1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá một số vấn đề lý luận và thực tiễn

77 222 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 918,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hoàn cảnh này, pháp luật về hoạt động khuyến mại nói chung và pháp luật điều chỉnh hình thức khuyến mại giảm giá nói riêng là công cụ hữu hiệu để nhà nước ghi nhận quyền tự do kinh

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN VIẾT TÝ

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

Tôi xin cam đoan rằng số liệu cũng như các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Theo hiểu biết cá nhân, vấn đề này chưa có tài liệu khoa học nào tương tự được công bố, trừ những thông tin tham khảo được trích dẫn Mọi sao chép không hợp lễ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Tác giả

Tạ Thị Thùy Trang

Trang 3

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI GIẢM GIÁ VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI GIẢM

GIÁ 8

1.1 Khái quát về hình thức khuyến mại giảm giá 8

1.1.1 Khái niệm khuyến mại giảm giá 8

1.1.2 Đặc điểm của khuyến mại giảm giá 12

1.1.3 Ý nghĩa của hình thức khuyến mại giảm giá trong đời sống kinh tế - xã hội 16

1.2 Khái quát pháp luật điều chỉnh hình thức khuyến mại giảm giá 20

1.2.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hình thức khuyến mại giảm giá 20

1.2.2 Nội dung của pháp luật Việt Nam về khuyến mại theo hình thức giảm giá 23

1.2.3 Pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá của một số nước trên thế giới 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI GIẢM GIÁ Ở VIỆT NAM 32

2.1 Những quy định pháp luật hiện hành về hình thức khuyến mại giảm giá 32

2.1.1 Quy định pháp luật về điều kiện, cách thức tổ chức thực hiện hoạt động khuyến mại giảm giá 32

2.1.2 Quy định pháp luật về cơ chế quản lý nhà nước trong hoạt động khuyến mại giảm giá 36

2.1.3 Quy định pháp luật về chế tài xử lý hành vi vi phạm trong hoạt động khuyến mại giảm giá 41

2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá 44

2.2.1 Những thành tựu trong áp dụng pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá 44

2.2.2 Những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá 48

Trang 4

MẠI GIẢM GIÁ 55

3.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá 55

3.2 Một số giải pháp nhằm thực thi hiệu quả các quy định pháp luật 61

KẾT LUẬN 65

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 70

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Thực tế ngày nay, trong thời đại kinh tế thị trường, cạnh tranh luôn là vấn đề tất yếu của doanh nghiệp Trong cuộc ganh đua đó, các doanh nghiệp sử dụng mọi giải pháp để tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội bán hàng

và cung ứng dịch vụ Một trong những hình thức xúc tiến mua bán hàng

hóa, cung ứng dịch vụ mà ta không thể không kể đến đó là hoạt động

khuyến mại, và giảm giá là một trong những hình thức khuyến mại phổ biến hiện nay Tuy nhiên, ngoại trừ những doanh nghiệp khi thực hiện chương trình khuyến mại giảm giá một cách trung thực, tôn trọng khách hàng, đã có không ít các doanh nghiệp thực hiện chương trình khuyến mại một cách bất hợp pháp hoặc thiếu trung thực, làm ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng Ngày càng có nhiều khách hàng trở nên quá quen thuộc đến mức “miễn dịch” với khuyến mại giảm giá Người tiêu dùng đang thận trọng hơn với những “món hời” mà những người kinh doanh đưa ra Trong hoàn cảnh này, pháp luật về hoạt động khuyến mại nói chung và pháp luật điều chỉnh hình thức khuyến mại giảm giá nói riêng là công cụ hữu hiệu để nhà nước ghi nhận quyền tự do kinh doanh, thực hiện hoạt động khuyến mại giảm giá của thương nhân, đồng thời cũng là rào cản pháp lý ngăn chặn những hành vi tiêu cực trong hoạt động này Cũng giống như pháp luật nhiều nước trên thế giới, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của các hoạt động thương mại, pháp luật Việt Nam điều chỉnh hình thức khuyến mại giảm giá dưới ba góc độ: tính thương mại, tính cạnh tranh và yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng Tuy nhiên, thực tiễn pháp luật còn khá nhiều vướng mắc, bất cập chưa được giải quyết, đã dẫn

đến sự cản trở tự do thương mại và khó khăn trong công tác quản lý

Về mặt lý luận, pháp luật về khuyến mại ít nhiều đã được đề cập đến trong thời gian vừa qua, tuy nhiên, các nghiên cứu khoa học này chủ yếu tập

Trang 6

trung bao quát về hoạt động khuyến mại, hình thức khuyến mại giảm giá chưa được đề cập trong khoa học pháp lý Việt Nam một cách riêng biệt Điều đó đồng nghĩa hệ thống lý luận cũng như thực trạng áp dụng các quy định pháp luật Việt Nam về hình thức khuyến mại giảm giá chưa được xem xét một cách đầy đủ và toàn diện nhất Thực tế của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay đã chứng tỏ rằng, nếu thiếu những quy định của pháp luật nói chung về khuyến mại và các quy định pháp lí về hình thức khuyến mại giảm giá nói riêng sẽ dẫn đến hậu quả tai hại Đảng và Nhà nước ta đã, đang nỗ lực hết sức cải cách môi trường pháp lý nhưng không thể phủ nhận rằng vẫn còn nhiều hạn chế trong hệ thống pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá

Vì những lý do trên đây, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài “Pháp luật

về hình thức khuyến mại giảm giá – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” là một yêu cầu cấp thiết cả về lý luận và thực tế hiện nay

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Tại Việt Nam, hoạt động khuyến mại nói chung và hình thức khuyến mại giảm giá nói riêng đã được biết đến tại Luật thương mại năm

1997 Luật thương mại (2005) ra đời, thay thế cho Luật thương mại năm

1997, nhưng vẫn kế thừa và phát triển các quy định về các hình thức khuyến mại, chính vì thế hình thức khuyến mại giảm giá không phải là khái niệm mới mẻ trong nền khoa học pháp lý Việt Nam Tuy nhiên, so với nhiều lĩnh vực pháp luật khác, công trình nghiên cứu pháp luật về hoạt động khuyến mại còn quá ít, và công trình nghiên cứu cụ thể về hình thức khuyến mại giảm giá còn chưa có Hoạt động khuyến mại chỉ mới bước đầu được đề cập đến với sự hiện diện của một số công trình như: Bài báo “Giới thiệu luật khuyến mại” của Phạm Thanh Lộc đăng trên Tạp chí Địa chính, Số 1/1999 giới thiệu khái quát về hoạt động khuyến mại theo quy định của Luật thương mại năm 1997 Hiện nay Luật thương mại năm 1997 đã được thay thế bằng Luật thương mại (2005), vì vậy công trình nghiên cứu này chỉ mang tính

Trang 7

chất tham khảo, thiếu đi ý nghĩa thực tiễn Sách tham khảo “ Xúc tiến thương mại – Lý luận và thực hành” của TS kinh tế Đỗ Thị Loan do NXB Khoa học và kĩ thuật xuất bản năm 2003 phân tích các biện pháp cách thức xúc tiến thương mại nhưng dưới góc độ nghiệp vụ kinh doanh Dưới góc độ quản lý nhà nước, có bài viết “Các nguyên tắc, trình tự thủ tục giải quyết khuyến mại - tố cáo của công dân” của ThS Hoàng đình Thắng đã được đăng trên Tạp chí Ngân hàng Số 5/2001 Gần đây nhất có công trình pháp luật nghiên cứu về hoạt động khuyến mại là bài viết “Pháp luật về khuyến mại - Một số vướng mắc về lý luận và thực tiễn” của TS Nguyễn Thị Dung đăng trên Tạp chí Luật Học, Trường đại học luật Hà Nội, Số: 7 / Năm 2007 Nghiên cứu này đã tập trung làm rõ hoạt động khuyến mại dưới góc độ pháp

lý nhưng cũng không phân tích cụ thể từng hình thức khuyến mại, khuyến mại giảm giá chỉ được nhắc đến với việc phân tích hạn mức khuyến mại, là một dẫn chứng về bất cập của sự chồng chéo giữa luật thương mại và luật cạnh tranh Cơ sở lý luận, thực trạng áp dụng pháp luật cũng như giải pháp hoàn thiện cụ thể về hình thức khuyến mại giảm giá chưa được đề cập trong công trình này Từ năm 2007 tới nay, chưa có thêm công trình nào nghiên cứu về hoạt động khuyến mại nói chung và hình thức khuyến mại giảm giá nói riêng dưới góc độ pháp luật được đăng tải trên báo chí và sách tham khảo nữa cả Nhìn chung, phần lớn các nghiên cứu kể tên trên đều quá rộng, tập trung vào tất cả các hình thức khuyến mại hoặc nghiên cứu dưới góc độ kinh tế Vì vậy, pháp luật về các hình thức khuyến mại cụ thể, trong đó có hình thức khuyến mại giảm giá vẫn chưa được phân tích chi tiết, sâu sắc

Từ việc đánh giá tình hình nghiên cứu pháp luật về khuyến mại ở Việt Nam, cho thấy đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về hình thức khuyến mại giảm giá dưới góc độ pháp lý, để từ đó chỉ ra cơ sở khoa học của việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về

Trang 8

khuyến mại giảm giá ở Việt Nam hiện nay Có thể khẳng định đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này ở nước ta, với cấp độ luận văn thạc

sỹ Luật học

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là các quan điểm, tư tưởng luật học về hoạt động khuyến mại nói chung, hình thức khuyến mại giảm giá nói riêng; vai trò, nội dung pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá; các văn bản pháp luật thực định của Việt Nam và một số nước như Nhật, Anh điều chỉnh hoạt động khuyến mại và hình thức khuyến mại giảm giá; đồng thời đề tài nghiên cứu các tình huống phát sinh trong thực tiễn để có cái nhìn khái quát nhất về hoạt động khuyến mại giảm giá ở Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung, đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam về hình thức khuyến mại giảm giá hiện nay Nhìn chung, pháp luật điều chỉnh vấn đề này từ góc độ lý luận đến thực trạng áp dụng còn tồn tại nhiều bất cập Các quy định thực định điều chỉnh về vấn đề trên nằm rải rác trong hệ thống pháp luật nước ta, vì vậy khi tiếp cận để nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hình thức khuyến mại giảm giá, đề tài tập trung làm rõ các vấn đề sau: (i) Một số vấn đề lý luận

về hình thức khuyến mại giảm giá và pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá; (ii) Thực trạng pháp luật về thể lệ, cách thức tổ chức thực hiện, cơ chế quản lý cũng như các vấn đề liên quan tới chế tài xử lý vi phạm về hình thức khuyến mại giảm giá Như vậy, với phạm vi nghiên cứu đã được chỉ rõ,

đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá và đưa ra quan điểm cũng như giải pháp hoàn thiện pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá

- Về không gian, đề tài tập trung nghiên cứu hình thức khuyến mại giảm giá theo quy định của pháp luật tại Việt Nam, chủ yếu theo quy định của

Trang 9

Luật thương mại (2005) và các văn bản dưới luật cũng như các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động này Bên cạnh đó, tác giả cũng tham khảo pháp luật một số nước về hình thức khuyến mại giảm giá để bài làm phong phú hơn

4 Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, cụ thể:

Trong Chương 1 của đề tài sẽ sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích các quan điểm luật học để làm sáng rõ hệ thống lý luận về hoạt động khuyến mại và hình thức khuyến mại giảm giá

Chương 2 của đề tài được triển khai thông qua phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn mô tả toàn cảnh thực trạng pháp luật điều chỉnh hình thức khuyến mại giảm giá cũng như đưa ra những luận điểm khẳng định ưu điểm hoặc bất cập của thực trạng đó

Dù là sử dụng phương pháp nào để xây dựng các nội dung của đề tài thì các phương pháp nghiên cứu vẫn được thực hiện trên nền tảng của phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; trên cơ sở các quan điểm, đường lối

về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam

5 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh hình thức khuyến mại giảm giá, trên cơ sở đó đưa ra một số phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động này

Để thực hiện mục đích trên, đề tài đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau: + Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về hình thức khuyến mại giảm giá trên cơ sở pháp luật hiện hành Phân tích nội dung cơ bản của pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá; đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của pháp luật Việt Nam hiện hành về hình thức này

Trang 10

+ Phân tích các tình huống trong thực tiễn để chứng minh cho các luận điểm nêu ra

+ Xây dựng quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hình thức khuyến mại giảm giá ở Việt Nam hiện nay

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện pháp luật về hoạt động khuyến mại giảm giá, luận văn có những đóng góp mới về khoa học như sau:

- Đóng góp mới cho khoa học pháp lý, khẳng định và xây dựng được khái niệm pháp lý về “giảm giá” và “pháp luật về khuyến mại giảm giá” Luận văn xác định được nội dung và ý nghĩa hoạt động khuyến mại giảm giá mang lại để từ đó khẳng định pháp luật về khuyến mại giảm giá là một bộ phận của pháp luật về thương mại, đặt nền móng cho việc nghiên cứu

lý luận, thực tiễn và hoàn thiện pháp luật về xúc tiến thương mại

- Luận văn nghiên cứu những vướng mắc, bất cập trong pháp luật hiện hành trước những đòi hỏi của thực tiễn bằng cách phân tích các tình huống xảy ra trong thực tiễn hàng ngày về thể lệ cách thức tổ chức khuyến mại giảm giá, về cơ chế quản lý hoạt động khuyến mại giảm giá và chế tài xử

lý vi phạm trong hoạt động này

- Luận văn đề xuất hủy bỏ những điều luật không cần thiết, đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật cho phù hợp với thực tiễn hoạt động khuyến mại giảm giá Bên cạnh đó luận văn cũng đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về khuyến mại giảm giá nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật nước ta

7 Kết cấu luận văn

Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu như sau:

Trang 11

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hình thức khuyến mại giảm giá

và pháp luật điều chỉnh hình thức khuyến mại giảm giá;

Chương 2: Thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh hình thức khuyến mại giảm giá ở Việt Nam;

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hình thức khuyến mại giảm giá

Trang 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI GIẢM GIÁ VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HÌNH THỨC

KHUYẾN MẠI GIẢM GIÁ 1.1 Khái quát về hình thức khuyến mại giảm giá

1.1.1 Khái niệm khuyến mại giảm giá

Khi thị trường bước vào giai đoạn bão hòa, cạnh tranh trong kinh doanh càng trở lên khốc liệt hơn Các doanh nghiệp đều nhận thức được rằng muốn thu hút và hướng sự lựa chọn của khách hàng tới sản phẩm của mình, ngoài việc xây dựng một chiến lược kinh doanh cụ thể thì khuyến mại đóng một vai trò quan trọng, quyết định tới sự thành bại của doanh nghiệp

Ở góc độ ngôn ngữ, theo nghĩa tiếng Hán Việt, “mãi” là mua, “mại”

là bán[38] Khuyến mại, khuyến mãi được hiểu là hành vi khuyến khích việc bán hàng, khuyến khích việc mua hàng Do việc mua bán thường được tiến hành đồng thời nên cả hai thuật ngữ này đều hay được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chỉ sử dụng thuật ngữ

“khuyến mại” dưới góc độ tiếp cận là hành vi của thương nhân nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi để phát triển việc mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ

Khoản 1 Điều 88, Luật thương mại (2005) đưa ra định nghĩa về khuyến mại như sau: “Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định”

So với luật thương mại năm 1997, Luật thương mại (2005) khi định nghĩa về khuyến mại đã có bổ sung hai điểm, đó là về mục đích của khuyến mại và cách thức khuyến mại thông qua quan hệ dịch vụ Cụ thể là, mục đích của khuyến mại không chỉ nhằm xúc tiến việc bán hàng mà còn nhằm xúc tiến việc mua hàng và cung ứng dịch vụ Nói tóm lại, khuyến mại có thể được hiểu

Trang 13

là cách thức, biện pháp thu hút khách hàng thông qua việc dành cho họ những lợi ích vật chất như tiền, hàng hóa hay lợi ích phi vật chất nào đó Dấu hiệu dành cho khách hàng những lợi ích nhất định này chính là dấu hiệu để phân biệt hoạt động khuyến mại với các hình thức xúc tiến thương mại khác

Theo Luật Thương mại (2005) của Việt Nam, các hình thức khuyến mại bao gồm:

Thứ nhất, dùng thử hàng mẫu miễn phí: Đưa hàng hoá mẫu, cung

ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền

Thứ hai, tặng quà: Tặng hàng hoá cho khách hàng, cung ứng dịch

vụ không thu tiền

Thứ ba, giảm giá: Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá

bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theo hình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phủ

Thứ tư, tặng phiếu mua hàng: Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm

theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định

Thứ năm, phiếu dự thi: Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu

dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng

đã công bố

Thứ sáu, các chương trình may rủi: Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm

theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố

Thứ bảy, tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên: theo đó

việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng

Trang 14

hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hoá, dịch vụ hoặc các hình thức khác

Thứ tám, chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí: Tổ chức cho

khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại

Ngoài ra, các doanh nghiệp có thể thực hiện các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý nhà nước về thương mại chấp thuận Đây

là quy định “mở” cho thương nhân tự quyết định cách thức khuyến mại khác phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của kinh doanh, trên cơ sở được sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước để đảm bảo sự kiểm soát của cơ quan chức năng và lành mạnh hóa môi trường kinh doanh

Trong thực tế, các hình thức này được các doanh nghiệp áp dụng khá linh hoạt và có sự kết hợp giữa nhiều hình thức một lúc, như vừa giảm giá vừa tặng quà, vừa giảm giá vừa bốc thăm trúng thưởng, giảm giá hoặc tặng quà trong những "giờ vàng mua sắm" nhất định trong ngày Tuy nhiên, giảm giá vẫn thường là hình thức được các doanh nghiệp áp dụng nhiều nhất

Ở Việt Nam, pháp luật về xúc tiến thương mại ra đời muộn, điều đó đồng nghĩa với việc khái niệm hình thức khuyến mại giảm giá cũng chỉ mới được đề cập trong thời gian gần đây Thông tư 04/1991/BYT-TT hướng dẫn việc đăng ký công ty nước ngoài xuất nhập khẩu thuốc và nguyên liệu làm thuốc chữa bệnh với Việt Nam để thi hành Quyết định 113CT ngày 9/5/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc thống nhất quản lý xuất nhập khẩu thuốc và nguyên liệu làm thuốc chữa cho người bệnh là văn bản đầu tiên ghi nhận khái niệm xúc tiến thương mại, nhưng cụm từ khuyến mại nói chung và hình thức khuyến mại giảm giá nói riêng chưa được nhắc đến Kể từ khi văn bản pháp luật này ra đời, pháp luật về xúc tiến thương mại nói chung và pháp luật về khuyến mại giảm giá nói riêng có sự phát triển khá rõ nét về hình thức pháp lý và nội dung các quy định [26,trang 39] Luật thương mại năm 1997 ra

Trang 15

đời đã chính thức ghi nhận hình thức khuyến mại giảm giá tại điều 181 Nghị định Số 32 /1999/NĐ-CP về khuyến mại, quảng cáo thương mại và hội chợ, triển lãm thương mại cũng đã chính thức ghi nhận hoạt động khuyến mại, trong đó có hình thức khuyến mại giảm giá Tuy nhiên, khái niệm giảm giá trong các văn bản này không được định hình một cách cụ thể, “giảm giá” chỉ

là cách hiểu, cách nói thông thường của một hình thức khuyến mại được quy định, đó là: “Bán hàng, cung ứng dịch vụ trong thời gian khuyến mại với giá thấp hơn giá bán, giá cung ứng dịch vụ bình thường trước đó Khi thực hiện hình thức khuyến mại này thương nhân phải niêm yết thời gian khuyến mại; giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ thương mại bình thường trước thời gian khuyến mại; giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trong thời gian khuyến mại”[6] Kế thừa quan điểm trên về hình thức khuyến mại giảm giá, luật thương mại (2005) tiếp tục quy định một hình thức khuyến mại là “Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước

đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theo hình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phủ” Đây thực chất là việc mô tả hành vi của hoạt động khuyến mại giảm giá Nhưng đây chưa thực sự là khái niệm mang tính bao quát Quán triệt tinh thần trên của luật, luận văn sẽ xử dụng khái niệm “giảm giá” thay cho việc mô tả cách thức hình thức khuyến mại này Từ những phân tích trên xin được đưa ra khái niệm về hình thức khuyến mại giảm giá như sau:

Khuyến mại giảm giá là việc bán hàng, cung ứng dịch vụ trong thời gian khuyến mại với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước

đó theo quy định của pháp luật

Trang 16

1.1.2 Đặc điểm của khuyến mại giảm giá

Khuyến mại giảm giá là một trong các hình thức của hoạt động khuyến mại nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng lợi ích vật chất nhất định Do đó, hình thức khuyến mại giảm giá mang những đặc điểm chung của hoạt động khuyến mại đó là:

Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại là thương nhân [18] Để tăng cường cơ hội thương mại, thương nhân được phép tự mình tổ chức thực hiện việc khuyến mại, cũng có thể lựa chọn dịch vụ khuyến mại do thương nhân khác cung cấp trên cơ sở hợp đồng dịch vụ Điều 91 luật thương mại (2005) quy định quyền khuyến mại của thương nhân như sau:

- Thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có quyền tự tổ chức khuyến mại hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại cho mình

- Văn phòng đại diện của thương nhân không được khuyến mại hoặc thuê thương nhân khác thực hiện khuyến mại tại Việt Nam cho thương nhân

mà mình đại diện Quan hệ dịch vụ này được hình thành trên cơ sở hợp đồng dịch vụ khuến mại giữa thương nhân có nhu cầu khuyến mại và thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại

Thứ hai, về cách thức xúc tiến thương mại là dành cho khách hàng những lợi ích nhất định Căn cứ vào từng loại mặt hàng dịch vụ cũng như đặc điểm của thị trường tiêu thụ, các hình thức xúc tiến thương mại hết sức đa dạng, tùy thuộc vào sự sáng tạo của người kinh doanh [20,trang 282] Tuy nhiên dù tùy thuộc vào mục tiêu của đợt khuyến mại, tùy thuộc vào trạng thái của cạnh tranh, phản ứng của đối thủ cạnh tranh trên thương trường, tùy thuộc vào điều kiện kinh phí dành cho khuyến mại thì nói chung dù là hình thức khuyến mại giảm giá hay bất kỳ hình thức khuyến mại nào khác thương nhân vẫn luôn dành cho khách hàng những lợi ích nhất định Khách hàng được

Trang 17

khuyến mại có thể là người tiêu dùng hoặc các trung gian phân phối, ví dụ như: đại lí bán hàng

Thứ ba, mục đích của hoạt động khuyến mại nói chung và hình thức khuyến mại giảm giá nói riêng là xúc tiến việc bán hàng và cung ứng dịch vụ

Để thực hiện mục đích này, các đợt khuyến mại có thể hướng tới mục tiêu lôi kéo hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ của khách hàng, giới thiệu một sản phẩm mới, kích thích trung gian phân phối chú ý hơn nữa đến hàng hóa của doanh nghiệp, tăng lượng hàng đặt mua… thông qua đó tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa, dịch vụ

Tuy nhiên, hình thức khuyến mại giảm giá vẫn mang những đặc điểm riêng để phân biệt với các hình thức khác, đó là:

Thứ nhất, về lợi ích cụ thể khách hàng được hưởng: Lợi ích đó là được mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ có giá thấp hơn giá trị hàng hóa, dịch vụ

đó trước khi khuyến mại “Giá” ở đây có thể được hiểu là giá trị của hàng hóa phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định Việc so sánh giá của hàng hóa tại thời điểm khuyến mại với thời gian trước đó sẽ là căn cứ xác nhận tính hợp pháp của chương trình khuyến mại giảm giá

Thực tế người ta có thể nhầm lẫn giữa hình thức giảm giá 50% và hình thức “mua một tặng một” Có thể thấy, “mua một tặng một” thoạt nhìn thì tương tự như hình thức khuyến mại giảm giá ở mức 50%, nhưng bản chất hai hình thức này là khác nhau và tác động thực tế của chúng cũng hoàn toàn không giống nhau Chẳng hạn, nếu doanh nghiệp khuyến mại một chai sữa tắm 180ml với giá 20.000 đồng giảm giá 50% còn 10.000 đồng trong thời gian khuyến mại, thì thay vì phải có 20.000 đồng khách hàng chỉ cần 10.000 đồng là

đã có thể mua được chai sữa tắm như vậy Nhưng nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức khuyến mại “mua một tặng một” thì để có một chai sữa tắm giá 20.000 đồng, khách hàng phải có đủ 20.000 đồng, mặc dù với khoản tiền đó sẽ nhận được hai chai Với hình thức “mua một tặng một” chai sữa tắm, doanh

Trang 18

nghiệp sẽ luôn thu được ít nhất 20.000 đồng từ khách hàng và tiêu thụ cùng lúc được hai sản phẩm Như vậy, về bản chất “mua một tặng một” giá trị chai sữa tắm trong thời gian khuyến mại không hề thấp hơn giá trị chai sữa tắm đó vào thời gian trước khuyến mại Còn với hình thức giảm giá 50% doanh nghiệp chỉ thu được ít nhất 10.000 đồng mà thôi, vì giá trị chai sữa tắm chỉ còn một nửa Như vậy, về doanh số bán hàng, hình thức “ mua một tặng một” có lợi hơn cho doanh nghiệp rất nhiều Xét về mặt giá trị khuyến mại, hình thức giảm giá 50% chai sữa tắm từ 20.000 đồng xuống còn 10.000 đồng, còn hình thức “mua một tặng một” khách hàng sẽ được tặng 100% giá trị hàng hóa được bán, nhưng giá trị chai sữa tắm vẫn là 20.000 đồng

Thứ hai, giảm giá phải trong một chừng mực nhất định, tuân theo những nguyên tắc do pháp luật Việt Nam đặt ra Doanh nghiệp được tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh Thế nhưng việc cạnh tranh phải được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và của người tiêu dùng theo các quy định của pháp luật Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt giữa hình thức khuyến mại giảm giá hợp pháp và hành vi bán phá giá Việc mở cửa nền kinh tế, tham gia ngày càng tích cực vào thị trường khu vực và quốc tế đang đặt ra cho nền kinh tế Việt Nam nhiều vấn đề liên quan đến thương mại quốc tế, trong đó có vấn đề nổi bật là một số hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài của Việt Nam bị kiện bán phá giá và bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá Bên cạnh đó, bản thân không ít các doanh nghiệp trong nước cũng phải chịu thiệt hại từ hành

vi bán phá giá của chính các doanh nghiệp khác của nước mình Đây thực sự là một trong những hành vi thương mại không lành mạnh Tuy nhiên trong phạm

vi luận văn, tác giả sẽ chỉ tập trung phân biệt hình thức khuyến mại giảm giá và hành vi bán phá giá trong thị trường nội địa Việt Nam, không trả lời cho câu hỏi các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam có thực hiện hành vi bán phá giá

Trang 19

hay không và chúng ta có khả năng tránh khỏi những vụ kiện bán phá giá này hay không

Trong Luật cạnh tranh 2004 của Việt Nam không quy định cụ thể thế nào là “phá giá” mà chỉ quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại khoản 3 Điều 4 như sau: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác

hoặc người tiêu dùng”[3] Hành vi cạnh tranh không lành mạnh được biểu

hiện trong nhiều hoạt động khác nhau của doanh nghiệp trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định rõ tại Điều 39 Luật cạnh tranh năm 2004, bao gồm: “Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; Xâm phạm bí mật kinh doanh; Ép buộc trong kinh doanh; Gièm pha doanh nghiệp khác; Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Phân biệt đối xử của hiệp hội; Bán hành

đa cấp bất chính; Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều 3 của Luật này do Chính phủ quy định” Như vậy, theo quy định trên thì đã có quy định rõ về việc khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Từ những nhận thức chung về cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hoạt động khuyến mại, ta thấy rõ được các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại là những hành vi thông qua hoạt động khuyến mại của thương nhân nhưng nhằm gây ra những bất lợi cho đối thủ cạnh tranh của mình nhằm thu về cho mình những lợi ích nhất định

Như vậy, khuyến mại giảm giá và hành vi bán phá giá nhìn chung đều giống nhau ở một điểm là việc bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thấp hơn giá trị hàng hóa, dịch vụ bình thường trước đó Thế nhưng, mục đích cốt lõi

Trang 20

của giảm giá cũng như bất kỳ hình thức khuyến mại hợp pháp nào khác đều là nhằm gia tăng lượng khách hàng, từ đó hy vọng doanh thu có thể tăng lên Khuyến mại giảm giá chỉ có tác dụng gây ấn tượng đến khách hàng chứ không phải là hành vi xâm hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng Trong khi đó, khi bán phá giá, các doanh nghiệp bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thấp hơn quy định của pháp luật nhằm đánh bại đối thủ, loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường trong nước Và tùy thuộc vào khả năng cạnh tranh cũng như mức độ phá giá,

có thể trở thành doanh nghiệp độc quyền, độc quyền nhóm, qua đó tận dụng lợi thế của doanh nghiệp độc quyền để tăng lợi nhuận Để xác định được đó là hình thức khuyến mại giảm giá hợp pháp hay hành vi bán phá giá, một hành

vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ cần phải căn cứ theo các quy định về thời gian, hạn mức khuyến mại giảm giá của pháp luật Việt Nam

1.1.3 Ý nghĩa của hình thức khuyến mại giảm giá trong đời sống kinh tế - xã hội

* Đối với thương nhân

Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, để tồn tại và phát triển, mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành hàng đều phải đề ra các biện pháp cạnh tranh Trên thực tế, tại thị trường Việt Nam hiện nay, hàng loạt các chương trình khuyến mại được đưa ra và chủ yếu là hình thức khuyến mại giảm giá Hơn bao giờ hết, giá sản phẩm là yếu tố then chốt trong marketing

và nó khiến khách hàng mua hoặc tránh xa sản phẩm của doanh nghiệp Một nghiên cứu của Cahners Advertising Research Report cho thấy 98,7% khách hàng bị ảnh hưởng bởi giá khi họ mua một sản phẩm nào đó [31] Người tiêu dùng tiếp nhận và chịu tác động trực tiếp từ hình thức khuyến mại giảm giá Chính vì vậy, hình thức khuyến mại giảm giá đem lại nhiều lợi ích khác nhau cho thương nhân

Trang 21

Thứ nhất, khuyến mại giảm giá giúp khởi động lại và bảo toàn thương hiệu doanh nghiệp Thương hiệu trở nên đặc biệt quan trọng trong giai đoạn kinh tế suy thoái, bởi đây chính là chỗ dựa và cũng là tấm khiên bảo vệ doanh nghiệp Các doanh nghiệp áp dụng hình thức khuyến mại này thường bán hàng chạy hơn, đồng nghĩa thương hiệu của họ được nhiều người biết đến hơn Nguyên nhân khá đơn giản: dù đó có thể là món hàng cao cấp, song người tiêu dùng vẫn có thể mua được nó ngay trong lúc khó khăn nhất, do số tiền bỏ ra không quá lớn Chưa kể loại hàng hóa này còn tạo ra cho người mua một sự nâng đỡ nào đó về mặt tâm lý Do đó, chiến lược về giá ngay từ giai đoạn đầu tiên của năm kinh doanh thường được các doanh nghiệp hết sức chú ý để kích hoạt sự chú ý của khách hàng đến thương hiệu của mình

Thứ hai, khuyến mại giảm giá giúp doanh nghiệp gia tăng thị phần trong một thời gian ngắn Mục tiêu và hiệu quả từ các chiến lược khuyến mại giảm giá thì có những câu trả lời khác nhau Song ở mức độ nào đó, có thể thấy chiêu khuyến mại hấp dẫn này đã rất kịp thời, thu hút thêm được lượng mua nhất định, giúp doanh nghiệp tiếp cận được với vô số khách hàng trong một thời gian ngắn Việc đánh mất khách hàng trong giai đoạn khó khăn như hiện nay sẽ đặt doanh nghiệp trước mối đe dọa kép: giá trị của cơ sở khách hàng bị giảm sút và bạn lại phải tăng chi phí để thu hút khách hàng mới Do

đó, bên cạnh việc giữ chân những khách hàng tốt nhất, doanh nghiệp còn muốn phát triển chương trình lôi kéo khách hàng bằng cách bổ sung nhiều giá trị cộng thêm thông qua hình thức khuyến mại giảm giá Điều đó không chỉ giúp gia tăng những giá trị mà doanh nghiệp đưa ra, làm cho khách hàng cũ cảm thấy khó mà chuyển sang nhà cung cấp khác được và nhiều khách hàng mới biết đến doanh nghiệp hơn

* Đối với người tiêu dùng

Các hoạt động xúc tiến thương mại ngày càng phát triển với nhiều hình thức khác nhau, với những quy mô khác nhau cũng kéo theo nhiều hệ

Trang 22

quả khác nhau Thị trường kinh doanh càng sôi động thì các doanh nghiệp càng cố gắng tạo ra nhiều hình thức thúc đẩy kinh doanh hơn và cũng tận dụng triệt để ưu thế của khuyến mại hơn Với người tiêu dùng, trong khi thu nhập vẫn “giậm chân tại chỗ”, thì hai từ “khuyến mại”, “giảm giá” luôn là một sự kích thích lớn, có ý nghĩa với tất cả các loại mặt hàng, từ những thứ nhỏ nhất như bàn chải, chai dầu ăn… đến những mặt hàng giá trị lớn như máy

vi tính, ti-vi… bởi các lý do:

Thứ nhất, khuyến mại giảm giá tác động thông tin lên nhận thức của khách hàng Đây là những tác động liên quan đến thông tin, nhận thức của khách hàng về một chương trình, chiến dịch khuyến mại, có ảnh hưởng đến suy nghĩ, đánh giá của khách hàng về chương trình, chiến dịch khuyến mại và các đối tượng liên quan Các tác động này bao gồm nhận thức, đánh giá của khách hàng về giá cả, chất lượng, thời điểm và loại hình khuyến mại [41] Một chương trình khuyến mại giảm giá được thiết kế hợp lý sẽ đem lại những tác động thông tin tích cực Ví dụ, khi người bán đề rõ loại mặt hàng, dịch vụ khuyến mại giảm giá bị giới hạn về số lượng, thời gian (mỗi người chỉ được mua nhiều nhất N sản phẩm hay khuyến mại chỉ kéo dài đến ngày X), khách hàng sẽ cho rằng loại hàng hoá này rất tốt và/hoặc chúng đang rất được ưa chuộng hiện nay và nếu họ không mua sẽ bị người khác mua hết

Thứ hai, khuyến mại giảm giá tác động lên cảm xúc của khách hàng Loại hình tác động này ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của khách hàng thông qua cảm xúc, tình cảm của khách hàng đối với việc khuyến mại, đối với việc mua hàng trong dịp khuyến mại, thậm chí đối với việc bỏ lỡ cơ hội mua hàng trong dịp khuyến mại đó Tác động tích cực đầu tiên là khi mua hàng trong đợt khuyến mại, khách hàng sẽ thấy thoải mái và tự tin hơn vì cho rằng mình là “nhà mua sắm” khôn ngoan tài tình (do tìm mua được hàng hóa rẻ hơn bình thường) Ngoài ra, khuyến mại cũng kích thích khách hàng khám phá, nâng cao kiến thức, kinh nghiệm trong cuộc sống (thông qua dùng thử những

Trang 23

mặt hàng, nhãn hiệu mới) Bản thân khuyến mại vẫn được coi là thú vị, việc tìm hiểu các chương trình khuyến mại, tham gia các chương trình quà tặng, giảm giá… là một thú vui đối với nhiều khách hàng Và với các bức hình cổ động, các biểu giá khuyến mại với nhiều màu sắc khác nhau, khuyến mại cũng tạo nên sự khác biệt, sự đa dạng, “vui mắt” trong trưng bày sản phẩm

* Đối với nền kinh tế

Do tiếp tục chịu hậu quả từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ công kéo dài ở khu vực Châu Âu nên kinh tế thế giới diễn biến không thuận Tăng trưởng của hầu hết các nền kinh tế phát triển và đang phát triển đạt mức thấp Bối cảnh bất lợi của tình hình kinh tế thế giới đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất kinh doanh trong nước ta Lạm phát, lãi suất ở mức cao; sản xuất có dấu hiệu suy giảm trong một vài tháng đầu năm do tiêu thụ hàng hóa chậm, hàng tồn kho tăng; vốn huy động thiếu cùng với thị trường tiêu thụ giảm sút gây sức ép cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong bối cảnh tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn, sức mua trên thị trường trầm lắng, hoạt động xúc tiến thương mại, trong đó phải kể đến hoạt động khuyến mại giảm giá vẫn tạo được những hiệu ứng tích cực, góp phần kích cầu tiêu dùng, làm "ấm" thị trường nhất là những tháng cuối năm

Tác động tích cực nổi bật nhất là việc giảm chi phí mà khách hàng phải bỏ ra để có được hàng hoá, dịch vụ thông qua hình thức trực tiếp giảm giá; dẫn đến việc khách hàng có thể tăng khối lượng mua trên một hạn mức tiền tệ, tăng chủng loại hàng hoá trên cùng một hạn mức chi phí… tiết kiệm thời gian và chi phí khách hàng phải bỏ ra cho việc chọn lựa mua sắm (khuyến mại giảm giá tạo cho khách hàng một lý do để dùng thử, chọn một nhãn hiệu hàng hoá nào đó)

Tuy nhiên, cũng sẽ có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế nếu như áp dụng hình thức khuyến mại giảm giá một cách tràn lan như hiện nay

Trang 24

Có thể dẫn chiếu tới như việc khách hàng dần dần có xu hướng cho rằng giá thực tế của hàng hóa dịch vụ chính là giá khuyến mại, thậm chí còn có thể thấp hơn và như vậy, vô hình chung, đối với họ, mức giá thông thường của hàng hóa dịch vụ khi chưa có khuyến mại là cao, không chấp nhận được Hay như việc khách hàng không tin tưởng vào chất lượng hàng hóa khuyến mại bởi khách hàng cho rằng hàng hoá, dịch vụ được khuyến mại thường có chất lượng thấp, ít nhất là so với các hàng hoá, dịch vụ cùng loại của nhà sản xuất khác, thậm chí là thấp hơn với chính hàng hoá, dịch vụ đó khi chưa có khuyến mại Tác động này sẽ nghiêm trọng hơn khi trong cả ngành công nghiệp không có doanh nghiệp nào khác áp dụng khuyến mại

1.2 Khái quát pháp luật điều chỉnh hình thức khuyến mại giảm giá

1.2.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hình thức khuyến mại giảm giá

Pháp luật điều chỉnh hoạt động khuyến mại giảm giá bao gồm các quy định pháp luật, điều chỉnh trực tiếp mối quan hệ giữa các bên tham gia hoạt động này, tại Luật thương mại (2005) và tại các văn bản khác điều chỉnh liên quan gián tiếp đến khuyến mại giảm giá như: Luật bảo vệ người tiêu dùng (2010), Luật cạnh tranh (2004) Cụ thể là, thương nhân thực hiện hoạt động khuyến mại giảm giá có những hành vi thực tế nào để chuẩn bị, đăng ký, tiến hành khuyến mại sẽ có những quy phạm pháp luật tương ứng điều chỉnh Ví dụ quan hệ giữa thương nhân trong quá trình thực hiện thủ

tục thông báo hoặc đăng ký thực hiện các chương trình khuyến mại giảm

giá với cơ quan nhà nước chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật Thương mại và được cụ thể hóa hơn tại Nghị định 37/2006/NĐ-CP, một văn bản do Chính phủ ban hành, hướng dẫn thi hành Luật Thương mại

(2005) Hoặc để bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng trước các “chiêu trò

giảm giá” sai sự thật lại được điều chỉnh chủ yếu bởi luật Bảo vệ quyền lợi

Trang 25

người tiêu dùng Ngoài ra, quan hệ giữa các thương nhân trong quá trình thỏa thuận những điều khoản mang tính chất hạn chế cạnh tranh là đối tượng điều chỉnh của Pháp luật Cạnh tranh…

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân

tố điều chỉnh các quan hệ xã hội Hoạt động khuyến mại giảm giá cũng không nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật

Do đó, có thể đưa ra định nghĩa như sau:

“Pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá được hiểu là tổng hợp

các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các thương nhân tiến hành hoạt động khuyến mại giảm giá”

Với cách hiểu này, pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá với

tư cách là một chế định của pháp luật thương mại Pháp luật hiện hành đã quy định chi tiết, cụ thể và đặc thù đối với các hoạt động thương mại độc lập, trong đó có hoạt động khuyến mại Cùng với cách hiểu này, sự tồn tại cũng như phát triển của pháp luật điều chỉnh hoạt động khuyến mại giảm giá bị ảnh hưởng và chịu sự chi phối của pháp luật thương mại nói chung Pháp luật điều chỉnh khuyến mại giảm giá chính là sự phát triển cụ thể hơn so với nền tảng là những nguyên tắc chung của luật thương mại về hoạt động khuyến mại giảm giá với những tính chất đặc thù

Có thể diễn giải cụ thể hệ thống pháp luật điều chỉnh hình thức khuyến mại giảm giá trong quan hệ thương mại gồm:

Trước hết là Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001 ghi nhận về quyền tự do kinh doanh của công dân Đây là cơ sở để các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp luật thấp hơn triển khai cụ thể thành những quy định điều chỉnh một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoạt động thương mại nói chung cũng như hoạt động khuyến mại giảm giá nói riêng

Trang 26

Văn bản ghi nhận chính thức và điều chỉnh một cách trực tiếp đối với hoạt động khuyến mại giảm giá là Luật Thương mại năm (2005), từ điều

88 đến điều 101 Có thể kể đến điều 95 quy định về quyền của thương nhân thực hiện khuyến mại Theo đó, thương nhân có quyền lựa chọn hình thức, thời gian, địa điểm khuyến mại, quy định những lợi ích cụ thể mà khách hàng được hưởng… Đi kèm với quyền luôn là nghĩa vụ, tại điều 96 quy định rất rõ ràng nghĩa vụ của thương nhân khi thực hiện khuyến mại, cụ thể như: thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục khuyến mại theo quy định của pháp luật, thực hiện đúng chương trình khuyến mại đã cam kết… Quy định này nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, đồng thời góp phần điều chỉnh việc thực hiện hoạt động khuyến mại của thương nhân được nghiêm túc hơn Một quy định cũng không kém phần cần thiết đó là các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại Các điều cấm và hàng hóa bị cấm được quy định chi tiết trong điều 100, cụ thể như: cấm khuyến mại thiếu trung thực, lừa dối khách hàng, khuyến mại tại các trường học, trụ sở cơ quan nhà nước… Đây là quy định cần thiết trong nền kinh tế hàng hóa hiện nay Khuyến mại là quyền của thương nhân, nhưng mỗi người sử dụng các quyền của mình là khác nhau

Vì thế, cần đưa ra hạn chế này để hạn chế cạnh tranh không lành mạnh, gây khó khăn cho thương nhân khác, đồng thời gây nên những ảnh hưởng xấu đến lợi ích khách hàng

Ngoài các quy định tại Luật mại (2005), Nghị định 37/2006/NĐ-CP còn quy định chi tiết về hoạt động xúc tiến thương mại, trong đó có hoạt động khuyến mại nói chung và hình thức khuyến mại giảm giá nói riêng, được ghi nhận tại chương II của nghị định Mục 1 của chương II (từ điều 4 đến điều 6)

là các quy định về nguyên tắc thực hiện khuyến mại; hạn mức tối đa về giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại; mức giảm tối đa đối với hàng hóa và dịch vụ dùng để khuyến mại Đây là những quy định nhằm mục đích điều tiết giá của các sản phẩm dùng để khuyến mại, tránh tình trạng các cuộc chạy đua

Trang 27

về giá giữa các nhà sản xuất gây rối loạn thị trường Mục 2 của chương II (từ điều 7 đến điều 14) quy định cụ thể về các hình thức khuyến mại Nghị định phân tích rõ hơn về các hình thức khuyến mại nhằm tránh tình trạng hiểu sai, hiểu nhầm các hình thức này nếu chỉ đọc trong Luật (2005) Mục 3 gồm các điều từ 15 đến 20 quy định về trình tự, thủ tục đăng ký thực hiện khuyến mại Các quy định này góp phần giải tỏa vướng mắc cho thương nhân khi muốn thực hiện hoạt động khuyến mại giảm giá đối với sản phẩm của mình Điều

19, 20 là các quy định về chấm dứt và đình chỉ hoạt động khuyến mại Thương nhân không có quyền chấm dứt hoạt động khuyến mại trước thời hạn

đã công bố trừ trường hợp bất khả kháng hoặc bị cơ quan có thẩm quyền đình chỉ Nếu vi phạm các hành vi bị cấm tại điều 100 Luật thương mại, thương nhân sẽ bị cơ quan có thẩm quyền đình chỉ hoạt động thương mại

Bên cạnh đó, một số nội dung khác như bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh… được điều chỉnh ở các văn bản pháp luật khác như Luật bảo vệ người tiêu dùng, Luật cạnh tranh…

Tóm lại, tổng thể các văn bản được liệt kê trên đây kết hợp với nhau thành một hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động khuyến mại giảm giá ở các cấp độ khác nhau, dưới các góc độ và bình diện khác nhau

1.2.2 Nội dung của pháp luật Việt Nam về khuyến mại theo hình thức giảm giá

Mặc dù, nội dung pháp luật về hình thức khuyến mại bao gồm nhiều

bộ phận với những quy định nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, nhưng như đã trình bày ở phần phạm vi, trong khuôn khổ luận văn sẽ chủ yếu tập trung nghiên cứu về các nội dung liên quan đến hình thức khuyến mại giảm giá như sau:

Một là, nội dung pháp luật điều chỉnh về thể lệ, cách thức tổ chức thực hiện hoạt động khuyến mại giảm giá Pháp luật điều chỉnh vấn đề này nhằm mục đích ấn định quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể trong quá trình làm

Trang 28

thủ tục đăng ký khuyến mại như hạn mức khuyến mại giảm giá, thời gian khuyến mại giảm giá, các hành vi bị cấm Cơ quan quản lý nhà nước từ đây cũng hoàn toàn đủ căn cứ để có thể đối chiếu xử lý hành vi vi phạm pháp luật

và bảo vệ lợi ích của các bên tham gia Việc xác định được thể lệ, cách thức thực hiện không những sẽ đáp ứng được nhu cầu quản lý của nhà nước mà còn luôn đảm bảo tôn trong quyền tự do kinh doanh, bảo vệ lợi ích của các chủ thể khi tham gia, và từ đó, thúc đẩy quan hệ này ngày một phát triển Bởi

lẽ, giống như các hoạt động thương mại khác, cơ quan nhà nước cũng có nhu cầu quản lý, có nhu cầu hướng hoạt động này phát triển theo chiều hướng mà nhà nước mong muốn Vì vậy, những quy định về thể lệ, cách thức tổ chức thực hiện hoạt động khuyến mại giảm giá là một trong những nội dung cơ bản của pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá cần được xem xét

Hai là, nội dung pháp luật điều chỉnh về cơ chế quản lý hoạt động khuyến mại giảm giá Như đã phân tích ở phần trên của luận văn, hình thức khuyến mại giảm giá có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh nền kinh

tế thị trường như hiện nay Thông qua nội dung pháp luật về thể lệ, cách thức thực hiện hoạt động khuyến mại giảm giá, quyền và nghiã vụ của các bên được định dạng cụ thể Tuy nhiên xuất phát từ ý thức tuân thủ Pháp luật không cao của một số thương nhân và người tiêu dùng, cụ thể là trong khi thương nhân luôn muốn tối đa hóa lợi nhuận và thực hiện các hành động ngoài tầm pháp luật thì người tiêu dùng lại mặc nhiên chấp nhận các hành vi

đó của thương nhân nếu chúng chưa gây thiệt hại và ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân mình thì vai trò của cơ quan quản lý nhà nước thực sự rất quan trọng Thực tế cho thấy, ở những nước có nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, trong pháp luật về thương mại, xuất hiện nhiều quy định mang tính chất thủ tục hành chính để thông qua đó, nhà nước thực hiện kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền tự do thương mại Với nền kinh tế thị trường hình thành từ quá trình chuyền đổi từ cơ chế kế hoạch hóa

Trang 29

tập trung, đặc điểm này càng thể hiện rõ nét, bởi có ý kiến cho rằng: “Cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp kéo dài đã làm nghèo đi những nội dung, phương thức quản lý một cách dân chủ, theo những trình tự thủ tục thông thường” [40,trang 1] Với vai trò của mình, Nhà nước cần thực hiện triệt để hơn nữa hoạt động xây dựng luật, quản lý và tuyên truyền pháp luật của mình

để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng chính là bảo vệ quyền lợi của nhà nước, của các tổ chức xã hội khác Do đó, từ góc độ lý luận cũng như góc độ thực tiễn nội dung pháp luật điều chỉnh cơ chế quản lý về hoạt động khuyến mại giảm giá là một vấn đề pháp lý đáng phải nghiên cứu và làm sáng rõ

Ba là, pháp luật quy định về các chế tài xử lý hành vi vi phạm trong hoạt động khuyến mại giảm giá Các quy định này của pháp luật sẽ tạo hành lang pháp lý vững chắc để công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam tốt hơn, khách hàng an tâm hơn và thương nhân cũng kinh doanh thận trọng hơn Trong bối cảnh hoạt động khuyến mại ngày càng trở nên phong phú, đa dạng và hình thức khuyến mại giảm giá ngày càng trở nên phổ biến như hiện nay thì sự an tâm của khách hàng và an toàn trong kinh doanh của các bên chính là một trong những điều kiện để thúc đẩy kinh

tế phát triển ổn định Do đó, nội dung này là điều kiện góp phần đảm bảo cho pháp luật điều chỉnh hoạt động khuyến mại giảm giá đi vào thực tế cuôc sống Nếu quyền lợi hợp pháp của các bên không được quan tâm đúng mức,

bị xâm phạm một cách tự do và ồ ạt sẽ dẫn đến tình trạng hoạt động khuyến mại giảm giá không thể tồn tại và phát triển được Do vậy, trong luận văn của mình, tác giả tách vấn đề này thành một mục riêng để nhấn mạnh vai trò của nó trong việc đảm bảo hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động khuyến mại giảm giá

Nhìn chung, để hoạt động khuyến mại giảm giá phát triển đúng với bản chất của nó và thực sự là một phương thức kinh doanh vừa đem lại thành công cho các nhà đầu tư, vừa hạn chế được rủi ro cho khách hàng thì những

Trang 30

vấn đề nêu trên phải được đầu tư nghiên cứu và quan tâm đúng mức Có như vậy pháp luật điều chỉnh hoạt động khuyến mại giảm giá mới có thể hoàn thiện đáp ứng nhu cầu của thực tiễn Từ đó thúc đẩy hoạt động khuyến mại giảm giá ngày một phát triển và đem lại hiệu quả cho nền kinh tế

1.2.3 Pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá của một số nước trên thế giới

* Nhật Bản

Thị trường bán lẻ của Nhật Bản khá phát triển, đây là một thị trường

có tính cạnh tranh cao và hoạt động khuyến mại là một công cụ tiếp thị quan trọng Hoạt động khuyến mại của Nhật có nhiều hình thức khác nhau: quà tặng miễn phí, giảm giá, các cuộc thi giải thưởng, chương trình dành cho khách hàng thân thiết v.v… Tuy nhiên, từ những người kinh doanh bán hàng nhỏ lẻ đến những thương nhân lớn tại Nhật Bản dù thực hiện hình thức khuyến mại nào, họ đều bị một số hạn chế nhất định nhằm bảo vệ công bằng thương mại và bảo vệ người tiêu dùng [43] Khuôn khổ pháp lý tại Nhật nói chung là kinh doanh thân thiện nhưng hoạt động khuyến mại vẫn có những quy định khá phức tạp Hạn chế về khuyến mại giảm giá của Nhật được quy định cụ thể tại “Đạo luật chống lại những chi phí vô lý và các cơ quan đại diện gây hiểu lầm” (Luật số 35 năm 2005) – Tiếng anh Act against Unjustifiable Premiums and Misleading Representations [32] Mục đích của Đạo luật này là đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng Theo điều 2 đạo luật, giải thích từ ngữ, “phí” được hiểu là bất kỳ quy định, tiền, hoặc lợi ích kinh tế nào khác có thể làm ảnh hưởng tới quyết định của khách hàng mà do doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ thực hiện, hoặc do Ủy ban thương mại công bằng Nhật chỉ định “Đại diện” được sử dụng trong đạo luật có nghĩa đại diện của thương nhân thực hiện xúc tiến thương mại cho hàng hóa, dịch vụ của mình Theo bản báo cáo tổng hợp của luật sư Miho Mizuguchi [43] của Clifford chance để ngăn chặn hành vi làm

Trang 31

sai lệch về giá trong quá trình khuyến mại giảm giá, pháp luật Nhật bản yêu cầu giá tham chiếu trên nhãn là chính hãng và đã có hiệu lực ít nhất là bốn tuần trong tám tuần trước ngày khuyến mại và không quá hai tuần trước khi bắt đầu khuyến mại Nói cách khác, giá cũ phải được cung cấp trong một khoảng thời gian đủ dài nhưng cũng không phải là quá xa, kể từ ngày bắt đầu của cung cấp hàng với hình thức khuyến mại giá giảm

Tất nhiên, pháp luật cũng ấn định một vài trường hợp ngoại lệ khi

áp dụng hạn chế về hình thức khuyến mại giảm giá Theo một thông báo và hướng dẫn của Ủy ban thương mại công bằng của Nhật, những trường hợp ngoại lệ được áp dụng khi: (i) lợi ích của việc giảm giá phụ thuộc vào kết quả may rủi (ii) một sản phẩm bổ sung (các khách hàng có sự lựa chọn giữa hình thức giảm giá hoặc một sản phẩm bổ sung), và (iii) hạn chế giảm giá bằng tiền mặt

Mặt khác, các chương trình sau đây luôn được coi là giảm giá và không phải là chi phí phát sinh trong kinh doanh: Thứ nhất, giảm giá để khuyến khích khách hàng có nhu cầu mua hàng hóa tiếp theo vào thời gian sau đó Ví dụ, giảm giá nếu bạn mua nhiều hơn Y miếng, giảm giá trên giá của một chiếc áo khoác nếu bạn mua cả một bộ đồ… Thứ hai, hoàn trả bằng tiền mặt (bao gồm tiền mặt có điều kiện bằng cách mua hàng tiếp theo) Ví

dụ, hoàn trả lại một số tiền nhất định mà bạn đã thành toán cho sản phẩm X kèm theo điều kiện nếu bạn mua sản phẩm Y

Doanh thu bán hàng có thể thấp hơn chi phí bỏ ra, nghe có vẻ khó tin nhưng các nhà bán lẻ có thể bị cám dỗ bởi điều này để thu hút khách hàng Tuy nhiên, thực tế này có thể ảnh hưởng tới đối thủ cạnh tranh, loại bỏ đối thủ

ra khỏi thị trường hoặc có thể ngăn chặn đối thủ cạnh tranh tham gia thị trường Tóm lại, nếu doanh số bán hàng thường xuyên khi giảm giá thấp hơn chi phí mà không có sự biện minh đều bị cấm như hoạt động thương mại không công bằng theo luật chống độc quyền của Nhật

Trang 32

Nếu nghi ngờ rằng một nhà bán lẻ có vi phạm về khuyến mại giảm giá, cơ quan có thẩm quyền của Nhật sẽ tiến hành một cuộc điều tra Nếu cuộc điều tra xác định thực tế cho thấy một hành vi vi phạm, cơ quan điều tra

sẽ cung cấp cho các nhà bán lẻ thông tin đó và cho họ có cơ hội đưa ra bằng chứng ngược lại, trình quan điểm của mình bằng văn bản, và có biện pháp cần thiết để chấm dứt sự việc Nếu cơ quan có thẩm quyền không bị thuyết phục bởi những bằng chứng đó thì có thể ban hành một lệnh ngừng và hủy các đơn đặt hàng

Hành vi vi phạm khuyến mại giảm giá có thể chịu hình phạt lên đến hai năm tù giam và / hoặc phạt hành chính tới JPY3, 000.000 Người phạm tội bán hàng thấp hơn chi phí nhiều lần mà không có sự biện minh trong một khoảng thời gian là mười năm có thể bị xử phạt lên đến 2% hành chính (đối với các nhà bán lẻ) hoặc 1% (bán buôn) của doanh thu trong thời gian vi phạm Bên cạnh đó còn phải bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng

Nhìn chung, pháp luật Nhật Bản điều chỉnh hoạt động khuyến mại giảm giá quy định cụ thể, chi tiết hơn pháp luật Việt Nam về khá nhiều vấn đề: thứ nhất, quy định cụ thể giá hàng hóa trước thời gian khuyến mại để so sánh; thứ hai, quy định một số trường hợp ngoại lệ về khuyến mại giảm giá; thứ ba, chế tài phạt với hành vi vi phạm tương đối nghiêm khắc, căn cứ phạt dựa trên doanh thu trong thời gian khuyến mại Đây là những vấn đề pháp luật Việt Nam còn vướng mắc mà tác giả sẽ phân tích phía sau đây

* Pháp luật Anh

Ở Anh hoạt động khuyến mại nói chung và hình thức khuyến mại giảm giá nói riêng được quản lý bởi Ủy ban Thực hành quảng cáo (CAP) Các quy định về khuyến mại nói chung và hình thức khuyến mại giảm giá nói riêng không được quy định cụ thể tại văn bản luật nào mà nằm rải rác trong hệ thống pháp luật Anh Để có một hình ảnh đầy đủ về hình thức khuyến mại giảm giá của Anh chúng ta phải xem xét một loạt các quy định của pháp luật

Trang 33

về hoạt động xúc tiến bán hàng gồm pháp luật về hợp đồng; pháp luật bảo vệ người tiêu dùng…

Trong vài năm qua tại Anh, không ít các doanh nghiệp rơi vào tình trạng công bố thông tin chương trình khuyến mại thiếu cụ thể hoặc bị sai sót, nhầm lẫn và gánh chịu hậu quả bất lợi theo luật hợp đồng Khi thông tin về khuyến mại được công bố công khai, các doanh nghiệp đã tự tạo ra rằng buộc thông qua việc chấp nhận yêu cầu của phía khách hàng Có thể lấy ví dụ giải thích cho quy định này như sau: Hệ thống siêu thị Carrefour nổi tiếng thế giới đã từng bị phạt vì hàng khuyến mại bị hết sớm hơn thời hạn dự kiến dù nhà kinh doanh đã giải thích là do khách hàng mua quá đông Hệ thống này bị phạt vì đã quảng cáo sai sự thật- người tiêu dùng đến trong thời hạn không mua được hàng

Luật bảo vệ người tiêu dùng của Anh cũng ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động khuyến mại giảm giá [44] Xin được trích dẫn nguyên văn một số điều trong luật bảo vệ người tiêu dùng của Anh như sau:

Section 20 (1) provides :

Subject to the following provisions of this part, a person shall be guilty of an offence if, in the course of any business of his, he gives (by any means whatever) to any consumers an indication which is misleading as to the price at which any goods, services, accommodation or facilities are available (whether generally or from particular persons).It is also an offence not to correct to a price indication which becomes misleading after it has been given

Section 21 (1) provides that a price indication is misleading if it suggests:

(a) that the price is less than in fact it is;

(b) that the applicability of the price does not depend on facts or circumstances on which its applicability does in fact depend eg where conditions are imposed before the consumer can purchase at the price stated;

Trang 34

(c) that the price is all the consumer has to pay when in fact there are hidden charges eg the cost of putting a car “on the road”;

(d) that the facts or circumstances by reference to which consumers might reasonably be expected to judge the validity of any relevant comparison made or implied by the indication are not what in fact they are

Chúng ta có thể hiểu khái quát các điều luật trên như sau:

Mục 20 (1) quy định: Theo các quy định sau của phần này, một người sẽ bị coi là phạm tội vi phạm nếu trong quá trình khuyến mại của doanh nghiệp mình, đưa ra bất kỳ điều gì làm cho người tiêu dùng hiểu lầm về giá Đây cũng là một hành vi phạm tội có dấu hiệu cho thấy giá sai lệch khi hàng hóa được đưa ra bán Mục 21 (1) quy định rằng một dấu hiệu cho thấy giá bán gây hiểu lầm nếu nó cho thấy: (i) Giá hàng hóa trên thực tế thấp hơn; (ii) giảm giá không như thực tế thông báo, ví dụ kèm theo điều kiện được áp đặt trước khi người tiêu dùng có thể mua ở mức giá kê khai; (iii) người tiêu dùng phải trả tiền đối với chi phí dịch vụ, thứ mà trên thực tế họ không nhận ra, ví dụ như chi phí của một chiếc ô tô bao gồm việc vận chuyển nó; (iv) thông báo giá cả sẽ được tăng lên, giảm hoặc giữ nguyên khi thực tế không xảy ra, ví dụ như khách hàng được thông báo giá hiện tại là giá thấp, trong tương lai sẽ tăng giá nhưng thực tế doanh nghiệp không hề có ý định tăng

Các quy định kể trên của Anh, theo tác giả cũng là các quy định đáng để Việt Nam học hỏi Các quy định này sẽ góp phần giải quyết được các vấn đề về sai sót trong kĩ thuật in ấn, gây hiểu nhầm hoặc bất lợi cho người tiêu dùng cũng như các căn cứ xác định giá sai lệch của hàng hóa khi khuyến mại giảm giá

Qua phân tích pháp luật của hai nước trên, có thể rút ra một số kinh nghiệm quốc tế trong lập pháp về hoạt động khuyến mại giảm giá như sau:

Một là: Nguồn chứa đựng các quy phạm pháp luật về khuyến mại giảm giá rất đa dạng, thường là Luật Thương mại, Luật cạnh tranh, Luật bảo

Trang 35

vệ quyền lợi người tiêu dùng Phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế xã hội, mục tiêu điều chỉnh pháp luật, cách thức quy định về hoạt động khuyến mại giảm giá ở mỗi nước không thể giống nhau Ví dụ: Nhật quy định về hoạt động khuyến mại giảm giá chủ yếu trong Luật bảo vệ người tiêu dùng, chống lại các chi phí

vô lý và các cơ quan đại diện gây hiểu nhầm; Tại Anh, hoạt động khuyến mại giảm giá được điều chỉnh rộng khắp, thậm chí liên quan đến luật điều chỉnh hợp đồng

Hai là, pháp luật hai nước đều xác định bản chất thương mại của hoạt động khuyến mại giảm giá Sự nhìn nhận này là phù hợp và cần thiết để pháp luật đưa ra được những quy định cần thiết để đảm bảo quyền tự do cho thương nhân nhưng cũng bảo vệ được lợi ích của người tiêu dùng và các đối thủ cạnh tranh khác

Ba là, hai nước đều hướng tới xây dựng tiêu chí, điều kiện hình thức khuyến mại giảm giá một cách cụ thể nhất, từ hành vi nào được coi là giảm giá cho tới các trường hợp ngoại lệ để pháp luật có thể điểu chỉnh được hoạt động khuyến mại giảm giá ngay cả khi nó có thể “biến tướng”

Kinh nghiệm lập pháp về thương mại của Việt Nam trong thời gian qua và kinh nghiệm lập pháp của hai nước như vừa phân tích đặt ra việc hoàn thiện pháp luật về khuyến mại giảm giá ở Việt Nam một số yêu cầu đó là: (i) Nhìn nhận đúng bản chất thương mại của hoạt động khuyến mại giảm giá và

áp dụng các nguyên tắc điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động thương mại; (ii) Có thể sử dụng đồng thời nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh hoạt động khuyến mại giảm giá; (iii) Quy định cụ thể điều kiện pháp luật khi áp dụng hình thức khuyến mại giảm giá

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI GIẢM GIÁ Ở VIỆT NAM

2.1 Những quy định pháp luật hiện hành về hình thức khuyến mại giảm giá

2.1.1 Quy định pháp luật về điều kiện, cách thức tổ chức thực hiện hoạt động khuyến mại giảm giá

Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 4/4/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại có quy định

về điều kiện thực hiện hình thức khuyến mại giảm giá như sau: Mức giảm giá hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại trong thời gian khuyến mại tại bất kỳ thời điểm nào tối đa không được vượt quá 50% giá hàng hóa đó ngay trước thời gian khuyến mại; không được giảm giá bán hàng hóa trong trường hợp giá bán hàng hóa thuộc diện Nhà nước quy định giá cụ thể; không được giảm giá bán hàng hóa xuống thấp hơn mức giá tối thiểu trong trường hợp giá bán hàng hóa thuộc diện Nhà nước quy định khung giá hoặc quy định giá tối thiểu Cá nhân tôi cho rằng, quy định này vẫn còn nhiều điểm bất hợp lý, cần được sửa đổi, cụ thể:

Thứ nhất, quy định này mang tính nửa vời, kiểm soát hạn mức khuyến mại giảm giá tối đa nhưng lại thiếu cơ chế kiểm soát giá hàng hóa Nghĩa vụ thông báo công khai các nội dung thông tin về hoạt động khuyến mại cho khách hàng đã được quy định trong Luật thương mại [2] Tuy nhiên khuyến mại giảm giá chỉ không cần vượt quá 50% giá hàng hóa đó ngay trước thời gian khuyến mại là hợp pháp, vậy doanh nghiệp hoàn toàn có thể dùng chiêu “thổi” giá gốc của sản phẩm lên cao rồi sau đó giảm giá xuống mạnh để

dụ khách hàng Với “chiêu” này, mức khuyến mại thật sự của sản phẩm chẳng đáng là bao, có khi giá sau khuyến mại lại quay về bằng giá gốc hoặc còn cao hơn giá gốc Thực tế hiện nay nhà nước mới chỉ quan tâm, kiểm soát giá một

Trang 37

số hàng hóa và dịch vụ do Nhà nước định giá như giá dịch vụ khám, chữa bệnh, học phí, nước sạch sinh hoạt, giá cước xe buýt, xăng dầu… Trong khi

đó những mặt hàng thiết yếu trong đời sống hàng ngày như thịt, gạo, dầu ăn, quần áo… người tiêu dùng rất khó xác định giá chính xác, bởi hoàn toàn không có khung giá chuẩn để so sánh Bởi vậy, hạn mức giảm giá phụ thuộc vào mức giá trước thời điểm khuyến mại là điều không hợp lý khi mức giá này phụ thuộc vào từng thương nhân bán hàng

Thứ hai, quy định này sẽ trở nên dư thừa khi mục đích chính của quy định này thực chất để hạn chế cạnh tranh không lành mạnh, hạn chế việc lợi dụng hình thức khuyến mại giảm giá này để bán phá giá hàng hóa, những vấn đề đã được điều chỉnh cụ thể bởi Luật cạnh tranh (2004) Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường Khi pháp luật thừa nhận

và bảo hộ tính đa dạng sở hữu, khi tự do thương mại, và theo đó là tự do kinh doanh, tự do khế ước và quyền tự chủ của các cá nhân được hình thành và đảm bảo thì diễn ra cạnh tranh [25] Mọi hành vi giảm giá vi phạm các quy định hạn mức trên 50% giá hàng hóa trước thời gian khuyến mại của doanh nghiệp đều bị coi là hành vi vi phạm pháp luật về xúc tiến thương mại Điều

đó không có nghĩa, việc giảm giá dưới 50% giá hàng hóa trước thời gian khuyến mại luôn hợp pháp Liên quan đến quy định về hạn mức giá trị và thời gian khuyến mại, ở góc độ điều chỉnh hành vi cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh chỉ cấm doanh nghiệp độc quyền, doanh nghiệp và nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện hành vi “bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh” [3] Việc giảm giá dưới 50% giá hàng hóa, dịch vụ trước thời gian khuyến mại có thể đồng thời

ở mức dưới “giá thành toàn bộ” của sản phẩm, hoàn toàn có thể vi phạm luật cạnh tranh Mấu chốt vấn đề là pháp luật cạnh tranh chỉ coi là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh bị cấm thực hiện khi hành vi đó được thực hiện bởi doanh nghiệp độc quyền, doanh nghiệp và nhóm doanh nghiệp có vị trí thống

Trang 38

lĩnh thị trường mà không quan tâm đến hạn mức giảm giá Đây là sự khác biệt không cần thiết trong luật thương mại và luật cạnh tranh

Thứ ba, pháp luật về khuyến mại giảm giá còn có quy định về tổng thời gian thực hiện chương trình khuyến mãi bằng cách giảm giá đối với một loại nhãn hiệu hàng hóa không được vượt quá 90 ngày trong một năm; một chương trình khuyến mãi không được vượt quá 45 ngày [7] Hạn chế này chỉ

áp dụng đối với một nhãn hiệu, điều này có nghĩa nếu doanh nghiệp của bạn bán cùng một loại hàng hóa nhưng với các nhãn hiệu khác nhau thì hoàn toàn

có thể lách luật trong tình huống này Theo quy định tại Điều 4 Luật Sở Hữu

Trí Tuệ (2005): Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ

của các tổ chức, cá nhân khác nhau Nhãn hiệu hàng hoá gắn vào sản phẩm, bao bì sản phẩm để phân biệt sản phẩm cùng loại của các cơ sở sản xuất khác nhau Ví dụ: Một siêu thị điện máy của bán Ti vi của ba hãng khác nhau như: Sony, Tosiba, Sam Nếu mỗi chương trình khuyến mại chỉ áp dụng cho một loại ti vi thì có thể tổ chức tới ba đợt khuyến mại, tổng thời gian khuyến mại giảm giá của siêu thị có thể lên tới 180 ngày trong một năm Như vậy, siêu thị này có thể quảng cáo khuyến mại giảm giá ti vi để thu hút khách hàng trong một thời gian dài Điều này có thể dẫn tới tình trạng khách hàng trở nên

“nhàm chán”, thiếu tin tưởng vào các chương trình khuyến mại của thương nhân

Thứ tư, về thủ tục thông báo hoạt động khuyến mại giảm giá, theo điều 15 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP quy định rõ: Thương nhân thực hiện hình thức khuyến mại giảm giá phải gửi thông báo bằng văn bản về chương trình khuyến mại đến Sở Thương mại nơi tổ chức khuyến mại chậm nhất 7 (bảy) ngày làm việc trước khi thực hiện khuyến mại Khoản 1, mục II, thông

tư Số: 07/2007/TTLT-BTM-BTC cũng quy định các hình thức khuyến mại phải được thông báo bằng văn bản đến Sở Thương mại nơi tổ chức khuyến mại, bao gồm hình thức khuyến mại giảm giá

Ngày đăng: 29/03/2018, 15:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w