 59
3 Anh - “Trái tim mang hình em/ Hiện thành câu thơ lấp lánh” 64
4 Người “Mơ ước một chân trời”- Một cái tôi nhiều khát vọng và trải nghiệm 70
Chương 3 MỘT SỐ ĐẶC SẮC TRONG PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 76
1 Ngôn ngữ thơ Dương Thuấn mang đậm bản sắc Tày 76
2 Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình 81
3 Kết cấu thơ độc đáo 83
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn học các dân tộc thiểu số là niềm tự hào của đồng bào các dân tộc Việt Nam Những tác giả tiêu biểu như: Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Hoàng Văn Thụ, Nông Viết Toại, Triều Ân, Ma Trường Nguyên, Mai Liễu, Vi Thị Kim Bình, Y Phương, Vi Thùy Linh.v.v là những nhà thơ có nhiều sáng tạo, góp phần đưa nền văn học dân tộc ngày càng phát triển Hiện nay chúng ta đã có một đội ngũ những cây bút người dân tộc thiểu số vững vàng về tay nghề và có ý thức xây dựng thế giới nghệ thuật của mình, góp phần làm nở hoa kết trái cho nền văn học Việt Nam
1.2 Trong số các tác giả văn học dân tộc thiểu số, Dương Thuấn là nhà thơ được nhiều độc giả biết đến Sinh ra và lớn lên trên quê hương Bắc Kạn, tuổi thơ gắn liền với gió núi trăng ngàn, Dương Thuấn đã có một cuộc hành trình “từ bản Hon” đến với “muôn nơi” Năm 1981, anh tốt nghiệp Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư Phạm Việt Bắc (nay là Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên) Sau một thời gian dạy học ở quê nhà, vốn “say” thơ Dương Thuấn đã dần chuyển sang sáng tác Vừa miệt mài viết, anh vừa bền bỉ đọc và đi để làm giàu vốn sống và nguồn cảm hứng thơ Với quãng thời gian
20 năm lao động nghệ thuật từ khi cầm bút đến nay, anh đã có 11 tập thơ (với
số lượng khoảng tám trăm bài và hai trường ca), gồm: Cưỡi ngựa đi săn (viết cho thiếu nhi), năm 1991, Đi ngược mặt trời (1995), Bà lão và chích chòe (1997), Hát với sông Năng (2001), Đêm bên sông yên lặng (2004), Thơ với
tuổi thơ (2005), Chia trứng công (2006), Soi bóng vào tôi (2009), Trường ca Mười bảy khúc đảo ca (2002); các tập thơ tiếng Tày: Lục pjạ hết lúa (1995); Slíp nhỉ tua khoăn (2002); Trăng Mã Pí Lèng (2002) Anh đã vinh dự được
nhận nhiều giải thưởng văn học Trong những sáng tác đã xuất bản của anh,
có những bài đã được phổ nhạc như: Đi tìm bóng núi, Tình ca bên suối, Lá
Trang 8trầu, Khúc hát cao nguyên - Những ca khúc được nhiều người yêu mến Thơ
Dương Thuấn: “Hồn nhiên dẫn mọi người về tận nguồn cội của một đời sống thuần phác, giàu ân tình, giàu cốt cách của dân tộc anh, để mọi người cùng yêu cái anh yêu, cùng được tắm gội trên một vùng sông nước thật trong trẻo” (Nguyễn Khoa Điềm) [60; 4]
1.3 Thơ Dương Thuấn được coi là một hiện tượng “lạ”, bởi anh có kiểu sáng tác rất riêng theo lối tự bạch, lời thơ thủ thỉ, tâm tình với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, đúng như có ý kiến đã từng đánh giá: “Thơ Dương Thuấn như rượu ủ men lá càng uống càng ngấm, càng để lâu càng dễ mềm môi người uống ” [26;32] Dương Thuấn đã tiếp nối và mở mang con đường
mà các thế hệ đi trước đã làm, góp phần khẳng định mạnh mẽ đời sống tinh thần phong phú, đẹp đẽ của dân tộc Tày trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Thơ Dương Thuấn đã góp phần bảo tồn những giá trị truyền thống của nền văn học dân tộc, đồng thời đưa nền văn học dân tộc phát triển ngày một phong phú, đa dạng hơn, đến được với bạn đọc không chỉ ở phạm vi trong nước mà cả ở nước ngoài Chính vì vậy, thơ anh đã thu hút được sự quan tâm của bạn đọc trong và ngoài nước Ở lĩnh vực nghiên cứu - phê bình văn học, cho đến nay đã có nhiều bài viết và các công trình nghiên cứu khoa học (có cả những công trình chuyên sâu) về thơ anh
1.4 Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế những công trình nghiên cứu về thơ Dương Thuấn, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình chuyên biệt nào đi vào khảo sát, nghiên cứu toàn bộ thế giới nghệ thuật của nhà thơ Vì vậy,
chúng tôi đi chọn triển khai đề tài “Thế giới nghệ thuật trong thơ Dương Thuấn” với hy vọng sẽ góp thêm một tiếng nói khẳng định những thành tựu
thơ của Dương Thuấn trong thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam
Việc nghiên cứu “Thế giới nghệ thuật thơ Dương Thuấn” còn nhằm phục
vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu văn học ở địa bàn miền núi, nhất là địa phương Bắc Kạn Hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tư liệu bổ
Trang 9ích đối với quá trình tìm hiểu văn học Bắc Kạn và văn học miền núi nói chung; đồng thời, bồi dưỡng tình cảm yêu mến, tự hào của bạn đọc gần xa đối với thơ Dương Thuấn - một nguồn suối trong mát của thơ ca Tày hiện đại Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Khái niệm “Thế giới nghệ thuật”
Khái niệm Thế giới nghệ thuật xuất hiện từ yêu cầu muốn tiếp cận tác
phẩm văn học trong dạng chỉnh thể Từ những góc độ khác nhau, các nhà
nghiên cứu văn học đã phát biểu những quan niệm về Thế giới nghệ thuật
phục vụ cho hoạt động nghiên cứu văn học Nhà nghiên cứu Lý luận văn học Trần Đình Sử quan niệm: “Văn bản thơ không chỉ gồm những câu chữ, vần điệu, ngắt nhịp, mà bao gồm cả thế giới hình tượng bên trong như một thế giới sống đặc thù” [48;6] Nhà nghiên cứu văn học Lê Quang Hưng trong
cuốn Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu trước 1945 có nêu: “Thế giới nghệ
thuật thơ trữ tình là một chỉnh thể thống nhất bào hàm các thành tố cấu trúc và các quy luật cấu trúc chung thể hiện quá trình cái tôi nhà thơ nội cảm hóa thế giới khách quan bằng tưởng tượng của mình Một mặt thế giới nghệ thuật ấy gắn kiền với kinh nghiệm cá nhân, với phong cách sáng tác của bản thân nhà thơ, mặt khác nó phản ánh trình độ sáng tác của một giai đoạn lịch sử, một
thời đại” [23; 9] Trong chuyên đề Thế giới nghệ thuật của một nhà thơ trữ
tình, nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn có viết: “Xét đến cùng thế giới nghệ thuật
của một nhà văn chính là một thế giới hình tượng hiện ra như một chỉnh thể sống động, chứa đựng một quan niệm nhân sinh và thẩm mĩ nào đó, được xây cất bằng vật liệu ngôn từ Như vậy, thế giới nghệ thuật vừa là con đẻ, vừa là hiện thân của tư tưởng sáng tác Đó không phải là một thế giới tĩnh mà là một thế giới động, vừa vận động vừa phụ thuộc vừa phản ánh những biến chuyển trong tư tưởng của người nghệ sĩ” [45.11]
Trang 10Khái niệm Thế giới nghệ thuật, được Từ điển thuật ngữ văn học định
nghĩa là: “Khái niệm chỉ chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của một tác giả, một trào lưu) Sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng, được tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người, mặc dù là nó phản ánh các thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc xã hội riêng chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tác nghệ thuật” [18; 201-202]
Như vậy, nhìn chung, về mặt lý luận, các khái niệm Thế giới nghệ thuật
đã có đều chú trọng đến tính chỉnh thể trong sáng tác, coi trọng cấu trúc nội
tại trong sáng tác của mỗi tác giả, tác phẩm Thế giới nghệ thuật của mỗi thể loại văn học lại có các phương diện đặc thù Ở thể loại tự sự (truyện ngắn, truyện vừa, truyện ngắn, sử thi, ngụ ngôn, tiểu thuyết ), các phương diện cơ bản làm nên thế giới nghệ thuật của tác giả (tác phẩm) là: Đề tài; Cốt truyện;
Hệ thống nhân vật: Ngôn ngữ nghệ thuật ; Ở thể loại kịch (bi kịch, hài kịch, chính kịch, kịch tự sự), thế giới nghệ thuật gồm các yếu tố cơ bản: Xung đột - Hành động kịch; Nhân vật kịch; Ngôn ngữ kịch Ở thể loại trữ tình (thơ, truyện thơ, ca trù, từ khúc, trường ca, trường thiên), những yếu tố có bản cấu thành thế giới nghệ thuật là: Hình tượng nhân vật trữ tình; Không gian - Thời gian nghệ thuật; Ngôn ngữ; Giọng điệu; Các biện pháp nghệ thuật.v.v…Đây cũng là các yếu tố có liên quan trực tiếp đến đối tượng chúng tôi triển khai nghiên cứu
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, không gian nghệ thuật là “Hình thức
bên trong của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó” [18;109] Không gian nghệ thuật có thể đồng dạng nhưng không bao giờ trùng khít với không gian địa lý bởi nó là “hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật”
Trang 11do nhà văn sáng tạo ra để thể hiện mục đích nghệ thuật của mình Ví dụ như
không gian làng Đông Xá (Tắt đèn) là sáng tạo của Ngô Tất Tố, không gian làng Vũ Đại (Chí Phèo) là sáng tạo của Nam Cao.v.v Không gian nghệ
thuật cũng bao hàm các yếu tố thiên nhiên, con người như không gian thực song những yếu tố ấy có thể được tạo nên từ trí tưởng tượng, hư cấu của tác giả Điều đó khiến không gian nghệ thuật mở ra nhiều chiều, nhiều kích cỡ trong cảm nhận của người đọc so với không gian địa lý Không gian nghệ thuật là yếu tố quan trọng trong chỉnh thể thế giới nghệ thuật của nhà văn
“Hình tượng nhân vật trữ tình là “con người đồng dạng” của tác giả - nhà thơ - hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình (một chùm thơ, toàn bộ trường ca, hay toàn bộ sáng tác thơ) như một con người có đường nét hay một vai sống động có số phận cá nhân xác định hay có thế giới nội tâm cụ thể, đôi khi có cả nét vẽ chân dung (mặc dù không bao giờ đạt tới đặc điểm của một nhân vật như trong tác phẩm tự sự hay kịch)” [18;162] Trong thơ có thể có hoặc không có nhân vật nhưng bao giờ cũng có nhân vật trữ tình Nhân vật trữ tình giúp nhà thơ thể hiện cảm xúc, suy nghĩ, chiêm nghiệm của mình trước con người và cuộc sống Qua nhân vật trữ tình, người đọc có thể cảm nhận rõ bức chân dung tâm hồn của nhà thơ
Ngôn ngữ trong tác phẩm trữ tình mang tính thẩm mỹ, thể hiện rõ phong cách, tài năng và sự sáng tạo của nhà thơ Cùng với ngôn ngữ, giọng điệu cũng phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc Giọng điệu nghệ thuật thể hiện ở: “Thái độ, tình cảm, lập trưởng tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hình tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng
hô, gọi tên, dùng sắc điệu, tình cảm, cách cảm thụ gần xa, thân sơ, thành
kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm” [….] Giọng điệu trong tác
Trang 12phẩm thường “đa dạng, có nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng điệu cơ bản, chủ đạo chứ không đơn điệu” [44;112-113]…Đây cũng là những khái niệm công cụ giúp chúng tôi tìm hiểu đối tượng nghiên cứu của đề tài Trong thực tế nghiên cứu thế giới nghệ thuật, người ta thấy, mỗi tác giả, tác phẩm có thế giới nghệ thuật riêng được hình thành từ hoàn cảnh
sáng tác, cội nguồn cảm hứng và cá tính sáng tạo mang đậm dấu ấn cá nhân
Vì vậy, khi nghiên cứu thế giới nghệ thuật của các tác giả văn học nói chung
và thế giới nghệ thuật của mỗi nhà thơ nói riêng, người nghiên cứu phải vận dụng linh hoạt khái niệm công cụ và tùy thuộc vào thực tế sáng tác của tác giả để lựa chọn những phương diện cần đi sâu khám phá làm nổi bật những đóng góp của nhà thơ trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật Chẳng hạn nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, người ta đã tập trung khai thác các phương diện: Quan niệm nghệ thuật, Tính triết lí trong thơ, Không gian
và thời gian nghệ thuật, Các phương thức thể hiện [15] Nghiên cứu thế giới thơ Nguyễn Trọng Tạo, người nghiên cứu tập trung khai thác: Hình tượng và quan niệm nghệ thuật về con người; Không gian và thời gian nghệ thuật; Ngôn ngữ và giọng điệu.v.v…[17] Vấn đề cơ bản, cốt lõi cần chú ý khi nghiên cứu thế giới nghệ thuật của một tác giả văn học là phải tìm hiểu, khám phá được các phương diện cấu thành chỉnh thể sáng tác nghệ thuật của tác giả; từ đó làm nổi bật cá tính sáng tạo và những đóng góp đối với đời
sống văn học của tác giả
2.2 Tình hình nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Dương Thuấn
Dương Thuấn là cây bút có nhiều đóng góp cho thơ Trong thời gian hai mươi năm qua (1991-2011), anh lao động nghệ thuật không biết mệt mỏi
để có được những tập thơ đặc sắc, hấp dẫn Đã có không ít những công trình nghiên cứu, phê bình, tiểu luận; những nhận định, đánh giá về thơ Dương Thuấn; đem đến cho độc giả cảm tình và cái nhìn khoa học về thơ anh
Trang 13Hiện nay, hầu hết những bài tiểu luận, phê bình văn học về thơ Dương
Thuấn đã được đã được tập hợp tuyển chọn và giới thiệu trong cuốn Dương
Thuấn hành trình từ bản Hon (Viện Văn học - năm 2009) gồm 54 bài viết Những
bài viết này đã tiếp cận thơ Dương Thuấn từ những khía cạnh khác nhau Bài viết
mở đầu cuốn sách của Đỗ Thị Thu Huyền mang tính chất khái quát, đem đến cho người đọc một cái nhìn bao quát về sự nghiệp cũng như con người Dương Thuấn
Kế tiếp là những bài viết đi vào nghiên cứu các mảng đề tài chủ yếu như: con người, thiên nhiên, quê hương, bản sắc dân tộc, tình yêu.v.v…
Tìm hiểu mảng đề tài quê hương trong thơ Dương Thuấn, tiêu biểu có
bài viết của Nguyễn Hưng Hải với tiêu đề Quê hương trong thơ Dương
Thuấn Tác giả tập trung phát hiện hình ảnh quê hương qua tập thơ Đêm bên sông yên lặng Theo Nguyễn Hưng Hải: “cả tập thơ có 71 bài như 71 bông
hoa rừng đều viết về quê hương và những vấn đề mà quê hương anh nhắn gửi Bao trùm và ám ảnh xuyên suốt tập thơ là những hoài niệm về vẻ đẹp nhân cách, về bản sắc văn hóa của các dân tộc vùng cao (…), đến với vui buồn, đau khổ của kiếp người ở những vùng cao, mà quê hương anh chỉ là một điển
hình”[26;160] Nguyễn Thị Hằng viết về Hình ảnh con người trong thơ
Dương Thuấn Tác giả đã khái quát: hình ảnh con người trong thơ Dương
Thuấn chủ yếu là con người miền núi, đó là “những con người cụ thể trong
cuộc đời” Họ hiện lên trước hết ở “đức tính hồn nhiên, trong sáng, kiệm lời,
có sức sống mãnh liệt”; “xây dựng hình ảnh con người miền núi, Dương Thuấn luôn chú ý đến việc đưa con người lên vị trí đại diện cho vẻ đẹp văn hóa của dân tộc”[ 26;151]
Mảng viết về thiên nhiên của Dương Thuấn cũng thu hút sự quan tâm
của một số cây bút, trong đó có Hà Thị Duyên với bài viết có tiêu đề Thiên
Nhiên trong thơ Dương Thuấn Tác giả phát hiện tình yêu thiên nhiên là
nguồn cảm hứng tươi sáng thể hiện tình cảm quê hương sâu đậm trong thơ
Trang 14Dương Thuấn: “Đọc thơ Dương Thuấn ta thấy thiên nhiên núi rừng Việt Bắc hiện lên thật lung linh, tươi đẹp Viết về thiên nhiên Việt Bắc, Dương Thuấn đã thể hiện tình cảm thật sâu đậm của anh với quê hương mình Người con của núi rừng ấy viết về Bắc Kạn với một niềm tự hào, một tình yêu mãnh liệt” [ 26;160]
Một số cây bút khác quan tâm nghiên cứu về con người và phong
cách thơ Dương Thuấn như các bài viết:Dương Thuấn nhà thơ miền núi
nghĩ sâu, viết chắc của Hoàng Văn An; Nhà thơ Dương Thuấn nói lời cho quả sai của Vân Long; Sự thô mộc có học của Lò Ngân Sủn; Dương Thuấn
đi tìm bóng núi của Chu Văn Sơn; Nhà Thơ Dương Thuấn của Đỗ Ngọc
Thống; Người rong ruổi đi tìm bóng núi của Uông Thái Biểu; Ta là chàng trai
của núi của Nguyễn Đăng Điệp.v.v…Ở những bài viết này, các tác giả nêu lên
những nét điển hình trong phong cách sáng tác của Dương Thuấn, gắn với bản sắc văn hóa Tày sâu đậm
Một số tác giả khác lại đi khai thác nội dung và nghệ thuật của một số
tập thơ như: Hát với sông Năng của Nguyễn Trọng Hoàn; Đi tìm bóng núi - Dương
Thuấn đến cõi thơ của Tạ Duy Anh; Dương Thuấn và tập Thơ với tuổi thơ của Trần
Thúy Hằng; Đọc Chia trứng công của Dương Thuấn của Phùng Ngọc Diễn
Bên cạnh đó một số bài viết đi sâu phân tích phát hiện vẻ đẹp trong
những bài thơ cụ thể như Đi tìm bóng núi của Nguyễn Trọng Tạo; Bài hát tỏ
tình của Lê Quốc Hán; Nhớ chị Thìn một bài thơ độc đáo của Dương Thuấn
của Hồ Thủy Giang; Gửi Mường Dôn của Đào Vĩnh; Ăn theo nước của Bế Kiến
Quốc.v.v…
Vị trí sau cùng của cuốn sách là một số bài phỏng vấn nhà thơ Dương
Thuấn được thực hiện ở nhiều thời điểm khác nhau, điển hình có: Nhà thơ
Dương Thuấn: Tôi là con trai của núi cao rừng thẳm của Đường Thiên Huệ; Trò chuyện với nhà thơ Dương Thuấn của Vũ Ngọc Phượng; Trước hết phải
Trang 15biết tự hào về dân tộc mình của Trần Hoàng Thiên Kim; Thơ Dương Thuấn - Dòng sông Tày chảy mãi của Trần Thị Nương.v.v…Những bài viết này cho ta
thấy rõ hơn quan điểm của nhà thơ Dương Thuấn về nghệ thuật cũng như cuộc sống, giúp người đọc có cái nhìn định hướng trong việc tiếp cận với thế
giới nghệ thuật trong thơ anh Cuốn sách Dương Thuấn hành trình từ bản
Hon của Đỗ Thị Thu Huyền đã giúp người đọc tiếp cận với thơ Dương Thuấn
từ các góc độ khác nhau (trong đó chủ yếu khám phá đề tài và cá tính sáng tạo); từ đó, bước đầu cảm nhận được bức chân dung nghệ thuật của nhà thơ
Ngoài các bài viết được giới thiệu ở phần trên; gần đây, thơ Dương Thuấn cũng đã được nghiên cứu ở mức độ tập trung hơn Năm 2008, Nguyễn Thị Thu Huyền chọn đề tài Bản sắc Tày trong thơ Y Phương và Dương Thuấn [27] Ở luận
văn này, tác giả đã đi sâu vào khảo sát nghiên cứu bản sắc văn hóa Tày trong thơ Y Phương và thơ Dương Thuấn trong qua hình ảnh thiên nhiên, con người, phong tục tập quán, hình ảnh thơ, ngôn ngữ, giọng điệu và khẳng định: “Nhà thơ Y Phương và Dương Thuấn đã góp phần bảo tồn, phát huy và lưu giữ nền văn hóa đặc sắc của dân tộc Tày trong đời sống văn hóa, văn học Việt Nam hiện đại” [27;111]
Qua việc tìm hiểu tình hình nghiên cứu thơ Dương Thuấn, soi chiếu
vào nội hàm khái niệm Thế giới nghệ thuật đã xác định, chúng tôi thấy, một số
phương diện của thế giới nghệ thuật thơ Dương Thuấn cũng đã được đề cập đến song mới ở mức độ khai phá, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Vận dụng cơ sở lí luận và từ thực tế nghiên cứu nêu trên, tiếp tục hành trình nghiên cứu thơ Dương Thuấn, chúng tôi tập trung tìm hiểu thế giới nghệ thuật của nhà thơ
3 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng rõ các phương diện cơ bản, nổi trội trong thế giới nghệ thuật thơ Dương Thuấn trong suốt hành trình sáng tác của nhà thơ
Trang 164 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung khảo sát, phân tích các phương diện phương diện cơ bản, nổi trội nhất trong hệ thống những yếu tố cấu thành nên thế giới nghệ thuật thơ Dương Thuấn Đó là:
1 Không gian nghệ thuật và hình ảnh con người
2 Hình tượng nhân vật trữ tình
3 Các phương thức thể hiện
5 Phạm vi nghiên cứu
Gồm các tập thơ:
- Cưỡi ngựa đi săn (1991)
- Đi ngược mặt trời (1995)
- Bà lão và chích chòe (1997)
- Hát với sông Năng (2001)
- Đêm bên sông yên lặng (2004)
- Thơ với tuổi thơ (2005)
- Chia trứng công (2006)
- Soi bóng vào tôi (2009)
- Trường ca “Mười bày khúc đảo ca” (2002)
- Thơ tiếng Tày “Lục pjạ hết lúa” (1995); Slíp nhỉ tua khoăn (2002) Các tập thơ trên đã được tập hợp thành “Tuyển tập Dương Thuấn” (song
ngữ Tày - Việt) gồm ba tập: I, II, III - NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2010 Phần thơ bằng tiếng Việt trong bộ tuyển tập này là đối tượng khảo sát chính trong quá trình triển khai nghiên cứu của tác giả luận văn
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu toàn bộ thế giới nghệ thuật thơ Dương Thuấn để có cách tiếp cận phù hợp với thơ anh
Trang 177 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã xác định, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp thống kê, phân loại: Khảo sát các phương diện trong thế
giới nghệ thuật thơ Dương Thuấn, từ đó cung cấp cứ liệu để phân tích, chứng minh cho các luận điểm và rút ra kết luận
- Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp này nhằm chỉ ra hiệu
quả nghệ thuật mà nhà văn sử dụng trong tác phẩm
- Phương pháp so sánh: Nhằm làm nổi bật những nét riêng trong thế
giới nghệ thuật thơ Dương Thuấn
- Phương pháp tổng hợp, khái quát: sử dụng để tổng hợp, khái quát vấn
đề nghiên cứu
8 Đóng góp của đề tài
- Nghiên cứu “Thế giới nghệ thuật thơ Dương Thuấn”, chúng tôi hy vọng sẽ đem lại cái nhìn tương đối hệ thống và toàn diện về nội dung và nghệ thuật trong thơ Dương Thuấn; từ đó góp phần tiếp tục khẳng định những đóng góp của nhà thơ Dương Thuấn đối với thơ ca dân tộc Tày và thơ hiện đại Việt Nam
- Cung cấp thêm một tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy, nghiên cứu văn học địa phương ở Bắc Kạn nói riêng và khu vực miền núi nói chung
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài
Thế giới nghệ thuật thơ Dương Thuấn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1 Không gian nghệ thuật và hình ảnh con người Chương 2 Hình tượng nhân vật trữ tình
Chương 3 Một số đặc sắc trong phương thức thể hiện
Trang 18NỘI DUNG Chương 1 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT VÀ HÌNH ẢNH CON NGƯỜI TRONG THƠ DƯƠNG THUẤN
1 “Khu vườn thiếu nhi” với những nhân vật gần gũi trẻ thơ
Văn học thiếu nhi Việt Nam phát triển phong phú, đa dạng về đề tài, thể loại và đã thực sự đã có những kết tinh nghệ thuật, những thành tựu đáng
ghi nhận Có thể kể đến Kim Đồng, Vừ A Dính của Tô Hoài; Hai làng Tà
Phình, Đông Hía của Bắc Thôn, Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng
Khoa, Chú bò tìm bạn, Bạn trong vườn của Phạm Hổ Các nhà thơ sáng tác
thơ cho thiếu nhi đều có một điểm chung là miêu tả thế giới vạn vật bằng cái nhìn hồn nhiên, trong sáng của trẻ thơ Nhà thơ hóa thân thành những “nghệ
sĩ nhí” để cảm nhận, miêu tả cuộc sống Thơ viết cho thiếu nhi thường có những câu hỏi, thắc mắc “ngây ngô” và cách lí giải hồn nhiên trong sáng phù hợp với tâm hồn trẻ thơ Bên cạnh điểm chung ấy, mỗi nhà thơ lại có sáng tạo riêng để gửi gắm tâm hồn, tình cảm của mình với thiếu nhi; để tiếng thơ có thể hòa điệu với tiếng lòng của các em Cùng nói về thế giới vạn vật và những tình cảm quen thuộc, gần gũi với trẻ thơ nhưng cách khai thác ở mỗi tác giả
lại có những điểm khác nhau Thơ Trần Đăng Khoa có không gian “Góc sân
và khoảng trời”, gắn với khung cảnh làng quê có chú bướm vàng, chú gà liếp nhiếp, rặng tre, giàn trầu, luống rau…; xa hơn chút nữa là cánh đồng lúa
vàng làm nên “Hạt gạo làng ta” Tất cả tạo nên một bức tranh quê bình dị mà
tươi tắn sắc màu Bước vào không gian ấy, trẻ thơ được “tắm mình” trong không khí của làng quê, được làm quen với thiên nhiên, con người và phong tục của làng quê Việt Chính điều đó đã sớm hình thành một tình yêu với quê
hương ngay từ tấm bé
Trang 19Thơ viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ vẫn là chất liệu quen thuộc ít nhiều được các nhà thơ khác đề cập đến trong cuộc sống đời thường Trong thơ ông, trẻ thơ bắt gặp tất cả những gì quen thuộc trong đời sống hàng ngày như con dao, cái kéo, cái chổi, cây cầu chì, con chó, con mèo, cây na quả khế Nhưng “điểm nhấn” trong thơ viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ là tình bạn trẻ thơ Phạm Hổ muốn đem đến cho trẻ thơ những câu chuyện bổ ích về tình bạn Dấu hiệu nhận biết chủ đề tình bạn được thể hiện ở việc đặt tên cho
các tập thơ: Bạn trong vườn, Những người bạn im lặng, Những người bạn ồn
ào, Chú bò tìm bạn Chủ đề tình bạn gần như xuyên suốt mọi bài thơ, tập thơ
viết cho thiếu nhi của ông
Đóng góp vào bước phát triển của thơ viết cho thiếu nhi, Dương Thuấn
có các tập thơ Cưỡi ngựa đi săn (1991); Bà lão và chích chòe (1997); Chia
trứng công (2006) Ba tập thơ trên được đưa vào Tuyển tập Dương Thuấn -
Tập III với số lượng hơn 200 bài
Viết cho thiếu nhi, Dương Thuấn đã xây dựng thành công “Khu vườn
thiếu nhi” (theo cách gọi của Chu Văn Sơn) - Một không gian sinh hoạt của
đồng bào miền núi vừa rộng lớn, lãng mạn, nhưng lại rất gần gũi với các em
“Khu vườn” ấy được Dương Thuấn dày công xây đắp, tỉ mẩn tạo dựng từ những chất liệu gần gũi, quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người Tày
ở vùng núi Bắc Kạn Điều này làm nên nét khác biệt giữa thơ viết cho thiếu nhi của Dương Thuấn so với thơ của nhiều nhà thơ khác Bước vào khu vườn
đó, trẻ thơ được hòa mình vào thế giới tự nhiên, được hít thở bầu không khí trong lành, và được làm quen với thế giới vạn vật, thỏa thích ngắm các loài hoa, nếm các loại quả; nghe thổi khèn, nghe hát ru, nghe chuyện cổ tích, chơi ném còn, đánh quay, cười ngựa, đi săn, bắn nỏ, đuổi sương trên cỏ, bắt cá dưới khe Vạn vật trong “khu vườn” ấy được nhìn bằng cái nhìn đầu đời
“của một đứa bé lần đầu chớp chớp mắt nhận ra hình thù, màu sắc của mọi vật
xung quanh mình” [26;13]
Trang 20Nhân vật của không gian “Khu vườn thiếu nhi” trong thơ Dương Thuấn chủ yếu là những con vật quen thuộc, gần gũi tâm hồn trẻ thơ miền núi Dương Thuấn có tới 32 bài thơ miêu tả về đặc điểm, hình dáng, đời sống sinh hoạt, tình cảm của loài vật như: chèo bẻo, con sóc, con rết, hươu con, bầy khỉ, ngựa đen, ngựa đỏ, nòng nọc, rùa, gà, chú ngựa hồng, ngựa đơn, ngựa con, con nhím, con mèo, chú cún con, chim từ quy, con gấu, chú ếch, nai con, còng gió, con sóc, chích chòe.v.v…Bên cạnh các con vật còn có sự xuất hiện của các sự vật hiện tượng và những vật dụng quen thuộc trong gia đình Tất cả hợp lại tạo thành một thế giới sống động dành riêng cho trẻ thơ Bước vào “khu vườn” đó các em thiếu nhi tha hồ chiêm ngưỡng, khám phá nguồn gốc, đặc điểm và vẻ đẹp của muôn loài Viết cho các em, Dương Thuấn đã dùng hình thức đồng dao với phép nhân hóa quen thuộc để miêu tả một đặc điểm hay mối quan hệ của các con vật ngộ nghĩnh; nhưng lại thể hiện được đời sống tâm lí, tính cách của các em nhỏ khiến mỗi bài thơ của anh giống như một câu chuyện thú vị cuốn hút tâm hồn trẻ thơ: “Đọc bất cứ bài thơ viết cho thiếu nghi nào của Dương Thuấn ta cũng bất ngờ vì một cái gì đó vừa rất trong sáng, đáng yêu, vừa ngồ ngộ, vui vui lại được diễn đạt bằng cách nói dân tộc, độc đáo” (Trần Thị Đoàn - Mai Việt Hồng) [9] Những tập thơ viết cho thiếu nhi là món quà quí giá mà Dương Thuấn dành tặng các em Trước hết, nhà thơ giúp các em có thêm nhận thức về thế giới xung quanh mình Mỗi loài cây, mỗi con vật một đặc tính Loài con sâu róm đen xì, gớm ghiếc, con sâu cơi to bằng ngón tay “cặp mắt nổi vằn xanh vằn đỏ” dữ tợn, những con chèo bẻo dũng mãnh “thắng diều hâu” bảo vệ đàn vịt trời, con xấu hổ
thì đúng như tên gọi của nó “Mỗi khi thấy người/ Tay che kín mặt/ Xấu hổ
nhất đời” Chúng cũng có những thói quen khác nhau:
Trang 21Cá dưới vực sâu Vừa bơi vừa ngủ Con ngựa ở tàu Suốt đời đứng ngủ Con chim đậu vững Ngủ trên ngọn cây Con rơi ngủ ngày Chân cheo vòm đá
(Đi ngủ- Chia trứng công)
Bên cạnh những con vật ngộ nghĩnh, các em thiếu nhi còn được biết đến nguồn gốc các sự vật, hiện tượng xung quanh mình qua lời kể của tác giả
Ví như trăng trên trời cao thay đổi hình dạng theo thời gian Đó là sự thay đổi theo quy luật của tự nhiên Sự thay đổi đó được nhà thơ liên tưởng và giải thích bằng những hình ảnh rất cụ thể và gần gũi đời thường như lưỡi liềm mẹ mang ra đồng, chiếc võng ru em nằm ngủ, trái bưởi vàng thơm nơi góc sân hay con thuyền nhỏ ở bến sông quê:
Phải trăng qua ruộng lúa Trăng xuống làm lưỡi liềm?
Phải trăng ghé mái hiên Nên có trăng mắc võng?
Trăng đi qua vườn rộng Hóa trái bưởi vàng thơm?
Phải trăng qua dòng sông Trăng thành con thuyền nhỏ?
(Hỏi trăng)
Với cách liên tưởng vầng trăng với sự vật gần gũi, thân thuộc, Dương Thuấn khơi dậy ở trẻ thơ tình yêu thiên nhiên và con người
Trang 22Trong tâm hồn trẻ thơ vầng trăng là một thế giới riêng mà ở đó có chú Cuội - một nhân vật rất gần gũi với tuổi thơ qua những câu chuyện kể của
mẹ và của bà Dương Thuấn đã đưa thế giới đó đến gần với các em hơn bằng một phát hiện:
Có hàng ngàn tuổi
Mà ai cũng gọi
Là thằng cuội thôi Nếu như gọi khác Không có trăng rồi
(Thằng cuội)
Trăng và Cuội có từ bao giờ không ai biết rõ, chỉ biết rằng có từ rất lâu có lẽ đến “hàng ngàn tuổi” vậy mà “cuội” vẫn chỉ được gọi là “thằng”, vẫn chỉ là bạn của các em thôi, thật là gần gũi và thân thiết Với thiếu nhi, trăng thì phải có cuội, cuội ở trên cung trăng - điều đó ăn sâu trong tiềm
thức của trẻ thơ
Để đơm hương kết trái cho đời, nhiều loài cây đã phải chịu đau đớn cũng như người mẹ trong nỗi đau sinh thành đứa con Dương Thuấn đã giúp trẻ thơ
quan sát và nhận biết quá trình “sinh con” của cây tre trên núi: “Tung muôn hạt
đi xa,rồi cả rừng chết đứng”; hoặc của cây hồng ven suối:
“Sau mùa hái quả Chém đứt rễ hồng
Từ vết nhựa ứ Mọc lên cây mầm”
(Hồng sinh con)
Dương Thuấn còn giúp trẻ thơ có những liên tưởng thú vị khi hình dung mười ngón tay như mười anh em mồ côi sớm tối có nhau, cùng nhau đoàn kết, cùng nhau chung sống:
Trang 23Mười anh em mồ côi Đêm ngày giúp nhau mọi việc Một người bị đau, chín người buồn khổ
Mười anh em mồ côi Mỗi người có một viên ngói che đầu Quấn quít bên nhau, suốt đời thương nhau
Mười anh em mồ côi Việc nhỏ việc to chẳng gì không làm được Mười anh em ấy là mười ngón tay
(Mười anh em)
Mỗi bài thơ viết cho thiếu nhi của Dương Thuấn đều đem đến cho các
em (và cả người lớn) những bài học thú vị, bổ ích về cuộc sống Chẳng hạn như câu chuyện của chú ngựa non mới lớn chưa hết tính trẻ con Cậy to khỏe nên chú bắt nạt các con vật tội nghiệp, nhỏ bé hơn mình:
Đá đàn gà
Gà táo tác
Đá đàn vịt Vịt bay tan
Bắt nạt kẻ yếu thành quen, ngựa đâu biết đến khi bắt nạt chó vện nó liền bị
cắn lại, không còn dám huênh hoang nữa:
Đá con chó vện
Bị con chó vện cắn Không còn là ngựa non
Bị đau cũng kêu van
(Không còn là ngựa non)
Trang 24Câu chuyện của chú ngựa non hấp dẫn các em nhỏ không chỉ ở lời thơ mang giọng hồn nhiên mà cơ bản là qua câu chuyện đó, các em học được bài học bổ ích trong quan hệ với bạn bè sao cho đúng mực, biết bênh vực kẻ yếu
và lên án những hành động sai trái
Hay câu chuyện về anh em nhà chuột Chuột anh giả làm mèo oai phong nhưng khi gặp mèo thật thì lại sợ hãi núp sau chuột em Ngược lại, chuột em lại dũng cảm dám đối diện với mèo vằn:
Hai anh em chuột Bàn tán lao xao Mèo vằn nghe thấy Kêu lên ngoao ngoao Chuột em cầu khẩn:
- Chúa ơi, nhanh nào
Ra mà dẹp giặc
Chuột anh hốt hoảng
Ôm chặt chuột em
(Anh em chuột)
Bài thơ ngầm phê phán những ai hèn nhát, bề ngoài luôn tỏ ra mình hơn người khác nhưng khi gặp hiểm nguy lại vội chùn bước cầu an; đồng thời
ca ngợi những người dũng cảm dám đương đầu với cái ác
Hình ảnh chú ếch không lạ lẫm với trẻ thơ, bởi ít nhiều các em đã từng biết đến qua những câu chuyện cổ tích hoặc nhìn thấy trong đời sống hàng ngày Thế nhưng khi bắt gặp chú ếch trong thơ Dương Thuấn, chắc các em vẫn bị hấp dẫn bởi nét ngộ nghĩnh, đáng yêu: ếch thích mưa nên cố
há miệng hớp trăng sao trên trời vì nghĩ rằng làm như thế trời sẽ mau tối lại thành cơn mưa rào:
Trang 25Một đêm mùa hạ Trời đầy trăng sao
Có một chú ếch Ngồi ở bờ ao Mồm luôn đớp đớp Uống bóng trăng vào
Cá rô thấy lạ Mới hỏi làm sao Ếch bảo cố đớp
Ăn hết trăng sao Cho trời tối lại Thành cơn mưa rào
(Chú ếch ăn trăng)
Bằng trí tưởng tượng phong phú, Dương Thuấn đã đem đến cho các em tiếng cười hồn nhiên, sảng khoái Và cùng với trạng thái vui vẻ ấy, các em còn có thêm bài học nhận thức về một hiện tượng của thế giới tự nhiên: mỗi khi có tiếng ếch kêu là trời sắp đổ mưa
Dương Thuấn còn có những câu chuyện thú vị kể về mối quan hệ giữa các loài vật với nhau, từ đó ca ngợi những tình cảm tốt đẹp cần vun xới hoặc phê phán khéo những tật xấu mà mỗi người cần nhận biết và sửa chữa ngay từ tuổi ấu thơ Ví dụ như nhà thơ miêu tả cảnh một bầy khỉ tắm bên sông để ca ngợi tình cảm mẹ con đằm thắm Trong các loài muông thú, khỉ là loài tình cảm nhất Hình ảnh bày khỉ cùng nhau tắm, khỉ mẹ kì lưng cho khỉ con gợi cho các em nhớ đến tình cảm mẹ con thiêng liêng, ấm áp:
Một bầy khỉ rất đông
Rủ nhau ra sông tắm Khỉ con ngồi yên lặng Cho khỉ mẹ kì lưng
(Bầy khỉ tắm)
Trang 26Hoặc qua câu chuyện về loài chim và chuột để nhắc nhở việc rèn luyện đức tính khiêm tốn của mỗi người Chuột và chim tranh cãi nhau, con nào cũng tự cho mình là khéo nhất khiến lúa bực mình trổ ra toàn bông lép Thế là chẳng con nào “mổ” hoặc “khoét” được nữa, hết dường khoe khéo khoe khôn:
Chim thì bảo chim khéo
Cứ để cho chim mổ Chuột thì bảo chuột khôn
Cứ để cho chuột khoét Chim và chuột giành nhau Lúa thấy vậy bực mình Trổ ra vài bông lép Nào đâu ai có biết
(Chuột và chim)
Viết bài thơ về chuột và trâu, qua các con vật có ích hoặc có hại, tác giả giúp trẻ em biết phân biệt xấu- tốt Trâu vốn thật thà, chịu khó làm lụng, còn chuột tính đã ranh mãnh, lại lười lao động, hay phá hoại công sức của người
Vì thế trâu đã mách với con người cách trị chuột:
Ghét loài chuột xấu tính Trâu mới mách cho người Nuôi mèo và nuôi chó Thế là này chuột ơi
(Chuột và trâu)
Có chú hươu con láu lỉnh thèm ăn quả trám đen trên ngọn cây cao nhưng không sao với được Chú đành chữa thẹn:
Ta chẳng thèm ăn đâu Quả trám đen chua lắm
(Hươu con)
Trang 27Những con vât quen thuộc với trẻ em miền núi đã đi vào thơ Dương Thuấn rất tự nhiên và tạo nên một thế giới các nhân vật ngộ nghĩnh đáng yêu trong một khoảng không gian nghệ thuật đặc trưng của anh Thế giới
ấy là món quà tặng của Dương Thuấn dành cho các cháu thiếu nhi Anh xây dựng thế giới ấy bằng tình yêu thương bao la đối với các em nhỏ miền núi mà cuộc sống vốn phải chịu nhiều thiệt thòi Được biết, tập thơ đầu tay của Dương Thuấn là tập thơ viết cho thiếu nhi và những bài thơ đầu tiên của nhà thơ đã được viết trên vùng núi Bắc Kạn xa xôi, sau lần anh đi tìm mua sách cho con đọc mà không có Vì thế, đó là những dòng tình cảm trong sáng, tha thiết nhất của tâm hồn anh dành cho trẻ thơ Thơ viết cho thiếu nhi của Dương Thuấn đã góp phần tạo thêm sắc màu tươi sáng trong “vườn hoa” văn học thiếu nhi Việt Nam
2 Không gian bản Hon và “Người xứ Mây” qua những khúc hát quê hương
Trong văn học, có những địa danh cứ trở đi lại trên trang viết của nhà thơ và trở thành một yếu tố khơi gợi những cảm xúc sâu xa của người đọc Đó
có thể là địa danh quê hương, nơi “chôn rau cắt rốn” của tác giả (như Huế trong thơ Tố Hữu; Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm Địa danh trong thơ văn cũng có thể là những mảnh đất khác lạ đã “hóa tâm hồn” nhà thơ (như Mai
Châu trong thơ Quang Dũng; Tây Bắc trong thơ Chế Lan Viên) Việc tạo địa
danh trên trang viết cũng có những cách khác nhau: có khi là địa danh có thật
(“Mường Thanh, Hồng Cúm Him Lam/ Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng”
- Tố Hữu); có khi là địa danh hư cấu (làng Mỹ Lý trong truyện ngắn của Thanh Tịnh; làng Vũ Đại trong truyện ngắn của Nam Cao) Điều quan trọng
là tác giả phải “thổi hồn” được vào những địa danh đó, để mỗi tên làng, tên đất trong tác phẩm trở thành một điểm sáng thẩm mỹ trong thế giới nghệ thuật của nhà thơ, nhà văn và là một địa chỉ tâm hồn đối với người đọc
Trang 28Đọc thơ Dương Thuấn ta thấy hiện lên một địa danh gắn liền với một
không gian cụ thể: “Bản Hon” Bản Hon vốn là không gian thực ngoài đời,
một bản vùng cao thuộc xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn; là quê hương của nhà thơ Dương Thuấn Đây là nơi có phong cảnh đẹp được tạo dựng bởi những dãy núi đá vôi hiểm trở, phân lớp dày, quá trình cácxtơ tạo thành những hình dạng kỳ thú Thiên nhiên bốn mùa có những nét đặc trưng riêng của khí hậu vùng núi cao Việt Bắc Trong thơ Dương Thuấn, có nhiều
bài thơ viết về bản Hon như: Quê tôi núi ngàn; Bản nhà sàn; Bản Hon; Quê
hương; Mời anh về ba bể; Thăm thác Đầu Đẳng; Về Bắc Kạn Nhà thơ gọi
đó là những khúc hát quê hương Bản Hon được nhắc đến rất nhiều lần với
cách gọi khác nhau như bản, bản Hon, bản vùng cao, bản nhà sàn và gắn
liền với nó là một không gian nghệ thuật mang tính đặc trưng của thơ Dương Thuấn Trong không gian nghệ thuật này, thiên nhiên, con người, phong tục tập quán hiện lên vừa thực, vừa thơ mộng, lãng mạn
* Thiên nhiên bản Hon
Thiên nhiên thơ mộng trữ tình của bản Hon trong thơ Dương Thuấn hiện rõ qua bức tranh bốn mùa Bản Hon đẹp nhất khi vào xuân Dương Thuấn say mê giới thiệu vẻ đẹp của mùa xuân quê mình qua sắc màu của hoa mận, hoa mơ bung nở làm bừng sáng khung cảnh núi rừng:
Mùa xuân lại đến với non ngàn bao la Dọc thung trời trắng hoa mận, hoa mơ
Sắc hoa tươi thắm như mời gọi mọi người tìm đến với thiên nhiên để thưởng thức vẻ đẹp của mùa xuân:
Hoa đào nở thắm rồi Rừng hoa ban nở trắng Dậy ra núi cùng chơi
Trang 29Cũng là cảnh sắc ấy, nhà thơ Nông Quốc Chấn cảm nhận bức tranh mùa xuân giống như một tấm thổ cẩm được thêu dệt bởi sắc màu của các loài hoa:
Mùa xuân mới về với chúng ta
Lá hoa nhuộm đồi đèo rừng núi Như thổ cẩm trải qua mặt bàn
(Mùa xuân trên bản)
Những câu thơ viết về mùa xuân của Dương Thuấn đem đến cho người đọc cảm xúc đẹp về bản Hon mỗi độ xuân về, khiến người ta như được hòa trong không gian ấy để cảm nhận, tận hưởng những gì là đẹp nhất mà thiên nhiên ban tặng cho bản làng miền núi này
Không gian bản Hon thật khó quên với cái nắng chói chang của mùa hè
cùng cơn mưa rừng bất chợt “Tháng sáu mưa ngàn/ Bất chợt cơn lũ” và sau
những cơn mưa ấy măng vầu, măng nứa lách mình khỏi mặt đất thành cây:
Măng vầu cởi áo
Mở lá cánh ve Ông trời thở phè Bay từng phoi lửa Ông sấm ra cửa Tập súng trên cao
(Vào hè - Cưỡi ngựa đi săn)
Mùa thu bản Hon lại đẹp thật dịu dàng với nắng, lá vàng, trăng bạc:
“Gió thổi lá vàng trong nắng thu rơi rơi”, “Hoa dại nở khắp triền đồi thắm
đỏ”, hình ảnh của “trăng bạc thung thăng chạy trên ngọc cỏ” (Nắng bên hoa) Tất cả tạo nên một bức tranh mùa thu quyến rũ khiến cho tác giả ngỡ
ngàng thốt lên “kìa thảo nguyên đẹp thế” Mùa đông trong không gian bản
Hon là những đợt gió mùa và sương muối phủ khắp núi rừng mang theo cái lạnh thấu vào da thịt mà ai đã từng sống ở miền núi đều có thể hình dung
Trang 30được: “Gió vuốt cành le buốt rợn người”(Mùa đông) Qua những vần thơ về
thiên nhiên bốn mùa trong không gian nghệ thuật của mình, có lẽ nhà thơ Dương Thuấn muốn gửi gắm những tình cảm sâu thẳm trong tâm hồn nhà thơ về quê hương Đằng sau mỗi hình ảnh, đường nét, màu sắc của bốn mùa xuân, hạ, thu, đông của bản Hon trên trang thơ, người ta cảm nhận được cảm xúc rung ngân tha thiết của nhà thơ đối với quê hương mình
Bên cạnh bức tranh thiên nhiên bốn mùa, hình ảnh núi và sông cũng là
điểm nhấn trong không gian nghệ thuật bản Hon Trước hết là hình ảnh của núi
Dương Thuấn đăng đàn với tập thơ đầu tay Đi tìm bóng núi (Đi tìm “bóng núi”
chứ không phải “bóng hồng” hay “bóng mĩ nhân”) Dương Thuấn lặng lẽ cảm nhận và quan sát ngọn núi quê hương và có những phát hiện mới mới mẻ, thú vị:
Ngày ấy núi đi tìm nơi ở Núi về đến quê mình
Có tiếng lượn nàng ơi Núi đứng nghe mê mải
Mà chân không biết bước Núi đứng đến bây giờ
(Đi tìm bóng núi)
Núi không chỉ là hình ảnh của tự nhiên mà nó còn được nhân cách hóa trở nên một thực thể biết sống Bằng lối kể có phần nhuốm màu cổ tích về cội
nguồn của núi: núi từ đâu “về quê mình”, bắt gặp “tiếng lượn nàng ơi” để rồi
“đứng nghe mê mải không biết bước” và núi “đứng đến tận bây giờ” Lời kể
khái quát được nét đặc trưng của thiên nhiên vùng cao và niềm tự hào rất riêng của con người gắn bó với núi rừng quê hương Tình cảm đó được Dương Thuấn thể hiện qua những vần thơ giản dị, mộc mạc, gần gũi mà gợi cảm xúc sâu xa
Trang 31Cũng như người bản Hon, Dương Thuấn tự hào là “người con của núi”:
“Người sinh ra trên núi/ Cầm dao tự phát lối cho mình” (Nhìn ngược mặt
trời) “Quê tôi núi ngàn cao vời và lớn rộng/ Sáng sớm sương trời bay trắng lòng thung” (Quê tôi núi ngàn) Trong bức tranh của bản Hon, núi hiện lên trùng điệp:
Hoàng hôn xuống Ngắm ngọn Bút Sơn Ngắm Núi Voi oai hùng xung trận
(Chiều bản Hon)
Con người quê núi tự hào về quê hương nhưng cũng hiểu rõ những khó khăn thử thách của thiên nhiên nên biết tìm mọi cách vượt lên hoàn cảnh để tồn tại Câu thơ đồng thời còn gợi nhắc đến nguồn cội dân tộc Tày Từ buổi đầu sơ khai, người Tày đã về định cư ở nơi này và bắt đầu một cuộc sống mới bằng sức mạnh và đôi chân của mình Người Tày lớn lên và gắn bó cùng với núi trải qua bao khó khăn vất vả:
Ba bước chân gặp núi
Ra khỏi cửa là leo, là lội
(Quê hương)
Thế nên con người không trách núi ngay cả những khi vấp ngã Tình yêu quê hương đã đồng nhất con người và núi với nhau:
Gieo mùa màng Khi không
Khi được Trách núi làm chi
(Mùa)
Với người miền vùng cao, núi là một hiện tượng của tự nhiên, nhưng
đã từ lâu, núi được coi như một người bạn Núi có tự bao giờ mà để khi gần
Trang 32thì gắn bó, khi đi xa thì nhớ mong Để khẳng định cho mối quan hệ gắn bó, thủy chung đó, Dương Thuấn viết:
Ngọn núi ngày ngày chăn trâu Mùa nào cũng lên hái quả Đứng trong tim như một người thân
Hễ đi xa là nhớ
(Núi cơm chiều)
Với Dương Thuấn, viết về núi còn là một cách tuyên ngôn nghệ thuật của anh Là nhà thơ người Tày, sinh ra từ trên núi, Dương Thuấn tự tìm cho mình một phong cách, một lối đi của riêng trên con đường nghệ thuật
Dương Thuấn cũng viết nhiều về sông (sông Hồng, sông Thương, sông Nậm Na ) nhưng ấn tượng nhất là dòng sông Năng Trong thực tế, đây là con sông có cội nguồn từ khối núi cao Phía Giạ (thuộc Bảo Lạc, Cao Bằng) chảy qua địa phận quê anh Đối với người bản Hon, sông Năng không chỉ là con sông mang nguồn nước mát phục vụ đời sống mà nó còn là hình ảnh của quê hương Với Dương Thuấn, sông còn là điều gì đó rất thiêng liêng gợi nhắc về
nguồn cội Trong tập thơ Hát với sông Năng ta thấy xuất hiện nhiều hình ảnh
của dòng sông Năng Sông Năng gợi cảm hứng đặc biệt cho anh sáng tác, chiếm vị trí trung tâm trong cảm xúc về quê hương:
Sinh ra tắm nước thơm Mới là con của mẹ Lớn lên tắm nước sông Mới thành người của làng Đóng con tàu ra bể
Tắm giữa đại dương Mới thành người của muôn nơi
(Theo nước đi)
Trang 33Qua cảm xúc về dòng sông, nhà thơ gửi gắm suy nghĩ về nguồn cội và hành trình cuộc đời của con người: sông từ suối mà ra, sông chảy về với biển cũng như con người sinh ra được mẹ nuôi cho lớn khôn, cứng cỏi sẽ rời núi xuống đồng bằng và đến với muôn nơi Từ biển lớn cuộc đời con người lại
khao khát trở về với quê hương: Cái rãnh nhà bé nhỏ/Bước ngàn lần không
qua Cũng bởi biết neo lại ở cái “rãnh nhỏ” cội nguồn ấy mà người con xa
quê không bị trôi giạt giữa đại dương cuộc đời
Dương Thuấn nặng tình với dòng sông Năng Với Dương Thuấn, đây là con sông quê hương gắn bó nhiều kỷ niệm Khi đi vào thế giới nghệ thuật thơ, sông Năng như một tứ ngầm chảy suốt trong thơ anh Mỗi lần nhìn sông, mạch nguồn cảm xúc lại tuôn trào gợi bao điều tâm sự Dòng sông của tác giả
có dáng dấp của nàng thơ nhưng lại gợi rất nhiều cảm hứng triết luận Cũng
bởi thế cách ứng xử với sông trong thơ Dương Thuấn cũng đa dạng: hỏi sông,
hát với sông, nhớ sông Mỗi lần như thế lại là dịp để nhân vật trữ tình giãi
bày, kể lể, tâm tình, chất vấn những điều sâu kín:
- Ở bản Hon có những bà già Ngày ngày ra ngồi bên bờ sông Năng Cúi đầu xuống dòng sông than thở
- Sông ơi, tôi già quá rồi nhưng sao chưa chết?
Dòng sông vẫn chảy ì ầm Như là không nghe, không biết
(Những bà già)
Nhưng đẹp nhất vẫn là khúc sông kỷ niệm trong lòng người xa quê
Tôi và em yêu nhau rồi xa quê Bây giờ mỗi đêm nằm lại nghe tiếng sóng Tiếng thác reo chui vào trong chăn thành giấc mơ
(Hát với sông Năng)
Trang 34Tiếng sóng của dòng sông đang ào ạt vỗ bờ hay đó là tiếng sóng trong lòng nhà thơ?! Sông Năng không chỉ là dòng sông thuộc về thực tại mà nó trở thành biểu tượng của nỗi nhớ, của tình yêu với quê hương Sông không lộ diện trong mọi lúc mà có khi lặn thật sâu trong cảm xúc, lại có khi bất chợt hiện ra khi bắt gặp một dòng sông nơi miền đất lạ:
Đêm nay nằm bên sông yên lặng Không tiếng thác gầm như sông quê hương Tôi ngẩng đầu nhìn sao, đếm: một, hai, ba
Oan hồn trên kia, đầy trời không thể đếm
(Đêm bên sông yên lặng)
Trong thơ Dương Thuấn, núi sông thường đứng cạnh nhau và bổ sung ý nghĩa cho nhau rất hiệu quả Núi và sông theo nghĩa thực là biểu tượng quen thuộc, gắn với cuộc sống con người miền núi Họ sống gắn bó với rừng, với cây, với sông, với núi Chính vì thế hình ảnh núi sông mang nhiều ý nghĩa Núi sông thể hiện sự giao hòa, gắn kết giữa cuộc sống con người với thiên nhiên xung quanh Núi sông còn mang ý nghĩa tượng trưng: núi là nhân chứng của những cuộc đi, sông là nơi tìm về của những nỗi niềm, nhớ nhung Ngày ra đi thì nói “xuống núi”, ngày trở lại thì nói “trở về bên sông quê hương” Núi tượng trưng cho sự che chở, bao bọc, sông là nguồn mạch cho sự sống Núi đứng ngóng đợi người đi, sông tắm mát cho tâm hồn con người khi trở về Sông và núi là hình ảnh để bộc bạch, giãi bày cảm xúc của nhà thơ đối
với bản làng, quê hương
Không gian bản Hon trong thơ Dương Thuấn thấm đẫm ánh trăng:
- Người đi mang một câu hát cũ Người đi một bến trăng xưa
(Đêm bên sông yên lặng)
Trang 35Ánh trăng trên bản cao xuất hiện trong không gian riêng có núi, có dòng sông Năng soi sáng bản nhà sàn cho cô gái quay sa kéo sợi Trăng tỏa sáng bến sông đêm cho con thuyền neo đậu tạo thành một bức tranh phong cảnh đầy chất thơ:
Đêm trăng bản nhà sàn say múa
Cô gái quay sa kéo sợi chỉ dài Buộc con thuyền đêm neo vào bến
Buộc hồn của núi với hồn ai
(Mời anh về Ba Bể)
Trong khung cảnh trên, thiên nhiên và con người như hòa quện vào
nhau cùng tỏa sáng Cũng có khi trăng xuống làm bạn chung vui cùng trẻ nhỏ:
Những em bé xứ Mây Tóc nâu
Da thơm mùi cỏ Chạy đuổi theo trăng Trăng chạy xuống nước
Cả lũ đứng cười ha hả
(Em bé xứ Mây)
Những em bé xứ Mây trong đêm trăng sáng được thỏa sức chơi trò đuổi bắt trăng Trăng gần gũi thân thiết như người bạn Trăng còn chứng kiến sẻ
chia nỗi buồn, khổ đau cũng như hạnh phúc cùng con người miền núi:
- Em sẽ thương hơn những người phụ nữ Khuya một mình trông rẫy giữa trăng trong
(Đêm ngủ nương)
- Nàng nhớ thương nàng khóc Nước mắt tràn trăng khuya
(Nàng bản Hon)
Trang 36Có thể hình ảnh người phụ nữ trông rẫy giữa đêm khuya hay người con gái đang khóc vì nhớ thương là hình ảnh thực đầy cảm động nhưng dường như đã được thi vị hóa dưới ánh trăng Với Dương Thuấn, trăng không chỉ là hình ảnh đẹp thuộc về thiên nhiên mà nó còn là “nàng thơ” để nhân vật trữ tình thổ lộ lòng mình Vì thế trăng hiện lên ở nhiều dáng vẻ, ý nghĩa khác nhau; trong
đó, nhiều nhất là ý nghĩa tượng trưng cho hình ảnh người phụ nữ với vẻ đẹp rạng ngời: “Em đẹp như trăng rằm tỏa rạng”(Làm dâu) Dương Thuấn đã viết về trăng
là để bộc lộ cảm xúc về vẻ đẹp của quê hương, đồng thời để thể hiện tấm lòng gắn
bó với bản làng dù đi xa ngàn dặm vẫn nhớ để tìm về “bến trăng xưa” quê mình
Bên cạnh đó, không gian nghệ thuật của Dương Thuấn còn tạo nên vẻ hấp dẫn của thắng cảnh Hồ Ba bể:
Cùng nhau về thăm hồ Ba Bể Đường lên cao lắm dốc lắm đẹp Qua Bắc Kạn, Đèo Giàng, Phiêng Dản Núi cỏ xanh, sông suối cũng xanh
(Thăm Hồ Ba Bể)
Con đường vào hồ Ba Bể quanh co, lắm dốc, nhiều đèo nhưng lại rất
hữu tình “Suối cỏ xanh sông suối cũng xanh”, chưa thấy hồ nhưng người đọc
đã bị cuốn hút bởi cảnh đẹp bên đường Hay vẻ đẹp cảnh thác Đầu Đẳng Vẻ đẹp của ngọn thác được tạo nên từ sức mạnh của sông Năng giữa đại ngàn
hùng vĩ Đây cũng là nơi gặp gỡ, hẹn hò của lứa đôi: “… nơi hẹn hò khách
đến/ Nơi tình yêu muôn thuở chốn trăng vàng”(Thác Đầu Đẳng)
Trong thơ Dương Thuấn, thiên nhiên hiện lên thật lung linh tươi đẹp
Đó là thiên nhiên của bản Hon, của núi rừng Việt Bắc Từ nguồn cảm hứng vô tận trong sáng tác, Dương Thuấn đã tạo nên một đặc trưng trong không gian nghệ thuật của thơ mình, qua đó thể hiện tình cảm sâu đậm của anh với quê hương Tuy nhiên, làm nên sức sống của không gian bản Hon đó không thể
Trang 37thiếu những con người xứ Mây (cách nhà thơ gọi những con người quê hương) với tập tục văn hóa truyền thống đẹp lưu truyền từ bao đời và cuộc sống lao động xây dựng bản làng hôm nay
* Phong tục, tập quán
Ngoài những bài thơ thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên, trong thơ Dương Thuấn có nhiều bài viết về phong tục tập quán vốn là những nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của “người xứ Mây” Cùng với quá trình tồn tại của cộng đồng dân tộc, những phong tục tập quán ấy ngày một phát triển phong phú, đa dạng hơn Vì thế, không gian nghệ thuật thơ Dương Thuấn còn rộn ràng không khí lễ hội, đậm đà vẻ đẹp phong tục truyền thống
Trước hết là phong tục đón Tết Dân tộc Tày nói riêng và các dân tộc ít người ở Việt Bắc nói chung cũng có phong tục đón Tết giống như người Kinh Tết đến, nhà nhà nhộn nhịp chuẩn bị đón chào năm mới Nhưng khác với người Kinh, Tết của người Tày có bản sắc riêng Trước hết là việc trang trí nhà cửa Người Tày trang trí nhà cửa bằng giấy đỏ Họ dán giấy đỏ những nơi như bàn thờ, trong góc nhà hay ngoài ngõ, đâu đâu cũng là mầu đỏ Họ quan niệm màu đỏ là màu đem lại may mắn, tốt lành trong năm mới
Tết đến Trước bàn thờ Trước cửa ra vào Trên cây vườn trước ngõ Sáng rực những tấm giấy hồng đào
Trang 38Mâm cơm tất niên cúng gia tiên cũng được người Tày dành nhiều thời gian chuẩn bị cẩn thận: nào gà, nào xôi, nào các loại bánh vốn là hương vị đặc trưng của ngày tết:
Tết đến Nào bánh trôi Nào bánh trưng Nào gà, xôi đen đỏ Đặt lên bàn thờ cúng mời tổ tiên
Con nhớ hai tay mời nhé Cầu cho năm mới tốt lành Cầu cho thêm khỏe và xinh
(Giao thừa)
Sau lễ thờ cúng tổ tiên, mọi người trong gia đình quây quần bên mâm cơm tất niên, uống chén rượu đầu xuân, cùng ôn lại năm cũ và hướng tới những điều tốt đẹp sẽ đến trong năm mới Họ trao cho nhau những lời ca tiếng hát, những điệu Shi, điệu lượn say đắm lòng người Đầu xuân măm mới là dịp
để mọi người chúc phúc và dành tình cảm cho nhau Con cái thăm hỏi bố mẹ, cháu chúc phúc ông bà, học trò đến thăm thầy cô Mọi người đều cầu chúc
cho nhau những điều tốt đẹp sẽ đến (Tết đến)
Trang 39Vẻ đẹp của mùa xuân cũng khiến con người trở nên lạc quan, yêu đời
hơn, họ cất lên những điệu hát, những điệu Phong slư với bạn bè (Về Bắc
Kạn) Không chỉ chúc phúc cho mọi người mà mỗi cá nhân cũng tự cầu ước
năm mới gặp nhiều điều may mắn, thuận lợi trong làm ăn (Giao thừa)
Người Tày có quan niệm: tết đến xuân về là thời điểm trời đất giao hòa, kết tụ được khí thiêng, vạn vật hấp thụ được hơi khí ấy sẽ sinh sôi phát triển Vì thế trồng các cây màu vào thời điểm này cây sẽ tốt tươi và
cho ra nhiều hoa trái:
Ngày ba mươi nhớ trồng bầu, trồng bí Bầu sẽ leo xa, quả lúc lỉu trên giàn Dán giấy hồng điều lên trên cánh cửa Tài lộc sẽ đến nhà già khỏe, trẻ ngoan
Tục lệ của bản mình, chớ quên em nhé Ông cha ta đã truyền cho cùng với nước non
(Mùa xuân bản Hon)
Để xua đi những điều không may mắn xảy đến, đầu xuân mới người Tày có tục mời thầy Then về nhà làm lễ giải hạn, cầu phúc an lành
Đêm hát them đầu năm giải hạn Làm nảy lên giàn búp trên cành Xua tan đi những buồn đau chắc ẩn Của đời người từng gặp nỗi gian truân
(Đêm then)
Bên cạnh phong tục lễ tết, Dương Thuấn còn nói đến phong tục cưới hỏi Đám cưới của người Tày có nhiều điều thú vị Cô dâu trong ngày cưới phải mặc trang phục truyền thống của dân tộc, đeo xà tích, vòng bạc, đi hài thêu Bên cạnh
cô dâu là một cô phù dâu, hai người đưa và trai gái gánh theo của hồi môn Còn bên nhà trai dẫn đầu là hai vị quan làng, theo sau là hai bà đón và họ nhà trai:
Trang 40Em mặc bộ áo chàm dài Thắt dải lưng cũng xanh như áo
Bộ xà tích rung rinh theo mỗi bước
(Làm dâu)
Khi nhà trai đến đón dâu, bên nhà gái cử người đem dây ra giăng không cho người nhà trai bước vào cửa Mục đích là hát thách đố nhà trai Nếu nhà
trai hát thắng mới chịu cho rước dâu về Việc “Hai bên đối lời vàng ngọc”
cũng là cơ hội để trai gái hai bên có dịp tìm hiểu nhau để rồi nên duyên đôi lứa Người con gái trước khi về nhà chồng được cha mẹ cùng anh em bạn bè trao cho của hồi môn:
Mẹ sắm đủ cho con Một gối đôi
Một chiếu đôi Một chăn đôi Bạn bè tặng thêm những chiếc áo trẻ Mọi thứ em và chồng em cùng nâng niu
Với người Kinh, mọi vật dụng trong lễ cưới do nhà trai chuẩn bị Nhưng với người Tày, nhà gái chuẩn bị cho cô dâu Có lẽ người Tày quan niệm đó là sự quan tâm của cha mẹ có con gái đi lấy chồng, mong muốn con mình có cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc Trước khi con gái đi lấy chồng, người