1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn ở trung học cơ sở

64 259 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 10,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng gồm các vấn đề cốt lõi về dạy học Ngữ Văn theo định hướng tích hợp và tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, nội dung phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa trong môn V

Trang 1

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

KHOA SƯ PHẠM TIỂU HỌC - MẦM NON

========= o0o ========

GIÁO TRÌNH (Lưu hành nội bộ) PHƯƠNG PHÁP KHÁM PHÁ KHOA HỌC VÀ MÔI

TRƯỜNG XUNG QUANH (Dành cho Cao đẳng Giáo dục mầm non hệ chính quy)

Tác giả: Lê Thị Vân

Năm 2017

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

KHOA SƯ PHẠM TIỂU HỌC - MẦM NON

========= o0o ========

GIÁO TRÌNH (Lưu hành nội bộ) ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở

TRUNG HỌC CƠ (Dành cho Cao đẳng sp Ngữ Văn hệ chính quy)

Tác giả: Nguyễn Thị Nga

Năm 2017

Trang 2

2

MỤC LỤC

CHUYÊN ĐỀ I: DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HOÁ

HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI HỌC 4

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 4

1.2 NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN THUẬT NGỮ DẠY HỌC TÍCH CỰC 7

1.3 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC 12

1.4 NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ THỰC HIỆN DẠY HỌC TÍCH CỰC .31

1.5 MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI Ở VIỆT NAM (DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG VNEN) 33

1.6 SOẠN BÀI, TẬP GIẢNG 44

1.7 THỰC TẾ CHUYÊN MÔN (dự giờ ở trường THCS) 44

CHUYÊN ĐỀ II: DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP TRONG MÔN NGỮ VĂN Ở THCS 45

2.1 Quan điểm dạy học theo hướng tích hợp 45

2.2 Khái niệm, vị trí, ý nghĩa của việc dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp 47

2.3 Các nguyên tắc tích hợp trong dạy học Ngữ văn ở THCS 50

2.4 Khả năng tích hợp trong dạy học Ngữ văn 51

2 5 Tích hợp trong phương pháp dạy học Ngữ văn 53

1.6 SOẠN BÀI, TẬP GIẢNG 57

1.7 THỰC TẾ CHUYÊN MÔN (dự giờ ở trường THCS) 57

CHUYÊN ĐỀ III: HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA MÔN NGỮ VĂN Ở THCS 3.1 Giới thiệu một số vấn đề lý thuyết về ngoại khóa 58

3.2 Các hình thức hoạt động ngoại khóa môn Ngữ văn và cách tổ chức thực hiện 59

Trang 3

3

LỜI NÓI ĐẦU

Bài giảng Đổi mới Phương pháp dạy học Ngữ Văn ở Trung học Cơ sở dùng

để đào tạo sinh viên theo chương trình Cao đẳng Sư phạm Ngữ Văn hệ chính quy Bài giảng thiết kế theo định hướng tăng thực hành, giảm lý thuyết Bài giảng gồm các vấn đề cốt lõi về dạy học Ngữ Văn theo định hướng tích hợp

và tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, nội dung phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa trong môn Văn ở THCS Bài giảng nhằm giúp cho sinh viên cơ sở khoa học để rèn luyện, nâng cao năng lực nghề nghiệp, chuyên môn Bài giảng có 3 chuyên đề:

Chuyên đề 1: Dạy học Ngữ Văn theo định hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh

Chuyên đề 2: Dạy học Ngữ Văn theo định hướng tích hợp

Chuyên đề 3: Hoạt động ngoại khóa trong môn Ngữ Văn ở Trung học Cơ sở

Tài liệu thiết kế theo chương trình chi tiết học phần, nhằm giúp sinh viên tích cực hoá hoạt động, kích thích óc sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề Trên

cơ sở bài giảng, giảng viên hướng dẫn sinh viên tự giám sát và đánh giá kết quả học tập Cũng từ đó có thể sử dụng tích hợp nhiều hình thức tổ chức dạy học và sử dụng các phương tiện dạy học khác nhau (tài liệu in, băng hình…) giúp người học dễ nắm bắt tri thức và tạo được hứng thú học tập

Tài liệu được biên soạn mới, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc, đặc biệt là đội ngũ giảng viên, sinh viên và giáo viên Trung học cơ sở

trong tỉnh Quảng Bình Xin trân trọng cảm ơn

Trang 4

4

CHUYÊN ĐỀ I: DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HOÁ

HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI HỌC 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1.1 Lịch sử vấn đề về PP dạy học tích cực

PP dạy học tích cực xuất hiện từ lâu trên thế giới và phát triển ở Việt Nam từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX trở lại đây Sự ra đời của nó gắn liền với trào lưu đổi mới giáo dục diễn ra mạnh mẽ mang tính toàn cầu

Bước vào thế kỷ XXI, PP dạy học tích cực được coi là nhân tố mới thúc đẩy nhà trường phát triển Gắn kết nhà trường hoà nhập với sự phát triển của khoa học công nghệ Theo định hướng của tổ chức Unesco năm 1996 thì triết lý giáo dục của thế kỷ XXI là:

+ Học suốt đời ( Life long learnning):năng lực học sinh nhờ vào cách học

+ Bốn trụ cột giáo dục:

- Học để biết (Cốt lõi là hiểu): To known

- Học để làm (Trên cơ sở hiểu): To do

- Học để cùng sống với nhau (Trên cơ sở hiểu nhau): to live together

- Học để làm người (Trên cơ sở hiểu bản thân) : To be

+ Xây dựng một xã hội học tập: bao gồm giáo dục nhà trường và ngoài xã hội trên tinh thần học thường xuyên, học suốt đời

1.1 2 Mối quan hệ của PP dạy học tích cực với các thành tố khác của quá trình

dạy học:

Theo quan điểm hệ thống thì qúa trình dạy học gồm có 6 thành tố: Mục tiêu, nội

dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá Các thành tố đó luôn tương tác

nhau tạo thành chỉnh thể vận hành trong môi trường giáo dục Trong đó 3 thành tố :Mục tiêu, nội dung và phương pháp là cơ bản nhất tạo thành “tam giác sư phạm” trong đó PPDH phải phù hợp với mục tiêu và nội dung dạy học

Mô hình tam giác sư phạm:

MỤC TIÊU

NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP

1.1.3.Sự cần thiết phải đổi mới PP dạy học theo hướng tích cực hóa HĐ học tập

của HS

- Những chủ trương lớn của Đảng và chính phủ

+ Nghị quyết TW của Đảng, các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ: để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển

Trang 5

sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước

- Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học

- Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục các cấp bậc học và trình độ đào tạo Phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới phương pháp dạy - học Đổi mới quản

lý giáo dục tạo cơ sở pháp lý và phát huy nội lực phát triển giáo dục

- Phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả

Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt;

có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa

và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình

độ tiên tiến trong khu vực

Trong Luật Giáo dục Luật có chú trọng đến mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân. Ở điều 24.2 có ghi: Phương pháp giáo dục phổ

thông phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ

Trang 6

Để thực hiện mục tiêu trên nội dung chương trình THCS được thiết kế theo hướng giảm tải lý thuyết kinh viện, tăng cường thực tiễn thực hành, thiết kế tích hợp Sự đổi mới về mục tiêu và nội dung dạy học tất yếu phải đổi mới PP dạy học

Từ những tư tưởng chỉ đạo đó, ngành giáo dục có cơ sở vững chắc để định hướng đúng phát triển giáo dục

Trước tình hình hiện nay (cả quốc tế lẫn trong nước) đã tạo thời cơ lớn đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho giáo dục Sự đổi mới và phát triển giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn cầu tạo nên cơ hội cho giáo dục Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với xu thế mới, tri thức mới (cơ sở lý luận, phương thức tổ chức, nội dung giảng dạy hiện đại ) và còn tận dụng những kinh nghiệm quốc tế để đổi mới và phát triển

Giáo dục nước ta phải vượt qua không chỉ những thách thức riêng của giáo dục Việt Nam mà cả những thách thức của giáo dục thế giới Một mặt phải khắc phục những yếu kém bất cập, phát triển mạnh mẽ để thu hẹp khoảng cách với những nền giáo dục tiên tiến cũng đang đổi mới và phát triển Mặt khác, phải khắc phục sự mất cân đối giữa yêu cầu phát triển nhanh quy mô và nguồn lực còn hạn chế, đòi hỏi gấp rút nâng cao chất lượng, giữa yêu cầu vừa tạo được chuyển biến cơ bản, toàn diện vừa giữ được ổn định tương đối của hệ thống giáo dục

Thực tiễn chuyển đổi cơ chế và phát triển kinh tế đòi hỏi giáo dục phải tiếp cận

và thích nghi với cơ chế mới, phải luôn đi trước một bước đón đầu sự phát triển của xã hội Dân tộc ta có truyền thống yêu nước, lao động cần cù, tinh thần hiếu học, năng lực tiếp thu, vận dụng tri thức và kỹ năng mới Cần phát huy những lợi thế đó để vượt qua thách thức, tranh thủ thời cơ xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại Giáo dục phải hướng tới một xã hội học tập, nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao phẩm chất toàn diện của con người Việt Nam trong thời đại mới, thúc đẩy tiến bộ xã hội

- Hướng tới mục tiêu giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ và thẩm mỹ, phát triển được năng lực của cá nhân Giáo dục

Trang 7

7

phải đào tạo những người lao động có kỹ năng nghề nghiệp, năng động sáng tạo, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Những con người ấy có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, có ý thức công dân, góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

- Do đó nếu cứ tiếp tục cách dạy học thụ động, giáo dục sẽ không đáp ứng yêu cầu mới của xã hội Sự thách thức của nguy cơ tụt hậu bằng cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi giáo dục phải đổi mới Để thực hiện được điều đó không thể không có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy học Có như thế mới đáp ứng được chiến lược phát triển nguồn lực con người phục vụ các mục tiêu kinh tế, xã hội, sự tiến bộ của khoa học công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh, làm cho dân giàu nước mạnh xã hội văn minh Bởi xuất phát từ quan điểm dạy học hiện đại, phải chuyển đổi cách nhìn và thay đổi hệ hình Từ chỗ coi người thầy là quyền uy tuyệt đối, còn trò chỉ thụ động ghi chép đến chỗ nhấn mạnh vai trò người học

Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề cấp bách đang được đặt ra cho ngành giáo dục trong vài thập niên lại đây và hiện nay càng cần thiết hơn bao giờ hết

1.2 NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN THUẬT NGỮ DẠY HỌC TÍCH CỰC

1.2.1 Tính tự lực

Tự lực là một phẩm chất nhân cách quan trọng, một giá trị nhân văn cốt lõi, là

nhu cầu, quyền sống và nghĩa vụ của con người Tính tự lực có ở mọi người, mọi lứa tuổi, tuy nhiên mức độ biểu hiện thì tuỳ thuộc vào đặc điểm cá nhân, điều kiện sống

và giáo dục

Tự lực theo tiếng Việt là làm việc gì tự mình với sức lực của bản thân, không

nhờ cậy ai Tính tực lực là phẩm chất của ý chí Tính tự lực là một thành phần năng lực của con người Tính tực lực xem xét như một trạng thái tâm lý của nhân cách, là hành vi đứng vững trong mọi hoàn cảnh Tự lực là phẩm chất trung tâm của nhân cách

Như vậy, tự lực là phẩm chất nhân cách được hình thành trong quá trình hoạt

động, thể hiện mối quan hệ của cá nhân với các sự vật, hiện tượng, người khác và bản thân Nó đặc trưng cho thái độ không phụ thuộc, sẵn sàng chịu trách nhiệm và niềm tin vào năng lực của mình Đó là thói quen tự giác, độc lập trong việc đặt mục đích, nhiệm vụ và tự điều khiển, kiểm tra bản thân Nó sử dụng tối đa các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, có sự nỗ lực cao về vị trí tuệ, thể lực và ý chí nhằm đạt mục đích nhất định để thoả mãn nhu cầu của bản thân và xã hội

Trang 8

8

Phẩm chất tự lực của con người có liên quan chặt chẽ đến biểu hiện tích cực, ý chí, tình cảm và các quá trình nhận thức

Để phát huy tính tự lực, con người cần có một số yếu tố sau:

- Kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo về các lĩnh vực hoạt động

- Quan hệ của cá nhân tới các thành phần của quá trình hoạt động như mục đích, nhiệm vụ, kết quả, khả năng tự điều khiển và kiểm tra bản thân

- Niềm tin vào sức mình và sự nỗ lực của ý chí

- Có tình cảm với kết quả và quá trình tự hoạt động

- Một số phẩm chất: Tự giác, tích cực, tính mục đích và tính kỉ luật

Giáo dục cho học sinh tính tự lập là mở ra cho thế hệ trẻ con đường tự phát triển những khả năng tiềm ẩn của bản thân Tạo cho họ niềm tin vững bước trong cuộc sống trên đôi chân của mình Chỉ có nhận thức một cách đầy đủ và toàn diện và phẩm chất

tự lực, các nhà giáo dục và các bậc phụ huynh mới đề ra các phương pháp, biện pháp thích hợp để giáo dục phẩm chất quan trọng này cho những chủ nhân tương lai của đất nước, góp phần giáo dục đào tạo họ thành những con người mới xã hội chủ nghĩa

Tính tích cực của học sinh có mặt tự phát và mặt tự giác:

Mặt tự phát của tính tích cực là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò

mò, hiếu kì, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà trẻ đều có ở những mức

độ khác nhau Cần coi trọng những yếu tố tự phát này, nuôi dưỡng, phát triển chúng trong dạy học

Mặt tự giác của tính tích cực là trạng thái tâm lí có mục đích và đối tượng rõ rệt,

do đó, có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học,

Hình thành và phát triển tính tích cực xã hội là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển xã hội Có thể xem tính tích cực như là một điều kiện, đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục

Trang 9

9

1.2.3 Tính tích cực học tập

Tính tích cực học tập và tích cực nhận thức có quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng không phải là một Có một số trường hợp, tính tích cực học tập thể hiện ở hành động bên ngoài, mà không phải là tích cực trong tư duy Đó là những điều cần lưu ý khi đánh giá tính tích cực nhận thức của học sinh

Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt động, đặc biệt trong hoạt động chủ động của chủ thể Học tập là nhiệm vụ chủ yếu và quan trọng bậc nhất của học

sinh Tính tích cực trong hoạt động học tập thực chất là tính tích cực nhận thức, cố

gắng trí tuệ, có nghị lực cao, mang khát vọng hiểu biết khám phá, sáng tạo của người học

Tính tích cực trong hoạt động học tập liên quan trước hết ở động cơ học tập Có

động cơ học tập đúng sẽ tạo ra được hứng thú trong quá trình học tập Hứng thú lại là

tiền đề, điều kiện của tự giác học tập Mặt khác hứng thú và tự giác là những yếu tố tâm lý cơ bản để tạo nên tính tích cực Hơn thế nữa tính tích cực trong hoạt động học tập lại quan hệ trực tiếp với tính tự lực, nếp tư duy, suy nghĩ độc lập Những yếu tố đó

là mầm mống của quá trình sáng tạo Tuy rằng quá trình nhận thức trong học tập không giống nhận thức trong nghiên cứu khoa học (nhằm phát hiện kiến thức mới, loài người chưa biết) Quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điểu loài người chưa biết mà nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích luỹ được Điều đó không có nghĩa là trong học tập, học sinh không khám phá, sáng tạo Học sinh phải thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm được qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình một cách có phương pháp khoa học

Tính tích cực học tập đạt những cấp độ từ thấp lên cao đầu tiên là bắt chước (gắng sức làm theo các mẫu hành động của thầy, bạn) Thứ đến là tìm tòi (độc lập kiếm tìm phương pháp để giải quyết vấn đề nêu ra) Cuối cùng là sáng tạo (tìm ra cách

giải quyết mới độc đáo )

Ngược lại tính tích cực trong hoạt động học tập đồng thời giúp phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập đúng đắn

Tính tích cực học tập nảy sinh trong quá trình nhận thức nhưng lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố (bản thân học sinh, nhà trường, gia đình, xã hội Trong những nhân tố trên đây, có những nhân tố có thể hình thành ngay, có nhân tố hình thành phải qua một quá trình lâu dài dưới ảnh hưởng của nhiều tác động Điều đó đòi hỏi để phát huy tính tích cực học tập của học sinh phải có kế hoạch lâu dài và toàn diện khi phối hợp hoạt động

Để giúp cho giáo viên phát hiện được học sinh có tính tích cực học tập phải dựa vào những biểu hiện cụ thể Các dấu hiệu chủ yếu của nó như: Hăng hái trả lời các câu

Trang 10

10

hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, tích cực phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra Có khi học sinh hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ Có thể học sinh chú ý học tập, chủ động vận dụng kiến thức vào thực hành các kĩ năng Trên cơ sở đó mà rút ra kiến thức mới Học sinh tập trung chú

ý vào vấn đề đang học, kiên trì hoàn thành các bài tập, vượt qua những tình huống khó khăn, Điều đó còn thể hiện việc tự giác học tập hay bị bắt buộc, tích cực nhất thời hay thường xuyên

1.2.4 Phương pháp tích cực

Phương pháp là một vấn đề sôi động, dễ và luôn thay đổi

Phương pháp là cách thức tiếp cận và giải quyết một vấn đề nào đó, là con

đường để thực hiện nhiệm vụ, để đạt mục đích

Phương pháp tích cực là thuật ngữ rút gọn để chỉ phương pháp dạy học theo

hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học

Trong dạy học truyền thống thầy giáo phải minh hoạ để làm sáng tỏ từ, cụm từ, xác định nội hàm, khoanh vùng ngoại diên Thầy nặng về truyền thụ kiến thức theo lối độc thoại một chiều Giáo viên chủ động truyền thụ, ban phát kiến thức Trò chỉ là người thụ động tiếp nhận theo kiểu nghe, ghi, nhớ Ở lớp trò chỉ chú ý tập trung ghi chép, xem đó như là mục tiêu nhiệm vụ duy nhất của người học

Phương pháp tích cực là dạy học thông qua tổ chức các hình thức học tập của

học sinh Ông A.Distecvec từng cho rằng: “Người thầy tồi là người cung cấp cho học

sinh chân lý, còn người giáo viên giỏi là người dạy cho họ cách tìm ra chân lý Tư

tưởng của ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều khiển, tổ chức dẫn dắt các hoạt động học tập cho học sinh của người thầy

Khi nói đến phương pháp tích cực là đề cập đến cả 2 phía của vấn đề: người dạy

và người học

+ Người dạy phải là người hỗ trợ, can thiệp, cộng tác, hợp tác Hơn thế là người

tổ chức hướng dẫn những tình huống học tập Quá trình đó có tác dụng kích thích óc

tò mò và tư duy độc lập của người học

+ Người học là người thợ chính của quá trình đào tạo Học tập và bồi dưỡng bao giờ cũng là việc làm của từng cá nhân Muốn thu lượm được kết quả đòi hỏi cá nhân phải nỗ lực học tập, xây dựng hứng thú, thói quen, rèn kỹ năng, kỹ xảo để phát huy năng lực, phát triển tư duy của mình Mục đích của dạy học là giúp người học có tri thức

- Phương pháp tích cực là phương pháp mà ở đó kiến thức phải được trình bày dưới dạng động, phải phát huy được sức mạnh của bản chất ý chí, trí tuệ, tâm hồn của người học Đặc biệt sức mạnh tâm hồn (hứng thú, cảm xúc) là những điều lâu nay

Trang 11

11

chưa được chú ý, nhận thức đúng mức Cốt lõi của vấn đề đổi mới phương pháp dạy học là đề cao vai trò chủ động, tích cực của người học trong hoạt động nhận thức Phương pháp tích cực hướng tới người học, lấy người học làm trung tâm, chứ không chú trọng tập trung vào người dạy Tuy nhiên để làm tốt vai trò người hướng dẫn tổ chức, người dạy phải nỗ lực không ngừng, học hỏi, khám phá, đặc biệt phải đổi mới cách dạy

- Trong nội hàm của phương pháp tích cực có cả hoạt động của người học Do

đó để hoạt động dạy theo hướng tích cực thành công phải có sự phối hợp giữa thầy và trò Thầy hăng hái hướng dẫn, tổ chức dạy học theo tinh thần tích cực, đòi hỏi trò cũng phải tự vận động, chủ động, tích cực, sáng tạo trong việc học

Để nâng cao hiệu quả của dạy học người giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động, khơi dậy hứng thú cho người học, biết điều chỉnh để xây dựng cho học sinh thói quen học theo phương pháp chủ động Luôn có ý thức tự học, tự chiếm lĩnh tri thức Phương pháp dạy cho phù hợp hoàn cảnh, đối tượng, môi trường Nó đòi hỏi người dạy phải tự tin, thành thạo, khéo léo, có kỹ năng, kỹ xảo thì sử dụng phương pháp tích cực mới thành công

1.2.5 Quan hệ giữa dạy và học tích cực với dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Quá trình dạy học gồm 2 mặt quan hệ hữu cơ: hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Người giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy với hai chức năng truyền đạt và chỉ đạo tổ chức Từ dạy học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, mà trở

thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập của học sinh Do đó

giáo viên đã phải đầu tư công sức, dành nhiều thời gian hơn so với kiểu dạy học thụ động mới có thể thực hiện được vai trò và nhiệm vụ của mình Là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh, giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, kỹ năng sư phạm lành nghề Bởi việc tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến

Học sinh là đối tượng (khách thể) của hoạt động dạy, nhưng lại là chủ thể của hoạt động học tập với hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo, tự tổ chức Người học phải

tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái

độ theo yêu cầu của chương trình Một điều cần đặc biệt chú ý là hoạt động học tập chỉ có thể đạt hiệu quả, nếu học sinh tiến hành một cách tích cực, chủ động, tự giác, với một động cơ nhận thức sâu sắc Bằng hoạt động học tập, mỗi học sinh tự hình thành và phát triển nhân cách của mình

Trang 12

12

Các tài liệu giáo dục ở nước ngoài và trong nước luôn nói đến việc cần thiết phải chuyển từ dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm

- Kiểu dạy học lấy học sinh làm trung tâm là kiểu dạy lấy học sinh làm tiêu điểm, dạy căn cứ vào người học, hướng vào người học Kiểu dạy này được xây dựng trên cơ sở nhu cầu hứng thú thói quen, năng lực của học sinh nhằm giúp chúng lĩnh hội tri thức kỹ năng

- Dạy học tích cực lại cũng là phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học Thông qua hoạt động học dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực cải biến chính mình về kiến thức, kỹ năng thái độ, hoàn thiện nhân cách và không ai có thể làm thay

Như vậy:

+ Quan hệ giữa dạy học tích cực và dạy học lấy học sinh làm trung tâm có chung

nội hàm Đó là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Nó phát huy tối đa nội lực của người học

+ Điểm khác nhau cơ bản giữa chúng là: Dạy học tích cực là một phương pháp

cụ thể Còn dạy lấy học sinh làm trung tâm là một tư tưởng, một quan điểm giáo dục

Nó là một cách tiếp cận quá trình dạy học Nó không chỉ liên quan đến phương pháp

mà có thể chi phối mục tiêu, nội dung, phương tiện tổ chức, đánh giá của quá trình dạy học

Đó là mối quan hệ mật thiết giữa dạy học tích cực và dạy lấy học sinh làm trung tâm

1.3 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC

1.3.1 Hướng thực hiện dạy và học tích cực

Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp dạy học truyền thống Việc lựa chọn phương pháp dạy học chịu ảnh hưởng của nhiều quan niệm khác nhau Để đạt được mục tiêu dạy học tập trung vào học sinh Hướng dạy học phải phát huy những mặt tích cực và loại bỏ tiêu cực trong phương pháp truyền thống Trong hệ thống các phương pháp dạy học quen thuộc, được đào tạo trong các trường

sư phạm nước ta từ mấy thập kỷ gần đây cũng đã có nhiều phương pháp tích cực

Lý luận dạy học đã chỉ rõ cần quan tâm tới mặt bên trong của phương pháp dạy học Mặt bên ngoài của phương pháp dạy học là những thao tác hành động của thầy và trò, có thể dễ dàng quan sát trên lớp học (thầy đặt câu hỏi, thầy trình diễn thí nghiệm, trò quan sát) Mặt bên trong là cách tổ chức quá trình nhận thức Quá trình này diễn ra trong đầu óc của học trò, khó nhận thấy hơn Các sách lý luận dạy học đã chỉ rõ, về mặt hoạt động nhận thức, phương pháp thực hành “tích cực” hơn các phương pháp

Trang 13

Nhóm các phương pháp trực quan thì phương tiện trực quan được sử dụng như là

“nguồn” chủ yếu để dẫn đến kiến thức mới Việc sử dụng một cái tranh, một mô hình, một thí nghiệm sẽ đem lại những hiệu quả sư phạm khác nhau khi được giáo viên sử dụng theo lối giải thích- minh hoạ, tìm tòi từng phần hay nghiên cứu phát hiện Ở đây lời của thầy chỉ đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn sự tri giác tài liệu trực quan (mẫu vật, tranh ảnh, thí nghiệm, băng hình ) và giúp học sinh khái quát hoá các kết quả quan sát Trong các phương pháp trực quan, học sinh dùng các giác quan để tri giác tài liệu

do giáo viên trình diễn và dùng tư duy để rút ra kiến thức mới

Trong nhóm các phương pháp dùng lời (thuyết trình) thì có lời của thầy, trò, sách Ba kiểu lời này đóng vai trò là “nguồn” tri thức chủ yếu, nhưng đặc biệt quan trọng lại chính lời của thầy Trong đó cũng có sử dụng các phương tiện trực quan nhưng nó chỉ đóng vai trò minh hoạ cho lời của thầy Ỏ nhóm phương pháp này, ngay

cả khi tập trung vào giáo viên như thuyết trình, trần thuật, giảng giải cũng vẫn rất cần thiết Bởi nó không chỉ dùng phương pháp này mà còn sử dụng cả phương pháp vấn đáp, làm việc với sách, viết báo cáo nhỏ nên đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi để phát huy tính tích cực của người học

Muốn thực hiện dạy và học tích cực thì cần phát triển các phương pháp thực hành, các phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu phát hiện

Tóm lại: Trong đổi mới phương pháp dạy học vẫn kế thừa, phát triển những mặt tích cực trong phương pháp dạy học truyền thống Mặt khác giáo viên phải học hỏi, vận dụng một số phương pháp dạy học mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta để đạt hiệu quả giáo dục cao Vì vậy cần quan tân phát triển một số phương pháp sau

1.3.2 Những phương pháp tích cực cần được phát triển ở trường THCS

* Vấn đáp

Vấn đáp (đàm thoại) là hình thức đối thoại trong dạy học Đó là phương pháp giáo viên đặt có thể ra những câu hỏi để học sinh trả lời Học sinh cùng nhau tranh luận và cả với giáo viên Từ đó các em lĩnh hội được nội dung bài học, đồng thời giúp giáo viên hiểu khả năng học sinh, rèn luyện tính độc lập, tư duy phê phán (những

Trang 14

14

phẩm chất cần thiết của nhân cách sáng tạo) Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt ba cấp vấn đáp

- Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại

kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Đó là một biện pháp được dùng giúp khôi phục những hiện tượng hiện có của học sinh về vấn đề sắp học

Đó là khi cần đặt mối liên hệ giữa kiến thức cũ với kiến thức mới Nó huy động vốn hiểu biết cũ làm chỗ dựa cho việc tìm hiểu tri thức Cũng có thể sử dụng khi cần củng

cố kiến thức vừa học xong

- Vấn đáp giải thích minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một vấn đề nào đó

bằng việc giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo ví dụ minh hoạ để giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn

- Vấn đáp tìm tòi tức đàm thoại có tính chất nghiên cứu (đàm thoại ơrixtic) nhằm

làm giàu thêm kiến thức mới dựa trên sự tri giác của học sinh Bằng hệ thống câu hỏi dẫn dắt, giáo viên định hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất, tính quy luật của sự vật hiện tượng đang tìm hiểu Đồng thời kích thích óc tò mò, lòng ham muốn hiểu biết, khám phá Giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi ý kiến và tranh luận với nhau, nhằm giải quyết vấn đề Trong loại vấn đáp này, giáo viên tổ chức sự tìm tòi còn học sinh như người tự lực phát hiện kiến thức mới Nó có tác dụng khiêu gợi hoạt động tư duy độc lập của học sinh Vì vậy khi kết thúc cuộc đàm thoại, các em có được niềm vui của sự khám phá, trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy Hiện nay,

đa số giáo viên dừng lại ở phương pháp vấn đáp kiểm tra tái hiện hoặc vấn đáp giải thích- minh hoạ

* Dạy và học giải quyết vấn đề

a Mục đích dạy học nêu và giải quyết vấn đề: nhằm đổi mới hoạt động dạy học dựa trên quy luật nhận thức tri thức một cách sáng tạo trên tinh thần tìm tòi khoa học Dạy học nêu vấn đề góp phần phát triển năng lực tư duy, chủ động sáng tạo trong việc cảm thụ văn học

b Bản chất của dạy học nêu vấn đề: Dạy học nêu vấn đề là việc giáo viên tạo ra một chuỗi tình huống có vấn đề (bài toán nhận thức) để học sinh giải quyết lĩnh hội kiến thức Đó là những tình huống chứa đựng mâu thuẫn kích thích tâm lý HS hứng thú tìm hiểu phát hiện nhận diện giữa cái đã biết và chưa biết nhưng khát khao nhận biết Giải quyết bài toán nhận thức đó không thể trả lời ngay bằng những kiến thức có sẵn trong sách mà HS phải tư duy suy ngẫm để trả lời (Có thể cho HS thảo luận theo nhóm)

Vd: Hành động chị Dậu bán con có trái với đạo lý tryền thống không? Vì sao?

Trang 15

15

c Một số biểu hiện tình huống có vấn đề trong dạy học văn:

+ Tình huống nghịch lý: là tình huống mới thoạt nhìn có vẻ vô lý không phù hợp với quy luật nhận thức thông thường nhưng lại hợp lý trong ngữ cảnh văn bản nghệ thuật (Phi logic trong cuộc sống nhưng lại có lý trong nghệ thuật)

Vd: Chi tiết “Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen”, “Gió theo lối gió mây đường mây”

+Tình huống lựa chọn: Là tình huống đưa ra nhiều phương án đối sánh từ đó lựa chọn tìm ra phương án giải quyết tối ưu nhất

Vd: GV có thể đưa ra phương án giả định khác với cách giải quyết của tác giả trong tác phẩm để HS phân tích, hoặc đưa ra nhiều hướng hiểu khác nhau để từ đó xác định

hướng hiểu đúng nhất Bài ca dao “Anh đi anh nhớ quê nhà”

+Tình huống “Tại sao”: là hệ quả của cả hai tình huống trên dưới dạng thức câu hỏi cắt nghĩa lý do vì sao lại như thế

Đó là phương pháp nêu vấn đề để khiêu gợi hoạt động tư duy độc lập của học sinh Qua đó giúp cho các em có sự tiếp thu tích cực hơn

Cấu trúc một bài học (hoặc một phần) ở hướng đặt và giải quyết vấn đề thường theo các bước như sau:

1) Đặt vấn đề (xây dựng nhận thức)

a) Tạo tình huống có vấn đề

b) Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh

c) Phát biểu vấn đề cần giải quyết

2) Giải quyết vấn đề đặt ra

a) Đề xuất cách giải quyết

b) Lập kế hoạch giải quyết

c) Thực hiện kế hoạch giải quyết

3) Kết luận

a) Thảo luận kết quả đánh giá

b) Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra

c) Đề xuất vấn đề mới

Trong dạy- học đặt và giải quyết vấn đề có thể phân biệt bốn mức trình độ

Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện

cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kết quả việc làm của học sinh

Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết Học sinh

thực hiện với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần Giáo viên và học sinh cùng tham gia đánh giá

Trang 16

16

Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin, tạo tình huống có vấn đề Học sinh phát

hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề Giáo viên và học sinh cùng đánh giá

Mức 4: (cao nhất) Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh, lựa

chọn vấn đề phải giải quyết Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc

Hiện nay nhiều giáo viên đã biết áp dụng ở mức 1 và 2 Cần phấn đấu để ngày càng có nhiều bài học thành công ở mức 3 và 4

Trong dạy học đặt và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực sáng tạo

Nhờ thế các em được chuẩn bị một năng lực: Phát hiện và giải quyết kịp thời hợp lý

các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống xã hội

Dạy và học đặt và giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm trù phương pháp dạy học Nó đòi hỏi cải tạo nội dung, đổi mới cách tổ chức trong mối quan hệ thồng nhất với phương pháp dạy học Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt, việc phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập là cơ hội giúp các em phát triển năng lực cần thiết đối với cá nhân, gia đình, cộng đồng Nó không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt ra như một mục tiêu giáo dục và đào tạo

Chú ý:

+ Hệ thống câu hỏi nêu vấn đề khác với câu hỏi tái hiện:

- Câu hỏi tái hiện tuy học sinh cũng động não tư duy nhưng chỉ nhằm tái hiện những kiến thức cũ hoặc có sẵn trong sách giáo khoa, bài học

Vd:Nêu ý nghĩa nhân đạo của truyện Kiều

- Câu hỏi nêu vấn đề không thể trả lời bằng những tri thức hiểu biết cũ mà đòi hỏi học sinh phải tư duy sáng tạo (phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu) để giải quyết bài toán nhận thức

Vd: Trong truyện Kiều Nguyễn Du quan niệm :“Ngẫm hay muôn sự tại trời” nhưng

có khi ông lại tâm niệm: “ Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” Tại sao lại có

Trang 17

17

không nên nhiều lắm Khi tung vấn đề cho học sinh, giáo viên phải định hình phương

án giải đáp khoa học dựa vào nội dung kiến thức bài học, tránh rơi vào việc đánh đố học sinh

Là họat động dạy học sáng tạo Nó khác về bản chất so với lối dạy truyền thống cả mục đích cũng như phương thức thực hiện Nguyên tắc cơ bản của nó là song song với lĩnh hội tích cực kiến thức là sự phát triển năng lực sáng tạo Con đường hình thành nhân cách và lĩnh hội kiến thức phải thông qua sự vận động bên trong của bản thân chủ thể học sinh

Trong hoạt động của tư duy tái hiện, người học sinh phải vận dụng những năng lực ghi nhớ, lặp lại Trong hoạt động sáng tạo, học sinh không những chỉ tái hiện kiến thức mà còn biết tự mình vận dụng kiến thức một cách linh hoạt sáng tạo trong những tình huống mới Muốn vận dụng sáng tạo kiến thức cần phải có những khả năng chuyển hoá phạm trù kiến thức, phải biết định hướng được kiến thức, biết phát hiện ra những chức năng mới của kiến thức cũ, biết phát hiện nhanh chóng cấu trúc bản chất của đối tượng mới Biết tìm ra những phương thức giải quyết khác nhau để có thể lựa chọn được phương án tối ưu, v.v Tất cả những phẩm chất này không có được trong phương pháp dạy học truyền thống Chính vì vậy, dạy học nêu vấn đề ngày càng chiếm được sự đồng tình của các nhà khoa học và các nhà sư phạm trên con đường tối

ưu hoá dạy học để đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng mẫu người công dân mới cho chủ nghĩa xã hội

Nói đến dạy học nêu vấn đề là phải bàn đến con đường riêng để tiến hành quá trình dạy học Con đường và cũng là nội dung thực hiện dạy học nêu vấn đề là quá trình xây dựng và giải quyết một cách khéo léo hệ thống tình huống có vấn đề

Dạy học nêu vấn đề là một hệ thống tình huống có vấn đề được đặt ra gắn liền với nhau và trong quá trình đó, học sinh dưới sự giúp đỡ và hướng dẫn của giáo viên, nắm được nội dung bộ môn, phương thức học tập và phát triển ở mình những phẩm chất cần thiết cho một thái độ sáng tạo đối với khoa học và đời sống

Tạo được tình huống có vấn đề trong giảng văn là tạo được một trạng thái tâm

lý văn học cần thiết để mở đầu cho quá trình giảng văn đạt được hiệu quả mong muốn Xây dựng được tình huống có vấn đề trong dạy văn, trong giảng văn là một hoạt động

sư phạm phù hợp với mục đích dạy học mới hiện nay, vừa thích ứng với quy luật cảm thụ văn học và đặc trưng của văn học

Nhưng muốn xây dựng được tình huống có vấn đề trước hết lại phải biết xây dựng được một hệ thống câu hỏi nêu vấn đề

Câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học nêu vấn đề hoàn toàn khác về bản chất với câu hỏi trong phương pháp dạy học tái hiện Có một số người nghĩ rằng câu hỏi nêu ra

Trang 18

có thể tự nêu ra hoặc qua gợi ý của giáo viên) và chính học sinh cũng đã có một số dữ kiện (tri thức kinh nghiệm kỹ năng) song không thể tìm được lời giải bằng chính những hiểu biết cũ và theo phương thức hành động cũ Có thể nêu ra hai loại câu hỏi khác nhau về một vấn đề cần kiểm tra học sinh

Câu hỏi nêu vấn đề chứa đựng một dung lượng rộng lớn bao la gồm một tư liệu rộng rãi Nó mang tính chất tổng hợp bao gồm nhiều mối liên hệ giữa các yếu tố, các

sự kiện nhằm sáng tỏ quan điểm chung của tác giả trong tác phẩm Dĩ nhiên có những câu hỏi tái hiện cũng bao gồm một dung lượng khá lớn nhưng điều cần chú ý là dung lượng vẫn chưa phải là dấu hiệu bản chất Bản chất của vấn đề chính là ở chỗ nó mang tính chất tái hiện, hay sáng tạo? Nó có mang tính ý thức của chủ thể khi tiếp nhận hay

là do từ ngoài dội vào?

- Câu hỏi nêu vấn đề thường có tính chất phức tạp về nội dung Nó gợi lên những mâu thuẫn giữa cái đã biết với cái chưa biết, giữa cái cũ và cái mới trong nhận thức của học sinh, mâu thuẫn giữa nhận thức của học sinh với tác giả, giữa học sinh với nhau về một vấn đề trung tâm nào đó trong tác phẩm

- Câu hỏi phải mang tính hệ thống liên tục Mục đích việc phân tích là dẫn dắt học sinh từng bước khám phá ra quan điểm tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của tác giả Cho nên quá trình phân tích là quá trình giải quyết từng bước những vấn đề đặt ra trước học sinh Mỗi câu hỏi là một cái mốc cho câu trước, câu trước chuẩn bị cho câu sau, làm thành một chuỗi những liên hệ nối tiếp nhau trong một hệ thống vấn đề, phản ánh được bản chất nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

- Câu hỏi phải sát hợp với tác phẩm và khêu gợi hứng thú của bản thân học sinh Câu hỏi nêu vấn đề chỉ có thể nảy sinh thực sự trên giao điểm của tuyến phát triển lôgic của tác phẩm với niềm hứng thú của học sinh Giáo viên cần tính toán để xây dựng được câu hỏi vừa phản ánh bản chất của tác phẩm vừa nằm trong tầm cảm nghĩ của học sinh Mất đi một trong hai tính chất đó, câu hỏi không còn giá trị nêu vấn

đề nữa Đây là sự kết hợp giữa khách thể và chủ thể, trong hoạt động nhận thức vấn đề được đặt ra nhưng chỉ có thể có ý nghĩa khi được chủ thể tiếp nhận Ngược lại, khi được chủ thể tiếp nhận và hứng thú tìm tòi khám phá chính là vì thực tại đã đặt ra những điều kiện cho phép giải quyết vấn đề Đúng như Mác đã từng nói: “Vấn đề chỉ

Trang 19

là trung tâm và giáo viên không độc chiếm diễn đàn

- Hình thức lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ (nhóm 2, 3, 6) Tuỳ mục đích yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định Nó có thể được duy trì ổn định hoặc thay đổi trong từng phần của tiết học, giao cùng một nhiệm vụ hoặc những nhiệm vụ khác nhau Nhóm tự bầu nhóm trưởng, hoặc giáo viên cử nếu cần

- Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc Mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại một vài người hiểu biết và năng động Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp Để trình bày các kết quả làm việc của mình trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần (nếu nhiệm

a) Phân công trong nhóm

b) Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm c) Cử đại diện (hoặc phân công) trình bày kết quả làm việc theo nhóm

3) Tổng kết trước lớp

a) Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả

Trang 20

20

b) Thảo luận chung

c) Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo

- Trong hoạt động nhóm thường sử dụng các loại hình bài tập :

+ Bài tập cho hoạt động trao đổi: Ở đây nhóm phải giải quyết những vấn đề khác nhau (cùng một chủ đề) Sau đó cả nhóm trao đổi giải quyết vấn đề của mình với nhóm khác nhau

+ Bài tập cho hoạt động so sánh: Ở đây tất cả các nhóm cùng giải quyết một vấn đề sau đó so sánh cách giải quyết khác nhau của các nhóm

- Mục đích của phương pháp dạy học hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia xẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên Ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm, là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới phương pháp dạy học, hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới

Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên Vì vậy phương pháp này còn được gọi là phương pháp cùng tham gia Trong hoạt động nhóm tư duy độc lập của học sinh phải được phát huy cao độ

*Dạy học theo góc

Học theo góc là một phương pháp dạy học, theo đó HS thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học nhằm tạo ra một môi trường học tập có tính kích thích HS tích cực thực hành, khám phá và trải nghiệm thông qua các hoạt động, đảm bảo cho

HS được học sâu và thoải mái

Ví dụ: 4 góc cùng thực hiện một nội dung và mục tiêu học tập nhưng theo các phong cách khác nhau và sử dụng các phương tiện/ đồ dùng học tập khác nhau

Góc quan sát: HS có thể quan sát mẫu vật thật hoặc quan sát hình ảnh vật, thí nghiệm,

hiện tượng… trên màn hình máy tính hoặc tivi, rút ra kiến thức cần lĩnh hội

Góc thí nghiệm (Góc trải nghiệm): HS tiến hành thí nghiệm theo nhóm, quan sát hiện

tượng, giải thích và rút ra nhận xét cần thiết

Góc phân tích: HS đọc tài liệu SGK và tài liệu tham khảo để trả lời câu hỏi và rút ra

kién thức mới cần lĩnh hội

Góc áp dụng: HS đọc bảng trợ giúp (chỉ đối với góc xuất phát) sau đó áp dụng để giải

bài tập hoặc giải quyết một vấn đề có liên quan đến thực tiễn

Trang 21

21

Một số lưu ý khi tổ chức dạy học theo góc

- Tính phù hợp (chọn nội dung bài học phù hợp với đặc trưng học theo góc, chuẩn bị

tư liệu đầy đủ ở mỗi góc )

- Sự tham gia (học sinh được chọn góc xuất phát và tích cực tham gia vào các hoạt động một cách chủ động tích cực, đảm bảo học sâu và thoải mái)

- Tương tác và sự đa dạng (Tương tác giữa GV- HS và giữa HS-HS được thúc đẩy)

- Có thể tổ chức 3 hoặc 4 góc tuỳ theo điều kiện và nội dung bài học

* Dạy Tiếng Việt theo quan điểm hoạt động lời nói và lý thuyết giao tiếp

* Phương pháp giao tiếp là gì?

Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lý thuyết

đã học vào việc thực hiện các nhiệm vụ giao tiếp cụ thể bằng Tiếng Việt

* Các thao tác cơ bản:

- Tạo các tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp ở học sinh

- Học sinh phải định hướng giao tiếp: nói với ai, nói cái gì? nói và viết những gì? trong hoàn cảnh nào?

- Học sinh căn cứ vào nhiệm vụ giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp mà vận dụng các phương tiện ngôn ngữ để tạo ra lời nói cụ thể

- Đánh giá, nhận xét, rút kinh nghiệm

Phương pháp giao tiếp được áp dụng một cách tích cực trong mọi giờ học, đặc biệt là giờ Tiếng dạy Trong thực tế dạy học người giáo viên phải tuỳ vào đối tượng, bài dạy cụ thể để lựa chọn phương pháp tối ưu nhưng cũng có thể sử dụng nhiều phương pháp trong cùng bài dạy

a.Ý nghĩa việc dạy tiếng Việt theo hướng giao tiếp:

+ Tiếng Việt vừa tồn tại ở dạng tĩnh vừa tồn tại ở dạng động Một mặt tiếng Việt là một hệ thống kết cấu như một thực thể được cả cộng đồng người Việt chấp nhận, mặt khác tiếng Việt lại được thể hiện ra ngoài như một phương tiện để thực hiện hoạt động giao tiếp Chỉ có trong giao tiếp tiếng Việt mới thể hiện cụ thể đặc trưng hệ thống của mình Thông qua hoạt động giao tiếp trong mối quan hệ với các nhân tố giao tiếp các quy luật sử dụng tiếng Việt mới bộc lộ

+ Bản chất môn tiếng việt trong nhà trường THCS góp phần sử dụng thành thạo tiếng Việt, rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, gắn kết ngôn ngữ với chức năng sử dụng ( tính hành chức của ngôn ngữ) Chương trình tiếng Việt gần đây đã chú ý đến vấn đề ngữ dụng học Do vậy dạy học tiếng Việt theo quan điểm hoạt động lời nói và

lý thuyết giao tiếp là định hướng cơ bản trong quá trình dạy học

b Sự thể hiện quan điểm giao tiếp trong việc dạy học tiếng Việt:

Trang 22

*Dạy làm văn theo loại hình văn bản, phương thức biểu đạt gắn kết với đời sống xã hội của học sinh

+ Trong ba phân môn thì làm văn có vị trí đặc biệt, một mặt nó là phân môn thể hiện kết quả học tập ở hai phân môn văn và tiếng việt, mặt khác nó lại là địa bàn ở đó học sinh hình thành những kỹ năng nghe nói đọc viết các dạng thức văn bản thông dụng theo những yêu cầu hội nhập đời sống xã hội Những bài tập làm văn trong nhà trường

là những văn bản được tạo lập theo các phương thức biểu đạt (Tự sự, miêu tả, biểu cảm, Lập luận) tương ứng với các loại hình văn bản như: tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận, điều hành)

+ Thông thường trong các tác phẩm văn học hoặc văn bản nhật dụng các phương thức biểu đạt trên được sử dụng đồng thời đan xen với nhau nhằm đạt đến đích chung của văn bản Do đó khi dạy giáo viên cần khai thác triệt để những yếu tố trong các phương thức biểu đạt tạo lập văn bản

+ Trong quá trình giao tiếp, những tình huống trong đời sống xã hội thường phải sử dụng những phương thức biểu đạt nói trên Do vậy kiến thức về các loại hình văn bản, các phương thức biểu đạt trong môn làm văn đều được ứng dụng trong đời sống

xã hội Dạy học làm văn không chỉ trình bày lý thuyết mà mục đích hướng đến thực hành vận dụng, phải đặt học sinh vào ngữ cảnh giao tiếp cụ thể để tạo lập văn bản

* Dạy học theo dự án

a Học theo dự án là gì ?

Trang 23

23

Học theo dự án (Project Learning) còn có tên gọi khác là “Học dựa trên dự án”

(Project based learning) Học theo dự án là một phương pháp học tập mang tính xây

dựng, trong đó học sinh tự đưa ra sáng kiến và thực hiện xây dựng phiếu hỏi, thu thập thông tin, phân tích dữ liệu và đưa ra nhận định, kết luận về các vấn đề cụ thể

Học theo dự án (Project Work) là một hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho học sinh

tổng kợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một cách sáng tạo vào thực

Chủ đề được diễn đạt tốt nhất dưới dạng một vấn đề Nên bắt đầu bằng một vấn đề cần phải giải quyết Kết quả cuối cùng của dự án sẽ là lời giải cho vấn đề đó Điều này kích thích học sinh hoạt động, lên kế hoạch và đặt mục tiêu đề ra

Khi chưa quen làm việc giải quyết vấn đề, học sinh thường có xu hướng lựa chọn các chủ đề, những đề tài mà mình quan tâm, hứng thú

Khi lựa chọn chủ đề và xây dựng các tiểu chủ đề để thiết kế dự án, sơ đồ tư duy là công cụ có hiệu quả để xác định, lựa chọn ý tưởng dự án cũng như những vấn đề cần giải quyết xung quanh chủ đề dự án, nói cách khác là xác định quy mô

nghiên cứu của dự án

• Xây dựng kế hoạch thực hiện:

Trong giai đoạn này, HS với sự hướng dẫn của GV xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm

Trong giai đoạn này, để thuận lợi khi xây dựng ý tưởng mới xung quanh chủ đề đã lựa chọn cũng có thể sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi Trong các câu hỏi này, câu hỏi Tại sao

và Như thế nào là quan trọng nhất

Hoạt động lập kế hoạch các nhiệm vụ học tập nhằm giúp cho các thành viên trong nhóm biết được ai sẽ làm nhiệm vụ gì và thời hạn hoàn thành Đây là hoạt động hợp tác giữa các thành viên, đòi hỏi mỗi thành viên phải ý thức phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau để hoàn thành dự án Việc phân công nhiệm vụ cho các thành viên có thể mô

tả chi tiết qua bảng sau:

Tên thành viên Nhiệm vụ Thời hạn hoàn thành

Trang 24

24

Nguyễn Thanh Đạt (Trưởng nhóm) … …

Bùi Thị Thanh Ngân … …

• Thực hiện dự án:

Trong giai đoạn này, dự án được định hình Người học học bằng cách nghiên cứu, biến đổi hoặc tạo ra thông tin mới trong sự hợp tác để đi đến kết quả chung Họ thu thập

dữ liệu, tiến hành các thí nghiệm, gặp gỡ các nhân vật cần thiết, phân tích, so sánh, cân,

đo, tính toán, viết, vẽ, tranh luận Máy tính cung cấp dữ liệu cập nhật về một số lớn các thông tin và các vấn đề thực tế, tạo thuận lợi cho sự hợp tác giữa các thành viên của cùng lớp học hoặc với các lớp học khác Tổng hợp những đóng góp là một hoạt động cần thiết của việc thực hiện dự án Hoạt động này thường thể hiện ở hai mặt: việc giới thiệu cho toàn lớp những đóng góp của nhóm nhỏ, đồng thời là dịp để thành viên này hay thành viên khác điều chỉnh bởi chính họ để có sản phẩm của tập thể, của cả lớp Những đóng góp khác nhau sẽ được giới thiệu và mỗi đóng góp nhằm theo đuổi một câu hỏi để mang đến những sản phẩm chung

Trong quá trình này, giáo viên tạo thuận lợi cho sự trao đổi thường xuyên và cởi mở giữa các thành viên, tạo sự tìm kiếm thông tin từ các nguồn tài liệu có sẵn bên cạnh sự chịu trách nhiệm về những nhiệm vụ, mời các nhóm thường xuyên đánh giá sự tiến triển của công việc và tận dụng dịp này để động viên, kích thích, và chỉnh sửa để nhằm đến đích Những chiến lược người học sử dụng cần phải trở thành đối tượng của

sự quan sát liên tục của giáo viên Tuy nhiên, tác động của giáo viên cần mang đến một không khí cởi mở Những câu hỏi về các hoạt động của nhóm, về sự chịu trách nhiệm, về phương pháp nghiên cứu, về sự phân biệt giữa cái đúng và cái sai, sẽ dẫn đến những đề nghị hấp dẫn đối với các dự án tương lai

Khi thực hiện dự án, các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân, HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành Những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau, như:

- Thu thập các đồ dùng, tài liệu cần thiết

- Nghiên cứu trong lớp

- Nghiên cứu trong thư viện

- Có sự tham gia của phụ huynh học sinh

- Xin “chuyên gia” tư vấn – viết thư - phỏng vấn - gọi điện thoại xin hẹn

- Phiếu hỏi – thu thập tạp chí để tìm thông tin – videos – sách trẻ em

- Thu thập các bài báo, chỉnh sửa và viết lại sao cho dễ hiểu

Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra

Trang 25

25

• Thu thập kết quả và công bố sản phẩm:

Kết quả thực hiện dự án có thể được công bố dưới dạng bài thu hoạch, báo cáo bằng văn bản, bài trình diễn powerpoint Trong nhiều dự án, các sản phẩm vật chất được tạo

ra qua hoạt động thực hành như: mô hình máy phát điện, mô hình mạng điện, Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một buổi tuyên truyền nhằm tạo ra các tác động xã hội, phòng triển lãm trưng bày tranh ảnh

Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm học sinh trong một lớp, có thể được giới thiệu trước toàn trường, hay ngoài xã hội

• Đánh giá dự án:

GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được

Cần phải trả lời các câu hỏi:

- Dự án vừa thực hiện có cho phép một sự học tập tích cực hay không?

- Trong tương lai dự án có thể thực hiện khác được không?

- Hướng phát triển tiếp theo của dự án là gì?

Do đó cần tiến hành hoạt động xem xét lại dự án: trở lại dự án để thực hiện việc tổng

kết và đưa ra các kết luận rộng hơn Nó có thể xoay quanh câu hỏi: Mục đích học tập đạt được hay chưa? Liệu sản phẩm của dự án có dùng được hay không? Những thiếu sót gì đã bỏ qua? Các yếu tố khác như cảm giác thoải mái của học sinh trong quá trình hoạt động nhóm – thời gian thực hiện dự án – các vấn đề gặp phải và sự hỗ trợ,… đều phải được đề cập tới và đánh giá một cách chu đáo Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc phát triển dự án hoặc thực hiện các dự án tiếp theo khác

Có những phương pháp đánh giá khác nhau như: trao đổi bằng thư, đánh giá toàn lớp, đánh giá đồng đẳng, tự đánh giá, học sinh nêu câu hỏi, đánh giá các nhóm…

Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án Giai đoạn 4 và 5 cũng thường được mô tả chung thành một giai đoạn (giai đoạn kết thúc dự án)

Những phương pháp gợi ý trên đây là chung cho nhiều môn học ở trường phổ thông Tuỳ từng môn học có thể vận dụng một số phương pháp đặc thù khác

Trang 26

26

Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh Chia phần xung quanh thành các phần theo số thành viên của nhóm (Ví dụ nhóm 4 người) Mỗi người ngồi vào vị trí tương ứng với phần xung quanh

- Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ đề

và viết vào phần mang số của mình

- Khi hết thời gian làm việc cá nhân, các thành viên trong nhóm chia sẻ, thảo luận, thống nhất câu trả lời

- Ý kiến thống nhất của nhóm được viết vào phần chính giữa

b.Một số lưu ý khi tổ chức dạy học theo kĩ thuật khăn trải bàn:

- Nếu số HS trong một nhóm quá đông, có thể phát cho HS những mảnh giấy nhỏ để

HS ghi lại ý kiến cá nhân Sau dó đính những ý kiến vào phần khăn mang số của họ

- Trong quá trình thảo luận, có thể đính những ý kiến thống nhất vào giữa khăn Những ý kiến trùng nhau có thể đính chồng lên nhau Nếu có những ý kiến chưa thống nhất và cá nhân vẫn bảo lưu thì đính ở phần xung quanh khăn trải bàn (khi trình bày

có thể chia sẻ toàn lớp hoặc với riêng giáo viên)

* Kỹ thuật mảnh ghép

Là kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp, kích thích sự tham gia tích cực cũng như nâng cao vai trò của cá nhân học sinh trong quá trình hợp tác

- Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ đề

và ghi lại những ý kiến của mình

- Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2

Trang 27

27

- Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết (lưu ý nhiệm vụ mới này phải gắn liền với kiến thức thu được ở vòng 1)

- Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả

b Một số lưu ý khi tổ chức dạy học:

- Đảm bảo những thông tin từ các mảnh ghép ở vòng 1 khi được ghép lại với nhau

có thể hiểu được bức tranh toàn cảnh của một vấn đề và là cơ sở để giải quyết một nhiệm vụ phức hợp ở vòng 2

- Các “chuyên gia” ở vòng 1 có thể có trình độ khác nhau, nên cần xác định các yếu

tố hỗ trợ kịp thời để tất cả mọi “chuyên gia” có thể hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1, chuẩn bị cho vòng 2

- Số lượng mảnh ghép không nên quá lớn để đảm bảo các thành viên có thể truyền đạt lại kiến thức cho nhau

- Đặc điểm của nhiệm vụ mới ở vòng 2 là một nhiệm vụ phức hợp và chỉ có thể giải quyết được trên cơ sở nắm vững những kiến thức đã có ở vòng 1 Do đó cần xác định

rõ những yếu tố cần thiết về kiến thức, kĩ năng, thông tin, … cũng như các yếu tố hỗ trợ cần thiết để giải quyết nhiệm vụ phức hợp này

- Khi thực hiện nhiệm vụ, cần phân công rõ ràng vai trò và nhiệm vụ của các thành viên trong nhóm như sau:

TTrưởng nhóm Phân công nhiệm vụ

Hậu cần Chuẩn bị đồ dùng tài liệu cần thiết

Thư kí Ghi chép kết quả

Phản biện Đặt các câu hỏi phản biện

Liên lạc với nhóm khác Liên hệ với các nhóm khác

Liên lạc với thầy cô Liên lạc với giáo viên để xin trợ giúp

* Kỹ thuật lắng nghe và phản hồi tích cực

a Lắng nghe tích cực

Lắng nghe tích cực là khả năng ngừng suy nghĩ và làm việc của mình để hoàn toàn tập trung vào những gì mà ai đó đang nói Lắng nghe là một mặt của giao tiếp trong cuộc sống

Kỹ năng lắng nghe tích cực không phải là một kỹ năng bẩm sinh của mỗi người Bất

cứ ai muốn thành công trong học tập, giảng dạy, công việc khác, phải trau dồi nó và học cách làm chủ nó Lắng nghe tích cực bắt đầu với sự sẵn sàng nhận ra giá trị trong mọi cuộc đối thoại bạn tham gia

Trang 28

28

* Cách thực hiện:

Lắng nghe bao gồm 5 hoạt động liên quan với nhau và hầu như đều xảy ra theo một chuỗi liên tiếp:

- Tham dự: Nghe thông tin một cách tự nhiên và ghi chép Sự tiếp nhận thông tin

này có thể bị cản trở bởi tiếng ồn xen vào, nghe kém hoặc không chú ý

- Diễn giải (phân tích thông tin): gắn ý nghĩa của lời nói dựa theo giá trị, ý kiến,

kỳ vọng, vai trò, yêu cầu, trình độ của bạn Khả năng giải thích của người nói có thể khác với bạn, vì vậy bạn cần xác định xem người nói muốn đưa ra thông tin

- Ghi nhớ: Lưu giữ thông tin để tham khảo sau này Khi bạn lắng nghe hãy giữ lại

những gì đã nghe bằng ghi chép lại hoặc phác thảo trong đầu những điểm quan trọng của người nói

- Đánh giá: ứng dụng kỹ năng phân tích phê bình để đo lường những nhận xét

của diễn giả Bạn tách sự kiện ra khỏi ý kiến và đánh giá chất lượng của các chứng cứ

- Đáp lại: Phản hồi lại khi bạn đánh giá thông tin của người nói Nếu bạn giao

tiếp cá nhân hay trong một nhóm nhỏ, thông thường là những hình thức thông tin phản hồi bằng lời Nếu bạn là một trong số nhiều người tham dự, hình thức thông tin có thể là vỗ tay hoan nghênh, cười hoặc im lặng, Sau đó, bạn có thể phản hồi lại dựa theo những gì bạn nghe được

Tóm lại việc lắng nghe đòi hỏi sự phối hợp các hoạt động thể chất và tinh thần, nên nó bị chi phối bởi các rào cản về cả hai hoạt động đó Bởi vậy, muốn lắng nghe tích cực cần phải rèn luyện để nhận biết và sửa chữa những rào cản đó

*Những điều lưu ý khi sử dụng kỹ thuật này:

- Cử chỉ thân thiện, ánh mắt nhìn thẳng vào người đang nói chuyện, hay đặt câu hỏi là thể hiện sự quan tâm của bạn, là cách nghe hiệu quả nhất Người đối diện sẽ biết rằng bạn thực sự quan tâm tới những gì mà họ đang trình bày

- Khách quan khi lắng nghe để giảm được cảm xúc khi nghe và kiên nhẫn cho đến khi nghe được toàn bộ thông tin

- Hãy tìm kiếm thông tin không lời Thường thì giọng nói hoặc cách diễn tả của người đang nói bộc lộ thông tin nhiều hơn bằng lời

- Xem lại những điểm quan trọng Nó có ý nghĩa không? Những khái niệm có được minh hoạ bằng sự kiện không?

- Có thể nêu các câu hỏi làm sáng tỏ sự hiểu biết của bạn; hãy khoan phán đoán phê bình cho đến khi người nói kết thúc

Trang 29

29

- Không ngắt lời, vì việc ngắt lời có thể gây ra lo lắng cho người nói trong khi bạn đang muốn tìm hiểu trọng tâm của vấn đề đang được trình bày

- Hãy đánh giá và nhận xét nội dung chứ không phải phê bình người nói

- Hãy đưa ra ý kiến phản hồi để người nói biết bạn đang theo dõi cuộc nói chuyện với họ Hãy nhìn thẳng vào người nói Hãy nhắc lại và tóm tắt nội dung của người nói sau khi họ nói xong

- Tuy nhiên, lắng nghe tích cực cũng có nghĩa là bạn biết điểm dừng của cuộc nói chuyện Trong trường hợp người nói quá dài, lan man, bạn có thể khống chế thời gian để tránh bị "cháy giáo án" bằng cách nói với HS/người đang nói: "Cám ơn em/bạn đã trao đổi vấn đề này" hoặc "Hãy xem còn bạn nào có suy nghĩ tương tự hoặc

ý kiến khác của em/bạn",

- Trong một cuộc thảo luận, tốt nhất hãy đặt ra quy định về thời gian, và cùng thống nhất thời gian nói tối đa cho mỗi ý kiến Ví dụ: mỗi người chỉ nên nói trong vòng 1 phút,

b Phản hồi tích cực

Phản hồi là đưa ra thông tin xác nhận lại hay đóng góp những ý kiến để phát triển những thông tin có được Việc đưa ra thông tin phản hồi hiệu quả sẽ giúp nâng cao tinh thần làm việc cũng như thành tích làm việc trong nhóm/lớp của bạn Phản hồi trong dạy - học là một hoạt động trả lời, đánh giá và đưa ra ý kiến về quá trình thực hiện hoạt động dạy - học của một thành viên liên quan Một phương pháp phản hồi tích cực sẽ giúp việc dạy hay học của người được phản hồi tốt hơn

* Cách thực hiện: Các bước của quá trình phản hồi mang tính xây dựng:

- Bước 1 Quan sát (nghe, xem) và suy nghĩ (tôi nhìn thấy gì? và tôi đánh giá như thế

nào về những điều tôi nhìn thấy?)

- Bước 2 Kiểm tra nhận thức :

Đặt các câu hỏi để chắc chắn rằng mình đã hiểu đúng ý định của người thực hiện

- Bước 3 Đưa ra ý kiến đóng góp của mình

Xác nhận và thừa nhận những ưu điểm (Cần giải thích tại sao lại đánh giá đó là những ưu điểm)

Đưa ra các gợi ý để hoàn thiện hoặc nâng cao (Cần giải thích tại sao lại đưa ra các gợi ý đó)

* Phản hồi trong dạy học cần chú ý :

- HS cần hiểu mục tiêu học tập của nhiệm vụ và mức độ hoàn thành mục tiêu HS cũng cần hiểu những điều cần đạt được khi đối chiếu với mục tiêu học tập, hoặc đích đến tiếp theo

Trang 30

- Các phản hồi cần tập trung vào thành công và sự tiến bộ, hơn là sửa lỗi

- Các gợi ý hoàn thiện nên tập trung vào việc thu hẹp khoảng cách giữa tình trạng hiện tại và mức năng lực mong đợi HS cần được hướng dẫn để “rút ngắn khoảng cách” giữa thực trạng hiện tại và kết quả mong đợi

- Dạy học sinh cách tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng

- Các giao tiếp bằng lời và cử chỉ của giáo viên có thể tác động mạnh mẽ đến việc học sinh nhận thức được năng lực

- Tạo điều kiện cho học sinh hoàn thiện khả năng của mình

- Học sinh cần thời gian để thực hiện theo nhận xét của GV

* Kỹ thuật sơ đồ tư duy

a Sơ đồ tư duy là gì ?

Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy Đây là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não của bạn rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó, “Sắp xếp” ý nghĩ của bạn

Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho các ý chính và đều được nối với các ý trung tâm Các nhánh chính lại được phân chia thành các nhánh cấp 2, cấp 3,…

Trên các nhánh, ta có thể thêm các hình ảnh hay các kí hiệu cần thiết Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng được liên kết với nhau khiến sơ đồ tư duy có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà các ý tưởng thông thường không thể làm được

b Một số gợi ý khi thực hiện sơ đồ tư duy

- Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề Tại sao lại phải dùng hình ảnh? Vì một hình ảnh có thể diễn đạt được cả ngàn từ và giúp bạn sử dụng trí tưởng tượng của mình Một hình ảnh ở trung tâm sẽ giúp chúng ta tập trung được vào chủ đề và làm cho chúng ta hưng phấn hơn

- Luôn sử dụng màu sắc Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh

Trang 31

31

- Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba đến nhánh cấp hai,… bằng các đường kẻ Các đường kẻ càng ở gần hình ảnh trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn Khi chúng ta nối các đường với nhau, bạn sẽ hiểu và nhớ nhiều thứ hơn rất nhiều do bộ não của chúng ta làm việc bằng sự liên tưởng

- Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ

- Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu sắc,….)

- Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều

- Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm

1.4 NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ THỰC HIỆN DẠY HỌC TÍCH CỰC

Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh là một quá trình lâu dài, phải được thực hiện ở tất cả các bậc học, cấp

học, môn học Dạy học tích cực đòi hỏi phải có một số điều kiện quan trọng như sau:

1.4.1 Điều kiện chủ quan

Để đổi mới giáo dục theo hướng hiện đại hoá, chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực thực hành và hướng nghiệp, giáo dục trí lực kết hợp với giáo dục phẩm chất đạo đức nhân cách thì trước hết, quan trọng nhất phải là từ phía người giáo viên và học sinh

a Giáo viên:

- Trước hết họ cần phải nhận thức đúng đắn việc đổi mới phương pháp theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học là vấn đề cấp thiết đặt ra cho ngành giáo dục Để giải quyết được điều bức thiết đó, hơn ai hết họ phải xắn tay áo lên mà hành động Phải nhận thức sâu sắc những thay đổi trong chức năng, nhiệm vụ phức tạp của mình để thích ứng với môi trường giáo dục mới Hơn thế nữa đòi hỏi ở họ phải có tâm huyết, nhiệt tình để thổi bùng lên ngọn lửa mới cho giáo dục nước nhà

- Trong xã hội bùng nổ thông tin hiện nay, đội ngũ giáo viên phải có tri thức chuyên môn sâu rộng, cập nhật kiến thức mới, phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ Giáo viên phải nắm vững mục tiêu của giáo dục chung để từ đó cụ thể hoá trong hoạt động giảng dạy của mình Quan trọng hơn nữa, người giáo viên phải tinh thông nghề nghiệp, có trình độ sư phạm lành nghề Điều đó được thể hiện ở chỗ biết ứng xử tinh tế, linh hoạt, vừa mềm mỏng vừa nghiêm túc, sử dụng thành tạo các phương tiện công nghệ thông tin vào dạy học

- Người giáo viên phải chú trọng nâng cao tay nghề cả về kĩ năng nhận xét, đánh giá kết quả học tập của học sinh.Việc kiểm tra, đánh giá phải chuyển mạnh theo

Trang 32

32

hướng phát triển trí thông minh sáng tạo củ học sinh Giáo viên biết khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức kỹ năng đã học vào tình huống thực tế Trong đánh giá, kiểm tra phải làm sao cho học sinh bộc lộ những thái độ cảm xúc trước vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, cộng đồng Giáo viên phải tìm cách thoát khỏi quỹ đạo của học tập thụ động để hướng tới dạy học tích cực

- Để đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giảng dạy, Đảng, nhà nước và toàn thể nhân dân cùng tích cực tham gia góp công, góp của, hiến kế Đặc biệt những người trực tiếp chỉ đạo, nắm vững trọng trách trong ngành giáo dục càng phải làm việc hết mình vì sự nghiệp giáo dục Phải tổ chức quản lý chỉ đạo làm sao để nâng cao chất lượng dạy học bằng con đường đổi mới phương pháp dạy học, hướng dẫn phương pháp tích cực Hiệu trưởng phải đôn đốc, khuyến khích, động viên cán bộ giáo viên thực hiện đổi mới giáo dục Không những thế người hiệu trưởng còn biết chú trọng đặt vấn đề đổi mới phương pháp dạy học lên hàng đầu trong các hoạt động giảng dạy Một sáng kiến của giáo viên dù nhỏ nhất, hiệu trưởng cũng cần biết trân trọng ủng hộ, nâng niu để làm cho phong trào dạy theo hướng tích cực ngày càng rộng rãi thường xuyên và có hiệu quả hơn

b Học sinh:

Để dạy học tích cực đạt hiệu quả phải có sự hợp tác của người thầy và trò Nếu thầy hăng hái áp dụng phương pháp tích cực mà trò dửng dưng không thích ứng, quen lối học thụ động thì khó có thể thành công Vì vậy một điều kiện khác không kém phần quan trọng là sự chủ động tích cức thích ứng với môi trường học tập mới của học sinh Dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của giáo viên, học sinh phải có được phẩm chất, năng lực của mình Hơn thế nữa học sinh phải biết tự kiểm tra, tự đánh giá về kết quả học tập của mình, không ngừng học tập và có ý thức học tập suốt đời

1.4.2 Điều kiện khách quan:

- Đất nước ta còn nghèo, đời sống nhân ta còn thấp nhưng không vì thế mà bỏ ngõ giáo dục Đảng ta đầu tư ngân sách cho giáo dục bởi nó là quốc sách hàng đầu Để đổi mới dạy học cần phải hội tụ nhiều điều kiện khác như: cơ sở vật chất, trang thiết

bị, trường lớp, phòng học, bàn ghế, đồ dùng dạy học Để dạy tốt theo phương pháp mới còn rất cần các phương tiện hiện đại: máy chiếu, đầu video, dụng cụ thí nghiệm, hoá chất, mô hình, tranh ảnh Ngay cả khuôn viên, sân chơi bãi tập, phòng thực hành, phòng thí nghiệm, thư viện càng cần phải có đủ Cụ thể hơn, bàn ghế trong lớp học cũng phải đổi mới (bàn xoay, bảng xoay) để có thể thay đổi hình thức lớp học dễ dàng linh hoạt, vừa phù hợp với học cá thể vừa có thể đáp ứng nhanh chóng cho việc học nhóm nhằm góp phần đổi mới giáo dục

Ngày đăng: 24/08/2017, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w