1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình

92 299 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 716,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ trương của Đảng và nhà nước ta là tạo điều kiện thuận lợi để nông dân thực hiện đầy đủ đúng pháp luật các quyền về sử dụng đất đai, khuyến khích nông dân thực hiện “dồn điền, đổi thử

Trang 1

TỐNG THỊ HỒNG

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Hà Nội, 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã Số: 60.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LÊ MINH CHÍNH

Hà Nội, 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2012

Tác giả luận văn

Tống Thị Hồng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu

lý luận và tích lũy kinh nghiệm từ thực tế của bản thân Những kiến thức mà các thầy cô giáo truyền đạt đã làm sáng tỏ những ý tưởng, tư duy của tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều

cá nhân cũng như các tổ chức, cơ quan Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban chủ nhiệm khoa sau đại học, toàn thể các thầy cô giáo trong khoa kinh tế, phòng thống kê nông nghiệp huyện Kim Sơn, cùng toàn thể các cá nhân, tổ chức khác và đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn nhất tới thầy giáo TS Lê Minh Chính, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Tác giả luận văn

Tống Thị Hồng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

1.1 Cơ sở lý luận về tích tụ tập trung đất đai trong nông nghiệp 4

1.1.1 Khái niệm về tích tụ và tập trung ruộng đất, tác động 4

1.1.2 Thị trường đất đai trong nông nghiệp 6

1.1.3 Tác động của dồn điền, đổi thửa đến quyết định sản xuất và sản xuất nông nghiệp của nông hộ 6

1.2 Những ảnh hưởng do tình trạng manh mún ruộng đất gây ra đối với nông nghiệp 7

1.3 Quá trình tích tụ và tập trung đất đai trong nông nghiệp của một số nước trên thế giới và Việt Nam 9

1.4 Các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến tập trung ruộng đất 14

1.5 Dồn điền đổi thửa hướng đi tất yếu 16

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Kim Sơn 20

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 20

2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 21

2.2- Phương pháp nghiên cứu 25

Trang 6

2.2.1- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 25

2.2.2- Phương pháp thu thập số liệu 26

2.2.3- Phương pháp xử lý số liệu 26

2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu sử dụng trong đề tài 26

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28

3.1- Tình hình thực hiện dồn điền đổi thửa tại huyện Kim sơn 28

3.1.1- Các thông tin chung về chính sách dồn điền đổi thửa ở huyện 28

3.1.2 Kết quả của dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Sơn 33

3.1.3 Sự thay đổi diện tích đất canh tác của huyện sau dồn điền đổi thửa 36 3.1.4- Tình hình dồn điền đổi thửa ở các xã điều tra 37

3.2 Thực trạng dồn điền đổi thửa ở các hộ điều tra 42

3.2.1 Những thông tin chung về nhóm hộ điều tra 42

3.2.2 Quỹ đất nông nghiệp của nhóm hộ điều tra 45

3.2.3 Quá trình dồn điền đổi thửa của nhóm hộ điều tra 49

3.2.4 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của các hộ điều tra trước và sau dồn điền đổi thửa 51

3.2.5- Tác động của dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông hộ 57

3.2.6- Một số vấn đề khó khăn và nảy sinh trong dồn điền đổi thửa 68

3.3 Đánh giá chung về quá trình dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Sơn 70

3.4- Định hướng và giải pháp 72

3.4.1 Định hướng 72

3.4.2 Giải pháp 73

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Diện tích và số thửa ruộng của mỗi hộ nông dân Trung Quốc 10 1.2 Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước 12 1.3 Mức độ manh mún ruộng đất ở một số tỉnh vùng ĐBSH 13 2.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu của huyện Kim Sơn 23 2.2 Tình hình biến động đất đai, dân số và kết quả sản xuất kinh

doanh của huyện Kim Sơn (2005 – 2007)

25

3.1 Thực trạng ruộng đất của huyện sau khi giao đất năm 1993 29 3.2 Tổng hợp kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Sơn 35 3.3 Sự thay đổi đất canh tác của huyện sau khi dồn điền đổi thửa 37 3.4 Tình hình dồn điền đổi thửa ở các xã điều tra 38 3.5 Một số kết quả của dồn điển đổi thửa ở các xã điều tra 40 3.6 Những thông tin chung về nhóm hộ điều tra 43 3.7 Diện tích các loại bình quân của nhóm hộ điều tra 46 3.8 Sự tham gia của các hộ điều tra trong quá trình dồn điền đổi thửa 50 3.9 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của nhóm hộ điều tra trước và

điền đổi thửa

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ 1- Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là loại tài nguyên vô cùng quý giá, trong sản xuất nông nghiệp ruộng đất là tư liệu sản xuất rất quan trọng và đặc biệt không gì thay thế được Hiệu quả ruộng đất của hộ sử dụng đất đai đang là vấn đề cấp bách và lâu dài của nước ta, đặc biệt là trong tình trạng hiện nay khi mà dân số ngày càng tăng còn diện tích đất thì đang bị thu hẹp Đất đai không chỉ là một mảng riêng biệt mà nó còn ảnh hưởng đến kinh tế và xã hội Do đó việc quản lý sử dụng đất đai hết sức nhạy cảm và luôn phát sinh những vấn đề phức tạp Trong quá trình đổi mới hội nhập kinh tế Đảng ta xác định công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một trong những nội dung cơ bản của công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Chủ trương của Đảng và nhà nước ta là tạo điều kiện thuận lợi để nông dân thực hiện đầy đủ đúng pháp luật các quyền về sử dụng đất đai, khuyến khích nông dân thực hiện “dồn điền, đổi thửa” trên cơ sở tự nguyện, nông dân được sử dụng giá trị quyền sử dụng đất để góp cổ phần tham gia phát triển sản xuất, phục vụ tốt cho công cuộc cơ khí hoá nông nghiệp cho mỗi địa phương Dồn điền đổi thửa đã tạo ra bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi Nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới với 7,5 triệu tấn năm 2011

Tuy nhiên vấn đề ruộng đất đang bộc lộ những tồn tại những nảy sinh mới cản trở sự phát triển Đó là tình trạng đất đai manh mún, phân tán đã hạn chế việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hoá, thuỷ lợi, đầu tư dẫn đến năng suất lao động và năng suất đất đai thấp Thấy được những hạn chế đó nhiều hộ đã tự đổi ruộng cho nhau, có hộ đã đi mua, đi thuê và đấu thầu của hộ khác để ruộng của hộ mình rộng hơn Việc tập trung ruộng đất giúp người sản xuất thuận tiện hơn trong đầu tư cho sản xuất nông nghiệp Vì vậy chuyển đổi

Trang 9

ruộng đất, chống manh mún phân tán, tạo ra ô thửa lớn là việc làm cần thiết, tạo tiền đề cho thực hiện sự nghiệp CNH- HĐH nông thôn Nhận biết rõ được những hạn chế đó nhiều địa phương đã thực hiện theo nghị quyết của Đảng thực hiện các phong trào khuyến khích các hộ nông dân dồn đổi ruộng ô thửa nhỏ thành ruộng ô thửa lớn dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng uỷ, UBND các cấp Những địa phương đi đầu trong phong trào này có thể kể đến như: Thanh Hoá, Hà Tây, Hà Nam, Bắc Ninh, cho đến nay, phong trào dồn điền đổi thửa

đã và đang diễn ra mạnh mẽ trong cả nước và được ủng hộ đồng tình của đông đảo các hộ dân Tuy chưa có sự chỉ đạo của UBND huyện nhưng nhiều hộ trong huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đã tiến hành đổi dồn điền đổi thửa hưởng ứng phong trào chung của cả nước

Để hiểu rõ hơn về những tác động của việc dồn điền đổi thửa tới việc sản xuất nông nghiệp trong cả nước nói chung và sản xuất nông nghiệp ở huyện Kim Sơn nói riêng Đặc biệt là với mong muốn đưa ra bằng chứng cho thấy việc dồn điền đổi thửa đem lại lợi ích như thế nào để từ đó chính quyền huyện Kim Sơn có thể tiến hành phong trào đồng loạt trên địa bàn huyện tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất Nông nghiệp trên địa bàn huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình”

2- Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát

Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất Nông nghiệp trên địa bàn huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình”

- Mục tiêu cụ thể

+ Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về tích tụ

và tập trung đất đai trong nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất trong nông nghiệp

Trang 10

+ Đánh giá kết quả thực hiện chính sách trên địa bàn huyện Kim Sơn + Đánh giá tác động chính sách đất đai đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện

+ Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách

3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Tính hình thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa và hiệu quả sử dụng đất sau dồn điền đổi thửa

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài :

+Phạm vi về nội dung: Đánh giá tác động của dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân

+ Phạm vi hiệu quả kinh tế của sử dụng đất Nông nghiệp

+Phạm vi về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình và đi sâu cụ thể vào một số xã điển hình

+Phạm vi về thời gian:

Tiến hành nghiên cứu về tình hình dồn điền đổi thửa của huyện Kim Sơn – Ninh Bình từ năm thực hiện chính sách đến 2011, trong đó tình hình đất đai của nhóm hộ trước và sau dồn điền đổi thửa

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận về tích tụ tập trung đất đai trong nông nghiệp

1.1.1 Khái niệm về tích tụ và tập trung ruộng đất, tác động

Khi nghiên cứu về “tích luỹ tư bản”, một khái niệm trong lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng: tích luỹ tư bản là đầu tư tăng thêm vào tư bản

đã có, làm cho tổng số tư bản tăng lên Quá trình làm cho quy mô tư bản tăng lên được thực hiện bằng hai phương thức tích tụ tư bản và tập trung tư bản

“Tích tụ tư bản là làm cho quy mô tư bản xã hội tăng lên nhờ có tích luỹ tư bản cá biệt”

“Tập trung tư bản là hợp nhất một số tư bản cá biệt đã có thành một tư bản lớn hơn, thông qua việc các nhà tư bản thôn tính nhau hay liên doanh, liên kết với nhau”

Hai phương thức này đều làm tăng quy mô tư bản, chúng có liên quan chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện và thúc đẩy nhau

Như vậy, tập trung đất đai trong nông nghiệp là phương thức làm tăng quy mô diện tích của thửa đất và chủ thể sử dụng đất thông qua các hoạt động dẫn tới tập trung ruộng đất như: chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê đất, thuê lại đất, thừa kế, thế chấp

Hay nói cách khác, tập trung ruộng đất là việc sát nhập hoặc hợp nhất ruộng đất của những chủ sở hữu khác nhau vào một chủ sở hữu hoặc hình thành một chủ sở hữu mới có quy mô ruộng đất lớn hơn Tập trung ruộng đất diễn ra theo hai con đường: một là hợp nhất ruộng đất của các chủ sở hữu cá biệt nhỏ hơn thành một chủ sở hữu cá biệt khác lớn hơn Con đường này được thực hiện thông qua việc xây dựng HTX sản xuất nông nghiệp ở nước ta trước đây

Hai là, con đường sát nhập ruộng đất của các chủ sở hữu nhỏ cá biệt để

Trang 12

tạo ra quy mô lớn hơn Con đường này được thực hiện thông qua biện pháp tước đoạt hoặc chuyển nhượng mua bán ruộng đất Con đường này diễn ra mạnh mẽ ở các nước tư bản

Việc tập trung ruộng đất vào tay chủ sở hữu mới tạo ra kết quả hai mặt là: Một mặt làm cho một bộ phận nông dân trở thành không có ruộng đất, buộc họ phải đi làm thuê hoặc rời quê hương tìm kế sinh nhai Mặt khác, tạo cho chủ đất có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đầu tư thâm canh tăng năng suất cây trồng, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các kinh tế ngành khác, mà trước hết là công nghiệp

Ở nước ta, việc tập trung ruộng đất diễn ra do một số nguyên nhân sau:

- Một số hộ làm ăn khá giả, có vốn, có trình độ kỹ thuật và quản lý kinh doanh muốn có thêm đất đai để sản xuất

- Một số hộ do yếu kém trong hoạt động sản xuất kinh doanh, làm ăn không hiệu quả, không đảm bảo được cuộc sống trên ruộng đất được giao nên chuyển nhượng, cho thuê để đáp ứng yêu cầu trước mắt hoặc chuyển sang để làm các ngành nghề khác

Mặt khác, trong luật đất đai hiện hành của nước ta đã và đang tạo ra hành lang pháp lý cho quá trình tập trung đất đai trong sản xuất nông nghiệp

Đó chính là việc xác định chế độ sử dụng đất:

- Chủ thể sử dụng đất: là những tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để sử dụng

- Khách thể của quyền sử dụng đất: là một vùng nhất định mà Nhà nước giao cho các chủ thể sử dụng đất

- Chuyển đổi quyền sử dụng đất: là việc ''đổi đất lấy đất'' giữa các chủ thể sử dụng đất được Nhà nước giao đất để sử dụng nhằm mục đích chủ yếu

là tổ chức lại sản xuất cho phù hợp, khắc phục tình trạng đất đai manh mún, phân tán như hiện nay

Trang 13

- Cho thuê đất: là một dạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thời hạn, bên thuê đất phải trả cho bên cho thuê đất một khoản tiền nhất định để được quyền sử dụng

- Thế chấp quyền sử dụng đất: là hoạt động trong quan hệ tín dụng, từ đó các chủ thể sử dụng đất thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê lại tổ chức tín dụng để vay vốn sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật

- Cho thuê lại đất: là một dạng của chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất khi người đi thuê cho người thuê lại

1.1.2 Thị trường đất đai trong nông nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, các yếu tố của quá trình sản xuất đều trở nên có giá Vì vậy, đất đai với tư cách là một yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất, thì nó có giá là điều hiển nhiên Như vậy, trong điều kiện của kinh tế thị trường, đất đai trở thành đối tượng của sự mua bán, chuyển nhượng, cầm

cố, thuê mướn Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ đã quy định các chủ thể sử dụng đất có thể chuyển đổi, thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất

Trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt, là một trong các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất Trên thị trường, nó là loại hàng hoá đặc biệt ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, vì vậy việc mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất đều được thông qua nhà nước Vì thế đất đai là hàng hoá, do vậy nó cũng phải tuân theo quy luật cung- cầu như những hàng hoá khác

1.1.3 Tác động của dồn điền, đổi thửa đến quyết định sản xuất và sản xuất nông nghiệp của nông hộ

Dồn điền đổi thửa phát huy được tính tự chủ của đơn vị kinh tế hộ nông dân trong việc ra các quyết định sản xuất nông nghiệp Đó chính là sự tăng

Trang 14

quy mô sản xuất, đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật để làm tăng giá trị và hiệu quả sử dụng đất, thâm canh tăng

vụ, tăng năng suất Khi dồn điền đổi thửa tiến hành sẽ có các ô thửa lớn, diện tích được tập trung lại thành vùng, các hộ dân có kế hoạch bố trí cơ cấu sản xuất,

cơ cấu thời vụ, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào đồng ruộng, tăng năng suất và chất lượng, đưa thu nhập ngày công lao động cao, đưa nền nông nghiệp nước ta thành một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá tập trung, quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế Dồn điền, đổi thửa đã làm thay đổi cách nghĩ, cánh làm, tập quán trước đây của người nông dân quen canh tác trên thửa đất nhỏ, chần chừ, do dự, ỷ lại không muốn đầu tư thâm canh Khi có ô thửa ruộng lớn, thì nếp nghĩ của họ thay đổi cho phù hợp với tiến trình của công nghiệp hoá nông nghiệp Hộ nông dân có vốn sẽ đầu tư cơ giới hoá các khâu trong sản xuất, góp phần giải phóng sức lao động

Dồn điền đổi thửa là điều kiện tốt cho việc phân bổ lại lực lượng lao động trong nông nghiệp và nông thôn theo hướng tăng tỷ lệ lao động trong công nghiệp ngành nghề, dịch vụ nông thôn và giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp thuần tuý Đồng thời còn là điều kiện tốt cho việc phát triển và hiện đại hoá ngành nghề; thủ công - mỹ nghệ, công nghiệp trong nông thôn (củng cố, phát huy ngành nghề truyền thống, phát triển ngành nghề mới Dồn điền đổi thửa

là điều kiện tốt cho các loại hình HTX kinh tế, dịch vụ phát triển

1.2 Những ảnh hưởng do tình trạng manh mún ruộng đất gây ra đối với nông nghiệp

Quy mô ruộng đất manh mún gây khó khăn cho quá trình sản xuất Hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp, áp dụng các tiến bộ khoa học

kỹ thuật, thực hiện thâm canh tăng vụ và chuyển dịch cơ cấu cây trồng Từ đó dẫn đến không giảm được chi phí lao động đầu vào

Trang 15

Mảnh ruộng quá nhỏ khiến nông dân ít nghĩ đến việc đầu tư các tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng năng suất Theo họ, có đầu tư tiến bộ khoa học kỹ thuật năng suất có thể tăng nhưng trên diện tích quá nhỏ thì sản lượng tăng không đáng kể Mảnh ruộng nhỏ, nhiều mảnh lại phân tán điều này làm tăng rất nhiều công thăm đồng, vận chuyển phân bón và thu hoạch, mặt khác nông dân không muốn trồng cây hàng hoá do phải tăng công bảo vệ

Nhiều mảnh ruộng dẫn tới lãng phí đất canh tác do phải làm nhiều bờ ngăn Tính trung bình vùng ĐBSH mất khoảng 2,4 - 4% đất canh tác dùng để đắp bờ vùng, bờ thửa Ô thửa của các hộ năm phân tán, xen kẽ giữa các ô thửa của hộ khác, gây khó khăn lớn cho việc tưới tiêu, do ở thời điểm này hộ cần tưới nhiều, trong khi hộ khác lại cần tiêu nước Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính hạn chế khả năng tự chủ của các hộ trong việc chuyển đổi

cơ cấu cây trồng sang những loại hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao hơn, hoặc phù hợp với điều kiện canh tác của mình hơn Gây sự phức tạp tốn kém trong công tác quản lý ruộng đất, xây dựng hồ sơ địa chính (chi tăng từ 35%-50% nếu như ruộng đất vẫn còn manh mún), dễ phát sinh tiêu cực trong quản lý đất đai Hạn chế các quyền sử dụng đất của hộ nông dân và không phù hợp với sản xuất hàng hoá Công tác quy hoạch lại đồng ruộng (giao thông, thuỷ lợi, cải tạo đất, ) bị hạn chế, không thực hiện được toàn diện triệt để

Sau hội nghị chuyên đề về chuyển đổi ruộng đất do Tổng cục Địa chính

tổ chức lần 1 vào tháng 7/1997 tại Hà Nội, tổ chức lần 2 tại Hà Tây vào tháng 8/1998 cho đến nay các các tỉnh đã có phong trào chuyển đổi ruộng đất, dồn điền đổi thửa ngày càng phát triển sâu rộng hơn Có thể thấy được những ảnh hưởng của việc dồn điền đổi thửa như ở Hải Dương, đã tác động tích cực đối với nhiều mặt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội địa phương Đây là điều kiện để hợp tác kinh tế nảy nở: từ mô hình tổ hợp tác, mô hình doanh nghiệp nông nghiệp đến hợp tác kinh tế vùng, tiểu vùng Từ đó đẩy hoạt động

Trang 16

chuyển giao công nghệ, hỗ trợ đầu tư và xúc tiến thị trường tiêu thụ cho sản xuất nông sản hàng hoá Sau dồn điền, đổi thửa các vùng chuyên canh lớn hình thành đồng thời với tăng cường hợp tác vùng sẽ hạn chế được nhiều cơ

sở chế biến ra đời không gắn với vùng nguyên liệu và ngược lại

1.3 Quá trình tích tụ và tập trung đất đai trong nông nghiệp của một số nước trên thế giới và Việt Nam

* ở Trung Quốc: Vào những năm cuối của thập kỷ 70, Trung Quốc đã

tiến hành công cuộc cải cách kinh tế mà trước tiên là cuộc cải cách nông thôn, xoá bỏ chế độ sở hữu tập thể, vì vậy mà loại hình kinh tế HTX không còn mà thay vào đó là hình thức khoán đến hộ, theo đó đất đai từ sở hữu HTX chuyển thành sở hữu của thôn còn quyền sử dụng đất được giao cho hộ Cuộc cải cách này đã tạo ra động lực mới cho sự phát triển nông nghiệp Người nông dân được quyền tự chủ trong quản lý, sử dụng và lựa chọn phương án sử dụng đất, Vì vậy nông nghiệp Trung Quốc đã có bước phát triển kỳ diệu Tuy nhiên đến năm

1990 thì tốc độ phát triển của nông nghiệp Trung Quốc lại giảm, điều này do hình thức khoán đến hộ không còn phát huy tác dụng và bắt đầu bộc lộ những hạn chế Điều này do có sự xuất hiện của thửa ruộng nhỏ và manh mún khi giao chia cho từng hộ gia đình Quá trình giao chia coi “chủ nghĩa bình quân và công bằng” như là nguyên tắc bất di bất dịch Tuy nhiên do dân số đông và diện tích hạn chế nên diện tích đất cấp cho mỗi hộ gia đình là rất nhỏ, manh mún và rải rác ở khắp nơi trong làng, điều này được minh chứng qua bảng 1.1

Như vậy, vào giữa những năm 80 thì phương thức khoán đến hộ đã bộc

lộ những hạn chế và cản trở đối với phát triển sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy Chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện công cuộc cải cách nông thôn bằng việc xây dựng các mô hình thử nghiệm theo quy mô huyện, từ đó

sẽ tổng kết, đúc rút vào lựa chọn mô hình thành công nhất để nhân rộng

Trang 17

Bảng 1.1 Diện tích và số thửa ruộng của mỗi hộ nông dân Trung Quốc

canh tác/ hộ (ha) Số thửa ruộng/hộ

Diện tích trung bình/thửa(ha)

(Nguồn: Bộ nông nghiệp Trung Quốc, 2000)

Trong các mô hình thử nghiệm, thì mô hình được coi là thành công nhất là ở huyện Pindu và đã được nhân rộng trên quy mô toàn quốc Theo mô hình này, hay mô hình ''hệ thống hai loại đất'' chia diện tích đất canh tác của thôn thành hai phần: một phần đất sản xuất lương thực, phần còn lại được sử dụng cho ký hợp đồng Sản xuất lương thực để đảm bảo nhu cầu lương thực của hộ gia đình còn đất hợp đồng để làm kinh tế

Như vậy, từ những năm 1978 Trung Quốc đã tiến hành cải cách theo thể chế kinh tế nông thôn, thực hiện hình thức kinh doanh khoán sản lượng đến từng hộ nông dân thực chất là khoán ruộng đất, thực hiện công việc thiết

kế lại đồng ruộng thông qua dồn đổi ruộng giữa các hộ, bước đầu “mềm hoá” hình thức chuyển đổi nông nghiệp trong nông thôn, đồng thời cho phép hộ nông dân được quyền góp cổ phần bằng ruông đất vào các tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp trên cơ sở chế độ cổ phần Hiện nay Trung Quốc mỗi

hộ có khoảng 0,5 ha chia làm 3-4 mảnh, các hộ đang tiến hành đổi ruộng cho nhau để có ruộng liền khoảnh

* ở Nhật Bản: Trước năm 1960, mỗi hộ nông dân Nhật Bản có nhiều

thửa ruộng với diện tích bình quân từ 500m2 - 1000 m2 Nhật Bản đã nhận thấy được những hạn chế do tình trạng manh mún, phân tán đất đai trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp chủ yếu sử dụng lao động thủ công

Trang 18

và sức kéo gia súc Thu nhập giữa lao động nông nghiệp và lao động của các ngành khác có sự chênh lệnh đáng kể Để chấn hưng nông nghiệp, năm 1961 Chính phủ Nhật Bản đã ban hành luật cơ bản về nông nghiệp với ba mục tiêu là: rộng, chắc chắn và sâu Để đạt được mục tiêu đặt ra, Nhật Bản đã tiến hành chuyển đổi ruộng đất từ các thửa nhỏ ở xa nhau thành những ô thửa ruộng có quy mô lớn, trong việc chuyển đổi thì đứng trên ba giác độ: cùng giá trị, cùng vị trí và cùng diện tích, trong đó giá trị là yếu tố chính Yêu cầu một thửa ruộng sau khi chuyển đổi phải đạt diện tích tối thiểu 3000 m2 nhưng phải tiếp giáp với mương, máng, đường giao thông Quá trình chuyển đổi này kéo dài từ 5- 6 năm, hình thức thực hiện chuyển đổi là do tổ hợp cộng đồng nông nghiệp từ 15 hộ trở lên đứng ra xin phép và Uỷ ban nông nghiệp cấp tỉnh có quyền cho phép Kết quả của quá trình chuyển đổi này là mỗi hộ bình quân có 1,8 thửa trên hộ Việc chuyển đổi xử lý đất nông nghiệp đã làm tăng năng suất của máy móc nông nghiệp, tăng sức sản xuất của đất đai, làm tăng năng suất lao động của nông dân, tạo điều kiện phát triển hàng hoá để nâng cao sức cạnh tranh của nông nghiệp Hiện nay việc chuyển đổi xử lý ruộng đất được tiếp tục khuyếch trương lên, diện tích mỗi thửa là 10.000 m2 - 20.000m2

* ở Mỹ: Tuy tỷ trọng giá trị sản lượng các sản phẩm nông nghiệp trong

tổng sản phẩm quốc dân không đáng kể (khoảng 2%) nhưng Chính phủ Mỹ vẫn rất quan tâm đến sản xuất nông nghiệp Chính phủ cấp đất cho hộ và đồng thời cho phép mua bán hoặc thuê đất để hình thành trang trại Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu do 2,2 triệu trang trại sản xuất ra, trong đó có trang trại gia đình (có quy mô 180-200 ha) chiếm gần 90% Do quy mô các trang trại loại này nhỏ nên chỉ chiếm khoảng 65% diện tích canh tác, các trang trại liên doanh và hợp doanh chiếm hơn 10%, có quy mô bình quân khoảng 800-900ha Có khoảng 20% nông trại đã sử dụng máy tính hiện đại để lập chương trình phát triển sản xuất cho ngành trồng trọt và chăn nuôi Việc tích tụ và tập trung ruộng đất để đi

Trang 19

vào công nghiệp hoá và tạo ra ưu thế cạnh tranh về chất lượng nông sản và giá thành ở nước Mỹ

*Tình hình manh mún ruộng đất ở Việt Nam

Luật Đất đai năm 1999 và được sửa đổi bổ sung năm 2003 đã thực hiện công bằng xã hội, sau đó là Nghị Định 64/CP của Chính phủ ngày 27/09/1993

và gần đây là về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng

ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp; theo phương châm có tốt,

có xấu, có xa, có gần, Điều này đã làm cho số thửa ruộng tăng lên đáng kể

Số thửa sau khi giao đất theo Nghị Định 64/CP ở một số địa phương đã tăng lên gấp 2 lần so với khi thực hiện khoán theo Chỉ thị 100/CT-TW

Bảng 1.2 Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước

Tổng số thửa/hộ Diện tích bình quân (m

2

)/ thửa

Trung bình Cá biệt Đất lúa Đất rau

1 Trung du miền núi Bắc bộ 10-20 25 150-300 100-150

2 Đồng bằng sông Hồng 7 25 300-400 100-150

3 Duyên hải bắc trung bộ 7-10 30 300-500 200-300

4 Duyên hải Nam trung bộ 5-10 30 300-1000 200-1000

5 Tây nguyên 5 25 200-500 1000-5000

6 Đồng Nam bộ 4 15 1000-3000 1000-5000

7 Đồng bằng sông cửu long 3 10 3000-5000 500-1000

(Nguồn Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2003)

Theo số liệu Bộ Tài nguyên và Môi trường thì cả nước hiện có khoảng 7.843 ha đất nông nghiệp chia thành 75 triệu mảnh cho 10.824 nghìn hộ Tính trung bình cả nước, một hộ sử dụng 0,72ha đất nông nghiệp và diện tích mỗi mảnh là một 1.045m2 Nhưng nếu chỉ xét riêng khu vực miền Bắc thường từ 13-25 thửa, ngay trên một số đồng một hộ cũng có nhiều thửa Có thể nói đó

Trang 20

là một thách thức lớn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là theo hướng sản xuất hàng hoá

Kết quả điều tra của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp cũng đã phản ánh rõ mức độ manh mún đất nông nghiệp ở 7 tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng Qua bảng ta thấy tỉnh Nam Định có tổng số thửa trung bình nhỏ nhất là 5,7 thửa/hộ có thể thấy tỉnh Nam Định diện tích đất nông nghiệp khác đồng đều về chất đất, diện tích các thửa tương đối cao 288 m2/thửa Trong khi ở tỉnh Hải Dương trung bình là 11 thửa/hộ và diện tích trung bình

Nhỏ nhất

Lớn nhất

Trung bình

*Nguyên nhân của tình trạng manh mún ruộng đất ở Việt Nam

Nguyên nhân đầu tiên, quan trọng nhất dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất ở Việt Nam phải kể đến là sự phức tạp trong địa hình, địa mạo đất đai ở mỗi địa phương và một độ dân số Do được khai phá từ rất sớm, ruộng

Trang 21

đất của các làng, xã đã bị các đê phân cắt thành ô thửa có địa hình cao thấp khác nhau Mỗi làng, mỗi xã đều có ruộng cao, ruộng thấp khác nhau và ruộng vàn khá phức tạp Nguyên nhân thứ 2 là chế độ thừa kế bằng cách chia đều ruộng đất cho tất cả con cái, ở Việt Nam ruộng đất của bố mẹ thường chia đều cho tất cả các con cái sau khi tách từ ở chung ra ở riêng Nguyên nhân thứ

3 phải kể đến tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ Nhìn chung do quy

mô sản xuất nhỏ lẻ, các hộ nông dân ngại đứng trước mỗi thay đổi, nhất là những thay đổi liên quan đến ruộng đất Kết quả điều tra của trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia năm 2001 cho thấy ở đồng bằng có đến 86,5% số hộ được hỏi không muốn điều chỉnh lại ruộng đất cho phù hợp với sản xuất Và nguyên nhân cuối cùng mà hầu như tất cả những ai quan tâm đến

sự manh mún ruộng đất đều nhất trí, đó là nguyên nhân liên quan đến phương pháp chia ruộng bình quân theo nguyên tắc có tốt, có xấu, có xa, có gần, có thấp, có cao khi thực hiện Nghị định 64/CP của Chính phủ về giao quyền sử dụng đất nông nghiệp ổn định lâu dài cho hộ nông dân Việc chia nhỏ các ruộng để có sự công bằng giữa các hộ đã góp phần không nhỏ làm tăng tình trạng manh mún ruộng đất ở Việt Nam

1.4 Các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến tập trung ruộng đất

- Nghị quyết 06 của Bộ chính trị, tháng 11/1999 đã xác định “về tích tụ ruộng đất, việc chuyển nhượng quyền sử dụng, tích tụ và tập trung ruộng đất

là hiện tượng sẽ diễn ra trong trong quá trình phát triển nông nghiệp lên sản xuất hàng hoá lớn Việc tích tụ và tập trung ruộng đất phải được kiểm soát, quản lý chặt chẽ của Nhà nước”

- Đai hội lần thứ VII- 6/1991 đã xác định: đất đai thuộc sở hữu toàn dân

do Nhà nước thống nhất quản lý và giao cho nông dân quyền sử dụng lâu dài''

- Hội nghị trung ương 2 khoá VII tháng 3/1992: “Quyết định việc chuyển

Trang 22

đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất phải được pháp luật quy định cụ thể theo hướng khuyến khích nông dân an tâm đấu tư kinh doanh nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo điều kiện từng bước tích tụ ruộng đất trong giới hạn hợp lý để phát triển sản xuất hàng hoá, đi đôi với mở rộng phân công lao động và phân bố lao động gắn với quá trình Quy định rõ các điều kiện cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ngăn chặn tình trạng người sống bằng nghề nông không còn ruộng đất, người mua quyền sử dụng ruộng đất không phải để sản xuất mà là để buôn bán ruộng đất, phát canh thu tô Mức tập trung đất

và một số hộ cũng phải qui định giới hạn tối đa tuỳ theo vùng và loại đất”

Từ những chủ trương và chính sách của Đảng, Nhà nước đã thể chế hoá bằng những văn bản pháp luật cụ thể:

- Hiến pháp năm 1992 đã công bố “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo qui hoạch và pháp luật”

- Tại điều I của luật đất đai 2003, đã qui định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”

Nhà nước giao đất cho (các tổ chức kinh tế, cơ quan Nhà nước, chính trị,xã hội,đơn vị lực lượng vũ trang), hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất lâu dài Ngoài ra, Nhà nước còn cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân thuê đất

Nghi định 64/CP của Chính phủ ban hành ngày 27/9/1993 “về việc giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp trong đó đã qui định rõ các nguyên tắc giao đất, đối tượng được giao đất, thời hạn giao đất và hạn mức đất dược giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân”

Trong chương II của bộ luật dân sự về “Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng” từ điều 699 đến điều 704 đã qui định rõ về việc thực hiện chuyển đổi quyền sử dụng đất như:

- Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất; điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đất; hình thức chuyển đổi quyền sử dụng đất; quyền và nghĩa vụ của các

Trang 23

bên chuyển đổi quyền sử dụng đất

- Điều 102, Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 29/10/2004

về việc hướng dẫn thi hành luật đất đai năm 2003 “ Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do Nhà nước giao đất hoặc chuyển đổi, nhận chuển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp đó cho hộ gia đình, cá nhân khác trong cùng xã, phường, thị trấn để thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

Hộ gia đình, cá nhân chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp theo chủ trương chung về “dồn điền đổi thửa” thì không phải nộp thuế thu nhập từ việc chuyền quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính

Như vậy có thể nói, chủ trương, chính sách của Đảng và Pháp luật của

Nhà nước về việc chuyển đổi ruộng đất thực hiện “dồn điền đổi thửa” trong

nông nghiệp đã tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho việc tích tụ và tập trung đất đai Tuy nhiên, văn bản pháp luật ban hành chậm Bên cạnh đó Chính phủ chưa có văn bản hướng dẫn, chỉ đạo cụ thể đối với các tỉnh, thành phố để hướng dẫn nông dân thực hiện chuyển đổi ruộng đất, thực hiện dồn điền đổi thửa mà để các tỉnh thành phố thấy cần thiết thì triển khai

1.5 Dồn điền đổi thửa hướng đi tất yếu

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đang là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm hình thành nên nông nghiệp hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái từng vùng, góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trong thời toàn cầu hóa thị trường Trong bối cảnh hiện nay, không còn sự lựa chọn nào khác, dồn điền đổi thửa là hướng đi tất yếu để đưa nền nông nghiệp vốn manh mún, nhỏ lẻ thực sự trở thành một ngành sản xuất hàng hoá, quy mô lớn Hơn 10 năm dồn điền đổi thửa, từ ý tưởng manh nha ban đầu rồi trở thành chủ trương lớn, từ

Trang 24

nỗ lực vượt qua nhiều quan ngại, đến lúc đạt được những thành quả bước đầu, tạo tiền đề cho sự xuất hiện của những vùng chuyên canh lớn Tuy vậy, xung quanh nó vẫn còn không ít vấn đề

Thời hội nhập, nông dân có 3 cái được Thứ nhất, thị trường nông sản rộng mở, hàng hóa có thể bán trong nước và 149 thành viên khác trong WTO Thứ hai, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ tăng mạnh, đặc biệt là vào lĩnh vực nông nghiệp, nhờ vậy sẽ thúc đẩy nhanh nền nông nghiệp nước nhà Thứ

ba, bà con nông dân sẽ có dịp tiếp cận những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới ngày càng nhiều hơn, nhanh hơn và sâu rộng hơn

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, dù khoa học kỹ thuật hiện đại có cung cấp những giống cây – con mới, thì cũng khó có thể làm thay đổi cục diện nền nông nghiệp lạc hậu và bộ mặt chậm phát triển của nông thôn Việt Nam Một nền sản xuất nông nghiệp đang ở trình độ thấp, cách làm manh mún, tư tưởng tiểu nông , nguy cơ trên sẽ đẩy nền nông nghiệp đi xuống, đến mức không đủ sức cạnh tranh Vì vậy, phải có những “luồng sinh khí mới” mới có thể làm “thay da đổi thịt” cho khu vực có tới 2/3 dân số đang sinh sống này Chính vì thế, việc tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô sản xuất

để “làm ăn lớn” là xu hướng tất yếu và là sự vận động đúng quy luật, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển

Thực hiện Nghị định 64 của Chính phủ, Khoán 10 với cách làm cơ bản

là “có ruộng tốt, ruộng xấu, có gần, có xa, có cao, có thấp” phần nào đã tạo sự công bằng trong việc giao đất cho nhân dân sản xuất ổn định lâu dài Nhưng chính tư tưởng “hoa thơm mỗi người hưởng một tí” là thủ phạm khiến ruộng đất Việt Nam bị chia ra khoảng 75 triệu thửa, tức là bình quân mỗi hộ gia đình sẽ có khoảng 6,8 thửa đất Thời mới, chúng ta hô hào quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung, lập các trang trại và vận động nông dân sản xuất theo hướng hàng hóa Song thực tế ruộng đất ở nông thôn, miền núi mỗi hộ

Trang 25

đều có năm, bảy mảnh đầu làng cuối xã, thổ nhưỡng khác nhau, rất manh mún, làm sao có thể sản xuất được chuyên canh cây trồng với số lượng lớn, cây có giá trị kinh tế đủ tiêu chuẩn về chất lượng, giá thành hạ… đáp ứng yêu cầu thị trường và tham gia xuất khẩu?

Để vươn tới nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, đủ sức cạnh tranh trong tương lai thì lại cần phải phấn đấu loại bỏ dần tư tưởng sản xuất tiểu nông, nhỏ lẻ Công tác DĐĐT rất quan trọng, tạo “bước đệm” để sản xuất nông nghiệp nâng cao giá trị, tạo ra những sản phẩm hàng hóa chất lượng, khai thác hết tiềm năng của mỗi địa phương Nhưng nếu chỉ làm bằng khẩu hiệu mà không có những giải pháp cụ thể, kịp thời thì mục tiêu sẽ khó thành hiện thực Và nếu không đẩy mạnh việc quy hoạch, DĐĐT, thay đổi cơ cấu cây trồng để sản xuất hàng hóa quy mô lớn thì công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp vẫn chỉ nằm trên “bàn giấy” Việc Dồn điền - tích tụ ruộng đất ở các nước phát triển, có nền sản xuất lớn đã trở thành “điển hình” tạo cho họ thành tựu lớn trong ứng dụng công nghệ, tiến bộ KHKT, cho năng suất, chất lượng tốt Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới cũng đồng thời là nước có nền sản xuất nông nghiệp lớn Không những thế, đây còn là quốc gia được đánh giá cao nhất thế giới về “nền văn minh trang trại” Nông nghiệp của họ trở thành ngành kinh doanh lớn nhất thế giới hiện nay

Nền kinh tế Việt Nam đã thực sự hội nhập sâu trong nền kinh tế thế giới Tức là sự cạnh tranh trong sản xuất ngày càng được đẩy lên cao Việc DĐĐT, tích tụ ruộng đất đối với nền sản xuất nông nghiệp hơn lúc nào hết rất cần được chỉ đạo quyết liệt, làm cho được Có như vậy, chúng ta mới đi đến chuyên canh sản xuất được, đưa máy móc, thiết bị hiện đại, đi cùng việc ứng dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất, tạo ra hướng làm ăn mới theo phương thức sản xuất hàng hóa Bởi vì, sản xuất thời hội nhập là làm ra các sản phẩm hàng hóa tốt, giá thành thấp và quan trọng hơn là làm ra “cái mà thị trường

Trang 26

cần” chứ không thể chỉ làm ra “cái mình có” Sản xuất hàng hóa không thể không đi kèm với tích tụ ruộng đất, vấn đề chỉ là chọn mô hình nào để giảm thiểu “tổn thương” cho nông dân Không nên quá cầu toàn, nhưng cũng không thể nóng vội theo những mô hình ở các nước phát triển, khi một nông hộ của

họ có thể sở hữu hàng trăm hécta đất, từ sản xuất đến chế biến theo quy trình khép kín Bởi quy mô sản xuất cần phù hợp với trình độ lao động, cơ giới hóa, quản lý của người nông dân

Nông nghiệp là nguồn sinh kế chính của hơn 60% dân số Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 2/3 hộ gia đình Trong bối cảnh hội nhập WTO, nông nghiệp nước ta có thể có thêm nhiều cơ hội phát triển hay không, phụ thuộc lớn vào phương thức sản xuất, trong đó công tác DĐĐT là trọng tâm Càng “vươn ra biển lớn”, tư duy toàn cầu trong điều kiện đặc thù của Việt Nam càng cần được xác định rõ ràng: giải quyết tốt bài toán phát triển nông thôn chính là đặt một tay vào chiếc chìa khóa vàng “phát triển bền vững” cho

cả nền kinh tế, trên một tầm cao mới

Trang 27

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Kim Sơn

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

* Vị trí địa lý

Kim sơn là huyện đồng bằng nằm ở phía nam tỉnh Ninh Bình, trung tâm huyện là thị trấn Phát Diệm, có nhà thờ Phát Diệm là công trình kiến trúc tôn giáo độc đáo và nổi tiếng ở Việt Nam được xây dựng từ năm 1890 Có tổng diện tích tự nhiên khoảng 35.000 ha chiếm 25% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Cũng là huyện tập trung nhiều dân cư sinh sống nhiều thứ 2 trong tỉnh sau huyện Yên Khánh, với 25 xã và 2 thị trấn So với các huyện khác Kim Sơn có vị trí tương đối thuận tiện, trung tâm huyện cách thành phố khoảng 27km Phía nam giáp tỉnh Thanh Hóa Huyện có đường quốc lộ 59A, đường quốc lộ 12A chạy qua thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán với các huyện khác trong tỉnh

*Đặc điểm địa hình

Địa hình huyện Kim Sơn tương đối bằng phẳng, có độ cao trung bình

từ 0,9 – 1,2m chủ yếu là đất phù sa được bồi và không được bồi Tiềm năng phát triển của huyện là nông nghiệp: Trồng lúa, rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày

*Về thắng cảnh tự nhiên

Kim Sơn có 18 km bờ biển với các xã ven biển là Kim Đông, Kim Hải, Kim Trung đã được UNESCO công nhận là một trong những địa danh thuộc khu dự trữ sinh quyển thế giới Thắng cảnh khu vực ven biển Kim Sơn nằm trong quy hoạch du lịch của tỉnh Ninh Bình bao gồm bãi biển, rừng phòng hộ, các cù lao, cồn nổi, cửa sông Đáy, cửa sông Càn

Trang 28

* Khí hậu thủy văn

Khí hậu bao trùm toàn tỉnh là khí hậu nhiệt đới gió mùa Thời tiết hàng năm chia thành 4 mùa rõ rệt xuân, hạ, thu, đông Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23oC Số lượng giờ nắng trong năm trung bình trên 1100 giờ Lượng mưa trung bình/ năm đạt 1.800mm

Bảng 2.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu của huyện Kim Sơn

Chỉ

tiêu ĐV 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Cả

năm Nhiệt

độ C0 17 18 20 26 28 29 30 29 27 25 22 19 23 Lượng

( Nguồn: Trung tâm khí tượng Ninh Bình, 2010)

Với điều kiện khí hậu như trên của huyện rất thuận lợi cho cây trồng vật nuôi sinh trưởng và phát triển Song ở đây cũng cần lưu ý một số tháng gió rét, hạn hán hay lũ lụt để có những biện pháp phòng chống kịp thời đảm bảo an toàn cho sản xuất

2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

* Đặc điểm đất đai của huyện

Đất đai là yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong đời sống sản xuất của con người, nó vừa là đối tượng sản xuất vừa là tư liệu sản xuất

Trang 29

Nó tác động rất lớn đến sản xuất, đặc biệt là yếu tố quan trọng với công tác khuyến nông trong việc chọn lựa các vùng đất cho phù hợp với các giống cây trồng

Tổng diện tích tự nhiên khoảng 35.000 ha, tài nguyên nước khá dồi dào, thuận lợi cho việc tưới, phát triển sản xuất nông nghiệp và dịch vụ giao thông vận tải thủy Toàn tỉnh có mật độ các hệ thống sông, suối ở mức trung bình nhưng riêng huyện có con sông Ân chạy qua luôn cung cấp đủ nước tưới cho toàn huyện

* Tình hình dân số và lao động của huyện

Dân số và lao động là nhân tố chủ lực điều tiết quá trình sản xuất và quyết định kết quả của quá trình sản xuất Do đó, trình độ của con người quyết định rất lớn đến hiệu quả của quá trình sản xuất Tình hình dân số và lạo động của huyện thể hiện qua bảng 2.2

Trang 30

Bảng 2.2 Tình hình biến động đất đai, dân số và kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Kim Sơn (2005 – 2007)

Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Tốc độ phát triển (%) Chỉ tiêu ĐVT

Số lượng Cơ cấu

(%) Số lượng

Cơ cấu (%) Số lượng

Cơ cấu (%) 06/05 07/06 BQ

Trang 31

Qua bảng 2.2 cho thấy, ở Kim Sơn tốc độ phát triển bình quân dân số qua 3 năm tăng 1,12% Cùng với việc gia tăng về dân số thì số hộ cũng tăng tốc độ bình quân 3 năm tăng 2,09% Số hộ nông nghiệp là 31.758 hộ chiếm 81,38%, số hộ phi nông nghiệp là 7.266 hộ chiếm 18,62% Do tăng số hộ lên, nên số hộ trong các ngành nghề cũng tăng nhưng số hộ nông nghiệp giảm bình quân 0,43%, trong khi đó các hộ phi nông nghiệp tăng mạnh 15,93% Năm 2007 toàn huyện có tổng số 80.425 lao động, trong đó lao động nông nghiệp là 70.090 lao động chiếm 87,15%, còn lại là lao động ngành nghề khác Tốc độ lao động tăng các ngành nghề khác khá cao, đặc biệt là CN - TTCN tăng bình quân 3 năm là 12,26% Điều dễ nhận thấy là trong tình trạng đất canh tác có xu hướng ngày càng giảm đi thì người lao động cần phải tìm cho mình một công việc khác ngoài nông nghiệp nếu hộ muốn nâng cao thu nhập Đây là một xu hướng tốt trong việc phân công lại lao động, chuyển đổi

cơ cấu nông nghiệp nông thôn, nhưng cũng là một thách thức lớn đối với các cấp, các ngành và toàn xã hội trong việc tạo công ăn việc làm nâng cao thu

nhập và đời sống của cư dân nông thôn

*Tình hình cơ sở hạ tầng

Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng được các cấp đặc biệt quan tâm, nhất là xây dựng đường giao thông, trường học và các công trình thủy lợi Đến nay, trên 75% đường giao thông nông thôn của huyện đã được bê tông hóa, 682/738 phòng học được kiên cố, 38 trường học đạt chuẩn quốc gia, 25/27 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, các công trình thủy lợi ở vùng bãi bồi tại

các xã trong huyện được đầu tư xây dựng và cải tạo…

*Kết quả phát triển kinh tế - xã hội của huyện

Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhiều năm qua của Kim Sơn luôn giữ ở mức cao (trên 12%), bình quân lương thực năm 2009 đạt khoảng 600kg/ người, công tác xóa đói giảm nghèo có những chuyển biến tích cực, hiện tỷ lệ hộ nghèo của huyện đã giảm xuống còn khoảng trên 8% Trong nông nghiệp đã

Trang 32

hình thành những vùng lúa cao sản, vùng lúa có chất lượng cao, vùng nuôi trồng thủy hải sản… đưa giá trị canh tác đất nông nghiệp đạt gần 70 triệu đồng/ha/ năm

Đối với lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, bên cạnh việc xuất hiện hàng loạt ngành nghề mới, Kim Sơn vẫn duy trì thế mạnh của ngành sản xuất chế biến cói, giá trị của ngành này đạt gần 250 tỷ đồng/năm

2.2- Phương pháp nghiên cứu

2.2.1- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát

Huyện Kim sơn tỉnh Ninh bình là nơi có nền kinh tế còn nhiều khó khăn, vấn đề dồn điền đổi thửa vẫn chưa được tiến hành đồng bộ Do vậy vừa với mong muốn hoàn thành luận văn tốt nghiệp đồng thời với hy vọng có thể giúp sức vào công cuộc đổi mới nền nông nghiệp quê hương để tiến hành dồn điền đổi thửa đem lại hiệu quả cao

Trong luận văn sẽ nghiên cứu một số xã điển hình là xã Lai thành, xã Đồng Hướng, và xã Yên Lộc Đây là những xã có diện tích đất nông nghiệp lớn nhất trong huyện, và cũng là nơi có nhiều dân cư sinh sống

Bảng 2.3 Số hộ được lựa chọn ở các xã điều tra

Xã Thuần nông Hộ Kiêm Hộ NN-DV Tổng cộng

1 loại cây trồng, việc sử dụng giống cây trồng vật nuôi mới vào sản xuất, đầu tư máy móc, chi phí đầu tư của hộ/1đv diện tích, công thức luân canh

Trang 33

2.2.2- Phương pháp thu thập số liệu

Tài liệu thứ cấp

Tìm đọc, trực tiếp xin số liệu thông qua các tài liệu sẵn có như: Báo cáo tổng

kết về dồn điền của huyện Kim Sơn, các chính sách định hướng, các báo, tạp chí, văn bản của tỉnh, huyện, niêm giám thống kê của huyện trong nhiều năm Thu thập số liệu sẵn có qua các báo cáo về kinh tế - xã hội của huyện, thông tin về đất đai của huyện

* Tài liệu sơ cấp

Tiến hành điều tra 100 hộ của 3 xã trong huyện, trong mỗi xã tôi tiến hành

tìm hiểu thông tin từ cán bộ địa phương để phân loại hộ theo các nhóm: Thuần nông, kiêm ngành nghề, chuyên ngành nghề dịch vụ

- Phương pháp thống kê so sánh: Thông qua việc so sánh các thông tin cùng loại của một số chỉ tiêu kinh tế để thấy được kết quả của công tác dồn điền đổi thửa tác động đến việc ra quyết định sản xuất của hộ và ảnh hướng kết quả sản xuất của hộ So sánh các tiêu thức nghiên cứu, các nhóm hộ ở các vùng khác nhau trước và sau chuyển đổi, như: chỉ tiêu năng suất, các khoản chi phí, thu nhập hỗn hợp, kết quả sản xuất

2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu sử dụng trong đề tài

* Hệ thống chỉ tiêu thể hiện kết quả công tác dồn điền điền đổi thửa

- Diện tích đất nông nghiệp bình quân/ hộ

- Diện tích đất nông nghiệp bình quân/ khẩu

Trang 34

* Hệ thống chỉ tiêu thể hiện tác động của dồn điền đổi thửa đến quyết định

sản xuất của nông hộ

- Tỷ lệ áp dụng máy móc vào sản xuất

- Tỷ lệ thay đổi giống cây trồng

- Tỷ lệ hộ thay đổi cơ cấu cây trồng

- Tỷ lệ thay đổi mức đầu tư

Các số liệu được so sánh trước và sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa, giữa các nhóm hộ

* Các chỉ tiêu thể hiện tác động của dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp của nông hộ

- Chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm

- Năng suất cây trồng

- Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu nhập thuần tuý của người sản xuất Thu nhập hỗn hợp là phần đảm bảo cho đời sống và tích lỹ cho người sản xuất

- Chi phí trung gian/đơn vị diện tích

- Giá trị sản xuất/1 công lao động

Các số liệu được so sánh trước và sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa, giữa các nhóm hộ

Trang 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1- Tình hình thực hiện dồn điền đổi thửa tại huyện Kim sơn

3.1.1- Các thông tin chung về chính sách dồn điền đổi thửa ở huyện

* Thực trạng đất đai của huyện sau khi giao đất lâu dài theo Nghị định 64/CP năm 1993

Sau khi thấy việc canh tác tập thể không còn phù hợp, mặt khác đã xuất hiện tình trạng giao đất đến nông dân ở một số địa phương như ở Hà Tây, Hải Phòng, Vĩnh Phúc đã cho kết quả cao trong sản xuất nông nghiệp Không những tăng về năng suất, sản lượng mà còn làm cho người nông dân có trách nhiệm với đồng ruộng hơn rất nhiều Việc thờ ơ với ruộng đất ở những nơi này không còn nữa mà thay vào đó người nông dân đã ra sức khai thác và cải tạo, đầu tư thâm canh sao cho mảnh đất của mình có được hiệu quả cao nhất Trước thực tế đó Đảng và Nhà nước thấy rằng cần thiết phải thay đổi mối quan hệ về ruộng đất người nông dân Năm 1993 Luật Đất đai ra đời và Nghị định số 64/CP của Chính phủ ban hành hướng dẫn cụ thể việc thực hiện giao đất lâu dài cho người dân

Thực hiện chủ trượng chính sách của Đảng và Nhà nước, huyện Kim Sơn tiến hành giao đất ổn định lâu dài cho hộ nông dân, trên cơ sở có gần, có

xa, có tốt, có xấu, có thấp có cao để đảm bảo tính công bằng theo Luật Đất đai năm 1993 quy định Sau khi thực hiện việc giao đất lâu dài cho hộ nông dân, huyện đạt kết quả thể hiện qua bảng 3.1

Trang 36

Bảng 3.1 Thực trạng ruộng đất của huyện sau khi giao đất năm 1993

Chỉ tiêu ĐVT Số lượng Cơ cấu

1 Tổng quỹ đất nông nghiệp ha 13.540,5 100,0

- Đất giao cho hộ nông dân ha 12.727,9 94,0

-BQ diện tích/thửa m2/thửa 263,0

- BQ diện tích đất NN/khẩu m2/khẩu 850,7

- BQ diện tích đất NN/hộ m2/hộ 3.813,6

(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra)

Tổng quỹ đát nông nghiệp 13.540,5 ha Đất nông nghiệp giao cho hộ nông dân là 12.727,9 ha (chiếm 94,0%) Đất công ích dục phòng 812,6 ha chiếm 6,0% đất nông nghiệp, quỹ đất công ích dự phòng được giao cho hộ nông dân, tổ chức đoàn thể ở địa phương đấu thầu Qua bảng 3.1 ta thấy, số

hộ được giao đất ở định lâu dài 34.512 hộ chiếm 98,4 hộ trong huyện, bình quân mỗi hộ có 14,5 thửa ruộng Số khẩu trong huyện được giao ổn định lâu dài theo Nghị định số 64/CP là 154.704 khẩu, chiếm 98,8% dân số toàn huyện Bình quân diện tích đất nông nghiệp được giao/khẩu là 850,7 m2/khẩu Sau khi giao, tổng số thửa toàn huyện là 500.424 thửa và bình quân diện tích mỗi thửa là 263,0 m2/thửa

Luật Đất đai năm 1993 và Nghị định 64/CP ra đời tạo ra bước ngoặt lớn trong sản xuất nông nghiệp, năng suất và sản lượng lương thực tăng lên rất mạnh, nông dân được tự do lựa chọn sản xuất Đây thực sự là một cuộc

Trang 37

cách mạng lớn trong nông nghiệp, sức lao động được giải phóng, người lao động hăng say trong sản xuất Người nông dân sau khi được giao nhận ruộng đất đã tập trung sản xuất sao cho khai thác tốt nhất điều kiện đất đai cũng như điều kiện của gia đình Mặc dù hiệu quả trong sản xuất của hộ tăng lên trông thấy nhưng các hộ cũng gặp phải nhiều khó khăn trong việc mở rộng quy mô, phát triển sản xuất, đặc biệt là việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, áp dụng cơ giới hoá vào sản xuất Qua thực tế triển khai thực hiện, tổng kết lại cho thấy trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai còn một số tồn tại cơ bản sau:

- Việc giao ruộng đất ổn định, lâu dài cho các hộ nông dân trên một mặt bằng chưa có quy hoạch tổng thể về sử dụng đất, nhất là việc quy hoạch vùng sản xuất, quy hoạch đường canh nông và đường tưới tiêu tới mặt ruộng, quy hoạch về cải tạo đất, san ghềnh, lấp trũng Như vậy là có ảnh hưởng tới quá trình sử dụng ruộng đất theo hướng lâu dài và ổn định

- Tình trạng phổ biến là ruộng đất được giao manh mún, tản mạn, có hộ phải canh tác tới 12 thửa ở 12 vị trí khác nhau, có thửa diện tích chỉ có 20-30

m2, có thửa còn dài vài chục mét nhưng chiều ngang thì chỉ đủ một hàng bừa Trên ruộng màu thì diện tích bờ chiếm mất rất nhiều diện tích ruộng, giữa hộ

nọ với hộ kia bị xáo trộn, lẫn lộn, hàng vụ phải thực hiện đo đạc lại rất mất thời gian Do vậy, tình trạng này gây tốn nhiều công sức, hạn chế việc cải tạo đất, hạn chế đưa cơ giới vào sản xuất

- Quá trình giao ruộng như trên chưa gắn với quá trình đổi mới HTX nông nghiệp Trách nhiệm của HTX dịch vụ đến đâu còn chưa phân định rõ ràng

Thấy được những bất lợi do ruộng manh mún, phân tán gây ra, nhiều

hộ dân đã tự đổi ruộng cho nhau để có được những ô thửa lớn, thuận lợi cho sản xuất hơn Hình thức tự nguyện đổi ruộng diễn ra ngày càng mạnh nhưng chưa thành hệ thống

Trang 38

Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước phát động phong trào “dồn điền đổi thửa” trên phạm vi cả nước để thuận tiện cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và hoàn thiện hơn việc bố trí cây trồng vật nuôi cho phù hợp để đất đai ngày một sử dụng có hiệu quả hơn

* Mục đích và nguyên tắc của dồn điền đổi thửa

- Mục đích của dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp là việc dồn ghép các ô thửa

nhỏ thành những ô thửa lớn hơn nhằm hạn chế, khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất Tạo điều kiện đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, phát triển kinh tế hộ và kinh tế trang trại, giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập trên đơn vị diện tích góp phần nâng cao đời sống cho người nông dân Tạo điều kiện để quy hoạch sử dụng đất, nâng cao đời sống cho người nông dân Tạo điều kiện để quy hoạch lại đồng ruộng thành những vùng sản xuất tập trung, hình thành các vùng chuyên canh lớn Dồn điền đổi thửa tạo điều kiện cho công tác quản lý và theo dõi biến động đất đai chặt chẽ đi vào nề nếp, giúp cho công tác quản lý và chỉ đạo sản xuất thuận lợi và đạt hiệu quả cao

- Dồn điền đổi thửa là công việc hệ trọng, liên quan đến các hộ nông dân, tác động đến tâm lý, tập quán canh tác, lợi ích của người dân; Đồi hỏi phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất cao của cấp uỷ và chính quyền các cấp, sự phối hợp tham gia thực hiện tích cực của các đoàn thể chính trị - xã hội Trong quá trình thực hiện không làm ảnh hưởng đến thời vụ sản xuất, bảo đảm sự công bằng, dân chủ, hợp lý trong nông dân, nông thôn

- Dồn điền đổi thửa thực chất là cuộc vận động nhân dân tự nguyện chuyển đổi diện tích ví trí đất nông nghiệp hiện có của hộ gia đình cá nhân từ nhiều thửa nhỏ ở các khu vực khác nhau thành thửa lớn phù hợp với vùng sản xuất theo quy hoạch sản xuất nông nghiệp và quy hoạch xây dựng nông thôn mới

Trang 39

Do vậy, dồn điền đổi thửa phải tuân theo những nguyên tắc nhất định sau: +Phương án dồn điền đổi thửa phải tuân thủ theo Luật đất đai và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, chỉ chuyển đổi trên cơ sở diện tích các hộ đang sử dụng đã được lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận không phải là chia lại ruộng đất và cũng không đặt vấn đề xem lại những nội dung đã thực hiện trước đây

+Dồn điền đổi thửa là nội dung quan trọng để thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới Vì vậy phải căn cứ vào quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, quy hoạch xây dựng nông thôn mới, quy hoạch sử dụng đất được duyệt để lập phương án Thông qua dồn điền đổi thửa chỉnh trang đồng ruộng, đường giao thông, kênh mương thủy lợi nội đồng, bố trí quy hoạch gọn đất công ích, không để xen lẫn với đất giao ổn định cho hộ gia đình, cá nhân, vận động các hộ gia đình, cá nhân đóng góp một phần diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng để xây dựng hạ tầng kỹ thuật và xã hội

+ Tổ chức dồn điền đổi thửa phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ thống nhất của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, sự phối hợp của các ngành, các tổ chức chính trị xã hội và tham gia bàn bạc của người dân Phải có quyết tâm cao, chống tư tưởng chủ quan hoặc hữu khuynh né tránh, đảm bảo sự đoàn kết, ổn định an ninh nông thôn

+ Trong quá trình DĐĐT, tùy điều kiện cụ thể của từng địa phương có thể xác định hệ số dồn đổi (hệ số K) để đảm bảo sự công bằng trong xây dựng phương án chuyển đổi Việc xác định hệ số dồn đổi do nhân dân bàn bạc quyết định

+ Sau khi DĐĐT phải đo đạc, chỉnh lý ngay hồ sơ địa chính, cấp đổi giấy chứng nhận đất nông nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật Đất đai

Trang 40

3.1.2 Kết quả của dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Sơn

Giống như các địa phương khác trong tỉnh, Kim Sơn cũng thực hiện giao đất lâu dài cho hộ nông dân trước khi thực hiện Nghị Định 64/CP ngày 27/9/1993 Bình quân mỗi hộ có đến 8 thửa, trong khi đó mức bình quân chung của ĐBSH là 7 thửa, cao hơn 1 thửa, diện tích thửa nhỏ nhất là 72m2

và lớn nhất là 700m2, gấp gần 10 lần Như vậy, huyện Kim Sơn là một trong mhững huyện của tỉnh có mức độ manh mún cao Sau chuyển đổi bình quân

số thửa/hộ còn 4 giảm 50% số thửa

Tìm hiểu về kết quả dồn điền đổi thửa tại 3 xã trong huyện cho thấy kết quả dồn điền đổi thửa có sự khác biệt đáng kể giữa các xã là Tuy nhiên, xét một cách tổng thể, bình quân số thửa trên một hộ giảm đáng kể, từ 8 thửa xuống 4,0 thửa, tương ứng giảm 50% Sau chuyển đổi kết quả cho thấy: trong tổng số 13.058 hộ thực hiện

Do nhận thức được cái lợi nhiều mặt của dồn điền đổi thửa nên nhiều thôn, nhiều xã tiếp tục vận động dồn điền đổi thửa thành những ô ruộng lớn hơn Điển hình là xã Lai Thành sau khi dồn điền đổi thửa mỗi hộ chỉ còn 3-5 thửa Một số hộ vẫn có nguyện vọng dồn điền đổi thửa xuống chỉ còn 1 -2 thửa mà không phân biệt đất tốt xấu, vị trí xa, gần Một số hộ trong các huyện khác đã tự đổi cho nhau để đưa diện tích xuống chỉ còn một thửa để tiện cho quá trình áp dụng khoa học kỹ thuật và đưa các máy móc thiết bị vào canh tác

Kết quả dồn điền đổi thửa đã tạo ra những thửa lớn, ít phân tán nên đã khắc phục được những manh mún đất đai tạo ra, thuận lợi cho cơ giới hoá một

số khâu làm đất, giảm công đi lại, có điều kiện áp dụng khoa học công nghệ kỹ thuật nên năng suất cây trồng tăng từ 25-30kg/ha/năm Đặc biệt trong quá trình tiến hành dồn điền đổi thửa nhiều địa phương đã tạo cơ hội cho nhiều hộ có vốn,

có sức lao động, có kỹ thuật nhận ruộng một thửa cộng thêm một phần diện tích trong quỹ đất ngân sách xã (5%), các hộ này đã và đang phát triển theo hướng

Ngày đăng: 29/08/2017, 14:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và PTNT, Chính sách đất đai ở nông thôn, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đất đai ở nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2003), Báo cáo kết quả công tác dồn điền đổi thửa của đoàn kiểm tra tình hình thực tế và chỉ đạo các địa phương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác dồn điền đổi thửa của đoàn kiểm tra tình hình thực tế và chỉ đạo các địa phương
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2003
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2003), Hướng dẫn việc dồn điền đổi thửa trong sản xuất nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn việc dồn điền đổi thửa trong sản xuất nông nghiệp
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2003
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2003), Báo cáo chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp khắc phục tình trạng manh mún, phân tán trong sử dụng đất, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp khắc phục tình trạng manh mún, phân tán trong sử dụng đất
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Hà nội
Năm: 2003
7. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1993), Nghị định số 64/CP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 64/CP
Tác giả: Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1993
9. Bùi Quang Dũng (2002), Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của quá trình tập trung ruộng đất đến phát triển nông nghiệp tại huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây, Luận văn thạc sỹ kinh tế trường ĐHLN, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của quá trình tập trung ruộng đất đến phát triển nông nghiệp tại huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây
Tác giả: Bùi Quang Dũng
Nhà XB: Luận văn thạc sỹ kinh tế trường ĐHLN
Năm: 2002
10. Lê Quang Huyền (2002), Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam
Tác giả: Lê Quang Huyền
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2002
12. Nguyễn Hữu Ngoan, Tô Dũng Tiến (2005), Thống kê nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hữu Ngoan, Tô Dũng Tiến
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
5. Báo cáo công tác dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Sơn, Ninh Bình Khác
6. Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2006 - 2008 Khác
8. Đỗ Kim Chung (2005), Dự án phát triển nông thôn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
11. Lê Quang Huyền (2002), Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
13. Tích tụ ruộng đất, hướng đi tất yếu, kinhtenongthon.com.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Diện tích và số thửa ruộng của mỗi hộ nông dân Trung Quốc - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình
Bảng 1.1 Diện tích và số thửa ruộng của mỗi hộ nông dân Trung Quốc (Trang 17)
Bảng 1.3 Mức độ manh mún ruộng đất ở một số tỉnh vùng ĐBSH - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình
Bảng 1.3 Mức độ manh mún ruộng đất ở một số tỉnh vùng ĐBSH (Trang 20)
Bảng 2.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu của huyện Kim Sơn - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình
Bảng 2.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu của huyện Kim Sơn (Trang 28)
Bảng 2.2 Tình hình biến động đất đai, dân số  và kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Kim Sơn (2005 – 2007) - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình
Bảng 2.2 Tình hình biến động đất đai, dân số và kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Kim Sơn (2005 – 2007) (Trang 30)
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Sơn - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Sơn (Trang 42)
Bảng 3.3 Sự thay đổi đất canh tác của huyện sau khi dồn điền đổi thửa - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình
Bảng 3.3 Sự thay đổi đất canh tác của huyện sau khi dồn điền đổi thửa (Trang 44)
Bảng 3.4 Tình hình dồn điền đổi thửa ở các xã điều tra - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình
Bảng 3.4 Tình hình dồn điền đổi thửa ở các xã điều tra (Trang 45)
Bảng 3.5 Một số kết quả của dồn điển đổi thửa ở các xã điều tra - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình
Bảng 3.5 Một số kết quả của dồn điển đổi thửa ở các xã điều tra (Trang 47)
Bảng 3.7 Diện tích các loại bình quân của nhóm hộ điều tra - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình
Bảng 3.7 Diện tích các loại bình quân của nhóm hộ điều tra (Trang 53)
Bảng 3.10 Sự thay đổi cơ cấu các loại đất nông nghiệp trước và sau dồn đổi ở các nhóm hộ điều tra - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình
Bảng 3.10 Sự thay đổi cơ cấu các loại đất nông nghiệp trước và sau dồn đổi ở các nhóm hộ điều tra (Trang 61)
Bảng 3.11 Sự thay đổi diện tích đất canh tác của nhóm hộ điều tra - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình
Bảng 3.11 Sự thay đổi diện tích đất canh tác của nhóm hộ điều tra (Trang 63)
Bảng 3.12 Sự thay đổi cơ cấu cây trồng sau dồn điền đổi thửa - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình
Bảng 3.12 Sự thay đổi cơ cấu cây trồng sau dồn điền đổi thửa (Trang 65)
Bảng 3.13.Quyết định đầu tư máy móc sau khi dồn điền đổi thửa - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình
Bảng 3.13. Quyết định đầu tư máy móc sau khi dồn điền đổi thửa (Trang 66)
Bảng 3.14 Tác động về mức cơ giới hoá sau đồn điền đổi thửa năm 2007 - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình
Bảng 3.14 Tác động về mức cơ giới hoá sau đồn điền đổi thửa năm 2007 (Trang 67)
Bảng 3.17 Tình hình cơ cấu lao động của nhóm hộ điều tra trước và sau khi dồn đổi - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình
Bảng 3.17 Tình hình cơ cấu lao động của nhóm hộ điều tra trước và sau khi dồn đổi (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w