Chính sách trợ cấp xã hội được thực hiện trên toàn địa bàn của huyện cho các đối tượng thụ hưởng trong đó có người khuyết tật.. Các nghiên cứu về vấn đề trợ giúp xã hội cho NKT:
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Tiến sỹ Vũ Thị Kim Dung (Trưởng khoa Công tác xã hội , Trường Đại học
sư phạm Hà Nội ), người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và động viên tôi hoàn thành nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, Cán bộ lao động thương binh xã hội cấp huyê ̣n, xã và Người khuyết tật tại huyê ̣n Lương Tài đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thu thập thông tin và hoàn thành nghiên cứu
Qua đây tôi cũng xin cảm ơn các Thầy, cô trong khoa xã hội học, các thầy
cô trong bộ môn Công tác xã hội trong quá trình nghiên cứu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và trợ giúp tôi hoàn thành luận văn của mình
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả nghiên cứu
Cao Thi ̣ Mai
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của nghiên cứu 9
4 Đối tượng, khách thể va ̀ pha ̣m vi nghiên cứu 11
5 Mục đích và nhiêm vụ nghiên cứu 11
6 Câu hỏi nghiên cứu 12
7 Giả thuyết nghiên cứu 12
8 Phương pháp nghiên cứu 12
9 Cấu tru ́ c luâ ̣n văn 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 14
1.1 Một số khái niệm công cụ của đề tài 14
1.1.1 Chính sách 14
1.1.2 Chính sách xã hội 14
1.1.3 Trợ giúp xã hội 15
1.1.4 Người khuyết tật 15
1.1.5.Khái niệm chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên 17
1.1.6 Công tác xã hội 19
1.2 Những lý thuyết được vận dụng trong đề tài 22
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow 22
1.2.2 Lý thuyết hệ thống – sinh thái 25
1.2.3 Lý thuyết vai trò xã hội 28
1.3 Quan điểm cu ̉ a Đảng và Nhà nước về trơ ̣ giúp cho Người khuyết tâ ̣t 30
1.3.1 Hệ thống chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên đối với người khuyết tật ở Việt Nam 30
1.3.2 Hệ thống văn bản trợ cấp xã hội đối với Người khuyết tật 33
1.4 Chư ́ c năng và nhiê ̣m vu ̣ của Phòng LĐTB &XH huyê ̣n Lương Tài 34
1.5 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 36
Trang 4Tiểu kết chương 1 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI HUYỆN LƯƠNG TÀI 39
2.1 Thư ̣c tra ̣ng Người khuyết tâ ̣t trên đi ̣a bàn huyê ̣n Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 39
2.1.1 Tình hình chung về NKT trên địa bàn huyện 39
2.1.2 Nguyên nhân khuyết tật 42
2.1.3 Thư ̣c tra ̣ng hưởng trơ ̣ cấp xã hô ̣i thường xuyên đối với Người khuyết tâ ̣t theo Nghi ̣ đi ̣nh 28,Nghị Đi ̣nh 136 44
2.1.4 Điều kiê ̣n sống của Người khuyết tâ ̣t trên đi ̣a bàn huyê ̣n 46
2.2 Hoạt động thực hiện triển khai chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên đối với NKT tại huyện Lương Tài 57
2.2.1 Đặc điểm của đội ngũ thực hiện chính sách………57
2.2.2 Công tác xác định đối tươ ̣ng thu ̣ hưởng, dạng tật, mức độ khuyết tật và hồ sơ xác định mức độ khuyết tật 60
2.2.3 Hoạt động chi trả 62
2.3 Đa ́ nh giá của NKT đối với hoạt động thực hiện chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên trên địa bàn huyện 66
2.3.1 Tác động của chính sách đối với NKT 66
2.3.2 Mức độ bao phủ và thực hiện chính sách 69
2.3.3 Mức độ hài lòng của NKT về chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên 69
2.3.4.Tiếp câ ̣n thông tin chính sách 72
2.4 Những ưu điểm va ̀ ha ̣n chế của viê ̣c thực thi chính sách trên đi ̣a bàn huyê ̣n 74
2.4.1.Ưu điểm 74
2.4.2 Hạn chế 76
2.4.3 Nguyên nhân 79
2.5 Mô ̣t số khuyến nghi ̣ về giải pháp nâng cao hiê ̣u quả của chính sách….82 2.5.1 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thư ̣c hiê ̣n chính sách 82
Trang 52.5.2 Nhóm giải pháp về truyền thông 83
2.5.3 Nhóm giải pháp về xây dư ̣ng nguồn nhân lực làm công tác trơ ̣ giúp cho NKT 83
2.5.4 Xây dựng chương trình, kế hoạch địa phương trong viê ̣c trơ ̣ giúp cho Người khuyết tâ ̣t 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87
1 Kết luận 87
2 Khuyến nghị 89
2.1 Nhà nước 90
2.2 Chính quyền huyện Lương Tài 90
2.3 Người khuyết tật 91
2.4 Gia đình Người khuyết tật 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 6DANH MỤC CÁC TƢ̀ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nô ̣i dung đầy đủ
An sinh xã hô ̣i Công tác xã hô ̣i Lao đô ̣ng – Thương binh và xã hô ̣i Người khuyết tâ ̣t
Trơ ̣ giúp xã hô ̣i Ủy ban nhân dân
Trang 7DANH MỤC BẢNG VÀ DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 DANH MU ̣C BẢNG
Bảng 2.1 Bảng khảo sát số Người khuyết tật tháng 12/2013
Bảng 2.2 Bảng khảo sát số Người khuyết tật tháng 5/2015
Bảng 2.3 Phân bố NKT trên địa bàn huyện theo thống kê tháng 5/2015
Bảng 2.4 Các dạng khuyết tật
Bảng 2.5.Nguyên nhân dẫn đến khuyết tật
Bảng 2.6.Bảng phân nhóm đối tượng và chi trả trợ cấp trên địa bàn huyện Bảng 2.7.Bảng tổng hợp phân bố các đối tượng NKT hưởng trợ cấp xã hội Bảng 2.8.Bảng tổng hợp kinh phí chi trả hàng tháng theo cấp xã, thị trấn tháng 5/2015
2 DANH MU ̣C BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1.Đối chiếu tỷ lệ NKT giai đoa ̣n 2013-2015
Biểu đồ 2.2.Các dạng khuyết tật
Biểu đồ 2.3.Các nguyên nhân dẫn đến khuyết tật
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Người khuyết tật là một bộ phận không nhỏ của dân số thế giới, trong bất
kì một xã hội nào dù phát triển hay kém phát triển, dù phải hứng chịu chiến tranh hay không có chiến tranh thì vẫn có một bộ phận người khuyết tật
Việt Nam là một trong những nước nghèo, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt lại trải qua thời gian chiến tranh kéo dài khắp các miền đất nước Chính vì vậy ở nước ta có tỉ lệ người khuyết tật khá cao so với tỉ lệ chung trên toàn thế giới, chiếm 6,4 % dân số cả nước tương đương khoảng 5,3 triệu dân, có khoảng 8% gia đình Việt Nam có người khuyết tật và hầu hết các hộ gia đình có người khuyết tật đều thuộc hộ nghèo
Người khuyết tật luôn được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cùng các tổ chức quốc tế, tổ chức xã hội Nhà nước ta đã ban hành nhiều hệ thống văn bản cùng với việc thực hiện các Công ước quốc tế về người khuyết tật nhằm giúp đỡ người khuyết tật có cuộc sống tốt, hòa nhập cộng đồng và phát triển như những người bình thường Suốt mấy thập kỉ qua xã hội đã có những chuyển biến tích cực trong nhận thức về thái độ, hành vi, hành động vì người khuyết tật Người khuyết tật không còn bị coi là gánh nặng của xã hội như trước nữa Mọi vấn đề có liên quan đến người khuyết tật đã được xem xét dưới nhiều góc độ quyền con người mà trên hết đó là các quyền bình đẳng, quyền được sống một cuộc sống đầy đủ và được tôn trọng phẩm giá Từ đó chính sách trợ giúp xã hội giúp cho người khuyết tật được hình thành cùng với các chính sách trợ giúp xã hội với các đối tượng khác
Hiện nay đã có rất nhiều chính sách trợ giúp cho người khuyết tâ ̣t về mọi mặt, Chính phủ Việt Nam cũng đã đưa ra luật người khuyết tật và thông tư hướng dẫn thi hành luật đối với người khuyết tật Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản
28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2012 về qui định chi tiết và hướng dẫn thi
Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội
Trang 9Chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên là một phần của hệ thống chính sách của nhà nước Trợ cấp xã hội thường xuyên trong đó có khoản tiền mà mỗi tháng người khuyết tật nhận được để mua lương thực, thực phẩm và các chi tiêu cần thiết khác, phục vụ cho nhu cầu cuộc sống Các chế độ trợ cấp được tính toán dựa vào các mức chi tiêu tối thiểu để đảm bảo duy trì hệ thống chính sách xã hội đã được qui định trong hệ thống các luật và văn bản hướng dẫn luật Các văn bản qui định rất rõ về các mức trợ cấp hàng tháng đối với từng đối tượng bảo trợ xã hội cụ thể trong đó có đối tượng là người khuyết tật
Lương Tài là một huyện của tỉnh Bắc Ninh, hiện nay trên địa bàn huyện,
số người khuyết tật bẩm sinh, khuyết tật do tai nạn giao thông khá lớn và rất cần được sự quan tâm của Đảng, nhà nước và các tổ chức xã hội thông qua chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên Chính sách trợ cấp xã hội được thực hiện trên toàn địa bàn của huyện cho các đối tượng thụ hưởng trong đó có người khuyết tật Tuy vậy chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên vẫn chưa đáp ứng đầy đủ và toàn diện, hiệu lực, hiệu quả của chính sách chưa cao Hạn chế là do nguyên nhân khách quan về điều kiện kinh tế-xã hội và nguyên nhân chủ quan của quá trình tổ chức thực thi Trên thực tế những người làm công tác thực thi chính sách trợ cấp còn thiếu chuyên môn, nghiệp vụ, thiếu kiến thức về người khuyết tật vì vậy việc thực thi chính sách còn nhiều bất cập
Những hạn chế này đã dẫn đến các đối tượng thụ hưởng chính sách chưa toàn diện, mô ̣t bô ̣ phâ ̣n NKT chưa thực sự hài lòng, đời sống vật chất và tinh thần của đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội vẫn gặp nhiều khó khăn Đây là một vấn đề phức tạp, khó khăn và cần được Nhà nước quan tâm dưới những góc độ khác nhau Điều này đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách và tổ chức thực hiện chính sách đúng đắn Vì lý do đó đã hướng cho tôi đề tài nghiên
cứu “Hoạt động thực hiện chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên đối với người
khuyết tật tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh”
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu và bài viết trên thế giới và ở Việt Nam về bảo trợ xã hội, ASXH và người khuyết tật Các công
Trang 102.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Báo cáo của liên hợp quốc về người khuyết tật (2002) chỉ ra rằng người khuyết tật chiếm trên 10% dân số thế giới, cuộc sống của họ đa phần gặp khó khăn cả về kinh tế và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
Năm 2011 trong một báo cáo của Liên Hợp Quốc (UN) và Tổ chức lao động quốc tế ILO đã chỉ ra có khoảng 5 tỷ người (khoảng 75% dân số thế giới) không được hưởng các chế độ an sinh xã hội phù hợp Trợ lý Tổng thư ký Liên hợp quốc, đồng thời là Tổng Giám đốc Cơ quan Liên hợp quốc phụ trách các vấn
đề về phụ nữ - bà Michelle Bachelet cho biết: Trong suốt 6 thập kỷ qua, nền kinh
tế thế giới tăng trưởng mạnh mẽ và tổng sản phẩm quốc nội của thế giới cũng tăng gấp 10 lần nhưng việc tiếp cận với các dịch vụ thiết yếu của người dân vẫn còn hạn chế Bởi vậy, bà Michelle Bachelet cho rằng: “Đảm bảo an sinh xã hội là thách thức cho tất cả các quốc gia Mỗi quốc gia cần thi hành các chính sách việc làm cho phụ vữ và thanh niên” Báo cáo của UN và ILO cho thấy, có khoảng 38% dân số thế giới (tương đương 2,6 tỷ người) không được hưởng các hệ thống chăm sóc sức khỏe thỏa đáng và 884 triệu người không được dùng nước sạch Thêm vào đó, có khoảng 1,4 tỷ người vẫn phải sống ở mức dưới 1,25 USD/ ngày Báo cáo cũng đề xuất các nguồn trợ cấp xã hội công cộng dành cho những gia đình nghèo, trong đó bao gồm trợ cấp cho những người già cả, người khuyết tật và khoản trợ cấp dành cho trẻ em và những người thất nghiệp Bên cạnh đó, chăm sóc y tế, giáo dục, nước sạch và vệ sinh dịch tễ cũng nên được đảm bảo cho tất cả mọi người.[48]
Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (2006) cũng đã xác định được những quyền cơ bản của người khuyết tật, trong đó cũng đã nhấn mạnh đến các quyền về chăm sóc sức khỏe, học tập, việc làm, bảo đảm thu nhập và an sinh xã hội; đặc biệt công ước cũng nhấn mạnh đến nguyên tắc chống phân biệt đối xử, bảo vệ phụ nữ và trẻ em khuyết tật Việt Nam cũng đã ký kết tham gia thực hiện công ước
Báo cáo của cố vấn quốc hội Mỹ về người khuyết tật (2013) cho rằng người khuyết tật ở Mỹ chiếm khoảng 15% dân số nước Mỹ; bên cạnh những chính sách trợ giúp của nhà nước cho người khuyết tật về chăm sóc sức khỏe, tạo
Trang 11việc làm họ cũng gặp rất nhiều rào cản tiếp cận các dịch vụ xã hội như: vui chơi giải trí, việc làm
Hiện nay hầu hết các quốc gia đã nghiên cứu và ban hành chính sách trợ giúp người khuyết tật, dựa vào lý thuyết vòng đời từ khi con người sinh ra còn là trẻ em, đến khi trưởng thành và trở thành người già, trong quá trình ấy một bộ phận người dân không may mắn rơi vào tình trạng khuyết tật Với quan điểm các Quốc gia thành viên đã tham gia phê duyệt công ước của Liên hợp quốc về quyền của NKT phải có trách nhiệm bảo đảm an sinh xã hội cho người khuyết tật Nhờ có hệ thống chính sách an sinh xã hội cho người khuyết tật mà cuộc sống của đại
đa số người khuyết tật được ổn định và người khuyết tật có cơ hội phát triển và hoà nhập cộng đồng
2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Các nghiên cứu về Bảo trợ xã hội
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Cục Bảo trợ xã hội, xuất bản cuốn
“Hệ thống các văn bản pháp luật về bảo trợ xã hội (2000)”, NXB Lao động-Xã hội[4] Cuốn sách hệ thống hóa các chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về Bảo trợ xã hội tại Việt Nam Đây là tài liệu quan trọng giúp cho việc thực hiện các chinh sách, chính xác, đầy đủ Hệ thống chính sách
áp dụng với các đối tượng thụ hưởng được qui định rõ
Tác giả Lê Bạch Dương và các tác giả đã xuất bản cuốn sách “Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam” (2005, NXB Thế giới, Hà Nội[12] Cuốn sách trình bày kết quả khảo sát các nhu cầu và những nhu cầu có liên quan đến nhóm thiệt thòi ở Việt Nam Nhìn nhận chức năng trợ giúp xã hội thường xuyên như hệ thống bảo trợ xã hội Đồng thời các tác giả đưa ra các dẫn chứng
về số liệu, văn bản, nguồn lực, kết quả thực hiện, điểm mạnh, điểm hạn chế của
hệ thống bảo trợ xã hội của Việt Nam đối với các nhóm đối tượng yếu thế, thiệt thòi cần được trợ giúp
Đi sâu vào nghiên cứu thực tế, năm 2010, tác giả Hà Thị Thanh Lê có đề tài “Chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng ninh trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Học viện chính trị Quốc gia Hồ
Trang 12của tỉnh Quảng Ninh nói riêng, Đánh giá thực trạng chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Từ đó tác giả đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp nhằm bảo đảm tốt hơn cho các hoạt động cần được bảo trợ xã hội trên địa bàn
Tác giả Phạm Đại Đồng (2011) có đề tài nghiên cứu “Chính sách bảo trợ xã hội đối với một số đối tượng yếu thế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của chính sách bảo trợ xã hội đối với những người yếu thế; đánh giá tình hình thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với một số đối tượng yếu thế ở nước ta trong thời gian qua Từ đó tác giả đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách bảo trợ xã hội với một số đối tượng yếu thế ở nước ta trong giai đoạn tới
Các nghiên cứu về an sinh xã hội:
Tác giả Nguyễn Đình Liêu năm 2002 có bài viết “Trợ cấp xã hội trong hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam” trên Tạp chí Kinh tế Luật (số 1), Đại học Quốc gia Hà Nội[22] Tác giả nêu nên vai trò của trợ cấp xã hội trong hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam Trợ cấp xã hội đã được nghiên cứu chi tiết, cụ thể từ đó thấy được ý nghĩa, vai trò trong hệ thống an sinh xã hội Đó là một bộ phận cấu thành, mắt xích quan trọng không thể thiếu trong việc đảm bảo an sinh xã hội
Năm 2004, bài viết đề cập đến hệ thống pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam từ năm 1945 đến 2004 của tác giả Lê Thị Hoài Thu về “Thực trạng pháp luật an sinh xã hội ở Viêt Nam” trên tạp chí Bảo hiểm xã hội (số 6)[35] Thông qua việc nghiên cứu thực trạng an sinh xã hội, tác giả đưa ra một số ý kiến để hoàn thiện hệ thống pháp luật về an sinh xã hội ở nước ta hiện nay, trong đó có pháp luật về trợ giúp xã hội Các ý kiến đóng góp giúp cho các nhà hoạch định chính sách hoàn thiện đầy đủ và cụ thể hơn hệ thống pháp luật để đảm bảo hệ thống an sinh xã hội
Năm 2007, Nguyễn Hải Hữu, chủ biên cuốn “ Giáo trình nhập môn an sinh xã hội” NXB Lao Động-Xã hội, Hà Nội[18] Tác giả có quan điểm cho rằng trợ giúp xã hội là trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng bảo trợ xã hội và trợ cấp khẩn cấp Giáo trình cung cấp cho nhân viên công tác xã hội kiến thức cơ
Trang 13bản về hệ thống an sinh xã hội của nước ta Đây là nguồn tài liệu quan trọng cho sinh viên trong việc học tập và nghiên cứu các chính sách và hoạt động trợ giúp với đối tượng yếu thế trong xã hội
Cùng với Nguyễn Hải Hữu, năm 2008 tác giả Nguyễn Văn Định biên soạn cuốn “Giáo trình an sinh xã hội” NXB Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Cuốn sách hệ thống các chính sách ASXH trong đó có trợ giúp xã hội[15] Tác giả cho rằng trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng xã hội bằng tiền hoặc bằng các phương tiện thích hợp để người được giúp có thể phát huy được khả năng tự
lo liệu cho cuộc sống của bản thân, gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng Đó là những quan điểm có ý nghĩa quan trọng giúp cho việc nắm bắt hệ thống an sinh xã hội một cách đầy đủ nhất
An sinh xã hội đóng vai trò then chốt góp phần đảm bảo phát triển kinh tế bền vững, xây dựng đất nước ngày một giàu đẹp Thông qua “Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện chính sách
an sinh xã hội ở nước ta trong quá trình hội nhập”, Tạp chí lao động xã hội (số 332), 4/2008 của Nguyễn Hữu Dũng đã chỉ ra rất rõ điều đó Tác giả phân tích mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta trong quá trình hội nhập, đưa ra kiến nghị cần xây dựng mức chuẩn trợ cấp chung và từ mức chuẩn trợ cấp này xác định mức cho mỗi loại chính sách cụ thể của hệ thống chính sách ASXH Tác giả còn cho rằng trợ giúp xã hội là hợp phần của hệ thống, ASXH và phải được xây dựng trên quan điểm gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế và phát triển hệ thống an sinh xã hội Quốc gia.[14]
Ngoài các công trình nghiên cứu về mặt lí luận, năm 2009, Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Huyền, Nguyễn Anh Dũng có công trình nghiên cứu “Lý thuyết và mô hình an sinh xã hội (phân tích thực tiễn ở Đồng Nai)”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội[29] Công trình nghiên cứu này đã đi sâu vào thực hiện phân tích cụ thể rõ ở một địa phương Các tác giả đã trình bày những bất cập, xu hướng vận động và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển hệ thống ASXH Đồng thời các tác giả phân tích chính sách ASXH thực
Trang 14Đề tài nghiên cứu này đã cho người đọc thấy rõ hơn hệ thống an sinh xã hội ở nước ta từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện hệ thống chính sách trên quan điểm gắn kết phát triển kinh tế với phát triển hệ thống an sinh xã hội Quốc gia Trong đó tác giả cũng nêu các khía cạnh chủ yếu của hệ thống an sinh xã hội như trợ giúp xã hội
Năm 2009, Mai Ngọc Cường (chủ nhiệm đề tài), Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an ninh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006-2015, Đề tài cấp nhà nước, chương trình KH và CN trọng điểm cấp Nhà nước, Bộ khoa học và Công nghệ 2009 Công trình làm rõ những vấn đề cơ bản
về ASXH và hệ thống chính sách ASXH trong nền kinh tế thị trường; Đánh giá thực trạng của hệ thống chính sách và thực thi chính sách ASXH Từ đó tác giả
đề xuất các giải pháp xây dựng hệ thống tổng thể quốc gia về ASXH ở Việt Nam giai đoạn 2006-2015
Các nghiên cứu cụ thể về công tác cứu trợ xã hội và trợ giúp xã hội thường xuyên:
Các tác giả đã và đang theo hướng nghiên cứu các vấn đề cụ thể hơn, thực
tế hơn để có cái nhìn đúng nhất về những vấn đề trong hệ thống an sinh xã hội hiện nay
Năm 2002, Nguyễn Tiệp nghiên cứu “Các giải pháp nhằm thực hiện xã hội hóa công tác cứu trợ xã hội”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Công trình nghiên cứu thực trạng về xã hội hóa công tác cứu trợ xã hội và đề xuất các giải pháp nhằm xã hội hóa công tác cứu trợ xã hội, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Công trình nghiên cứu thực trạng về xã hội hóa công tác cứu trợ xã hội và để xuất các giải pháp nhằm xã hội hóa công tác cứu trợ xã hội
Năm 2010, Tác giả Nguyễn Ngọc Toản đã có nghiên cứu về đề tài:
“Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng ở Việt Nam”[32], Luận án tiến sĩ, Đại học kinh tế quốc dân Tác giả đã có viết một phần về Người khuyết tật Trong luận án, tác giả đã đưa ra cách hiểu mới về trợ giúp xã hội không chỉ là cứu đói, hỗ trợ lương thực cho cá nhân, hộ gia đình, chịu hậu quả thiên tai, chiến tranh, mà đã mở rộng thành các hợp phần chính sách là trợ giúp đột xuất và trợ giúp thường xuyên Mỗi hợp phần chính sách lại bao gồm các chính sách bộ phận
Trang 15đặc biệt như chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng gồm các chính sách bộ phận là: trợ cấp xã hội hàng tháng, trợ giúp về y tế, trợ giúp về giáo dục, trợ giúp về việc làm, trợ giúp về học nghề Đồng thời trong bài viết cũng chỉ ra được số lượng Người khuyết tật (2008) trên cả nước và phạm vi phân
bố Người khuyết tật, dạng khuyết tật và số lượng Người khuyết tật cũng như nhu cầu của Người khuyết tật, đáp ứng nhu cầu của Người khuyết tật Kết quả nghiên cứu phát hiện nhu cầu trợ giúp tương đối đông, tính chung 16,22% dân số cần trợ giúp xã hội Các nhu cầu trợ giúp (đời sống, sức khỏe, giáo dục) là khác nhau, tùy thuộc vào các nhóm đối tượng cụ thể Các công cụ chính sách được quy định đồng bộ (bao gồm trợ cấp xã hội, trợ giúp về y tế, trợ giúp về giáo dục Tính hiệu quả của chính sách ngày càng cao theo thời gian Tuy nhiên tính hiệu lực, hiệu quả, tính công bằng và bền vững của chính sách còn chưa đảm bảo (mới bao phủ 1,45% dân số, 12,2% thuộc diện chưa hưởng chính sách, 32% đối tượng, 55% cán bộ chưa thực sự hài lòng với chính sách) Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Toản đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng; Đánh giá thực trạng đối tượng bảo trợ xã hội và nhu cầu trợ giúp thường xuyên, thực trạng chính sách trợ giúp thường xuyên cộng đồng Từ đó tác giả nêu kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện chính sách
Các nghiên cứu về vấn đề trợ giúp xã hội cho NKT:
Ngoài các công trình nghiên cứu đã nêu còn có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề trợ giúp xã hội cho người khuyết tật như: “ Đánh giá việc thực hiện Bộ luật lao động đối với lao động là người tàn tật và pháp lệnh người tàn tật” của tác giả Nguyễn Diệu Hồng-Bộ Lao động thương binh và xã hội Đề tài
“Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Thị Báo-Học viện chính trị-Hành chính Quốc gia Báo cáo kết quả “Thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật và đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2006-2010 của Bộ lao động thương binh và xã hội năm 2008; Báo cáo “Đánh giá tình hình thực hiện chính sách trợ giúp phụ nữ khuyết tật của Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam”
Trang 16Năm 2007, Nguyễn Hải Hữu cũng đã có nghiên cứu về thực trạng trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội ở nước ta năm 2001 – 2007 và khuyến nghị đến năm 2015 Tác giả đã đề cập đến các đối tượng bảo trợ xã hội trong đó có người khuyết tật và các trợ giúp xã hội mà người khuyết tật được hướng đến Từ đó, đề ra các kiến nghị, giải pháp tiếp tục hoàn thiện các chính sách trợ giúp xã hội khám chữa bệnh, giáo dục, tiếp cận các công trình giao thông công cộng cho các đối tượng bảo trợ xã hội nói chung và người khuyết tật nói riêng
Qua các nghiên cứu của các tác giả cũng như các bộ ngành, đã cho chúng ta thấy một bức tranh về thực trạng người khuyết tật, kết quả thực hiện chính sách và
đề xuất, kiến nghị các giải pháp tăng cường hệ thống thực thi các chính sách liên quan đến người khuyết tật Các công trình nghiên cứu tổng quát về ASXH, chính sách trợ giúp thường xuyên, bảo trợ xã hôi, các chính sách trợ giúp, biện pháp tổ chức thực hiện chính sách trợ giúp một cách đầy đủ nhất xong chưa có nghiên cứu, bài viết nào đi sâu vào nghiên cứu vai trò của nhân viên công tác xã hội cũng như các hoạt động thực hiện chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, để từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm thực thi chính sách một cách hiệu quả nhất Nghiên cứu về trợ cấp xã hội thường xuyên trong luận văn này của học viên tập trung vào Nghị định 28 về qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật và
hội
Công tác xã hội đóng vai trò quan trọng, trên cơ sở là cầu nối đưa chính sách tới từng đối tượng cụ thể nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của con người Đây là vấn đề mới và phức tạp cả về lý luận và thực tiễn, phương pháp thực thi
hệ thống văn bản chính sách về trợ giúp người khuyết tật ở Việt Nam nói chung cũng như ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh nói riêng
3 Ý nghĩa của nghiên cứu
3.1 Ý nghĩa khoa học
Với kết quả nghiên cứu đạt được luận văn sẽ thể hiện rõ được các khía cạnh sau:
Trang 17Hiệu quả của việc thực hiện các chính sách xã hội trong việc trợ giúp Người khuyết tật giúp họ ổn định và cải thiện cuộc sống, tăng cường khả năng thực hiện quyền của người khuyết tật tại cộng đồng, qua đó làm rõ việc đưa chính sách đi vào cuộc sống, đồng thời chỉ ra những rào cản và thách thức trong việc thực thi chính sách, giúp cho các cơ quan quản lý có cái nhìn toàn diện hơn về các cơ chế, chính sách đã ban hành và tiếp tục hoàn thiện để giảm thiểu những rào cản trong việc tiếp cận chính sách trợ giúp đối với người khuyết tật
Đánh giá việc thực hiện của các cơ quan quản lý Nhà nước trong công tác thực thi pháp luật, chính sách của Nhà nước đối với người khuyết tật, qua đó đề cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và cá nhân trong việc thực thi chính sách trợ giúp người khuyết tật
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu về chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên đối với người khuyết tật, tổng hợp chính sách trợ cấp xã hội, các văn bản hướng dẫn thi hành, đặc biệt là Nghị định 28 và Nghị định 136, đề tài hệ thống hóa các khái niệm, quan điểm liên quan đến chính sách trợ cấp xã hội đối với người khuyết tật, chỉ ra những ưu điểm và những mặt còn hạn chế của chính sách Đây là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành công tác xã hội
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu cung cấp những thông tin giá trị về thực trạng việc thực hiện chính sách trợ cấp xã hội trên địa bàn huyện Lương Tài theo Nghị định
các tác động và hạn chế của chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên hiện nay Đồng thời thể hiện rõ vai trò của người thực thi chính sách ở đây là nhân viên CTXH đã mang lại tác dụng tích cực cho việc thực hiện chính sách và đáp ứng phần nào nhu cầu về tinh thần và vật chất cho NKT
Kết quả nghiên cứu của đề tài này giúp thấy được thực trạng đời sống của NKT, hiệu quả và tác đô ̣ng của chính sách trợ cấp xã hô ̣i với đời sống tinh thần và
vâ ̣t chất của NKT Từ đó có cái nhìn tổng quan hơn về các chính sách trợ cấp xã
hô ̣i và những hạn chế trong việc ban hành và thực thi chính sách cũng như đưa ra các giải pháp giúp hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội cho NKT
Trang 184 Đối tƣợng, khách thể va ̀ pha ̣m vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng hoạt động thực hiê ̣n chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên đối với người khuyết tật trên địa bàn huyện Lương Tài
4.2 Khách thể nghiên cứu
- Chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên đối với người khuyết tật
- Hộ gia đình người khuyết tật và người khuyết tật đang hưởng trợ cấp xã hội
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên đối với người khuyết tật và vai trò của người thực thi chính sách
- Đánh giá việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên đối với người khuyết tật trên địa bàn huyện Lương Tài về: những kết quả đạt được, hạn
Trang 19chế, nguyên nhân của thực trạng thực hiện chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên với người khuyết tật hiện nay
- Đề xuất các giải pháp trong việc tổ chức thực hiện chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên đối với người khuyết tật trên địa bàn huyện
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Người khuyết tâ ̣t huyê ̣n Lương Tài là ai? Đời sống của họ như thế nào?
- Hoạt động thực hiện chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên tại huyện Lương Tài diễn ra như thế nào?
- Hiệu quả của viê ̣c thực hiê ̣n chính sách đó đối với Người khuyết tâ ̣t?
- Nhân viên công tác xã hô ̣i đóng vai trò như thế nào trong quá trình thực hiện chính sách?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Đời sống của NKT còn gặp nhiều khó khăn về mọi mặt của cuộc sống và cần có sự hỗ trợ nhiều hơn từ cô ̣ng đồng và chính quyền
Thực trạng việc thực hiện chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên đối với người khuyết tật hiện nay còn nhiều hạn chế , chưa có tính khoa học, chưa có sự hướng dẫn, tư vấn để các đối tượng hiểu rõ và sử dụng đúng mục đích khoản trợ cấp mà họ được hưởng
Chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên góp phần thay đổi, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người khuyết tật giúp họ xóa đi mặc cảm để hòa nhập với cộng đồng
Nhân viên CTXH đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực thi chính sách giúp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách trợ cấp xã hội
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết để làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu Đây là phương pháp chính sử du ̣ng trong quá trình nghiên cứ u Phân tích các tài liê ̣u liên quan đến chính sách trợ cấp xã hô ̣i, đă ̣c biê ̣t là chính sách dành cho NKT nhằm mục đích làm rõ vị trí vai trò của chính s ách trợ cấp xã hội dành cho NKT trong hê ̣ thống an sinh xã hô ̣i của Việt Nam
Trang 208.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp này được tác giả nghiên cứu thực hiê ̣n và sử du ̣ng nhằm mu ̣c đích làm rõ tác động của chính sách đối với NKT , nguyê ̣n vo ̣ng và nhu cầu c ủa NKT đối với các chính sách trợ cấp của Nhà nước nhằm thu thâ ̣p những thông tin phu ̣c
vụ trong quá trình nghiên cứu
- Đối tượng: Cán bộ thực hiện chính sách, người khuyết tật
- Số lượng phỏng vấn sâu : 25 người, trong đó Lãnh đạo phòng LĐTB&XH huyện (01), chuyên viên thực hiện chính sách của phòng LĐTB&XH huyện(01), nhân viên làm công tác thực hiện chính sách cấp xã, thị trấn(03), người khuyết tật (20)
8.2.2 Phương pháp quan sát
- Quan sát thể trạng, dạng tật, hoàn cảnh sống của người khuyết tật
- Quan sát các trang thiết bị phục vụ công tác thực hiện chính sách
- Quan sát thái độ, hành vi của cán bộ, nhân viên đối với người khuyết tật trong công tác thực hiện chính sách và thái độ của NKT trong các hoạt động cộng đồng
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luâ ̣n, danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , luận văn được kết cấu thành 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luâ ̣n trong viê ̣c thực hiê ̣n chính sách trợ cấp xã hô ̣i thường xuyên đối với người khuyết tâ ̣t
Chương 2: Thực tra ̣ng hoạt động thực hiện chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên đối với người khuyết tâ ̣t tại huyê ̣n Lương Tài
Trang 21CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN ĐỐI VỚI NGƯỜI
Theo tác giải Vũ Cao Đàm thì “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo
sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một
hệ thống xã hội” Theo tác giả thì khái niệm “hệ thống xã hội” được hiểu theo một ý nghĩa khái quát Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường
Hiểu sâu hơn về khái niê ̣m chính sách thì Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra; Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế; Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng
1.1.2 Chính sách xã hội
Chính sách xã hội là sự cụ thể hóa, thể chế hóa các đường lối, chủ trương
để giải quyết những vấn đề xã hội dựa trên tư tưởng, quan điểm phù hợp với bản chất xã hội, chính trị phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và của từng nhóm xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếp vào con người
và điều chỉnh các quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục đích cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về
Trang 22Như vậy chính sách xã hội là một bộ phận cấu thành chính sách chung của một chính quyền Nhà nước, là sự thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối của một nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề liên quan tới cuộc sống con người, các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Dựa trên quan điểm của chủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chất của chế độ chính trị, xã hội, nó góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội cho phù hợp với mục tiêu của giai cấp, chính đảng cầm quyền Thực chất, mỗi chế độ chính trị muốn tồn tại và phát triển phụ thuộc rất lớn vào việc điều hòa các mối quan hệ xã hội như thế nào thông qua các chính sách ban hành, đây là những công cụ để nhà nước bảo đảm sự ổn định xã hội, và tăng cường sự phát triển xã hội đồng thời làm nên mạng lưới an sinh xã hội của một quốc gia vì hạnh phúc của con người
1.1.3 Trợ giúp xã hội
Trơ ̣ giúp xã hô ̣i được hiểu theo các quan điểm , tiếp câ ̣n, tính chất, chức năng và mô hình khác nhau Phần lớn các tài liê ̣u nghiên cứu chưa lý giải mô ̣t cách toàn diện khái niệm Trợ giúp xã hội Tuy nhiên cũng đã giải thí ch mô ̣t số khái niệm gần với TGXH như : ASXH, bảo trợ xã hội , công tác xã hô ̣i , phúc lơi
xã hội, cứu tế xã hô ̣i , bảo hiểm xã hội , dịch vụ xã hội Có thể hiểu TGXH : Trợ
giúp xã hội là hệ thống các chính sách , chế độ, hoạt động của Nhà nước , chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biê ̣n pháp khác nhau , nhằm giúp các đối tượng yếu thế và dễ bi ̣ tổn thương có điều kiê ̣n ổn đi ̣nh cuộc sống và có c ơ hội hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng để cùng phát triển
Trang 23WHO, các thuật ngữ suy giảm chức năng, khuyết tật, tàn tật có nội hàm khác nhau:
Suy giảm chức năng chỉ những người có vấn đề về thể chất
Khuyết tật: Những hạn chế trong hoạt động do suy giảm chức năng gây nên
Như vậy, suy giảm chức năng nói đến việc một bộ phận cơ thể có những bất thường về cấu tạo hoặc chức năng, khuyết tật nói đến do ảnh hưởng của suy giảm chức năng tới việc thực hiện các hoạt động của con người và tàn tật chỉ là kết quả chung của suy giảm hệ thống hay khuyết tật [12,trg.9]
Quan niệm về khuyết tật, tàn tật khác nhau giữa các nước trên thế giới có những hoàn cảnh xã hội, văn hóa, kinh tế, , lịch sử khác nhau và có biến đối qua các giai đoạn phát triển xã hội, lịch sử quốc gia, tùy thuộc vào thái độ nhận thức
và hiểu biết về khuyết tật và người khuyết tật [12,trg10]
Luật người khuyết tật, định nghĩa tại Điều 2, Mục 1, Người khuyết tật được hiểu là “ Người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [14,trg.7] Theo cách hiểu này, NKT bao gồm cả những người
bị khiếm khuyêt bẩm sinh, người bị khiếm khuyết do tai nạn, thương binh, bệnh binh
Tại điều 3, Luật người khuyết tật cũng qui định rõ các dạng khuyết tật bao gồm [14.trg.8]
Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau:
Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực
Trang 24Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một
số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp như hai trường hợp trên
1.1.5.Khái niệm chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên
+ Bản chất trợ cấp xã hội thường xuyên
Là khoản tiền của Nhà nước cấp cho đối tượng chính sách hàng tháng để mua lương thực, thực phẩm và chi tiêu cần thiết khác phụ vụ cho nhu cầu cuộc sống Các chế độ trợ cấp được tính toán dựa vào các mức chi tiêu tối thiểu để đảm bảo duy trì cuộc sống cho đối tượng (bao gồm cả chi phí nuôi dưỡng và chi phí cho người người chăm sóc trong trường hợp không tự chăm sóc được cho bản thân) [22]
+ Mục tiêu trợ cấp xã hội thường xuyên
Hướng tới giải quyết vấn đề công bằng, ổn định và phát triển bền vững về chính trị, kinh tế và xã hội của quốc gia Mục tiêu cụ thể nhằm giúp người khuyết tật bảo đảm các điều kiện sống ổn định, an toàn, hòa nhập, tham gia đóng góp vào quá trình phát triển xã hội
+ Nguyên tắc và tiêu chí đánh giá chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên
Chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên cần phải tuân thủ quy trình chính sách, nguyên tắc chung và một số nguyên tắc riêng để thực hiện mục tiêu giúp người khuyết tật vươn lên thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn và sự tự ti của bản thân
Tuân thủ hệ thống chính trị: phải được xây dựng trên cơ sở quan điểm chủ chương của Đảng và nhà nước về phát triển kinh tế-xã hội từng thời kỳ
Bảo đảm tính khoa học: cở sở khoa học là các chính sách ban hành và thực hiện phải được nghiên cứu một cách khách quan, tuân thủ cơ sở lý luận và thực tiễn, chính sách đưa ra phải được khả thi và được cuộc sống chấp nhận
Trang 25Bảo đảm tính hiệu lực: xem xét thiết lập mục tiêu chính sách để đạt được như mong muốn của Nhà nước Xác định được phạm vi ảnh hưởng của chính sách, dự báo nguồn lực, điều kiện để thực hiện mục tiêu
Bảo đám tính công bằng: Ngay từ khi nghiên cứu, xây dựng chính sách đảm bảo sự công bằng ngay trong các nhóm các nhóm đối tượng hưởng lợi, đồng thời phải phù hợp với các chính sách xã hội khác tránh không để có sự chênh lệch quá lớn về các mức chính sách sách trong hệ thống chính sách xã hội
Bảo đảm tính công khai, minh bạch: Đây là yêu cầu của đối tượng hưởng lợi và cũng đòi hỏi trong quá trình thực hiện chính sách Minh bạch, công khai ngay từ hoạch định chính sách, trình tự thủ tục hồ sơ xét duyệt chính sách, giám sát kết quả
Bảo đảm sự ổn định bền vững: Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên là chính sách lâu dài, đòi hỏi có sự ổn định chính sách trong một khoảng thời gian nhất định
Bảo đảm sự chia sẻ trách nhiệm: xác định vai trò của Nhà nước và vai trò của tư nhân, tách bạch giữa thương mại và không thương mại Nhà nước qui định chính sách, tư nhân cung cấp dịch vụ đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa để giảm bớt gánh nặng ngân sách Nhà nước
+ Đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên bao gồm:
Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp: bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi; mồ côi cả cha và mẹ; mô côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo qui định của pháp luật;…
Người từ 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong các trường hợp nêu trên mà đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất
Người thuộc hộ nghèo không có chồng hoặc không có vợ; có chồng hoặc vợ chết; có chồng hoặc vợ mất tích theo qui định của pháp luật và đang nuôi con
Trang 26phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất(người đơnt hân nghèo đang nuôi con)
Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp: người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội thường xuyên; người đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện trên mà không có lương hưu, trợ cấp bào hiểm xã hội hàng tháng; trợ cấp xã hội hàng tháng; người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng
Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội theo qui định của pháp luật về người khuyết tật.[5]
+ Nội dung của trợ cấp xã hội thường xuyên
Trợ cấp xã hội thường xuyên hay trợ cấp xã hội hàng tháng là khoản tiền của Nhà nước cấp cho đối tượng chính sách hàng tháng để mua lương thực, thực phẩm và các chi tiêu cần thiết khác phục vụ cho nhu cầu cuộc sống Các chế độ trợ cấp được tính toán dựa vào các mức chi tiêu tối thiểu để đảm bảo duy trì cuộc sống cho đối tượng bao gồm cả chi phí nuôi dưỡng và chi phí cho mọi người chăm sóc trong trường hợp không tự chăm sóc được cho bản thân
Mức trợ cấp xã hô ̣i được thực hiê ̣n Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ về qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật người khuyết tật Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng
10 năm 2013 của Chính phủ về qui định về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng trợ giúp xã hội đột xuất; hỗ trợ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội và nhà xã hội
1.1.6 Công tác xã hội
Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội
Trang 27về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội
Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011)
thống nhất một định nghĩa về CTXH như sau:Công tác xã hội là nghề nghiệp
tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành
vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống.[25]
Theo đề án 32 của Chính phủ Công tác xã hội đã được công nhận là một nghề, có mã ngành riêng tuy nhiên hiện nay chưa cóc nhân viên Công tác xã hội chuyên biệt trợ giúp ở cấp xã, phường, quận, huyện Ở các cấp này mới chỉ có các cán bộ thực hiện chính sách đảm nhận các vai trò như nhân viên công tác xã hội vào các công tác trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội trong đó có NKT Vì thế, khi nói đến vai trò của người thực thi chính sách ta có thể coi như đó là vai trò của một nhân viên công tác xã hội
Những người thực thi chính sách có vai trò quan trọng đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội, đặc biệt là NKT Là người kết nối-còn gọi là trung gian: là người có được những thông tin về các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho NKT các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có từ các cá nhân,
cơ quan tổ chức trong đó các chính sách về trợ cấp xã hội thường xuyên để họ tiếp cận với những nguồn lực, chính sách, tài chính, kĩ thuật
Người khuyết tật thuộc nhóm yếu thế do có sự khiếm khuyết cơ thể, các chức năng xã hội của họ có thể bị suy giảm Vì vậy, đội ngũ cán bộ thực thi chính sách có thể giúp họ tiếp cận được các nguồn lực bên ngoài, phát huy nguồn lực bên trong để họ trở lên mạnh mẽ hơn, có khả năng sống độc lập và tham gia vào các hoạt động lao động, học tập như những người bình thường
Trong hoạt động trợ giúp người khuyết tật chính là đánh giá nhu cầu về
Trang 28hợp, hỗ trợ Người khuyết tật tiếp cận những dịch vụ phù hợp và duy trì tiếp cận một loạt các dịch vụ phối hợp tốt nhất Trong trường hợp cần thiết, người thực thi chính sách cũng cung cấp hỗ trợ tâm lý cho người khuyết tật và gia đình của họ Như vậy, bằng những kiến thức, kỹ năng và phương pháp, giống như nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp đã trợ giúp cho cá nhân, gia đình và cộng đồng người khuyết tật, phục hồi các chức năng xã hội mà họ bị suy giảm
Bên cạnh đó, còn thúc đẩy môi trường xã hội, bao gồm: chính sách, pháp luật, cộng đồng thân thiện để giúp người khuyết tật hòa nhập xã hội và làm tốt chức năng của họ Đội ngũ này đóng vai trò là người xúc tác, biện hộ để cá nhân, gia đình có người khuyết tật được hưởng những chính sách an sinh xã hội dành cho họ Trên cơ sở đó, giúp người khuyết tật nâng cao chức năng của mình
Đội ngũ cán bộ thực thi chính sách, ngoài việc tham gia giải quyết các vấn
đề xã hội còn thực hiện các hoạt động như giáo dục phòng ngừa, tập huấn và cung cấp kiến thức cho gia đình, người thân cách chăm sóc người khuyết tật để giúp đối tượng trở nên chủ động, có khả năng tự chăm sóc, như vậy họ sẽ tự tin hơn trong cuộc sống và sẽ tránh được những vấn đề khác có thể phát sinh Đồng thời, họ tư vấn để chính quyền có những chính sách phù hợp nhằm ngăn ngừa sự phát sinh các vấn đề xã hội Thông qua việc cung cấp các dịch vụ xã hội như: chăm sóc sức khỏe, cải thiện tình hình kinh tế và việc làm, hạ tầng cơ sở, nước sạch, vệ sinh môi trường, hỗ trợ tâm lý tình cảm…người thực thi chính sách sẽ giúp Người khuyết tật có được cơ hội tiếp cận dịch vụ để giải quyết vấn đề của bản thân, phát huy được những khả năng của mình, vượt qua khó khăn, vươn lên
tự lập trong cuộc sống Bằng hoạt động giáo dục, cung cấp kiến thức, kĩ năng giải quyết vấn đề cho các cá nhân, gia đình và cộng đồng người khuyết tật, đội ngũ này sẽ cung cấp cơ hội cho Người khuyết tật được hòa nhập cộng đồng – là một biện pháp giúp họ phát triển nhân cách, tăng cường giao lưu và học hỏi xã hội
Trang 291.2 Những lý thuyết đƣợc vận dụng trong đề tài
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Abraham Maslow (1908 – 1970), nhà tâm lý học người Mỹ được thế giới biết đến như là nhà tiên phong trong trường phái Tâm lý học Nhân Văn
(humanistic psychology) với lý thuyết bậc thang nhu cầu (Hierarchy of Needs)
của con người Vào những năm 50 của thế kỉ XX, ông đã xây dựng thành công học thuyết phát triển về nhu cầu của con người [16]
Theo Maslow bậc thang nhu cầu được ông thể hiện dưới hình Kim tự tháp, các nhu cầu bậc thấp (nhu cầu cho sự tồn tại) xếp phía dưới, trong khi những nhu cầu cho sự phát triển, sự hoàn thiện cá nhân được coi là quan trọng hơn, giá trị hơn, chúng được xếp ở các bậc thang trên cao của Kim tự tháp [16]
Ứng dụng vào đề tài nghiên có thể thấy nhu cầu của NKT là những đòi hỏi cần được đáp ứng để tồn tại và phát triển NKT cũng có những nhu cầu cơ bản như mọi người trong xã hội, và nhu cầu là nguồn gốc thúc đẩy NKT hoạt động vươn tới những mục tiêu cho sự phát triển của bản thân
Theo quan điểm của nhà tâm lý học A.Maslow con người có 5 loại nhu cầu cơ bản được sắp xếp theo bậc thang từ thấp đến cao
Nhu cầu sẽ xuất hiện khi con người nói chung và NKT nói riêng bị thiếu hụt những yếu tố nhất định trong môi trường sống, những thiếu hụt này nếu không được bù đắp sẽ gây ra các căng thẳng về sinh lý, tâm lý
Về sinh lý: xuất hiện những trạng thái mất cân bằng trong cơ thể gây cảm giác khó chịu (đói, khát, rét)
Về tâm lý: xuất hiện những cảm xúc tiêu cực khi bị bỏ rơi, không quan tâm, thiếu sự tương tác, tình yêu, sự che chở, đùm bọc
Các nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trước tiên NKT cần được đáp ứng các nhu cầu ở mức độ thấp Sau đó mới tìm đến sự đáp ứng các nhu cầu
ở bậc thang cao hơn Các nhu cầu không tồn tại độc lập mà luôn nằm trong mối
Trang 30quan hệ gắn kết, phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau, các nhu cầu được sắp xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao
Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh
và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ hống thứ bậc nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người từ thấp đến cao Nhu cầu của NKT cũng không nằm ngoài những nhu cầu này
Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con
người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thỏa mãn về tính dục
Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được, khi những nhu cầu này chưa được thỏa mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa
Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: An ninh và an toàn có nghĩa là một
môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu an toàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được
Những nhu cầu về quan hệ và đƣợc thừa nhận(tình yêu và sự chấp nhận): Nhu cầu bày bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ
bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau [16] Người khuyết tật thường có những cảm giác này do đó nhu cầu muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, bạn bè, tình thân ái là nhu cầu không thể thiếu được
Trang 31Nhu cầu đƣợc tôn trọng: Nội dung của nhu cầu này gồm 2 loại: Lòng tự
trọng và được người khác tôn trọng
+ Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muốn giành được lòng tin Có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện
+ Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,…Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người
Nhu cầu phát huy bản ngã: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong
cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức( học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ ( cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng cá nhân [16]
Đối với NKT dù không được hoàn thiện về hình thức nhưng họ luôn muốn
để người khác thấy được vẻ đẹp chính bên trong con người của họ Những nhu cầu trên là nhu cầu cần và đủ để con người có thể tồn tại và phát tiển trong xã hội Nếu thiếu một trong các nhu cầu đó thì sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của NKT cả về thể chất lẫn tinh thần
Trong cuộc sống, trước mắt con người luôn mong muốn thỏa mãn những nhu cầu bậc thấp, sau đó mới vươn đến bậc cao Các nhu cầu bậc càng cao bao nhiêu càng xuất hiện muộn bấy nhiêu trong sự phát triển của con người Nhu cầu càng cao bao nhiêu thì nó càng ít quan trọng bấy nhiêu đối với cuộc sống đơn thuần, nó dễ bị hoãn lại, nó thực sự chưa bức bách so với sự sống còn, thâm chí có thể bị lãng quên
Trang 32Người khuyết tật có các nhu cầu bình thường, nhưng việc đáp ứng nhu cầu đó thường gặp khó khăn nhất định, có trường hợp những nhu cầu đó không hiện thực hóa được Vì vậy, NKT rất cần sự trợ giúp từ cộng đồng, xã hội để có thêm
cơ hội đáp ứng nhu cầu, có cuộc sống bình thường, được hòa nhập và phát triển
Bởi vậy nghiên cứu đánh giá việc thực hiện chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên đối với NKT dựa trên các nhu cầu cơ bản nhất của NKT được đáp ứng ngay trong cuộc sống của họ Cách chính sách trợ giúp mang la ̣i hiệu quả góp phần đưa NKT đến một tương lai tươi sáng và tốt đẹp hơn
1.2.2 Lý thuyết hệ thống – sinh thái
Sinh thái được hiểu là những liên hệ, tác động, ảnh hưởng giữa các thành
tố cùng tồn tại trong một môi trường sống Những mối liên hệ này có tính hai chiều và phụ thuộc vào nhau
Hệ thống sinh thái gồm hai ý tưởng: Môi trường sinh thái của cá nhân khi
cá nhân đó đang cố gắng để thích nghi với môi trường xung quanh; hệ thống khi nhìn vào mối tương quan của những bộ phận khác nhau Ta phối hợp hai chữ này thành hệ thống sinh thái (Ecology systems) Cá nhân gắn chặt với gia đình, gia
Trang 33đình với cộng đồng, có những cá nhân rất mạnh có thể lay chuyển cả hệ thống lớn Hành vi con người rất phức tạp, không có một yếu tố nào duy nhất giải thích
về hành vi con người Chúng ta phải cố gắng kết hợp các lý thuyết về cá nhân, gia đình, nhóm, xã hội và lý thuyết về thế giới để hiểu về con người theo hệ thống sinh thái Gia đình có ranh giới, chúng ta cũng có ranh giới, bất cứ hệ thống nào cũng có ranh giới, chúng ta nghĩ đến sự tương tác trong hệ thống để hiểu con người Để hiểu một ai đó chúng ta phải hiểu thế giới rộng hơn, phải hiểu gia đình người đó, nhóm bạn cùng làm việc, cộng đồng mà bạn đang có tương tác Hệ thống sinh thái của mỗi cá nhân đều độc đáo.[2]
Mọi hệ thống có nhiều bộ phận, gia đình là thành phần của cộng đồng Có 4 thành tố đối với mọi hệ thống:
1 Hành vi
2 Cấu trúc
3 Văn hóa
4 Diễn biến của hệ thống
Chúng ta luôn luôn quan tâm đến hành vi, cấu trúc, văn hóa, diễn biến của
hệ thống Mỗi hệ thống đều có thời gian sống và nghỉ ngơi
*Hành vi: có khi gọi là năng lượng mang tính tâm lý (thức ăn là năng lượng, sự nâng đỡ về tình cảm là năng lượng ), hành vi là cách sử dụng năng lượng của mình
Mọi hệ thống đều thay đổi nhưng không thay đổi quá nhanh luôn luôn có những lực lượng bên trong một hệ thống, luôn có sự sống và năng lượng, những năng lượng này đẩy và kéo lẫn nhau Khi một xã hội, một gia đình gặp một áp lực quá lớn chúng tôi gọi là STRESS hay STRAW
*Cấu trúc (kết cấu): Bất cứ hệ thống nào cũng có một bộ phận hay hệ thống bộ phận như trong cơ thể con người có nhiều hệ thống cơ cấu cũng có
Trang 34phần trong gia đình, những thành phần đó không bắt buộc là những gì hiện hữu
sự tiến hoá đó là xã hội hoá (socialization) [2]
Để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, chúng ta phải tìm hiểu cả hệ thống môi trường xung quanh họ, vì vậy bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ một
cá nhân của một tổ chức nào đó đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó
Lý thuyết hệ thống sinh thái cho rằng, một hệ thống, vừa bao gồm các tiểu
hệ thống nhỏ trong nó đồng thời nó cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống rộng lớn hơn Hệ thống càng phức tạp thì tổng hợp các tiểu hệ thống và các thành tố càng đa dạng Giữa các thành tố có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Sự thay đổi, biến động của mỗi thành tố trong hệ thống đều ảnh hưởng, tác động đến các thành tố khác và ngược lại Bởi những liên hệ đó mà tập hợp các tiểu hệ thống và thành tố tạo thành một sự toàn vẹn, thống nhất
Trong thực hiện chính sách, lý thuyết hệ thống sinh thái chỉ ra sự tác động
mà các tổ chức, các chính sách, các cộng đồng ảnh hưởng lên Người khuyết tật
Lý thuyết hệ thống sinh thái cho phép phân tích thấu đáo sự tương tác giữa NKT
và hệ thống sinh thái – môi trường xã hội Mỗi cá nhân NKT đều có một môi trường sống và một hoàn cảnh sống, chịu tác động của các yếu tố trong môi trường sống và cũng tác động, ảnh hưởng ngược lại môi trường xung quanh
Trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái, tôi nhận thấy huyện Lương Tài là một hệ thống trong đó bao gồm các tiểu hệ thống: nhân sự ( cán bộ lãnh đạo, cán
Trang 35bố thực thi chính sách, NKT), đối tác, chính sách, cơ sở vật chất, tài chính…Măt khác, huyện cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống thực thi các chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên còn nằm trong hệ thống chính sách chung của nhà nước ta
Dưới cách nhìn nhận huyện Lương Tài là một hệ thống và cũng là một tiểu hệ thống, khi tiến hành đánh giá thực trạng tôi không thực hiện những hoạt động riêng lẻ, rời rạc đối với từng bộ phận mà thực hiện đồng bộ các phòng ban, đơn vị trong toàn huyện Chẳng hạn, việc tiến hành thu thập thông tin, chúng tôi đã thực hiện dựa vào các báo cáo cụ thể hàng năm của phòng LĐTB&XH, phỏng vấn các nhóm đối tượng khác nhau: NKT, gia đình có NKT, cán bộ thực thi chính sách, lãnh đạo cơ quan Do vậy, kết quả thu thập thông tin phản ánh thông tin khách quan về thực trạng thực hiện chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên trên địa bàn huyện
Bên cạnh đó, tìm hiểu chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên trên cơ sở
lý thuyết hệ thống sinh thái, ta cần phân tích mối quan hệ giữa NKT với các cá nhân, tổ chức, nhóm cộng đồng trong hệ thống sinh thái, ở đó, các mối quan hệ có sự tác động qua lại lẫn nhau
Để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, ta phải nghiên cứu cả hệ thống môi trường xung quanh họ, vì vậy bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ một
cá nhân của một tổ chức nào đó đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó Lý thuyết hệ thống sinh thái có ảnh hưởng rất nhiều đến toàn bộ hệ thống đó
Lý thuyết hệ thống sinh thái có ảnh hưởng rất nhiều đến các phương thức thực hiện trong công tác xã hội như tư vấn, xử lý ca, tư vấn nhóm, tổ chức và phát triển cộng đồng
1.2.3 Lý thuyết vai trò xã hội
Vai trò là những khuôn mẫu ứng xử khác nhau do xã hội áp đặt cho mỗi chức vị của con người trong xã hội đó, nhấn mạnh những kỳ vọng xã hội gắn với những vị thế hay vị trí nhất định trong xã hội và nó phân tích những kỳ vọng
Trang 36đối tác đó có một hệ kỳ vọng riêng của họ Thí dụ bố phải thương con, mẹ phải hiền, chồng phải biết chăm sóc vợ, vợ phải đảm đang, con cái phải nghe lời bố
mẹ, trò phải chăm chỉ, thầy phải nghiêm túc Vai trò không chỉ đơn giản liên quan đến hành vi được xã hội quan sát mà trong thực tế còn bao gồm xã hội quan niệm những hành vi đó phải thực hiện ra sao Những hành vi được thực hiện đúng với mong muốn của xã hội được gọi là những chuẩn mực và giá trị xã hội đó [38]
Trong xã hội, mỗi con người không chỉ đảm nhận một vai trò mà thường đảm nhận nhiều vai trò khác nhau Các vai trò không được tổ chức và vận dụng logic, hài hòa sẽ dẫn đến xung đột vai trò, căng thẳng vai trò, biến đổi vai trò Những đòi hỏi quan trọng nhất đối với vai trò không chỉ là thực hiện các vai trò
mà còn là thể hiện vai trò đó có liên quan đến sự mong đợi, kỳ vọng, chuẩn mực, quy ước của xã hội hay không
Có hai loại vai trò khác nhau: vai trò hiện và vai trò ẩn Vai trò hiện là vai trò bên ngoài mọi người đều có thể thấy được Vai trò ẩn là vai trò không biểu lộ
ra bên ngoài mà có khi chính người đóng vai trò đó cũng không biết Thí dụ những gia đình không hạnh phúc, bố mẹ thường bất hòa nhiều khi đứa con nhỏ được huấn luyện để đóng vai trò là người trung gian hòa giải mà chính nó và cha
mẹ không biết Vì một người có thể có nhiều vai trò khác nhau, những khuôn mẫu ứng xử do xã hội áp đặt có thể mâu thuẫn với nhau, tạo ra khó khăn [38]
Vận dụng lý thuyết vai trò trong nghiên cứu, tôi nhận thấy mỗi một cán bộ thực thi chính sách bao gồm: cán bộ quản lý, cán bộ thực thi chính sách tại các phòng, ban các cấp, bản thân người khuyết tật…có những vai trò nhất định Mỗi một vai trò thể hiện qua những công việc, nhiệm vụ cụ thể
Đối với cán bộ quản lý, vai trò thể hiện ở việc tổ chức, quản lý các hoạt động của phòng qua công việc như lập kế hoạch, phân công nhiệm vu, tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá…các cán bộ thực hiện chính sách của huyện, xã, thị trấn Ngoài ra, cán bộ quản lý còn thực hiện báo cáo tình hình hoạt động của
Trang 37phòng với UBND huyện và sở LĐTBXH và các công tác đối ngoại với các tổ chức tài trợ khác
Đối với cán bộ thực hiện chính sách, các vai trò của một nhân viên vai trò
là người hướng dẫn, giải quyết các chế độ cho NKT theo đúng chính sách của Nhà nước Bên cạnh đó còn có vai trò của một nhân viên Công tác xã hội khi thực hiện các công việc được hỗ trợ xác định nhân thân, kết nối tạo việc làm, giám hộ/biện hộ, cho NKT khi cần thiết
Đối với NKT phần lớn có vai trò hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ những người có cùng hoàn cảnh, nắm được các chế độ mình được hưởng Cùng nhau tham gia hội NKT, động viên chia sẻ những khó khăn của nhau để hướng tới một ngày mai tươi sáng hơn
Tóm lại, lý thuyết nhu cầu, lý thuyết hệ thống, lý thuyết vai trò là nền tảng
lý luận cho phép tác giả nghiên cứu phân tích, lý giải mối quan hệ hỗ giữa các thành phần thực thi chính sách; chức năng của mỗi thành phần tác động ảnh hưởng lẫn nhau trong sự hài hòa của cấu trúc tổng thể; và mỗi thành phần, bộ phận đều có những vai trò cụ thể khi tham gia vào các mối quan hệ trong cùng một hệ thống hoặc với hệ thống xung quanh Ngoài ra, việc thực hiện tốt chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên là một việc làm vô cùng quan trọng nhằm giúp NKT có cuộc sống tốt đẹp hơn, giảm đi sự tự ti và kì thị của xã hội Sống hòa nhập với cộng đồng, để cuộc sống có ý nghĩa hơn
1.3 Quan điểm cu ̉ a Đảng và Nhà nước về trơ ̣ giúp cho Người khuyết
Trang 38đơn, nạn nhân chiến tranh, người tàn tật” và “tiến tới xây dựng luật về bảo trợ người tàn tật” “Việc ban hành Dự án Luật nhằm cụ thể hóa Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, từng bước luật pháp hóa các quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội và các chính sách liên quan đến NKT, tạo môi trường pháp lý, điều kiện và cơ hội bình đẳng, không rào cản đối với NKT” [43,trg.116]
Trong bối cảnh kinh tế quốc tế, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: “ mục tiêu và phương hướng tổng quát của 5 năm 2006-2010 là: nâng cao năng lực lãnh đạo và sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển văn hóa; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” Báo cáo chính trị tại đại hội X của Đảng nêu rõ: “ Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn liền quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế xã hội” Để thực hiện nhiệm vụ này cần trú trọng các chính sách
ưu đãi xã hội, đặc biêt là “trợ giúp nạn nhân chất độc mà da cam, người già cô đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật, tạo thuận lợi để họ hòa nhập với cộng đồng”.[45,trg.216]
Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh: Thực hiện “chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ, phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa
vụ công dân” [44,trg.28] Đặc biệt là “chăm lo đời sống những người cao tuổi, neo đơn, khuyết tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi” [44,trg.29] Một trong những nội dung quan trọng của việc đảm bảo an sinh xã hội là “tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương,vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống [44,trg.127]
Trang 39Pháp lệnh người tàn tật ra đời, hệ thống văn bản pháp quy về trợ giúp người tàn tật do các cơ quan từ trung ương đến địa phương ban hành tương đối đầy đủ đã thể chế hóa hầu hết các quan hệ chính trị, tư pháp, kinh tế, văn hóa-xã hội có liên quan đến NKT vào hệ thống pháp luật Điều này đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi để NKT hòa nhập cộng đồng và các cơ quan tổ chức triển khai thực hiện tốt các chính sách, chế độ giải pháp trợ giúp NKT
Luật, Pháp lệnh, thông tư liên tịch và nhiều văn bản chỉ đạo khác trực tiếp hoặc có nội dung quy định khung pháp lý, chính sách là cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội (TGXH) ở Việt Nam Nhìn chung các chính sách TGXH ngày càng toàn diện hơn, bao trùm các nhu cầu cơ bản của đối tượng về nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, hướng nghiệp, dạy nghề
Một số quan điểm cơ bản định hướng cho các hoạt động trợ giúp NKT ở Việt Nam:
- Đảm bảo an toàn cuộc sống cho mọi người dân trước những biến động
về kinh tế, xã hội và những bất lợi trong cuộc sống của NKT
- NKT không phải là gánh nặng của xã hội, họ cũng có niềm tin, giá trị mong muốn đóng góp cho xã hội nhưng họ bị hạn chế về cơ hội tham gia
- Nước ta đang trong quá trình xây dựng khung pháp luật, chính sách, môi trường xã hội thuận lợi về NKT, thông qua các chương trình mục tiêu ở cấp quốc gia và chương trình hành động riêng để hỗ trợ NKT
+ Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1992
+ Công ước Quốc tế về Người khuyết tật
+ Ngày 22/10/2007, Việt Nam kí Công ước Quốc tế về NKT
+ Luật Người khuyết tật Việt Nam (17/6/2010)
- Vấn đề xã hội hóa việc giúp đỡ, chăm sóc và tạo điều kiện cho NKT
- Định hướng phát triển chính sách đối với NKT trong giai đoạn tới:
+ Hoàn thiện hệ thống pháp luật về NKT
+ Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của xã hội đối với NKT
Trang 40+ Xây dựng hệ thống bảo trợ xã hội trong tổng thể hệ thống an sinh xã hội
đa tầng, linh hoạt Đa dạng hóa các loại hình TGXH và cứu trợ xã hội Mở rộng chính sách trợ giúp xã hội, trợ cấp xã hội
1.3.2 Hệ thống văn bản trợ cấp xã hội đối với Người khuyết tật
Trợ cấp xã hội là một chính sách rất quan trọng, vì thế trợ cấp xã hội đã được quy định chi tiết trong hệ thống các văn bản pháp luật ngay từ thời gian trước đổi mới kinh tế và đã được đổi mới, hoàn thiện kể từ sau đổi mới kinh tế đến nay Trong quá trình phát triển chính sách trợ cấp xã hội được thực hiện theo quy định thông tư 202/CP ngày 26 tháng 11 năm 1996 của Chính phủ về chính sách cứu trợ xã hội, Quyết định số 167/TTg ngày 8 tháng 4 năm 1994 của Thủ tướng chính phủ về sửa đổi bổ sung chế độ cứu trợ xã hội Bắt đầu từ năm 2000, chính sách trợ cấp xã hội được quy định trong hệ thống văn bản cụ thể trong đó có Người khuyết tật
Luật người khuyết tật
Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ
về qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật
Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ về qui định về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng trợ giúp xã hội đột xuất; hỗ trợ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội và nhà xã hội
Hê ̣ thống các văn bản pháp luâ ̣t qui đi ̣nh cu ̣ thể về đối tượng thu ̣ hưởng chính sách, mức chuẩn trợ cấp xã hô ̣i thường xuyên , các mức cụ thể đối với từng đối tươ ̣ng, thủ tục, hồ sơ đề nghi ̣ hưởng trợ cấp , công tác kiểm tra giám sát , tổng
hơ ̣p báo cáo
Chính sách t rơ ̣ cấp xã hô ̣i thường xuyên là mô ̣t giải pháp cu ̣ thể do nhà nước thực hiê ̣n nhằm giúp đối tượng bảo trợ xã hô ̣i có hoàn cảnh đă ̣c biê ̣t khó khăn mà trong đó có NKT khắc phu ̣ khó khăn trước mắt và lâu dài Mục tiêu của chính sách là thông qua viê ̣c cung cấp nguồn tài chính hàng tháng hướng tới giải quyết vấn đề công bằng , ổn định và phát triển bền vững về chính trị , kinh tế xã