1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

78 191 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 607,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người đồng tính, song tính và chuyển giới viết tắt là LGBT là một nhóm người có xu hướng tính dục và bản dạng giới thiểu số trong xã hội, sự tồn tại của họ mang tính tự nhiên, do bẩm sin

Trang 2

liệu, số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan Mọi trích dẫn từ các tài liệu khác tôi đều ghi rõ thông tin đầy đủ về nguồn gốc Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những gì tôi viết trong luận văn

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

ĐẶNG HOÀNG HIẾU

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI 6

1.1 Khái niệm người đồng tính, song tính, chuyển giới, quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới 6

1.1.1 Khái niệm người đồng tính, song tính, chuyển giới 6

1.1.2 Khái niệm quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới 8

1.2 Đặc điểm quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới 10

1.2.1 Quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới mang đặc tính quyền tự nhiên của con người 10

1.2.2 Quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới là quyền của thiểu số 12

1.2.3 Việc thực hiện quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới không thuận lợi do rào cản của truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc 13

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới 15

1.3.1 Yếu tố truyền thống văn hóa 15

1.3.2 Yếu tố chính trị 17

1.3.3 Yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo 17

1.3.4 Yếu tố pháp luật 19

1.4 Quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới quy định trong pháp luật quốc tế và một số quốc gia 20

1.4.1 Quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới trong pháp luật quốc tế 20

Trang 4

CHƯƠNG 2 – THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 34

2.1 Đặc điểm của cộng đồng người đồng tính, song tính, chuyển giới tại Việt Nam 34 2.2 Quy định của pháp luật và thực hiện quy định của pháp luật về quyền của người đồng tính, song tính và người chuyển giới ở nước ta hiện nay 36 2.2.1 Quy định của Hiến pháp và thực hiện quy định của Hiến pháp về quyền của người đồng tính, song tính và người chuyển giới 37

2.2.2 Quy định của pháp luật Dân sự và thực hiện quy định của pháp luật

2.2.3 Quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình và thực hiện quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình về quyền của người đồng tính, song tính

và người chuyển giới 42

2.2.4 Quy định của pháp luật Hành chính và thực hiện quy định của pháp luật Hành chính về quyền của người đồng tính, song tính và người chuyển giới 44

2.2.5 Quy định của pháp luật Hình sự và thực hiện quy định của pháp luật

2.2.6 Quy định của pháp luật Lao động và thực hiện quy định của pháp luật

CHƯƠNG 3 - QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CON

NGƯỜI CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 52

Trang 5

3.1.1 Bảo đảm quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới phải phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, quyền công dân. 52

3.1.2 Bảo đảm quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới phải đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền của người thiểu số ở nước ta 53

3.1.3 Bảo đảm quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới phải kết hợp hài hòa với truyền thống văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc 54

3.2 Giải pháp bảo đảm quyền con người của người đồng tính, song tính và

chuyển giới ở Việt Nam hiện nay 55 3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện pháp luật đáp ứng nhu cầu bảo đảm quyền con

3.2.2 Tăng cường công tác tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người của người đồng tính, song tính và người chuyển giới ở Việt Nam 62

3.2.3 Giáo dục, nâng cao nhận thức về người đồng tính, song tính và người chuyển giới trong xã hội ở Việt Nam hiện nay 64

KẾT LUẬN 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 6

Tố tụng hình sự

Ủy ban nhân dân

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Có nhiều yếu tố để tạo nên một con người như: tuổi tác, giới tính, dân tộc, tình trạng cơ thể… Tất cả chúng ta cũng đều có một xu hướng tính dục và bản dạng giới Con người có các xu hướng tính dục như: dị tính (thích người khác giới), đồng tính (thích người cùng giới) hoặc song tính (thích cả hai giới) Một người có thể hài lòng hoặc không hài lòng với giới tính bẩm sinh của mình cũng như có những thể hiện giới khác nhau Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do

và bình đẳng, Điều 1 Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền đã ghi rõ như vậy Người đồng tính, song tính và chuyển giới (viết tắt là LGBT) là một nhóm người

có xu hướng tính dục và bản dạng giới thiểu số trong xã hội, sự tồn tại của họ mang tính tự nhiên, do bẩm sinh, không phải là bệnh lý, không có khả năng lây nhiễm từ người này sang người khác Quyền của người LGBT thuộc nhóm quyền của những đối tượng dễ bị tổn thương Quá trình ghi nhận, bảo vệ quyền của người LGBT thường phải trải qua thời gian rất dài, thậm chí, có sự tranh luận về mặt chính trị, văn hóa, xã hội

Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, nhiều người đã công khai xu hướng tính dục và bản dạng giới của mình là LGBT, tuyên truyền, tham gia vận động bảo vệ quyền cho cộng đồng LGBT, thể hiện nhu cầu và mong muốn đối với Nhà nước Nhu cầu được bảo vệ quyền con người của người LGBT là một thực

tế có thật tại Việt Nam thời gian qua Tuy nhiên, việc thừa nhận những xu hướng quyền mới, quan niệm mới về quyền LGBT thực sự vướng nhiều rào cản khó khăn vì những lý do như truyền thống, tôn giáo….Nhận thức về cộng đồng LGBT của xã hội Việt Nam còn khá bất cập và đang tồn tại nhiều định kiến, kì thị rõ nét Hơn nữa, mặc dù người LGBT là một nhóm người có số lượng không nhỏ trong xã hội, nhưng quyền lợi chính đáng của họ chưa được Nhà nước và xã hội quan tâm một cách đúng mức, một số quyền của họ như: Quyền được xác định lại giới tính, quyền được thay đổi họ tên và đặc biệt là quyền được bình

Trang 8

đẳng trước pháp luật, không bị kì thị và phân biệt đối xử chưa được quy định rõ ràng trong pháp luật, dẫn đến địa vị pháp lý của họ không được bảo đảm, bản thân họ cũng như những người khác trong xã hội không hiểu biết cũng như không tôn trọng những quyền con người cơ bản của họ.Và các cơ quan nhà nước cũng gặp khó khăn khi bảo vệ quyền lợi chính đáng hoặc xử lý hành vi vi phạm của LGBT

Từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Quyền con người của

người đồng tính, song tính và chuyển giới – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo Thạc sĩ Luật học cho bản

thân

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Có thể nói quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới

là một vấn đề mới, phức tạp và cấp thiết mang tính lí luận và thực tiễn của luật học Nghiên cứu vấn đề này không chỉ có ý nghĩa trong công tác xây dựng pháp luật mà còn để hạn chế, lường trước những hệ quả xấu có thể phát sinh trên thực

tế, những quy phạm pháp luật đưa ra thiếu tính khả thi

Vấn đề quyền của người LGBT ở Việt Nam hiện nay đang là tâm điểm chú

ý trên nhiều diễn đàn, các trang thông tin điện tử các mặt báo… Trong đó, có rất nhiều ý kiến trái chiều xung quanh việc nên hay không nên thừa nhận quyền của nhóm người này Chính vì vậy các nhà lập pháp Việt Nam, chủ trì là Bộ Tư Pháp hiện đang tiến hành các cuộc khảo sát, thăm dò ý kiến dư luận về vấn đề có những quy định pháp luật bảo đảm quyền của nhóm người thiểu số này

Ở góc độ nghiên cứu khoa học, thì mới chỉ dừng lại đa số là các bài viết và tác phẩm của các chuyên gia đặc biệt quan tâm đến vấn đề quyền của LGBT tại Việt Nam Các công trình nghiên cứu còn nhiều hạn chế do vấn đề này chưa thực

sự được quan tâm và nghiên cứu

Một số bài viết tiêu biểu như sau:

Trang 9

- Bài viết đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý số đặc san 3 năm 2013 của

tác giả Thái Thị Tuyết Dung và Vũ Thị Thúy với nhan đề: “Bảo đảm quyền của

người đồng tính, song tính, chuyển giới và vấn đề sửa đổi Hiến pháp”

- Bài viết đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật) số tháng 6 năm 2013 của tác giả Trương Hồng Quang với nhan đề:

“Các vấn đề xã hội và pháp lý về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay”

- Báo cáo: “Người đồng tính, song tính và chuyển giới: một số vấn đề pháp

lý đặt ra tại Việt Nam hiện nay” – Trương Hồng Quang – Tọa đàm sinh hoạt

khoa học do Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) tổ chức ngày 04-10-2013 tại

Hà Nội

- Bài viết đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và

Pháp luật) số tháng 11 năm 2013 với nhan đề: “Một số kiến nghị bảo vệ quyền

của người đồng tính tại Việt Nam”

- Sách: “Tìm hiểu một số vấn đề dưới góc độ pháp lý về đồng tính, song

tính và chuyển giới” của tác giả Trương Hồng Quang

- “Quyền con người được sống theo đúng giới tính của mình” – Cao Vũ

Minh tại Kỷ yếu tọa đàm khoa học Vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 12 năm 2010

- “Một số vấn đề về thừa nhận quyền của người đồng tính ở Việt Nam”,

Thái Thị Tuyết Dung tại Kỷ yếu tọa đàm khoa học Vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 12 năm 2010

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích của luận văn là đưa ra được một cái nhìn toàn diện, có tính hệ thống và khoa học về các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền con người của người LGBT trên thế giới và ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất những quan

Trang 10

điểm, giải pháp nhằm bảo đảm quyền con người của người đồng tính, song tính

và chuyển giới ở nước ta trong thời gian tới

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ cơ bản sau:

Thứ nhất, luận văn phân tích những vấn đề lý luận chung về quyền con

người của người đồng tính, song tính và chuyển giới

Thứ hai, luận văn phân tích thực trạng quyền con người của người đồng

tính, song tính và chuyển giới ở nước ta hiện nay

Thứ ba, luận văn đưa ra quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền con người

của người đồng tính, song tính và chuyển giới ở nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn về quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới ở trên thế giới và ở Việt Nam và từ đó đề ra một số phương hướng để bảo đảm quyền con người của LGBT ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu quy định và thực trạng

thực hiện quy định của pháp luật về các quyền đặc biệt của người đồng tính, song tính và chuyển giới từ năm 2000 trở lại đây

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng về nhà nước, pháp luật, về con người; những thành tựu của khoa

học, triết học, lịch sử

Để thực hiện tốt việc nghiên cứu đề tài, trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp thống kê,

phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh …

6 Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về những vấn đề pháp lý, thực tiễn về quyền con người của cộng đồng LGBT ở trên thế giới và ở Việt

Trang 11

Nam Giúp người đọc nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn về cộng đồng LGBT, đặc biệt là vấn đề bảo đảm quyền con người của nhóm người thiểu số này

Luận văn kế thừa, phát triển những nghiên cứu hiện có về vấn đề này, đồng thời bổ sung một số thông tin và phân tích mới góp phần làm sáng tỏ hơn thực trạng và xu hướng bảo đảm quyền con người của cộng đồng LGBT trên thế giới Luận văn cũng đề xuất những quan điểm, giải pháp cụ thể về bảo đảm quyền con người của LGBT ở nước ta trong thời gian tới – điều mà còn chưa được đề cập

cụ thể, rõ ràng và đầy đủ trong các công trình hiện có

7 Cơ cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn bao gồm: Phần mở đầu, phần nội dung, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền con người của người đồng tính,

song tính và chuyển giới

Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật và thực hiện quy định của

pháp luật về quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới ở nước ta hiện nay

Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền con người của người

đồng tính, song tính và chuyển giới ở nước ta hiện nay

Trang 12

CHƯƠNG 1 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI

1.1 Khái niệm người đồng tính, song tính, chuyển giới, quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới

1.1.1 Khái niệm người đồng tính, song tính, chuyển giới

Dựa trên các xu hướng tính dục và bản dạng giới, người đồng tính, song tính và chuyển giới đã được định nghĩa như sau [18]:

Người đồng tính (Homosexual): là một người nam hoặc nữ, có sự hấp dẫn

về cảm xúc, tình cảm hoặc tình dục với người cùng giới Người đồng tính nam

thường được gọi là “gay”, người đồng tính nữ thường được gọi là “les” hay

“lesbian”

Người song tính (Bisexual): là một người nam hoặc nữ, có sự hấp dẫn về

cảm xúc, tình cảm hoặc tình dục với cả hai giới nam và nữ nhưng không nhất thiết cùng một lúc hoặc ngang bằng nhau Song tính còn được gọi là lưỡng tính Song tính không phải là một giai đoạn nhất thời hay đang chần chừ mà là một xu hướng tính dục tự nhiên của con người

Người chuyển giới (Transgender): là những người có bản dạng giới hay thể

hiện giới khác với những quy ước và mong đợi chung dành cho giới tính sinh học của họ Một số cách gọi khác của người chuyển giới là người hoán tính, người xuyên giới/vượt giới hoặc là người chuyển đổi giới tính

Người chuyển giới bao gồm người chuyển đổi giới tính (từ nam sang nữ

hoặc từ nữ sang nam, có thể đã phẫu thuật chuyển giới hoặc chưa phẫu thuật

chuyển giới); người ăn mặc chuyển giới tiếng Anh là “cross dresser” (nam ăn mặc như nữ và nữ ăn mặc như nam) và người biểu diễn ăn mặc chuyển giới

(tiếng Anh là “drogqueen” cho nam và “drogking” cho nữ): đó là những người

ăn mặc theo giới kia nhằm mục đích biểu diễn giải trí cho các quán bar, câu lạc

bộ, các sự kiện nói chung

Trang 13

Người chuyển giới có suy nghĩ về việc mình mang giới tính trái với “giới

tính sinh học” của mình Họ mong muốn được xã hội thừa nhận giới tính khác

nên có khuynh hướng nhờ đến sự can thiệp của y học để phẫu thuật chuyển đổi

giới tính, “mong muốn tìm lại giới tính thật của mình” Họ tin rằng giới tính

được sinh ra của họ là sai lệch so với con người thật của họ

Cho đến nay, các nhà tâm thần học, tâm lý học và chuyên gia sức khỏe tâm

thần đã đồng ý với nhau rằng đồng tính không phải là bệnh, rối loạn tâm lý hay

vấn đề về cảm xúc Tổ chức y tế thế giới (WHO) và Hiệp hội tâm lý học Hoa Kì APA đã xác nhận dị tính, đồng tính hay song tính đều là những xu hướng tính dục bình thường, tự nhiên và là hiện thực của loài người Năm 1990 WHO đã chính thức loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh

LGBT là những người có cấu trúc gen, sinh học, nội tiết tố bình thường; hình thể là nam hay nữ bình thường; và họ có cảm nhận về giới là nam hay nữ rõ ràng Họ chỉ khác với đa số người khác ở xu hướng tính dục và bản dạng giới Nguyên nhân vì sao một người có xu hướng tính dục khác so với phần lớn người trong xã hội thì y học ngày nay không rõ Tuy nhiên, đây không phải là sự lựa chọn do ý thức cá nhân vì xu hướng tính dục này hình thành từ rất sớm, cá nhân người đó và cha mẹ họ hoàn toàn không thể kiểm soát được và không chịu trách nhiệm về xu hướng này

LGBT không phải là người có bệnh lý tâm thần hay rối loạn nhân cách, hành vi tình dục đồng giới của họ không thể lây nhiễm cho người có xu hướng tình dục dị tính Vì vậy, không thể ép buộc, điều trị hoặc áp dụng liệu pháp tâm

lý để xóa bỏ được xu hướng tính dục đồng giới; cũng như không thể làm một người có xu hướng tính dục khác giới thành một người có xu hướng tính dục đồng giới Việc cố gắng điều trị nhằm làm thay đổi xu hướng tính dục không những không có tác dụng mà còn có những tác hại rất lớn

Theo các nghiên cứu xã hội học, tỉ lệ cộng đồng LGBT gần như không thay đổi ở mọi xã hội, thời đại: thường chiếm khoảng 3-5% dân số mỗi quốc gia - tỉ lệ

Trang 14

này gồm cả người có quan hệ luyến ái với người cùng giới ở mức độ không thường xuyên Nếu so tỷ lệ trên với bảy tỉ người trên thế giới hiện nay, thì số LGBT có một số lượng không nhỏ Nếu lấy tỉ lệ trung bình an toàn mà nhiều nhà khoa học thừa nhận là 3% dân số là LGBT thì số LGBT ở Việt Nam trong độ tuổi từ 15 đến 59 tạm tính khoảng 1,65 triệu người (tính theo dân số Việt Nam năm 2007 có 55,38 triệu người trong độ tuổi 15 đến 59) [31]

1.1.2 Khái niệm quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới

Theo Từ điển luật học quyền là những hành vi hợp pháp mà các cá nhân, pháp nhân, nhà nước thực hiện, không ai có thể ngăn cấm[32] Việc thực hiện quyền phụ thuộc vào ý chí của chủ thể, không bắt buộc, trừ những trường hợp quyền đồng thời là nghĩa vụ, trách nhiệm

Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người, quyền con người (human rights) là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người [6]

Quyền con người là giá trị thiêng liêng của một người từ khi sinh ra đến khi chết đi Thực tế, thế giới đã công nhận các quyền con người này từ rất lâu và được ghi nhận trong các văn kiện như: Hiến chương Liên hợp quốc (1945), Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (1948), Công ước quốc tế về các quyền dân

sự và chính trị (1966), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966), Công ước chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW)…

Quyền con người được xác định là những chuẩn mực được cộng đồng quốc

tế thừa nhận và tuân thủ Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người Nhờ có những chuẩn mực này, mọi người trên thế giới mới được bảo vệ nhân phẩm và

Trang 15

mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người Quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử

Quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới thuộc nhóm quyền của những đối tượng dễ bị tổn thương Nhóm đối tượng dễ bị tổn

thương có thể được hiểu là “nhóm cộng đồng có vị thế về chính trị, xã hội hoặc

kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn bị bỏ quên hay bị vi phạm các quyền con người, và bởi vì vậy, họ cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng người khác”[28]

Mặc dù cho đến nay, quyền con người của người LGBT mới phát sinh trong xã hội và có nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, có thể khái quát rằng, quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ nhóm người LGBT chống lại những hành động kì thị, miệt thị, xúc phạm và phân biệt đối xử làm tổn hại đến nhân phẩm, đến việc thực hiện quyền tự do cơ bản của nhóm người này Bao gồm tất

cả những quyền mà một cá nhân là con người được hưởng (ví dụ như quyền mưu cầu hạnh phúc, đối xử bình đẳng) và là những quyền đặc thù chung của một nhóm xã hội nhất định, ở đây đề cập đến nhóm xã hội có xu hướng tính dục và bản dạng giới khác so với phần lớn người trong xã hội (ví dụ quyền được phẫu thuật chuyển đổi giới tính, quyền kết hôn của những người đồng tính…) Họ là nhóm xã hội phải chịu thiệt thòi và có xuất phát điểm thấp hơn cho nên họ xứng đáng và cần thiết được hưởng các quyền đặc thù (các quyền của nhóm) để có thế đạt được sự bình đẳng thực chất với các nhóm khác trong việc thụ hưởng các quyền con người Thừa nhận và bảo đảm quyền con người của người LGBT là hết sức cần thiết để giữ cho một xã hội ổn định, phát triển Việc phủ nhận, coi nhẹ bất cứ quyền nào của họ đều có thể dẫn đến mất ổn định xã hội

Trang 16

1.2 Đặc điểm quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới

1.2.1 Quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới mang đặc tính quyền tự nhiên của con người

Người LGBT đồng tính, song tính và chuyển giới là người bình thường như mọi cá nhân khác trong xã hội, được quyền hưởng các quyền bình đẳng, ngang bằng và có khả năng thực hiện các nghĩa vụ giống như những người khác Một trong những quyền quan trọng nhất là quyền được sống, công nhận và tôn trọng, được hưởng chính sách an sinh xã hội bình đẳng như các chủ thể khác trong xã hội Người LGBT cần được xã hội nhìn nhận như người bình thường với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ không được xúc phạm, miệt thị họ Người LGBT có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào Như vậy, quyền được công khai xu hướng tính dục, bản dạng giới là một trong những quyền mà người LGBT cần được hưởng, đó là một phần của tự do Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện quyền này của người LGBT gặp nhiều rào cản bởi định kiến xã hội dẫn đến nhiều thiệt thòi cho họ

Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 đã ghi rõ: “Tất

cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai

có thể xâm phạm được; trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do

và quyền mưu cầu hạnh phúc” Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của Pháp

năm 1789 cũng khẳng định: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi,

và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”

Tuyên ngôn Toàn thế giới về Nhân quyền (1948) của Liên hợp quốc đã quy định rõ: [34]

Điều 1: “Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về quyền và nhân

phẩm Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái”

Trang 17

Điều 2: “Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do được

công bố trong bản Tuyên ngôn này và không có một sự phân biệt nào, như chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả các quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, dòng dõi hay tất cả những hoàn cảnh khác”

Điều 3: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân”

Tất cả mọi người khi sinh ra đều không được lựa chọn giới tính của mình nhưng họ có quyền lựa chọn cuộc sống và hạnh phúc của mình Bất kể sinh ra là dân tộc, màu da, giới tính, tôn giáo gì đi nữa thì cũng đều là con người, vì thế mà

ai cũng đáng được hưởng quyền lợi chính đáng của một con người Tất cả mọi người khi sinh ra đều không được lựa chọn giới tính của mình nhưng họ có quyền lựa chọn cuộc sống và hạnh phúc của mình Người đồng tính, song tính, chuyển giới là một phần bình thường, tự nhiên và không thể tách rời của mọi xã hội, mọi nền văn hóa Dù chối bỏ hay thừa nhận, phản đối hay ủng hộ, họ vẫn là hiện thực của loài người và hàng ngày vẫn đang sống, làm việc xung quanh chúng ta Họ chính là gia đình, con cháu, anh chị em, bạn bè, người thân, hàng xóm, đồng nghiệp của tất cả chúng ta Con người có quyền tự nhiên, người đồng tính, song tính, chuyển giới cũng là con người và với tư cách là con người thì họ cũng có quyền được hưởng tất cả các quyền tự nhiên Bản chất của hiện tượng song tính, đồng tính là hiện tượng tự nhiên vì vậy nhóm người này cần phải được hưởng những quyền tự nhiên của con người

Như vậy, có thể thấy một trong những quyền tự nhiên của con người đó là quyền mưu cầu hạnh phúc Đây là một hình thức thể hiện của sự tự do, con người tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân bằng chính khả năng của mình Và kết hôn là một trong những con đường để con người đi đến hạnh phúc Với người LGBT thì kết hôn là một việc rất khó khăn Hiện nay trên thế giới xuất phát từ quan điểm khác nhau vẫn còn nhiều nước không thừa nhận quyền kết hôn của người đồng tính Người đồng tính với những đặc điểm riêng về sự hấp dẫn tình

Trang 18

dục, quan hệ tình cảm là đối tượng thường xuyên chịu những tác động tiêu cực

từ những phân biệt đối xử, định kiến và kỳ thị dựa trên xu hướng tính dục đặc biệt của mình Tùy thuộc vào nền văn hóa, niềm tin tôn giáo, hệ thống chính trị

mà mỗi quốc gia có các quy định khác nhau Có thể nhận thấy quyền kết hôn giữa những người cùng giới tính là một quyền quan trọng, tạo ra nhiều sóng gió chính trị cũng như ảnh hưởng đến quá trình xây dựng pháp luật của các quốc gia Đây là một quyền đặc biệt ảnh hưởng lớn đến chất lượng nhân quyền của những đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội

Có thể nhận thấy vấn đề xây dựng một xã hội công bằng và tiến bộ, trong

đó các quyền con người được bảo đảm và thực thi thông qua cơ chế pháp luật hiệu quả là mục tiêu chung của toàn thể nhân loại Xu hướng mở rộng phạm vi các quyền con người, tăng cường việc bảo vệ quyền lợi của các nhóm người dễ

bị tổn thương trong xã hội đang ngày càng thu hút được nhiều nước quan tâm trong thời gian gần đây Vì vậy, chúng ta không thể loại bỏ người LGBT ra ngoài vòng pháp luật mà cần có những quy định rõ ràng để thừa nhận và bảo vệ các quyền cũng như lợi ích chính đáng của họ

1.2.2 Quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới

là quyền của thiểu số

Người đồng tính, song tính và chuyển giới vừa có đầy đủ quyền con người nói chung, vừa có những quyền mà người bình thường không có đây là quyền của nhóm thiểu số

Nhóm thiểu số có những đặc điểm cơ bản sau:

Về số lượng: có số lượng ít (thiểu số), nếu so sánh với nhóm đa số cùng sinh sống trên cùng lãnh thổ

Về vị thế xã hội: là nhóm dễ bị tổn thương, yếu thế trong xã hội (thể hiện ở tiềm lực, vai trò và ảnh hưởng của nhóm đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ở lãnh thổ nơi họ sinh sống)

Trang 19

Về bản sắc: có những đặc điểm riêng, khác biệt với nhóm đa số, mà vì thế

có thể phân biệt họ với nhóm đa số

Như vậy, xét những đặc điểm này có thể thấy người LGBT thuộc nhóm thiểu số trong xã hội.Vì là quyền của nhóm thiểu số cho nên thường gặp phải những khó khăn nhất định trong việc hợp thức hóa, ghi nhận và bảo đảm thực hiện Trong xã hội vẫn còn tồn tại những định kiến của một bộ phận không nhỏ cho rằng đây là vấn đề đạo đức chứ không phải là vấn đề mang tính tự nhiên dẫn đến sự khó khăn trong việc hợp thức hóa một số quyền như quyền kết hôn, quyền được thay đổi giới tính, quyền nhận nuôi con nuôi

Người LGBT được xem là đối tượng yếu thế trong xã hội do ảnh hưởng của

sự kỳ thị, phân biệt đối xử Khi họ tham gia vào các quan hệ kinh tế như tìm việc làm, vấn đề nhà ở… họ sẽ gặp phải nhiều trở ngại, khó khăn và có thể bị đối xử bất công hơn các đối tượng khác Hơn nữa, tỉ lệ người LGBT chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong xã hội nên tiếng nói của họ chưa được xem trọng Bên cạnh đó, bản thân những người trong cuộc do mặc cảm về giới tính không rõ ràng của mình nên không dám đấu tranh cho bản thân và cho những người thuộc nhóm thiểu số Chính vì thế khi quyền lợi chính đáng của họ bị xâm phạm thì khả năng tự bảo

vệ là rất thấp Cho nên cần phải chú trọng đối với quyền của nhóm người thiểu

số, dễ bị tổn thương LGBT xuất hiện ở mọi thời đại, mọi giai đoạn, mọi xã hội

Họ có những yêu cầu về việc công nhận sự tồn tại của mình, được đối xử bình đẳng, công bằng, được tự do kết hôn, được bảo vệ các lợi ích chính đáng Chính

vì vậy cần phải bảo vệ một cách toàn diện các quyền cơ bản mà người LGBT đáng được hưởng giống như các nhóm người khác trong xã hội

1.2.3 Việc thực hiện quyền con người của người đồng tính, song tính

và chuyển giới không thuận lợi do rào cản của truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc

Mô hình gia đình là sự kết hợp của một nam và một nữ với chức năng chính

là duy trì nòi giống là một yếu tố “truyền thống điển hình” hiện nay Sự tiếp

Trang 20

nhận một mô hình mới, ví dụ như mô hình gia đình của cặp đôi đồng tính trong việc sống chung, cùng nuôi dạy con cái có sự khác nhau ở mỗi xã hội, do truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán của các dân tộc chi phối Dường như ở các nước Phương Tây, sự chấp nhận có phần dễ dàng hơn các khu vực châu Á vốn

được xem là có những quan niệm “cổ hủ” hơn Việc thực hiện quyền con người

của người đồng tính, song tính và chuyển giới không được thuận lợi do rào cản của truyền thống văn hóa, các phong tục, tập quán của dân tộc Sự ảnh hưởng của truyền thống ảnh hưởng đến nhận thức của người dân đối với vấn đề LGBT,

từ đó tác động mạnh mẽ đến việc ghi nhận quyền và đảm bảo thực hiện quyền của người LGBT Trên thế giới, có nhiều quốc gia không chấp nhận đồng tính,

bỏ tù người đồng tính hoặc tử hình họ…Theo báo cáo của tổ chức ILGA (International Lesbian, Gay, Bisexual, Trans and Intersex Association) cho đến tháng 5/2010 một số quốc gia như Iran, Mauritania, Saudi Arabia, Sudan, Yemen

và một phần của Nigeria, Somalia có thể xử phạt đến chết nếu phát hiện quan hệ đồng tính.[24]

Những mô hình mới về gia đình, về sự đa dạng của bản dạng giới đang dần dần thể hiện rõ nét trong xã hội Tuy nhiên, do quan niệm truyền thống, khi đi sâu vào các quyền cụ thể của người LGBT thì người dân trong xã hội không đồng ý cho người đồng tính có quyền kết hôn, không muốn cho người chuyển giới phẫu thuật chuyển đổi giới tính…Quan niệm truyền thống cũng khiến cho nhiều người nghi ngại khi đặt ra vấn đề công nhận quyền bình đẳng của người LGBT vì nếu như công nhận thì điều đó có làm cho suy thoái đạo đức xã hội, nòi giống hay không? Nếu cho phép người chuyển giới phẫu thuật chuyển đổi giới tính thì có làm cho trật tự xã hội bị xáo trộn, đảo lộn hay không? Việc thừa nhận hôn nhân đồng giới thì gia đình đồng tính có thể nuôi dạy con cái tốt không, những đứa trẻ sống trong môi trường đó có được phát triển tốt không? Chính vì những quan niệm trên mà việc thực hiện quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới cũng gặp phải nhiều trở ngại và rào cản

Trang 21

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới

Quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới bị ảnh hưởng, chi phối bởi nhiều yếu tố bao gồm cả khách quan và chủ quan

1.3.1 Yếu tố truyền thống văn hóa

Yếu tố truyền thống chi phối đến quan niệm về người LGBT Truyền thống

là những thói quen, tư tưởng, lối sống, những giá trị văn hóa lâu đời được truyền

từ đời này qua đời khác, hình thành và ăn sâu vào lối sống, nếp nghĩ của nhiều người trong xã hội Dường như, ở các nước phương Tây quan niệm về người LGBT có phần dễ dàng chấp nhận hơn ở châu Á Có thể nhận thấy, yếu tố văn hóa, truyền thống, tư tưởng châu Á ảnh hưởng khá nhiều đến các quan niệm về người LGBT Từ cơ sở này, nhiều quan ngại về tính truyền thống hay mô hình gia đình sẽ bị phá vỡ thường được đề cập ở Việt Nam Một câu hỏi luôn được đặt ra khi xem xét về người LGBT, đó là liệu hôn nhân đồng tính có làm thoái hóa đạo đức, thay đổi chuẩn mực truyền thống hay không? Hôn nhân đồng tính liệu sẽ làm suy thoái nòi giống, đi ngược lại giá trị của cuộc sống hay không? Nếu cho phép người chuyển giới phẫu thuật có gây xáo trộn trong xã hội hay không? Cho đến thời điểm hiện tại những câu hỏi này vẫn xuất hiện đều đặn tại các diễn đàn, hội thảo khoa học Chính định kiến, sự kỳ thị đã khiến hầu hết mọi người luôn đặt ra những câu hỏi đó Trong các quan điểm phản đối hiện nay, có thể thấy rõ nét nhất là quan điểm về khái niệm gia đình Ở Việt Nam hiện nay, hầu hết các quan điểm đều lo ngại thừa nhận hôn nhân đồng tính sẽ làm phá vỡ

“gia đình”, đi ngược lại một chức năng cơ bản của gia đình là duy trì nòi giống

Gia đình có vị trí đặc biệt quan trọng và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Những chủ đề nghiên cứu về gia đình luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học không chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới Trong thực tiễn, khái niệm về gia đình vẫn chưa được xác định một cách thống nhất và

rõ ràng Tùy thuộc vào quan điểm và các phương pháp tiếp cận, người ta có thể

Trang 22

đưa ra những khái niệm khác nhau về gia đình Tuy nhiên, nhiều quốc gia đồng

thuận một cách hiểu chung nhất: "Gia đình là đơn vị cơ bản của tổ chức xã hội

và là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mỗi thành viên, nhất là trẻ em" (Tuyên bố của Liên hợp quốc - LHQ về tiến bộ xã hội trong phát

triển) Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về gia đình Một số ý kiến cho rằng trên thế giới hiện nay xuất hiện nhiều dạng gia đình biến thái khiến cho mọi định nghĩa về gia đình đều trở nên bất cập Chẳng hạn, một học giả phương Tây

James W Vander Zanden cho biết: "Một cuộc thăm dò mới đây đã cho thấy 45%

người Mỹ ngày nay cho rằng một đôi không cần kết hôn mà cùng chung sống với nhau thì được coi là một gia đình đích thực, 33% coi các đôi cùng giới tính có nuôi nấng con cái là gia đình, còn 20% thì coi các cặp đồng giới tính chung sống với nhau là một gia đình" Những ý kiến này đều cho rằng đây có thể là sự

mở rộng thái quá trong quan niệm về gia đình mà người Việt Nam ta khó lòng chấp nhận Đối với người Á Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng, gia đình là một giá trị xã hội quan trọng vào bậc nhất Nếu ở châu Âu gia đình nhiều khi đơn giản chỉ được coi là một nhóm xã hội thì ở ta, gia đình được coi là một

tế bào xã hội có tính sản sinh với đầy đủ các yếu tố cấu thành của nó như vợ - chồng - con cái Dường như, những quan điểm gay gắt này vẫn còn tồn tại rất nhiều ở nhiều nơi trên thế giới Truyền thống từ xa xưa, ở Việt Nam cũng như các nước phương Đông khác đều rất coi trọng việc sinh con đẻ cái, nối dõi tông đường Người đàn ông là trụ cột gia đình còn phụ nữ phải biết chăm lo cho gia đình, sinh đẻ tốt để gia đình chồng có con nối dõi Ông cha ta quan niệm gia đình nào đông con cháu là nhà có phúc Chính vì vậy, có thể hiểu kết hôn là sự kết hợp giữa nam và nữ, mục đích của kết hôn là sinh con để nối dõi tông đường

Từ lối suy nghĩ, quan điểm này mà một số bộ phận không nhỏ nhìn người LGBT với ánh mắt đầy sự khinh bỉ và miệt thị, thậm chí có người còn xem đấy là loại bệnh có thể lây nhiễm cần phải tránh xa Vì vậy, có thể thấy người LGBT dường như không được xã hội Việt Nam nhìn nhận như một người bình thường Tuy

Trang 23

nhiên, truyền thống thực chất là do con người tạo ra và con người hoàn toàn có thể thay đổi để phù hợp với sự phát triển của xã hội, tất cả những điều này cũng cho thấy, khái niệm gia đình vẫn hoàn toàn có thể được thay đổi để có sự điều chỉnh phù hợp hơn với những trạng thái khác nhau trong xã hội

1.3.2 Yếu tố chính trị

Quan niệm của người LGBT và sự thừa nhận quyền của người LGBT còn

bị ảnh hưởng bởi yếu tố chính trị Điều này xuất phát một phần từ đặc điểm hệ thống chính trị của các quốc gia được tổ chức theo các nguyên tắc nào: đa nguyên, đa đảng hay dân chủ xã hội Sự xung đột lợi ích sẽ dẫn đến xung đột chính trị khiến cho việc hợp pháp hóa các quyền của nhóm người LGBT gặp phải nhiều cản trở, khó khăn Yếu tố chính trị có tác động rất quan trọng đến quá trình hợp pháp hóa các quyền bình đẳng của người LGBT Ví dụ như ở nước Mỹ

có nhiều đảng phái chính trị cũng khiến cho việc hợp pháp hóa một quyền nào

đó cũng gặp khó khăn, được xem là nước dân chủ, phát triển và tiến bộ nhưng cũng mới chỉ ghi nhận quyền kết hôn bình đẳng ở 16 bang và tiểu bang Ở Đức cũng chỉ mới ghi nhận quyền kết hợp dân sự cho người đồng tính, thậm chí còn bắt họ nộp thuế cao hơn cặp đôi dị tính

1.3.3 Yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo

Yếu tố tín ngưỡng và tôn giáo cũng có tác động lớn đến quan niệm về người LGBT Có thể thấy những quốc gia tiến bộ, cởi mở nhất về quyền của LGBT chủ yếu là những nước có nền dân chủ phát triển ở các khu vực Tây Âu,

châu Mỹ và châu Đại dương, trong khi những quốc gia tỏ ra “khắc nghiệt” nhất

trong vấn đề này chủ yếu là những nước đang phát triển hoặc theo Hồi giáo ở khu vực châu Phi, Trung Đông, Nam và Đông Nam Á Những nước chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo và thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước đây (bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên hiện nay) nằm ở giữa hai khối nước trên (không coi tình dục đồng giới là trái pháp luật, song chưa có luật cụ thể về chống phân biệt đối xử cũng như chưa thừa

Trang 24

nhận các quyền dân sự của các cặp đồng giới)[9] Thực trạng này cho thấy có mối liên hệ khá rõ ràng giữa trình độ phát triển của dân chủ và đặc trưng tôn giáo, văn hoá với việc thừa nhận và bảo đảm các quyền của LGBT

Về tín ngưỡng, Việt Nam là quốc gia có truyền thống tín ngưỡng lâu đời

Từ xa xưa, con người có niềm tin sung bái vào các lực lượng siêu nhiên, vào những điều thiêng liêng, huyền bí vượt khỏi giới tự nhiên Điều đó được biểu hiện qua việc thờ cúng, các nghi lễ, tập tục Ở Việt Nam có nhiều loại tín ngưỡng, trong đó có tín ngưỡng phồn thực Những trí tuệ sắc sảo thì tìm các quy luật khoa học để lý giải hiện thực và họ xây dựng nên triết lý âm dương, còn những trí tuệ bình dân thì nhìn thấy ở thực tiễn đó một sức mạnh siêu nhiên, bởi vậy mà họ sùng bái nó như thần thánh và xây dựng nên tín ngưỡng phồn thực (phồn: nhiều, thực: nảy nở)[22] Tín ngưỡng phồn thực coi trọng việc giao phối giữa nam và nữ để con người được sinh sôi, nảy nở, phát triển nòi giống Tuy tín ngưỡng phồn thực không cấm mối quan hệ đồng tính nhưng lại xem mối quan hệ này là trái với tự nhiên và đi ngược lại niềm tin của tín ngưỡng này

Trong nhiều văn hóa khác nhau, tôn giáo đóng vai trò trung tâm trong những xung đột này Ví dụ, nhiều người Công giáo xem tính dục đồng giới như

là một thách thức trực tiếp tới với những khía cạnh của trật tự xã hội dựa trên kinh sách và truyền thống, và thực sự, một số phong trào chính trị phát sinh từ lý thuyết về sự đa dạng của bản dạng tính dục đã tích cực thách đố những tiền đề mặc định nằm dưới trật tự xã hội đó Những thành viên khác của cộng đồng đồng tính nam và nữ thì tin chắc vào những niềm tin chung về bản chất lý tưởng của các mối quan hệ, họ tìm kiếm một sự kết nối với trật tự xã hội thống trị để nhằm tham dự vào các thiết chế xã hội như là hôn nhân Trong truyền thống Cơ đốc giáo, tính dục đồng giới cũng là một nguyên nhân của xung đột nội bộ và chia rẽ Ở Việt Nam, tôn giáo khá đa dạng, bao gồm nhiều tôn giáo như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Đạo Cao đài…Tuy khác nhau nhưng về bản chất các loại tôn giáo này đều hướng con người đến cái thiện, phù hợp với đạo đức và lịch sử

Trang 25

văn hóa lâu đời của dân tộc ta Quan niệm trong tôn giáo cũng có phần tác động đến quan niệm của người Việt Nam về người LGBT Nho giáo quan niệm người chồng là trụ cột, gánh vác công việc gia đình, còn người vợ phải có đầy đủ các đức tính công dung ngôn hạnh, chăm lo cho gia đình, sinh con đẻ cái để nối dõi tông đường Ngày nay, tuy quan niệm về gia đình đã có nhiều sự phát triển tiến

bộ nhưng mỗi người dân Việt Nam ít nhiều vẫn còn ảnh hưởng bởi quan niệm Nho giáo này Vì vậy, quan niệm của nhiều người vẫn không thể chấp nhận một kiểu gia đình khác như giữa nam với nam, nữ với nữ, không có con cái Còn Phật giáo lại quan niệm vô ngã, vô thường, đề cao lòng từ bi, hướng thiện, phải giúp đỡ và yêu thương con người Vì thế với quan niệm này thì dù có xu hướng tính dục hay bản dạng giới thế nào thì vẫn là con người và phải được đối xử một cách bình đẳng, không được kỳ thị, coi thường với bất cứ ai

1.3.4 Yếu tố pháp luật

Dù quyền con người có nguồn gốc tự nhiên, là bẩm sinh, vốn có hay do các nhà nước quy định thì việc thực hiện quyền vẫn cần có pháp luật Các quyền tự nhiên của con người không thể được đảm bảo đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật Pháp luật có vai trò đặc biệt, không thể thay thế trong việc ghi nhận, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người Pháp luật chính là công cụ để chuyển hóa các quyền tự nhiên thành những quyền con người có đầy đủ giá trị hiện thực Thông qua pháp luật, các quyền trở thành quy tắc xử sự bắt buộc, mang tính thống nhất chung cho toàn xã hội còn nghĩa vụ sẽ được thực thi và tôn trọng Việc thừa nhận và bảo vệ các quyền con người của người LGBT chỉ mang tính khả thi và được thực hiện trên thực tế khi được pháp luật cụ thể hóa, chính thức hóa trong các quy định Việc quy định quyền của người LGBT trong pháp luật một mặt bảo đảm cho người LGBT có cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của chính họ, mặt khác vừa bảo đảm sự tuân thủ, tôn trọng các quyền đó của các chủ thể khác trong xã hội

Trang 26

1.4 Quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới quy định trong pháp luật quốc tế và một số quốc gia

1.4.1 Quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới trong pháp luật quốc tế

Trong nhiều thập kỉ qua, Liên Hiệp Quốc (LHQ) đã nỗ lực đấu tranh cho những quyền cơ bản của con người nói chung, trong đó có người đồng tính, song tính và chuyển giới

Quan điểm của Liên Hiệp Quốc về quyền của người LGBT được thể hiện trong Tuyên ngôn Toàn thế giới về Nhân quyền và trong các Công ước quốc tế

về các quyền dân sự, chính trị và quyền kinh tế, xã hội, văn hóa Theo các văn kiện này, LHQ cho rằng quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới là quyền cơ bản của con người Cụ thể là, trong Tuyên ngôn Toàn thế giới về Nhân quyền (1948) được thể hiện ở:

Điều 1: “Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về quyền và nhân

phẩm Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái”

Điều 2: “Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do được

công bố trong bản Tuyên ngôn này và không có một sự phân biệt nào, như chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả các quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, dòng dõi hay tất cả những hoàn cảnh khác”

Điều 3: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân”

Đồng thời cùng với việc thể hiện quan điểm của mình, gần đây Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc cũng đã có những động thái cụ thể trong việc bảo vệ quyền của nhóm người LGBT Mặc dù, Tuyên ngôn Nhân quyền đã khẳng định quyền con người nói chung, trong đó có quyền của nhóm người LGBT, nhưng

sự kì thị, phân biệt đối xử và bạo lực với họ vẫn diễn ra trên khắp thế giới và trở thành mối quan tâm đặc biệt về vấn đề nhân quyền của LHQ từ những năm 1990

Trang 27

của thế kỷ XX và kéo dài trong suốt những năm đầu thế kỷ XXI Sau nhiều thập

kỉ khi “xu hướng tính dục” và “bản dạng giới” ít được bàn luận một cách chính

thức, những lo ngại về sự vi phạm nhân quyền đã khiến Hội đồng Nhân quyền LHQ coi đây là vấn đề ưu tiên để thảo luận, và chính thức đưa ra những tuyên bố chung về quyền của nhóm người đồng tính, song tính và chuyển giới Những bản tuyên bố chung về quyền con người, xu hướng tính dục và bản dạng giới đã được

đề xuất ban đầu trong các phiên họp của Hội đồng Nhân quyền năm 2006 và

2008 Cuộc tranh luận xoay quanh mối quan tâm chính trị về luật phân biệt đối

xử và nghĩa vụ của nhà nước trong việc thực thi luật nhân quyền quốc tế

Những nỗ lực đầu tiên về thúc đẩy quyền của LGBT diễn ra ở châu Âu từ đầu thập kỷ 1980, sau đó được mở rộng sang các châu lục khác và trên diễn đàn toàn cầu của Liên hợp quốc

Một trong những văn kiện quốc tế đầu tiên của hệ thống Liên hợp quốc đề cập trực tiếp đến quyền của LGBT là Tuyên bố của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc (Commission on Human Rights, nay đã được thay thế bởi Hội đồng

Nhân quyền Liên hợp quốc) về “Xu hướng tính dục và quyền con người”

(Sexual Orientation & Human Rights) Văn kiện này được thông qua vào tháng 3/2005, do New Zealand đề xướng và nhận được sự ủng hộ của 32 quốc gia thành viên Ủy ban.[9, tr8]

Tiếp theo là “Tuyên bố chung về những vi phạm nhân quyền dựa trên xu

hướng tính dục và bản dạng giới (Human rights violations based on sexual

orientation and gender identity) do Navy khởi xướng với sự ủng hộ của 34 quốc

gia được công bố bởi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (UN Human Rights

Council) vào tháng 12/2006 Tuyên bố vạch rõ những hình thức vi phạm nhân

quyền dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới đang diễn ra trên thế giới, nguyên nhân của tình trạng này, đồng thời kêu gọi các quốc gia thành viên Liên hợp quốc có những hành động để ngăn chặn và chấm dứt những vi phạm đó Và

“Tuyên bố chung về quyền con người, xu hướng tính dục và bản dạng giới” do

Trang 28

Achentina khởi xướng với sự ủng hộ của 66 quốc gia được công bố bởi Đại hội đồng Liên hợp quốc vào ngày 18/12/2008 Tuyên bố khẳng định nguyên tắc không phân biệt đối xử về quyền con người được áp dụng với vấn đề xu hướng tính dục và bản dạng giới, lên án những hành vi bạo lực và phân biệt đối xử dựa trên hai yếu tố này, đồng thời yêu cầu Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thảo luận về những cách thức để ngăn ngừa và chấm dứt những vi phạm nhân quyền

đó Tuyên bố cũng kêu gọi các tổ chức nhân quyền và các quốc gia nỗ lực thúc đẩy và bảo vệ các quyền của tất cả mọi người bất kể xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ như thế nào [9,tr8]

Sau đó, ngày 26-03-2007, một nhóm chuyên gia nhân quyền đưa ra bộ Nguyên Tắc Yogyakarta để áp dụng Luật nhân quyền cho những vấn đề có liên quan đến khuynh hướng/xu hướng tính dục và bản dạng giới Các nguyên tắc này xác định nghĩa vụ của các quốc gia là phải tôn trọng, bảo vệ và thực hiện nhân quyền của tất cả mọi người bất kể khuynh hướng tính dục hoặc giới tính của họ Hiện nay một số quốc gia đang vận động để đưa những nguyên tắc Yogyakarta vào trong pháp luật của họ trong đó có các quyền tự do dân chủ của công dân, ban hành các luật về những quyền chưa được cụ thể hóa như: quyền tự

do lập hội, quyền tự do hội họp, quyền biểu tình, quyền được trưng cầu dân ý, quyền được bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền tiếp cận thông tin… quyền của người LGBT được thể hiện rõ nhất trong ba nguyên tắc đầu tiên của bộ nguyên tắc này:

“Quyền được hưởng sự hưởng thụ phổ quát của quyền con người, quyền bình đẳng và không phân biệt, quyền được thừa nhận trước pháp luật” [22, tr.72]

Năm 2011 và 2012 vấn đề về quyền của người LGBT đã được thúc đẩy mạnh mẽ hơn Tháng 3/2011, 85 quốc gia và vùng lãnh thổ đã cùng ký vào bản

“Tuyên bố chung về việc chấm dứt các hành động bạo lực và vi phạm nhân quyền dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới” Nghị quyết về “Quyền con người, Xu hướng tính dục và Bản dạng giới” do Nam Phi đề xướng, được thông

qua tại Phiên họp thứ 17, tháng 6/2011 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp

Trang 29

quốc Đây là Nghị quyết đầu tiên của một cơ quan nhân quyền Liên Hợp Quốc

đề cập trực tiếp đến vấn đề quyền con người của LGBT, Nghị quyết khẳng định

“mọi người đều có quyền bình đẳng,bất kể thiên hướng tính dục như thế nào”

[34, tr.1] Sự ủng hộ của các thành viên Hội đồng ở khắp nơi đã tạo điều kiện

cho sự ra đời một bản báo cáo chi tiết đầu tiên của văn phòng hội đồng cao ủy nhân quyền (A/HRC 19.41) vào tháng 11-2011, tổng kết lại vấn đề bạo lực và phân biệt đối xử đối với LGBT trên khắp thế giới Báo cáo đã nêu được ra các bằng chứng cho thấy những hình thức bạo lực và phân biệt đối xử mang tính hệ thống đối với các cá nhân ở khắp nơi trên thế giới vì xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ Báo cáo đồng thời đưa ra các khuyến nghị với các nhà nước nhằm bảo vệ quyền của nhóm người này Nội dung của báo cáo đã trở thành vấn

đề cơ bản được thảo luận tại tiểu ban của Hội đồng nhân quyền vào tháng 3/2012

Tháng 3/2013, tại phiên họp thứ 19 của Hội đồng nhân quyền, Cao ủy viên

LHQ về quyền con người, Navi Pillay, đã yêu cầu các nước viết lên“một chương

mới” trong lịch sử LHQ, đóng góp vào việc chấm dứt ngay bạo lực và phân biệt

đối xử với người LGBT.Tai phiên họp này, Tổng thư kí LHQ Ban Ki-Moon cũng đã có bài phát biểu, mô tả những hành vi bạo lực và phân biệt đối xử với

LGBT là “tấn bi kịch lớn đối với những ai có lương tri và là vết nhơ đối với

lương tâm của chúng ta” [20] ông kêu gọi các quốc gia trên toàn thế giới phi

hình sự hóa đồng tính, chấm dứt kỳ thị LGBT Đặc biệt, Tổng Thư kí cũng lưu ý

rằng “trên thế giới vẫn còn những nơi mà luật pháp còn tội phạm hóa và phân biệt đối xử hoặc có những rào cản với người đồng tính, song tính và chuyển giới

[22, tr65] Lần đầu tiên người đứng đầu tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh đã đưa ra một thông điệp rõ ràng và đầy tính ủng hộ đối với vấn đề LGBT và đây cũng là quan điểm của cả LHQ khi gần đây liên tiếp có những động thái để giải quyết vấn đề kỳ thị phân biệt dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới

Trang 30

Để hệ thống hóa lại những vấn đề đặt ra đối với người đồng tính, song tính

và chuyển giới dựa trên báo cáo thực trạng đối với LGBT, cũng như chỉ ra những nghĩa vụ của nhà nước liên quan đến các luật nhân quyền quốc tế, tháng 6/ 2012, Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Quyền con người đã cho xuất bản một cuốn

cẩm nang mang tên “sinh ra tự do và bình đẳng - xu hướng tình dục và bản dạng

giới” (HR/PUB/12/06) Với quan điểm rằng muốn bảo vệ cá nhân dựa trên xu

hướng tình dục và bản dạng giới không nhất thiết phải tạo ra những quyền riêng biệt dành riêng cho LGBT, mà chỉ cần yêu cầu bảo đảm sự thực thi của các quyền không phân biệt đối xử trong các văn bản pháp luật quốc tế đã có, cẩm nang nhấn mạnh vào những sự vi phạm nhân quyền và yêu cầu thực hiện nghĩa

vụ của nhà nước Cuốn sách bao gồm 5 phần, nội dung mỗi phần bao gồm các mục: Xác định một nghĩa vụ của Nhà nước, các điều luật quốc tế nhân quyền có liên quan và quan điểm của các cơ quan nhân quyền dựa trên công ước Mỗi phần cũng đưa ra các khuyến nghị cụ thể

Có thể thấy, cho đến nay Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp quốc đã có nỗ lực từng bước trong việc chỉ ra những vi phạm nhân quyền với người đồng tính, song tính và chuyển giới, cũng như yêu cầu các quốc gia có những hành động cụ thể tuân theo các điều luật nhân quyền quốc tế để chấm dứt các hành vi vi phạm nhân quyền

1.4.2 Quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới trong pháp luật của các quốc gia

Ở nhiều nước trên thế giới, cộng đồng LGBT ngày càng được quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như xã hội, pháp lý, y tế,… mặc dù vẫn còn những hiện tượng kì thị, công khai xúc phạm, đánh đập, hành hạ thể chất và tinh thần người đồng tính một cách dã man hoặc thậm chí một số quốc gia áp dụng hình thức phân biệt đối xử mang tính thể chế, nhưng nhìn chung phong trào bảo vệ nhóm đối tượng này ngày càng phát triển theo chiều hướng tích cực Cụ thể đã

có nhiều quốc gia đã nhận ra và làm vô hiệu sự phân biệt đối xử bằng luật pháp

Trang 31

với những quy định cấm phân biệt đối xử trong lĩnh vực việc làm, nhà ở và giáo dục Tính đến nay tất cả các thành viên thuộc khối cộng đồng chung Châu Âu đều được yêu cầu về mặt pháp lý phải ngăn cấm phân biệt đối cử dựa trên khuynh hướng tình dục và bản dạng giới

Ngoài các văn kiện pháp lý quốc tế nêu trên, pháp luật một số quốc gia đã thừa nhận các quyền và lợi ích chính đáng LGBT Tính đến năm 2013, trên thế giới đã có 114 Quốc gia và vùng lãnh thổ coi hành vi tình dục đồng giới không trái pháp luật, 52 Quốc gia cấm phân biệt đối xử về việc làm dựa trên cơ sở định hướng tính dục, 19 Quốc gia và vùng lãnh thổ cấm phân biệt đối xử về việc làm dựa trên cơ sở nhận dạng giới; 10 Quốc gia và vùng lãnh thổ hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới, Hà Lan là quốc gia đầu tiên hợp pháp hóa kết hôn đồng tính Đạo luật công bố ngày 21-12-2000 đã sửa đổi phần 1 của Bộ luật dân sự liên quan đến việc mở rộng quan hệ hôn nhân đối với những người cùng giới, Điều

30 của Bộ luật dân sự Hà Lan được sửa đổi thành : “Một hôn nhân có thể được

xây dựng bởi hai người cùng giới hoặc khác giới tính Pháp luật chỉ xem xét hôn nhân trong những mối quan hệ dân sự của nó”; 14 Quốc gia và vùng lãnh thổ

chưa hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới song các cặp đồng giới được thừa nhận;

6 quốc gia và vùng lãnh thổ đã quy định trong Hiến pháp cấm mọi hình thức phân biệt đối xử dựa trên định hướng tính dục (Nam Phi, Kosovo, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Ecuador) như khoản 3 Điều 9 Chương 2 Hiến pháp Nam

phi quy định: “Nhà nước không được phân biệt đối xử trực tiếp hoặc gián tiếp

đối với bất kỳ ai dựa trên chủng tộc, giới tính, quan hệ tình dục, mang thai, tình trạng hôn nhân, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, màu da, xu hướng tính dục, tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa, ngôn ngữ và nơi sinh” Tương tự, Hiến pháp Thụy

Điển tại Điều 2 Chương 1 cũng nghiêm cấm phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục.[8]

Ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở châu Âu hiện đã có một hệ thống quy định pháp luật được áp dụng cho người chuyển giới, tập trung vào các cá nhân

Trang 32

mong phẫu thuật thay đổi giới tính Luật pháp các nước này ủng hộ việc chuyển đổi giới tính trong các trường hợp đặc biệt và cho phép thay đổi trong giấy tờ cá nhân sau khi phẫu thuật chuyển đổi giới tính và hôn nhân với giới tính hậu phẫu thuật Đến nay có thể thống kê sơ bộ tình hình các quốc gia thừa nhận và cho phép phẫu thuật chuyển giới đối với người chuyển giới như sau: Trung Quốc (2003), Đức (1981), Ý (1982), Nhật Bản (2004), Hà Lan (1985), New Zealand (1995), Panama (1975), Romania (1996), Nam Phi (2003), Tây Ban Nha (2006), Thụy Điển (1972), Thổ Nhĩ Kỳ (1988), Vương quốc Anh (2004), Lithuana, Serbia, Argentina (2012), Bồ Đào Nha (2011), Urugoay (2009), Malaysia, Thái Lan, Singapore, Philippines, Ấn Độ, Hồng Kông - Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc (2012) và một số bang, vùng của Úc, Canada, Mỹ [11]

Từ báo cáo kết quả khảo sát về thực trạng bảo đảm quyền của LGBT trên thế giới do Hiệp hội quốc tế của những người đồng giới nam, nữ, người song

tính và chuyển giới (The International Lesbian, Gay, Bisexual, Trans and

Intersex Association) thực hiện và công bố tháng 5/2012, có thể khái quát những

phát hiện chính liên quan đến khuôn khổ pháp luật của các quốc gia về quyền của nhóm xã hội này như sau:

Bảng 1: Quyền về tình dục của LGBT trong pháp luật quốc gia [36] Nội dung Phạm vi được bảo đảm[37]

Châu Phi: Burkina Faso, Cape Verde (2004), Cộng hoà

Trung Phi, Công gô, Chad, Bờ biển Ngà, Cộng hoà dân chủ Công gô, Djibouti, Ghi nê Xích đạo, Gabon, Guinea-Bissau (1993), Madagascar, Mali, Niger, Rwanda, Nam Phi (1998)

Châu Á: Bahrain (1976), Cam pu chia, Trung Quốc (1997),

Đông Ti-mo(1975), Indonesia, Israel (1988), Nhật bản (1882), Jordan (1951), Kazakhstan (1998), Kyrgyzstan (1998), Lào, Mông Cổ, Nepal (2008), CHDCND Triều Tiên, Philippines,

Trang 33

Hàn Quốc, Đài Loan (1896), Tajikistan (1998), Thái Lan (1957), Việt Nam, Khu vực Bờ Tây thuộc Palestin (1951)

Châu Âu: Albania (1995), Andorra (1990), Armenia (2003),

Áo (1971), Azerbaijan (2000), Belarus (1994), Bỉ (1795), Bosnia and Herzegovina (1998-2001), Bulgaria (1968), Croatia (1977), Síp (1998), Cộng hoà Séc (1962), Đan Mạch (1933), Estonia (1992), Phần Lan (1971), Pháp (1791), Georgia (2000), CHLB Đức (1968-69), Hy Lạp (1951), Hungary (1962), Ai-xơ-len (1940), Ai-len (1993), Italy (1890), Kosovo (1994), Latvia (1992), Liechtenstein (1989), Lithuania (1993), Luxembourg (1795), Macedonia (1996), Malta (1973), Moldova (1995), Monaco (1793), Montenegro, (1977), Hà Lan (1811), Nauy (1972), Ba Lan (1932), Bồ Đào Nha (1983), Ru-ma-ni (1996), Liên bang Nga (1993), San Marino (1865), Serbia (1994), Slovakia (1962), Slovenia (1977), Tây Ban Nha (1979), Thuỵ Điển (1944), Thuỵ Sĩ (1942), Thổ Nhĩ Kỳ (1858), Ukraine (1991), Vương quốc

Anh, Vatican City Châu Mỹ La-tinh và vùng Ca-ri-bê:

Argentina (1887), Bahamas (1991), Bolivia, Brazil (1831), Costa Rica (1971), Chile (1999), Colombia (1981), Cuba (1979), Dominica (1822), Ecuador (1997), El Salvador (1800’s), Guatemala (1800’s), Haiti (1800’s), Honduras (1899), Mexico (1872), Nicaragua (2008), Panama (2008), Paraguay (1880), Peru (1836-1837), Suriname (1869),

Uruguay (1934), Venezuela (1800’s) Bắc Mỹ: Canada (1969), Hoa Kỳ (2003) Châu Đại dương: Australia, Fiji

(2010), Marshall Islands (2005), Micronesia, New Zealand (1986), Vanuatu (2007), Tokelau (2007)

Trang 34

Châu Phi: Algeria (1966), Angola, Benin, Botswana, Burundi

(2009), Cameroon (1972), Comoros, Ai-cập, Eritrea, Ethiopia, Gambia, Ghana, Guinea, Kenya, Lesotho, Liberia, Libya, Malawi, Mauritania, Mauritius, Morocco, Mozambique, Namibia, Nigeria, São Tomé and Principe, Senegal, Seychelles, Sierra Leone, Somalia, South Sudan, Sudan, Swaziland, Tanzania, Togo, Tunisia, Uganda, Zambia,

Zimbabwe Châu Á: Afghanistan, Bangladesh, Bhutan,

Brunei, Iran, Kuwait, Lebanon, Malaysia, Maldives, Myanmar, Oman, Pakistan, Qatar, Saudi Arabia, Singapore, Sri Lanka, Syria, Turkmenistan, United Arab Emirates,

Uzbekistan, Yemen Châu Mỹ La-tinh và vùng Ca-ri-bê:

Antigua and Barbuda, Barbados, Belize, Dominica, Grenada, Guyana, Jamaica, St Kitts & Nevis, St Lucia, St Vincent & the

Grenadines, Trinidad and Tobago Châu Đại dương: Kiribati,

Nauru, Palau, Papua New Guinea, Samoa, Solomon Islands,

Tonga, Tuvalu Một số vùng lãnh thổ: Cook Islands (New

Zealand), Gaza (thuộc Palestine), Thổ Nhĩ Kỳ, Cộng hoà Bắc Síp, South Sumatra and Aceh Province (Indonesia)

Châu Phi: Botswana (2010), Cape Verde (2008), Mauritius

(2008), Mozambique (2007), Seychelles (2006), Nam Phi

(1996), Namibia (2004) Châu Á: Israel (1992), Đài Loan (2007) Châu Âu: Albania (2010), Andorra (2005), Áo

(2004), Bỉ (2003), Bosnia and Herzegovina (2003), Bulgaria (2004), Croatia (2003), Síp (2004), Cộng hoà Séc (1999), Đan Mạch (1996), Estonia (2004), Phần Lan (1995), Pháp (2001),

Trang 35

Georgia (2006), CHLB Đức (2006), Hy Lạp (2005), Hungary (2004), Ai-len (1999), Italy (2003), Kosovo (2004), Latvia (2006), Lithuania (2003), Luxembourg (1997), Macedonia (2005), Malta (2004), Montenegro (2010), Hà Lan (1992), Nauy (1998), Ba Lan (2004), Bồ Đào Nha (2003), Ru-ma-ni (2000), Serbia (2005), Slovakia (2004), Slovenia (1995), Tây Ban Nha (1996), Thuỵ Điển (1999), Vương quốc Anh (2003)

Châu Mỹ La-tinh và vùng Ca-ri-bê: Argentina (thành phố

Rosario, 1996), một số khu vực của Brazil, Colombia (2007), Costa Rica (1998), Ecuador (2005), 10 bang của Mexico

(2001-2009), Nicaragua (2008), Venezuela (1999) Bắc Mỹ: Canada (1996), một số vùng của Hoa Kỳ Châu Đại dương:

Australia, Fiji (2007), New Zealand (1994)

Châu Âu: Croatia (2009), Hungary (2004), Montenegro

(2010), Serbia (2009), Thuỵ Điển (2009), Áo, Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, CHLB Đức, Ai-len, Italy, Latvia, Hà Lan, Ba

Lan, Slovakia và Vương quốc Anh Châu Mỹ La-tinh và

vùng Ca-ri-bê: Argentina (thành phố Rosario, 2006) Bắc Mỹ: Các lãnh thổ vùng Tây bắc của Canada (2004), một số

khu vực của Hoa Kỳ Châu Đại dương: Australia (1996)

Châu Phi: Nam Phi (1994 và 1997) Châu Âu: Kosovo

(2008), Bồ Đào Nha (2004), Thuỵ Điển (2003), Thuỵ Sĩ

(2000), một số vùng của CHLB Đức.Châu Mỹ La-tinh và

vùng Ca-ri-bê: Bolivia (2009), Ecuador (2008), một số vùng

của Argentina và Brazil, British Virgin Islands (2007)

Trang 36

Châu Phi: Nam Phi (2000) Châu Âu: Bỉ (2003), Croatia

(2003), Đan Mạch (1987), Estonia (2006), Pháp (2005), xơ-len (1996), Ai-len (1989), Lithuania (2003), Luxembourg (1997), Monaco (2005), Hà Lan (1992), Nauy (1981), Bồ Đào Nha (2007), Ru-ma-ni (2000), San Marino (2008), Serbia (2009), Tây Ban Nha (1996), Thuỵ Điển (2003), một số vùng

Ai-của Vương quốc Anh (2004-10) Châu Mỹ La-tinh và vùng

Ca-ri-bê: Bolivia (2011), Colombia (2011), Ecuador (2009),

một số vùng của Mexico, Uruguay (2003) Bắc Mỹ: Canada (2004) Châu Đại dương: Một số vùng của Australia

Châu Phi: Nam Phi (2006) Châu Âu: Iceland (2010), Bỉ

(2003), Hà Lan (2001), Nauy (2009), Bồ Đào Nha (2010), Tây Ban Nha (2005), Thuỵ Điển (2009), Uruguay, New Zealand,

Pháp, Canada, Đan Mạch Châu Mỹ La-tinh và vùng

Ca-ri-bê: Argentina (2010), Mexico (2bang, 2010), Brazil (11

bang) Bắc Mỹ: Canada (2005), Hoa Kỳ (10 bang)

quốc Anh (2005) Châu Mỹ La-tinh và vùng Ca-ri-bê:

Brazil (2011), Colombia (2009), bang Coahuila của Mexico

(2007) Bắc Mỹ: một số vùng của Hoa Kỳ Châu Đại dương: New Zealand (2005), một số vùng của Australia

Trang 37

Châu Mỹ La-tinh và vùng Ca-ri-bê: Ecuador (2009),

Uruguay (2008) Bắc Mỹ: Một số vùng của Hoa Kỳ

Châu Mỹ La-tinh và vùng Ca-ri-bê: Argentina (2010),

Brazil (2010), the Federal District của Mexico (2010) Bắc

Mỹ: Một số vùng của Canada và Hoa Kỳ Châu Đại dương:

Vương quốc Anh (2005) Châu Mỹ La-tinh và vùng

Ca-ri-bê: Argentina (2012), the Federal District của Mexico (2009),

Panama (1975), Uruguay (2009) Bắc Mỹ: Một số vùng của Canada và Hoa Kỳ Châu Đại dương: Australia, New Zealand (1995)

Những con số thống kê nêu trên cho thấy sự phát triển nhanh chóng về nhận thức và hành động thúc đẩy quyền của LGBT trên thế giới trong khoảng

Trang 38

hai thập kỷ gần đây Mặc dù vậy, như đã đề cập, nếu so sánh với nhiều nhóm xã hội dễ bị tổn thương khác, khuôn khổ pháp luật quốc tế về quyền của LGBT hiện vẫn còn rất hạn chế Bảng tổng hợp trên cũng cho thấy sự phân biệt đối xử với LGBT vẫn còn khá phổ biến trên thế giới, khi số quốc gia vẫn duy trì các quy định pháp luật trừng phạt hành vi tình dục đồng giới vẫn còn khá cao (78/193, tương đương 40% ở thời điểm năm 2012, tăng thêm hai nước so với năm 2011) Ngoài ra, vẫn còn ít quốc gia ban hành các quy định pháp luật cụ thể về cấm phân biệt đối xử với người đồng tính (57/193), trao các quyền dân sự (với những mức độ khác nhau) cho các cặp đôi đồng tính (30/193) Đặc biệt, mới chỉ có 14/193 quốc gia pháp luật chính thức cho phép hôn nhân đồng tính

Cụ thể, cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có một điều ước quốc tế có hiệu lực toàn cầu nào đề cập riêng và cụ thể đến quyền của nhóm này, trong khi

đã có nhiều công ước, nghị định thư về quyền của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người bản địa, người lao động di trú

Việc chưa có một điều ước riêng về quyền của LGBT - một nhóm xã hội từ lâu đã và đang phải đối mặt với những vi phạm nghiêm trọng về quyền con người - có thể coi là một thiếu sót của luật nhân quyền quốc tế Tuy vậy, thiếu sót này cũng không gây ngạc nhiên, bởi lẽ luật nhân quyền quốc tế là một hệ thống được hình thành và phát triển dần dần từ 1945 Nếu nghiên cứu lịch sử của luật nhân quyền quốc tế, có thể thấy không chỉ LGBT mà một số nhóm xã hội dễ

bị tổn thương khác cũng chưa hoặc chỉ mới được ghi nhận các quyền cụ thể của

họ trong ngành luật này trong một vài thập kỷ gần đây, cụ thể như phụ nữ (1979), trẻ em (1989), người lao động di trú (1990), người khuyết tật (2007)…Với sự phát triển nhanh chóng trong nhận thức và hành động về quyền của nhóm này trên các diễn đàn quốc tế, có thể dự đoán rằng trong tương lai gần khuôn khổ pháp luật quốc tế về quyền của LGBT sẽ được bổ sung và hoàn thiện hơn

Trang 39

Hiện nay, ở Việt Nam, pháp luật hiện hành không thừa nhận sự tồn tại của những người có giới tính thiểu số, người LGBT cũng như mối quan hệ hôn nhân của họ, những vấn đề pháp lý phát sinh đang bị bỏ ngỏ do họ không được thừa nhận, thay đổi các thông tin cá nhân Tuy nhiên, cùng với sự phát triển chung của khoa học, của nhận thức nhân loại, của các nước phát triển trên thế giới đã đến lúc pháp luật cần thừa nhận sự tồn tại của những người có giới tính thiểu số,

để tạo sự bình đẳng và công nhận sự tồn tại và vai trò của họ trong xã hội Từ đó chúng ta có thể bảo vệ hiệu quả hơn các quyền và lợi ích hợp pháp cũng như xử

lý hành vi vi phạm của họ

Ngày đăng: 25/03/2018, 17:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w