BẰNG CHỨNG THỰC TIỄN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆC THEO ĐUỔI SỰ CẢI TIẾN TIỀN M&A VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG HẬU M&A TRONG NỀN CÔNG NGHIỆP M&A VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN 2005-2012
Trang 2Danh sách nhóm
Trang 3T Ậ P T R U N G C H Ủ Y Ế U V À O V I Ệ C S Á P N H Ậ P V À
T H Â U T Ó M C Ủ A N Ề N K I N H T Ế T H Ị T R Ư Ờ N G X U Ấ T
H I Ệ N T Ạ I V I Ệ T N A M H I Ệ N N A Y T Ừ N Ă M 2 0 0 5 - 2 0 1 2
Cái nhìn tổng quát về ngành công nghiệp
M&A tại Việt Nam
Trang 4công nghiệp, các doanh
nghiệp thể hiện sự tuột
dốc về trách nhiệm đối
với tương lai của doanh
nghiệp bị thu mua và cả
đổi với các quá trình cải
tiến trong tương lai có
Kết quả là sự cải tiến của các công ty đã bị sáp nhập hoặc đã bị thâu tóm dường như sẽ phụ thuộc vào bên đi thu mua Và chúng ta có thể thấy rõ ràng là sự cải tiến này phải được quyết định thực hiện trước khi diễn ra M&A
Trang 5Hơn nữa, các công ty đa
quốc gia (TNC) có thể
theo đuổi chiến lược tiếp
quản các nguồn lực
cũng như vị thế thị
trường của các công ty
bị thu mua trên thị
trường địa phương như
Việt Nam
Thực tế, các dữ liệu thu thập được về công nghiệp M&A ở Việt Nam từ 1990-2010 cho thấy 79.4% các thương vụ M&A là việc các công ty nước ngoài thu mua các công ty nội địa (Vương và cộng sự, 2010)
Trang 6Các tài liệu về kết quả hoạt động hậu M&A và tại sao các hoạt động cải tiến lại có ý nghĩa
Calderon, Loayza và Serven (2004) chỉ ra rằng hoạt động M&A đã trở thành hoạt động kinh tế phổ biến trong giới kinh doanh ngày nay Công nghiệp M&A
đã trải qua sáu đợt phát triển trong thế kỷ vừa qua, với việc xảy ra gần đây nhất vào đầu thế kỷ 20 (Katz, Simanek và Townsend, 1997; Kim, 2009) bắt đầu từ những nền kinh tế phát triển, như Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản Sự cải tiến kỹ thuật là nhân tố ẩn sau những đợt M&A gần đây ở phương Tây.
Tại Đông Á, xu hướng M&A xuất hiện sau này, cuối thế kỷ 20, ban đầu xuất hiện ở những nước có nền kinh tế tiên tiến như Hàn Quốc, Đài Loan và Hong Kong Sự bất ổn tài chính ở Châu Á năm 1997 cũng đã đóng góp cho sự nổi bật của cơn sóng M&A trong sự ảm đạm của cộng đồng thương mại trong khu vực
Trang 7Ở Việt Nam, công nghiệp M&A đã dần dần hình thành chủ yếu bởi sự kết nối tự nhiên với các hoạt động và dòng chảy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) (Lall, 2002), và tầm quan trọng ngày càng tăng lên trong giai đoạn 2005-2010 (Vương và cộng sự, 2010)
Từ khi những kì vọng từ lợi nhuận ngắn hạn đã trở nên phi thực tế từ thời
kỳ quá độ nền kinh tế ở Việt Nam, các công ty thu mua tìm kiếm giá trị dài hạn và lợi ích từ việc thâu tóm các công ty Việt Nam càng trở nên hợp lý Việc này được Kim (2009) và những người khác (Focarelli, Panetta, và Salleo, 2002; Oberg và Holtstrom, 2006) tranh luận và sắp xếp lại, họ cho rằng càng tạo nhiều môi trường công nghiệp thuận lợi và thực hiện nhiều chiến lược thâu tóm sẽ càng làm tăng quyền lực của những công ty nắm quyền về kiểm soát tài sản và thâm nhập thị trường, và hơn nữa, giúp cho nguồn cung nguyên liệu sản xuất ổn định và an toàn.
Trang 8Thêm vào đó, theo báo cáo của Vương và các cộng sự (2010), một lượng lớn các thương vụ M&A ở Việt Nam trong giai đoạn 2005-2010 cũng như xu
hướng gia tăng M&A trong giai đoạn 2011-2012 cho rằng các ngân hàng có động cơ thu mua tài sản vốn và giá trị thương hiệu của thị trường nội địa, trong khi đó các bằng chứng thực tiễn lại chỉ ra lợi nhuận tức thời không phải là điều các doanh nghiệp đi thu mua mong muốn ( ví dụ: Block, 1968; Shick, 1972; Focarelli và các cộng sự, 2002; Pop, 2006)
Bertrand và Zuniga (2005) đã tìm ra những ảnh hưởng khác biệt rất lớn giữa những thương vụ M&A xuyên-biên-giới trong nội bộ các nền kinh tế của OECD
giai đoạn những năm 90 so với các thương vụ quốc gia
Tuy nhiên, câu hỏi về hiệu quả thực sự của nền kinh tế M&A Châu Á, không tính đến sự thành công của các thương vụ nói riêng, vẫn chưa có lời giải đáp
Trang 9Bên cạnh đó, không tính đến xu hướng đang gia tăng của các vụ M&A ở Châu Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng, không có sự sáng tỏ nào
trong mối liên hệ giữa kết quả hoạt động thực tế hậu M&A và sự theo
đuổi ban đầu của các doanh nghiệp đi thu mua khi xem xét việc cải thiện hoạt động cải tiến so sánh với xu hướng M&A thu mua các tài sản doanh nghiệp ở Việt Nam (Calderon và cộng sự, 2004)
Việc gia tăng M&A của các ngân hàng rất đáng chú ý bởi vì trước hết
việc tái cấu trúc một nền kinh tế luôn gắn liền với nguồn vốn từ các ngân hàng Thứ hai, các ngân hàng với một đống tiền mặt có thể tránh được
sự kiềm chế của việc quản lý nghiêm khắc và nắm giữ một lượng lớn
các tài sản của doanh nghiệp, như các tài sản thế chấp hoặc là các tài sản ký quỹ (Ramlee và Said, 2009; Walter, Yawson và Young, 2008)
Những mục đích căn bản của các việc sáp nhập này khá rõ ràng: (i) xây dựng một mạng lưới rộng lớn các chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc; (ii) thiết lập các thương hiệu ngân hàng có thể thu hút người gửi tiền mà không cần tốn nhiều chi phí tiếp thị; và (iii) để nắm giữ các tài
sản doanh nghiệp của ngân hàng bị thu mua
Trang 10Tuy nhiên, câu hỏi làm thế nào để thúc đẩy sự cải tiến trong ngành sản xuất có nghĩa là làm thế nào để các vụ M&A có thể làm được điều đó Castillo (2009) cho rằng hầu hết các thương vụ M&A đều hướng theo việc tạo ra độc quyền nhóm, và điều này sẽ làm gia tăng vấn đề về cấu trúc trong nền kinh tế, thay vì giải quyết nó Các nghiên cứu trước đó (ví dụ của Chatterjee, Lubatkin, Schweiger và Weber, 1992; Wang và Wong, 2004) chỉ ra rằng việc chuẩn bị thích đáng và xây dựng tích lũy các nguồn vốn nhân lực có thể giúp đỡ được; và vấn đề về PMI rõ ràng phải có một kế hoạch chiến lược trước khi diễn ra M&A, không phải là sau đó.
Tình huống ở thị trường M&A Việt Nam có thể chỉ ra một vài khác biệt Nhiều vụ M&A nhằm mục đích thu mua các nguồn chiến lược tương tự với các chiến lược của doanh nghiệp Trung Quốc (Deng 2009), bị chi phối bởi “lợi ích nhóm.” Những nhóm lợi ích này, ngân hàng, bất động sản hoặc nhà sản xuất tìm kiếm các kẽ hở kinh tế và có thể bỏ qua các tiến trình cải tiến tốn kém về tài chính và thời gian
bằng cách cố gắng vô hiệu hóa các chính sách hỗ trợ cho việc cạnh tranh hiệu
quả Sự cải tiến là một điều rất cần thiết mà nền kinh tế chuyển tiếp như Việt Nam cần nhất (Te Velde, 2001; Lall, 2002; Stiglitz, 2003).
Trong sự chuyển tiếp này, sự sáng tạo của các doanh nghiệp phải được xem có vai trò chủ chốt (Kirzner, 1973; Drucker, 1986)
Trong nghiên cứu của Napier, Đặng và Vương (2012), sự sáng tạo và cải tiến là trung tâm của “bí quyết thành công” cho bất kỳ vụ M&A nào, là một phạm vi rộng lớn những đặc điểm điển hình của các doanh nghiệp.
Trang 12Một trung tâm nghiên cứu của Hà Nội đã chuẩn bị dữ liệu cho bài nghiên cứu này Dữ liệu bao gồm các dữ liệu chính của 212 hoạt động M&A ở Việt Nam từ năm 2005 – 2012 Đội chuẩn bị dữ liệu đã mã hóa rất nhiều các thông tin theo dạng bảng với 6 loại biến phân biệt, gọi là Chi đầu tư, Cải tiến công nghệ, cải cách quản lý, tài sản vật chất, và giá trị thương hiệu
Giả định lý thuyết là hoạt động hậu M&A, mã hóa là “Perf”
Perf = 1 khi kết quả dương được ghi nhận là “Yes”, và Perf = 0 được ghi nhận là
“No”
Bên cạnh số lượng thông tin được thu thập bởi đội nghiên cứu, sự chuẩn bị dữ liệu này cũng xem xét đến chất lượng thông tin ẩn trong một lượng lớn các báo cáo được công bố và những thông tin chính thức được đưa ra bởi các thông tin trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố HCM (HOSE) và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), và các nguồn da phương tiện cho các công ty chưa được
niêm yết, chẳng hạn Đầu Tư Chứng Khoán, Vietnam Economic Times, Saigon
Economic Times
Trang 13Hàm phân phối hồi quy có dạng như sau:
đại diện cho “khả năng thành công”
là số chặn của công thức được ước lượng
Là tương quan với biến i th , Xi
Trang 14Với mỗi biến được dự đoán, Xi, giả thuyết vô hiệu chuẩn là: = 0, i = 1,…,K
Để xác định mối tương quan giữa các biến, lý thuyết vô hiệu trở thành
= 0, i j
Phép thử thống kê để kiểm tra giả thiết là tỷ lệ đo lường có khả năng xảy ra,
là phân phối X 2 :
L0 là giá trị bằng số của khả năng xảy ra được tính toán từ các dữ
liệu quan sát nằm dưới giả thuyết vô hiệu ước lượng
L1 nằm dưới dữ liệu theo kinh nghiệm – được đánh giá ước lượng
Phép thử số học G 2 theo phân phối X 2 với K là ngẫu nhiên
Tất cả những biến dự đoán có thể xác định được, bởi vì chúng ta chỉ xét giá trị
‘Yes=1’ và ‘No=0’, mô hình đánh giá này là khác biệt giữa các biến kết quả và biến dự đoán
Trang 15Bảng 1 Dữ liệu thực nghiệm cho thấy mối quan hệ giữa việc thực hiện, cải tiến, nguồn lực và thương hiệu.
Trang 16Bảng 2 chia nguồn lực thành Tài sản hữu hình (ký hiệu As1 và As0) và tài sản vốn (tương tự là Cap1 và Cap0), khi những biến dự báo còn lại hợp bởi giá trị
“Chi phí” cho ta biết liệu thỏa thuận M&A có được xem xét giá trị tài chính là quan trọng hay quan điểm về chi phí mắc ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi.
Trang 17Ở hai bảng 1 và 2, Inno 1 có nghĩa là trước khi xảy ra M&A có thực hiện việc cải tiến và Inno 0 là không thực hiện ‘Yes’ và ‘No’ được xác định cho việc thực hiện hiệu quả của công ty như việc quan sát các dữ liệu thực nghiệm Brand 1 nghĩa là “xác định việc thực hiện M&A phụ thuộc vào giá trị thương hiệu”, Brand 0 là “không phụ thuộc”, tương tự cho
Res 1 và Res 0 theo thứ tự là “theo đuổi tập trung vào tài sản hữu hình
và tài sản vốn” và “không theo đuổi tập trung tài sản hữu hình và tài sản vốn”
Ở cả bảng 1 và bảng 2, biến “Performance” hoặc là có giá trị “Yes” (1), hoặc “No” (0), theo những giá trị biến dự đoán được cho trong các ô
tương ứng của những bảng ngẫu nhiên này
Trang 18Kết quả thực nghiệm
Giả thuyết
Công thức ước lượng thứ nhất được chỉ ra trong công thức Eq(1) sau đây:Eq.(1)
Trang 19Sự kiện được quan sát trong ước lượng này là “kết quả hoạt động tốt hậu M&A” (ví dụ, khi Perf là giá trị “Có”), và đếm được 137 đơn vị, trong tổng số 212 đơn vị SAS báo tiêu chuẩn độ hôi tụ của đánh giá này là thỏa đáng
H0 bị bác bỏ chắc chắn ở độ tin cậy 5% Do đó, mối quan hệ này có ý nghĩa giải thích đáng kể
Trang 20Test Chi-Square Degree of
Chú ý: (**) với độ tin cậy là 5%, giá trị tới hạn của phép thử bằng
số cho phân phối X2 (với mức độ dao động, df = 3) là 7.82 Giá trị này có thể tính được bằng Excel với hàm chiinv (0.05,3)
Trang 21Phân tích của Ước lượng khả năng xảy ra cao nhất (MLEs) (với mức độ dao động là 1 (df = 1) được cho trong bảng sau
Mối tương quan đáng kể nhất trong công thức ước lượng này là
“Resources” ở mức tin cậy là 5%, và vì thế đây là biến duy nhất có khả năng giải thích cho toàn bộ mối quan hệ trong số rất nhiều biến
dự đoán và biến kết quả
Trang 22Công thức ước lượng tiếp theo Eq.(2):
Eq.(2):
Ở đây biến “Innovation” đã được lược bỏ đi từ công thức Eq.(1)
Trong công thức Eq.(2), “kết quả hoạt động kém hậu M&A” là sự kiện
để theo dõi (ví dụ, Perf có giá trị “No”), và có tổng cộng 75 sự kiện từ mẫu dữ liệu
Đối với ước lượng này, đạt được một phân phối Chi – square tỷ lệ khả năng xảy ra là 8.36 (với mức dao động là 2, df = 2) và phép thử thống
kê Wald là 7.84 – trong khi đó giá trị cho một phân phối Chi – square với df = 1 ở mức 5% là 7.99 – vì vậy bác bỏ H0 ở mức tin cậy 5%
(tương ứng với giá trị p cho phép thử Wald được báo cáo là 0.0198)
Trang 23Parameter Estimate Chi-Square Pr > ChiSq
Chú ý: Mức ý nghĩa (df=1) là 5%
Trang 24Tiếp theo chúng ta xem xét đến mối quan hệ giữa kết quả hoạt động kém hậu M&A và sự thiếu vắng của việc xác định trước đó trong chọn giá trị của sự cải tiến trong công thức Eq.(3) sau đây:
Eq.(3)
Sự kiện mà chúng ta đang theo dõi trong ước lượng này là Perf =
“No” Vì là biến dự đoán Innovation duy nhất trong ước lượng, loại
biến là “Inno 1” Thống kê Wald cho phép thử standard null hypothesis cho cả phần mặt phẳng chắn lẫn beta 1 đạt được giá trị là 3.29 (với df
= 1), bác bỏ H0 ở độ tin cậy là 10% (giá trị p-value cho phép thử thống
kê Wald đạt được từ dữ liệu nghiên cứu là 0.0697)
Trang 25Những ước lượng và độ tin cậy được báo cáo của chúng:
Chú ý: (*,***) thống kê có ý nghĩa ở mức 1 và 10% tương ứng Giá trị tới hạn cho thống kê Chi – square (df = 1) ở mức 1% và mức 10% tương ứng là 6.64 và 2.71
Bằng cách xem xét Eq (3) từ một khía cạnh trái ngược, một cách tính toán khác của Eq (3) trước đó làm thay đổi rõ ràng giá trị của Perf thành “Yes” trong khi làm cho giá trị của biến Inno1 trờ thành
“No” và tạo ra một kết quả thích hợp
Trang 26Thống kê Wald dùng để kiểm tra lý thuyết tiêu chuẩn vô hiệu cho cả intercept và beta1 đạt giá trị là 3.29 (với df=1), bác bỏ Ho tại mức ý nghĩa 10% (p-Value của thống kê Wald lấy được từ các dữ liệu thực
tế là 0.0697)
Phân tích khả năng xảy ra lớn nhất được ước lượng ở bảng sau:
Trang 27Từ bảng 2, xét các chi phí đáng kể, công thức tính Eq (4) như sau:
Eq (4)
Sự kiện được quan sát ở đây là “kết quả hoạt động kém kém hậu M&A” (ví dụ: Perf = 0), trong khi có những dấu hiệu của chi phí vốn đáng kể/tốn kém, việc mua trước các tài sản vốn và tài sản hữu hình ( hoặc như trong tài liệu của Azen và Walker 2011 giá trị “dummy coded”: Exp1=1; Cap1=1; As1=1)
Việc đánh giá được thể hiện một cách hài lòng với SAS Thống kê Wald cho lý thuyết vô giá trị trên thế giới là 9.55 (df=3), bác bỏ H0 tại mức ý nghĩa 5% (p-Value tương ứng là 0.0228)
Việc đánh giá thể hiện hệ số đáng kể sau khi đánh giá các dữ liệu thực tế là 1 1 có gíá trị khoảng -0.8196, với G khoảng 4.3, mức ý
nghĩa cho phép 5% và p-Value là 0.0382
Trang 28KẾT LUẬN
Nói chung, mối tương quan tổng thể giữa ý định thu mua các nguồn
thâu tóm (tài sản vốn và tài sản hữu hình) tiền M&A và hiệu quả hậu
M&A, theo các kết quả này, có ý nghĩa thống kê Số liệu thực tế trong ngành M&A của Việt Nam cho thấy những ý nghĩa thống kê, và hơn nữa
là hiệu quả của những chiến lược thu mua các “vấn đề về kích thước” của kết quả hậu M&A Có thể nói, yếu tố “hoạt động sáng tạo/đổi mới” không có ý nghĩa lớn đối với các chiến lược “thu mua vốn và tài sản” lớn của các đại gia M&A
Ngược lại, các kết quả cho thấy kết quả hoạt động kém hậu M&A, sự chú trọng cả về mặt tài sản và nguồn vốn và giá trị nhãn hiệu tại thời
điểm diễn ra M&A là nguyên nhân giải thích cho kết quả kém của giai đoạn hậu M&A Đồng thời, việc thiếu đổi mới như là một mục tiêu của giai đoạn tiền M&A có ý nghĩa giải thích đối với thành tích hậu M&A Đây
là hai kết luận hữu ích trong quá trình lập kế hoạch M&A Bên cạnh đó, những số liệu thống kê trước đó cũng xác nhận rằng một kế hoạch để đạt được sự đổi mới trong giai đoạn tiền M&A có xu hướng hỗ trợ nhiều cho thành tích tốt hậu M&A
Trang 29KẾT LUẬN
Cuối cùng, các quan sát trước đó dẫn đến quan điểm quan trọng sau
Theo kết quả ý nghĩa thống kê, khi M&A tiêu tốn các sắp đặt tốn kém hoặc
sự đầu tư xa xỉ, về mặt quy mô, giá cả hay chi phí vận hành, bất kể nguồn lực, các tài sản vốn và tài sản hữu hình doanh nghiệp hậu M&A thu mua
có lớn như thế nào, các chi phí giai đoạn tiền M&A có khuynh hướng ảnh hưởng trái ngược đối với kết quả hậu M&A Quan điểm cuối cùng này ủng
hộ và làm rõ hiện tượng được báo cáo trước đó về tài liệu thực tế “sự
sáng tạo hủy diệt” của Vương và Napier (2012)