Vì vậy, việc thực hiện đề tài nhằm tìm hiểu quy định pháp luật về chuyển giá ở Việt Nam, từ đó xem xét vai trò của hệ thống pháp luật đối với các chính sách công trong lĩnh vực này và gó
Trang 1ĐỀ TÀI: CHUYỂN GIÁ – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN
I Mục tiêu nghiên cứu:
Với sự phát triển mạnh mẽ của các tập đoàn, sự gia tăng của các dự án đầu tư trong và ngoài nước, hiện tượng chuyển giá thực sự đang tạo ra nhiều
lo ngại khi gây ra thất thu thuế rất lớn cho quốc gia Vì vậy, việc thực hiện
đề tài nhằm tìm hiểu quy định pháp luật về chuyển giá ở Việt Nam, từ đó xem xét vai trò của hệ thống pháp luật đối với các chính sách công trong lĩnh vực này và góp phần xây dựng một nhà nước mạnh, hiệu năng
II Đánh giá hiện trạng:
Trong quá trình toàn cầu hóa và quốc tế hóa, chuyển giá đã trở thành một xu hướng tất yếu và có tác động tới nền kinh tế của rất nhiều quốc gia Nhiều nước bắt đầu đưa vấn đề chống chuyển giá vào trong pháp luật về thuế của quốc gia
Tại Việt Nam, theo số liệu từ Bộ Tài chính thì hiện có 20 - 30% trong
tổng số doanh nghiệp (DN) FDI đang hoạt động trên các địa bàn kê khai có
kết quả kinh doanh lỗ liên tiếp trong 2 - 3 năm, thậm chí 5 năm Rõ ràng với các quy định hiện hành, nếu DN rơi vào tình trạng thua lỗ thì DN sẽ tránh được việc nộp thuế Nhưng đối với các DN FDI thì lại tồn tại một nghịch lý
là dù lỗ triền miên, nhưng các DN này vẫn liên tục mở rộng hoạt động sản xuất - kinh doanh
Theo nhìn nhận của các chuyên gia, đây là biểu hiện của tình trạng lợi dụng việc chuyển giá để gian lận, trốn thuế Các DN FDI này đã dùng những phương thức khác nhau để trốn tránh các khoản thuế, phí thông qua việc báo
Trang 2lỗ trong hoạt động kinh doanh, sau đó chuyển lợi nhuận về công ty mẹ ở nước ngoài Phổ biến hơn cả là việc kê giá nguyên liệu đầu vào rất cao, đồng thời tìm mọi cách khai tăng chi phí quảng cáo, khuyến mãi nhằm triệt tiêu lợi nhuận Ngoài ra, để có thể “phù phép” lãi thành lỗ thông qua hình thức chuyển giá, DN FDI không thể làm riêng lẻ mà hoạt động trong cùng tập đoàn hoặc liên kết thành từng nhóm Từ đó, các đơn vị này tự dàn xếp giá với nhau thông qua các giao dịch liên kết nhằm tìm kiếm thêm lợi nhuận
mà không phải bỏ thêm vốn hay mở rộng sản xuất
Ví dụ: Công ty Coca - Cola Việt Nam bị lỗ liên tục kể từ khi bước chân vào thị trường Việt Nam (năm 1994) mặc dù ngành kinh doanh nước giải khát được đánh giá là có khả năng sinh lợi cao Trước tình hình này ngành thuế đã bắt tay vào tìm hiểu thực hư Kết quả phân tích cho thấy trong
cơ cấu chi phí của Coca - Cola Việt Nam, chi phí nguyên vật liệu (hương liệu độc quyền do công ty mẹ cung cấp) chiếm tỉ lệ cao nhất Do có 40% chi phí nguyên vật liệu thuộc giao dịch nội bộ của tập đoàn này nên ngành thuế nghi ngờ Coca - Cola Việt Nam đã định giá cao chi phí đầu vào để giảm thiểu gánh nặng về thuế
Tuy nhiên, để có thể tìm hiểu giá đã được “thổi phồng” như thế nào thì ngành thuế không thể xác định được, vì không thể điều tra ra giá nguyên vật liệu của Coca - Cola đã được mua bán ra sao đối với các công ty con ở các nước khác của tập đoàn này Thực trạng này không những gây thất thu thuế cho nhà nước mà còn dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa
DN trong nước và DN FDI…
Như vậy, sự cần thiết tăng cường quản lý đối với vấn đề chuyển giá của cơ quan thuế một phần cũng xuất phát từ khuynh hướng toàn cầu về hợp
Trang 3tác và trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế các quốc gia có vai trò rất quan trọng Văn bản pháp luật đầu tiên có riêng một phần đề cập đến chuyển giá
là Thông tư 74TC/TCT hướng dẫn về thuế đối với nhà đầu tư nước ngoài, nhưng vấn đề chuyển giá thực tế cũng đã được đề cập tại Công văn 1664 ngày 11/10/1994 hướng dẫn thực hiện hiệp định tránh đánh thuế hai lần, Công văn này đã đề cập đến khái niệm “những xí nghiệp liên kết” trong đó quy định Việt Nam và nước ký kết hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam có quyền áp dụng những quy định của mình về việc chống chuyển giá giữa các xí nghiệp liên kết, giữa các xí nghiệp có quan hệ kinh tế với nhau mà khác với quan hệ kinh tế giữa các xí nghiệp độc lập1 Sau đó Thông tư 89/1999/TT-BTC (thay thế Thông tư 74), Thông tư 13/2001/TT-BTC (thay thế Thông tư 89) đề cập một cách ngắn gọn những quy định cơ bản về chuyển giá, cả ba Thông tư kể trên đều có nội dung quy định về các biện pháp chống chuyển giá hoàn toàn trùng khớp nhau, tất cả các văn bản này đều thiếu hướng dẫn chi tiết, gây ra nhiều thắc mắc xung quanh quy định của các văn bản Chính bởi những quy định còn sơ sài, chưa sát với thực tế càng làm cho vấn đề chuyển giá trở nên rối rắm, khó khăn và dẫn đến việc áp dụng không đúng, không thể thực hiện một cách hiệu quả trong thực tiễn, gây khó khăn cho cơ quan áp dụng và không kiểm soát được vấn
đề chuyển giá
Tiếp đến Thông tư 13 được thay thế bằng Thông tư 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 Không giống như Thông tư 13 chỉ quy định riêng DN có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Thông tư 128 áp dụng đối với tất cả các DN được thành lập tại Việt Nam Tuy nhiên, những quy định cụ thể về chuyển giá tại Thông tư 13 đã không còn được ghi nhận tại Thông tư 128
Trang 4Sau gần hai năm dài chuẩn bị, vào ngày 19/12/2005, chuyển giá đã được nhắc lại tại Thông tư 117/2005/TT-BTC (có hiệu lực ngày 26/1/2006)
do Bộ Tài chính ban hành về hướng dẫn việc thực hiện xác định giá thị trường trong các giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết Khác biệt rất lớn so với các văn bản trước đây, vốn chỉ quy định áp dụng đối với DN có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các bên liên kết, văn bản mới đã mở rộng sang tất cả các giao dịch trong nước và quốc tế Thông tư 117/2005/TT-BTC có thể được xem là văn bản pháp lý điều chỉnh một cách khá chi tiết về biện pháp chống chuyển giá bằng phương pháp định giá chuyển giao Ý nghĩa của việc định giá chuyển giao là xác định lại giá giao dịch giữa các DN liên kết nhằm đưa giá giao dịch liên kết về đúng với giá thị trường Có thể nói mặc dù chuyển giá đã được quy định trước đó tại Thông tư 74, Thông tư 89, Thông tư 13 nhưng chỉ đến khi Thông tư 117 được ban hành thì hệ thống quy định pháp luật của Việt Nam về chuyển giá mới được chú ý và được các công ty đa quốc gia thực sự quan tâm Điều này được thể hiện rõ hơn trong báo cáo khảo sát về chuyển giá toàn cầu của công ty kiểm toán Ernst & Young về chuyển giá, trong đó có ghi nhận Việt Nam là một trong những quốc gia có quy định pháp luật hiệu quả về việc lưu giữ và cung cấp dữ liệu chứng từ2 trong chuyển giá
Mặc dù được đánh giá là đã tạo ra một bước tiến lớn so với những quy định về chuyển giá của Việt Nam trước đây nhưng Thông tư 117 vẫn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định, dẫn đến sự ra đời của Thông
tư
66/2010/TT-BTC bàn hành ngày 22 tháng 4 năm 2010 về việc hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các
Trang 5bên có quan hệ liên kết để khắc phục một số điểm chưa phù hợp của Thông
tư 117
III Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Mặc dù những quy định về chuyển giá của Việt Nam liên tục thay đổi
để kiểm soát việc chống thất thu thuế cho chính phủ trong vấn đề chuyển giá của DN nhưng cũng không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định nên trong tình hình hiện tại việc áp dụng những quy định về chuyển giá này
có thể chưa phù hợp, làm phát sinh một số khó khăn cho cả đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế Vì vậy, chúng ta cần nhận thức đầy đủ về chuyển giá trong kinh doanh quốc tế để có đối sách phù hợp, vừa tạo động lực khuyến khích đầu tư nước ngoài, vừa giảm thiểu thất thoát thuế do tác động của định giá chuyển giao Đồng thời, cần xây dựng một khuôn khổ pháp lý về giá chuyển giao, đây cũng là điều các nhà hoạch định chính sách thuế ở Việt Nam cần vận dụng để đảm bảo chống thất thu thuế
Từ những nội dung được đề cập kể trên, có thể thấy được tầm quan trọng của việc tìm hiểu về chuyển giá Trong phạm vi hạn hẹp của báo cáo,
và khoảng thời gian ít ỏi, không cho phép đi sâu phân tích về các khía cạnh của chuyển giá (về kỹ thuật tính toán) Vì vậy, dưới đây chỉ là một số vấn đề
cơ bản về chuyển giá và nhận định khái quát các quy định về chuyển giá giúp có cái nhìn tổng quát về vấn đề chuyển giá, một hiện tượng mà nước ta đang quan tâm trong thời gian gần đây
Dựa trên Khung phân tích (lựa chọn các tiêu chí đánh giá) và dựa trên tiêu chuẩn phân tích để đánh giá 1 pháp luật tốt theo Điều 36.3, 43 Luật VBPL 2008:
• Cần thiết
Trang 6• Phù hợp với chính sách của Đảng
• Hợp hiến, hợp pháp
• Khả thi
• Kỹ thuật thể hiện
IV Đánh giá luật hiện nay:
1 Thông tư số 74 TC/TCT ngày 20/10/1997 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
(Luật Đầu tư nước ngoài ngày 12/11/1996)
- Trong đó lần đầu tiên có đề cập định nghĩa khái niệm công ty liên kết, bao gồm:
(i) Một công ty có đóng góp vào vốn pháp định hoặc vốn cổ phần
của một công ty khác
(ii) Hai công ty cùng chịu sự kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp của một công ty khác hoặc hai công ty cùng có một công ty khác góp vốn cổ phần
- Phương pháp chống chuyển giá:
(i) Phương pháp so sánh giá thị trường tự do
(ii) Phương pháp sử dụng giá bán ra để xác định giá mua vào
(iii) Phương pháp sử dụng giá thành toàn bộ để xác định lợi tức chịu
thuế
2 Công văn số 1664-TCT/HTQT ngày 11/10/1994 của Tổng Cục thuế, Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện hiệp định tránh đánh thuế 2 lần
Trang 7Trong đó có giải thích nội dung của Điều 9 "Những xí nghiệp liên kết" quy định Việt Nam và nước ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam có quyền áp dụng những quy định của mình về việc chống chuyển giá giữa các xí nghiệp liên kết, giữa các xí nghiệp có quan hệ kinh tế với nhau mà khác với quan hệ kinh tế giữa các xí nghiệp độc lập.
3 Thông tư số 89/1999/TT-BTC ngày 16/07/1999 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (thay thế Thông tư 74)
Định nghĩa DN liên kết bao gồm:
(i) Một DN tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát hoặc góp vốn pháp định hoặc vốn cổ phần vào một DN khác
(ii) Hai DN cùng chịu sự điều hành, kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp của một DN khác hoặc hai DN cùng có một DN khác tham gia góp vốn Phương pháp chống chuyển giá:
(i) Phương pháp so sánh giá thị trường;
(ii) Phương pháp sử dụng giá bán ra để xác định giá mua vào
(iii) Phương pháp sử dụng giá thành toàn bộ để xác định thu nhập
chịu thuế
4 Thông tư số 13/2001/TT-BTC ngày 08/03/2001 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (thay thế Thông tư 89).
Định nghĩa DN liên kết và các phương pháp chống chuyển giá không thay đổi gì so với Thông tư 89/1999 của Bộ Tài chính
5 Thông tư số 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 của Bộ Tài chính
về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày
Trang 822/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập Doanh nghiệp (được ban hành ngày 17/06/2003)
Văn bản này chủ yếu là quy định về cách thức tính thuế, chỉ có 1 đoạn nhỏ “Các khoản thu nhập từ các hoạt động góp vốn cổ phần, liên doanh, liên kết kinh tế trong nước Trường hợp khoản thu nhập nhận được là thu nhập được chia từ thu nhập sau thuế của hoạt động góp vốn cổ phần, liên doanh, liên kết kinh tế thì cơ sở kinh doanh nhận được khoản thu nhập không phải nộp thuế thu nhập DN
6 Thông tư 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 của Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn việc thực hiện xác định giá thị trường trong các giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết.
Định nghĩa DN liên kết khi:
(i) Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào bên kia
(ii) Các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức của một bên khác
(iii) Các bên cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào một bên khác
Thông thường, hai cơ sở kinh doanh sẽ được coi là có quan hệ liên kết trong
một kỳ tính thuế nếu trong kỳ đó:
a) Một cơ sở kinh doanh nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 20% vốn cổ phần hoặc tổng tài sản của cơ sở kinh doanh kia; hoặc
b) Cả hai cơ sở kinh doanh đều có ít nhất 20% vốn cổ phần hoặc tổng tài sản do một cơ sở kinh doanh hoặc bên thứ ba nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp; hoặc
Trang 9c) Một cơ sở kinh doanh là cổ đông lớn nhất nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp cổ phần có giá trị ít nhất 10% vốn cổ phần hoặc tổng tài sản của một cơ sở kinh doanh khác; hoặc
d) Một cơ sở kinh doanh bảo lãnh hoặc cho một cơ sở kinh doanh khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào với điều kiện khoản vay chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của cơ sở kinh doanh đi vay; hoặc
e) Một cơ sở kinh doanh chỉ định thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc kiểm soát của một cơ sở kinh doanh khác với điều kiện số lượng các thành viên được cơ sở kinh doanh thứ nhất chỉ định chiếm trên 50% tổng số thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc kiểm soát của cơ sở kinh doanh thứ hai; hoặc một thành viên được cơ sở kinh doanh thứ nhất chỉ định có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của cơ sở kinh doanh thứ hai; hoặc
f) Hai cơ sở kinh doanh cùng có trên 50% thành viên ban lãnh đạo hoặc cùng có một thành viên ban lãnh đạo có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh được chỉ định bởi một bên thứ ba; hoặc
g) Hai cơ sở kinh doanh được điều hành hoặc chịu sự kiểm soát về nhân sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân cùng là thành viên của một gia đình trong các mối quan hệ giữa vợ và chồng; bố, mẹ và các con (không phân biệt con đẻ, con nuôi hoặc con dâu, con rể); anh, chị,
em có cùng cha, mẹ (không phân biệt cha, mẹ đẻ, cha, mẹ nuôi); ông bà và cháu có quan hệ huyết thống; cô, chú, bác, cậu, dì và cháu có quan hệ huyết thống với nhau; hoặc
Trang 10h) Hai cơ sở kinh doanh có mối quan hệ trụ sở chính và cơ sở thường trú hoặc cùng là cơ sở thường trú của tổ chức, cá nhân nước ngoài; hoặc
i) Một cơ sở kinh doanh sản xuất, kinh doanh sản phẩm sử dụng tài sản vô hình và/hoặc quyền sở hữu trí tuệ của một cơ sở kinh doanh khác với điều kiện chi phí phải trả cho việc sử dụng tài sản vô hình và/hoặc quyền sở hữu trí tuệ đó chiếm trên 50% giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm; hoặc
j) Một cơ sở kinh doanh cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50% tổng giá trị nguyên vật liệu, vật tư hoặc sản phẩm đầu vào (không bao gồm chi phí khấu hao đối với tài sản cố định) để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm đầu ra có liên quan của một cơ sở kinh doanh khác; hoặc
k) Một cơ sở kinh doanh kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50% sản lượng tiêu thụ (tính theo từng chủng loại sản phẩm) của một cơ sở kinh doanh khác; hoặc
l) Hai cơ sở kinh doanh có thỏa thuận hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng
Phương pháp xác định giá thị trường:
- Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập;
- Phương pháp giá bán lại;
- Phương pháp giá vốn cộng lãi;
- Phương pháp so sánh lợi nhuận;
- Phương pháp tách lợi nhuận
Yêu thông lưu giữ và cung cấp chứng từ về phương pháp định giá thị trường
Có biểu mẫu kê khai thông tin về giao dịch liên kết
Trang 117 Thông tư 66/2010/TT-BTC ngày 24/04/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc thực hiện xác định giá thị trường trong các giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết (bãi bỏ Thông tư 117/2005)
Định nghĩa DN liên kết chỉ có vài thay đổi nhỏ với quy định bổ sung là:
c) Cả hai DN đều nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 20% vốn đầu
tư của chủ sở hữu của một bên thứ ba;
Phương pháp xác định giá thị trường: vẫn giữ nguyên 5 phương pháp
QUY
ĐỊNH
Thông tư
số 74 TC/TCT ngày 20/10/199 7
Thông tư
số 89/1999/
TT-BTC ngày 16/07/199 9
Thông tư
số 13/2001/T T-BTC
Thông tư
số 128/2003/
TT-BTC ngày 22/12/200 3
Thông tư 117/2005/T T-BTC ngày 19/12/2005
Thông tư 66/2010/T T-BTC ngày 24/04/201 0
3 tiêu chí lớn và 15 tiêu chí nhỏ
3 phương pháp xác định giá thị trường
3 phương pháp xác định giá thị trường
Không đề cập
5 phương pháp xác định giá thị trường
5 phương pháp xác định giá thị trường
V Quy trình xử lý khi DN có sự chuyển giá
Quy trình xử lý DN chuyển giá:
Nhận diện dấu
hiệu chuyển
giá
Phối hợp tìm kiếm và đánh giá thông tin
Thanh tra, kiểm tra
Lưu trữ thông tin
Đề xuất xử lý
Tiến hành xử lý
và yêu cầu thực
Vi phạm