Hiện nay, pháp luật điều chỉnh về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam được quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhưng mới chỉ là những quy định mang tính chất chung
Trang 1Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ
BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG GIẤY TỜ CÓ GIÁ TẠI
TỔ CHỨC TÍN DỤNG
7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại giấy tờ có giá 7
1.1.3 Phân loại giấy tờ có giá và ý nghĩa của việc phân loại 16 1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại bảo đảm tiền vay bằng giấy
1.2.2.1 Là biện pháp bảo đảm được thiết lập nhằm bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên vay vốn đối với bên
Trang 2giá tại tổ chức tín dụng
1.4.2.1 Quy định của pháp luật về loại giấy tờ có giá được dùng
làm tài sản bảo đảm
32
1.4.2.2 Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục nhận tài sản bảo
đảm tiền vay là giấy tờ có giá
1.4.2.5 Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp liên quan
đến bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá
37
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY
BẰNG GIẤY TỜ CÓ GIÁ TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM
39
2.1 Điều kiện, trình tự thủ tục nhận tài sản bảo đảm tiền vay
bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng
39
2.1.1 Các điều kiện khi tổ chức tín dụng nhận giấy tờ có giá làm
tài sản bảo đảm tiền vay
39
2.1.1.1 Điều kiện về chủ thể - bên bảo đảm 39 2.1.1.2 Điều kiện về giấy tờ có giá làm tài sản bảo đảm 43 2.1.2 Trình tự, thủ tục nhận tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá tại tổ
Trang 32.3.5 Hiệu lực của hợp đồng bảo đảm 60 2.3.6 Công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm 62 2.4 Chuyển giao và quản lý tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá 63 2.5 Xử lý tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá 67 2.6 Tranh chấp và giải quyết tranh chấp về bảo đảm tiền vay
bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng
70
Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG GIẤY TỜ CÓ GIÁ TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM
77
3.1 Các yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền
vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
77
3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay
bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
81
3.3 Một số kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm
tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
82
3.3.1 Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản pháp luật về bảo
đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
83
3.3.2 Xây dựng cơ chế đồng bộ nhằm hỗ trợ, hướng dẫn, quản lý
giám sát và bảo đảm thực hiện trên thực tế bảo đảm tiền vay
bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
90
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4BLDS : Bộ luật Dân sự CCCN : Công cụ chuyển nhượng GTCG : Giấy tờ có giá
NHNN : Ngân hàng Nhà nước TCTD : Tổ chức tín dụng
MỞ ĐẦU
Trang 51 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sau 11 năm đàm phán không mệt mỏi với rất nhiều cam kết song phương và đa phương cùng các nước thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tháng 11 năm 2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức này Đây là một dấu mốc vô cùng quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Vấn đề hội nhập vào nền kinh tế thế giới đã mở ra nhiều cơ hội to lớn nhưng cũng đặt ra vô vàn thách thức trong điều kiện mới Khi nền kinh tế thế giới có nhiều sự thay đổi đến "chóng mặt", "lúc nóng", "lúc lạnh" sẽ ảnh hưởng ngay đến nền kinh tế Việt Nam Chính vì vậy, việc điều tiết nền kinh tế thông qua các công cụ tài chính ngân hàng luôn được Đảng và Nhà nước ta
"quan tâm" đặt lên hàng đầu Thông qua các công cụ tài chính ngân hàng, nguồn tiền từ các tổ chức tín dụng (TCTD) được thúc đẩy "bơm" ra thị trường hoặc yêu cầu "thắt chặt" lại Để thực hiện được mục tiêu này thì tất yếu phải thông qua việc điều tiết hoạt động tín dụng (cho vay) của các tổ chức tín dụng
Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống kinh tế xã hội Việc đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của TCTD ở Việt Nam là rất cần thiết, vì chỉ cần một TCTD có dấu hiệu không tốt sẽ có khả năng ảnh hưởng "dây chuyền" đến hoạt động của các TCTD khác, từ đó sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội
Trong quan hệ cho vay, hợp đồng vay giữa TCTD và bên vay được thiết lập thông qua quá trình thương thảo giữa hai bên và là kết quả của quá trình TCTD thực hiện thẩm định bên vay Khi TCTD đồng ý "cấp vốn" cho bên vay có nghĩa là TCTD đã tin tưởng và tín nhiệm vào thiện chí cũng như khả năng trả nợ của bên vay Tuy nhiên, nếu không có những thiết chế, những công cụ đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay, dự liệu trường
Trang 6hợp bên vay không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả
nợ, thì TCTD sẽ tự đặt mình trước những "nguy cơ" khó lường khi chính TCTD cũng đi vay (nhận tiền gửi của khách hàng gửi tiền) để cho vay
Một trong những công cụ để đảm bảo bên vay thực hiện nghĩa vụ trả
nợ mà TCTD áp dụng vào hoạt động cho vay đó là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay hay còn gọi là bảo đảm tiền vay Trong hợp đồng cho vay, ngoài việc thỏa thuận về áp dụng các chế tài như thu hồi nợ trước hạn, lãi suất nợ quá hạn, lãi suất nợ lãi quá hạn…, TCTD còn yêu cầu bên vay thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá (GTCG) là một trong những biện pháp bảo đảm được pháp luật công nhận, bảo hộ, được TCTD và bên vay lựa chọn áp dụng Hiện nay, pháp luật điều chỉnh về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam được quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhưng mới chỉ là những quy định mang tính chất chung chung như Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Các công cụ chuyển nhượng (CCCCN) năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Chứng khoán năm
2006, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi tắt là Nghị định số 163), Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm (sau đây gọi tắt là Nghị định số 83), Quy chế phát hành giấy tờ
có giá của các tổ chức tín dụng năm 2008 (sau đây gọi tắt Quy chế phát hành GTCG),… Pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD còn thiếu những quy định, hướng dẫn cụ thể, thống nhất dẫn đến gặp rất nhiều khó khăn trong việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn
Vì vậy, với mong muốn tìm hiểu những vấn đề pháp lý và thực tiễn của bảo đảm tiền vay bằng GTCG để góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này, tác giả quyết định lựa chọn nghiên cứu về đề tài
Trang 7"Bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại các tổ chức tín dụng - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn" làm luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ luật học, pháp luật về GTCG và bảo đảm bằng GTCG đã được đề cập đến tại một số công trình nghiên cứu khoa học như:
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Anh Thơ, bảo vệ
thành công năm 2006 về: "Giấy tờ có giá - Một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự";
- Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Điệp, bảo vệ
thành công năm 2010 về: "Giấy tờ có giá - Một loại tài sản theo quy định pháp luật hiện hành";
- Đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm nghiên cứu khoa học về: "Một
số kiến nghị nhằm triển khai và phát triển nghiệp vụ cầm cố chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam"
Bên cạnh đó, một số bài trao đổi, nghiên cứu liên quan đến giao dịch bảo đảm bằng GTCG được đăng tải trên một số trang web và tạp chí chuyên ngành tài chính ngân hàng như:
- Bài viết:"Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế" của tác giả Nguyễn Văn Phương đăng trên Tạp chí
Ngân hàng số 11/2007;
- Bài viết: "Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại: một số nhận định từ góc độ pháp lý đến thực tiễn" của ThS Nguyễn Thùy Trang đăng tải trên trang web của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam
Ngoài ra, một số khía cạnh pháp lý liên quan đến nghiệp vụ cho vay trên cơ sở có bảo đảm bằng cầm cố GTCG, cầm cố chứng khoán tại các TCTD cũng được nhiều bài báo viết, báo điện tử đăng tải
Trang 8Nhưng, các công trình nghiên cứu, các bài trao đổi, bài viết trên đây chỉ mới dừng lại ở việc phân tích GTCG là một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự, phân tích về biện pháp bảo đảm bằng GTCG dưới góc độ của một loại GTCG cụ thể như chứng khoán, hay chỉ mới dừng lại phân tích
về một số nhầm lẫn liên quan đến nhận sổ tiết kiệm làm tài sản bảo đảm như
là một loại GTCG Qua quá trình tra cứu tài liệu cho thấy, hiện chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về biện pháp bảo đảm tiền vay bằng GTCG Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tác giả
đã lựa chọn đề tài nghiên cứu để tìm hiểu một cách đầy đủ, toàn diện về lý luận và thực tiễn áp dụng bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD, từ đó thấy được những kết quả cũng như những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại đó và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
Với mục đích như trên, các nhiệm vụ phải giải quyết của luận văn là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại tổ chức tín dụng như: khái niệm, đặc điểm, phân loại GTCG với tư cách là một tài sản bảo đảm; khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò của bảo đảm tiền vay bằng GTCG; nội dung pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG
- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam qua việc đưa ra những nhận định khái quát và cụ thể những mặt được, những mặt hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành và thực tế áp dụng bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam
- Đưa ra định hướng và những kiến nghị, đề xuất, giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam
Trang 94 Phạm vi của việc nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật hiện hành điều chỉnh về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam đặt trong mối quan hệ với pháp luật về GTCG và các văn bản pháp lý chuyên ngành tài chính ngân hàng điều chỉnh hoạt động cho vay của TCTD Từ đó, làm nổi bật các đặc trưng của bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD so với các biện pháp bảo đảm dân sự khác và so với các biện pháp bảo đảm tiền vay khác Đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này, để phát hiện các tồn tại, bất cập và kiến nghị phương hướng khắc phục, hoàn thiện
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Với mục đích triển khai những nội dung cơ bản của luận văn, tác giả
đã vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, giải thích, so sánh … để lý giải những vấn đề đặt ra
6 Những đóng góp mới của đề tài
Là công trình nghiên cứu pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật một cách cụ thể, luận văn có những đóng góp mới là:
- Trình bày, phân tích một cách khoa học và có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD
- Nêu và phân tích nguyên nhân, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam; tìm hiểu và phân tích các tranh chấp về bảo đảm tiền vay bằng GTCG thường phát sinh trong hoạt động cho vay có bảo đảm bằng GTCG tại TCTD
ở Việt Nam
- Luận văn kiến nghị, đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam nhằm góp phần xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, mang tính khả thi
Trang 107 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm tiền vay
bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có
giá tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Chương 3: Một số phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp
luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Trang 11Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG GIẤY TỜ CÓ GIÁ TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại giấy tờ có giá
1.1.1 Khái niệm giấy tờ có giá
Dưới góc độ luật học, khi nghiên cứu một vấn đề, chúng ta không thể
bỏ qua các khái niệm pháp lý liên quan đến vấn đề đó Vì vậy, một khi đã đề cập đến giao dịch đảm bảo tiền vay bằng GTCG, đương nhiên phải đề cập đến khái niệm về GTCG
"Giấy tờ có giá" là thuật ngữ khá quen thuộc thường được sử dụng trong hoạt động huy động vốn và cho vay của các TCTD Ngoài ra, một số thuật ngữ khác cũng thường xuyên được đề cập đến như cổ phiếu, trái phiếu,
kỳ phiếu, tín phiếu, hối phiếu, chứng khoán, công cụ chuyển nhượng … Vậy, GTCG là gì? Cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng khoán, CCCN
có phải là GTCG hay không?
Theo nghĩa chung nhất, "giấy tờ có giá nói chung được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định (tổ chức, cá nhân) xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác" [32]
Trên phương diện kinh tế, GTCG là một loại hàng hóa được mua bán, trao đổi trên thị trường tiền tệ, gồm rất nhiều loại như trái phiếu, tín phiếu, công trái do Chính phủ phát hành; cổ phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu và
các GTCG khác do TCTD và các doanh nghiệp khác phát hành; …
Xét trên phương diện pháp lý, giấy tờ có giá được quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau
Trang 12Trên thế giới, văn bản đầu tiên quy định về GTCG ở dạng hối phiếu ra đời vào năm 1603 đó là Pháp lệnh Humburg Đây là pháp lệnh được ban hành trên cơ sở tập quán thương mại về phát hành và sử dụng thương phiếu Năm
1874, Pháp lệnh chung về hối phiếu Đức đã được tập hợp hóa từ 55 pháp lệnh hối phiếu của từng bang riêng rẽ Đến năm 1882, Vương Quốc Anh ban hành Luật hối phiếu (Bill of Exchange Act 1882) Sau năm 1930, năm ký kết công ước Giơ-ne-vơ về hối phiếu một loạt quốc gia đã lần lượt ban hành luật hối phiếu của quốc gia mình cho dù có gia nhập hay không gia nhập Công ước
1930 về hối phiếu Đến năm 1988, Hiệp ước thống nhất về hối phiếu đòi nợ
và hối phiếu nhận nợ quốc tế đã được Ủy ban Luật thương mại Liên hợp quốc (gọi tắt là UNCITRAL) soạn thảo và được Đại Hội đồng Liên Hợp quốc thông qua trong khóa họp toàn thể lần thứ 43 ngày 9/12/1988
Ở Việt Nam, khái niệm GTCG hiện đang được đề cập tại nhiều văn bản pháp luật thực định
Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định về GTCG với tư cách là một loại tài sản dùng trong các giao dịch dân sự Theo đó, Điều 172 BLDS năm 1995
trước đây quy định: "Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản", Điều 163 BLDS năm 2005 quy định: "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" [19, Điều 163]
Theo Khoản 9 Điều 3 Nghị định số 163 thì: "giấy tờ có giá bao gồm
cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch" [3, Khoản 9 Điều 3]
Như vậy, khái niệm GTCG được quy định dưới dạng liệt kê các loại giấy tờ được coi là GTCG, được dùng làm tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Giấy tờ có giá là tên gọi chung của các loại giấy tờ như cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, và những loại giấy tờ khác thỏa mãn hai điều kiện: trị giá được thành tiền và được phép giao dịch
Trang 13Luật NHNN với tư cách là đạo luật quy định về tổ chức, hoạt động của NHNN đã định nghĩa về GTCG dưới góc độ là một loại giấy tờ do các tổ chức phát hành để huy động vốn và được NHNN chấp nhận như một công cụ
để chiết khấu, hoặc chấp nhận như một loại tài sản bảo đảm trong trường hợp NHNN cho các TCTD vay vốn hoặc NHNN mua bán GTCG đó thông qua
nghiệp vụ thị trường mở theo đó giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa
vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác
(khoản 8 Điều 6)
Trong trường hợp các TDTD phát hành GTCG để huy động vốn, khái
niệm GTCG được đề cập tại Quy chế phát hành GTCG Theo Khoản 1 Điều 4 Quy chế này thì: "Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua" [12, Khoản 1 Điều 4]
Cũng quy định về hoạt động huy động vốn của các tổ chức phát hành, Luật Chứng khoán đã xác lập khái niệm "chứng khoán" Theo đó, chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định Từ khái niệm này cho thấy, Luật Chứng khoán chỉ làm rõ chứng khoán là gì, gồm những loại nào, còn việc nó
có phải là một loại GTCG hay không thì pháp luật về chứng khoán còn bỏ ngỏ Mặc dù, trong phần liệt kê các loại chứng khoán thì một số loại chứng khoán cũng thuộc diện được liệt kê là GTCG tại BLDS năm 2005, ví dụ như
cổ phiếu, trái phiếu
Trang 14Trong lĩnh vực tố dụng dân sự, Tòa án nhân dân Tối cao cũng có hướng dẫn về cách nhận diện, xác định các loại GTCG Theo hướng dẫn của Tòa án Nhân dân Tối cao thì GTCG bao gồm:
Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác được quy định tại Điều 1 của Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005; trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty,
kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005; tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16 Điều 3 của Luật Quản lý nợ công năm 2009; các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua
cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật Chứng khoán năm
2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2010); trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Điều 2 của Nghị định số 52/2006/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2006 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp [30]
Từ những liệt kê và phân tích nêu trên cho thấy, hiện chưa có một khái
niệm "chuẩn", thống nhất về GTCG Khái niệm về GTCG đang được quy
định tại nhiều văn bản pháp luật, được xác lập theo nhiều cách khác nhau, theo nhiều cách tiếp cận khác nhau tùy thuộc vào mục đích, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của văn bản pháp luật đó đang hướng tới
Nói chung, cho dù dưới góc độ nào, việc nhận thức chính xác khái niệm về GTCG đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thiết lập và thực hiện các giao dịch liên quan đến GTCG, cũng như trong việc xây dựng quy định pháp luật liên quan đến GTCG Khái niệm về giấy tờ có giá phải thể hiện
Trang 15được những đặc điểm cơ bản của nó Theo tác giả, giấy tờ có giá là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định xét trong mối quan hệ pháp lý với chủ thể khác, trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự
1.1.2 Đặc điểm của giấy tờ có giá
Như đã phân tích ở trên, GTCG nhìn dưới các góc độ, phương diện khác nhau sẽ có các định nghĩa khác nhau Nhưng, cho dù được định nghĩa như thế nào, GTCG vẫn phải mang những đặc điểm đặc trưng, những thuộc tính cơ bản để nhận biết đó là GTCG và để phân biệt GTCG với các loại tài sản khác
Mặc dù, BLDS năm 2005 không hề có điều khoản nào quy định rõ GTCG có những đặc điểm nào đó để phân biệt với các loại tài sản khác cũng như đối với các loại giấy tờ khác Tuy nhiên, từ việc kết nối các định nghĩa về GTCG tại các văn bản pháp luật thực định, cũng như từ việc phân tích ở phương diện ngôn ngữ của thuật ngữ GTCG có thể thấy rằng GTCG có ba đặc điểm, thuộc tính cơ bản là: (1) Xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định; (2) Trị giá được bằng tiền; và (3) Có thể chuyển giao quyền sở hữu
cho chủ thể khác trong giao dịch dân sự
Thứ nhất, giấy tờ có giá xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định
Xét về mặt ngôn ngữ, bản thân thuật ngữ GTCG ngay khi được
"xướng tên" đã tự nó "toát lên" những đặc điểm riêng biệt để nhận biết, trước tiên nó là một loại giấy tờ có giá trị và thứ đến giá trị của nó có thể trị giá được bằng tiền
Giấy tờ có giá là tài sản và bản thân nó là bằng chứng xác nhận quyền
tài sản của một chủ thể xác định Theo Điều 181 BLDS năm 2005 thì quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự Đặc điểm này của GTCG được thể hiện rất rõ trong quy định tại các
Trang 16văn bản pháp luật thực định như Luật NHNN, Quy chế phát hành GTCG, Luật CCCCN, Luật Chứng khoán Tuy nhiên, việc xác nhận quyền tài sản của người sở hữu các loại GTCG khác nhau sẽ có những nét đặc trưng riêng
Trong phạm vi hoạt động của NHNN và các TCTD, GTCG được quy định dựa trên góc độ đây là loại giấy tờ mà các tổ chức phát hành để huy động
vốn Cụ thể, theo Luật NHNN thì: "Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy
tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác" [30, khoản 8 Điều 6]
Tương tự như Luật NHNN, Khoản 1 Điều 4 Quy chế phát hành
GTCG quy định giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành
để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua
Theo các quy định trên đây, thì GTCG là bằng chứng xác nhận nghĩa
vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các
điều khoản cam kết khác của tổ chức phát hành GTCG (trong đó có TCTD)
đối với người sở hữu, người mua GTCG Điều này cũng đồng nghĩa với việc GTCG xác nhận quyền chủ nợ của người sở hữu, người mua GTCG Với tư cách là chủ nợ, người sở hữu GTCG có quyền yêu cầu tổ chức phát hành trả
nợ một khoản tiền bằng mệnh giá ghi trên GTCG kèm theo trả các khoản lãi
vào ngày đáo hạn GTCG
Luật Các công cụ chuyển nhượng ghi nhận đặc điểm của GTCG về việc xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định dưới góc độ khác với Luật
NHNN và Luật Các TCTD Theo Luật CCCCN thì "công cụ chuyển nhượng là giấy tờ có giá ghi nhận lệnh thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định vào một thời điểm nhất định" [21, khoản 1 Điều 4]
Trang 17Như vậy, quyền tài sản của chủ thể sở hữu GTCG theo quy định của Luật CCCCN chính là quyền của người thụ hưởng trong việc yêu cầu người phát hành, người bị ký phát thanh toán một số tiền xác định vào một thời điểm xác định cho người thụ hưởng Quyền yêu cầu của người thụ hưởng xuất phát từ việc người ký phát, người phát hành thực hiện phát hành CCCN trên
cơ sở giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, cho vay, giao dịch thanh toán và giao dịch tặng cho theo quy định của pháp luật
Cũng xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định, nhưng quyền tài sản của chủ sở hữu chứng khoán lại là quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn góp của tổ chức phát hành Theo
quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Chứng khoán thì chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành
Tùy thuộc vào loại chứng khoán khác nhau (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán hay hợp đồng góp vốn đầu tư) mà quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu chứng khoán loại đó sẽ có nội dung và phạm vi khác nhau Ví dụ, loại chứng khoán là
"Quyền mua cổ phần" sẽ "mang lại cho cổ đông hiện hữu quyền mua cổ phần mới theo điều kiện đã được xác định" [22, khoản 6 Điều 6] còn loại chứng khoán
là "Hợp đồng góp vốn đầu tư" sẽ "mang lại cho người góp vốn lợi nhuận và được phép chuyển đổi thành chứng khoán khác" [26, khoản 8a Điều 6]
Như vậy, giấy tờ có giá dù là loại nào đi nữa thì cũng luôn mang đặc điểm là bằng chứng xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định, tuy rằng nội dung và phạm vi của quyền tài sản mà loại GTCG đó ghi nhận là không giống nhau
Thứ hai, giấy tờ có giá trị giá được bằng tiền
Một trong những đặc điểm nổi bật khác của GTCG đó là GTCG có thể trị giá được bằng tiền, nghĩa là có thể hoán đổi GTCG thành tiền
Trang 18Thật vậy, qua khái niệm về GTCG như đã phân tích ở trên có thể thấy rằng vì bản thân GTCG xác nhận quyền yêu cầu trả nợ, quyền yêu cầu thanh toán một khoản tiền trong một thời hạn nhất định và khoản tiền đó luôn được xác định rõ trên GTCG nên GTCG có thể trị giá bằng tiền
Đặc điểm trị giá được bằng tiền của GTCG thể hiện rất rõ trong các mối quan hệ pháp lý liên quan đến GTCG như quan hệ giữa người sở hữu GTCG với tổ chức phát hành GTCG để huy động vốn, quan hệ chiết khấu, tái chiết khấu GTCG hay bảo đảm tiền vay bằng GTCG
Trong mối quan hệ giữa người sở hữu GTCG với tổ chức phát hành GTCG, khi đến hạn thanh toán của GTCG, người sở hữu GTCG có quyền yêu cầu tổ chức phát hành trả nợ một khoản tiền bằng mệnh giá của GTCG cộng với số tiền lãi tính trên mệnh giá GTCG Như vậy, đến ngày đáo hạn, GTCG
đã được quy ra một khoản tiền và tổ chức phát hành có nghĩa vụ trả cho người
sở hữu số tiền đó
Xét trong mối quan hệ chiết khấu GTCG, khi bên nhận chiết khấu đồng ý chiết khấu GTCG của khách hàng thì bên nhận chiết khấu phải trả cho khách hàng số tiền chiết khấu (gọi là giá chiết khấu) dựa trên giá trị GTCG khi đến hạn thanh toán, lãi suất chiết khấu và thời hạn còn lại của GTCG
Trong giao dịch bảo đảm tiền vay bằng GTCG, mức cho vay được xác định dựa trên giá trị của GTCG Mức cho vay thường không vượt quá giá trị của GTCG
Ngoài ra, đặc điểm trị giá được bằng tiền của GTCG còn thể hiện ở chỗ, có nhiều loại GTCG còn được coi như tiền, làm phương tiện thanh toán trong thị trường Khoản 1 điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật NHNN (số 10/2003/QH11 ngày 17/6/2003) trước đây đã từng quy định
GTCG là một loại tiền tệ theo đó tiền tệ là phương tiện thanh toán, bao gồm tiền giấy, kim loại và các giấy tờ có giá như tiền Mặc dù vậy, trên thực tế,
các loại GTCG tuy có giá trị như tiền nhưng được sử dụng trong các giao dịch
Trang 19dân sự thông thường hạn chế hơn so với tiền hoặc chỉ được dùng làm phương tiện lưu thông giữa một số chủ thể nhất định theo quy định của pháp luật (ví
dụ, séc)
Thứ ba, người sở hữu giấy tờ có giá có thể chuyển giao quyền sở hữu
giấy tờ có giá cho chủ thể khác trong giao dịch dân sự
Đặc điểm đặc trưng khác của GTCG đó là GTCG được chuyển nhượng, tức là người sở hữu GTCG có thể chuyển giao quyền sở hữu GTCG cho chủ thể khác trong giao dịch dân sự
Pháp luật hiện hành xem GTCG là một loại tài sản, vì vậy, người sở hữu GTCG được quyền chuyển nhượng GTCG cho chủ thể khác theo cách thức và thông qua các hình thức giao dịch phù với quy định của pháp luật như
mua, bán, cho, tặng, trao đổi, thừa kế,
Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp người sở hữu GTCG đều
có thể tự do chuyển nhượng quyền sở hữu GTCG đó cho người khác Thực tế, việc chuyển nhượng quyền sở hữu GTCG trong nhiều trường hợp là không được thực hiện hoặc thực hiện trong những điều kiện, giới hạn nhất định
Việc một GTCG không được hoặc bị hạn chế chuyển nhượng thường
do loại GTCG đó thuộc trường hợp pháp luật quy định không được chuyển nhượng Các văn bản pháp luật hiện hành như Luật CCCCN, Luật Doanh nghiệp, Quy chế phát hành GTCG, Luật Các TCTD … quy định rất cụ thể các trường hợp cấm hoặc hạn chế chuyển nhượng GTCG, đặc biệt GTCG là cổ phiếu hoặc CCCN
Ngoài ra, giấy tờ có giá không được hoặc bị hạn chế chuyển nhượng
do tình trạng pháp lý của GTCG đó tại thời điểm xác lập giao dịch chuyển nhượng chưa thỏa mãn hết các điều kiện để được tham gia giao dịch (ví dụ, cổ phiếu mà cổ đông chưa thanh toán hết tiền mua cổ phiếu hoặc cổ phiếu mà các bên thỏa thuận không được dùng làm tài sản bảo đảm)
Trang 20Việc xem xét một loại GTCG cụ thể có được tự do chuyển nhượng cho chủ thể khác hay không có ý nghĩa hết sức quan trọng trong các giao dịch dân sự liên quan đến GTCG như giao dịch tặng, cho, mua bán, giao dịch bảo đảm bằng GTCG Nếu một người sở hữu loại GTCG thuộc diện không được chuyển nhượng hoặc hạn chế chuyển nhượng thì người đó sẽ không thể chuyển nhượng GTCG đó cho chủ thể khác hay nếu muốn chuyển nhượng thì phải thỏa mãn các điều kiện mà pháp luật đã đặt ra hoặc tổ chức phát hành đã ấn định
Như vậy, GTCG bản thân nó là một loại tài sản có ba đặc điểm đặc trưng cơ bản là xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định, trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao quyền sở hữu cho chủ thể khác trong giao dịch dân sự Đây là ba đặc điểm để nhận biết GTCG và để phân biệt GTCG với các loại giấy tờ khác, cũng như với loại tài sản khác
1.1.3 Phân loại giấy tờ có giá và ý nghĩa của việc phân loại
Các loại GTCG tồn tại theo các hình thức pháp lý khác nhau Mỗi loại GTCG có đặc trưng riêng Tuy nhiên, căn cứ vào các tiêu chí nhất định, GTCG được phân loại thành các nhóm trong đó GTCG thể hiện được một số đặc điểm chung Sau đây là một số tiêu chí phân loại cơ bản về GTCG:
Thứ nhất, căn cứ vào thời hạn của GTCG, GTCG được phân thành
Trang 21giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay bằng GTCG và giao dịch chiết khấu, tái chiết khấu GTCG của NHNN hoặc TCTD
Trong giao dịch bảo đảm tiền vay bằng GTCG, thời hạn của GTCG là
cơ sở để NHNN và các TCTD xác định thời hạn cho vay trên cơ sở đảm bằng GTCG Thời hạn cho vay không quá thời hạn còn lại của GTCG Thời gian gia hạn nợ không vượt quá ngày đến hạn của GTCG Ngoài ra, trong giao
dịch chiết khấu, tái chiết khấu GTCG thì "thời hạn chiết khấu, tái chiết khấu không vượt quá thời hạn còn lại của giấy tờ có giá" [11, Khoản 1 Điều 9]
Thứ hai, căn cứ vào chủ thể phát hành GTCG, các GTCG được chia
thành GTCG do TCTD phát hành và GTCG do các tổ chức khác phát hành
Giấy tờ có giá do TCTD phát hành là chứng nhận của TCTD phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa TCTD và người mua bao gồm tín phiếu, trái phiếu và các GTCG khác
Các tổ chức khác phát hành GTCG như doanh nghiệp, Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Ủy ban nhân dân Các loại GTCG do các tổ chức này phát hành chủ yếu là trái phiếu, cổ phiếu (đối với doanh nghiệp) và có thể liệt kê một số loại GTCG như dưới đây:
- Trái phiếu doanh nghiệp: "là loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả gốc, lãi, và các nghĩa vụ khác (nếu có) của doanh nghiệp đối với chủ sở hữu trái phiếu" [2, Khoản 1 Điều 2]
- Trái phiếu Chính phủ: "là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình,
dự án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước" [5, Khoản 1 Điều 2]
- Trái phiếu chính quyền địa phương: "là loại trái phiếu do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) phát hành nhằm huy động vốn cho công trình, dự án đầu tư của địa phương" [5, Khoản 3 Điều 2]
Trang 22- Tín phiếu kho bạc: "là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 13 tuần,
26 tuần hoặc 52 tuần và đồng tiền phát hành là đồng Việt Nam Các kỳ hạn khác của tín phiếu kho bạc do Bộ Tài chính quyết định tùy theo nhu cầu sử dụng vốn
và tình hình thị trường nhưng không vượt quá 52 tuần" [5, khoản 1 Điều 10]
- Trái phiếu kho bạc: "là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ một (01) năm trở lên và đồng tiền phát hành là đồng tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ
tự do chuyển đổi" [5, Khoản 2 Điều 10]
- Công trái xây dựng Tổ quốc: "là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn
từ một (01) năm trở lên, đồng tiền phát hành là đồng Việt Nam và được phát hành nhằm huy động nguồn vốn để đầu tư xây dựng những công trình quan trọng quốc gia và các công trình thiết yếu khác phục vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật cho đất nước" [5, Khoản 3 Điều 10]
Thứ ba, dựa vào hình thức của GTCG, GTCG được phân thành GTCG
ghi danh (ghi tên) và GTCG vô danh (không ghi tên)
Giấy tờ có giá ghi danh: "là GTCG phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ có ghi tên người sở hữu" [12, Khoản 4 Điều 4]
Giấy tờ có giá vô danh: "là GTCG phát hành theo hình thức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ GTCG" [12, Khoản 5 Điều 4]
Như vậy, đối với GTCG ghi danh thì người sở hữu GTCG được ghi rõ trên GTCG Số lượng người sở hữu GTCG có thể chỉ là một cá nhân, một tổ chức, pháp nhân hoặc có thể là nhiều cá nhân, nhiều tổ chức, nhiều pháp nhân hoặc vừa tổ chức vừa là cá nhân nhưng luôn xác định được Chính vì vậy, chỉ có những chủ thể được ghi tên trên GTCG mới có quyền quyết định chuyển nhượng GTCG cho chủ thể khác thông qua việc bán, tặng cho, để lại thừa kế, Thủ tục chuyển quyền sở hữu loại GTCG này cho chủ thể khác thường phức tạp khi phải đăng ký và phải có xác nhận của cơ quan phát hành GTCG đó
Trang 23Trong nhiều trường hợp, pháp luật còn đưa ra các điều kiện đối với người sở hữu GTCG ghi danh và hạn chế việc chuyển nhượng đối với loại giấy tờ này như cổ phần của một số đối tượng nhất định phải được phát hành dưới hình thức cổ phiếu có ghi tên và việc chuyển nhượng cổ phần của những đối tượng này thực hiện thủ tục xin chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Khoản 1 Điều 14 Quyết định số 1122/2001/QĐ-NHNN ngày 4 tháng 9 năm 2001 của Thống đốc NHNN quy định về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu và vốn điều lệ của ngân hàng thương mại nhà nước và nhân dân)
Đối với GTCG vô danh, trên GTCG không ghi tên người sở hữu, giấy
tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ nó Do đó, việc chuyển quyền sở hữu GTCG vô danh sẽ đơn giản hơn so với chuyển giao quyền sở hữu GTCG ghi danh, không cần thông qua thủ tục đăng ký, xác nhận của cơ quan phát hành GTCG Ngoài ra, vì GTCG vô danh thuộc quyền
sở hữu của người nắm giữ GTCG nên pháp luật quy định người sở hữu GTCG vô danh phải tự chịu trách nhiệm về việc bảo quản GTCG và tổ chức phát hành sẽ không chịu trách nhiệm trong các trường hợp GTCG vô danh bị mất cắp hoặc bị sử dụng với mục đích lừa đảo (Khoản 6 Điều 6 Điều lệ mẫu
áp dụng cho các công ty niêm yết trên sở giao dịch/trung tâm giao dịch chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19 tháng 03 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)
Thứ tư, căn cứ vào loại công cụ trên thị trường vốn, GTCG được phân
thành GTCG thuộc công cụ nợ và GTCG thuộc công cụ vốn
Một tài sản tài chính mang lại cho người nắm giữ nó "quyền hưởng một khối lượng tiền cố định, được ấn định trước", được gọi là công cụ nợ
(debt instrument), như trái phiếu kho bạc, trái phiếu công ty, hay các khoản cho vay Một tài sản tài chính mà buộc người phát hành phải trả cho người
nắm giữ "một số tiền căn cứ vào lợi nhuận thu được (nếu có)", sau khi đã
thanh toán xong những khoản nghĩa vụ, được gọi là công cụ vốn (equity instrument), như cổ phiếu
Trang 24Nếu xét về mặt hình thức cũng như bản chất của GTCG, thì GTCG thuộc công cụ nợ là loại GTCG có mệnh giá, có thời hạn, có lãi suất, xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành đối với người sở hữu GTCG đó (người
sở hữu GTCG là chủ nợ của tổ chức phát hành) Giấy tờ có giá thuộc công cụ vốn là loại GTCG có mệnh giá, xác nhận vốn góp của người sở hữu GTCG tại
tổ chức phát hành (người sở hữu GTCG là chủ sở hữu tổ chức phát hành)
Như vậy, dựa vào định nghĩa về công cụ nợ và công cụ vốn như vừa nêu thì GTCG thuộc công cụ nợ gồm kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu và GTCG thuộc công vụ vốn có cổ phiếu
Sự khác nhau cơ bản giữa GTCG thuộc công cụ vốn và GTCG thuộc công cụ nợ là số tiền mà người nắm giữ GTCG đó được tổ chức phát hành GTCG thanh toán có cố định và có được ấn định trước hay không Đối với GTCG thuộc công cụ nợ, số tiền được thanh toán (gốc, lãi) đã được xác định
rõ trên GTCG, không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành Còn GTCG thuộc công cụ vốn thì số tiền lãi được trả căn cứ vào lợi nhuận mà tổ chức phát hành thu được Ngoài ra, giá trị của GTCG thuộc công
vụ vốn cũng luôn biến động trên thị trường
Chính sự khác biệt giữa hai loại GTCG này sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư GTCG của nhà đầu tư trên thị trường, cũng như ảnh hưởng đến chính sách cho vay có bảo đảm bằng GTCG của các tổ chức, cá nhân cho vay Những nhà đầu tư muốn có khoản thu nhập ổn định từ GTCG sẽ đầu tư vào GTCG thuộc công cụ nợ vì số tiền thu được từ loại GTCG đó đã được xác định trước, không phụ thuộc vào biến động của thị trường và ít rủi ro Những nhà đầu tư "thích mạo hiểm" lại đầu tư vào GTCG thuộc công cụ vốn vì khoản thu mà nhà đầu tư thu được có thể sẽ rất cao khi thị trường tốt và nhưng có thể xuống thấp khi thị trường không ổn định, người sở hữu GTCG loại này lại có các quyền và lợi ích hợp pháp khác với tư cách là chủ sở hữu tổ chức phát hành (ví dụ, người sở hữu cổ phiếu phổ thông có quyền biểu quyết
Trang 25trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông của tổ chức phát hành, quyền đề cử, ứng
cử người vào Hội đồng quản trị của tổ chức phát hành, …)
Xét trong mối quan hệ về đảm bảo tiền vay bằng GTCG, bên cho vay cũng đưa ra những chính sách nhận bảo đảm khác nhau đối với các loại GTCG khác nhau Thường thì bên cho vay sẽ ưu tiên nhận tài sản bảo đảm là GTCG thuộc công cụ nợ để giảm thiểu rủi ro vì tính ổn định và được đảm bảo giá trị của loại GTCG này Các loại GTCG thuộc công cụ vốn luôn được bên cho vay xem xét, cân nhắc rất cẩn thận
Thứ năm, căn cứ vào sự luân chuyển nguồn vốn, GTCG được phân
thành GTCG sơ cấp và GTCG thứ cấp
Giấy tờ có giá sơ cấp là GTCG được tiến hành mua bán ở thị trường
sơ cấp khi người mua mua được GTCG phát hành để bán lần đầu từ tổ chức phát hành theo đó vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang tổ chức phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành
Giấy tờ có giá thứ cấp là GTCG được tiến hành mua bán ở thị trường thứ cấp khi GTCG được phát hành ở thị trường sơ cấp đã được mua đi bán lại một hoặc nhiều lần theo đó nguồn vốn từ nhà đầu tư này sẽ được chuyển sang nhà đầu tư kia
Cuối cùng, căn cứ vào chức năng thanh toán trên thị trường, GTCG
được phân thành GTCG như tiền và GTCG khác
Giấy tờ có giá như tiền là GTCG có thể làm phương tiện thanh toán trong các giao dịch thanh toán Giấy tờ có giá như tiền được pháp luật hiện hành coi là một loại tiền tệ Theo đó, Khoản 1 điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật NHNN (số 10/2003/QH11 ngày 17/6/2003) trước đây
quy định: Tiền tệ là phương tiện thanh toán, bao gồm tiền giấy, kim loại và các GTCG như tiền
Mặc dù các văn bản pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể GTCG như tiền gồm những loại nào, nhưng dựa vào chức năng thanh toán có
Trang 26thể thấy những GTCG thuộc CCCN theo quy định của Luật CCCCN được coi
là GTCG như tiền, theo đó, CCCN là GTCG ghi nhận lệnh thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định vào một thời điểm nhất định
Các công cụ chuyển nhượng gồm hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc Đây là các GTCG "mang" mệnh lệnh hoặc cam kết thanh toán một số tiền xác định cho một chủ thể xác định vì vậy người thụ hưởng sẽ được nhận một khoản tiền theo đúng cam kết, mệnh lệnh thanh toán
Ngoài GTCG như tiền còn có các giấy tờ có giá khác
1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ
Theo nghĩa khách quan, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là tổng hợp các quy định pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện trong
đó quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Về mặt chủ quan, bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ dân sự là việc thỏa thuận giữa các bên nhằm qua đó đặt ra các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra Ngoài ra, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự còn có tính chất bắt buộc đối với các bên trong giao dịch
Trên phương diện hợp đồng, theo quy định tại Khoản 3, khoản 4 Điều 406 BLDS năm 2005 và Điều 15 Nghị định số 163 thì biện pháp bảo đảm thực
Trang 27hiện nghĩa vụ dân sự đều là những hợp đồng mang tính chất tài sản và là hợp đồng phụ theo đó các biện pháp bảo đảm về mặt tài sản chỉ được xử lý khi có hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của một bên trong quan hệ nghĩa vụ
Trong hoạt động cho vay của TCTD, bảo đảm tiền vay hiểu theo nghĩa chung nhất là việc TCTD áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo
cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho bên vay vay
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là việc bên bảo đảm dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ vay của bên vay đối với TCTD
Như vậy, qua các khái niệm trên đây cho thấy, bảo đảm tiền vay bằng tài sản thực chất là việc TCTD áp dụng biện pháp dân sự vào hoạt động cho vay, biện pháp cụ thể ở đây là dùng tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả
nợ tiền vay của bên vay Chính vì vậy, bảo đảm tiền vay bằng GTCG là biện pháp bảo đảm tiền vay mà bên bảo đảm dùng tài sản là GTCG thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ vay của bên vay với TCTD thông qua việc ký kết hợp đồng bảo đảm bằng GTCG
1.2.2 Đặc điểm của bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng
1.2.2.1 Là biện pháp bảo đảm được thiết lập nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên vay vốn đối với bên cho vay là tổ chức tín dụng
Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng GTCG không tồn tại độc lập mà luôn phụ thuộc và gắn liền với một nghĩa vụ đó là nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên vay vốn đối với bên cho vay là TCTD Nghĩa vụ trả nợ tiền vay phát sinh
từ hợp đồng chính là hợp đồng vay
Khi bên vay và TCTD thiết lập hợp đồng vay thì TCTD cho bên vay vay một khoản tiền với điều kiện bên vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền vay đó
Trang 28cộng thêm lãi phát sinh trên khoản tiền vay, kèm theo các chi phí khác liên quan đến khoản vay khi hết thời hạn vay Trong mối quan hệ này, TCTD có quyền yêu cầu và bên vay có nghĩa vụ trả nợ vay theo quy định tại hợp đồng vay Tuy nhiên, việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay có đúng, đầy đủ hay không lại phụ thuộc nhiều vào khả năng tài chính (nguồn trả nợ) và thiện chí hợp tác của bên vay, mặc dù, trước khi quyết định cho vay TCTD đã thực hiện thẩm định, phê duyệt khoản vay theo quy chế và quy trình rất chặt chẽ Chính vì vậy, trong quan hệ cho vay, khi thiết lập hợp đồng vay, TCTD luôn đặt ra yêu cầu bên vay phải thực hiện biện pháp bảo đảm để bảo đảm cho nghĩa vụ trả
nợ của mình
Tùy thuộc vào tính chất của từng khoản cho vay (số tiền vay, thời hạn vay, mục đích vay, ), tùy thuộc vào khả năng tài chính của bên vay mà họ đưa ra các biện pháp bảo đảm phù hợp để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ Một trong những biện pháp được lựa chọn chính là bảo đảm bằng GTCG
Để làm rõ hơn đặc điểm này của bảo đảm tiền vay bằng GTCG, tiếp sau đây luận văn đề cập đến nghiệp vụ chiết khấu GTCG của TCTD và nghiệp vụ "repo" chứng khoán của công ty chứng khoán
Nghiệp vụ chiết khấu GTCG của TCTD, xét về mặt hình thức có một
số điểm tương đồng với bảo đảm tiền vay bằng GTCG vì đều có đối tượng là GTCG, một bên chủ thể có sự tham gia của TCTD Tuy nhiên, về bản chất, bảo đảm tiền vay bằng GTCG là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên vay đối với TCTD, là hợp đồng phụ đi kèm với hợp đồng cho vay, trong khi chiết khấu GTCG là một loại hình "cấp" tín dụng của TCTD thông qua việc ký kết hợp đồng mua bán trước thời hạn GTCG (đây là hợp đồng chính và là hợp đồng duy nhất vì không có hợp đồng bảo đảm nào kèm theo) Ngoài ra, đối với bảo đảm tiền vay bằng GTCG, GTCG chỉ bị xử
lý khi bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ tiền vay Còn đối với chiết khấu GTCG, bên được chiết khấu
Trang 29đã chuyển giao quyền sở hữu GTCG cho bên chiết khấu (TCTD) để nhận lại khoản tiền vay chính là tiền bán GTCG do TCTD thanh toán, theo đó, nghĩa
vụ trả nợ khoản tiền vay sẽ được chuyển giao cho người thứ ba là người mắc
nợ theo quy định tại GTCG Hiểu một cách khái quát, bảo đảm tiền vay bằng GTCG là một biện pháp bảo đảm "cấp" tín dụng còn chiết khấu GTCG lại là một loại hình "cấp" tín dụng, chúng khác nhau hoàn toàn về bản chất
"Repo" chứng khoán là hoạt động nghiệp vụ liên quan đến GTCG do các công ty chứng khoán đang thực hiện, là phái sinh của nghiệp vụ cho vay
có đảm bảo bằng GTCG tại TCTD Dưới phương diện giao dịch, "Repo" chứng khoán là giao dịch mua bán có kỳ hạn chứng khoán thông qua việc thiết lập hợp đồng mua bán có kỳ hạn chứng khoán Theo đó, bên bán thực hiện bán và chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán cho bên mua sau đó đến thời điểm mua lại (được ấn định trước trong hợp đồng), bên đã bán sẽ mua lại
số chứng khoán đã bán (bên mua ban đầu chuyển giao lại quyền sở hữu chứng khoán cho bên bán ban đầu) Trong khi, đối với bảo đảm tiền vay bằng GTCG, khi thiết lập hợp đồng bảo đảm sẽ không có sự chuyển giao quyền sở hữu GTCG, GTCG làm tài sản bảo đảm vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, còn TCTD (bên nhận bảo đảm) chỉ là người "giữ" GTCG Tổ chức tín dụng chỉ được xử lý GTCG khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay đầy đủ, đúng hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm và theo quy định chung của pháp luật Như vậy, dưới góc độ pháp lý, "repo" chứng khoán khác biệt với bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD
1.2.2.2 Tài sản dùng để bảo đảm tiền vay là giấy tờ có giá
Như đã nêu ở phần trên, bảo đảm tiền vay bằng tài sản là việc bên bảo đảm dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa
vụ hoàn trả nợ vay của bên vay đối với TCTD Tài sản dùng để bảo đảm là tài sản theo quy định của pháp luật, có thể là động sản, bất động sản, tài sản hiện hữu hoặc tài sản hình thành trong tương lai,…
Trang 30Đối với bảo đảm tiền vay bằng GTCG thì tài sản bảo đảm đã được xác định chính là GTCG Bên bảo đảm dùng GTCG thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên vay đối với TCTD
Với tư cách là một loại tài sản có các đặc điểm nổi bật là xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định, trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao quyền sở hữu, GTCG được dùng làm tài sản bảo đảm tiền vay là hoàn toàn phù hợp với quy định của BLDS năm 2005, Quy chế phát hành GTCG và các văn bản pháp luật khác có liên quan
Giấy tờ có giá dùng làm tài sản bảo đảm rất đa dạng như cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, séc, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch
1.2.2.3 Một bên chủ thể trong giao dịch bảo đảm tiền vay bằng giấy
tờ có giá là tổ chức tín dụng
Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phát sinh thông qua sự thỏa thuận của các bên trong một giao dịch dân sự Trong giao dịch bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD có sự tham gia của các bên chủ thể trong đó bên bảo đảm (bên vay vốn, người thứ ba) có thể là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác … nhưng bên nhận bảo đảm phải là TCTD cho vay
Tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật hiện hành "là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng" [25]
(trong đó đặc trưng là hoạt động cho vay) Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân
Với chức năng cho vay được pháp luật thừa nhận, tổ chức tín dụng cho các cá nhân, pháp nhân, tổ chức khác vay vốn trên cơ sở thu hồi nợ gốc và lãi Vì vậy, để đảm bảo bên vay thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ vay nhằm bảo toàn "số tiền vốn" và số tiền lãi sẽ thu được đầy đủ, TCTD và bên vay thỏa thuận và ký kết thêm hợp đồng bảo đảm bằng GTCG Trong mối quan hệ bảo đảo này, rõ
Trang 31ràng bên nhận bảo đảm luôn luôn là TCTD đã cho bên vay vay vốn, còn bên bảo đảm có thể chính là bên vay vốn hoặc là người thứ ba có quyền sở hữu GTCG đem GTCG dùng làm tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho bên vay
Có thể khẳng định rằng, trong bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD, TCTD là chủ thể luôn được xác định rõ và là chủ thể đặc biệt TCTD nhận bảo đảm chính là TCTD cho vay, có thể là ngân hàng (ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã) hoặc TCTD phi ngân hàng (như công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác) TCTD là chủ thể đặc biệt do hoạt động của TCTD có
độ rủi ro cao nên theo thông lệ quốc tế và thực tế đang được áp dụng ở nước ta, TCTD ngoài việc tuân thủ các quy định chung của pháp luật doanh nghiệp, còn phải tuân thủ các tỷ lệ và giới hạn nhất định theo quy định của pháp luật chuyên ngành nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay có bảo đảm bằng GTCG nói riêng Ví dụ, TCTD khi nhận GTCG làm tài sản bảo đảm phải tính tỷ lệ khấu trừ để xác định giá trị khấu trừ của GTCG trên cơ sở giá trị có thể thu hồi từ việc phát mại GTCG sau khi trừ đi các chi phí phát mại GTCG dự kiến tại thời điểm trích lập dự phòng cụ thể, nhưng không được vượt quá tỷ lệ khấu trừ tối đa quy định của pháp luật
Trên đây là ba đặc điểm cơ bản của bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD Các đặc điểm này là cơ sở để phân biệt bảo đảm tiền vay bằng GTCG với bảo đảm tiền vay bằng tài sản khác tại TCTD, với các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự khác không có sự tham gia của TCTD
1.2.3 Phân loại bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng
Thuật ngữ "biện pháp bảo đảm" là tên gọi chung của các loại biện pháp bảo đảm cụ thể gồm cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp Trên thực tế, các bên phải xác định rõ loại biện pháp bảo đảm cụ thể sẽ được các bên thiết lập là loại nào Mỗi loại biện pháp bảo đảm có những đặc điểm khác nhau theo đó quyền, nghĩa vụ của các bên chủ thể là khác nhau Chính
vì vậy, việc phân loại bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD là điều cần thiết
Trang 32Dựa vào khái niệm, đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành thì bảo đảm tiền vay bằng GTCG gồm có cầm cố GTCG, thế chấp GTCG và ký quỹ bằng GTCG
Sở dĩ, bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD được phân thành các loại như trên vì đây là biện pháp bảo đảm mà bên bảo đảm sử dụng tài sản là GTCG để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên vay chứ không dùng uy tín hay sự bảo đảm "suông" Tức là, trong bảo đảm tiền vay bằng GTCG có xuất hiện và mang yếu tố tài sản, tài sản được xác định cụ thể là GTCG Vì vậy, nếu cứ chiếu theo khái niệm về cầm cố tài sản, thế chấp tài sản và ký quỹ trong BLDS năm 2005 (Điều 326, Điều 342 và Điều 360) thì bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD sẽ được phân thành các loại tương ứng Nếu bên sở hữu GTCG giao GTCG cho TCTD thì đó là cầm cố GTCG, nếu không chuyển giao GTCG cho TCTD thì là thế chấp GTCG và nếu gửi GTCG đó vào tài khoản phong tỏa tại một ngân hàng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì đó lại là ký quỹ GTCG
Tuy nhiên, theo các quy định tại các văn bản pháp luật về giao dịch bảo đảm và các văn bản pháp luật hiện hành về phát hành GTCG (Điều 19 Mục 1 Chương III Nghị định số 163, Khoản 1 Điều 15 Quy chế phát hành GTCG, Điều 36 Luật CCCCN) thì bảo đảm tiền vay bằng GTCG được ấn định rõ dưới hình thức cầm cố GTCG Trên thực tế, các TCTD nhận bảo đảm bằng GTCG cũng mặc nhiên thực hiện bảo đảm tiền vay bằng GTCG theo biện pháp cầm cố GTCG
1.3 Vai trò của bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng
Bảo đảm tiền vay bằng GTCG là biện pháp có vai trò quan trọng đối với hoạt động cho vay của TCTD, với bên vay, cũng như trong đời sống kinh
tế xã hội
Trước hết, bảo đảm tiền vay bằng GTCG góp phần thúc đẩy hoạt động
cho vay của TCTD phát triển vững chắc
Trang 33Bảo đảm tiền vay bằng GTCG là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ trả nợ tiền vay của bên vay, là biện pháp chế tài có chức năng dự phạt, là rào cản đối với những đối tượng đi vay có chủ định lừa đảo Tài sản bảo đảm tiền vay là GTCG như là khoản dự phòng làm giảm bớt tổn thất cho TCTD khi bên vay vì một lý do nào đó không thanh toán được nợ vay thì tài sản bảo đảm là GTCG sẽ được xử lý để thu hồi nợ Một khi có biện pháp bảo đảm tiền vay bằng GTCG đi kèm với hợp đồng cho vay, TCTD có thể "yên tâm" thực hiện
"cấp vốn" cho bên vay vì quyền thu hồi nợ vay từ bên vay đã được đảm bảo
Thứ đến, bảo đảm tiền vay bằng GTCG chính là "cứu cánh" cho bên
vay vì nhờ có biện pháp này mà bên vay có thể vay được vốn từ TCTD để đầu
tư kinh doanh hoặc nâng cao đời sống Nếu không có GTCG làm tài sản bảo đảm và cũng không có tài sản nào khác hay không có một chủ thể khác đứng
ra bảo lãnh thì không có mấy khách hàng được TCTD "cấp vốn" Bên cạnh
đó, bảo đảm tiền vay bằng GTCG góp phần nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên vay, làm động lực thúc đẩy, tác động bên vay trả nợ và sử dụng vốn vay có hiệu quả
Ngoài ra, bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD còn góp phần thúc
đẩy đời sống kinh tế xã hội phát triển ổn định, thông qua việc hỗ trợ và bảo đảm cho quan hệ vay, đi vay được thực hiện thuận lợi, nguồn vốn vay được luân chuyển
sử dụng phục vụ việc cải thiện, nâng cao đời sống và phát triển sản xuất kinh doanh Nguồn tiền vay trên cơ sở có bảo đảm bằng GTCG đóng vai trò là một trong những kênh tạo vốn quan trọng cho nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển
1.4 Nội dung của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng
1.4.1 Khái quát pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng
Giấy tờ có giá dưới hình thức như là hối phiếu, chứng khoán, … đã tồn tại nhiều năm ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển Tuy nhiên, trước
Trang 34những năm 1990, việc phát hành các giấy tờ này vẫn còn là vấn đề mới mẻ đối với Việt Nam
Lần đầu tiên, vào năm 1990 các loại công trái xây dựng tổ quốc, giao dịch phát hành GTCG của TCTD (cụ thể hơn là trái phiếu ngân hàng) được quy định tại Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày 24/5/1990
Năm 1995, Bộ luật Dân sự đầu tiên của nước Việt Nam ra đời ghi nhận chính thức GTCG là một loại tài sản được dùng làm tài sản bảo đảm cho
nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ trong giao dịch dân sự (Khoản 2 Điều 327 BLDS năm 1995)
Đến năm 1997, giao dịch phát hành trái phiếu ngân hàng và các GTCG khác tiếp tục được quy định trong Luật Các TCTD số 07/1997/QHX được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997 (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 20/2004/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004) Năm
1999, Pháp lệnh Thương phiếu ra đời ghi nhận thêm một loại GTCG trong lĩnh vực thương mại, ngân hàng và trong pháp luật dân sự
Khi BLDS năm 2005 ra đời thay thế BLDS năm 1995, GTCG tiếp tục được ghi nhận là một loại tài sản được dùng làm tài sản bảo đảm (tại Điều
321) Đến năm 2006, khi Nghị định 163 ra đời thì giao dịch bảo đảm tiền vay
bằng GTCG đã được quy định cụ thể hơn về các nội dung như loại GTCG được dùng làm tài sản bảo đảm, quyền của bên nhận cầm cố GTCG, xử lý tài sản bảo đảm là GTCG
Từ năm 2005 đến 2006, các văn bản luật quan trọng liên quan đến GTCG liên tiếp được ban hành như Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Luật CCCCN, Nghị định số 52/2006/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2006 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp (Nghị định số 52) Đây là
Trang 35những văn bản luật quy định liên quan về cổ phiếu, chứng khoán, các CCCN… với tư cách là những loại GTCG, trong đó Luật CCCCN quy định khá cụ thể
về quyền cầm cố, chuyển giao CCCN để cầm cố và xử lý CCCN được cầm cố
Năm 2008, Thống đốc NHNN ban hành Quy chế phát hành GTCG đã tiếp tục ghi nhận GTCG do TCTD phát hành được dùng làm tài sản cầm cố trong giao dịch dân sự Cũng vào năm 2008, NHNN ban hành Quyết định số 03/2008/QĐ-NHNN ngày 1 tháng 2 năm 2008 về cho vay, chiết khấu GTCG
để đầu tư và kinh doanh chứng khoán theo đó quy định TCTD được cho vay dưới hình thức cầm cố chứng khoán và/hoặc bảo đảm bằng tài sản khác đối với khách hàng sử dụng vốn vay để mua các loại chứng khoán Gần đây nhất, vào năm 2010, Luật Các TCTD, Luật NHNN và Luật Chứng khoán cũng được ban hành mới, sửa đổi, bổ sung có quy định liên quan đến GTCG
Mặc dù, văn bản pháp luật có quy định liên quan đến bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD được liệt kê ra khá nhiều như trên đây Tuy nhiên, một quy chế pháp lý chuẩn, đầy đủ và thống nhất cho biện pháp này lại chưa được thiết lập Xét trong phạm vi hoạt động của các TCTD, NHNN cũng chưa ban hành quy chế, quy trình nào về hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng có bảo đảm bằng GTCG Bởi vậy, việc thực hiện bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD hiện đang ở trong tình trạng mạnh ai nấy làm theo các quy chế riêng do mỗi TCTD tự đặt ra, không theo một "quy chuẩn" pháp lý thống nhất nào
1.4.2 Nội dung của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng
Nội dung của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh trực tiếp và liên quan đến bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD Vấn đề đặt ra là pháp luật điều chỉnh về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD quy định những gì ? Việc trả lời câu hỏi này cần dựa trên hệ thống các văn bản pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng
Trang 36GTCG tại TCTD Các văn bản pháp luật hiện hành chủ yếu đề cập đến các nội dung về GTCG, quyền của chủ sở hữu GTCG dùng GTCG đó làm tài sản bảo đảm, các loại GTCG được dùng làm tài sản bảo đảm, hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng GTCG Đây là các "chất liệu" tạo dựng quan hệ, trao quyền cho các chủ thể bảo đảm tiền vay bằng GTCG, hướng đến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể trong quan hệ bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD Sau đây, luận văn xin nêu ra một số quy định của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD
1.4.2.1 Quy định của pháp luật về loại giấy tờ có giá được dùng làm tài sản bảo đảm
Trong giao dịch bảo đảm tiền vay bằng GTCG, các bên chủ thể giao dịch được tự do, tự nguyện thỏa thuận loại GTCG dùng làm tài sản bảo đảm Tuy nhiên, sự tự do thỏa thuận đó phải nằm trong khuôn khổ, giới hạn mà pháp luật cho phép, tức là loại GTCG mà các bên lựa chọn làm tài sản bảo đảm nghĩa vụ phải được pháp luật cho phép đưa vào giao dịch và thỏa mãn các điều kiện khác mà pháp luật đã đặt ra
Có thể nói, GTCG rất đa dạng nên quy định pháp luật về loại GTCG được dùng làm tài sản bảo đảm cũng không chỉ gói gọn trong một văn bản pháp luật duy nhất mà nằm rải rác tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau như BLDS năm 2005, Luật CCCCN, Quy chế phát hành GTCG, Nghị định số 52, Nghị định số 163,
Tuy vậy, pháp luật hiện hành chỉ quy định theo hướng liệt kê các loại GTCG được dùng làm tài sản bảo đảm (ví dụ như, Điều 321 BLDS năm 2005 quy định rằng trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu và GTCG khác được dùng làm tài sản bảo đảm, còn Luật CCCCN lại quy định hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận
nợ, séc được dùng làm tài sản cầm cố (Điều 36, Điều 57)
Các điều kiện của GTCG được dùng làm tài sản bảo đảm hiện được quy định rất chung rằng, giấy tờ có giá làm tài sản bảo đảm phải là GTCG
Trang 37được phép giao dịch Một số trường hợp, pháp luật có quy định thêm rằng, một GTCG cụ thể được phép dùng trong các giao dịch khác nhưng trong giao dịch bảo đảm tiền vay lại không được thực hiện
Mặc dù, pháp luật hiện hành chưa có quy định rõ ràng, cụ thể về điều kiện của GTCG dùng làm tài sản bảo đảm Tuy nhiên, qua việc kết nối các quy định của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD, tác giả cho rằng, một GTCG được dùng làm tài sản bảo đảm khi thỏa mãn hai điều kiện cơ bản: GTCG phải thuộc sở hữu hợp pháp của bên bảo đảm (bên bảo đảm có toàn quyền quyết định việc dùng GTCG đó làm tài sản bảo đảm) và GTCG phải được phép giao dịch (được phép tham gia giao dịch bảo đảm)
1.4.2.2 Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục nhận tài sản bảo đảm tiền vay là giấy tờ có giá
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên vay, bên bảo đảm cũng như bên nhận bảo đảm (là tổ chức tín dụng), khi thực hiện bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD các bên chủ thể phải tuân thủ theo các trình tự, thủ tục nhất định
Mặc dù vậy, pháp luật hiện hành chưa có văn bản quy định riêng về trình
tự, thủ tục nhận GTCG làm tài sản bảo đảm tiền vay tại TCTD Trình tự, thủ tục thực hiện trong trường hợp này phải tuân theo quy định chung về nhận tài sản bảo đảm tại BLDS năm 2005 và các hướng dẫn cụ thể tại Nghị định số 163, Nghị định số 83 và các quy định pháp luật khác có liên quan
Theo quy định tại Nghị định số 163, trình tự thủ tục chung khi nhận tài sản bảo đảm sẽ là: giao kết giao dịch bảo đảm, công chứng, chứng thực giao dịch bảo đảm, đăng ký giao dịch bảo đảm, thực hiện giao dịch bảo đảm (bên bảo đảm chuyển giao tài sản, giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản cho bên nhận bảo đảm; bên nhận bảo đảm thực hiện quyền quản lý, giám sát, kiểm tra tài sản bảo đảm là GTCG trong suốt thời gian hiệu lực của giao dịch bảo đảm) và cuối cùng là xử lý tài sản bảo đảm
Trang 38Qua các quy định tại Nghị định số 163, Nghị định số 83 có thể thấy, đối với bảo đảm tiền vay bằng GTCG thì thủ tục công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm không phải là thủ tục bắt buộc Hiệu lực của bảo đảm tiền vay bằng GTCG không phụ thuộc vào việc giao dịch bảo đảm này có được công chứng hay không Thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm tiền vay bằng GTCG cũng không thuộc diện pháp luật "yêu cầu" phải thực hiện Các thủ tục này được lựa chọn thực hiện theo thỏa thuận của các bên trong giao dịch nếu họ thấy cần thiết
1.4.2.3 Quy định của pháp luật về hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá
Khi thiết lập biện pháp bảo đảm tiền vay bằng GTCG, các bên chủ thể phải xác định rõ loại biện pháp bảo đảm được áp dụng là cầm cố, thế chấp hay ký quỹ và tương ứng là loại hợp đồng cần ký kết để thiết lập biện pháp bảo đảm đó
Theo BLDS năm 2005 thì biện pháp cầm cố hay thế chấp khác nhau ở việc bên bảo đảm có thực hiện chuyển giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm hay không, theo đó cầm cố là việc chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm
cố, còn thế chấp thì không có việc chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp
Tuy nhiên, đối với một số tài sản cụ thể thì pháp luật hiện hành lại quy định rõ là chỉ có thế chấp hoặc cầm cố chứ không hoàn toàn dựa theo yếu tố chuyển giao hay không Ví dụ, một số loại tài sản chỉ thế chấp như quyền sử dụng đất (Luật Đất đai năm 2003), nhà ở (Luật Nhà ở năm 2005), tàu cá (Luật Thủy sản năm 2003), tàu biển (Bộ luật Hàng hải năm 2005) Và một số tài sản khác thì chỉ có cầm cố như các CCCN là séc, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận
nợ (Luật CCCCN), tín phiếu, trái phiếu và các GTCG do TCTD phát hành
(Quy chế phát hành GTCG) Tại Điều 19 về "Quyền của bên nhận cầm cố trong trường hợp nhận cầm cố vận đơn, thẻ tiết kiệm, GTCG", Nghị định số
163 cũng đã quy định GTCG là tài sản được dùng để cầm cố
Trang 39Như vậy, theo như các văn bản pháp luật vừa liệt kê trên đây, pháp luật hiện hành đã mặc nhiên xác định GTCG chỉ sử dụng để cầm cố mà không
sử dụng để thế chấp Nếu GTCG cũng được thế chấp, thì các văn bản nói trên
đã phải ghi thêm chữ "thế chấp" và Nghị định số 163 đã không ghi nhận GTCG vào Mục "Cầm cố tài sản" Vì vậy, loại hợp đồng được pháp luật xác định trong trường hợp nhận GTCG làm tài sản bảo đảm chính là hợp đồng cầm cố GTCG Và trên thực tế, các TCTD cũng chỉ nhận GTCG làm tài sản bảo đảm theo biện pháp cầm cố GTCG thông qua việc ký xác lập hợp đồng cầm cố GTCG
Pháp luật quy định, hợp đồng cầm cố GTCG phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính, hợp đồng cầm cố không cần có công chứng, việc công chứng có thể thực hiện khi các bên có thỏa thuận
Liên quan đến xác định loại hợp đồng bảo đảm, Bộ luật Dân sự Nhật Bản cũng có quy định tương tự về xác lập hợp đồng cầm cố cổ phiếu Theo bộ luật này thì "cổ phiếu dùng để cầm cố Điều kiện có hiệu lực của cầm cố cổ
phiếu là chuyển giao thực tế cổ phiếu" [25, tr 279; 289]
Trong hợp đồng cầm cố GTCG, đối tượng của hợp đồng là loại GTCG
cụ thể mà bên cầm cố dùng để cầm cố, GTCG phải thuộc loại pháp luật cho phép dùng làm tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Theo quy định của pháp luật (Điều 328 BLDS năm 2005), các bên chủ thể của hợp đồng cầm cố GTCG tại TCTD bao gồm bên cầm cố (bên sở hữu GTCG) và bên nhận cầm cố (TCTD) Bên cầm cố là bên vay hoặc là bên thứ
ba (thường có quan hệ thân thiết với bên vay và được TCTD chấp nhận) dùng GTCG thuộc sở hữu của mình cầm cố tại TCTD để bảo đảm cho nghĩa vụ trả
nợ tiền vay của bên vay
Các bên chủ thể hợp đồng cầm cố GTCG có các quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận và theo quy định của BLDS năm 2005 (từ Điều 330 đến Điều 333),
Trang 40Nghị định số 163 (từ Điều 16 đến Điều 18, Khoản 3 Điều 19), Luật CCCCN (Điều 37, Điều 57) và quy định tại các văn bản pháp luật khác có liên quan đến bảo đảm tiền vay bằng GTCG
1.4.2.4 Quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá
Xử lý tài sản bảo đảm là GTCG phải phù hợp với quy định chung của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm Đối với xử lý tài sản bảo đảm nói chung, BLDS năm 2005 và Nghị định số 163 đều quy định rất cụ thể về nguyên tắc
xử lý tài sản bảo đảm (Điều 336, 338, 355 BLDS năm 2005 và Điều 58 Nghị định số 163), phương thức xử lý tài sản bảo đảm, thời hạn xử lý tài sản bảo đảm và các nội dung khác liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm
Việc xử lý tài sản bảo đảm theo nguyên tắc, trước tiên thực hiện theo thỏa thuận của các bên, có thể là thỏa thuận tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm hoặc thỏa thuận tại bất kỳ thời điểm nào khác trong quá trình thực hiện giao dịch bảo đảm Trường hợp không có thỏa thuận thì xử lý theo quy định của pháp luật như khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên
có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hoặc bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận,
Bên cạnh các quy định chung, việc xử lý tài sản bảo đảm là GTCG còn được thực hiện theo quy định riêng như sau:
Trước hết, về thủ tục thông báo xử lý tài sản bảo đảm là GTCG Người xử lý GTCG có quyền xử lý ngay, đồng thời phải thông báo cho các bên nhận bảo đảm khác về việc xử lý GTCG đó (trong khi đối với các loại tài sản bảo đảm khác thì trước khi xử lý tài sản, người xử lý phải thông báo bằng văn bản về việc xử lý cho các bên cùng nhận bảo đảm khác hoặc đăng ký văn bản thông báo về xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng
ký giao dịch bảo đảm)