1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận Đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn ở bậc THCS

20 624 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để phục vụ tốt cho việc nghiên cứu đề tài, tôi đã tham khảo và tìm hiểu một số tài liệu Những bài văn mẫu của nhiều tác giả: 100 bài văn mẫu lớp 9 của Nguyễn Hữu Quang Nguyễn Lê Tuyết Mai. Những bài làm văn mẫu lớp 9 của Trần Thị Thìn Nâng cao Ngữ văn THCS của Tạ Đức Hiền TS Lê Thuận An TS Nguyễn Việt Nga TS Phạm Minh Tú Tuyển chọn 36 đề thi luyện thi tốt nghiệp THCS, bồi dưỡng học sinh giỏi của Trần Thị Hoàng Cúc Nguyễn Thị Út

Trang 1

Chơng I Những vấn đề chung

1 Lý do chọn đề tài

Đất nớc ta đang bớc vào ngỡng cửa của thế kỷ XXI- kỷ nguyên của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, song song cùng với nó là các lĩnh vực của đời sống xã hội đều phát triển, đặc biệt là khoa học đang ngày càng phát triển nh vũ bão để đáp ứng nền kinh tế ngày càng cao Điều đó đòi hỏi mỗi chúng ta phải có tri thức thật vững vàng, có cách nhìn về khoa học và đời sống

Hiện nay lĩnh vực giáo dục nớc ta cũng ngày một số thay đổi theo chiều hớng đi lên phù hợp với sự phát triển của xã hội, ngày nay giáo dục đang đợc cả xã hội quan tâm và đầu t vì: " Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu t cho giáo dục chính là đầu t cho sự phát triển "

.Trong số các môn dạy ở bậc THCS, thì môn Ngữ văn có vị trí quan trọng Bởi lẽ, hệ thống ngôn ngữ của nhân loại tích luỹ đợc thể hiện trong môn học này vô cùng phong phú Văn học là nghệ thuật ngôn từ, qua môn học này học sinh khám phá, tìm hiểu đồng thời biết sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ cho phù hợp và đạt hiệu quả trong giao tiếp cũng nh trong học tập, lao động và cuộc sống Đây cũng chính là nhiệm vụ quan trọng trong nhà trờng hiện nay

và môn Ngữ văn chính là bộ môn giữ vị trí số một trong việc thực hiện nhiệm

vụ quan trọng này

Chiếm thời lợng cao nhất so với các môn học khác, môn Ngữ văn không chỉ giúp cho học sinh mở rộng vốn từ, rèn kỹ năng phân tích, bình giá, cảm thụ cái hay cái đẹp của văn chơng mà quan trọng hơn là rèn cho học sinh các kỹ năng cơ bản nghe - đọc - nói - viết Việc dạy cho học sinh viết

đúng, viết hay, giàu màu sắc văn chơng nghệ thuật, đó chính là các tiết dạy tập làm văn trong chơng trình quy định Để làm đợc một bài văn hay đòi hỏi học sinh phải huy động vốn kiến thức về văn học đã chiếm lĩnh đợc, có vốn từ phong phú, có năng lực t duy nhạy bén, nắm chắc các thao tác làm văn, biết vận dụng các kiến thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội làm cho bài văn rõ ràng, hấp dẫn, lôi cuốn ngời đọc, có tính sáng tạo của bản thân

Nh chúng ta đã biết năm học 2002 - 2003 là năm đầu tiên thực hiện việc

đổi mới chơng trình và sách giáo khoa bậc THCS Riêng môn Ngữ văn trong

Trang 2

chơng trình mới đã đa 6 kiểu văn bản vào chơng trình học đó là: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận, hành chính - công vụ ở loại văn biểu cảm đầu đợc học từ lớp 7 trở lên, đây là loại văn mới mẻ và tơng đối khó đối với học sinh lớp bậc THCS Bởi lẽ ở độ tuổi các em còn tơng đối nhỏ, các em cha định hình đợc rõ phơng pháp làm văn, chính vì vậy để viết đợc một bài văn hay, hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức nghệ thuật về hai loại văn này là một vấn đề khó Hơn nữa, do việc đổi mới chơng trình và sách giáo khoa vừa mới đợc thực hiện nên nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc hớng dẫn học sinh tìm ra phơng pháp viết bài làm văn đạt hiệu quả, dẫn đến con đ-ờng truyền đạt kiến thức tới học sinh nhiều chỗ còn khó hiểu, khó nắm bắt Hơn thế nữa phơng pháp viết bài và cách tiếp cận tác phẩm ở các vùng, các địa phơng khác nhau cũng cha đợc thống nhất Chính những điều ấy làm cho biết bao thầy cô giáo yêu nghề băn khoăn, trăn trở Vì vậy, họ muốn tìm ra một phơng pháp tích cực nhất, tối u nhất để truyền đạt kiến thức cho học sinh ngày một có chất lợng

Vậy, việc nghiên cứu về bộ môn Ngữ văn với từng phơng diện của nó

để làm sao có những bài viết hoàn chỉnh, trở thành mẫu chung cho nhiều ngời tham khảo là một việc làm thiết thực, có ý nghĩa quan trọng trong công tác giảng dạy môn học này Trên cơ sở đó giúp học sinh yêu văn tìm ra đợc phơng pháp học văn và làm văn ngày một hiệu quả về cả chiều rộng lẫn chiều sâu

Đó cũng chính là lý do khiến tôi lựa chọn đề tài này

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Để phục vụ tốt cho việc nghiên cứu đề tài, tôi đã tham khảo và tìm hiểu

một số tài liệu " Những bài văn mẫu của nhiều tác giả":

-"100 bài văn mẫu lớp 9" của Nguyễn Hữu Quang- Nguyễn Lê Tuyết

Mai

-"Những bài làm văn mẫu lớp 9" của Trần Thị Thìn

- "Nâng cao Ngữ văn THCS" của Tạ Đức Hiền - TS Lê Thuận An - TS

Nguyễn Việt Nga - TS Phạm Minh Tú

- "Tuyển chọn 36 đề thi luyện thi tốt nghiệp THCS, bồi dỡng học sinh

giỏi" của Trần Thị Hoàng Cúc - Nguyễn Thị út

- "Kiến thức văn bản Văn - Tiếng Việt dùng cho lớp 9" của Nguyễn

Xuân Lạc

Trang 3

- "Bồi dỡng Ngữ văn THCS lớp 9" của Thái Quang Vinh - Lê Lơng Tâm

- Thạch Ngọc Hà- Đặng Đức Hiền

- "Những bài làm văn mẫu lớp 7 "của Trần Thị Thìn ( tập 1,2)

"Tuyển tập 36 bộ đề thi Văn Tiếng việt lớp 9" của Vũ Hoàng Chơng

-Phan Phú Tuấn

- "Tuyển tập 130 bài văn hay lớp 8" của Thái Quang Vinh - Trần Thị

Hoàng Cúc- Nguyễn Thị út - Trần Đức Niềm - Lê Thị Nguyên

- "Văn hay học sinh gỏi lớp 9" của Trần Thị Hoàng

- "Bồi dỡng làm văn lớp 7" của Lê Lơng Tâm - Thái Quang Vinh- Ngô

Lê Hơng Giang- Trần Thảo Linh

- Hệ thống SGK, SGV môn Ngữ Văn THCS

* Nhận xét:

- Những tài liệu trên cung cấp hàng loạt những bài văn mẫu xuất sắc, gồm những thể văn khác nhau theo yêu cầu của môn Ngữ văn THCS

- Cung cấp những tri thức có ý nghĩa phơng pháp luận cơ bản mà học sinh học văn cần lĩnh hội

- Các tài liệu vừa cung cấp những dàn ý khái quát, dàn ý chi tiết vừa cung cấp những bài văn hoàn chỉnh về cấu trúc, luyện cho học sinh viết văn và cách lập dàn ý

- Trong một số tài liệu có những bài viết chặt chẽ, khai thác đợc đầy đủ các biện pháp nghệ thuật tác giả sử dụng trong bài văn, bài thơ

3 Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ vai trò thể loại của văn biểu cảm trong chơng trình và trong cuộc sống, tôi chọn đề tài này với mong muốn học sinh trở thành chủ thể của quá trình học tập, các em chủ động học tập một cách sáng tạo, rèn các

kỹ năng và hình thành các kỹ năng để sản sinh văn bản (bao gồm cả văn bản nói và văn bản viết) Biết kết hợp kiến thức tập làm văn và Tiếng Việt nh: dùng từ, đặt câu, viết đoạn, tạo lập văn bản, khả năng liên kết câu, liên kết

đoạn trên cơ sở đó cảm thụ đợc những giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn chơng Từ đó học sinh có những bài viết về văn biểu cảm một cách sáng tạo và đạt kết quả tốt

Văn biểu cảm đợc học trong chơng trình THCS từ lớp 7 trở lên Sách giáo khoa 7,8,9 đã trình bày một cách hệ thống, lôgíc về kiểu văn bản này, kiến thức đi từ đơn giản đến phức tạp Song một vấn đề đặt ra là giáo viên phải

Trang 4

tìm hiểu khai thác, phân tích, tổng hợp kiến thức đó một cách triệt để, dựa trên cơ sở những bài văn mẫu đã đợc dùng cho nhiều ngời, đồng thời giáo viên cũng phải biết hớng dẫn cho học sinh cách khai thác kiến từ sách giáo khoa và các bài văn mẫu, giới thiệu cho học sinh những tài liệu tham khảo nh: Tuyển tập những bài văn hay, những bài văn mẫu thông qua những bài văn mẫu đã

đợc lĩnh hội nhằm giúp cho học sinh có phơng pháp tiếp cận văn học một cách thống nhất trên nhiều trờng, nhiều điạ phơng, nhiều vùng trên cả nớc và vận dụng nó trong hoạt động văn học thích hợp, để từ đó học sinh có phơng pháp học tốt nhất, viết nên những bài văn hay giàu cảm xúc, lập luận chặt chẽ lôi cuốn ngời đọc và giàu sức thuyết phục

4 Phơng pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng những phơng pháp sau:

- Đọc tài liệu liên quan đến vấn đề, tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp, đây là phơng pháp quan trọng nhất

- Phơng pháp phân tích, so sánh, đối chiếu các bài văn của học sinh và rút ra nhận xét chung nhất

- Phơng pháp đàm thoại: hỏi đáp giữa giáo viên và học sinh qua các tiết dạy về hai nội dung này

- Thực nghiệm, khảo sát việc học kiểu bài biểu cảm ở một số trờng

- Trao đổi: trao đổi với một số giáo viên, học sinh khi dạy và học về i kiểu văn bản này

Trang 5

Chơng II Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

A Cơ sở lý luận của đề tài

1 Thế nào là văn biểu cảm?

Văn biểu cảm là văn bản viết ra nhằm biểu đạt tình cảm, cảm xúc, sự

đánh giá của con ngời đối với thế giới xung quanh và khêu gợi lòng đồng cảm nơi ngời đọc

Văn biểu cảm còn gọi là văn trữ tình: bao gồm các thể loại văn học nh thơ trữ tình, ca dao trữ tình, tuỳ bút

Ví dụ:

Bớc xuống Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa Lom khom dới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà Nhớ nớc, đau lòng con quốc quốc Thơng nhà, mỏi miệng cái gia gia Dừng hcân đứng lại trời non nớc Một mảnh tình riên ta với ta

( Qua Đèo Ngang - Bà Huyện Thanh Quan)

Cày đồng đang buổi ban tra

Mồ hôi thánh thót nh ma ruộng cày

Ai ơi bng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần

( Ca dao)

" Sông Đà nh một áng tóc dài ngàn ngàn vạn vạn sải, áng tóc trên mảng đầu Tây Bắc trong suốt thời chiếm đóng đã nhiều lần vơng vấn thứ máu cán bộ và trung niên pha loãng nh các miệng nhánh sông và cửa suối đổ ra "

( Trích " Ngời lái đò Sông Đà" - Nguyễn Tuân)

Tình cảm trong văn biểu cảm thờng là những tình cảm đẹp, thấm nhuần

t tởng nhân văn ( nh yêu con ngời, yêu thiên nhiên, yêu Tổ quốc, ghét những thói tầm thờng, độc ác )

Ngoài cách biểu cảm trực tiếp nh tiếng kêu, lời than, văn biểu cảm còn

sử dụng các biện pháp tự sự, miêu tả để khêu gợi tình cảm

Trang 6

2 Đặc điểm của văn biểu cảm

- Trong phạm vi trờng THCS mỗi bài văn biểu cảm tập trung biểu đạt một tình cảm chủ yếu nh: yêu thiên nhiên, yêu loài vật, yêu trờng lớp, bạn bè, yêu gia đình, yêu quê hơng đất nớc

- Để biểu đạt tình cảm ấy, ngời viết có thể chọn một hình ảnh có ý nghĩa ẩn dụ, tợng trng (là một đồ vật, loài cây hay một hiện tợng nào đó) để gửi gắm tình cảm, t tởng, hoặc biểu cảm bằng cách thổ lộ trực tiếp những nỗi niềm, cảm xúc trong lòng

- Bài văn biểu cảm thờng có bố cục ba phần nh mọi bài văn khác là mở bài, thân bài, kết bài

+ Mở bài: Có thể giới thiệu sự vật, cảnh vật trong thời gian và không gian, cảm xúc ban đầu của mình

+ Thân bài: qua miêu tả tự sự mà biểu lộ cmả xúc ý nghĩ một cách cụ thể và sâu sắc

+ Kết bài: Kết động cảm xúc, ý nghĩ hoặc nâng lên bài học t tởng

- Tình cảm trong bài phải rõ ràng, trong sáng, chân thực thì bài văn biểu cảm mới giá trị

3 Phơng pháp làm bài văn biểu cảm

a) Đề văn biểu cảm và cách làm bài văn biểu cảm

* Đề văn biểu cảm

Đề văn biểu cảm bao giờ cũng nêu ra đối tợng biểu cảm và định hớng tình cảm cho bài văn Chẳng hạn một số đề sau:

- Cảm nghĩ về dòng sông

- Cảm nghĩ về đên trăng trung thu

- Cảm nghĩ về nụ cời của mẹ

- Cảm nghĩ về những vui buồn tuổi thơ

- Cảm nghĩ về loài cây em yêu

* Cách làm bài văn biểu cảm

- Các bớc làm bài văn biểu cảm là tìm hiểu đề và tìm ý, lập dàn bài, viết bài và sửa bài

Trang 7

- Muốn tìm ý cho bài văn biểu cảm thì phải hình dung cụ thể đối tợng biểu cảm trong mội trờng hợp và cảm xúc, tình cảm của mình trong các trờng hợp đó

- Tìm lời văn thích hợp và gợi cảm

b) Cách lập ý cho bài văn biểu cảm

Để tạo ý cho bài biểu cảm, khơi nguồn cho mạch cảm xúc nảy sinh,

ng-ời viết có thể hồi tởng kỷ niệm quá khứ, suy nghĩ về hiện tại, mơ ớc tới tơng lai, tởng tợng những tình huống gợi cảm, hoặc vừa quan sát vừa suy ngẫm, vừa thể hiện cảm xúc

Nhng dù dùng cách gì thì tình cảm trong bài cũng phải chân thật và sự việc đợc nêu ra phải có trong kinh nghiệm Đợc nh thế bài văn mới làm cho ngời đọc tin và đồng cảm

c) Các yếu tố tự sự, miêu tả trong văn biểu cảm.

- Muốn phát biểu suy nghĩ, cảm xúc đối với đời sống xung quanh,hãy dùng phơng thức tự sự và miêu tả để gợi ra đối tợng biểu cảm và gửi gắm cảm xúc

Ví dụ:

Những ngón chân của bố khum khum, lúc nào cũng nh bám vào đất để khỏi trơn ngã Ngời ta nói " đấy là bàn chân vất vả" Gan bàn chân bao giờ cũng xám xịt và lỗ rỗ, bao giờ cũng khuyết một miếng, không đầy đặn nh gan bàn chân ngời khác Mu bàn chân mốc trắng, bong da từng bãi, lại có nốt lấm tấm Đêm nào bố cũng ngâm nớc nóng hoà muối, gãi lấy gãi để rồi bỏ vào đôi guốc mộc Khi ngủ bố rên, rên vì đau mình, nhng cũng rên vì nhức chân Rợu

tê thấp không tài nào xoa bóp khỏi.

Bố đi chân đất Bố đi ngang dọc đông tây đâu đâu con không hiểu Con chỉ thấy ngày nào bố cũng ngâm chân xuống nớc, xuống bùn để câu quăng Bố tất bật đi từ khi sơng còn đẫm ngọn cây ngọn cỏ Khi bố về cũng là lúc cây cỏ đẫm sơng đêm Cái thúng câu bao lần chà đi xát lại bằng sắn thuyền Cái ống câu nhẵn mòn, cái cần câu bóng dấu tay cầm Con chỉ biết cái hòm đồ nghề cắt tóc sực mùi dầu máy tra tông-đơ, cái ghế xếp bao lần thay vải, nó theo bố đi xa lắm.

Bố ơi! Bố chữa làm sao đợc lành lặn đôi bàn chân ấy: đôi bàn chân dầm sơng dãi nắng đã thành bệnh.

( Duy Khán, Tuổi thơ im lặng)

Trang 8

- Tự sự và miêu tả ở đây nhằm khêu gợi cảm xúc, do cảm xúc chi phối chứ không nhằm mục đích kể chuyện, miêu tả đầy đủ sự việc, phong cảnh

d) Cách làm bài văn biểu cảm về một tác phẩm văn học.

Phát biểu cảm nghĩ về một tác phẩm văn học ( bài văn, bài thơ) là trình bày những cảm xúc tởng tợng, liên tởng suy ngẫm của mình về nội dung và hình thức của tác phẩm đó

Bài cảm nghĩ về một tác phẩm văn học cũng phải có 3 phần:

- Mở bài: Giới thiệu tác phẩm và hoàn cảnh tiếp xúc với tác phẩm

- Thân bài: Những cảm xúc suy nghĩ do tác phẩm gợi lên

- Kết bài: ấn tợng chung về tác phẩm

B Cơ sở thực tiễn của đề tài

1) Về phía giáo viên

- Giáo viên nắm khá vững về phơng pháp truyền đạt và các khái niệm

về văn biểu cảm Tuy nhiên do ảnh hởng bởi lối dạy cũ nên cha sử dụng thuần thục phơng pháp dạy học mới, nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc dạy các tiết làm văn (đặc biệt là các tiết luyện nói) và cha thật sự đầu t thời gian vào các tiết dạy này

- Trong các tiết giảng giáo viên có cố gắng đa ra các khái niệm về văn biểu cảm Song cha thật sự phát huy tính chủ động học tập của học sinh, cha cho học sinh luyện tập nhiều

2) Về phía học sinh

- Do huyện Lộc Bình là một huyện vùng núi nên nhiều em học sinh còn

bỡ ngỡ trong việc trình bày cảm xúc, tình cảm của mình

- Các bài văn biểu cảm của các em cha thể hiện rõ cảm xúc Tình cảm của các em thể hiện trong bài viết còn khô khan, thậm chí có em viết bài văn biểu cảm mà thiên về văn tự sự Cách diễn đạt và dùng từ đặt câu có nhiều hạn chế

Chơng III Những bài làm văn mẫu

Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ Lợm của Tố

Hữu.

* Bài viết số 1

1 Dàn ý:

Trang 9

* Mở bài:

- Trong thời kỳ kháng chiến đã có nhiều tấm gơng thiếu niên hi sinh anh dũng

- Văn học có nhiều tác phẩm nói lên tinh thần anh dũng của họ

- Bài thơ Lợm là một bài thơ nói lên điều này

* Thân bài:

- Nhà thơ nhắc lại kỉ niệm hai chú cháu gặp nhau

- Hình ảnh Lợm hồn nhiên vui vẻ, tinh nghịch, đáng yêu " Ca lô đội

lệch Nhảy trên đờng vàng"

+ Tác giả dùng các từ láy tợng hình để làm nổi bật bức chân dung hồn nhiên của Lợm

- Chiến công của chú bé Lợm: " Chú đồng chí nhỏ Đạn bay vèo vèo"

những chi tiết này thể hiện quyết tâm chiến đấu của Lợm

- Sự hi sinh anh dũng của chú bé Lợm:

+ Chú ngã xuống trong t thế ngời anh hùng thiếu niên

+ Nhà thơ thể hiện sự thơng tiếc trớc sự hi sinh của Lợm

+ Ca ngợi hình ảnh Lợm

* Kết bài:

- Hình ảnh Lợm sống mãi trong ký ức mỗi ngời

- Ngày nay đất nớc yên bình ta phải nhớ đến công lao của họ

- Chúng ta hãy học tập tốt để xây dựng đất nớc quê hơng ngày một tơi

đẹp hơn

2 Bài làm.

Trong thời kì kháng chiến đã có biết bao tên tuổi thiếu niên anh dũng ngã xuống vì độc lập, tự do của dân tộc Ngày nay mặc dù những hố bom chiến tranh đã lấp kín, không còn tiếng đạn bom, súng nổ, con ngời đang sống trong thời kì hoà bình Song trong chúng ta không thể quên đợc hình ảnh những con ngời đã quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh Trong văn học đã có rất

nhiều tác phẩm ghi lại sự hi sinh anh dũng của họ Bài thơ Lợm của Tố Hữu là

một bài nh thế

Bài thơ Lợm in trong tập thơ " Việt Bắc" Bài thơ đợc viết bằng thể thơ

bốn chữ, yếu tố tự sự kết hợp với yếu tố trữ tình một cách hài hoà Tác giả đã làm sống dậy trong tâm hồn tuổi thơ chúng ta hình ảnh một chú đội viên liên

Trang 10

lạc nhỏ tuổi trong kháng chiến chống Pháp với hình dáng bé nhỏ, nhanh nhẹn, hồn nhiên và vô cùng dũng cảm trong khói lửa chiến tranh

Mở đầu bài thơ, Tố Hữu nhắc lại một kỉ niệm trong những ngày đầu

kháng chiến thật là đáng nhớ: " Ngày Huế đổ máu", ngày mà quê hơng Huế

đang bị giặc Pháp dày xéo dã man Phố Hàng Bè là nơi hai chú cháu gặp nhau lần cuối cùng:

"Tình cờ chú cháu Gặp nhau Hàng Bè"

Khi ấy Lợm đã trở thành một ngời lính thực sự rất đáng yêu:

"Chú bé loắt choắt Cái xắc xinh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh Ca- lô đội lệch "

Cái xắc đựng công văn giấy tờ, cái ca lô là hai thứ quân trang mà Lợm

đã có, cũng với hai thứ ấy cho thấy Lợm thật sự là ngời lính đang tham gia chiến trờng Tác giả miêu tả đôi chân và cái đầu chú đội viên liên lạc thể hiện một con ngời nhanh nhẹn, hiếu động, hồn nhiên và tinh nghịch Ngời đội viên

liên lạc cần phải có " Cái chân thoăn thoắt" ấy Qua các từ láy tợng hình "

loắt choắt", "xinh xinh", "nghênh nghênh" Tố Hữu đã tạo nêm những nét đẹp

làm nổi bật cái thần bức chân dung tinh thần của chú Lợm

Với Lợm đợc đi chiến đấu là "vui", là "thích" Chú là một thiếu niên " Tuổi nhỏ chí cao": " Cháu đi liên lạc Vui lắm chú à ở đồn Mang Cá

-Thích hơn ở nhà!" Hầu nh ai cũng yêu, cũng quý cái cời của chú bé liên lạc: " Cháu cời híp mí - Má đỏ bồ quân" Lợm hồn nhiên, yêu đời Lợm thật đáng

yêu Ngời đội viên liên lạc thành phố Huế anh hùng khác nào con chim chích nhỏ, hót ríu ran tung bay trong nắng đẹp ; nắng hồng bình minh của bầu trời

tự do và cách mạng Những câu thơ diễn tả sợ hồn nhiên của chú Lợm thật là

hay, " Mồm huýt sáo vang" thể hiện tinh thần lạc quan của Lợm, mặc dù đang

trên đờng hoạt động cách mạng gian khổ:

" Ca lô đội lệnh Mồm huýt sáo vang

Nh con chim chích Nhảy trên đờng vàng ".

Ngày đăng: 31/03/2016, 23:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w