1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn phân tích chính sách thuế phân tích tác động của thuế sử dụng đất nông nghiệp

20 439 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 124,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, pháp luật thuế đối với đất đai góp phần đảm bảo sự động viên công bằng giữa các tầng lớp dân cư có sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc để ở.. Thuế sử dụng đất nôn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC



ĐỀ TÀI TIỀU LUẬN

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ SỬ

DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

Giáo viên hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Ngọc Hùng Học viên thực hiện: Đinh Thị Mỹ Trang

TP Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 12 năm 2015

Trang 2

MỤC LỤC

A Mở đầu 3

B Nội dung 5

CHƯƠNG I:TỔNG QUAN VỀ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 5

1 Khái niệm về thuế sử dụng đất nông nghiệp: 5

2 Phạm vi áp dụng thuế sử dụng đất nông nghiệp 6

3 Phương pháp tính thuế sử dụng đất nông nghiệp 7

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 10

1 Tại sao đánh thuế sử dụng đất nông nghiệp 10

2 Tác dụng của thuế sử dụng đất nông nghiệp 11

3 Những khía cạnh ưu đãi của thuế sử dụng đất nông nghiệp 13

CHƯƠNG III:KIẾN NGHỊ 15

1 Dựa trên các kinh nghiệm các nước 15

2 Dựa trên thực tiễn thực hiện ở Việt Nam 17

C KẾT LUẬN 19

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 3

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

A Mở đầu

Mỗi khi muốn đưa một loại thuế mới vào áp dụng trong thực tiễn cần phải tạo cơ

sở pháp lý cho việc cưỡng chế thi hành Thuế đối với đất đai không phải là một ngoại lệ

Để đánh thuế đối với đất đai, nhà nước phải ban hành các văn bản pháp luật về thuế đối với đất đai làm nền tảng pháp lý cho việc thực thi những loại thuế này Tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội hình thành trong quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền tập trung các khoản thu về thuế có liên quan đến đất đai vào ngân sách nhà nước tạo thành pháp luật thuế đối với đất đai

Kể từ khi ban hành, pháp luật thuế đối với đất đai đã phát huy được một số tác động tích cực, hỗ trợ công tác quản lý đất đai

Thứ nhất, pháp luật thuế đối với đất đai là công cụ quan trọng giúp Nhà nước quản

lý hoạt động sử dụng đất, khuyến khích việc sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả Vai trò này

do pháp luật thuế sử dụng đất nông nghiệp và pháp luật thuế, nhà đất đảm nhiệm

Thứ hai, pháp luật thuế đối với đất đai góp phần đảm bảo sự động viên công bằng giữa các tầng lớp dân cư có sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc để ở

Thứ ba, pháp luật thuế đối với đất đai đã tạo nguồn thu thường xuyên, ổn định cho ngân sách địa phương, phục vụ tốt cho yêu cầu quản lý và điều tiết kinh tế ở địa phương

Ở Việt Nam, đã có giai đoạn thu từ thuế đối với đất đai đáp ứng được hầu hết nhu cầu chi tiêu của chính quyền cấp huyện và cấp xã

Thuế sử dụng đất nông nghiệp là một bộ phận quan trọng của pháp luật thuế đối với đất đai Việc áp dụng thuế sử dụng đất nông nghiệp dù đã được ban hành đã lâu nhưng vẫn còn những bất cập cần phải điều chỉnh Từ đó, tôi quyết định chọn đề tài

“Phân tích tác động của thuế sử dụng đất nông nghiệp”

Đề tài sẽ tập trung vào các nội dung chính sau:

- Những nội dung cơ bản của thuế sử dụng đất nông nghiệp là gì?

Trang 4

- Cách thức và kinh nghiệm việc áp dụng thuế sử dụng đất nông nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới

-Thực trạng thuế sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, so sánh thông tin:

- Tổng hợp các ưu điểm, khuyết điểm, kinh nghiệm của các quốc gia đã và đang

áp dụng thuế sử dụng đất nông nghiệp Tổng hợp tình hình thực hiện chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam

- So sánh thông tin, chọn lọc, kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, thành tựu

mà các quốc gia đã đạt được để đưa ra những đề xuất áp dụng vào chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

Đề tài nghiên cứu về chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp với cơ sở pháp lý là Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp được ban hành ngày 10/7/1993 Đây là Luật thuế điều chỉnh hoạt động thu thuế sử dụng đất nông nghiệp Trên cơ sở đó, tình hình áp dụng luật thuế này đã phù hợp với thực tiễn hay không? Cần đổi mới hay bãi bỏ luật thuế này hay không?

Trang 5

B Nội dung

1 Khái niệm về thuế sử dụng đất nông nghiệp:

Thuế nông nghiệp ở nước ta được ban hành ngày 11/5/1951 theo sắc lệnh số 031/SL của chủ tịch nước và được áp dụng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng dân tộc ở Miền Nam, sắc lệnh thuế nông nghiệp đã được bổ sung và sửa đổi cho phù hợp với nhiệm vụ xây dựng và cải tạo nền kinh tế nước nhà Theo sắc lệnh này, thuế nông nghiệp được coi là thuế hoa lợi trên đất

Ðầu năm 1983, Nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế nông nghiệp áp dụng thống nhất trong cả nước Tuy nhiên, để phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, từ năm 1989 Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh sửa đổi bổ sung Pháp lệnh về thuế nông nghiệp để chuyển từ hình thức hoa lợi trên đất sang thuế bao hàm cả thuế đất và thuế hoa lợi trên đất

Việc chuyển nến kinh tế từ bao cấp sang nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải đổi mới toàn diện mọi mặt quản lý kinh tế của đất nước trong khi Pháp lệnh thuế nông nghiệp năm 1983 và Pháp lệnh sửa đổi bổ sung năm 1989 đã bộc lộ nhiều hạn chế và tỏ ra không phù hợp Nhằm hạn chế những khuyết điểm của các văn bản pháp quy về việc thu thuế sử dụng đất nông nghiệp và khuyến khính sử dụng đất nông nghiệp có hiệu qủa, đảm bảo thực hiện công bằng, hợp lý trong việc đóng góp thu nhập cuả các tổ chức, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp, ngày 10/7/1993 Quốc hội khóa 9 kỳ họp thứ III đã thông qua Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1994 Chính phủ đã có Nghị định số 73, 74 ngày 25/10/1993 và Bộ tài chính có Thông tư số 89 ngày 9/1/1993 hướng dẫn thi hành chi tiết Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp

Như vậy, thuế dử dụng đất nông nghiệp gồm thuế đất và hoa lợi trên đất, chủ yếu nhằm vào sản xuất nông nghiệp

Trang 6

Nghị định số 84-CP ngày 08/8/1994 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành pháp lệnh thuế bổ sung đối với hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp vượt quá hạn mức diện tích

Nghị định số 20/2011/NĐ-CP ngàỵ 23/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 về việc miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp và một số thông tu hướng dẫn khác

2 Phạm vi áp dụng thuế sử dụng đất nông nghiệp

Căn cứ Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp do Quốc hội ban hành ngày 10/7/1993,

có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 1994

2.1 Đối tượng nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp

- Tổ chức, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp đều phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp (gọi chung là hộ nộp thuế)

- Hộ được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp mà không sử dụng vẫn phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp

-Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam sử dụng đất nông nghiệp phải nộp tiền thuê đất theo quy định tại Điều 29 của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, không phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của Luật này

2.2 Đất chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp gồm:

- Đất trồng trọt là đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ Đất trồng cây hàng năm là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng (từ khi trồng đến khi thu hoạch) không quá 365 ngày như lúa, ngô, rau, lạc hoặc cây trồng một lần cho thu hoạch một vài năm nhưng không trải qua thời kỳ xây dựng cơ bản như mía, chuối, cói, gai, sả, dứa (thơm)

Đất trồng cây lâu năm là đất trồng các loại cây có chu kỳ sinh trưởng trên 365 ngày, trồng một lần nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm và phải trải qua một thời kỳ xây dựng cơ bản mới cho thu hoạch như cao su, chè, cà phê, cam, quýt, nhãn, cọ, dừa

Trang 7

Đất trồng cỏ là đất đã có chủ sử dụng vào việc trồng cỏ để chăn nuôi gia súc.

- Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là đất đã có chủ sử dụng chuyên nuôi trồng thuỷ sản hoặc vừa nuôi trồng thuỷ sản vừa trồng trọt, nhưng về cơ bản không sử dụng vào các mục đích khác

- Đất trồng là đất đã được trồng rừng và đã giao cho tổ chức, cá nhân quản

lý, chăm sóc và khai thác, không bao gồm đất đồi núi trọc

Trong trường hợp không sử dụng đất thuộc diện chịu thuế theo quy định tại điều này chủ sử dụng đất vẫn phải nộp thuế theo quy định của Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp

2.3 Những loại đất không chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp bao gồm:

- Đất rừng tự nhiên;

- Đất đồng cỏ tự nhiên chưa giao cho tổ chức, cá nhân nào sử dụng;

- Đất để ở, đất xây dựng công trình thuộc diện chịu thuế nhà đất;

- Đất làm giao thông, thuỷ lợi dùng chung cho cánh đồng;

- Đất chuyên dùng theo quy định tại Điều 62 của Luật đất đai là đất được xác định

sử dụng vào mục đích không phải là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và làm nhà ở;

- Đất do Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê theo quy định tại Điều 29 của Luật đất đai

Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các Bên nước ngoài hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng có sử dụng đất nông nghiệp, các Bên Việt Nam được phép dùng quyền sử dụng đất nông nghiệp đưa vào góp vốn không phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp nhưng phải trả tiền thuê đất theo quy định tại Điều 79 Nghị định số 18-CP ngày 16-4-1993 của Chính phủ

3 Phương pháp tính thuế sử dụng đất nông nghiệp

Căn cứ tính thuế sử dụng đất nông nghiệp:

Trang 8

3.1 Diện tích

Diện tích tính thuế sử dụng đất nông nghiệp là diện tích giao cho hộ sử dụng đất phù hợp với sổ địa chính Nhà nước Trường hợp chưa lập sổ địa chính thì diện tích tính thuế là diện tích ghi trên tờ khai của hộ sử dụng đất

3.2 Hạng đất

Căn cứ để xác định hạng đất gồm các yếu tố:

- Chất đất;

- Vị trí;

- Địa hình;

- Điều kiện khí hậu, thời tiết;

- Điều kiện tưới tiêu

Chính phủ quy định tiêu chuẩn hạng đất tính thuế theo các yếu tố nói tại Điều này

và có tham khảo năng suất bình quân đạt được trong điều kiện canh tác bình thường của 5 năm (1986 - 1990)

Hạng đất tính thuế được ổn định 10 năm Trong thời hạn ổn định hạng đất, đối với vùng mà Nhà nước đầu tư lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao, Chính phủ điều chỉnh lại hạng đất tính thuế

Căn cứ vào tiêu chuẩn của từng hạng đất và hướng dẫn của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác định hạng đất tính thuế cho từng hộ nộp thuế trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt

Định suất thuế một năm tính bằng kilôgam thóc trên 1 ha của từng hạng đất như sau:

3.2.1 Đối với đất trồng cây hàng năm và đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản:

Hạng đất Định suất thuế

Trang 9

1 550

3.2.2 Đối với đất trồng cây lâu năm:

Hạng đất Định suất thuế

3.2.3 Đối với cây ăn quả lâu năm trồng trên đất trồng cây hàng năm

- Bằng 1,3 lần thuế đất trồng cây hàng năm cùng hạng, nếu thuộc đất hạng 1, hạng

2 và hạng 3;

- Bằng thuế đất trồng cây hàng năm cùng hạng, nếu thuộc đất hạng 4, hạng 5 và hạng 6

3.2.4 Đối với cây lấy gỗ và các loại cây lâu năm thu hoạch một lần chịu mức thuế: bằng 4% giá trị sản lượng khai thác.

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM.

1 Tại sao đánh thuế sử dụng đất nông nghiệp

1.1 Cung cấp một nguồn doanh thu cho chính quyền địa phương, tạo tính độc lập với Trung ương.

Thuế sử dụng đất nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu ngành của một nền kinh tế Mặc dù vậy, thuế sử dụng đất nông nghiệp vẫn là một nguồn thu quan

Trang 10

trọng Ở Nga, thuế sử dụng đất nông nghiệp chiếm 2% tổng nguồn thu thuế, ở Estonia là 26%

1.2 Xác định quyền sở hữu.

Trong hầu hết các nước đang chuyển đổi đã không có việc xác định quyền sở hữu đất và tài sản trên đất trong nhiều thập kỷ.Thuế đất và thuế bất động sản, dựa trên định giá rõ ràng và quy trình xác định giá trị, được xem như là một cơ chế mà có thể hỗ trợ sự phát triển của thị trường đất đai ở địa phương và môi giới địa phương và cho vay dựa trên tài sản ngành công nghiệp, cả trong các lĩnh vực đô thị và nông thôn

1.3 Tạo ra khả năng định giá đất.

Để đáp ứng nhu cầu định giá, đòi hỏi phải có cán bộ được đào tạo và có đủ kiến thức về hoạt động của thị trường Điều này cung cấp một cơ chế tự truyền đạt kiến thức kinh nghiệp một cách rộng rãi và tạo ra quá trình đào tạo và hỗ trợ cho ngành công nghiệp định giá Đây sẽ là một yêu cầu cốt lõi cho sự phát triển đô thị và nông thôn

1.4 Tiết kiệm chi phí thẩm định giá.

1.5 Không khuyết khích người nước ngoài sở hữu/sử dụng vắng mặt.

1.6 Không khuyết khích đầu cơ đất

Thuế sử dụng đất sẽ tạo nên một áp lực phải sử dụng đất, tránh tình trạng đầu cơ

1.7 Quản lý căng thẳng chính trị về đất.

Ở một số quốc giá như Trung Quốc, các quốc gia tách ra từ Liên xô cũ ủng hộ việc

sở hữu cá nhân về tài sản Ngoài ra một số quốc gia như Kenya, Madagascar và Mozambique cũng ủng hộ cải cách ruộng đất theo hướng trên

2 Tác dụng của thuế sử dụng đất nông nghiệp

2.1 Tăng cường việc sử dụng đất, hạn chế việc nắm giữ nhưng không sử dụng

Trang 11

Bất kỳ yếu tố nào làm tăng chi phí nắm giữ đất một cách đúng mức sẽ tạo ra sự khuyến khích tăng cường sử dụng đất Nếu đất không được sử dụng một cách tối ưu, việc tăng chi phí nắm giữ đất thông qua thuế sẽ tạo ra nỗ lực lớn trong việc sử dụng đất

(Taxing Agricultural Land: A Policy instrument for Land use Intensification, Local Development and Land Market Reform)

Ở nhiều quốc gia với việc phân phối đất không hợp lý, có nhiều lý do để tin rằng một số lượng đáng kể của đất nông nghiệp không được sử dụng ở cường độ tối ưu của nó cho một loạt các lý do lịch sử và thể chế, và nếu thuế đất hiệu quả hơn sẽ dẫn đến tình hình thâm canh tăng vụ nhằm sử dụng đất được tốt hơn

Wunderlich (1993), trong một cuộc khảo sát của thuế đất nông nghiệp ở Mỹ cho kết luận, đánh giá đầy đủ các dữ liệu theo chuỗi thời gian đã chứng minh rằng "một mối quan hệ tích cực giữa các mức thuế suất cao hơn tài sản và sử dụng đất nông nghiệp, chuyên sâu hơn mà lần lượt được kết hợp với phân phối công bằng hơn đất nông nghiệp"

Yamamura (1986) đã chứng minh tương tự cho trường hợp ở Nhật Bản, liên kết việc áp dụng thuế đất để tăng năng suất nông nghiệp

Trang 12

Strasma (2000) chỉ ra cách cấu trúc của hệ thống thuế đất nông nghiệp của Chile

đã thành công khi khuyến khích sử dụng đất căn cứ đánh giá về lợi nhuận tiềm năng của mỗi thửa đất, được cập nhật thường xuyên dựa trên một bảng giao dịch thực tế trên thị trường

Việc tăng cường sử dụng đất như là một kết quả tất yếu của việc dùng thuế có hiệu quả, dẫn đến phân phối lại nguồn lực từ chủ thể sử dụng ít hiệu quả thành chủ thể sử dụng có hiệu quả thông qua thị trường được hỗ trợ bởi kinh nghiệm quốc tế

2.2 Thuế đất gây ra phân phối lại đất.

Tác động của thuế đất nông nghiệp như là một cơ chế truyền dẫn đến việc tái phân phối thị trường đất Xem xét Brazil, Assuncao và Moreira (2005) lưu ý rằng thuế đất (thuế tài sản nông thôn - ITR) ở Brazil được dùng để hỗ trợ các chính sách công cộng để phân phối lại đất, nhưng rất ít thành công Họ cho rằng có một mức độ cao về việc trốn thuế và gây cản trở hiệu quả của chính sách quản lý việc nắm giữ đất.Thuế được thu bởi chính quyền địa phương nơi chủ đất lớn thường vận động hành lang để trốn thuế Ngoài

ra, thuế được dựa trên đất "không sử dụng", đó là điều rất khó khăn để xác định.Mặc dù

có những hạn chế, các nhà kinh tế học vẫn kết luận rằng "thuế đất thích hợp có thể điều chỉnh giá đất trong nền kinh tế, lôi kéo phân phối lại đất từ các chủ đất lớn chuyển nhượng cho nông dân sản xuất nhỏ hơn Strasma và cộng sự (1987) kết luận rằng việc sử dụng thuế đất nông nghiệp để phân phối lại kích thích đã không thành công bởi vì thuế đất đối với tỷ lệ quá thấp ảnh hưởng đến các quyết định của chủ sở hữu bất động sản Shearer và cộng sự (1991) lạc quan và thận trọng về thuế đất như một công cụ chính sách

để khuyến khích phân phối lại ở các nước Mỹ Latinh

3 Những khía cạnh ưu đãi của thuế sử dụng đất nông nghiệp

- Miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp cho nông dân có thu nhập thấp nhằm tạo tính công bằng xã hội, kích thích lao động sản xuất

Ngày đăng: 09/04/2016, 23:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w