Mục đích nghiên cứu: Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng cho hộ nông dân sảnxuất nông nghiệp để đề xuất giải pháp nhằm phát huy tốt vai trò tín dụngtrong phục vụ phát triển
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài:
Việc thực hiện chính sách cải cách và mở cửa, chuyển nền kinh tế kếhoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường của Đảng và nhà nước đãmang lại những chuyển biến tích cực trên mọi lĩnh vực như: công nghiệp,dịch vụ, nông nghiệp, xuất nhập khẩu, … Điều này cành được thể hiện rõ hơnkhi Việt Nam chính thức ra nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO (vàongày 01/11/2006) Việt Nam là một trong những quốc gia có thế mạnh vềnông nghiệp, được thiên nhiên ưu đãi, khí hậu gió mùa Nên việc phát triểnsản xuất nông nghiệp có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng trong quá trình pháttriển của đất nước và được xem là một ngành then chốt của cả nước
Trong cơ cấu kinh tế của nước ta, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn và làmột ngành luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm hàng đầu Trong thời gianqua, tín dụng ngân hàng đã góp phần không nhỏ vào việc thực hiện mục tiêutrên thông qua việc cho vay vốn thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển Đặcbiệt là sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 41/2010/NÐ-CP ngày12/4/2010 về chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp,nông thôn Ðây được coi là bước đột phá tạo sức bật mới cho hộ nông dân vayvốn để phát triển sản xuất Trong thời gian thực tập ở NHNo & PTNT huyệnNông Cống tỉnh Thanh Hóa và được sự chỉ dẫn tận tình của PGS.TS Vũ Đình
Thắng , em đã chọn đề tài : “Một số giải pháp hoàn thiện tín dụng cho hộ nông dân sản xuất nông nghiệp ở huyện Nông Cống – Thanh Hóa ” Nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tín dụng, phục vụ tốt nhấtcho sự nghiệp phát triển nông nghiệp & nông thôn Em rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để chuyên đề được hoàn thiện tốt hơn Emxin chân thành cảm ơn !
Trang 22 Mục đích nghiên cứu:
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng cho hộ nông dân sảnxuất nông nghiệp để đề xuất giải pháp nhằm phát huy tốt vai trò tín dụngtrong phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn ở huyện Nông Cống – ThanhHóa
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động gắn với phát triển tín dụng hộnông dân sản xuất nông nghiệp xoay quanh ba vấn đề cơ bản sau: “ Chínhsách cho hộ nông dân vay vốn, tình hình sử dụng vốn và hoàn trả vốn củangười nông dân ở huyện Nông Cống-Thanh Hóa ”
4 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu ở góc độ tổ chức và quản lý hoạt động tín dụng cho
hộ nông dân sản xuất nông nghiệp ở huyện Nông Cống-Thanh Hóa, không đisâu vào vấn đề kỹ thuật nghiệp vụ của hoạt động tín dụng của ngân hàng vàcũng như đi sâu vào nghiên cứu cơ chế và chính sách và phương thức pháttriển các lĩnh vực trong nông nghiệp nông thôn
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Hệ thống hóa lý luận - thực tiễn
- Thống kê tổng hợp, so sánh, phân tích và luận giải
6 Kết cấu của đề tài:
Chuyên đề thực tập gồm ba chương:
*Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng đối với kinh tế hộ
*Chương 2: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với hộ nông dân sản xuấtnông nghiệp tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Nông Cống- Thanh Hóa *Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tín dụng đối với hộ nông dân sản xuấtnông nghiệp tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Nông Cống-Thanh Hóa
7 Lời cảm ơn:
Trang 3Trước tiên em xin chân thành cảm ơn PGS,TS Vũ Đình Thắng đã tận
tình hướng dẫn, góp ý và động viên em trong quá trình thực hiện đề án này Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Bất động sản và kinh tế tàinguyên trường Đại học Kinh tế quốc dân, quý thầy cô chuyên ngành nôngnghiệp và phát triển nông thôn đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gianlàm đề tài này !
Trang 4CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH TẾ HỘ
*Cơ sở lý luận:
I Một số khái niệm về tín dụng và tín dụng ngân hàng:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế, nó cũng là sản phẩm của nền kinh tếhàng hóa Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội khácnhau Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyênthủy bắt đầu tan rã Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng làđồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa Thời kỳ này, tín dụng đượcthực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật – hàng hóa Về sau, tíndụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ Tín dụng theo tiếngLatin là “creditium” có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm Hay còn được hiểu đơnthuần là cho vay (tức là việc bên cho vay cung cấp nguồn tài chính cho bên đivay, còn bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạnthỏa thuận và thường đi kèm theo lãi suất) Do hoạt động này làm phát sinhmột khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ Do
đó, tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên (một bên là người cho vay,một bên là người đi vay) Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng,thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,
Một trong những loại hình tín dụng phổ biến đó là “ Tín dụng ngân hàng” Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với các
Trang 5chủ thể kinh tế khác trong xã hội (trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là ngườicho vay vừa là người đi vay) Và trong đề tài này chúng ta cũng chỉ tập trungnghiên cứu trong phạm vi về tín dụng ngân hàng.
- Về hình thức biểu hiện: Hoạt động tín dụng ngân hàng được thực hiệndưới hình thái tiền tệ gồm tiền mặt và bút tệ Do đặc tính về ngành nghề kinhdoanh, để tập trung được vốn lớn từ nhiều chủ thể cũng như phân phối đápứng nhu cầu về vốn cho các chủ thể kịp thời và đầy đủ Ngân hàng vận dụngvốn dưới hình thái tiền tệ để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình
- Chủ thể trong quan hệ tín dụng ngân hàng: Ngân hàng thương mại và các
tổ chức tín dụng đóng vai trò là chủ thể trung tâm Ngân hàng thực hiện vaitrò vừa là chủ thể đi vay trong khâu huy động vừa là chủ thể cho vay trongkhâu phân phối cho vay
- Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng trở thành loại hình tíndụng phổ biến và đáp ứng mọi nhu cầu bổ sung vốn của nền kinh tế, tín dụngngân hàng không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để dự trữ vật tư hànghoá, trang trải chi phí sản xuất, thanh toán các khoản nợ mà còn tham gia cấpvốn đầu tư trung, dài hạn, đáp ứng các nhu cầu về đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mua sắm tài sản cố định…Ngoài ra tín dụngngân hàng còn đáp ứng một phần nhu cầu tiêu dùng cá nhân
- Thời hạn của TDNH cũng rất linh hoạt, có thể là ngắn hạn, hoặc trunghạn, hoặc dài hạn
- Công cụ của TDNH cũng rất linh hoạt, có thể là kỳ phiếu, hoặc tráiphiếu Ngân hàng, các hợp đồng tín dụng…
Trang 6II Đặc điểm kinh tế hộ nông dân sản xuất nông nghiệp :
1 Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, một đơn vị sản xuất, một đơn
vị tiêu dùng.
Với lịch sử hình thành, phát triển từ rất lâu đời và là hình thức tổ chức sảnxuất trình độ thấp nhất trong các loại hình tổ chức kinh doanh chủ yếu trongnông nghiệp, hộ nông dân đóng vai trò là đơn vị kinh tế cơ sở Nước ta đangtrong thời kỳ đổi mới với nhiều khó khăn và thử thách Với cơ cấu nền kinh tếnhiều thành phần, kinh tế hộ vẫn đóng vai trò quan trọng, vẫn là mục tiêu pháttriển chính và chủ yếu trong phát triển nông nghiệp và nông thôn
Mặt khác, hộ SXKD nước ta chủ yếu còn nhỏ lẻ và manh mún Việc sửdụng lao động trong gia đình là chính, trình độ sản xuất còn hạn chế Do đó,sản xuất chủ yếu mang tính tự cấp, tự túc Phần lớn sản phẩm làm ra là để tiêudùng trong gia đình Khi sản xuất không đủ tiêu dùng họ thường điều chỉnhnhu cầu, khi sản xuất dư thừa họ có thể đem sản phẩm dư thừa để trao đổi trênthị trường, nhưng đó không phải là mục đích sản xuất của họ Vì vậy, hộ vừa
là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng
2 Sản xuất của hộ nông dân dựa trên công cụ sản xuất thủ công, trình
độ canh tác lạc hậu, trình độ khai thác tự nhiên thấp.
Nông nghiệp là ngành sản xuất chính ở nông thôn Vì hộ sản xuất kinhdoanh nước ta chủ yếu còn nhỏ lẻ và manh mún nên công cụ sản xuất cũng ởmức độ thô sơ, thủ công Nước ta đi lên từ sau chiến tranh, đời sống ngườidân còn khổ cực, trình độ năng lực vẫn còn hạn chế Trước đây, vì trình độcanh tác còn lạc hậu, các hộ chủ yếu sản xuất nhỏ để thỏa mãn nhu cầu tiêudùng gia đình Ít mở rộng sản xuất, hầu như không áp dụng khoa học kỹ thuật.Bên cạnh đó, nông nghiệp là ngành mang tính thời vụ cao và phụ thuộc rấtnhiều vào điều kiện tự nhiên Trong khi đó, khả năng khai thác tự nhiên của
Trang 7hộ rất thấp và chủ yếu phụ thuộc hoàn toàn vào nó dẫn đến tình trạng có nămđược mùa (có năm lại mất trắng, cuộc sống không ổn định).
Hiện nay, trong thời kỳ nền kinh tế thị trường kinh tế Việt Nam mở cửahội nhập với khu vực và thế giới Hộ nông dân, với tư cách là những đơn vịkinh tế tự chủ, hộ đã từng bước thích ứng với cơ chế thị trường Từng bước ápdụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất Thực hiện liên doanh,liên kết, khai thác hiệu quả các nguồn lực để sản xuất nông sản đáp ứng nhucầu xã hội
3 Các hộ nông dân, ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các
hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau.
Đối tượng sản xuất của hộ chủ yếu thuộc lĩnh vực nông nghiệp Gồm các
hộ sản xuất kinh doanh trồng trọt các loại cây ăn quả, cây trồng lâu năm…; hộsản xuất kinh doanh chăn nuôi; hay là hộ sản xuất kết hợp trồng trọt và chănnuôi các loại cây trồng, vật nuôi khác nhau có tính hỗ trợ cho nhau Thực tếhiện nay, có rất nhiều mô hình kết hợp trồng trọt và chăn nuôi đạt hiệu quảcao đã thu về cho hộ nông dân hàng trăm triệu mỗi năm
Bên cạnh đó, nền kinh tế ngày càng phát triển nên đòi hỏi kinh tế hộ phảiphát triển hơn cả về chất và lượng Không chỉ đơn thuần hoạt động sản xuấtnông nghiệp mà hộ còn tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh ở các ngànhnghề phi nông nghiệp khác vào lúc nông nhàn với quy mô lớn, nhỏ khác nhau
để tận dụng triệt để nguồn nhân lực và tránh lãng phí tư liệu sản xuất Đồngthời đa dạng các khoản thu nhập, nâng cao đời sống người dân
4 Hộ nông dân có sự gắn bó các thành viên về huyết thống, về quan hệ
hôn nhân, có lịch sử và truyền thống lâu đời.
Với đặc điểm như vậy nên các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhautrên các mặt quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối Do thốngnhất về lợi ích nên sự gắn kết và tính tự nguyện, tự giác cao trong lao động
Trang 8Trong mỗi nông hộ, bố mẹ vừa là chủ hộ, vừa là người tổ chức hoạt động sảnxuất Dẫn đến tổ chức sản xuất trong hộ nông dân có nhiều ưu việt và có tínhđặc thù.
5 Sản xuất kinh doanh chịu nhiều rủi ro, nhất là rủi ro khách quan, tuy
nhiên khả năng khắc phục lại hạn chế.
Hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp là lĩnh vực mà chịu sự tácđộng trực tiếp của điều kiện tự nhiên như mưa, gió, nắng hạn…là nhữngnguyên nhân khách quan không thể thay đổi Hiện nay, sự đầu tư cho nôngnghiệp, nông thôn đã chú trọng đến vấn đề này nhưng thực tế vẫn chưa triệt
để Nông nghiệp, nông thôn vẫn phải gánh chịu những đợt mất mùa, mưa bão,hạn hán… Những đợt dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi làm ảnh hưởngxấu đến quá trình sản xuất kinh doanh của hộ
III Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ nông dân sản xuất
nông nghiệp:
Trong hệ thống các ngân hàng thương mại thì NHNo&PTNT có thị trườngrộng lớn trải đều cả nước, mạng lưới rộng khắp nơi với mục đích gần dân tạo
ra thị trường tài chính lành mạnh tại nông thôn và không ngừng mở rộng đầu
tư thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Do vậy, Ngân hàng có vai trò rấtquan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước đồng thời thúc đẩy nềnkinh tế phát triển một cách toàn diện và bền vững
Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh tế hộ để duy trì quátrình sản xuất liên tục Qua đó mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng ngànhnghề Khai thác các tiềm năng về lao động, đất đai, mặt nước và các nguồnlực vào sản xuất Tăng sản phẩm xã hội, tăng thu nhập cho hộ sản xuất
Quá trình sản xuất luôn trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, vì vậy cácdoanh nghiệp nói chung và hộ sản xuất nói riêng có lúc thừa vốn có lúc thiếuvốn Việc vay bổ sung vốn lưu động sẽ đãm bảo cho quá trình sản xuất được
Trang 9liên tục Mặt khác, vốn đầu tư từ bên ngoài vào còn giúp cho các thành phầnkinh tế tham gia vào quá trình đổi mới công nghệ trong thời kỳ CNH - HĐHđất nước như nước ta hiện nay.
Với đặc trưng sản xuất kinh sự chuyên doanh của hộ sản xuất với môn hoásản xuất trong xã hội ngày càng cao Dẫn đến tình trạng các hộ sản xuất chưathu hoạch sản xuất và chưa có hàng hoá để bán thì chưa có thu nhập Nhưngtrong khi đó họ vẫn cần tiền để trang trải cho các khoản chi phí sản xuất, muasắm đổi mới trang thiết bị và rất nhiều khoản chi phí khác Trong những lúcnày các hộ sản xuất cần có sự hỗ trợ giúp đỡ của tín dụng ngân hàng để có đủvốn duy trì sản xuất được liên tục Nhờ có sự hỗ trợ về vốn, các hộ sản xuất
có thể sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có khác như lao động, tài nguyên
để tạo ra sản phẩm cho xã hội Qua đó thúc đẩy việc sắp xếp tổ chức lại sảnxuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý từ đó nâng cao đời sống vật chất cũngnhư tình thần cho mọi người
- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuấtkinh tế hộ Thúc đẩy kinh tế hộ sản xuất chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túcsang sản xuất hàng hóa, góp phần thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp vànông thôn Bằng cách tập trung vốn vào các doanh nghiệp, các hộ sản xuấtkinh doanh có hiệu quả (có nghĩa là vốn đã được bổ sung vào đúng chỗ cònthiếu, giúp cho các hộ sản xuất càng có điều kiện để mở rộng sản xuất có hiệuquả hơn) Qua đó, đóng góp cho xã hội nhiều sản phẩm với chất lượng caothúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và đồng thời ngân hàng cũng đảm bảotránh được rủi ro tín dụng
- Tín dụng ngân hàng góp phần đẩy mạnh quá trình đa dạng hóa kinh tếtrong nông nghiệp và nông thôn Tạo điều kiện cho kinh tế hộ sản xuất tiếpcận, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh Tiếp cậnvới cơ chế thị trường và từng bước điều tiết sản xuất phù hợp với tín hiệu củathị trường
Trang 10- Tín dụng ngân hàng là công cụ hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và phi nôngnghiệp ở nông thôn.
- Tín dụng ngân hàng kiểm soát bằng đồng tiền và thúc đẩy nông dân thực
hiện hạch toán kinh tế, tính toán lựa chọn đối tượng đầu tư để đạt được hiệuquả cao nhất, tạo nhiều việc làm cho người lao động
- Tín dụng Ngân hàng không những mang lại hiệu quả kinh tế mà còn đemlại những hiệu quả về mặt xã hội góp phần hạn chế nạn cho vay nặng lãi trongnông thôn
IV Những yêu cầu đặt ra đối với ngân hàng trong hoạt động tín dụng
đối với hộ nông dân sản xuất nông nghiệp:
Hiện thị trường tài chính nông thôn Việt Nam đang được tiếp nhận nhiềunguồn vốn đầu tư đa dạng như: Vốn ngân sách nhà nước; vốn tín dụng nôngnghiệp lãi suất ưu đãi đầu tư các dự án; vốn tín dụng lãi suất ưu đãi cho vay
hộ nghèo và các đối tượng chính sách Mặc dù vậy, vốn tín dụng đầu tư chokhu vực nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng vốn tíndụng đầu tư cho nền kinh tế Đó là chưa kể sự chênh lệch lớn giữa các vùngmiền Để khắc phục hiện tượng khát vốn ở khu vực nông nghiệp, nông thônngân hàng cần thực lưu ý thực hiện các chính sách tín dụng cho khu vực nôngnghiệp và nông thôn đó là :
- Thứ nhất, về đối tượng và điều kiện cấp tín dụng: Đối tượng cấp tín dụng:
hộ nông dân (một đơn vị kinh tế tự chủ) Nông nghiệp, nông thôn nước ta vớihơn 10 triệu hộ đã và đang là lực lượng chủ lực sản xuất ra các loại nông lâmthủy sản cung cấp cho toàn xã hội Điều kiện cấp tín dụng: Hộ nông dân phải:
có năng lực dân sự, có khả năng tài chính đảm bảo, thực hiện đúng các quyđịnh về bảo đảm tiền vay, có dự án khả thi, hiệu quả (Đối với cho vay đápứng nhu cầu trồng trọt: có diện tích trực tiếp canh tác tối thiểu là 0,5ha vàkinh nghiệm tối thiểu từ 03 năm đối với mỗi loại cây trồng Đối với cho vayđáp ứng nhu cầu nuôi trồng thủy hải sản: có diện tích mặt nước tối thiểu
Trang 111.000m²/ao và kinh nghiệm tối thiểu từ 03 năm (đối với mỗi vật nuôi) và cómục đích sử dụng vốn vay hợp lý.
- Thứ hai, về lãi và phí suất tín dụng: Về nguyên tắc, nông nghiệp nôngthôn có những điểm đặc thù so với các ngành, các lĩnh vực khác, vì vậy đầu
tư cho nông nghiệp nông thôn qua các hình thức tín dụng phải được áp dụngvới mức lãi suất thấp Đối vối những vùng, những loại cây con có điều kiệnsản xuất thuận lợi, tỷ suất lợi nhuận cao, thì áp dụng mức lãi suất cho vay caohơn những vùng, những cây con mà điều kiện sản xuất khó khăn, tỷ suất lợinhuận thấp Bình quân lãi suất cho vay giữa các vùng, giữa các loại cây - conphải cao hơn lãi suất bình quân huy động vốn
- Thứ ba, về thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ: Thời hạn cho vay do kháchhàng và tổ chức tín dụng thỏa thuận, trên cơ sở thời gian sinh trưởng của vậtnuôi, cây trồng và thời gian luân chuyển vốn Trường hợp hộ nông dân khôngtrả được nợ đúng hạn cho tổ chức tín dụng vì điều kiện khách quan (Thiên tai,dịch bệnh…), tổ chức tín dụng xem xét cơ cấu lại thời hạn nợ cho hộ nôngdân theo qui định hiện hành đồng thời căn cứ dự án, phương án sản xuất kinhdoanh hiệu quả và có khả năng trả được nợ của hộ nông dân để cho hộ nôngdân vay mới mà không phụ thuộc vào dư nợ cũ chưa trả được của hộ nôngdân Với trường hợp thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng, khi có sự xemxét của các cấp có thẩm quyền, ngoài việc cơ cấu lại thời hạn nợ, chính phủ
có chính sách hỗ trợ cụ thể đối với hộ nông dân chịu thiệt hại nặng, không cókhả năng trả nợ, tổ chức tín dụng cho vay được thực hiện khoanh nợ khôngtính lãi đối với hộ nông dân tại thời điểm xảy ra thiên tai, dịch bệnh tại địaphương (Thời gian khoanh nợ tối đa 2 năm)
- Thứ tư, về chính sách về các khoản đảm bảo: Căn cứ vào đặc thù của chovay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, các tổ chức tín dụng hướng dẫn
cụ thể quy trình, thủ tục về cho vay, bảo đảm tiền vay theo hướng đơn giản và
Trang 12thuận tiện, phù hợp với điều kiện về mặt bằng dân trí của người dân ở nôngthôn Với quy định cá nhân, hộ sản xuất có thể được vay tối đa không cần thếchấp tài sản lên đến 50 triệu đồng, Nghị định 41 của Chính phủ (Ban hànhngày 12/4/2010) về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp vànông thôn được kỳ vọng sẽ tạo cơ hội lớn cho nông dân phát triển sản xuất…Ngoài ra, ngân hàng ( mà ở đây là NHNo&PTNT ) cần tăng năng lực tàichính và đổi mới hoạt động Như tái cấu trúc và tăng vốn điều lệ, tăng nănglực tài chính cho các định chế này và cải tiến cho vay vốn của ngân hàng theohướng giảm bớt thủ tục phiền hà Qua đó tạo điệu kiện thuận lợi cho ngườivay dễ dàng và nhanh chóng vay được vốn với chi phí giao dịch thấp Ngânhàng nên lập kế hoạch cho vay tín dụng nông thôn một cách hợp lý về thờihạn, cơ cấu đầu tư, hạn mức vốn vay,… Đồng thời tiến hành đổi mới toàndiện mô hình tổ chức, màng lưới kinh doanh theo mô hình kinh doanh củangân hàng thương mại hiện đại, giảm trung gian, tăng năng lực cho các đơn vịtrực tiếp kinh doanh,…
Hoạt động kinh tế nông nghiệp sẽ có hiệu quả cao hơn nếu việc đầu tư sảnxuất kinh doanh đồng bộ từ các khâu cung ứng vật tư, phương thức sản xuấtcho đến khâu thu hoạch và chế biến, tiêu thụ sản phẩm Do đó, ngân hàng khicho vay cần tham gia tư vấn cho các hộ sản xuất một phương án sản xuất theoqui trình khép kín từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm Căn
cứ vào kế hoạch phương án kinh doanh và dự án đầu tư để hoạch định nguồnvốn đáp ứng cho mọi giai đoạn của qui trình được thực hiện một cách thôngsuốt Điều này thuận lợi cho cả người vay và ngân hàng trong quá trình chovay trong sản xuất và quá trình thu nợ khi sản phẩm được tiêu thụ
Một yêu cầu nữa, đó là ngân hàng cần tăng cường đa dạng hóa các nguồnvốn và sản phẩm tín dụng cho phát triển nông nghiệp và nông thôn Ngânhàng cần thành lập các bộ phận chuyên trách và mở rộng mạng lưới ở những
Trang 13nơi có điệu kiện để thực hiện công tác huy động vốn Đồng thời kết hợp nhiềuphương thức cho vay linh hoạt nhằm giúp cho người vay chủ động hơn trongviệc sử dụng vốn phù hợp với chu kỳ sản xuất nông nghiệp.
V Một số kinh nhiệm trong lĩnh vực trong hoạt động tín dụng ngân hàng
với hộ nông dân sản xuất nông nghiệp:
Do đặc thù của khu vực nông nghiệp và nông thôn, nên Chính phủ của
nhiều nước rất chú trọng trong việc thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối vớikhu vực này Với mục tiêu trực diện là hỗ trợ một phần vốn để nông dân cóđiều kiện mở rộng sản xuất Các chính sách ưu đãi tín dụng là một chính sáchtài trợ giúp cho nông nghiệp nông thôn có hiệu quả cả về mặt kinh tế và xãhội và được Chính phủ của nhiều nước theo đuổi chính sách này trong chiến
lược phát triển nông nghiệp và nông thôn
Vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong phát triển kinh tế thị trường là rất
quan trọng Nhiều nước trên thế giới và nhất là các nước trong khu vực ĐôngNam Á đã rất coi trọng hoạt động tín dụng ngân hàng đối với nông nghiệp,nông thôn, coi đây là động lực phát triển kinh tế hàng hóa Hầu hết các nướcđều có hệ thống ngân hàng điều hành một khoản vốn để trợ cấp cho vay ưuđãi ngân hàng nông nghiệp qua đó ngân hàng này đầu tư và phát triển nôngnghiệp và nông thôn Lãi suất cho vay nông nghiệp đều thấp hơn lãi suất củacác đối tượng khác Các ngân hàng nông nghiệp đều không phải nộp thuếhoặc giảm các khoản nộp thuế Không phải dự trữ bắt buộc tại ngân hàngtrung ương trong khi các ngân hàng khác phải ký quỹ gửi bắt buộc Ngânhàng nông nghiệp ngoài việc đầu tư trực tiếp cho nông dân còn đầu tư giántiếp qua các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính nông thôn và cho vay doanhnghiệp sản xuất kinh doanh nông nghiệp Bên cạnh đó, thủ tục cho vay khôngrườm rà, phức tạp nên giúp nông dân dễ tiếp cận vay vốn
Trang 14* Ở Indonexia: Chương trình chỉ đạo nông dân về sản xuất lúa gạo
BIMAS đã thực hiện việc cung cấp tín dụng cho vật tư nông nghiệp qua cơquan tín dụng nhà nước (Ngân hàng RAKYAT) Tạo điều kiện cho nông dânvay với lãi suất ưu đãi đặc biệt (16%/năm, giảm 10% so với cho vay thôngthường)
* Ở Thái Lan, chính phủ có biện pháp để ngân hàng thương tín cho nông
dân vay nhiều hơn mức quy định 5% Ngân hàng có chương trình đặc biệtnhư cho vay tín dụng bằng hiện vật, vật tư với chất lượng tốt theo giá rẻ…Tất
cả sự ưu đãi đó đều có sự chi phối bởi nguồn vốn ngân sách Nhà nước Đốivới nguồn vốn đầu tư cho sản xuất các ngành kinh tế nông thôn chủ yếu đượcthực hiện theo phương thức cho vay tín dụng từ nhiều nguồn như: tín dụng từcác chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn của chính phủ, từ ngânhang thương mại trong đó quan trọng nhất vẫn là ngân hang nông nghiệp và
từ một số quỹ khác Thái Lan đã rất thành công trong việc huy động vốn đầu
tư cho sản xuất các ngành kinh tế nông thôn Từ năm 1975 Thái Lan đã triểnkhai các biện pháp quan trọng để huy động vốn mà chúng ta cần học hỏi như :
- Ngân hàng Trung ương yêu cầu ngân hàng thương mại phải dành một tỷ
lệ nhất định số tiền gửi của mình cho nông nghiệp qua việc cung cấp tín dụngtrực tiếp và tăng mức cho vay hằng năm
Trang 15- Ngân hàng Trung ương tài trợ trực tiếp cho ngân hàng nông nghiệp, hợptác xã nông nghiệp để giảm lãi xuất cho vay Ngân hàng Trung ương chophép các ngân hàng thương mại gửi tiền vào hợp tác xã nông nghiệp nếukhông thực hiện đạt chỉ tiêu cho vay nông nghiệp mà ngân hàng Trung ươngquy định Điều này giúp hợp tác xã nông nghiệp huy động thêm được nguồntiền từ ngân hàng thương mại để cho nông dân vay.
- Ngoài ra để khắc phục hậu quả của sự phát triển không đồng đều giữacác vùng nông thôn trong nước, Chính phủ Thái Lan đã khuyến khích cácdoanh nghiệp đầu tư vào phát triển các vùng còn nghèo bằng các chế độ ưuđãi về vốn, lãi suất, …
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ NÔNG DÂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT HUYỆN
NÔNG CỐNG – THANH HÓA
I Tổng quan về NHNo&PTNT huyện Nông Cống:
Trang 161 Sự hình thành và phát triển của ngân hàng No&PTNT Nông Cống
Ngân hàng NHNo&PTNT huyện Nông Cống có trụ sở đóng tại tiểu khuBắc Giang, thị trấn Nông Cống, huyện Nông Cống là trung tâm kinh tế, vănhóa, xã hội của huyện Ngân hàng No&PTNT Nông Cống có địa bàn hoạtđộng gồm 32 xã và 1 Thị trấn nằm ở phía tây nam tỉnh Thanh Hóa Với trên
45 ngàn hộ, dân số 190000 người Nông Cống là huyện thuần nông có điểmxuất phát thấp
Ngân hàng No&PTNT Nông Cống được thành lập ngày 26 tháng 3 năm
1989 với tên thành lập ban đầu là NHNo Nông Cống Chi nhánh ngân hàngNo&PTNT huyện Nông Cống trực thuộc NHNo&PTNT tỉnh Thanh Hóa,dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ngân hàng tỉnh, thực hiện hạch toán kinh doanh
Là một ngân hàng thương mại đóng trên địa bàn huyện dưới sự chỉ đạo trựctiếp của ngân hàng No&PTNT tỉnh Thanh Hóa, ngân hàng No&PTNT huyệnNông Cống có những biện pháp quản lý và cơ chế thích hợp để mang lại hiệuquả trong công tác cho vay và huy động vốn trên địa bàn phần lớn là nôngnghiệp Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ ngân hàng, mọi dịch
vụ phục vụ khách hàng của ngân hàng No&PTNT huyện Nông Cống cũngđược nâng cao như mở tài khoản cho khách hàng giao dịch nội tệ, ngoại tê,chuyển tiền đi khắp nơi trên toàn quốc và trên toàn thế giới nhanh chóngthuận tiện, bằng mạng lưới liên ngân hàng Đội ngũ cán bộ công nhân viên cótrình độ cao đáp ứng nhu cầu kinh doanh, quản lý của đơn vị
Sau khi có quyết định số 67TTg của chính phủ ra đời ngày 30/03/1999 vàđược sự ủng hộ nhiệt tình của Đảng ủy, ủy ban, chính quyền địa phương, cácban ngành đoàn thể như Hội phụ nữ, Hội nông dân là cơ sỡ vững chắc choNgân hàng Nông nghiệp huyện Nông Cống mở rộng mạng lưới cho vay tới tổxuống tận thôn xóm Ngân hàng No&PTNT Nông Cống thực sự là người bạntin cậy của nhân dân trong việc cho vay và gửi tiền tiết kiệm
Trang 17Từ năm 1989 đến nay, NHNo&PTNT Nông Cống hoạt động có xu hướng
đi lên, kinh doanh có lãi và luôn đổi mới gắn với sự đổi mới củaNHNo&PTNT Thanh Hóa Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thịtrường, NHNo&PTNT Nông Cống hoạt động luôn bám sát định hướng củangành, đồng thời thường xuyên chấn chỉnh cơ cấu bộ máy tổ chức phù hợpvới mục tiêu kinh doanh trong từng giai đoạn cụ thể Là một ngân hàngthương mại quốc doanh, NHNo&PTNT Nông Cống hoạt động kinh doanhtiền tệ - tín dụng – ngân hàng tuân theo pháp lệnh Ngân hàng (5/1993) và luậtngân hàng (Thực thi ngày 01/10/2002); tuân theo điều ước quốc tế về lĩnh vựcngân hàng
Ngày 15/9/2003 NHNo Nông Cống đổi tên thành NHNo&PTNT NôngCống Sự đổi tên tạo nên một diện mạo mới cho NH, tạo ra một không khílàm việc mới cho NH, tăng cường và cũng cố niềm tin trong lòng dân chúng
để NH ngày một phát triển, phục vụ nhu cầu của khách hàng ngày một tốthơn
Hiện nay NHNo&PTNT Nông Cống có:
2 Chức năng, nhiệm vụ của NHNo&PTNT Nông Cống
NHNo & PTNT huyện Nông Cống với chức năng, nhiệm vụ vừa cơ bản,vừa lâu dài là phục vụ cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn vànông dân Với nhiệm vụ cụ thể là huy động vốn để cho vay, nhận tiếp vốn,nhận vốn ủy thác đầu tư và các dịch vụ ngân hàng
Trang 18- Nhiệm vụ huy động vốn:
Nhiệm vụ này được thể hiện ở chỗ ngân hàng tập trung mọi nguồn vốnnhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức, tổ chức kinh tế qua các thể thức tiếtkiệm, huy động kỳ phiếu, mở tài khoản tiền gửi tư nhân, tiền gửi các tổ chứckinh tế, chính trị xã hội Nhằm tập trung mọi nguồn vốn nhàn rỗi để khơi tăngnguồn vốn của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng cao của nềnkinh tế
- Nhiệm vụ cung cấp vốn:
Thực hiện nhiệm vụ chính trị kinh tế của địa phương với nhiệm vụ đi vay
để cho vay, NHNo&PTNT huyện Nông Cống đã đáp ứng kịp thời nhu cầuvốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện theo địnhhướng phát triển của Tỉnh đề ra Đa dạng hóa đối tượng đầu tư, tìm kiếmnhững dự án, phương án khả thi để đầu tư, tìm kiếm thị trường đầu tư, củng
cố thị phần trên địa bàn huyện Bên cạnh đó, NHNo&PTNT huyện NôngCống còn đáp ứng nhu cầu cho vay đời sống trên địa bàn huyện như cho vayvốn để xây dựng, sửa chữa nhà ở; cho vay mua sắm đồ dùng, phương tiện đilại Ngoài ra còn đáp ứng vốn để kiên cố hóa kênh mương, phục vụ sảnxuất…
- Nhiệm vụ thanh toán, chuyển tiền và dịch vụ ngân hàng
Ngoài hai nhiệm vụ trên, NHNo&PTNT huyện Nông Cống còn làm nhiệm
vụ tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt trong cùng hệ thống và khác hệthống như thanh toán ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, séc chuyển tiền và thanhtoán chuyển tiền điện tử…
3 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng
Sơ đồ bộ máy tổ chức của NHNo&PTNTT Nông Cống:
Trang 19Giám đốc PGD
PhòngGiám đốc PGD
Phòng
kế hoạch kinh doanh
Phòng
kế toán ngân quỹ
Phó Giám đốc 1
Phó Giám đốc 2
Giám
đốc
Trang 20Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận:
* Ban giám đốc: 01 giám đốc và 02 phó giám đốc
- Giám đốc: Giám đốc NHNo&PTNT Nông Cống là người được giám đốcNHNo&PTNT Thanh Hóa ủy quyền thực hiện các nghiệp vụ kinh tế phátsinh tại NH cơ sở và quản lý toàn thể cán bộ viên chức trong đơn vị, Giámđốc giữ vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động kinh doanh của NH trên địa bàn
và chịu hoàn toàn trách nhiệm với ngành trước pháp luật, nhà nước về mọiquyết định đã ký và hoạt động kinh doanh của đơn vị
- Phó giám đốc: Là người được giám đốc ủy quyền, thay mặt giám đốc xử lýmột số công việc theo chức năng được ủy quyền Thay mặt giám đốc điềuhành khi giám đốc đi vắng và chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật
về quyết định của mình trong phạm vi ủy quyền, và những gì mà mình đã kýnhận đóng dấu
* Phòng kế toán ngân quỹ: Đây là phòng có nhiệm vụ ghi chép những
số liệu, những nghiệp vụ mà trong ngày, tháng, quý, năm mà cơ quan đã thựchiện Hạch toán kết quả của đơn vị vào cuối tháng, quý, năm Đây là nơi tiếpnhận những thông tin về khách hàng được đưa từ bộ phận của phòng kếhoạch kinh doanh Sau khi tiếp nhận những thông tin về khách hàng, các kếtoán viên sẽ đưa thông tin của khách hàng đó vào máy tính của cơ quan, tạođiều kiện để nắm bắt thông tin về khách hàng đó một cách rõ ràng và đầy đủ
Từ đó có chính sách cho vay phù hợp với điều kiện của khách hàng đó
- Trưởng phòng kế toán: Chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật nhànước về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại đơn vị, là người gác gôn thựchiện hạch toán đúng chính xác mọi hoạt động của đơn vị, là người tham mưugiúp việc cho giám đốc trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm được phâncông; ngoài ra trưởng phòng kế toán còn có trách nhiệm chỉ đạo điều hành
Trang 21các cán bộ nghiệp vụ (nhân viên) làm công tác kế toán và ngân quỹ tại đơn
vị, tham gia giải quyết các công việc có liên quan
- Cán bộ nghiệp vụ kế toán (nhân viên)
+ Ghi chép, tính toán, phản ánh số liệu hiện có của NH, tình hình luânchuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn vào quá trình hoạt động kinhdoanh của ngân hàng
+ Thực hiện ghi chép, phản ánh toàn bộ hoạt động kinh doanh của NH,
kế hoạch thu, chi tài chính, kiểm tra việc thực hiện sử dụng tài sản, giữ gìn vàkhấu hao TSCĐ, các tài sản khác, bảo vệ tài sản của ngân hàng và kháchhàng
+ Huy động vốn tiền gửi của các tổ chức kinh tế và cá nhân, thực hiệncác dịch vụ thanh toán khác
+ Phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những sai sót, vi phạm chính sách, chế
độ, kỷ luật kinh tế, tài chính của nhà nước
+ Cung cấp các số liệu chính xác, kịp thời phục vụ cho việc điều hànhkinh doanh của ngân hàng
+ Đóng, lưu giữ bảo quản chứng từ, tài liệu của NH
+ Ngoài ra còn có bộ phận chuyên làm kho quỹ thực hiện việc thu – chitiền mặt, đáp ứng nhu cầu của khách hàng, quản lý tiền mặt và các giấy tờ cógiá trị của NH và khách hàng
+ Thực hiện các công tác tài chính văn thư, lễ tân, bảo vệ, y tế, công vănlưu trữ
* Phòng kế hoạch kinh doanh (phòng tín dụng): Đây là một trong những
bộ phận hoạch định các chính sách, phương hướng hoạt động của cơ quan.Đưa ra mục tiêu cần đạt được trong thời gian tới, và có các chính sách biệnpháp đi kèm Trong bộ phận này có các cán bộ về các lĩnh vực khác nhau làmcác việc theo lĩnh vực riêng của mình, các cán bộ tín dụng sẽ là những người
Trang 22trực tiếp xuống địa bàn, thôn, xã, xóm… tuyên truyền, hướng dẫn và thôngbáo các chính sách của NH.
Phòng kế hoạch kinh doanh chiếm hơn 50% cán bộ công nhân viên trong
NH, tập trung nghiên cứu chiến lược khách hàng, phân loại khách hàng, thammưu cho ban giám đốc về các chính sách ưu đãi với từng loại khách hàngnhằm mở rộng địa bàn hoạt động, nâng cao chất lượng tín dụng
- Trưởng phòng kế hoạch kinh doanh: Là người chịu trách nhiệm về cácnghiệp vụ hoạt động tín dụng, là người tham mưu giúp giám đốc về việc chủđộng tìm kiếm các dự án khả thi, tìm ra giải pháp đầu tư trong tương lai, xâydựng mối quan hệ với các thành phần kinh tế cần có quan hệ tín dụng vớingân hàng
- Cán bộ nghiệp vụ tín dụng (nhân viên)
+ Có nhiệm vụ cho vay, đôn đốc thu nợ, thu lãi của khách hàng vay, làm côngtác đi vay để cho vay: Vừa huy động vốn vừa đầu tư vốn thích đáng hợp lý(thực hiện đúng thương hiệu của NHNo&PTNT Việt Nam trong thời kỳ đổimới: trung thực, kỷ cương, sáng tạo, hiệu quả)
+ Nắm bắt được toàn bộ tình hình kinh tế - xã hội của địa phương, từngđịa bàn của từng cán bộ tín dụng Vì vậy phòng kinh doanh với nghiệp vụ tíndụng luôn là mũi nhọn của NH
* Ngân hàng cấp 4 Cầu Quan: Là một chi nhánh thuộc NHNo&PTNTNông Cống với tổng số cán bộ được định biên là 8; trong đó có một giámđốc, một phó giám đốc kiêm tổ trưởng tín dụng NH cấp 4 Cầu Quan có 2 tổnghiệp vụ: Tổ tín dụng và tổ kế toán
4 Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng
a Tình hình huy động vốn:
Tổng nguồn vốn huy động của NHNo&PTNT Nông Cống tăng trưởngliên tục với tốc độ cao qua nhiều năm Cụ thể: năm 2009 tổng nguồn vốn
Trang 23huy động của ngân hàng là 125.530 triệu đồng nhưng đến năm 2010 là157.810 triệu đồng tăng 32.280 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là25,7%, năm 2011 đạt 224.247 triệu đồng tăng so với năm 2010 là 66.437triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 42,1% Đây là thành quả của việcngân hàng thường xuyên quan tâm và tổ chức công tác huy động vốn, tạo ramột lượng vốn khá lớn, giúp ngân hàng đáp ứng tốt nhu cầu vay vốn ngàycàng cao của khách hàng, làm cơ sở vững chắc cho tốc độ phát triển kinhdoanh không ngừng của ngân hàng.
* Xét nguồn vốn huy động phân theo khách hàng thì ta thấy rằng hầu hếtnguồn vốn NH huy động được đều thuộc vào tiền gửi của dân cư Năm 2009chiếm 85,2%; năm 2010 là 90,1% và năm 2011 là 87%, những con số nàychứng tỏ rằng ngân hàng đã ngày càng biết chú trọng khai thác các nguồnvốn nhàn rỗi trong dân cư, đây là một nguồn tiềm năng do dân cư vẫn cóthói quen dùng tiền mặt trong thanh toán và giữ tiền tiết kiệm tại nhà Mặtkhác, tuy nguồn vốn trong các tổ chức kinh tế cũng là một nguồn vốn khôngnhỏ nhưng ngân hàng đã chưa khai thác triệt để đên nguồn này Do đó, trongtương lai ngân hàng phải có những chính sách thích hợp để có thể huy độngmột cách tối đa các nguồn vốn này vừa tạo ra nguồn vốn vững chắc chongân hàng vừa giúp các tổ chức kinh tế có một phương án sử dụng vốn tối
ưu Số liệu cụ thể được thể hiện rõ trong bảng 2.1 sau:
Trang 24Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT Nông Cống phân theo khách hàng năm 2009-2011
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền Tỷ lệ
Tỷ lệ (%)
Tiền gửi dân
Trang 25* Xét tổng nguồn vốn huy động theo tính chất huy động thì ta thấyrằng, tiền gửi không kỳ hạn thì không tăng thậm chí còn bị giảm (năm 2010
so với năm 2009 thì giảm là 1.832 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ là 6,6%;đền năm 2011 so với năm 2010 thì không tăng giữ ở mức 26.000 triệuđồng) Đây chính là lý do tại sao nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu
là vốn ngắn hạn Số liệu cụ thể được thể hiện rõ trong biểu đồ 1 sau:
Biểu đồ 1 Tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT Nông Cống phân
theo kỳ hạn năm 2009-2011
ĐVT: Triệu đồng
(Nguồn báo cáo tín dụng của NHNo&PTNT Nông Cống năm 2009-2011)
* Qua phân tích trên cho ta thấy: Với mục tiêu tăng cường tiếp thị, mởrộng danh mục khách hàng mới; khách hàng tiềm năng; tích cực chăm sóckhách hàng gửi tiền để khai thác được nguồn vốn huy động chi phí thấp.Đồng thời ngân hàng tập trung phát triển nghiệp vụ marketting trong lĩnhvực huy động vốn, phát triển sản phẩm mới, số lượng và cơ cấu huy động
Trang 26vốn của ngân hàng đã có những thay đổi rõ rệt trong giai đoạn 2009-2011.Điều này phù hợp với yêu cầu mở rộng và phát triển tín dụng cũng như mụctiêu hoạt động của ngân hàng.
b Tình hình sử dụng vốn
Cũng như mọi ngân hàng khác, NHNo&PTNT Nông Cống cũng thựchiện chức năng của mình là đi huy động vốn của nền kinh tế để cho vay.Điều này có ý nghĩa to lớn về mặt xã hội đó là tái sản xuất xã hội, còn đốivới ngân hàng hoạt động cho vay có ý nghĩa sống còn vì có cho vay thì mớitạo ra lợi nhuận đảm bảo khả năng tồn tại của ngân hàng trong nền kinh tế.Xác định được điều quan trọng đó NHNo&PTNT Nông Cống đang từngbước mở rộng thị phần và đối tượng cho vay để tăng tổng dư nợ
Chính vì điều này mà doanh số cho vay, cũng như dư nợ củaNHNo&PTNT Nông Cống qua các năm 2009 – 2011 luôn tăng trưởng mộtcách lành mạnh và vững chắc Điều này được thể hiện qua các bảng 2.2 :
Trang 27Bảng 2.2 Hoạt động cho vay của NHNo&PTNT Nông Cống giai đoạn 2009-2011
Số tiền
Tỷtrọng(%)
Số tiền
Tỷtrọng(%)
Số tiền
Tỷtrọng(%)
Sốtiền
Tỷlệ(%)
Trang 28Qua bảng 2.2 ta thấy:
Năm 2009 tổng dư nợ của Ngân hàng là 172.462 triệu đồng Đây cũng
là một năm khó khăn với nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế ViệtNam nói riêng Đầu năm do ảnh hưởng của lạm phát và tín dụng thắt chặt,việc tăng trưởng tín dụng hạn chế, trong khi đó nhu cầu vay vốn cao Cuốinăm cơ chế tín dụng nới lỏng, nguồn vốn cho vay đáp ứng đầy đủ nhu cầuvay vốn của khách hàng
Năm 2010 tổng dư nợ tăng 22.053 triệu đồng so với năm 2009 tươngứng với tỷ lệ tăng là 12,8% Ngay từ đầu năm thực hiện kích cầu lãi suất, lãisuất tiền vay hạ xuống nên nhu cầu vay của khách hàng lớn Trong khi đóảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, giá cả, thiên tai, dịch bệnh diễn raphức tạp,sự mất ổn định của thị trường vàng và ngoại tệ, lãi suất gửi thấpnên khả năng đáp ứng nguồn vốn hạn chế dẫn đến nhiều khách hàng sau khitrả nợ phải chờ đợi lâu, nhiều khách hàng mới có nhu cầu vay và nâng mứcvay không thực hiện được
Năm 2011 tổng dư nợ tăng 47.009 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ là24,2% so với năm 2010, và tăng 69.062 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ là40% so với năm 2009 Như vậy ta thấy trong năm 2011 ngân hàng đã thựchiện tương đối tốt các chỉ tiêu tín dụng đề ra, có được sự tăng trưởng tốt cácchỉ tiêu tín dụng là nhờ sự quan tâm đặc biệt của ban Giám đốc NH trongviệc chỉ đạo điều hành hàng ngày đối với mũi nhọn tín dụng, sự quan tâmsát sao của ngân hàng cấp trên nhất là trong công tác cho vay qua tổ và trongcông tác kiểm tra chấn chỉnh chất lượng tín dụng
Xét trên cơ cấu cho vay theo thời hạn thì nhìn chung dư nợ ngắn hạntại đơn vị luôn chiếm tỷ trọng lớn Nông Cống là huyện thuần nông nên đểđáp ứng phát triển tại địa bàn, Ngân hàng tập trung ưu tiên vốn cho NôngNghiệp và nông thôn, xác định hộ sản xuất là đối tượng khách hàng chủ yếu
Trang 29của NH Tuy nhiên cùng với sự phát triển của kinh tế đất nước NH cũngđang đẩy mạnh đa dạng hóa đối tượng đầu tư và đối tượng khách hàng, đếnnăm 2010 dư nợ dài hạn đã tăng 8.325 triệu đồng, đây là dấu hiệu đángmừng.
Tóm lại: Tình hình sử dụng vốn tại chi nhánh tương đối hiệu quả, dư
nợ tăng mạnh và vững chắc, luôn đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng,
từ đó tạo được lòng tin vững chắc của khách hàng đối với ngân hàng
c Tình hình thanh toán:
Trong những năm gần đây hoạt động thanh toán của ngân hàng
No&PTNT Nông Cống tăng trưởng liên tục với tốc độ cao qua từng năm cụthể: Năm 2009 là 7.080.208 nghìn đồng, năm 2010 đạt 8.496.250 nghìn đồng
và năm 2011 đạt 12.879.930 nghìn đồng tăng 4.383.680 nghìn đồng tươngứng với tỷ lệ là 51,6% so với năm 2010 Sở dĩ có được điều này là vì: Dohoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong địa bàn huyệnngày càng phát triển và mở rộng vì vậy các mối quan hệ trao đổi, lưu thônghàng hóa không chỉ còn bó hẹp trong huyện mà còn có các mối quan hệ vớicác huyện, tỉnh khác trong toàn quốc thậm chí còn sang các nước khác nêndẫn đến nhu cầu thanh toán qua ngân hàng ngày càng lớn Cũng có thể nóirằng đây là một dấu hiệu tốt của ngân hàng nó có thể chứng tỏ một điều ngânhàng ngày một đáp ứng được nhu cầu của xã hội trong việc thanh toán chocác hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa của tổ chức và cá nhân ở trong địabàn huyện và trên cả nước từ đó nó góp một phần không nhỏ trong việc thúcđẩy phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
Khi xét đến cơ cấu trong tổng hoạt động thanh toán thì ta thấy rằng hoạtđộng thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng vẫn chiếm tỷ trọng lớn(năm 2010 thanh toán không dùng tiền mặt chiếm 71% trong tổng doanh sốthanh toán chung, đến năm 2011 thì thanh toán không dùng tiền mặt đã chiếm
Trang 3073% trong tổng doanh số thanh toán chung) và tăng qua từng năm : Năm
2011 thanh toán không dùng tiền mặt tăng 3.386.201 nghìn đồng so với năm
2010 tương ứng với tỷ lệ tăng là 56%, đây là kết quả của việc thực hiện chỉ thị20CP, mở rộng việc thanh toán không dùng tiền mặt thông qua việc mở tàikhoản thanh toán và thẻ cho các tổ chức cá nhân Mặt khác đây cũng là sựphát triển tất yếu của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vì nó gắn liềnvới sự phát triển của hệ thống ngân hàng nói chung và ngân hàng No&PTNTNông Cống nói riêng
II. Khái quát về kinh tế hộ nông dân ở huyện Nông Cống tỉnh Thanh
Hóa:
Nông Cống là một huyện nằm ở phía nam của tỉnh Thanh Hóa, có diệntích 286 km2 với dân số 187.600 người Địa hình huyện chủ yếu là đồng bằng,đồi núi chiếm 37% diện tích, có 31 xã, 2 thị trấn và 1 thị tứ Là một huyệnthuần nông, nông nghiệp chiếm đến 88% Người dân ở đây chủ yếu làm nghềtrồng lúa, chăn nuôi và một số nghề khác Đảng và chính quyền địa phươngxác định nông nghiệp mũi nhọn cho phát triển kinh tế Qua phát triển sản xuấtnông nghiệp và nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi tạo ra thế đi vững chắccho phát triển kinh tế ở địa phương
Để phát triển nông nghiệp một cách toàn diện và bền vững, có khả năngcạnh tranh cao gắn với xây dựng nông thôn mới, huyện Nông Cống tiếp tục ràsoát, hoàn thiện các quy hoạch nông, lâm, ngư nghiệp Tiếp tục bổ sung vàxây dựng mới các cơ chế, chính sách hỗ trợ Đồng thời khuyến khích pháttriển nông nghiệp, nông thôn và đặc biệt là chú trọng phát triển kinh tế hộ.Trong quá trình đổi mới nền nông nghiệp, các hộ nông dân trên địa bànhuyện đã được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài (Các loại đất nôngnghiệp là 20 năm, còn các loại đất lâm nghiệp 50 năm) Hộ được coi là mộtđơn vị kinh tế tự chủ và được quyền hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp
Trang 31trên mảnh đất được giao Ngày càng có nhiều đóng góp cho việc giải phóngsức sản xuất và nâng cao sản lượng nông nghiệp, mở mang ngành nghề mớiqua đó nâng cao thu nhập Trong tổng số khoảng 43.000 hộ nông dân trongđịa bàn huyện, số hộ được giao quyền sử dụng đất là gần 98%, trong đó cókhoảng 32.800 hộ được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp và khoảng 9.300
hộ được giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp tập trung ở một số xã vùng núinhư Trung Thành, Tân Khang, Tân Thọ, Công Chính, Công Liêm, Yên Mỹ…Trên địa bàn huyện, trên 74,5% số hộ đã có từ 2 đến 4 loại hình hoạt động sảnxuất và kinh doanh để tạo thu nhập Nhiều hộ với mô hình sản xuất kinhdoanh hiệu quả như xây dựng hệ thống chuồng nuôi nhím kết hợp với phíadưới là hệ thống ao nuôi ba ba Hay mô hình nuôi gà trong lồng khép kín Môhình trang trại trồng cây ăn quả như: Cam sành, nhãn, vãi, theo đúng quytrình kỹ thuật và đều thu được kết quả tốt qua đó từng bước cải thiện đờisống Tuy nhiên, còn nhiều hộ nông dân trên địa bàn huyện do trình độ canhtác còn yếu kém nên rất khó tiếp cận với trình độ khoa học kỹ thuật mới Dẫnđến hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả thấp Đặc biệt là khuvực các xã nghèo, cách xa trung tâm huyện
Hiện nay, các hộ nông dân trên địa bàn huyện đang có xu hướng tậptrung vào phát triển các vùng sản xuất giống lúa, rau và các loại giống câylâm nghiệp Tập trung mạnh vào vùng sản xuất rau an toàn và phát triển bềnvững vùng trồng mía, dứa, sắn nguyên liệu đầu vào cho các cơ sở chế biến.Đồng thời, mở rộng các mô hình trang trại chăn nuôi và các mô hình trang trạitrồng cây ăn quả đạt tiêu chuẩn kỹ thuật Trong năm 2011, kinh tế hộ trangtrại ở địa bàn huyện đã có sự phát triển mạnh mẽ Xuất hiện nhiều nhu cầuđầu tư vốn lớn, thuê đất canh tác và lao động thường xuyên hoặc theo thời vụ.Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu cây, con theo hướng đáp ứng ngày một tốt hơnnhu cầu thị trường Chẳng hạn, trang trại chăn nuôi lợn tại xã Thăng Longtăng rất nhanh Trang trại trồng cây hàng ăn quả và cây lấy gỗ tại xã Vạn Hòa,Vạn Thắng cũng có sự phát triển cả về chất và lượng Sản phẩm hàng hóa
Trang 32nông sản của các trang trại này ngày càng được tiêu thụ nhiều trên thị trường.Huyện Nông Cống đang từng bước đẩy mạnh việc nghiên cứu và chuyển giaocác tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất Chính quyền địa phương luôn chútrọng đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ ở nôngthôn Nhất là củng cố và phát triển mô hình kinh tế hợp tác Đồng thời nhânrộng các mô hình liên minh và liên kết giữa các hộ nông dân, giữa hộ nôngdân với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề nhằm hỗ trợ kinh tế hộ pháttriển.
Thực tế cho thấy, kinh tế hộ trên địa bàn huyện ngày càng được mở rộng
và ngày càng phát triển Song cũng đang vướng vào nhiều khó khăn (nhất lànguồn vốn), nhiều hộ thiếu vốn để duy trì sản xuất kinh doanh, nhiều hộ thiếuvốn để mở rộng sản xuất và cũng có nhiều hộ không đủ vốn để bước đầu hoạtđộng sản xuất kinh doanh Vấn đề này đang được chính quyền đị phương vàNHNo&PTNT huyện Nông Cống quan tâm và từng bước tháo gỡ Một vấn đềbức thiết nữa là tìm thị trường cho sản phẩm nông nghiệp Việc tìm ra cây gì,con gì để cho sản xuất đã rất quan trọng, thì việc tiếp cận đầu vào và đầu racho sản xuất nông nghiệp cũng là một vấn đề hết sức quan trọng và khó khănkhông kém Đã thế, thị trường đầu vào của sản xuất nông nghiệp biến độngrất bất lợi cho các hộ nông dân Giá các yếu tố đầu vào (phân bón, con giống,
…) thì lên cao, giao thông khó khăn, vốn ít nên khó khăn trong việc mua giáthấp với khối lượng lớn (mua buôn) Mua lẻ thì giá lại rất cao, thiếu nhữngnhà cung cấp tin cậy, ổn định và còn thiếu cả những thông tin để có cơ hội lựachọn phương án tối ưu Bên cạnh đó, khó khăn trong khâu sơ chế và chế biếnsau thu hoạch cũng là một cản trở đối với các hộ nông dân Phần lớn các hộnông dân trong địa bàn huyện đều thiếu kỹ thuật và khả năng sơ chế nông sảnsau thu hoạch Thiếu thông tin thị trường, chi phí giao dịch cao Nên hầu hếtnông sản chưa tăng thêm được giá trị kinh tế đáng kể sau các khâu tiếp theocủa quy trình sản xuất đến tay người tiêu dùng
Qua đó, có thể thấy kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Nông Cốngđang trên con đường từng bước phát triển Bên cạnh những thuận lợi là nhữngkhó khăn và thử thách phải vượt qua