1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học ngữ văn ở trường thcs

32 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn ở trường THCS
Trường học Trường Trung học cơ sở XYZ
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. PHẦN MỞ ĐẦU (3)
    • I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI (3)
    • II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU (4)
    • III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (4)
    • IV. ĐỐI TƯỢNG, KHẢO SÁT THỰC NGHIỆM (4)
    • V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (4)
    • VI. GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI (4)
  • B. PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ (5)
    • I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (5)
    • II. THỰC TRẠNG CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC HĐTN TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS (6)
    • III. CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS (10)
  • C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ (16)
    • I. KẾT LUẬN (16)
    • II. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ.............................................................................14 TÀI LIỆU THAM KHẢO (16)
  • PHỤ LỤC (19)

Nội dung

A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Người Việt Nam xưa vẫn quan niệm “ Trăm tay không bằng tay quen”, “Học đi đôi với hành”, “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” nhấn mạnh yếu tố thực hành và vận dụng. Đúng như Khổng Tử đã nói “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên. Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ. Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”. Ở nước ta, một trong những quan điểm đổi mới giáo dục và đào tạo được nêu trong nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của BCHTW là: “ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học , cách nghĩ, khuyến khích tự học, khuyến khích người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng phát triển năng lực. Chuyển từ hoc tập chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học...” {23,tr.5}. Theo đó, quan điểm chỉ đạo của Đảng là: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu sang trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lí luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” {23,tr.2}. Điều đó cho thấy việc đổi mới hình thức, phương pháp dạy học theo chương trình mới sau năm 2015 đặc biệt nhấn mạnh hình thức học tập trải nghiệm. Bối cảnh giáo dục trong giai đoạn hiện nay đã và đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với người học và người dạy. Quán triệt tinh thần và mục tiêu về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, trong nhà trường phổ thông, người học không những được trang bị kiến thức mà còn được phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất cá nhân. Tổ chức hoạt động trải nghiệm qua môn Ngữ văn là một trong những biện pháp tạo ra các môi trường khác nhau để học sinh được quan sát, suy nghĩ và trải nghiệm tham gia vào các hoạt động thực tiễn nhằm khuyến khích, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tích cực nghiên cứu, sáng tạo, tìm ra những giải pháp mới, những cái mới trên nền tảng vận dụng những cái đã có và những cái đã được trải nghiệm trong thực tiễn cuộc sống, biến ý tưởng thành hiện thực….. từ đó hình thành những phẩm chất và kĩ năng sống, phát triển năng lực chủ thể của học sinh. Học từ trải nghiệm và bằng trải nghiệm mang lại hiệu quả cao, phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục và đào tạo trong thời kì hội nhập và quốc tế hóa. Học Ngữ văn hiện nay không còn chủ yếu là đi vào khai thác cái hay cái đẹp của ngôn từ, của hình tượng nghệ thuật, mà còn để cái hay cái đẹp ấy giúp học sinh có kỹ năng sử dụng ngôn ngữ tốt, sống tích cực, nhân văn. Song việc mở không gian học tập mới ở ngoài lớp, ngoài trường đáp ứng nhu cầu chính đáng “Trăm nghe không bằng một thấy”. Khi được tham gia tìm, xây dựng nội dung học, trò sẽ nhớ lâu và quý kiến thức hơn. Thực tế hiện nay, nếu chỉ yêu cầu ghi nhớ thì học sinh ít “chịu” học thuộc các con chữ, những văn bản dài. Hơn nữa, hơn nữa phương pháp tổ chức HĐTN trong dạy học môn Ngữ văn đã được tổ Văn của nhà trường tìm hiểu, đưa vào thực hiện và gặp không ít khó khăn. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn ở trường THCS”.

PHẦN MỞ ĐẦU

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Người Việt Nam xưa vẫn quan niệm “ Trăm tay không bằng tay quen”,

“Học đi đôi với hành” và “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” nhấn mạnh tầm quan trọng của thực hành trong giáo dục Khổng Tử đã chỉ ra rằng “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu” Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của BCHTW đề ra quan điểm đổi mới giáo dục, nhấn mạnh việc cải cách phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, khuyến khích tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học Điều này bao gồm việc dạy cách học, khuyến khích tự học và phát triển năng lực cá nhân Đảng chỉ đạo chuyển đổi giáo dục từ việc trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và xã hội Sự đổi mới này đặc biệt chú trọng đến hình thức học tập trải nghiệm sau năm 2015.

Trong bối cảnh giáo dục hiện nay, cả người học và người dạy đều đối mặt với nhiều thách thức Để thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, nhà trường phổ thông không chỉ trang bị kiến thức mà còn chú trọng phát triển năng lực và phẩm chất cá nhân của học sinh.

Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong môn Ngữ văn giúp học sinh quan sát, suy nghĩ và tham gia vào các hoạt động thực tiễn, từ đó khuyến khích sự nghiên cứu và sáng tạo Qua việc áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, học sinh có cơ hội tìm ra giải pháp mới và biến ý tưởng thành hiện thực Phương pháp học từ trải nghiệm không chỉ hiệu quả cao mà còn phù hợp với xu thế phát triển giáo dục trong thời kỳ hội nhập và quốc tế hóa, góp phần hình thành phẩm chất và kỹ năng sống, phát triển năng lực chủ thể của học sinh.

Học Ngữ văn hiện nay không chỉ tập trung vào việc khám phá vẻ đẹp của ngôn từ và hình tượng nghệ thuật, mà còn nhằm phát triển kỹ năng ngôn ngữ và tư duy nhân văn cho học sinh Việc mở rộng không gian học tập ra ngoài lớp học giúp học sinh ghi nhớ kiến thức lâu hơn và trân trọng giá trị của nó Thực tế cho thấy, nếu chỉ yêu cầu ghi nhớ, học sinh sẽ khó khăn trong việc học thuộc các văn bản dài Hơn nữa, phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn đã được nhà trường áp dụng nhưng gặp nhiều thách thức Do đó, tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn ở trường THCS”.

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đề tài này nhằm phát triển năng lực học sinh, khơi dậy sự hứng thú và chủ động trong việc tiếp thu tri thức khoa học Nó cũng giúp phát huy khả năng sáng tạo của học sinh, đồng thời tạo niềm yêu thích đối với môn Ngữ văn, từ đó nâng cao chất lượng dạy học và đạt kết quả cao trong bộ môn này.

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn ở trường THCS

ĐỐI TƯỢNG, KHẢO SÁT THỰC NGHIỆM

GV và HS khối 6, 7, 8, 9 nơi tôi đang công tác

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để nghiên cứu vấn đề này tôi dùng hai nhóm phương pháp chính:

1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu các tài liệu sư phạm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.

2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp điều tra quan sát thực tế

- Phương pháp tổng hợp, phân tích, số liệu.

GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Bắt đầu từ năm học 2016 – 2017, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài này do tính cần thiết của nó, và tiếp tục khảo sát tính thực tiễn trong hai năm học tiếp theo.

PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Các khái niệm liên quan:

Theo Từ điển Tiếng Việt, "trải nghiệm" được định nghĩa là "trải qua, kinh qua" Quan niệm này tương đồng với triết học, coi trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới khách quan Sự tương tác này không chỉ bao gồm hình thức mà còn cả kết quả của các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm kỹ thuật, kỹ năng, và các nguyên tắc hoạt động trong sự phát triển của thế giới khách quan.

Trải nghiệm trong giáo dục được coi là phương pháp thực hành quan trọng, giúp người học phát triển năng lực thực hiện cùng với những cảm xúc, ý chí và trạng thái tâm lý đa dạng Học qua trải nghiệm không chỉ mang lại kiến thức mà còn gắn liền với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân của mỗi người.

1.2 Tổ chức hoạt động trải nghiệm

Tổ chức hoạt động trải nghiệm là phương pháp giáo dục mà trong đó, học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn dưới sự hướng dẫn của giáo viên Qua những trải nghiệm này, học sinh phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất và tiềm năng sáng tạo Giáo viên tạo cơ hội cho học sinh tích lũy và chiêm nghiệm kinh nghiệm, từ đó hình thành sự hiểu biết theo cách riêng của mình.

1.3 Tổ chức hoạt động trải nghiệm môn Ngữ văn

Tổ chức hoạt động trải nghiệm môn Ngữ văn giúp học sinh áp dụng kiến thức vào thực tiễn, kết hợp giữa học và hành Mỗi học sinh cần có cơ hội hành động dựa trên kinh nghiệm cá nhân, từ đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và tiềm năng sáng tạo Qua mỗi bài học, hoạt động này còn tạo ra cảm xúc tích cực cho học sinh.

Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, nơi trẻ em đứng trước những lựa chọn quyết định cho sự phát triển của mình Nếu được định hướng đúng đắn, trẻ sẽ trở thành những cá nhân thành đạt và công dân tốt; ngược lại, nếu không được hỗ trợ, trẻ có thể đối mặt với nguy cơ phát triển lệch lạc về nhận thức, thái độ và hành vi Trong giai đoạn này, khả năng tri giác của trẻ được nâng cao, với khả năng phân tích và tổng hợp phức tạp hơn Các em sử dụng thông tin cảm tính một cách linh hoạt, tùy thuộc vào nhiệm vụ tư duy, và khả năng quan sát trở thành một thuộc tính ổn định trong tính cách của các em.

Tri giác của học sinh trung học cơ sở (THCS) còn nhiều hạn chế như thiếu kiên trì, vội vàng và hấp tấp, cùng với tính tổ chức và hệ thống trong tri giác còn yếu Do đó, giáo viên cần rèn luyện kỹ năng quan sát cho học sinh thông qua các giờ giảng lý thuyết bằng phương pháp giáo dục trực quan Cần kết hợp giữa tư duy trừu tượng và thực tiễn, đồng thời áp dụng phương châm “học đi đôi với hành” trong các giờ thực hành, hoạt động ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt tập thể, thể dục thể thao, tham quan và dã ngoại, nhằm nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh THCS.

3 Các HĐTN môn Ngữ văn còn được thực hiện ở trong và ngoài nhà trường với nhiều hình thức khác nhau:

3.1 Hình thức câu lạc bộ văn học dân gian:

3.2 Hình thức trò chơi văn học

3.3 Hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học

3.4 Hình thức tham quan dã ngoại

Bài viết này trình bày những kiến thức lý luận về hoạt động trải nghiệm (HĐTN) trong giảng dạy Ngữ văn bậc THCS, cung cấp cơ sở định hướng cho việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp hiệu quả.

THỰC TRẠNG CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC HĐTN TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS

1 Thực trạng chất lượng môn Ngữ văn của trường:

Theo khảo sát và thống kê, trước khi triển khai hệ thống hoạt động trong đề tài vào thực tiễn giảng dạy trong hai năm học 2015 – 2016 và 2016 – 2017 ở các lớp khối, thực trạng đã được đánh giá như sau:

PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN HỌC SINH VÀ TỔNG HỢP KẾT QUẢ HỌC TẬP

(Trước khi thực hiện các giải pháp của đề tài)

1 Thái độ của HS khi học các tiết HĐTNST

Rất thích Thích Bình thường Không thích

2 Chất lượng phân môn Ngữ văn

Năm học Số học sinh Giỏi Khá Trung bình

Tôi có thăm dò bằng phiếu khảo sát cho 10 đồng chí GV Ngữ văn tổ tôi cho kết quả sau:

Theo đồng chí, HĐTN có cần thiết trong dạy học Ngữ văn ở Trường THCS không?

Rất cần thiết Cần thiết Không cần thiết

Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ %

Từ các bảng thống kê, tôi nhận thấy tỉ lệ học sinh khá, giỏi chưa đạt yêu cầu, và giáo viên cũng chưa sẵn sàng, điều này khiến tôi lo lắng Mặc dù chưa chính thức thảo luận về việc dạy học để phát triển năng lực, nhiều trường đã tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động như tham quan dã ngoại, bảo vệ môi trường, lao động công ích và thăm bảo tàng Tuy nhiên, những hoạt động này chỉ mang tính trải nghiệm mà chưa đáp ứng yêu cầu giáo dục thực chất.

Trong khoảng một thập kỷ qua, giáo viên dạy văn thường sử dụng một bức ảnh chân dung tác giả (kích thước bằng tờ A4) để thu hút sự chú ý của học sinh Hình ảnh này được đặt giữa các dãy bàn, khiến học sinh không chỉ nhoài người xem mà còn cảm thấy hứng thú và trầm trồ Giờ dạy trở nên ấn tượng nhờ vào việc sử dụng giáo cụ trực quan.

Kể từ năm 2012, nhiều trường học, bao gồm cả trường tôi, đã áp dụng công nghệ thông tin để làm cho bài giảng trở nên sinh động hơn với hình ảnh và phim tư liệu hấp dẫn Tuy nhiên, hiện nay, việc sử dụng clip và phim ảnh đã trở nên quen thuộc Do đó, chúng ta cần học hỏi từ thực tế, vì phương pháp này không chỉ giúp truyền đạt kiến thức mà còn giáo dục nhân cách Kiến thức sẽ được ghi nhớ sâu sắc hơn, đồng thời phát triển tình cảm và kỹ năng giao tiếp, ứng xử lễ nghĩa cho học sinh.

Các em cần chủ động đọc và tiếp cận tác phẩm, soạn bài kỹ lưỡng trước khi đến lớp Việc phát âm sai và đọc không đúng ngữ điệu, cũng như việc thêm bớt từ, sẽ làm giảm sự tự tin trong các hoạt động trải nghiệm.

Các em học sinh thường thiếu khả năng cảm thụ và lười suy nghĩ, dẫn đến việc học vẹt mà không thể vận dụng kiến thức Họ chỉ học thuộc lòng các văn mẫu và bài mẫu, sao chép một cách máy móc theo dàn ý có sẵn mà không rèn luyện kỹ năng viết và tư duy sáng tạo.

Trong giờ học, học sinh thường thụ động và thiếu tự tin trong việc trao đổi và đặt câu hỏi do chưa nắm vững kiến thức Điều này dẫn đến việc các em không thể tư duy và phản ứng trước những vấn đề mà giáo viên đưa ra, chủ yếu dựa vào bài giảng của thầy cô.

Nguyên nhân học sinh học yếu không chỉ do bản thân học sinh mà còn chịu ảnh hưởng từ giáo viên Nhiều giáo viên chưa chú ý quan sát và hỗ trợ học sinh yếu, đồng thời chưa áp dụng các phương pháp dạy học mới để kích thích sự tích cực và chủ động của học sinh Họ cũng chưa thực sự tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của từng học sinh, điều này ảnh hưởng đến quá trình học tập của các em.

HĐTN tại trường học hiện nay thường chỉ được thực hiện qua loa, mang tính chất tham quan mà chưa có bài thu hoạch, dẫn đến tâm lý học sinh coi đây là dịp đi chơi Chi phí cho mỗi buổi trải nghiệm lại rất cao, trong khi nhà trường kêu gọi phụ huynh đóng góp, nhưng không phải gia đình nào cũng có khả năng tài chính, khiến cho việc học trải nghiệm chưa được đồng đều và phổ biến.

2.2.1: Về phía HS: Văn học không được HS yêu thích, không có nhu cầu đối vơi xã hội cao, các em cho rằng các môn tự nhiên học thích hơn và ưu thế hơn.Để có lợi cho định hướng nghề nghiệp sau này, HS ít hoặc không chú trọng đến mônNgữ văn và cho rằng đi học trải nghiệm là đi chơi, đi du lịch.

2.2.2: Về phía GV: GV chưa có hình thứ dạy học đổi mới để thu hút HS , đa số dạy theo phương pháp truyền thống, nặng kiến thức sách vở, khai thác nghệ thuật, ngôn từ trang bị kiến thức cho các em đi thi.

3.3 Đánh giá chung về thực trạng:

3.3.1: Nhận thức của GV: HĐTN với môn Văn còn nhỏ giọt, đa số GV không coi trọng hoạt động này, họ nghĩ là không phù hợp với học tập bộ môn

3.3.2 Thực trạng việc tổ chức hoạt động trải nghiệm dưới hình thức Câu lạc bộ văn học: Ở trường tôi, hình thức đã được tổ chức nhưng mới chỉ dừng lại ở vài lớp 6,7 mà một số đồng chí GV trẻ quan tâm Như vậy, hoạt động này chỉ dừng lại ở tổ chức nhỏ lẻ, chưa thu hút được HS toàn trường tham gia.

3.3.3 Thực trạng việc tổ chức hoạt động trải nghiệm dưới hình thức trò chơi văn học:

Theo điều tra, giáo viên trong tổ Ngữ văn của tôi thực hiện các hoạt động chỉ một cách miễn cưỡng, chủ yếu trong các giờ thi giáo viên dạy giỏi hoặc tiết chuyên đề Trong các tiết dạy hàng ngày, giáo viên không có thời gian để thiết kế trò chơi, và nếu tổ chức trong tiết học thì sẽ làm gián đoạn giáo án.

3.3.4 Thực trạng việc tổ chức hoạt động trải nghiệm dưới hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học:

Sân khấu hóa là một phong trào quan trọng của Phòng giáo dục và các nhà trường, nhưng hoạt động này thường chỉ diễn ra trong tháng cao điểm Trong suốt cả năm, các lớp chỉ tham gia cho đủ số lượng mà không chú trọng đến chất lượng Hơn nữa, số lượng tác phẩm văn học được chọn để sân khấu hóa vẫn còn hạn chế.

3.3.5 Thực trạng việc tổ chức hoạt động trải nghiệm dưới hình thức tham quan, dã ngoại:

CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS

1 Căn cứ để xây dựng các hình thức HĐTN dạy học Ngữ văn:

Dựa trên cơ sở lý luận và thực trạng đã được nghiên cứu trong các mục I và II, cùng với công văn số 389/PGD&ĐT hướng dẫn công tác nghiên cứu khoa học và SKKN cho năm học 2019 – 2020 trong dạy học Ngữ văn.

Căn cứ vào tổ chức HĐTN của trường

Căn cứ vào đặc thù bộ môn.

2 Các bước tổ chức HĐTN:

- Lập kế hoạch tổ chức HĐTN:

- Mục tiêu: chủ động triển khai phối hợp với các lực lượng, ban ngành, phụ huynh HS

Bước 1: Rà soát chương trình, các bài có thể tổ chức được HĐTN

Bước 2: Lựa chọn hình thức trải nghiệm phù hợp với từng bài

Bước 3: Xác định thời gian, địa điểm tổ chức

Bước 4: Dự trù kinh phí, chuẩn bị điều kiện để tổ chức

Bước 5: Dự kiến phối hợp lực lượng tham gia

- Lập bảng kế hoạch công khai báo cáo BGH, TTCM, thông báo với GVCN, PH, HS như sau:

STT Tên văn bản Lớp Hình thức tổ chức Địa điểm Thời lượng

1 VHDG 6,7 Câu lạc bộ Sân trường Buổi sáng

2 Sơn Tinh, Thủy Tinh 6 Tham quan Ba Vì Cả ngày

3 Bánh chưng, bánh giầy 6 SKH Sân trường Buổi sáng

4 Sống chết mặc bay 7 SKH Sân trường Buổi sáng

5 Quan Âm Thị Kính 7 SKH Sân trường Buổi sáng

6 Quê hương 8 Tọa đàm Sân trường Buổi sáng

7 Chiếu dời đô 8 Tham quan Đền Đô, Hoàng Thành Thăng Long

3 Các hình thức tổ chức HĐTN:

3.1 Tổ chức HĐTNST bằng hình thức câu lạc bộ Văn học dân gian a Mục đích: Đây là hình thức sinh hoạt ngoại khóa văn học của học sinh dưới sự định hướng của giáo viên HS có cơ hội được chia sẻ những kiến thức, những hiểu biết của mình về các lĩnh vực chuyên sâu, được thực hành các quyền trẻ em của mình b Nội dung: vận dụng kiến thức văn học dân gian, kĩ năng xây dựng kịch bản, chương trình, dẫn chương trình. c Các bước tiến hành:

Bước 1: Căn cứ nhu cầu, nguyện vọng học sinh, căn cứ mục tiêu kế hoạch của nhà trường, thành lập câu lạc bộ.

Bước 2: Tuyển chọn HS tham gia, phân công nhiệm vụ trên cơ sở năng lực từng HS

Bước 3: Xây dựng nội dung hoạt động của CLB

Bước 4: Tổ chức các hoạt động của CLB bao gồm việc học sinh phụ trách viết bài, đưa tin, dựng kịch bản và tổ chức diễn theo sự kiện Ngoài ra, CLB còn thực hiện tuyên truyền măng non hàng tuần và giới thiệu sách.

Bước 5: Kế hoạch nhận xét, đánh giá

Ví dụ minh họa: Phụ lục 1

Thông qua hoạt động câu lạc bộ, học sinh được rèn luyện và phát triển các năng lực quan trọng như giao tiếp, hợp tác, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề và năng lực Ngữ văn Điều này giúp giáo viên và các nhà giáo dục hiểu rõ hơn về nhu cầu, nguyện vọng và mục đích chính đáng của học sinh.

3.2 Tổ chức HĐTNST bằng hình thức trò chơi văn học a Mục đích

Trò chơi không chỉ mang tính giải trí mà còn là phương pháp giáo dục hiệu quả, giúp học sinh "học mà chơi, chơi mà học" Thông qua các trò chơi, học sinh có thể nhớ bài một cách tự nhiên, giảm áp lực học tập, đồng thời phát triển tác phong nhanh nhẹn và giao lưu tích cực với bạn bè và thầy cô Nội dung trò chơi tập trung vào việc tổng hợp kiến thức văn học, giúp học sinh dễ dàng lĩnh hội và ghi nhớ kiến thức Các bước tiến hành sẽ được thực hiện một cách hệ thống để đảm bảo hiệu quả học tập.

Bước 1: Chuẩn bị trò chơi, lựa chọn kiến thức tổ chức

Bước 2: Phân công nhiệm vụ cho các thành viên, bao gồm người dẫn chương trình, người tìm tư liệu và người quản trò Bước 3: Chuẩn bị các điều kiện cần thiết như lực lượng, trang phục, đạo cụ, Ban giám khảo và phần thưởng.

Bước 4: Tiến hành trò chơi:

- Bố trí đội hình: số lượng người chơi mà GV bố trí cho phù hợp

GV cần xác định vị trí cố định hoặc di động để đảm bảo mọi khẩu lệnh đều được học sinh nghe thấy Các động tác của học sinh cần phải được quan sát và thực hiện một cách chính xác Đồng thời, GV cũng phải có khả năng phát hiện đúng sai trong quá trình học sinh chơi.

Giáo viên cần giới thiệu trò chơi một cách ngắn gọn, hấp dẫn và dễ hiểu, bao gồm tên trò chơi, chủ đề, mục đích và yêu cầu Cần nêu rõ cách chơi và luật chơi để học sinh nắm bắt Sau đó, giáo viên cho học sinh chơi thử 1-2 lần trước khi bắt đầu chơi thật.

- Dùng khẩu lệnh bằng lời, còi, kẻng, chuông để điều khiển cuộc chơi

- GV hay nhóm trọng tài cần theo dõi chính xác để đánh giá thắng thua và rút kinh nghiệm…

Bước 5: Kết thúc trò chơi

GV công bố kết quả cuộc chơi một cách khách quan và công bằng, giúp HS nhận thức rõ ưu điểm và tồn tại của bản thân, từ đó rút ra kinh nghiệm cho những trò chơi tiếp theo.

Động viên và khích lệ tinh thần của các em là rất quan trọng, thông qua việc tuyên dương và khen thưởng bằng vật chất Điều này không chỉ tạo ra không khí vui vẻ, phấn khởi mà còn để lại những ấn tượng tốt đẹp trong tập thể.

- Dặn dò các em điều cần thiết (thu dọn, vệ sinh)

Ví dụ minh họa: Phụ lục 2

3.3 Tổ chức HĐTNST bằng hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học a Mục đích : Tái hiện lại các tác phẩm văn học qua hình thức diễn xuất trên sân khấu, qua ngôn ngữ, cử chỉ của nhân vật vào đời sống thực tế. b Nội dung: cảm thụ các tác phẩm đã học trong chương trình, dựng kịch bản dựa trên nội dung văn bản một cách sáng tạo, từ đó các em diễn kịch bản đó. c Các bước tiến hành:

Bước 1 Chuyển thể văn bản sang kịch bản.

Bước 2 Lựa chọn HS đóng vai nhân vật và yêu cầu thuộc kịch bản

Bước 3 HS tự tập luyện bằng hành động, lời nói qua diễn xuất, có thể mời

GV có chuyên môn hỗ trợ

Bước 4 Chuẩn bị phương tiện: âm thanh, loa đài, nhạc phù hợp với từng phân cảnh

Bước 5 Ghép sân khấu, chạy thử, tổng duyệt, tùy theo cấp độ, dự kiến khách mời

Bước 6 Dự trù kinh phí (thuê trang phục, đạo cụ, loa đài )

Bước 7 Tổ chức diễn, quay video lưu lại làm tư liệu

Ví dụ minh họa: Phụ lục 3

HS đã chuyển thể một số trích đoạn văn học nổi bật, bao gồm trích đoạn trong "Chị Dậu", "Chèo" từ "Quan Âm Thị Kính", "Sống chết mặc bay", và "Ông Giuốc – đanh mặc lễ phục".

3.4 Tổ chức HĐTNST bằng hình thức tham quan dã ngoại a Mục đích:

Các em sẽ được học tập và giao lưu, từ đó xây dựng tình đoàn kết và hỗ trợ lẫn nhau Việc mở rộng kiến thức và tiếp xúc với các di tích lịch sử, văn hóa sẽ giúp các em có những trải nghiệm thực tế quý giá, từ đó áp dụng vào cuộc sống của mình.

Giáo dục lòng yêu thiên nhiên, quê hương và đất nước là rất quan trọng, cùng với việc giáo dục về truyền thống cách mạng, lịch sử và các giá trị của Đảng, Đoàn, cũng như Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh Các bước tiến hành cần được thực hiện một cách bài bản và hiệu quả.

Bước 1 - Chuẩn bị: Giáo viên hướng dẫn học sinh về nội dung tìm hiểu, địa điểm và dụng cụ cần thiết, đồng thời lập kế hoạch chi tiết về thời gian và hình thức tham quan Giáo viên soạn các câu hỏi liên quan đến di tích Bước 2 - Tiến hành tham quan: Học sinh tham quan trực tiếp địa điểm văn hóa đã thống nhất, đây là bước quan trọng nhất giúp các em cảm nhận giá trị văn học, văn hóa từ cảnh vật Học sinh có thể ghi chép, ghi âm, trao đổi và thảo luận trong quá trình tìm hiểu Giáo viên sẽ định hướng và khơi gợi cảm hứng để học sinh thẩm thấu vẻ đẹp văn hóa dân tộc trong thực tiễn.

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

KẾT LUẬN

Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Ngữ văn giúp phát huy vai trò sáng tạo của học sinh, mang lại những trải nghiệm bổ ích và mới mẻ với văn học nghệ thuật Tham gia vào các hoạt động này giúp học sinh phát triển năng lực, nhanh chóng nắm bắt nội dung, phát hiện giá trị văn học và phản hồi thông tin hiệu quả Qua đó, việc dạy học tác phẩm văn chương không chỉ là truyền đạt kiến thức mà còn là cơ hội để hình thành nhân cách, chuẩn bị hành trang cần thiết cho các em trong giai đoạn hiện nay.

Nghiên cứu cách sử dụng hiệu quả các hình thức dạy học lịch sử là một nhiệm vụ khó khăn, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức Nhờ vào nỗ lực cá nhân và sự hỗ trợ tận tình từ các thầy cô giáo cùng đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả những người đã giúp đỡ và ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện.

Việc tổ chức học tập trải nghiệm sáng tạo không chỉ mang lại lợi ích cho học sinh mà còn nâng cao vai trò của giáo viên Tham gia vào các hoạt động này giúp thầy cô phát triển kỹ năng và cải thiện phương pháp giảng dạy, từ đó tạo ra môi trường học tập tích cực và hiệu quả hơn cho học sinh.

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đối với Phòng giáo dục:

Phòng giáo dục đã tổ chức một buổi gặp gỡ và tọa đàm với các nhà văn, nhà thơ nhằm hỗ trợ giáo viên trong chương trình phổ thông Sự kiện này không chỉ tạo cơ hội giao lưu mà còn đầu tư cho giáo viên tham gia các hoạt động trải nghiệm sáng tạo theo nội dung chương trình.

2 Đối với nhà trường - giáo viên

Lãnh đạo nhà trường cần đồng hành và hỗ trợ giáo viên trong suốt quá trình trải nghiệm Mỗi giáo viên phải liên tục học hỏi và cập nhật kiến thức để xây dựng lòng tin với học sinh và sự tín nhiệm từ phụ huynh, từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện cho học sinh.

Sáng kiến kinh nghiệm của tôi có thể còn thiếu sót, vì vậy tôi rất mong nhận được sự quan tâm và ý kiến đóng góp từ các cấp lãnh đạo cũng như đồng nghiệp Những ý kiến này sẽ giúp tôi khắc phục các khuyết điểm và hạn chế, từ đó hoàn thiện đề tài và nâng cao tính hữu ích của nó.

Hà Nội, ngày 13 tháng 2 năm 2020

1 Nghị quyết TW 8 khóa IX về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo – Đảng cộng sản Việt Nam ( 2013).

2 Tổ chức các hoạt động giáo dục trong trường học theo định hướng phát triển năng lực học sinh – Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Ngọc Diệp –Bộ Giáo dục – Tài liệu tập huấn.

3 “Từ điển Tiếng Việt” – Ngôn ngữ học Việt Nam, Đinh Thi Kim Thoa và các tác giả (2009) NXB Thanh Hóa

4 SGK lớp 6,7,8,9 , Bộ GD&ĐT

Ngày đăng: 27/07/2023, 14:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w