Tuy tốc độ tăng trưởng tại Việt Nam giai đoạn đó vẫn dương nhưng đã bịsuy giảm đến mức rất thấp, lạm phát tăng cao, tỉ lệ thất nghiệp cao, hoạt động sản xuất kinhdoanh đình trệ, nhiều do
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN
MÔN: PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ
ĐỀ TÀI:
CHÍNH SÁCH THUẾ VÀ VẤN ĐỀ CHỐNG SUY THOÁI KINH TẾ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2013
GVHD: TS.NGUYỄN NGỌC HÙNG HVTH: NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG QUỲNH
TPHCM, tháng 12/2015
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
I CHÍNH SÁCH THUẾ VÀ VẤN ĐỀ CHỐNG SUY THOÁI 5
1 SUY THOÁI KINH TẾ 5
1.1 Định nghĩa 5
1.2 Biểu hiện suy thoái kinh tế 5
1.3 Nguyên nhân của suy thoái kinh tế 6
2 Tác động của chính sách thuế đến suy thoái kinh tế 7
II THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2013 8
1.Thực trạng Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013 8
1.1 Nguyên nhân 8
1.2 Thực trạng 10
2 Chính sách thuế nhằm chống suy thoái kinh tế 15
3 Đánh giá 19
KẾT LUẬN 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 4MỞ ĐẦU
Suy thoái kinh tế là một giai đoạn của chu kỳ kinh tế (chu kỳ kinh doanh) Đó là sựbiến động của GDP thực tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh.Suy thoái là pha trong đó GDP thực tế giảm đi Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng,khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suythoái Suy thoái kinh tế luôn là mối đe dọa rất lớn đối với mỗi quốc gia và toàn thế giới
Năm 2008 thế giới chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ, sau đólan rộng đến các nước khác Việt Nam cũng nằm trong số các nước chịu ảnh hưởng của cuộckhủng hoảng này Tuy tốc độ tăng trưởng tại Việt Nam giai đoạn đó vẫn dương nhưng đã bịsuy giảm đến mức rất thấp, lạm phát tăng cao, tỉ lệ thất nghiệp cao, hoạt động sản xuất kinhdoanh đình trệ, nhiều doanh nghiệp phải hoạt động cầm chừng hoặc phá sản, nền kinh tế lâmvào tình trạng suy thoái nghiêm trọng
Trước tình hình đó, Chính phủ đã thực hiện kết hợp rất nhiều chính sách để ngăn chặnsuy thoái, phục hồi nền kinh tế Trong đó, chính sách thuế đóng góp một phần không nhỏtrong việc thúc đẩy sản xuất và kích thích tiêu dùng Bài nghiên cứu sẽ trình bày cụ thể cácchính sách thuế đã được áp dụng trong giai đoạn này nhằm mục tiêu khôi phục nền kinh tế
Do còn hạn chế về hiểu biết và kĩ năng nên trong bài nghiên cứu không thể tránh khỏithiếu sót, rất mong nhận được sự nhận xét đóng góp của Thầy để bài được hoàn chỉnh
Trân trọng,
Trang 5CHÍNH SÁCH THUẾ VÀ VẤN ĐỀ CHỐNG SUY THOÁI KINH TẾ
THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2013
I CHÍNH SÁCH THUẾ VÀ VẤN ĐỀ CHỐNG SUY THOÁI KINH TẾ
1 Suy thoái kinh tế
1.1 Định nghĩa
Suy thoái kinh tế được định nghĩa là khi chỉ số tổng sản phẩm quốc nội (GDP) haytổng giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong một quốc gia suy giảm trong hai quýliên tiếp (nói cách khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý) Khác với tổngsản phẩm quốc gia (GNP), GDP không bao hàm giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuấtbởi các công ty tại nước ngoài, hoặc các hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu
Cục Nghiên Cứu Kinh Tế Quốc Gia của Mỹ (NBER), tổ chức chịu trách nhiệmnghiên cứu thời gian bắt đầu và kết thúc của cuộc suy thoái, đã đưa ra một định nghĩa khámới mẻ về suy thoái: “sự suy giảm mạnh mẽ trong hoạt động kinh tế lan rộng trên toàn nềnkinh tế và kéo dài đến vài tháng
Suy thoái kinh tế còn liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn
bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu tư, và lợi nhuận doanh nghiệp Các thời kỳ suy thoái
có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại tăng nhanh giá cả (lạm phát) trongthời kì đình lạm
1.2 Biểu hiện của suy thoái kinh tế
Thông thường, người ta chỉ nhận ra hai điểm đáy và đỉnh của chu kỳ kinh tế khi nềnkinh tế đã sang pha tiếp sau điểm ngoặt với dấu hiệu là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế đổichiều giữa mức âm và mức dương Trong thực tế, các nhà kinh tế học cố tìm cách nhận biếtdấu hiệu của suy thoái vì nó tác động tiêu cực đến mọi mặt kinh tế, xã hội Một số đặc điểm
Trang 6 Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa trong các doanhnghiệp tăng lên ngoài dự kiến Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sảnlượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả làGDP thực tế giảm sút.
Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảmxuống tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao
Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảmbởi nguyên nhân cầu sút kém Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng khôngnhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái
Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thường giảmtheo khi các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh.Cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suy thoái.Khi nền kinh tế hưng thịnh thì các dấu hiệu trên biến thiên theo chiều ngược lại
1.3 Nguyên nhân của suy thoái kinh tế
Những nguyên nhân đích thực của suy thoái kinh tế là đối tượng tranh luận sôi nổigiữa các nhà lý thuyết và những người làm chính sách mặc dù đa số thống nhất rằng các kỳsuy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nội sinh) theo chu kỳ và các
cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh)
Những nhà kinh tế học chủ nghĩa Keynes và những lý thuyết gia theo lý thuyếtchu kỳ kinh tế thực thống nhất cao rằng các yếu tố ngoại sinh như giá dầu, thờitiết, hay chiến tranh có thể tự chúng gây ra suy thoái kinh tế nhất thời, hoặcngược lại, tăng trưởng kinh tế ngắn hạn
Trường phái kinh tế học Áo giữ quan điểm rằng lạm phát bởi cung tiền tệ gây
ra suy thoái kinh tế và các thời kỳ suy thoái đó là động lực tích cực, là cơ chế
Trang 7tự nhiên của thị trường nhằm điều chỉnh lại những nguồn lực bị sử dụng khônghiệu quả trong giai đoạn "tăng trưởng" hoặc lạm phát
Phần lớn học giả theo thuyết tiền tệ tin rằng nguyên nhân của các thời kỳ suythoái ở Mỹ là bởi quản lý tiền tệ yếu kém
2 Tác động của chính sách thuế đến suy thoái kinh tế
Trước Keynes, các nhà kinh tế cho rằng khi có khủng hoảng kinh tế, giá cả và tiềncông sẽ giảm đi, do đó các doanh nghiệp sẽ có động lực đẩy mạnh thuê mướn lao động và
mở rộng sản xuất, làm cho nền kinh tế phục hồi Tuy nhiên trong cuộc Đại khủng hoảng(1929 – 1933), Keynes lại quan sát và thấy rằng tiền công không giảm, sản xuất không tăng
và nền kinh tế không thể phục hồi Từ đó ông cho rằng thị trường không hề hoàn hảo nhưcác nhà kinh tế học cổ điển từng khẳng định
Học thuyết Keynes lấy nguyên lý cầu hữu hiệu làm nền tảng, cho rằng lượng cunghàng hóa là do lượng cầu quyết định nên vào những thời kỳ suy thoái kinh tế, nếu tăng chitiêu công thì sản xuất và việc làm sẽ tăng theo, giúp nền kinh tế ra khỏi thời kỳ suy thoái.Theo quan điểm của Keynes, tài chính là một công cụ hữu hiệu trong tay Nhà nước để tácđộng tới nền kinh tế Giả sử nền kinh tế đang lâm vào khủng hoảng, suy thoái và thất nghiệp,các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, điều đó làm giảm súttổng cầu Vì vậy, để nâng cao tổng cầu thì Chính phủ phải tăng chi tiêu, hoặc giảm thuế chodoanh nghiệp, qua đó nâng cao mức tiêu dùng trong nền kinh tế và do hiệu lực của cơ chế sốnhân sẽ khiến cho sản lượng tăng và việc làm trong xã hội tăng lên Ngược lại, khi nền kinh
tế đang trong trạng thái phát triển quá nóng, lạm phát tăng – chính phủ có thể tác động bằngcách thắt chặt chi tiêu và tăng thuế Nhờ đó mức chi tiêu giảm, sản lượng giảm và lạm phátđược kiềm chế
Tuy nhiên vẫn có một số nguy cơ nếu áp dụng các biện pháp này quá mức Keynes đãlập luận rằng, cần thiết phải có vai trò Nhà nước trong điều tiết kinh tế để chống đỡ khủnghoảng và thất nghiệp Nhà nước nên sử dụng quyền hạn đó để đánh thuế và gia tăng chi tiêu,qua đó tác động lên chu kỳ kinh doanh Chi tiêu của Chính phủ là khoản đầu tư công cộng,
Trang 8bơm thêm tiền vào dòng chảy thu nhập và do đó để nâng cao tổng cầu Những khoản chi tiêu
đó là lấy từ tiền đánh thuế trong nền kinh tế (như vậy, vô hình chung lại làm giảm tiêu dùng
và giảm lợi nhuận của doanh nghiệp) Thu nhập của chính phủ cũng được lấy từ việc bán tráiphiếu chính phủ và bằng những biện pháp vay nợ khác… Như vậy, rất có thể làm thâm hụtngân sách, gánh nặng nợ nần của Nhà nước ngày một gia tăng và những phát sinh tiêu cựcthứ phát khác lại tác động lên nền kinh tế làm cản trở các điều kiện sản xuất – kinh doanhcủa doanh nghiệp Tóm lại nếu áp dụng quá mức có thể phát sinh các vấn đề sau:
Để kích cầu thì phải giảm thuế, nhưng giảm thuế lại làm thâm hụt ngân sách,giảm chi tiêu của chính phủ
Nếu tăng chi tiêu chính phủ thì rất có thể hiệu quả biên của vốn bị giảm sút,đồng thời gây ra lạm phát và tăng gánh nặng nợ nần cho ngân sách
II THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2013
1 Thực trạng suy thoái kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013
1.1 Nguyên nhân
Nguyên nhân ngoại sinh
Do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các nền kinh tế lớn nhất thế giớinhư: Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu bị khủng hoảng nặng nề chưa từng có sau Thế chiến thứ 2, sảnxuất đình đốn, hàng loạt doanh nghiệp phá sản, thất nghiệp tăng, thu nhập giảm, sức muatrên thị trường thế giới bị thu hẹp nghiêm trọng trong đó có các thị trường xuất khẩu chủ yếu
và truyền thống của Việt Nam Các nước phải điều chỉnh lại chính sách xuất nhập khẩu,chính sách tỷ giá để bảo hộ hàng trong nước nên gặp nhiều rào cản cho hàng xuất khẩu củaViệt Nam
Các dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam, đặc biệt là dòng vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài FDI bị giảm mạnh Nhiều dự án đầu tư FDI đã đăng ký và được Chính phủ nước taduyệt xong, nhưng bắt buộc phải đình hoặc hoãn lại hoặc chậm trễ khi thực hiện
Trang 9Hình 1 Thu hút và giải ngân vốn FDI giai đoạn 2008 - 2012
Đơn vị: tỷ USD
0 10 20 30 40 50 60 70
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nguyên nhân nội sinh
Khủng hoảng kinh tế thế giới tác động đến nước ta vào đúng thời điểm mà tình trạnglạm phát trong nước thuộc dạng cao nhất trong khu vực, do đó Chính phủ phải ưu tiên kiềmchế lạm phát trước bằng các chính sách tài khóa thắt chặt, giảm chi tiêu và đầu tư công.Những chính sách này đã làm cho tình trạng nền kinh tế càng nghiêm trọng trong tình thếđang chịu ảnh hưởng khủng hoảng dẫn đến nền kinh tế đình trệ, sản xuất không phát triển.Với mức suy giảm kinh tế và mức lạm phát như hiện nay, có thể nói nước ta đang ở tìnhtrạng vừa đình trệ (suy giảm nhịp tăng, chưa chính thức rơi vào suy thoái), vừa lạm phát Saunày, khi lạm phát đã được khống chế, nhưng vì các doanh nghiệp đã nằm trong tình trạngkhó khăn quá lâu, dẫn đến nhiều doanh nghiệp phá sản, những doanh nghiệp còn lại thìkhông đủ sức đẩy mạnh sản xuất vì thiếu vốn Trong khi đó vốn được cấp chủ yếu từ NHTM
mà bản thân ngân hàng cũng gặp rất nhiều khó khăn trong giai đoạn này vì vấn đề nợ xấu vàđang trong giai đoạn tái cấu trúc cả hệ thống Do đó, các doanh nghiệp rất khó tiếp cận
Trang 10nguồn vốn từ hệ thống ngân hàng Ngay cả khi đã được hạ lãi suất, các doanh nghiệp cũngkhông mạnh dạn vay để mở rộng sản xuất, vì các thị trường truyền thống nói riêng hay cuộckhủng hoảng kinh tế thế giới nói chung vẫn để lại hậu quả lớn, thế giới phục hồi chậm.
Mức thâm hụt thương mại của Việt Nam là khá lớn, năm 2007: 17 tỷ USD, chiếm20% GDP (so với Trung Quốc thặng dư thương mại là 11% GDP) Tỷ giá VND/USD chưalinh hoạt NHNN công bố tỷ giá và dùng các biện pháp để duy trì tỷ giá đó Hiện tại, VNDđuợc định giá quá cao so với USD và các đồng tiền của nhiều nước đối tác thương mại kháclàm giảm khả năng xuất khẩu, tăng nhu cầu nhập khẩu Việt Nam chỉ có một lượng dự trữngoại hối nhỏ (mức dự trữ ngoại hối bình quân đầu người của Trung Quốc là 1,500 USD,của Việt Nam là 250 USD)
Thâm hụt ngân sách: quy mô chi ngân sách của Việt nam đã lên tới 30%, gấp đôi sovới Thái Lan, Singapore, và Philippines, cao hơn mức tối ưu cho tăng trưởng kinh tế 15 –25% GDP Do chi ngân sách quá cao dẫn đến thâm hụt ngân sách liên tục trong nhiều năm.Thâm hụt ngân sách (kể cả chi trả nợ gốc) khoảng 5% GDP hàng năm, được tài trợ thôngqua vay nợ trong nước và vay nợ nước ngoài Đến cuối năm 2007, tổng nợ của Việt Nam là30% GDP, trong đó 60% là nợ nước ngoài
1.2 Thực trạng
Tốc độ tăng trưởng GDP
Hình 2 Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2007 – 2013
Trang 112007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 0
1 2 3 4 5 6 7 8
9 8.48
Năm 2007 là năm Việt Nam có tốc độc tăng trưởng kinh tế cao nhất Từ năm 2008 –
2013 tốc độ tăng trưởng có chiều hướng giảm xuống Điều này chính là tác động của cuộcSuy thoái kinh tế toàn cầu ảnh hưởng đến nền kinh ta nước ta:
Giai đoạn từ năm 2008 – 2009 mà đặc biệt là 2009, tốc độ tăng trưởng nước ta thấp,chỉ đạt 5.32%, điều này được lí giải đó là do 2 năm này là giai đoạn đầu của cuộc Suy thoáikinh tế thế giới và lúc đó nước ta đang lạm phát cao, chính phủ ra chính sách thắt lưng buộcbụng nền sản xuất không phát triển, nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng đình trệ
Năm 2010 lại là năm tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng từ 5.32% lên 6.78% đây là kếtquả nhờ vào hai gói kích cầu 9 tỷ USD của Chính phủ vào cuối năm 2009
Năm 2011 sức ảnh hưởng của gói kích cầu không còn, hệ thống ngân hàng khó khăn(tái cấu trúc), khủng hoảng thế giới cũng chưa qua, nên các doanh nghiệp vừa thiếu vốn vừakhông giải quyết được đầu ra, dẫn đến phá sản hoặc tiếp tục cầm chừng không đẩy mạnh sảnxuất Ảnh hưởng cuộc suy thoái được thể hiện rất rõ trên tốc độ tăng trưởng GDP của nước
ta chỉ còn 5.89%
Trang 12Năm 2012 tổng sản phẩm trong nước tăng 5,03% so với năm 2011 Theo đánh giá củaTổng cục thống kê, mức tăng trưởng năm 2012 thấp hơn mức tăng 5,89% của 2011 nhưnghợp lý Trong bối cảnh kinh tế gặp khó khăn, cả nước thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chếlạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì mức tăng này là hợp lý.
Lạm phát
Hình 3 Tốc độ tăng giá tiêu dùng giai đoạn 2007 – 2013
0 5 10 15 20 25
Năm 2007, nguồn vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam rất cao, tuy nhiên nền kinh
tế của nước ta không hấp thu hết, dẫn đến lạm phát cao kỉ lục vào năm 2008 (19.89%).Chính phủ đã áp dụng chính sách tài khóa thắt chặt kết hợp với chính sách tiền tệ thắt chặt:nâng lãi suất, nâng tỉ lệ dữ trữ bắt buộc và bán trái phiếu Chính phủ để kềm chế lạm phát,nhờ vậy tỉ lệ lạm phát giảm mạnh năm 2009 chỉ còn 6.52%
Năm 2011, tỷ lệ lạm phát là 18,13% Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế học thếgiới, năm 2011 Việt Nam đã vượt ngưỡng lạm phát và sẽ có tác động tiêu cực đến tăngtrưởng Trong báo cáo Quốc hội khóa XIII (kỳ họp thứ 2), Chính phủ đã khẳngđịnh: “Nguyên nhân chủ yếu gây lạm phát cao ở nước ta là do hệ quả của việc nới lỏng
Trang 13chính sách tiền tệ, tài khóa kéo dài trong nhiều năm để đáp ứng yêu cầu đầu tư phát triển,bảo đảm an sinh xã hội, và phúc lợi xã hội trong khi cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư còn kémhiệu quả, cùng những hạn chế trong quản lý điều hành và tác động cộng hưởng của các yếu
tố tâm lý” Và đã đưa ra mục tiêu: “Kiềm chế lạm phát là ưu tiên số một, khi có điều kiệnthuận lợi sẽ phấn đấu để đạt mức tăng trưởng cao hơn” trong mục tiêu của năm 2012 và kếhoạch 5 năm 2011 – 2015
Lạm phát năm 2012 đã được kiềm chế dưới một con số, chỉ còn 6.81% thấp hơnnhiều so với mức tăng 11.75% của năm 2010 và 18.13% của năm 2011 Như vậy, từ năm
2008 đến nay, lạm phát có chiều hướng mất ổn định hơn và biểu hiện tính chu kì Chu kì nàyvào khoảng 3 năm khi tỷ lệ lạm phát đã lên đến đỉnh điểm vào tháng 8/2008 (28.23%) vàtháng 8/2011 (23.02%)
Đến năm 2012, theo báo cáo Tổng cục Thống kê công bố tại Hà Nội ngày 18/12 với
sự hỗ trợ của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), số người có việc làm tăng thêm 1.1 triệutrong vòng 3 quý nhưng đồng thời, lực lượng lao động Việt Nam cũng tăng với con số tương
tự Như vậy, có gần 1 triệu người thất nghiệp bởi nền kinh tế không tạo đủ việc làm cho cả