Với các tập truyện ngắn: Mê lộ 1989, Man Nương 1995, Marie Sến 1996, tiểu thuyết Thiên sứ và những tiểu luận độc đáo, Phạm Thị Hoài cùng với các nhà văn cách tân khác như: Nguyễn Huy T
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tầm quan trọng của đề tài
1.1 Cái phi lí là một thuật ngữ quan trọng của văn học và phê bình văn học đương đại, nhằm chỉ tình trạng con người thoát li niềm tin nguyên thủy và
cơ sở tư duy siêu hình, sống cô đơn, vô nghĩa trong cái thế giới xa lạ hiện hữu Văn học phi lí là loại hình văn học độc đáo, ra đời trong giai đoạn xã hội phương Tây rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng những năm đầu thế kỉ
XX Văn học phi lí tuy phần lớn sử dụng phương pháp của chủ nghĩa biểu hiện và chủ nghĩa hiện thực nhưng cơ sở triết học của nó là chủ nghĩa hiện sinh, cho rằng con người bắt đầu từ hư vô và kết cục hư vô, cả cuộc đời là một tồn tại khổ đau và phi lí Văn học phi lí do đó cũng mang hình thức nghệ thuật đầy mới lạ, khác hẳn với truyền thống quen thuộc
Văn học nghệ thuật là địa hạt của sự sáng tạo Từ sự quan sát đời sống của văn học đương đại có thể thấy chưa bao giờ cá tính sáng tạo của nhà văn
và sự độc đáo, mới lạ của tác phẩm lại được đề cao như trong giai đoạn này
Những đợt sóng cách tân, đổi mới diễn ra không có điểm dừng khiến cho những sáng tạo, thể nghiệm của nhà văn luôn bị đặt trước nguy cơ “cũ đi”, bị phủ nhận trong một sớm một chiều Thậm chí, mỗi nhà văn cũng phải luôn làm mới mình qua từng tác phẩm, như Aragông từng quan niệm: “Tôi viết ra chỉ để nói ngược lại chính tôi”
Văn học phi lí là loại hình văn học phi lí độc đáo, mới lạ Do đó, việc tiếp thu tinh hoa của văn học phi lí phương Tây đã trở thành một hướng đi của nhiều nhà văn Việt Nam đương đại, góp phần đổi mới văn học theo hướng hiện đại
Trang 21.2 Phạm Thị Hoài là nhà văn sống, học tập và làm việc tại Đức – nơi được coi là một trong những trung tâm của những cách tân nghệ thuật đương đại Do đó, Phạm Thị Hoài chịu ảnh hưởng khá nhiều của những đợt sóng đổi mới, cách tân, đặc biệt là những ảnh hưởng của loại hình văn học phi lí độc
đáo Với các tập truyện ngắn: Mê lộ (1989), Man Nương (1995), Marie Sến ( 1996), tiểu thuyết Thiên sứ và những tiểu luận độc đáo, Phạm Thị Hoài cùng
với các nhà văn cách tân khác như: Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương… đã làm thay đổi một cách sâu sắc diện mạo nền văn học Việt Nam đương đại, đem đến cho độc giả những tác phẩm mới mẻ, góp phần làm thay đổi cách đọc và thị hiếu thẩm mĩ của công chúng
Vượt lên trên sự vay mượn, bắt chước các thao tác, thủ pháp kĩ thuật học được từ các nguồn văn học Âu – Mĩ, đặc biệt là văn học phi lí, Phạm Thị Hoài đã sáng tạo cho tác phẩm của mình một hình thức biểu hiện, phản ánh
loại hình tư duy nghệ thuật của thời đại mới Với Thiên sứ, bóng dáng của văn
học phi lí in đậm lên từng trang văn Qua việc nghiên cứu đề tài “Dấu ấn cái
phi lí của văn học phương Tây trong tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài”, chúng tôi muốn tìm hiểu sự tiếp thu học tập tinh hoa văn học phi lí của
Phạm Thị Hoài trong việc xây dựng một chỉnh thể nghệ thuật độc đáo – tiểu
thuyết Thiên sứ Qua đó, có thể khẳng định, cùng với sự xuất hiện của
Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh,… Phạm Thị Hoài đã đưa văn học đổi mới tiến tới cao trào, tạo nên một bước ngoặt trong tiến trình văn học dân tộc
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phạm Thị Hoài là một nhà văn không còn xa lạ với bạn đọc Việt Nam,
dù bà là một gương mặt xuất hiện chưa lâu trên văn đàn Sáng tác đầu tay của
Phạm Thị Hoài là truyện ngắn Năm ngày trình làng năm 1986 trên báo Văn
nghệ Tiếp đó là truyện Hành trình của những con số ra mắt độc giả tháng 10
Trang 3-1987 cũng trên báo Văn nghệ Đến nay Phạm Thị Hoài đã in hai tập truyện ngắn (Mê lộ - 1989, Man Nương - 1995); hai tiểu thuyết (Thiên sứ - 1988,
Marie Sến - 1996) Ngoài ra, bà còn viết một số tiểu luận văn học
Các bài viết về tác phẩm của Phạm Thị Hoài nói chung và Thiên sứ nói
riêng chưa nhiều, chủ yếu là những bài được đăng tải trên các báo, tạp chí, các website văn học Trong cuốn Văn học phi lí, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân có chỉ ra một số ảnh hưởng của văn học phi lí phương Tây đối với sáng tác của Phạm Thị Hoài và Nguyễn Việt Hà Đó là nét tương đồng trong việc phản ánh tình trạng tha hóa của con người Tác giả viết: “Có một sự giống nhau khá rõ về tình trạng tha hóa của nhân vật giữa Phạm Thị Hoài với Kafka
và Camus(…) Meursault, nhân vật chính trong Kẻ xa lạ của Camus là nhân
vật văn học hiện đại đầu tiên khước từ lối sống bầy đàn Ở Phạm Thị Hoài cũng có một thái độ khước từ như vậy.” [8 - tr.111]
Trong bài “Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài” [15], nhà nghiên cứu La Khắc Hòa đã chỉ ra những cách tân mang đậm dấu ấn của chủ
nghĩa hậu hiện đại trong các sáng tác của Phạm Thị Hoài, trong đó có Thiên
sứ Cụ thể là trên các phương diện: Đề tài, cốt truyện, các thủ pháp nghệ thuật
trong việc xây dựng nhân vật, nhan đề, giọng điệu,… Tác giả La Khắc Hòa chỉ ra chủ đề đậm dấu ấn của văn học phi lí trong sáng tác của Phạm Thị Hoài như sau: Môtip chủ đề về một thế giới vô nghĩa, vô hồn với kết cục đầy những thảm bại, ê chề, những sự thật trớ trêu, những cuộc chia li rời bỏ… khiến cho các câu chuyện của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài thấm đẫm tâm trạng hoài nghi, cô đơn
Nguyễn Thị Bình trong cuốn “Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau năm 1975 (khảo sát trên nét lớn)” (Nhà xuất bản Giáo dục, năm
2007) lại chú ý đến sự cách tân trên phương diện ngôn ngữ của Thiên sứ - sự
Trang 4kết hợp của nhiều phong cách ngôn ngữ cũng như các lớp từ vựng trong tác phẩm
Nguyễn Thị Thu Nguyên trong bài “Nghệ thuật xây dựng nhân vật
trong tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài” (trích trong cuốn Văn học Việt
nam sau 1975 – những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy) đã chỉ ra những nét
tiêu biểu của việc xây dựng nhân vật trong Thiên sứ Đó là sự phá hủy kiểu
nhân vật truyền thống, xây dựng nhân vật huyền thoại Nhân vật rơi vào tình trạng tha hóa, bị bào mòn cá tính và cạn kiệt khả năng yêu thương Tác giả
viết: “Không trực tiếp mô tả những cơ chế đời sống khiến con người bị công
thức hóa, sơ đồ hóa, nhưng những mô hình sinh động của Phạm Thị Hoài đã giúp người đọc cảm nhận được hiện thực cuộc sống phức tạp, trong đó để sống, để tồn tại, con người không thể không tìm cho mình một chiếc phao bảo hiểm an toàn, đồng thời triệt tiêu những cá tính, nhất là những góc cạnh có thể đâm thủng chiếc phao sinh mạng ấy.” [19 - tr.257]
Mai Hải Oanh trong chuyên luận “Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại” (Nhà xuất bản Hội nhà văn, năm 2009) đã chỉ ra nhiều sáng tạo của Phạm Thị Hoài thể hiện trong việc xây dựng cốt truyện phân mảnh, kết cấu lắp ghép, giọng điệu giễu nhại và nghệ thuật xây
dựng nhân vật với thủ pháp huyền thoại hóa trong tiểu thuyết Thiên sứ Tác
giả đã có nhiều khám phá tinh tế và sắc sảo Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa có sự
so sánh với văn học phi lí, bởi lẽ đó không phải mục đích chính của cuốn chuyên luận
Có thể thấy, các bài viết của các tác giả trên là những bài nghiên cứu
đầu tiên về các sáng tác của Phạm Thị Hoài, trong đó có tác phẩm Thiên sứ
Nhìn chung các tác giả này chủ yếu tập trung vào phân tích, đánh giá một số cách tân, đổi mới theo hướng hiện đại và hậu hiện đại trong tác phẩm, mà chưa đi sâu vào việc nghiên cứu bình diện cái phi lí trong tác phẩm này Vì
Trang 5thế, chúng tôi mạnh dạn triển khai nghiên cứu đề tài khóa luận “Dấu ấn cái
phi lí của văn học phương Tây trong tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài” – một hướng nghiên cứu mới về tác phẩm dưới sự chỉ dẫn của lí thuyết
văn học so sánh ứng dụng
3 Mục tiêu, nhiệm vụ của khóa luận
3.1 Mục tiêu của khóa luận
Khóa luận hướng đến mục tiêu tìm ra những dấu ấn, ảnh hưởng của văn học
phi lí trên hai bình diện nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết Thiên sứ của
nhà văn Phạm Thị Hoài
3.2 Nhiệm vụ của khóa luận
Nắm vững kiến thức về quá trình hình thành và phát triển của loại hình văn học phi lí phương Tây thế kỉ XX cũng như khái niệm về cái phi lí trong văn học và một số ảnh hưởng của văn học phi lí đối với tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Chỉ ra những dấu ấn, những tiếp sáng tạo từ văn học phi lí vào việc
xây dựng Thiên sứ của Phạm Thị Hoài
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Về nội dung
Với đề tài đã chọn, tác giả khóa luận sẽ tiến hành tìm hiểu những dấu
ấn của cái phi lí trên hai bình diện nội dung và nghệ thuật của Thiên sứ Trong
quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng lí thuyết của văn học so sánh để tìm
ra những ảnh hưởng của các sáng tác văn học phi lí (sáng tác của Kafka, của
Camus, E Ionesco,…) đối với tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài
4.2 Về tư liệu
Tác phẩm mà chúng tôi chọn làm đối tượng nghiên cứu là tiểu thuyết
Thiên sứ của Phạm Thị Hoài Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát các văn bản
Trang 6tác phẩm của các tác gia văn học phi lí phương Tây như: Franz Kafka, Albert Camus, E Ionesco…
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê, so sánh
5.2 Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống
5.3 Phương pháp phân tích tác phẩm và phân tích nhân vật
6 Đóng góp của khóa luận
6.1 Khái quát những nét cơ bản về quá trình hình thành và phát triển của văn học phi lí Trình bày một số ảnh hưởng cơ bản của văn học phi lí đối với tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới
6.2 Chỉ ra và phân tích những mặt cách tân sáng tạo của Phạm Thị Hoài
trong Thiên sứ, trên cơ sở so sánh và đối chiếu với sáng tác của Camus,
Kafka, Ionesco, …
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm có hai chương Cụ thể là:
Chương 1: Khái quát về văn học phi lí và một số ảnh hưởng của văn học phi lí đối với tiểu thuyết Việt Nam
Chương 2: Dấu ấn cái phi lí của văn học phương Tây trong tiểu thuyết
Thiên sứ của Phạm Thị Hoài
NỘI DUNG
Trang 7Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC PHI LÍ VÀ MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC PHI LÍ ĐỐI VỚI TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Khái quát về văn học phi lí
1.1.1 Về khái niệm cái phi lí
1.1.1.1 Khái niệm cái phi lí trong triết học
Khái niệm cái phi lí không phải mới xuất hiện ở thế kỉ XX mà đã có từ thời cổ đại Nhà triết học Hi Lạp cổ đại Zenon đã từng đưa ra bài toán nghịch
lí nổi tiếng Bài toán chứng minh Akhin – dũng sĩ thần thoại Hi Lạp có tài chạy nhanh nhất mà không đuổi kịp một con rùa Hình học Euclide (Thế kỉ III TCN) thường xuyên sử dụng phương pháp ngụy biện để chứng minh các định luật hình học Thời trung đại, nhà bác học La Mã Tertullianus (155 – 220) có một câu nói nổi tiếng: “Tôi tin vì nó phi lí” Đến thế kỉ XVI, nhà triết học người Anh là T.Hobbes (1588 – 1679) đã giải thích sự phi lí thông qua sự rối loạn trật tự lôgic ngôn ngữ học Ông cho rằng những từ trái nghĩa đứng cạnh nhau thì chỉ làm thành một âm thanh đơn thuần chứ không phải là một khái niệm có nghĩa (ví dụ cách nói “một vật thể vô thể”) Như vậy, trên phương diện lôgic học người ta quan niệm rằng những gì tồn tại trái với các qui tắc
lôgic đều bị coi là “phi lí”
Bình diện lí luận nhận thức lại cho rằng tất cả những gì chống lại năng lực nhận thức, chống lại lí trí không thể giải thích được bằng tư duy thì đều được coi là phi lí Như vậy, cái phi lí là cái phản lí tính Cuối thế kỉ XVIII, xuất hiện chủ nghĩa phi lí tính hiện đại với đặc điểm là sự mất lòng tin vào khả năng tư duy, đi đến chỗ dùng ý chí thay cho lí trí (chủ nghĩa duy ý chí), dùng trực giác thay cho tư duy (chủ nghĩa trực giác) Các nhà triết học phi lí tính nhấn mạnh đặc biệt đến cái không thể chứng minh được, đề xuất việc
Trang 8nhận thức cái riêng để chống lại việc nhận thức cái chung mà lí trí muốn hướng tới Họ đặt cái thực tiễn trước mắt, cái khả năng trực giác bột phát đối lập với sự nhận thức thông qua tư duy, thông qua khái niệm và nhiều khi họ đem cái quan điểm bi quan thay thế cho quan điểm lạc quan của chủ nghĩa duy lí đối với một trật tự có hệ thống của thế giới và của sự tồn tại
Sang giai đoạn chủ nghĩa hiện sinh, khái niệm triết học về cái phi lí có một bước phát triển đặc biệt Chủ nghĩa hiện sinh tạo ra giữa lí tính và thực tại một vực sâu ngăn cách không thể vượt qua
1.1.1.2 Khái niệm phi lí trong văn học
Nếu trong triết học có quan niệm cho rằng cái phi lí là con đẻ của tính bất khả thi của lí tính thì qua thực tiễn sáng tác của mình, các nhà văn vẫn cố gắng nhận thức cái phi lí Iônexcô – nhà viết kịch nổi tiếng, một đại diện tiêu biểu của văn học phi lí cho rằng: “Cái phi lí là sự tồn tại vô nghĩa của con người, là sự suy giảm giá trị của mọi lí tưởng của con người, thường nhận thấy được trong thế giới hiện đại.” [dẫn theo 8 – tr.22]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân cho rằng: “Khái niệm phi lí trong
văn học được dùng để chỉ loại hình văn học phi lí có nhiệm vụ nhận thức và
mô tả cái hiện thực vô nghĩa, phi lôgic, phi lí tính, trái với năng lực nhận thức của con người.” [8 – tr.23] Văn học phi lí là văn học phản ánh những hiện tượng và sự việc trái với sự phát triển của tư duy lôgic thông thường, hoặc nói đúng hơn là trái với lôgic nhân văn tiến bộ của loài người
Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng mặc dù khái niệm phi lí nói chung đã xuất hiện từ thời xa xưa nhưng khái niệm phi lí hiện đại mới chỉ xuất hiện từ nửa đầu thế kỉ XIX với chủ nghĩa phi lí tính và sau đó là chủ nghĩa hiện sinh và nó chỉ được thể hiện thành một loại hình văn học rõ rệt từ đầu thế kỉ XX với người mở đường là Franz Kafka Do đó, nói đến văn học
Trang 9phi lí thì chúng ta phải hiểu rằng đó là văn học con đẻ của thế kỉ XX hay nói đúng hơn là kết quả của cuộc khủng hoảng về nhiều mặt của thế kỉ XX
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của văn học phi lí
1.1.2.1 Nguồn gốc hình thành
Cùng với pháp luật, đạo đức, tôn giáo… văn học chính là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng Do đó, sự ra đời và phát triển của văn học phi lí luôn bắt nguồn từ cơ sở hạ tầng và các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng Văn học phi lí được hình thành từ hai nguồn chính là triết học và văn học Ngoài ra, nó còn được hình thành dựa trên hoàn cảnh lịch sử - xã hội cụ thể
Cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, xã hội phương Tây xảy ra nhiều cuộc khủng hoảng về kinh tế, xã hội, chính trị và tư tưởng Công xã Pari thất bại khiến mâu thuẫn xã hội thêm trầm trọng và đẩy các trí thức trong xã hội vào tư tưởng bi quan, tiêu cực Chủ nghĩa tư bản phát triển bên cạnh những mặt tích cực là thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển còn kéo theo nhiều mặt trái, tiêu biểu nhất là làm tha hóa con người, gây ra cuộc khủng hoảng sâu sắc
về thân phận con người Các phương tiện thông tin đại chúng làm cho con người dễ dàng giao tiếp với nhau thì các mối quan hệ đạo lí – nhân văn lại bị
gián đoạn Nhà văn Thụy Sĩ Durrematt nhận xét: “Bộ phận không hợp nhất
được với tổng thể, cá nhân không hợp nhất được với tập thể, con người không hợp nhất được với nhân loại” [dẫn theo 8 - tr.30] Tất cả những điều đó đã dẫn đến thái độ phủ nhận xã hội tư bản đương thời của con người và điều này được thể hiện sâu sắc trong văn học Đầu thế kỉ XX, thế giới phương Tây được chứng kiến một phong trào phủ định rộng khắp đối với trật tự hiện hành của xã hội, trong đó có sự phủ định đối với nghệ thuật truyền thống Phong trào phản nghệ thuật có gốc gác từ cuối thế kỉ XIX, được nở rộ ở đầu thế kỉ
XX và kéo dài tới những năm 50, 60 của thế kỉ XX Trong phong trào phản nghệ thuật có phản hội họa, phản sân khấu, phản thơ, phản tiểu thuyết,… và
Trang 10có cả văn học phi lí Các nhà văn học phi lí không chỉ mô tả cái phi lí mà quan trọng hơn là họ còn hành động để chống lại cái phi lí đó
1.1.2.2 Quá trình phát triển và một số đại diện tiểu biểu của văn học phi lí
Văn học phi lí có những biểu hiện nghệ thuật khác nhau theo từng thời điểm lịch sử, chủ yếu là trên hai loại thể tự sự và kịch Trên mỗi chặng đường
phát triển lại có những đại diện tiêu biểu
Văn học phi lí là một loại hình văn học được hình thành rõ rệt từ đầu thế kỉ XX với người mở đường là Franz Kafka – nhà văn Tiệp Khắc gốc Do Thái Tuy nhiên, trước Kafka, Đôtxtôiepxki (1821 – 1881) cũng từng nói đến cái phi lí thông qua nhân vật Ivan Karamazov: “Thế giới được dựa trên những điều phi lí và không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu không có những điều phi lí đó” (Anh em Karamazov) [dẫn theo 8 - tr.27] Nhưng bản thân Đôtxtôiepxki không khai thác đề tài cái phi lí Phải đến Kafka thì văn học phi lí mới thực sự
ra đời
Franz Kafka (1883 – 1924) sinh tại Praha (thủ đô của Tiệp Khắc) mất tại thủ đô Viên của Áo do mắc bệnh lao phổi Ông từ trần ở độ tuổi đang chín muồi của tài năng Ông để lại cho di sản văn học thế giới một số lượng sáng tác không nhiều nhưng đó lại là một tài sản vô giá của văn học nhân loại Xét về mặt trào lưu, Kafka không hề đại diện cho một trào lưu nào song người ta nhận thấy sự gần gũi của ông với chủ nghĩa biểu hiện đầu thế kỉ XX:
đó là những dấu hiệu của sự phủ nhận, sự bất lực trước tình trạng tha hóa của con người, những yếu tố kì ảo… Kafka là một nhà văn có tư tưởng tiến bộ và
tư tưởng đó được thể hiện sâu sắc trong văn học Thông qua ba cuốn tiểu
thuyết Lâu đài, Vụ án, Nước Mĩ, một số truyện ngắn Làng gần nhất, Một
người thầy thuốc ở nông thôn…, truyện vừa Biến dạng,… Kafka đã làm một
cuộc cách tân lớn trong nghệ thuật văn xuôi tự sự, xứng đáng trở thành người
mở đường tài ba cho dòng văn học phi lí đầu thế kỉ XX Kafka đã tập trung
Trang 11bút lực để khai phá một mảng đề tài rất khó xử lí, đó là cái phi lí của cuộc đời
và ông đã thực sự thành công, đặc biệt là qua hai tiểu thuyết Vụ án, Lâu đài
Vụ án kể về câu chuyện của một anh nhân viên ngân hàng là Josef K
vào ngày kỉ niệm sinh nhật lần thứ ba mươi của mình bị một tòa án bí hiểm nào đó mà anh không hề biết gán cho một tội nào đó mà anh cũng không hề biết Suốt một năm trời anh phải trải qua những cuộc thẩm vấn trước mặt những người trung gian chứ không được gặp bất cứ một quan tòa nào Để rồi đến ngày kỉ niệm sinh nhật lần thứ ba mươi mốt của mình, Josef K đã bị hai người đàn ông to béo đến lôi anh ra một khu khai thác đá ở ngoại ô thành phố
và dùng dao thi hành án tử hình anh
Trong suốt tiểu thuyết, Josef K chưa một lần phải ra trước vành móng ngựa Trong những lần đi tìm tòa án, Josef K đã gặp nhiều người có địa vị bị cáo giống như anh ngồi đợi để gặp tòa mà chẳng có hy vọng được gặp Josef
K lại rất ngạc nhiên khi thấy văn phòng tòa án có thể có mặt ở bất cứ đâu và luôn luôn ở trên những tầng áp mái Càng tìm hiểu thì Josef K càng lạc lối trong những dãy hành lang tối tăm, ngột ngạt dẫn đến những căn gác xép, đến những tầng áp mái của các tòa nhà xa lạ mà chẳng bao giờ thấy hé mở một tia
hi vọng được gặp các vị quan tòa
Chính anh chàng họa sĩ Titôreli đã nói: “Thực vậy, các quan tòa cấp dưới, như các quan tòa chỗ bạn bè tôi, không có quyền tuyên bố tha hẳn; cái quyền ấy thuộc về tòa án tối cao mà cả ông anh cả tôi, cả những người khác nữa không ai với tới được Những chuyện diễn ra trên đó, chúng ta chẳng biết
tí gì, và xin nói thêm, chúng ta chẳng muốn biết” [8 – tr.37] Mọi người
không được biết và cũng không bắt buộc phải tin Ông linh mục đã khẳng định như vậy sau khi kể cho Josef K nghe câu chuyện về anh chàng gác cửa
pháp luật: “Người ta không bắt buộc phải tin là đúng tất cả những điều hắn
nói, chỉ cần xem chúng là tất yếu, thế là được” [8 – tr.219] Câu chuyện về
Trang 12anh chàng gác cửa pháp luật chính là sự đúc kết hoạt động của bộ máy quyền
lực của Vụ án, còn bác nông dân chờ đợi trước cửa pháp luật chính là hình
ảnh đúc kết về Josef K
Pháp luật ngay từ đầu đã tỏ ra là một nhân vật phi lí vô hình và bất khả tri, một loại nhân vật vắng mặt rất đặc trưng cho sáng tác của Kafka Loại nhân vật này thuộc thể giới bí hiểm, thế giới bất khả tương giao với con người bình thường Trong khi Josef K không chịu được cái không khí ngột ngạt của thế giới tòa án, thì, vì đã quen với cái không khí của thế giới ấy rồi, nên các nhân viên của thế giới xa lạ đó lại không chấp nhận được cái không khí trong lành của thế giới đời thường, chỉ cần mở cửa tiếp xúc với thế giới bên ngoài vài phút là họ có nguy cơ bị ngất xỉu, như thể họ là những con người từ hành tinh khác hay thậm chí có thể nói họ giống như những con cá nhốt trong bể kính vậy Ở chương IX, ông linh mục của tòa án đã nói với Josef K tại nhà
thờ lớn về câu chuyện anh chàng gác cửa pháp luật như sau: “Dù ta có thấy
hắn như nào đi nữa thì hắn vẫn cứ là một kẻ nô bộc của pháp luật; vậy hắn thuộc về pháp luật; vậy hắn thoát khỏi sự phán xử của nhân loại Và trong trường hợp ấy, ta cũng phải thôi đừng nghĩ là hắn thấp kém hơn người kia” [10 - tr.219] Thực tế thì nhân loại dù có muốn phán xử pháp luật cũng không
có điều kiện để phán xử, bởi vì người ta không thể tiếp cận được nó Cho đến lúc chết, Josef K vẫn không hết bị dằn vặt bởi một câu hỏi vô vọng về pháp luật: “Viên quan tòa anh chưa bao giờ gặp ở đâu? Tòa án tối cao anh chưa đến bao giờ ở đâu?” [8 – tr.226]
Còn Lâu đài kể về chuyện một anh nhân viên trắc địa cũng có tên là K
được mời tới làm việc tại một khu làng chịu dưới quyền cai quản của một lãnh chúa (cụ thể là “ngài bá tước West West” – một cái tên cũng vô danh chẳng kém gì tên gọi của nhân vật K.) sống trong một tòa lâu đài ngự trị trên
một quả đồi Tuy nhiên, cũng như Josef K trong Vụ án, anh chàng K không
Trang 13bao giờ tiếp cận được với những người sống trong tòa lâu đài bí hiểm kia Và cũng như Josef K., K cũng tìm mọi cách để được gặp những người trong lâu đài nhưng không thành Thậm chí ngay cả những người dân thường ở quanh
khu lâu đài cũng không ủng hộ anh Trong Lâu đài, K tỏ ra tích cực hơn
Josef K trong việc tìm hiểu sự vận hành của bộ máy quyền lực Nhưng những con đường quanh lâu đài chỉ dẫn anh lạc lối sang những con đường quanh co khác mà anh càng đi càng rời xa lâu đài Những con đường ngập trong tuyết tưởng như dẫn đến lâu đài nhưng cứ gần đến nơi chúng lại rẽ sang hướng khác giống như những con đường tiệm cận với một vòng tròn bí ẩn, mất hút trong sương mù Đó là lâu đài, còn những người dân sống trong ngôi làng dưới quyền cai trị của lâu đài thì cũng như là một thế giới xa lạ K càng tìm hiểu thì càng lạc vào mê cung của một thế giới phi lí không thể nào hiểu nổi
và tồn tại ngoài ý muốn con người Và cũng thật phi lí, càng lạc sâu vào thế giới mê cung đó thì K càng trở nên tha hóa, xa lạ với thế giới chẳng khác gì chính bản thân tác giả của họ Ở Kafka, cái phi lí là một đối tượng nhận thức khách quan Nhưng không phải đơn thuần là một hiện tượng xã hội mà nó có liên quan và thậm chí chi phối vận mệnh của con người Con người muốn tồn tại phải luôn luôn đấu tranh để loại trừ nó Vì thế mà Kafka đã xây dựng nên thế giới huyền thoại để mô tả cái phi lí – đó là những thế giới không có địa danh Cái thành phố của Josef K không có tên tuổi, tòa lâu đài và ngôi làng – nơi anh nhân viên trắc địa K được mời đến làm việc chỉ là một địa chỉ vô danh Cái phi lí của Kafka là những tấn bi kịch của con người hiện tồn trong thế giới đương thời Do đó mà kéo theo tâm trạng lo âu, sự lo lắng trước cuộc sống đời thường Kafka lo cho đồng loại, lo cho những con người bình thường ở xung quanh ta Đây là một trong những yếu tố làm cho văn học của Kafka có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc
Trang 14Trong Vụ án, Lâu đài, cái phi lí đã hiển hiện thành một nhân vật chính
trong văn học hiện đại Kafka thực sự trở thành người đầu tiên mở đường cho văn học phi lí Ở Kafka, cái phi lí là một thực thể tồn tại khách quan mà nhà văn tuyệt vọng tìm hiểu suốt cuộc đời Tiếp sau ông, Camus sẽ đóng góp cho
sự phát triển của văn học phi lí trên một bình diện khác: Bình diện chủ quan của cái phi lí Camus chính là nhà văn đại diện cho bước phát triển tiếp theo của văn học phi lí
Albert Camus (1913 – 1960) sinh ra trong một gia đình lao động nông nghiệp nghèo tại Angiêri thuộc Pháp Cuộc đời ông trải qua nhiều sóng gió và
có nhiều mâu thuẫn
Trong cuộc đời cầm bút của mình, Camus sáng tác ở nhiều thể loại khác nhau Từ tiểu luận, tiểu thuyết đến kịch và truyện ngắn đều phản ánh những mâu thuẫn tư tưởng phức tạp và sự chuyển biến tư tưởng liên tục của Camus Những tác phẩm nổi tiếng của ông thể hiện rõ tư tưởng hiện sinh phi
lí từ thời tìm đường đầu tiên cho đến khi nhận thức chín muồi
Viết về đề tài cái phi lí, Camus để lại một số tác phẩm: tiểu thuyết Kẻ
xa lạ, các vở kịch Caliguyla, Ngộ nhận, Vây hãm và tác phẩm Huyền thoại Xiziphơ… Ông xứng đáng trở thành trụ cột của văn học phi lí
Trong Huyền thoại Xiziphơ (1942), Camus kể lại chuyện trong thần
thoại Hy Lạp về nhân vật Xiziphơ phạm tội tố cáo thượng thần Dớt nên bị trừng phạt Dưới âm phủ, Xiziphơ chịu hình phạt phải đẩy một hòn đá nặng từ dưới chân núi lên đỉnh núi Khi sắp tới nơi thì Xiziphơ đuối sức và hòn đá lăn tọt xuống chân núi Xiziphơ phải chạy theo và tiếp tục đẩy hòn đá lên, rồi hòn
đá lại lăn xuống Xiziphơ phải vật lộn mãi với hòn đá, cứ như thế lên xuống không ngừng
Đề tài của tiểu thuyết này là ý niệm về sự tương đối và mối tương quan giữa sự phi lí với sự tự hủy diệt cuộc sống Cuộc đời đáng sống hay không
Trang 15đáng sống một khi con người nhận thấy giữa cái thế giới bên ngoài và niềm khát vọng hạnh phúc chính đáng có một cái hố thẳm ngăn cách
Làm một công việc vô ích và vô hi vọng như thế mà Xiziphơ vẫn làm
Đó là điều phi lí Xiziphơ suy tư việc anh làm chỉ có thế, anh phải lấy nó làm vui Anh ta thấy cái thế giới chật hẹp của anh ta là có ý nghĩa Mỗi hạt bụi làm nên hòn đá và trái núi đầy bóng tối kia phải là một thế giới đầy hấp dẫn với anh ta Việc làm tuy nhọc nhằn nhưng lại là một niềm vui Hạnh phúc và cái phi lí là hai đứa con cùng một mẹ Cuộc đời vui sướng của Xiziphơ là ở chỗ
số phận của anh thuộc về chính anh khi tưởng chừng như anh ta hoàn toàn lệ thuộc vào thần linh Xiziphơ thách thức thần linh, khinh nhờn các thần linh, yêu sự sống, ghét cái chết, Xiziphơ ham mê chính cuộc sống ấy Camus viết:
“Thôi tôi cứ để cho Xixiphơ ở dưới chân núi! Ông vẫn sẽ luôn luôn tìm thấy được tảng đá của mình Nhưng Xixiphơ dạy cho ta tính trung thực cao thượng
có khả năng phủ nhận thần linh và nâng cao đá tảng Cả ông ta cũng cho rằng mọi cái đều tốt đẹp Đối với ông, cái thế giới này từ nay không còn có chủ nhân này chẳng tỏ ra cằn cỗi cũng chẳng tỏ ra tầm phào Mỗi một viên đá, mỗi một ánh sáng lấp lánh của quả núi ngập đầy bóng đêm ấy, tất cả đều làm thành một thế giới chỉ dành riêng cho ông Bản thân cuộc vật lộn để vần tảng
đá lên đỉnh núi cũng đủ làm viên mãn một trái tim con người Cần phải hình dung Xixiphơ là người hạnh phúc.” [8 – tr.261]
Ngoài di sản tiểu thuyết, Camus còn để lại một số vở kịch mang âm hưởng phi lí Kịch của ông dù mang tư tưởng phi lí nhưng nó không giống với kịch phi lí sau này Vì về mặt nghệ thuật, nó vẫn là loại kịch truyền thống, chỉ
có nội dung của nó là nằm trong mạch tư tưởng phi lí của nhà văn mà thôi Nó không sử dụng các thủ pháp huyền thoại và nghịch dị như các tác giả kịch phi
lí khác Có thể nói kịch của Camus chỉ là một loại văn xuôi diễn giải về sự phi
Trang 16lí của cuộc đời, bổ sung thêm cho tiểu thuyết hành vi luận của ông, làm cho
văn xuôi phi lí của ông trở nên trọn vẹn
Với Kafka và Camus, văn xuôi phi lí đã đạt đến độ hoàn thiện, có lẽ không cần bổ sung thêm nữa Và văn học phi lí chuyển sang một địa hạt mới
là kịch phi lí
Xuất hiện đầu tiên ở Pháp với vở kịch Nữ ca sĩ hói đầu của Iônexcô
(năm 1950), kịch phi lí tuy chỉ tồn tại trong khoảng hơn mười năm nhưng nó
có tác động sâu rộng và mạnh mẽ, dư âm của nó còn kéo dài mãi về sau
Trong vở kịch Nữ ca sĩ hói đầu, ta chẳng thấy có một nữ ca sĩ nào
cũng chẳng có ai hói đầu cả Trong buổi diễn tập đầu tiên, một diễn viên đã nói nhầm một lời thoại nào đấy thành “nữ ca sĩ hói đầu” Thế là tác giả liền lấy ngay câu nói đó để đặt nhan đề cho vở kịch Sự không ăn nhập của nhan
đề với nội dung vở kịch là biểu hiện đầu tiên của thủ pháp phi lí Vở kịch chỉ gồm sáu nhân vật Song tất cả những lời đối thoại của họ chỉ là những câu nói ngô nghê, vô nghĩa Đây là vở kịch điển hình cho việc diễn đạt sự phá hủy
ngôn ngữ Ngoài ra, Iônexcô còn để lại nhiều vở kịch quan trọng như: Bài
học, Những chiếc ghế, Những con tê giác, Người bộ hành trên không…
Một đại diện tiêu biểu thứ hai của kịch phi lí là Bêcket với các tác
phẩm: Đợi Gôđô, Tất cả những người ngã xuống, Tàn cuộc… Đợi Gôđô là
một huyền thoại phi không gian và thời gian Chuyện xảy ra tại một địa điểm không tên và một thời gian ngưng đọng Extơragông đợi Gôđô như đợi một cái phi lí Đợi mà không biết Gôđô là ai, đợi để làm gì và khi nào thì được gặp; đó là một sự chờ đợi vô nghĩa và vô vọng
Nhìn chung, chủ đề của kịch phi lí là mô tả sự tha hóa của con người trong cái thế giới phi lí đã bị vật thể hóa Bằng cách tiếp thu di sản văn học phi lí của Kafka và của Camus, kịch phi lí gần như không còn gì phải bổ sung thêm cho tư tưởng về cái phi lí nữa mà nó chỉ đi tìm các thủ pháp nghệ thuật
Trang 17mới để tiếp cận cái phi lí Đó là thủ pháp nghịch dị, sử dụng yếu tố huyền thoại, phá hủy ngôn ngữ
Như vậy, văn học phi lí một loại hình văn học độc đáo của thế kỉ XX với người mở đường tài ba là Kafka Văn học phi lí tiếp tục phát triển lên một đỉnh cao mới gắn với tên tuổi của Camus Đây là hai nhà văn trụ cột của văn xuôi phi lí Khi văn xuôi phi lí phát triển đến đỉnh cao thì loại hình văn học phi lí chuyển sang một địa hạt mới – địa hạt của kịch phi lí và sân khấu Đại diện xuất sắc nhất là hai nhà viết kịch Iônexcô và Bêcket Sau hai đại diện tiêu biểu này, một số tác giả khác cũng có đóng góp ít nhiều cho kịch phi lí: Max Frisch (nhà văn Thụy Sĩ , 1911 -1991), Adamov, Harold Pinter (nhà soạn kịch người Anh)… Tuy nhiên đến giai đoạn này thì văn học phi lí gần như lắng lại, chỉ còn vang vọng những dư âm
1.1.2.3 Đóng góp của văn học phi lí đối với văn học nhân loại
1.1.2.3.1 Đóng góp về nhận thức
Đầu thế kỉ XX, do ảnh hưởng của những cuộc khủng hoảng xã hội gay gắt và ảnh hưởng của chủ nghĩa phi lí tính, vấn đề có tồn tại hay không tồn tại cái phi lí trong đời sống đã trở thành một câu hỏi được nhiều người quan tâm Do đó, cái phi lí đã trở thành một đối tượng nhận thức chủ yếu của các nhà văn Một số nhà văn đã trở thành nhà triết học và tư tưởng của họ thể hiện qua các sáng tác đã đóng góp giá trị nhận thức cho triết học về cái phi lí
Có quan niệm cho rằng những gì tồn tại trái với những qui tắc lôgic thông thường đều bị coi là cái phi lí Nhưng thực tế cho thấy cái phi lí có một tính chất rất tương đối, vì không thể có các qui tắc lôgic chung cho mọi lĩnh vực,
mà mỗi lĩnh vực lại có một lôgic riêng của nó Do đó, một vật tỏ ra là phi lí xét theo một phương diện nào đó thì vẫn có thể là hợp lôgic nếu xét theo một phương diện khác Như vậy là trong cuộc sống có tồn tại sự phi lí, nhưng sự phi lí đó chỉ tồn tại trong một mối quan hệ với những tiêu chí nhất định Do
Trang 18đó, nó là một thái độ nhận thức của con người đối với thế giới, đối với cuộc sống Rõ ràng, cái phi lí là một thực tại hiển nhiên và tất yếu của đời sống xã
hội con người
Trong những sáng tác của Kafka, chúng ta thấy phi lí là kết quả của hiện tượng tha hóa và của hiện tượng áp đặt độc đoán Cái phi lí của Kafka là
cái phi lí khách quan, bất khả tri
Ở Camus, cái phi lí cũng là kết quả của hiện tượng tha hóa, nhưng ông nhấn mạnh đến tính chủ quan của cái phi lí Camus cho rằng phi lí là sự ngăn cách giữa một bên là ý nguyện muốn tìm hiểu thế giới thực tại với một bên là
sự u tối của thế giới đó Cái phi lí nảy sinh ở sự tuyệt giao giữa lí trí với thực
tại khách quan
Từ cái phi lí của Kafka đến cái phi lí của Camus có một sự tiến triển quan trọng về cấp độ nhận thức cái phi lí: đó là sự tiến triển từ nhận thức khách quan một cách đơn thuần đối với cái phi lí đến lập luận nghi vấn chủ quan mang tính phát giác sự phi lí Ngoài ra, Camus còn tiến xa thêm một bước nữa: từ lập luận nghi vấn ông còn đi đến hành động cụ thể, chiến đấu chống lại cái phi lí Cuộc chiến đấu đó được thể hiện trong quan điểm triết học của ông về sự nổi loạn, nhưng trong văn học thì nó được thể hiện trong cuộc đấu tranh bền bỉ của những con người bình thường nhưng có tình yêu đồng loại cao cả Camus không chỉ đặt vấn đề mà còn phần nào thực hiện việc giải quyết vấn đề Đây chính là sự tiến bộ vượt bậc của ông so với Kafka Camus cũng là trường hợp điển hình văn học của chủ nghĩa hiện sinh Ở ông, cái phi lí được lĩnh hội sâu sắc trong ý thức chủ quan của con người Trong quan điểm của chủ nghĩa hiện sinh, sự tồn tại (hay là cái hiện sinh) không còn
là một thực tại khách quan, độc lập với ý thức, mà nó gắn liền rất chặt chẽ với tính chủ quan, với ý thức và phương thức tồn tại của con người Trong khi đó,
ở Kafka cái phi lí vẫn nằm ngoài ý thức con người Chính vì vậy mà Kafka
Trang 19chỉ là người mở đường cho văn học hiện sinh về việc khai thác mảng đề tài phi lí chứ ông không phải là nhà văn hiện simh chủ nghĩa như có người quan niệm Tính khách quan của Kafka và tính chủ quan của chủ nghĩa hiện sinh là hai yếu tố căn bản để ta phân biệt Kafka với chủ nghĩa hiện sinh Như vậy có thể thấy rằng trong văn học hiện sinh chủ nghĩa có văn học phi lí, nhưng văn học phi lí không phải chỉ là văn học hiện sinh chủ nghĩa Tức là văn học phi lí
và văn học hiện sinh chủ nghĩa có một sự chồng lấn lên nhau chứ không trùng khít với nhau
Cái phi lí trong văn học phương Tây dù là của Kafka hay của Camus đều không phải là cái phi lí siêu hình mà nó có nguồn gốc trong thực tế cuộc sống của xã hội phương Tây Đây chính là nguồn gốc và cũng là đối tượng nhận thức của văn học phi lí
Tóm lại, cái phi lí thực sự có tồn tại trong đời sống con người Đến giai đoạn khủng hoảng của xã hội thì nó bộc lộ rõ ràng nhất, tác động trước hết đến văn học và các nhà văn là người phát ngôn Đây chính là đóng góp về mặt nhận thức của văn học phi lí
1.1.2.3.2 Đóng góp về tư tưởng đạo lí – nhân văn
Các sáng tác của những nhà văn phi lí đã vạch rõ vấn đề về thân phận con người trong một thời đại có nhiều biến động Đó là sự tha hóa đã làm cho đời sống con người trở nên vô nghĩa Con người nhỏ bé luôn sống trong tâm trạng khắc khoải, lo âu, sợ hãi
Các nhà văn đã chỉ ra cuộc đời là cả một sự phi lí Camus từng nói:
“Thế giới này là phi lí Tất cả các khoa học trên Trái Đất này cũng không thể chứng minh được rằng thế giới này là của chúng ta” Và khi phản ánh cái phi
lí của cuộc đời, các nhà văn đã cho thấy sự khủng hoảng của xã hội tư bản, đồng thời thể hiện sự cảm thông, chia sẻ, sự trăn trở của nhà văn trước xã hội bất công
Trang 20Và các nhà văn đã chủ trương sẽ dùng cái phi lí để chống lại cái phi lí của cuộc đời
Có thể nói, trong nhiều trường hợp, việc nhấn mạnh đến mặt đạo lí – nhân văn của văn học phi lí đã làm cho tác phẩm văn học phi lí có được tính chất của chủ nghĩa nhân đạo rất sâu sắc Đây là khía cạnh quan trọng nhất giúp cho văn học phi lí có được những giá trị nhân văn để không sa vào sự phi
lí của một thứ “nghệ thuật vị nghệ thuật”
1.1.2.3.3 Đóng góp về thủ pháp nghệ thuật
Văn học phi lí được thể hiện ở những thể loại văn học khác nhau với những thể loại văn khác nhau với những thủ pháp nghệ thuật có phần khác
nhau Mỗi nhà văn đã tìm cho mình một lối viết riêng độc đáo
Ở Kafka là thủ pháp diễn đạt cái không thể diễn đạt, là thủ pháp mô tả
nhân vật vắng mặt Trong thử gửi người bạn gái Milena, Kafka đã viết: “Anh
luôn cố gắng tìm cách thông báo cái không thể thông báo, lí giải cái không thể lí giải” [dẫn theo 8 - tr.90] Trong Vụ án, đại diện pháp luật là những nhân
vật hoàn toàn vắng mặt, nhưng dưới ngòi bút của tác giả, chúng hiện ra mờ ảo như một bóng ma bao trùm lên toàn bộ tác phẩm, chi phối lối sống của các nhân vật
Cùng với thủ pháp mô tả nhân vật vắng mặt là môtip mê cung Nhân vật trong tác phẩm thường tồn tại trong một mê cung phức tạp, luẩn quẩn,
không xác định đích cần tới Đoc Vụ án, ta thấy hiện lên một thế giới mê cung
với những dãy hành lang dẫn đến căn phòng xử án vô hình
Để mô tả cái vô hình, Kafka còn dùng thủ pháp huyền thoại hóa
Không gian, thời gian đều là những yếu tố phi xác định Sự việc trong Vụ án,
Lâu đài diễn ra tại một nơi không có địa danh và trong một thời gian không
xác định Thủ pháp huyền thoại hóa còn được thể hiện ở đặc điểm nhân vật trong tác phẩm là nhân vật vô danh – những nhân vật không tên Trong sáng
Trang 21tác của Kafka, những cái tên Josef K hay K chỉ là những chữ cái phi xác định và tác giả cũng chỉ dùng một chữ cái viết tắt cho cả hai nhân vật
Vì thế, không gian mà sự việc diễn ra thường là không gian vô danh, mang tính sơ lược khép kín, phù hợp với tâm trạng tù túng, cách li của con người khỏi cộng đồng
Ở Camus, thủ pháp nổi bật là thủ pháp hành vi luận lạnh lùng Thủ pháp này làm bộc lộ một thái độ bàng quan, xa lánh cuộc đời tẻ nhạt, vô vị và phi lí Ngoài ra, Camus chỉ để nhân vật thể hiện qua hành vi chứ không được thể hiện qua cảm xúc, tâm trạng Hay nói cách khác, Camus mô tả nhân vật qua ống kính khách quan, lạnh lùng
Một thủ pháp mà nhiều nhà văn phi lí sử dụng và được dòng kịch phi lí đẩy lên thành một thủ pháp chủ đạo là thủ pháp sử dụng cái nghịch dị Nguyên tắc của thủ pháp nghịch dị là phá hủy lôgic Cụ thể, ở kịch phi lí là phá hủy lôgic biểu đạt ngôn ngữ thông thường Nhưng điều nghịch lí là sự phá hủy ngôn ngữ lại được biểu hiện bằng chính bản thân ngôn ngữ Và như
vậy, ngôn ngữ trở thành nhân vật chính Đọc – xem Nữ ca sĩ hói đầu, chúng
ta sẽ thấy rõ nhất thủ pháp nghệ thuật này Toàn bộ những lời trò chuyện của các nhân vật trong tác phẩm đều không có sự liên kết với nhau theo trật tự trước sau một cách lôgic
Một thủ pháp nghệ thuật quan trọng nữa của văn học phi lí là thi pháp
về tác phẩm mở Các tác phẩm văn học phi lí có thể hiểu theo nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hẹp, nghĩa rộng… Văn học phi lí vì thế đa phần là tác phẩm
mở, mang nhiều lớp ý nghĩa khác nhau
Mặc dù xuất hiện và tồn tại trong một khoảng thời gian không quá dài nhưng văn học phi lí đã có nhiều đóng góp quan trọng cho lịch sử văn học nhân loại trên nhiều phương diện khác nhau Là một loại hình văn học độc
Trang 22đáo, văn học phi lí đã có ảnh hưởng không nhỏ đến các nền văn học khác nhau trên thế giới trong đó có nền văn học Việt Nam
1.2 Một số dấu hiệu ảnh hưởng của văn học phi lí đối với tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Mặc dù văn học phi lí là những hiện tượng văn học khó có thể lặp lại nhưng nó vẫn có những ảnh hưởng nhất định đến văn đàn thế giới nói chung
và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng Chúng ta có thể thấy bóng dáng của văn học phi lí xuất hiện khá nhiều trong các tiểu thuyết Việt Nam đương đại chẳng hạn như trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương và tất nhiên là ở Phạm Thị Hoài,… Việc tiếp thu tinh hoa văn học phi lí vào sáng tác của các nhà văn nói trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau
Đầu tiên là do những đổi thay trong cấu trúc xã hội Việt Nam đặc biệt
là từ sau năm 1986 Đây là thời kì đất nước ta đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn rất nhiều khó khăn và thử thách Chiến tranh lùi vào quá khứ, con người bắt tay xây dựng một cuộc sống mới Chúng ta có thời gian để nhận ra những mất mát quá lớn đằng sau những chiến công vang dội của một thời huy hoàng vừa mới trôi qua Con người cũng dần thấy được bao nỗi đau mới trong thời bình Đó là sự cô đơn, tha hóa, cạn kiệt tình yêu thương, cạn kiệt cảm xúc trước đời sống thực dụng, chạy theo tiền tài và danh vọng hư vô Con người đánh mất bản thân mình, chỉ còn là những cái máy vô cảm Trước hiện thực xã hội ấy, nhà văn với cái nhìn tinh tế, trái tim nhạy cảm đã có những cảm quan mới về sự thay đổi trong bề sâu của đời sống con người Nguồn cảm hứng ngợi ca, hào hùng mang đậm tính sử thi của một thời chiến tranh oanh liệt đã được thay thế bằng những cảm hứng mới đậm chất đời thường Đó là nỗi lo âu về cuộc sống quá nhiều sự xô bồ, hỗn loạn; những giá trị tinh thần dần dần bị bào mòn; lối sống công nghiệp với nhiều mặt tiêu
Trang 23cực… Nhà văn cảm nhận thấy sự lo âu, nỗi cô đơn, khắc khoải đè nặng lên mỗi một sinh thể trong xã hội đương thời Vì thế, họ từ chối lối viết mang tính
sử thi – anh hùng quen thuộc để tìm một phương thức biểu đạt mới phản ánh chính xác và chân thực những vấn đề nóng bỏng đang diễn ra trong đời sống hiện thực Viết về vấn đề thân phận con người trong xã hội hiện đại đầy biến động, các nhà văn đương đại Việt Nam tìm thấy tiếng nói chung với các tác giả văn học phi lí Vì thế, họ học tập, tiếp thu tinh hoa của văn học phi lí như một lẽ tất yếu trong cuộc đời sáng tác của mình
Nguyên nhân thứ hai phải nói tới là do tác động của bối cảnh toàn cầu hóa Từ sau 1986, Nhà nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, mở rộng quan hệ với bên ngoài Đất nước ta thoát khỏi tình trạng bế quan tỏa cảng, đẩy mạnh hợp tác đa phương, song phương trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có văn học Mặt khác, đây cũng là thời kì mở đầu của giai đoạn bùng nổ thông tin với Internet được mở rộng và ngày càng trở nên phổ biến Phong trào du học bắt đầu nở rộ, tạo cơ hội cho nhiều nhà văn trẻ được tiếp xúc ở cự li gần với văn học nước ngoài, trong đó có văn học phi lí phương Tây cuối thế kỉ
XX Có thể kể ra rất nhiều nhà văn Việt Nam đương đại có thời gian dài học tập tại nước ngoài như Phạm Thị Hoài… Cùng với phong trào du học thì phong trào dịch thuật cũng phát triển Nhiều tác phẩm văn học mới của nước ngoài đã được dịch và giới thiệu ở Việt Nam tạo điều kiện cho văn sĩ nước nhà đến với nhiều sáng tác mới của nhân loại Tất cả những yếu tố đó đã giúp các trào lưu văn học phương Tây đến với văn học Việt Nam và văn học Việt Nam có thể hòa nhập với văn học nhân loại
Văn học là một địa hạt luôn luôn đòi hỏi sự sáng tạo không ngừng Vì thế, để có được một tiếng nói riêng trong văn đàn, các nhà văn phải có ý thức thường xuyên đổi mới Có thể nói, khát vọng đổi mới luôn thường trực trong suy nghĩ của mỗi một nhà văn Tiếp thu văn học phi lí trên cơ sở có nhiều
Trang 24sáng tạo, vận dụng linh hoạt chính là một hướng đi độc đáo nhằm vươn tới chân trời văn học mới của các nhà văn đương đại Đến với những dư âm của văn học phi lí, các văn sĩ có thể thả sức mình trong những tìm tòi, cách tân rất mới mẻ trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật
Với những lí do đó, văn học phi lí đã để lại nhiều dấu ấn trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại như một lẽ tự nhiên
Đọc Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, chúng ta cũng bắt gặp bóng
dáng của văn học phi lí, đặc biệt là trên phương diện nghệ thuật Tiểu thuyết này đã sử dụng thành công các yếu tố huyền thoại để biểu đạt cái nhìn của nhà văn về thế giới hiện đại Tác giả đã tái hiện sự bi đát của cuộc đời qua cảm nhận của đứa trẻ chưa kịp chào đời Chứng kiến những câu chuyện giữa các bà mẹ với nhau, giữa những người hộ lí với những người vào viện, giữa những bà mẹ chờ đợi đứa con ra đời và những người quyết định bỏ đi giọt máu của mình vì nhiều lí do, đứa trẻ nhận ra sự suy kiệt và khô cạn nhân tính không còn là một hiện tượng cá biệt mà đã trở thành một hiện tượng phổ biến Đứa trẻ băn khoăn không hiểu mình có nên ra đời hay ở mãi trong bụng mẹ Cuối cùng, cậu cũng quyết định ra đời sống chung với cái thế giới phi lí và đáng chán kia Tác phẩm giống như một vở kịch được tạo nên từ nhiều màn, mỗi màn kịch là một sự kiện không theo quan hệ lôgic, nhân quả Tất cả là những mảnh văn bản rời rạc, phản ánh những mảnh đời sống khác nhau Chúng ta có thể xáo trộn những mảnh sự kiện này mà không làm ảnh hưởng nhiều đến lôgic tác phẩm Qua những mảnh cốt truyện đó, Tạ Duy Anh cho ta thấy được sự tha hóa xuống cấp của con người trong xã hội hiện đại, thấy được cái chết đau đớn của những sinh linh chưa được làm người
Không chỉ ở Thiên thần sám hối chúng ta mới thấy bóng dáng của văn học phi lí Đến với Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà, độc giả cũng thấy hơi hướng quan điểm của văn học phi lí Cơ hội của Chúa là cuốn tiểu thuyết
Trang 25của thời kinh tế thị trường Nhân vật chính là Hoàng – một thanh niên trí thức (cũng cùng một vần chữ cái với tên tác giả, giống như Josef K hay K của
Kafka) Qua Cơ hội của chúa, Nguyễn Việt Hà đã lột tả, phủ nhận mặt trái
của cơ chế thị trường bằng chủ nghĩa hư vô và thể hiện chủ nghĩa hư vô này bẳng rượu Hoàng – nhân vật chính của tác phẩm chẳng biết làm gì ngoài việc
la cà các quản rượu, tọng hàng lít rượu mạnh vào bụng rồi lại nôn ra hết Anh
ta rất thích các loại rượu Tây, nhưng hầu như không có một khả năng tiêu hóa bất cứ một loại rượu nào Có lẽ, tác giả muốn phủ nhận ngay chính cái phương tiện phủ nhận của chủ nghĩa hư vô Trốn trong rượu cũng chưa đủ, Hoàng còn tìm cách trở về với các bậc hiền triết, vĩ nhân thời xa xưa để bàn luận triết lí mông lung hòng trốn tránh sự đời Tất cả những cái đó làm tăng thêm thái độ xa lạ, trốn tránh sự đời của Hoàng, khẳng định rõ nỗi cô đơn đang đè nặng trong tâm hồn nhân vật Hoàng sống đấy mà không hòa nhập được với ai, có chăng chỉ là với người bạn gái tên Nhã Song Nhã chỉ là bản ngã thứ hai của Hoàng Nhân vật Hoàng giống với các nhân vật của văn học phi lí – cô đơn, lẻ loi, không hòa nhập được với cộng đồng, dửng dưng trước cuộc đời và thời cuộc
Với Khải huyền muộn – một sáng tác mới của Nguyễn Việt Hà, độc giả
bắt gặp một thế giới đảo điên, hỗn độn Để xây dựng nên thế giới nghệ thuật trong tác phẩm, tác giả cũng sử dụng thành công thủ pháp nghịch dị - thủ pháp quen thuộc của văn học phi lí
Thoạt kì thủy của Nguyễn Bình Phương cũng là một sáng tác mang đậm
dấu ấn của văn học phi lí Tác phẩm có cấu trúc ba phần: “Tiểu sử”;
“Chuyện”; “Phụ chú” Phần một tác giả đặt tên là “Tiểu sử” nhưng cách viết lại hoàn toàn phi tiểu sử Phần hai là “Chuyện” kể về chuyện con cú và chuyện về cuộc đời Tính – một con người điên loạn sống hoàn toàn theo bản năng Hai mạch truyện chạy song song, độc lập, không liên quan với nhau
Trang 26nhưng lại đan xen, lồng khớp với nhau Nhân vật trong tác phẩm như những mảng màu của bức tranh lập thể Phần ba bao gồm truyện ngắn “Và cỏ” của ông Phùng và mười một giấc mơ của Hiền – Tính Nguyễn Bình Phương đã tạo nên những tầng hiện thực khác nhau khiến người đọc rất khó khăn để tìm
ra mối dây liên hệ giữa chúng Qua đó, nhà văn muốn thể hiện một thế giới hỗn loạn, mù mờ, rất giàu ý nghĩa xã hội
Rõ ràng, tiểu thuyết Việt Nam đương đại mang bóng dáng của văn học phi lí ở những mức độ khác nhau trên các bình diện khác nhau Có thể nói văn học Việt Nam trong tiến trình hội nhập đã, đang và sẽ tiếp thu tinh hoa của nền văn học nhân loại trong đó có thành tựu của văn học phi lí
Trang 27Chương 2
DẤU ẤN CÁI PHI LÍ CỦA VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY
TRONG TIỂU THUYẾT THIÊN SỨ CỦA PHẠM THỊ HOÀI
2.1 Dấu ấn cái phi lí trên bình diện nội dung
2.1.1 Đề tài: Thân phận con người trong xã hội đương đại
Văn học phi lí là loại hình văn độc đáo, là sản phẩm của cuộc khủng hoảng nhiều mặt của thế kỉ XX Vì thế, đề tài phổ biến mà văn học phi lí hướng đến để phản ánh là thân phận con người trong cơn khủng hoảng của xã
hội tư bản Đây là một đề tài chủ đạo xuyên suốt nhiều tác phẩm, từ Lâu đài,
Vụ án của Kafka đến Kẻ xa lạ của Camus và Nữ ca sĩ hói đầu của Iônexcô …
Với mảng đề tài này, văn học phi lí đã bộc lộ tiếng nói tố cáo hiện thực xã hội
tư bản đầy bất công, giả dối, độc đáo đồng thời bày tỏ niềm trăn trở, suy tư, xót thương cho thân phận con người Đó là tiếng nói nhân đạo sâu sắc
Với Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, chúng ta thấy đề tài của tác phẩm cũng mang bóng dáng của văn học phi lí phương Tây Qua Thiên sứ, chúng ta
thấy đề tài chính của tác phẩm chính là vấn đề thân phận con người trong bối cảnh xã hội Việt Nam những năm quá độ chuyển từ chiến tranh sang hòa bình – một cuộc sống tẻ nhạt, trì trệ, bức bối Còn gì kinh khủng hơn cái cảnh
“hàng trăm tín đồ cuồng nhiệt xếp hàng trẩy hội tới chiếc vòi nước duy nhất” [16 - tr.97] hay khi hiện tượng số đề trở thành “một trong ba thông tin xã hội hấp dẫn và phổ biến nhất” Xã hội đó sẽ đi đâu về đâu nếu trong hành trang tinh thần của lớp trẻ là những lời giảng kì dị: “Bơ là loại thịt người ta đóng trong ống bơ” [16 – tr.92] hay “những số báo Thiếu niên tiền phong hai màu lòe loẹt và ngớ ngẩn, một vài đầu truyện Kim Đồng do người lớn hạ cố viết cho lũ trẻ, của bố thí hèn hạ” [16 – tr.99] Sống trong xã hội đó, con người hiện lên chỉ là những thân phận cô đơn, bé nhỏ, lạc lõng, bất lực và dần dần đánh mất chính bản thân mình Con người như Hùng (anh trai thứ hai của cô
Trang 28bé Hoài) quên dần đi những đam mê (dẫu cho đó là những đam mê nhục cảm), đánh mất dần xúc cảm, trở thành các công chức ngoan ngoãn, thành những chiếc đinh ốc của một bộ máy già cỗi, hoen rỉ, “sớm xách cặp lồng đi, tối xách cặp lồng về” Đó chính là điều đáng sợ nhất Nỗi ám ảnh khôn nguôi của cô bé Hoài là giấc mơ về những kẻ không có mặt, chính xác hơn là những
kẻ bị chiếc giẻ lau cuộc sống tước bỏ toàn bộ những gì làm nên bộ mặt đặc trưng của một con người Kinh sợ trước viễn cảnh của một xã hội bị thoái hóa hoàn toàn về tư tưởng, Phạm Thị Hoài đã đặt ra một câu hỏi quan trọng: sẽ ra sao nếu như tất cả mọi người đều bị dìm trong “Khoảng chân không khổng lồ, hòa tan giải thể” đó?
Câu chuyện trong Thiên sứ được xây dựng trên hồi ức của Hoài Tất cả
những biến động, đổi thay của xã hội hiện lên qua đôi mắt trẻ thơ của em Qua lăng kính trong trẻo của Hoài, chân dung con người hiện lên như những thứ bị thịt, bị bông, như những cái máy vô hồn, vô cảm Hoài phân chia loài người ra làm hai loại: homo A và homo Z Bảng phân chia rõ ràng, mạch lạc với tiêu chí phân loại là tình yêu thương, cảm xúc nhân văn của con người Đôi mắt trẻ thơ của Hoài quan sát tinh tường và nhận ra sự trì trệ của xã hội
Sự trì trệ ấy biểu hiện ngay trong căn nhà mà gia đình Hoài sinh sống Đề tài
về thân phận con người trong một xã hội trì trệ, ngưng đọng, xơ cứng chính là
mảng đề tài phổ biến trong văn học phi lí Đó cũng là đề tài trong Vụ án của Kafka Bối cảnh xã hội trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài có nhiều nét tương đồng với đời sống xã hội trong Vụ án của Kafka Căn nhà chật chội tù túng của cô bé Hoài, tình trạng xã hội ngột ngạt, trì trệ trong Thiên sứ cũng thật
gần với những dãy hành lang tăm tối, ngột ngạt dẫn đến những căn gác xép, đến tầng áp mái của các tòa nhà xa lạ trong tác phẩm của Kafka Căn nhà của
cô bé Hoài – “nhà độc một phòng, mười sáu mét vuông gạch men nâu; phòng độc một cửa sổ duy nhất, lỗ thủng hình chữ nhật lúc thì màu xanh, lúc thì
Trang 29vàng óng, lắm khi xám xịt, đóng khung lên thế giới men nâu của tôi Bốn trăm
ô vuông nâu và một khuôn chữ nhật biến ảo xoay như xoay rubic” [16 –
tr.88] Hệ thống luật pháp trong Vụ án cũng quanh quẩn, bí ẩn, phản ánh rõ
tình trạng, tăm tối và bế tắc của xã hội
Rõ ràng, giữa đề tài của văn học phi lí phương Tây với đề tài trong
Thiên sứ có nhiều nét tương đồng Chúng đều là vấn đề thân phận con người
trong bối cảnh xã hội ngột ngạt, và trì trệ Cùng khai thác mảng đề tài này nên
Thiên sứ của Phạm Thị Hoài cũng mang chủ đề khá giống với chủ đề trong
các sáng tác văn học phi lí
2.1.2 Chủ đề - tư tưởng
Đọc Thiên sứ, chúng ta bắt gặp nét tương đồng về chủ đề - tư tưởng
giữa tác phẩm này với các sáng tác của văn học phi lí Chủ đề về thân phận con người – con người cô đơn, bé nhỏ, lạc lõng; con người bất lực, bị tẩy chay; con người dần dần bị tha hóa, đánh mất đi chính bản thân mình khiến ta
liên tưởng đến chủ đề trong các tác phẩm: Biến dạng, Vụ án của Kafka hay Kẻ
xa lạ của Camus…
Con người là một thành viên quan trọng của xã hội, góp phần làm nên
xã hội Vì thế, bao giờ con người cũng gắn với cộng đồng và có ý thức cộng đồng Song trước hiện thực xã hội xơ cứng, tù túng, con người dường như lại
bị rơi vào sự cô đơn, lẻ loi, bị tẩy chay Con người trở nên lạc lõng ngay trong
xã hội mà mình đang sống Nỗi cô đơn đã trở thành căn bệnh phổ biến trong
xã hội tư bản phương Tây cũng như trong xã hội Việt Nam những năm chuyển giao, quá độ đầy biến động Cô bé Hoài một mình lạc lõng trong thế giới trẻ thơ, khước từ gia nhập vào thế giới người lớn Mang một lớp vật chất
bé nhỏ, Hoài thu mình trong thế giới riêng của mình Hoài chui vào vỏ ốc của mình “ba mươi kilôgam, một mét hai mươi nhăm, đuôi sam” – lớp vỏ vật chất bảo vệ cho một cái gì đó sâu thẳm hơn, dữ dội hơn Em từ chối quyền lớn
Trang 30hơn, từ chối gia nhập vào vòng chuyển động Brown, “khước từ các loại bậc thang” để giữ lại cho mình cái quý giá nhất của con người – khả năng có xúc cảm Đằng sau cái lứa tuổi mười bốn vĩnh hằng của Hoài là tầng sâu của những rung động thầm kín, những khát khao không được thỏa mãn, những đòi hỏi bị ghìm nén trong tâm hồn một phụ nữ hai mươi chín tuổi Một người đàn bà khao khát yêu thương và được yêu thương, khao khát cho và nhận được ép chặt trong hình hài một cô bé mười bốn tuổi Một khuôn mặt trẻ con che chở cho một tâm hồn mang “cơn sốt núi lửa”, suốt mười lăm năm ròng
làm “một nhân chứng câm lặng, thông tỏ quyết liệt, không bao giờ quay lưng
lại cuộc đời” Bên trong lớp vỏ Hoài là rất nhiều cuộc sống khác nhau Em mang trọn gánh nặng của một “nỗi buồn kinh niên”, nỗi đau của một “con búp
bê bé nhỏ, câm lặng”, biết trước tất cả, đoán trước được tất cả mà lại không thể thay đổi được điều gì, em – “đứa con út già trước tuổi gánh chịu tất cả những gì mà bố mẹ và anh chị nó chưa kịp hiểu” Em lạc lõng với thế giới xung quanh Chỉ vì nỗi ám ảnh của cơn mưa làm dột ướt nền nhà mà đến lớp,
em cũng rơi vào nỗi cô đơn riêng mình “Một hôm, trời mưa vào lớp, mưa đúng bàn tôi, tôi bật khóc nức nở Buổi học lỡ dở, thầy Kiên dắt tay tôi về trao
bố mẹ và phàn nàn: “Có lẽ đầu óc em Hoài không bình thường” Năm mươi mốt đứa bạn cùng lớp bắt đầu tẩy chay tôi” [16 – tr.92] Với tâm hồn của một người đàn bà hai mươi chín tuổi ẩn sau lớp vỏ vật chất mười bốn tuổi, Hoài cũng có những khát khao thầm kín: “Chiều hôm qua, anh ta xuất hiện Sát dưới cửa sổ, chỉ cần thò tay là chạm mái tóc đen dày chưa quá ba mươi tuổi của anh (Ước muốn sâu thẳm và thường trực trong tôi: vuốt ve một mái đầu đàn ông, ghì chặt ngực mình, hít thở cái mùi lạ lùng…) Tôi đã không đưa tay
ra, mà cố thu mình vào một thể tích tối thiểu, tiêu diệt toàn bộ những phương tiện biểu đạt, chân tay co rúm, ngực lõm, tóc dính bết vào sọ não, và hơi thở
Trang 31chỉ đủ duy trì lượng ôxi cần thiết cho phổi Bao nhiêu năm ròng tôi đã luyện bài tập thu mình ấy” [16 – tr 90]
Hoài đã thu mình lại tới mức tối thiểu, thành “ốc nhỏ bám riết bậu cửa sổ” để có thể thoát khỏi thế giới này, nhập thân vào thế giới nội tâm của riêng mình Lạc lõng giữa thế giới thực, thế giới các đồ vật, cô bé im lặng chịu đựng nỗi đau của căn bệnh tổ tông: đó là nỗi đau của sự cô đơn, bất lực và bị tha hóa Khép lại tác phẩm là sự hóa thân của Hoài – từ ốc nhỏ mười bốn tuổi thành “một người đàn bà hai mươi chín tuổi lộng lẫy, giống chị Hằng như hai giọt nước” Hoài ngỡ tưởng đã tìm thấy lẽ sống, tìm thấy hạnh phúc của mình
khi “giơ hai bàn tay ngón thon dài nuột nà về phía chàng trai: – Mang em đi
nhé!” [16 – tr.164] Nhưng cuối cùng vẫn chỉ là sự cô đơn, lạc lõng khi chàng trai cất tiếng trả lời: “Tôi chờ cô bé của tôi” Cô bé Hoài mười bốn tuổi cũng như người phụ nữ hai mươi chín tuổi kiêu sa cuối cùng vẫn rơi vào vòng quay
của nỗi u buồn
Chị Hằng – chị gái của cô bé Hoài – một cô gái xinh đẹp, duyên dáng
và lộng lẫy chung nỗi đau của thân phận con người Mang một vẻ ngoài đầy hấp dẫn, chị Hằng trở thành “người đàn bà xuất sắc, thông minh, nhạy cảm, đầy tham vọng”, thu hút rất nhiều ánh mắt đàn ông Nhưng người đàn bà ấy cũng đâu có được hạnh phúc Sau biến cố dữ dội, đánh mất đi đời con gái, chị mang trong mình nỗi ưu tư thầm kín Mở cuộc kén chồng, chị Hằng lại phải đau đớn từ bỏ tình cảm của trái tim mình với nhà thơ Ph để kết duyên với anh chàng nhân viên bộ ngoại giao giàu có Cuộc hôn nhân không hạnh phúc, người đàn bà xinh đẹp ấy lại phải chìm đắm trong nõi cô đơn, giày vò, chị
Hằng vẫn cứ khao khát một đứa con trong niềm vô vọng
Bé Hon – sinh linh bé bỏng, đáng yêu, thiên sứ diệu kì, lỡ sa xuống trần thế, lạc vào thế giới người lớn chỉ biết “uy tín và danh dự” cũng phải chịu chung nỗi cô đơn, bị bỏ rơi của thân phận con người Tập nói, bé Hon chỉ biết
Trang 32một câu duy nhất “Thơm nào” Bé chìa đôi môi bé xíu, hồng hồng, thỏ thẻ
“Thơm nào” Nhưng mọi người còn nhiều việc cần hơn những cái hôn Có lúc
mẹ gắt lên: “Ra chỗ khác, thơm với tho gì, không kịp mở mắt đây này” Nụ
cười thiên thần của bé Hon cũng không cứu vớt được sự đông lạnh, xơ cứng của hiện thực khắc nghiệt Bé Hon – là hương thơm, là sự trìu mến; là mầm sống tự do bị giam trong cũi, trong lồng đã lủi thủi bước đi Bé Hon đi ngủ, rồi bé Hon ngủ luôn một giấc thiên thu không bao giờ dậy nữa Nó đã vĩnh viễn ra đi vì ở đây người ta không thích hôn, người ta không thiết hôn và người ta không thèm hôn Thiên sứ - bé Hon chính là sự chết yểu của tình yêu trong bối cảnh xã hội vội vã chạy theo đồng tiền, với những ngụy trang của con người trong cử chỉ, ngôn ngữ và hành động
Hùng - anh hai thứ hai của cô bé Hoài cũng mang chung nỗi đau về thân phận con người Vốn là một người khá thành đạt, nhưng Hùng cũng chịu nhiều nỗi đau Cũng chỉ vì danh vọng, địa vị, tiền tài mà con người ấy rơi vào tình trạng tha hóa, dần dần đánh mất đi chính bản thân mình, đánh mất khả năng xúc cảm, dịu dàng, yêu thương Cuộc tình chóng vánh với cô vũ nữ đem lại bao cảm giác đê mê, say đắm Nhưng cũng vì nó mà Hùng mất khả năng thăng tiến Đau buồn, hối hận, anh Hùng quay về cuộc sống trung lập trước đây, lúc nào cũng e sợ, ngập ngừng Suốt phần đời còn lại, Hùng không hạnh phúc, luôn ở thế phòng ngự, lo lắng một lần nữa mình sẽ vong thân Rõ ràng, trong con người của anh cảm xúc đã hoàn toàn bị dập tắt, chôn vùi Hùng rơi vào bi kịch với nỗi cô đơn khôn tả
Bước vào thế giới của Thiên sứ, ta đều bắt gặp những thân phận cô đơn,
lẻ loi và dần dần bị tha hóa Xã hội điên đảo chạy theo danh vọng, tiền tài, địa
vị đã tước bỏ dần những cảm xúc, yêu thương, dịu dàng trong tình cảm giữa người với người Con người trở nên bé nhỏ, luôn sống trong sự lo âu, khắc khoải và đầy phiền muộn
Trang 33Có thể thấy, giữa Phạm Thị Hoài và các tác giả văn học phi lí phương
Tây có một sự gần gũi về mặt khai thác chủ đề của tác phẩm Trong Hóa
thân, nhân vật Gregor Samsa cũng phải sống trong nỗi cô đơn, bị tẩy chay
Samsa đi làm để nuôi sống cả gia đình của mình nhưng đến khi anh trở thành một con vật vô dụng thì cái chết của anh lại hóa thành niềm vui sướng, hạnh phúc của cả gia đình Samsa trở thành kẻ lạc lõng, không được ai cứu giúp
Và rồi anh rơi vào sự bất lực, bị ruồng rẫy Samsa dù có cố gắng vùng vẫy, quẫy đạp nhưng vẫn không thể thoát khỏi kiếp côn trùng Chu trình Người – Côn trùng – Cái chết là một chu trình khép kín, đầy vô vọng Samsa dù mang tình cảm người, ý thức người hay bổn phận người thì chết vẫn trong lốt của một con vật và bị đối xử như một con vật mà thôi Mối quan hệ giữa người với người phải được đặt trên cơ sở tình cảm Nhưng ở đây quan hệ giữa các thành viên trong gia đình Samsa lại được đặt trên cơ sở trách nhiệm – bổn phận Sự phá sản của tình yêu thương con người là do tính ích kỉ, cá nhân Khi Samsa không còn là Samsa – người chào hàng, người con, người anh quen thuộc trong cuộc sống thực dụng hàng ngày thì cả thế giới đã khai trừ anh ta ra khỏi cuộc sống Samsa đã dần dần tha hóa, anh lao động kiếm tiền là
vì gia đình (trả nợ cho ông bố, cho em gái học trường nhạc) chứ không phải vì chính mình Đến khi nhận ra mình hóa thành côn trùng, anh đã trở về với con người đích thực của mình – chỉ giống như con sâu bọ mà thôi
Đọc Vụ án, ta cũng bắt gặp chủ đề tương tự Josef K cũng vướng vào
một vụ án đầy bí hiểm mà chính bản thân anh chẳng hiểu gì Suốt một năm trời anh phải trải qua những cuộc thẩm vấn trước mặt những người trung gian chứ không được gặp bất cứ một quan tòa nào, để rồi đến ngày sinh nhật ba mươi mốt của mình, anh bị xử tử
Con người tạo ra pháp luật để bảo vệ cho quyền lợi chính đáng của con người Nhưng trong tác phẩm này, pháp luật lại trở thành một thế lực hù dọa
Trang 34con người Xã hội lại là một thiết chế đầy quyền uy, cứng nhắc mà con người không thể thoát ra cũng không thể hiểu được nó Sống trong xã hộ đó, con người thật sự cô đơn, bất lực Josef K lâm vào vụ án mà không có ai giúp đỡ
để tìm ra lối thoát cho mình Đi đến đâu, Josef K cũng gặp người của tòa án,
bị theo dõi và rình rập
Một mình anh phải đối đầu với một bộ máy đầy bí ẩn và khó hiểu Anh thực sự cô đơn và lạc lõng trong thế giới loài người Theo tiến trình của tác phẩm, ta cũng thấy Josfe K cũng ngày càng tha hóa Lúc đầu, Josef K còn phản ứng, chống lại tòa án nhưng càng về sau, Josef K càng tự giác tuân theo, chờ đợi cái chết giáng xuống đầu mình
Qua nhân vật Josef K chúng ta cảm nhận rõ sự cô đơn, bất lực của con người hiện đại Trước bộ máy quyền lực của kinh tế, luật pháp, con người không làm chủ được mình, dần dần bị tha hóa
So sánh chủ đề của Thiên sứ với các sáng tác của văn học phi lí, ta thấy
có nhiều nét tương đồng Nếu văn học phi lí đề cập đến vấn đề thân phận con người trong bối cảnh xã hội tư bản đang rơi vào tình trạng khủng hoảng nhiều
mặt thì Thiên sứ lại nói về vấn đề thân phận con người trong bối cảnh giao
thời, quá độ với nhiều hỗn độn, phức tạp đan xen Phạm Thị Hoài đã học tập, tiếp thu tinh thần của văn học phi lí trong việc thể hiện nỗi cô đơn, sự lạc lõng, lo âu và tha hóa của con người để phản ánh thực trạng xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỉ XX Đó là một sự tiếp thu sáng tạo và có nhiều thành công đáng kể
2.2 Dấu ấn cái phi lí trên bình diện nghệ thuật
Các nhà văn thời đổi mới cơ bản ý thức được rằng vấn đề của họ bây giờ không phải là viết cái gì mà là viết như thế nào, không phải là kể nội dung
mà là viết nội dung Tâm điểm của tiểu thuyết do thế dồn tụ vào vấn đề lối viết, vấn đề kết cấu Dấu ấn văn học phương Tây nói chung, văn học phi lí nói
Trang 35riêng trong tiểu thuyết Việt Nam không chỉ bộc lộ ở sự tương đồng về bình diện cảm quan mà còn thể hiện đậm nét trên bình diện hình thức nghệ thuật
Thiên sứ cũng không ngoại lệ
2.2.1 Cốt truyện phân mảnh, phi lôgic
Cốt truyện là một phương diện quan trọng của kết cấu Quan niệm truyền thống cho rằng cốt truyện là yếu tố góp phần bộc lộ tính cách nhân vật Theo cách hiểu trước đây, trong tiểu thuyết và truyện ngắn, hệ thống các sự kiện, biến cố liên quan chặt chẽ và thường được triển khai theo các thành
phần cơ bản sau: trình bày, thắt nút, phát triển, đỉnh điểm, mở nút
Đó là mô hình cốt truyện tuyến tính và có quan hệ nhân quả Theo đó, khi tác phẩm khép lại cũng là lúc số phận nhân vật đã được định đoạt hoặc có thể đoán trước được bước đi tiếp theo của nhân vật vì các dữ kiện đều nằm trong lôgic của truyện Cốt truyện chính là phương tiện cơ bản để nhà văn khắc họa nhân vật và tái hiện các xung đột xã hội Quan điểm trên đây về cốt truyện phù hợp với tinh thần của chủ nghĩa hiện thực
Tuy nhiên, theo quan điểm tự sự hiện đại, cốt truyện được hiểu như là
“toàn bộ các biến cố, sự kiện được kể ra, là cái nhà văn có thể đem kể lại” Tự
sự học hiện đại phân biệt cốt truyện và bản kể, theo đó, văn bản trần thuật là kết quả gia công trần thuật của người trần thuật đối với một cốt truyện Như vậy, có thể có một cốt truyện nhưng có nhiều cách kể khác nhau Thực chất, đây là chuyện “kể cái gì” (cốt truyện) và “kể thế nào” (tổ chức trần thuật) Các nhà văn khi cầm bút luôn có ý thức sáng tạo, làm mới cốt truyện
để có thể bộc lộ một cách hiệu quả nhất quan niệm của mình về cuộc sống, về con người và để lôi cuốn người đọc Trong cái nhìn của nhiều nhà tiểu thuyết hiện nay, vai trò của cốt truyện khá mờ nhạt Thậm chí, nhiều nhà văn không quá để tâm đến cốt truyện Vì thế, sau khi đọc xong một tiểu thuyết, người ta rất khó tóm tắt lại nó Đọc tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới, ta thấy các