Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước đang phát triển, với hơn 90% tỷ lệ người nghèo đang sinh sống ở các vùng nông thôn hẻo lánh.. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng vẫn còn rất
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Thái Nguyên -2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI
TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Mã số: 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ ANH TÀI
Thái Nguyên -2014
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
ĐẶNG VĂN QUANG
Trang 4Trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn tôi đã nhận được sự quan tâm hướng dẫn giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm dạy bảo, dìu dắt của các thầy cô giáo trường Đại học Thái Nguyên, xin chân thành cảm ơn đến UBND huyện, UBND các
xã ở huyện Võ Nhai đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
và khách quan nhất
Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Đỗ Anh Tài đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong quá trình thực tập để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện và khích lệ tôi hoàn thành khóa luận
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 09 năm 2014
Tác giả
ĐẶNG VĂN QUANG
Trang 5LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 8
1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
4 Ý nghĩa của đề tài 9
4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 9
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 10
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11
1.1 Cơ sở khoa học của luận văn 11
1.1.1 Một số quan niệm về nghèo và hộ nghèo 11
1.1.2 Khái niệm sinh kế và hoạt động sinh kế 13
1.1.3 Khái quát về kinh tế xanh 19
1.2 Cơ sở thực tiễn của luận văn 20
1.2.1 Thực trạng nghèo trên thế giới và khu vực hiện nay 20
1.2.2 Thực trạng nghèo tại Việt Nam 22
1.2.3 Tình hình phát triển sinh kế hộ nông dân ở các nước trên thế giới và những bài học kinh nghiệm 23
1.2.4 Quá trình phát triển sinh kế hộ nông dân ở nước ta qua các thời kỳ 24
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU 26
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
2.2 Nội dung nghiên cứu 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
Trang 63.1 Tình hình chung 29
3.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Võ Nhai 29
3.1.2 Tình hình sử dụng đất huyện Võ Nhai 34
3.1.3 Tình hình dân số và lao động 36
3.1.4 Thực trạng cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục 39
3.2 Tình hình phát triển kinh tế trên địa bàn huyện 40
3.2.1 Diện tích một số cây trồng chính qua 3 năm tại vùng nghiên cứu 46
3.2.2 Tình hình chăn nuôi một số vật nuôi chính qua 3 năm tại vùng nghiên cứu 48
3.3 Thực trạng phát triển sinh kế và các nguồn lực sinh kế của các hộ nghèo trên địa bàn nghiên cứu 50
3.3.1 Nguồn vốn tự nhiên của nhóm hộ điều tra trên địa bàn 52
3.3.2 Vốn con người của nhóm hộ điều tra 53
3.3.3 Vốn vật chất của nhóm hộ điều tra 54
3.3.4 Vốn tài chính của nhóm hộ điều tra 55
3.4 Những khó khăn của nhóm hộ nghèo trong phát triển sinh kế 62
3.5 Chiến lược và giải pháp xóa đói giảm nghèo tại địa phương 71
3.5.1 Phương hướng, mục tiêu 71
3.5.2 Những giải pháp cụ thể nhằm phát triển kinh tế, cải thiện sinh kế cho các hộ nghèo trên địa bàn huyện Võ Nhai 74
KẾT LUẬN 91 PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 1.1 Chuẩn nghèo đói được xác định qua các thời kỳ từ năm 1993 đến 2011 13
Bảng 1.2 Bảng mẫu điều tra 28
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất huyện Võ Nhai 34
Bảng 3.2 Tình hình lao động và sử dụng lao động của huyện Võ Nhai giai đoạn 2011 - 2013 37
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Võ Nhai giai đoạn 2011 - 2013 41
Bảng 3.4 Thực trạng phát triển nông nghiệp của huyện Võ Nhai qua 3 năm 43
Bảng 3.5 Tỷ lệ hộ nghèo của huyện Võ Nhai qua các năm 45
Bảng 3.6 Diện tích một số cây trồng chính qua 3 năm tại vùng nghiên cứu 46
Bảng 3.7 Tình hình chăn nuôi một số vật nuôi chính qua 3 năm tại vùng nghiên cứu 48 Bảng 3.8 Tình hình cơ bản về chủ hộ điều tra năm 2013 50
Bảng 3.9 Diện tích - cơ cấu sử dụng đất đai của nhóm hộ điều tra năm 2013 52
Bảng 3.10 Lao động và nhân khẩu của nhóm hộ điều tra năm 2013 53
Bảng 3.11 TLSX chủ yếu bình quân của nông hộ năm 2013 54
Bảng 3.12 Quy mô vốn bình quân của nhóm hộ nghèo tại thời điểm điều tra 55
Bảng 3.13 Tổng thu từ sản xuất NLN ở nhóm hộ điều tra năm 2013 56
Bảng 3.14 Tổng thu nhập của nhóm hộ điều tra phân theo vùng và dân tộc 57
Bảng 3.15 Thu nhập bình quân nông hộ theo lao động, nhân khẩu năm 2013 58
Bảng 3.16 Chi phí sản xuất nông nghiệp của nhóm hộ điều tra 58
Bảng 3.17 Chi tiêu bình quân cho đời sống của nhóm hộ điều tra 59
Bảng 3.18 Chi tiêu bình quân của nhóm nông hộ năm 2013 59
Bảng 3.19 Tổng hợp ý kiến và nguyện vọng của nhóm hộ điều tra 62
Bảng 3.20 Tổng hợp ý kiến của hộ nông dân về thị trường nông sản 64
Bảng 3.21 Các yếu tố hạn chế hộ nghèo tiếp cận tín dụng 66
Bảng 3.22a Danh mục các nguyên nhân gây ra nghèo tại huyện Võ Nhai năm 2013 67
Bảng 3.22b Khó khăn của người dân trong đời sống và phát triển sinh kế 68
Bảng 3.23 Cơ cấu lao động, việc làm của nhóm hộ nghèo huyện Võ Nhai
năm 2013 69
Trang 8đến 2015 75 Bảng 3.25 Các chương trình cho vay vốn tại địa phương 76 Bảng 3.26 Dự kiến đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho hộ nông
dân đến năm 2015 79 Bảng 3.27 Dự kiến phát triển cơ sở hạ tầng cho các xã giai đoạn 2015 - 2020 81 Bảng 3.28 Định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại địa phương 87 Bảng 3.29 Dự kiến mở một số lớp tập huấn cho người dân về cải thiện sinh kế gắn
với phát triển kinh tế xanh 89
Trang 9Hình 1.1 Khung phân tích sinh kế 16
Hình 3.1 Cơ cấu giá trị sản xuất của cá ngành năm 2011 và 2013 43
Hình 3.2 Giá trị ngành nông, lâm, thủy sản qua các năm 45
Hình 3.3 Cán cân thu chi của các hộ nghèo trên địa bàn huyện Võ Nhai 60
Hình 3.4 Biểu đồ Venn về mối quan hệ giữa người nghèo huyện Võ Nhai với các
hợp phần 61
Hình 3.5 Phân tích SWOT về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của cộng đồng người dân huyện Võ Nhai - Thái Nguyên 70
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển, với hơn 90% tỷ lệ người nghèo đang sinh sống ở các vùng nông thôn hẻo lánh Đây là những vùng yếu kém, dễ bị tổn thương, cộng đồng dân cư sống ở những vùng này còn chịu nhiều thiệt thòi, cơ hội tiếp cận giáo dục, thông tin thị trường còn hạn chế Do vậy, nông nghiệp bền vững
và sinh kế ổn định đóng vai trò quan trọng trong công tác giảm nghèo và sự phát triển của đất nước Để giảm số lượng người nghèo, chính phủ và các cơ quan phát triển ở Việt Nam đã có nhiều nỗ lực phát triển sinh kế cho người nghèo trong thập
kỷ vừa qua và đã thu được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng vẫn còn rất nhiều những khó khăn, trở ngại không ngừng tác động đến đời sống thường ngày của đồng bào dân tộc thiểu số như: Thiếu vốn sản xuất, trình độ
kỹ thuật chưa cao, chi phí sinh hoạt cao, chi phí đầu vào lớn,… Hơn thế nữa là hàng loạt những hệ lụy của những phương thức canh tác không bền vững, sự suy thoái tài nguyên đất, nước ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn, sự gia tăng các hiện tượng thiên tai dưới tác động của biến đổi khí hậu Sự cộng hưởng của những yếu tố này tiếp tục đẩy người dân đến tình trạng đói nghèo
Đứng trước thực trạng đó hàng loạt những chương trình dự án về sinh kế bền vững đang là một mối quan tâm đặt lên hàng đầu hiện nay của con người Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển, nâng cao đời sống của con người nhưng vẫn đáp ứng được đòi hỏi về chất lượng môi trường tự nhiên Trên thực tế đã có nhiều chương trình, tổ chức, dự án hỗ trợ cho cộng đồng để hướng đến mục tiêu phát triển ổn định và bền vững Thực tế cho thấy việc lựa chọn những hoạt động sinh kế của người dân chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhiều yếu tố: Điều kiện tự nhiên,
xã hội, yếu tố con người, vật chất, cơ sở hạ tầng,… Việc điều tra, đánh giá hiệu quả các hoạt động sinh kế giúp chúng ta hiểu rõ được những phương thức sinh kế của người dân có phù hợp với các điều kiện của địa phương hay không, các hoạt động sinh kế đó có bền vững, phát triển lâu dài và ổn định không
Trang 11Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên là một huyện miền núi còn gặp rất nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng yếu kém, thu nhập thấp chưa đáp ứng đươc các nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của người dân Việc tìm hiểu, phân tích các hoạt động sinh kế của hộ nông dân trên địa bàn, là cơ sở thiết lập các can thiệp của các dự án xóa đói giảm nghèo sẽ góp phần cải thiện sinh kế, nâng cao thu nhập và phát triển sản xuất nông nghiệp cho người dân trong huyện nói riêng cũng như người dân trên
cả nước nói chung
Xuất phát từ tế đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp cải thiện sinh kế cho hộ nghèo hướng đến phát triển kinh tế xanh trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và những yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của các hộ nghèo và đưa ra những giải pháp giảm nghèo cải thiện đời sống nhân dân gắn với phát triển kinh tế xanh trên địa bàn huyện Võ Nhai
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá sơ lược về điều kiện tự nhiên dân sinh kinh tế xã hội tại địa bàn
nghiên cứu
- Đánh giá sơ bộ, phân tích thực trạng sinh kế của các hộ nghèo trên địa bàn
- Phân tích những nguyên nhân dẫn tới nghèo đói tại địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất được các giải pháp cải thiện sinh kế phù hợp và thiết thực gắn với phát triển nền kinh tế xanh giúp các hộ gia đình nghèo tại địa phương thoát nghèo
và vươn lên trong cuộc sống
4 Ý nghĩa của đề tài
4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài là cơ hội để cho học viên thực hành những kiến thức đã học, áp dụng kiến thức vào thực tế và giúp học viên nâng cao các kỹ năng và vận dụng thành thạo các phương pháp đã học như: kỹ năng đặt câu hỏi khai thác thông tin, phương pháp PRA, khả năng phân tích xử lý số liệu, khả năng nhận định theo các nguyên lý phát triển nông thôn, sự tổng hợp và đưa ra lý luận từ những vấn đề thực tiễn
Trang 12Giúp các học viên có cách nhìn tổng quan về tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nói chung và địa bàn nghiên cứu cũng như địa bàn đang công tác nói riêng Từ đó hệ thống hóa các lý luận và tình hình thực tế để tìm ra những giải pháp phát triển kinh tế, xã hội một cách hệ thống và bền vững cho từng địa phương
cụ thể
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài sẽ góp phần vào việc đánh giá thực trạng đói nghèo và phát triển sinh
kế của các hộ nghèo tại địa phương, phân tích những nguyên nhân nghèo đói cũng như hiệu quả của các chương trình, chính sách của Đảng và Nhà nước tới sự phát triển kinh tế, xã hội địa phương đặc biệt là những hộ nghèo
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là cơ sở giúp chính quyền và ban ngành đoàn thể trên địa bàn huyện đưa ra được những biện pháp giảm nghèo và cải thiện sinh kế
có hiệu quả hơn
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của luận văn
1.1.1 Một số quan niệm về nghèo và hộ nghèo
1.1.1.1 Một số quan niệm về nghèo
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với
các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian Tổ chức y tế thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita
Incomme, PCI) của quốc gia [5]
Theo quan điểm nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh thì nghèo là không có thức
ăn bổ dưỡng, phải tiết kiệm tiền cho bữa ăn hôm sau, chẳng có phương tiện đi lại, cuộc sống không ổn định, buôn bán nhỏ lẻ, trẻ con chỉ đi học khi nào có tiền, chẳng
có ai giúp đỡ, không được chơi tennis, chẳng có gì giải trí ngoài đánh bạc và mua vé
số [1]
* Nghèo tuyệt đối
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm
nghèo tuyệt đối Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: “Nghèo ở mức độ
tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng
bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng của giới trí thức chúng ta’’
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2
đô la cho khu vực Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông
Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp (Chương trình Phát triển
Liên Hiệp Quốc 1997)
Trang 14* Nghèo tương đối
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn Việc nghèo đi về văn hóa
- xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng [1]
1.1.1.2 Hộ nghèo và phương pháp xác định chuẩn nghèo của Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia
* Hộ nghèo
Ngày 30/01/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015
Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 như sau:
Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống
Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng
Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng [4]
Chuẩn mực xác định nghèo ở Việt Nam qua các giai đoạn như sau:
Trang 15Bảng 1.1 Chuẩn nghèo đói được xác định qua các thời kỳ từ năm 1993 đến 2011
Dưới mức Dưới mức
1 Giai đoạn 1993 - 1994 Gạo
2 Giai đoạn 1995 - 1997 Gạo
Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Kg/người/tháng 13 15 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Kg/người/tháng 13 20
3 Giai đoạn 1997 - 2000 Tiền
Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Đồng/người/tháng 45 55 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Đồng/người/tháng 45 70
4 Giai đoạn 2001 - 2005 Tiền
Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Đồng/người/tháng - 80 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Đồng/người/tháng - 10
5 Giai đoạn 2006 - 2010 Tiền
6 Giai đoạn 2010-2015 Tiền
(Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)
1.1.2 Khái niệm sinh kế và hoạt động sinh kế
1.1.2.1 Khái niệm sinh kế
Ý tưởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa những năm 80 (sau đó được phát triển hơn nữa bởi Chamber, Conway và những người
Trang 16khác vào đầu những năm 1990) Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện
Sinh kế của một hộ gia đình, hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai hay phương kế kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó
Theo Chamber and Conway (1992): Một sinh kế bao gồm khả năng (capacity), tài sản (assets)- (các nguồn dự trữ, các nguồn tài nguyên, quyền được bảo vệ và tiếp cận)- và các hoạt động cần có cho một cách thức kiếm sống
Theo Ellis: Một sinh kế bao gồm tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất,con người, tài chính và vốn xã hội), các hoạt động, và việc tiếp cận đến các tài sản và các hoạt động này (qua thể chế, quan hệ xã hội), tất cả cùng nhau xác định sự sống
mà cá nhân hay hộ gia đình nhận được
Theo DFID thì sinh kế có thể được mô tả là một tập hợp của việc sử dụng các nguồn lực thực hiện các hoạt động để sống Các nguồn lực có thể bao gồm kỹ năng và khả năng (vốn con người) của một cá nhân, đất đai, tiết kiệm và trang thiết
bị (vốn tự nhiên, tài chính và vật chất), các nhóm hỗ trợ chính thức hay các mạng lưới không chính thức hỗ trợ cho việc thực thi hoạt động (vốn xã hội)
1.1.2.2 Khái niệm hoạt động sinh kế
Hoạt động sinh kế là các hoạt động cụ thể do con người làm chủ thể Và hoạt động đó được tiến hành trong cuộc sống hằng ngày để tạo thu nhập nhằm thỏa mãn nhu cầu sống của họ
Thông thường, đối với một cộng đồng thì luôn luôn tồn tại hai hoạt động sinh kế sau:
- Hoạt động nông nghiệp gồm: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thuỷ sản
- Hoạt động phi nông nghiệp gồm: Buôn bán, dịch vụ, làm thuê, xay xát, Hoạt động sinh kế của nông hộ gồm có: Trồng trọt (lúa, ngô, sắn, khoai, )
và chăn nuôi (trâu, bò, lợn, gà, )
1.1.2.3 Các khái niệm liên quan
Theo DFID sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực và khả năng con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế có quan niệm cho rằng sinh kế không đơn thuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi ở Mà nó còn đề
Trang 17cập đến vấn đề tiếp cận các quyền sở hữu, thông tin, kỹ năng, các mối quan hệ,…(Wallmann, 1984) Sinh kế cũng được xem như là “sự tập hợp các nguồn lực
và khả năng mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà
họ thực thi nhằm để sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ”(DFID) Về cơ bản các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ và đồng thời chịu tác động của các thể chế chính sách và các mối quan hệ xã hội và mỗi cá nhân và hộ gia đình tự thiết lập trong cộng đồng
* Khái niệm chiến lược sinh kế
Chiến lược sinh kế dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lí các nguồn vốn và tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như để đạt được mục tiêu nguyện vọng của họ
* Khái niệm sinh kế bến vững
Khái niệm sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo Brundland (1987) tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển Một sinh kế được cho là bền vững khi con người có thể đố phó và khắc phục được những áp lực và cú sốc Đồng thời
có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản ở cả hiện tại và trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên
* Khung phân tích sinh kế bền vững IFAD [10]
Trang 18Hình 1.1 Khung phân tích sinh kế
* Khái niệm các nguồn vốn sinh kế
Nguồn vốn sinh kế được hiểu như là các điều kiện khách quan và chủ quan tác động vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặc lượng Trong phạm vi đề tài này, các yếu tố về con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội, các thể chế chính sách mà xã hội quy định Các nguồn vốn đó được hiểu như sau:
+ Nguồn vốn con người: Con người là cơ sở nguồn vốn này Vốn con người bao
gồm các yếu tố như cơ cấu nhân khẩu của hộ gia đình, kiến thức và giáo dục của các thành viên trong gia đình (bao gồm trình độ học vấn, kiến thức truyền được hoặc được
kế thừa trong gia đình), những kỹ năng và năng khiếu của từng cá nhân, khả năng lãnh
Kết quả sinh kế
+ Tăng thu nhập + Tăng sự
ổn định + Giảm rủi
ro + Nâng cao
an toàn lương thực + Sử dụng bền vững hơn các nguồn lực tự nhiên
TÀI SẢN SINH KẾ
Ảnh hưởng
và khả năng tiếp cận
Cơ cấu và tiến trình thực hiện
Cơ cấu
+ Các cấp chính quyền + Đơn vị
tổ chức
CHIẾN LƯỢC SINH
KẾ
Quá trình tiến hành
+ Luật lệ + Chính sách + Văn hóa + thể chế chính sách
Trang 19đạo, sức khỏe, tâm sinh lí của các thành viên trong gia đình, quỹ thời gian, hình thức phân công lao động Đây là một yếu tố được xem như là quan trọng nhất vì nó quyết định khả năng một cá nhân, một hộ gia đình sử dụng và quản lí các nguồn vốn khác
+ Nguồn vốn xã hội: Bao gồm các mạng lưới xã hội, các mối quan hệ với họ
hàng, người xung quanh, bao gồm ngôn ngữ, các giá trị về niềm tin tín ngưỡng, văn hóa, các tổ chức xã hội, các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để có được những lợi ích và cơ hội khác nhau,… Việc con người tham gia vào xã hội và sử dụng nguồn vốn này như thế nào cũng tác động không nhỏ đến quá trình tạo dựng sinh kế của họ Vốn xã hội được duy trì, phát triển và tạo ra những lợi ích mà người sở hữu nó mong muốn như khả năng tiếp cận và huy động nguồn lực có từ các mối quan hệ, chia sẻ thông tin, kiến thức hay các giá trị chuẩn mực Vốn xã hội của mỗi cá nhân được tích lũy trong quá trình xã hội hóa của họ thông qua sự tương tác giữa cá các cá nhân
+ Nguồn vốn tài chính: Tài chính là yếu tố, là nguồn lực quan trọng đối với
bất kỳ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào Các hoạt động sinh kế của người dân nông thôn cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng của các nhân tố vốn sản xuất (tài chính) Trước đây vốn của các hộ sản xuất thường là vốn tự có của từng gia đình hoặc vay mượn của bà con họ hàng, láng giềng nên quy mô sản xuất không được
mở rộng Ngày nay, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, nhu cầu về vốn đã khác trước, đòi hỏi các hộ sản xuất phải có lượng vốn nhiều hơn
để đầu tư, cải tiến công nghệ, đưa thiết bị máy móc tiên tiến vào một số khâu, công đoạn, công việc này có thể thay thế kỹ thuật lao động thủ công được, nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân [7]
* Phương pháp tiếp cận giảm nghèo theo các nguồn vốn sinh kế
Hiện nay, “phương pháp sinh kế” đã được một số cơ quan phát triển áp dụng trong các hoạt động phát triển Như chúng ta thấy ở các phần sau, khó có thể nói là
có một phương pháp thống nhất khi mà các cơ quan áp dụng một cách khác nhau, từ các hoạt động sơ khai như xây dựng các công cụ hay khung phân tích cho việc lập
kế hoạch hoặc đánh giá ban đầu đến một số loại hoạt động cụ thể của chương trình
Trang 20Ba yếu tố dẫn đường giải thích lý do của việc áp dụng “Phương pháp sinh kế bền vững” trong công tác giảm nghèo:
Thứ nhất, thực tế cho thấy tăng trưởng kinh tế là cần thiết cho việc giảm
nghèo nhưng không có một liên hệ trực tiếp giữa hai tác nhân này từ khi nó hoàn toàn phụ thuộc và khả năng của người nghèo tự tìm kiếm các cơ hội để phát triển kinh tế Vì vậy, điều quan trọng là tìm ra chính xác cái gì đã ngăn cản hoặc thách thức người nghèo cải thiện sinh kế của họ trong điều kiện cụ thể để thiết kế các hoạt động hỗ trợ cho dự án
Thứ hai, về nhận biết đói nghèo - như chính cảm nhận của những người
nghèo- không chỉ là vấn đề thu nhập thấp mà còn bao gồm cả các yếu tố như chăm sóc y tế kém, giáo dục kém, thiếu các dịch vụ xã hội, v.v…, như là tình trạng dễ bị tổn thương và cảm giác của sự bất lực Hơn nữa, đói nghèo hiện nay được xem là có
sự liên kết giữa các yếu tố gây ra nghèo đói và cải thiện một yếu tố có thể có tác động tích cực đối với yếu tố khác Cải thiện giáo dục có thể mang lại tác động tích cực cho việc chăm sóc y tế, mà nó có thể tăng khả năng sản xuất Giảm tình trạng
dễ bị tổn thương cho người nghèo bằng cách nêu rõ các rủi ro cho họ có thể gia tăng
xu hướng để rơi vào các hoạt động rủi ro chưa được kiểm chứng trước đó nhưng mà
có hiệu quả kinh tế hơn, và cứ tiếp tục như thế v.v…
Cuối cùng, ngày nay chúng ta nhận ra rằng chính người nghèo thường hiểu
về họ và nhu cầu của họ tốt nhất và vì vậy phải lôi kéo họ tham gia trong việc thiết
kế các chính sách và dự án để cải thiện số phận của họ Khi thiết kế, chúng thường được cam kết nhiều hơn để thực hiện Vì vậy, sự tham gia của người nghèo sẽ cải thiện kết quả của dự án
Có ba điểm cơ bản hầu hết các phương pháp thường có Thứ nhất là phương pháp chú trọng vào sinh kế của người nghèo, mà trong đó giảm nghèo phải là mấu chốt Thứ hai là loại bỏ cách tiếp cận theo bộ phận đầu vào (nông nghiệp, nước sạch, hay y tế) và thay vào đó là bắt đầu bằng việc phân tích các sinh kế hiện tại để xác định các tác động phù hợp Điểm cuối cùng là chú trọng sự tham gia của người nghèo trong việc xác định các hoạt động phù hợp để triển khai (Lasse, 2001)
Bên cạnh đó, sự tác động cải thiện nâng cao sinh kết của hộ được bằng các hoạt động nông nghiệp cho thấy rằng nông nghiệp chính là hoạt động sinh kế chính
Trang 21của người dân nông thôn Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, có đến 86% dân số nông thôn sống phụ thuộc vào nông nghiệp (WB, 2008)
1.1.2.4 Các lí thuyết áp dụng
* Quan điểm phát triển bền vững
Đây là một quan điểm thuộc xã hội hiện đại khi quan niệm về phát triển không đơn thuần chỉ là sự tăng trưởng về mặt kinh tế Lý thuyết này ra đời sau một thời gian dài, sự phát triển được hiểu thiên lệch là sự tăng trưởng về mặt kinh tế đã gây nên những hậu quả nặng nề: Sự phân hóa giàu nghèo một cách sâu sắc, biến đổi khí hậu, môi trường bị tàn phá nặng nề, sự nóng dần lên của trái đất,… những hậu quả ấy do bởi những hoạt động phát triển của con người
Khái niệm phát triển bền vững xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường những năm 70 của thế kỷ XX và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Phát triển bền vững được hiểu như là: “Sự đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của bản thân họ” (Báo cáo Bruland, 1987) Hoặc là “Sự cải thiện chất lượng cuộc sống của con người trong khuôn khổ phạm vi sức chứa của hệ sinh thái trợ giúp” (chăm lo trái đất),… Phát triển bền vững cũng có thể được hiểu là một sự phát triển lâu dài, phát triển đi đôi với việc làm phong phú các nguồn vốn sinh kế để từ đó dẫn đến các tác động tích cực tới đời sống của con người Sự phát triển đó làm tăng khả năng chống chọi với những cú sốc, tổn thương do con người và tự nhiên gây ra
Nói tóm lại quan niệm về sinh kế bền vững đều hướng đến một thế đứng kiềng 3 chân: “Kinh tế - môi trường - xã hội” Đây cũng được xem là mục tiêu
mà con người hướng tới trong tương lai khi tác động ngược của các quan điểm phát triển sai lệch trước đây đã và đang ngày càng ảnh hưởng tiêu cực đến con người Lý thuyết này được áp dụng trong đề tài để phân tích hoạt động sinh kế của người dân và xây dựng một mô hình phát triển tiến bộ hơn so với mô hình sinh kế hiện tại - mô hình sinh kế bấp bênh và thiếu tính bền vững
1.1.3 Khái quát về kinh tế xanh
Theo UNEP, Kinh tế Xanh là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người
và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm đáng kể những rủi ro môi trường
Trang 22và những thiếu hụt sinh thái Nói một cách đơn giản, nền Kinh tế Xanh có mức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hướng tới công bằng xã hội Trong nền Kinh tế Xanh, sự tăng trưởng kinh tế phải gắn với giảm phát thải carbon, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái Kinh tế Xanh phải là nền kinh tế với con người là trung tâm, trong đó các chính sách tạo ra các nguồn lực mới về tăng trưởng kinh tế bền vững và bình đẳng Thúc đẩy nền Kinh tế Xanh và cải tổ quản lý môi trường là hai nhân tố căn bản đảm bảo tiến trình phát triển bền vững của mỗi nước nói riêng và trên phạm vi toàn cầu nói chung [15]
* Các chỉ số đo lường kinh tế xanh
Một loạt các chỉ số có thể giúp đo lường các quá trình chuyển đổi hướng tới một nền Kinh tế Xanh UNEP phối hợp với các đối tác như OECD và WB phát triển một bộ các chỉ tiêu mà từ đó các chính phủ có thể lựa chọn các chỉ tiêu phù hợp tùy thuộc vào tình hình của từng quốc gia Các chỉ số đang được phát triển này có thể được tạm chia thành ba nhóm sau đây:
1) Các chỉ số kinh tế: chỉ số về tỉ lệ đầu tư, tỉ lệ sản lượng và việc làm trong các lĩnh vực đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững, chẳng hạn như GDP xanh;
2) Các chỉ số môi trường: chỉ số sử dụng hiệu quả tài nguyên, về ô nhiễm
ở mức độ ngành hoặc toàn nền kinh tế (như hệ số sử dụng năng lượng/GDP, hoặc
hệ số sử dụng nước/GDP);
3) Các chỉ số tổng hợp về tiến bộ và phúc lợi xã hội: chỉ số tổng hợp về kinh tế vĩ mô, bao gồm ngân sách quốc gia về kinh tế và môi trường, hoặc những chỉ số đem lại cái nhìn toàn diện hơn về phúc lợi, ngoài định nghĩa hẹp của GDP trên đầu người [15]
1.2 Cơ sở thực tiễn của luận văn
1.2.1 Thực trạng nghèo trên thế giới và khu vực hiện nay
Đầu năm 2011 Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) ước tính, trên thế giới
có khoảng một tỷ người lâm vào tình trạng thiếu lương thực Đến cuối tháng 10 năm 2011, dân số thế giới đạt 7 tỷ người Điều đó có nghĩa, mỗi ngày trên hành tinh
Trang 23cứ 7 người sẽ có 1 người bị đói, nghèo mặc dù thế giới sản xuất đủ lương thực cho tất cả mọi người [2]
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đối diện với những căng thẳng và nguy cơ tụt giảm ngày càng lớn, khủng hoảng việc làm, giá lương thực tăng cao, bất công xã hội, biến đổi khí hậu, khiến cho số người lâm vào cảnh cùng cực gia tăng
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói đã được chỉ ra, trong đó phải kể đến cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đến nay vẫn đeo đuổi nhiều nước, đặc biệt các nước phát triển trong đó có Mỹ Khu vực đồng Euro đang phải đối mặt với khủng hoảng nợ công nên buộc phải áp dụng chính sách thắt lưng buộc bụng làm ảnh hưởng đến an sinh xã hội, trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp, ảnh hưởng không nhỏ đến phần còn lại của thế giới
Nguyên nhân quan trọng nữa phải kể đến là giá lương thực trên thế giới tăng cao Dân số thế giới gia tăng trong khi sản xuất lương thực chỉ đủ cho 7 tỉ miệng ăn
mà chẳng có dư thừa nên bất cứ biến động nào như thiên tai, lũ lụt, hạn hán (mà vùng Sừng châu Phi đang phải đối mặt) khiến sản lượng giảm, đều có thể làm lương thực tăng giá
Nghèo đói tập trung chủ yếu vào hai khu vực đó là Châu Phi và Châu Á : Với khu vực Châu Á có tỷ lệ người nghèo và số người nghèo cao bởi họ phải hứng chịu nhiều những biến động của nền kinh tế thế giới Hiện nay, 900 triệu người châu Á đang phải sống trong tình trạng cực kì nghèo đói với mức sống dưới 1,25 đô la Mỹ/ngày 620 người sống dưới mức thu nhập 1USD/ngày Một nửa trong
số này sống ở Trung Quốc và Ấn Độ
Với Châu Phi nghèo là do châu lục này tỷ lệ có thanh niên thất nghiệp cao nhất thế giới Có tới 32 trong số 38 nước nghèo nhất thế giới là thuộc châu Phi Số tiền nợ của châu Phi lên tới 425 tỷ USD Tuổi thọ trung bình ở châu Phi thấp nhất thế giới, 45 tuổi Chỉ có 58% số người dân châu Phi được dùng nước sạch Họ có 7 triệu người phải sống trong các trại tị nạn, 20 triệu người sống trong cảnh vô gia cư Ngoài ra hạn hán, mù chữ, thiếu nước sạch xảy ra thường xuyên trong những năm qua đã đẩy châu lục này vào tình trạng đói nghèo trầm trọng [7]
Trang 24Với Châu Âu theo bao cáo của Eurostat thì "Trong năm 2010, 115 triệu người, hay 23,4% dân số, trong EU27 có nguy cơ nghèo đói hoặc loại trừ xã hội Điều này có nghĩa rằng họ đã rơi vào ít nhất một trong ba hoàn cảnh sau: có nguy
cơ đói nghèo, bị tước đoạt vật chất hoặc sống trong các hộ gia đình với cường độ làm việc rất thấp Việc giảm số lượng người có nguy cơ nghèo đói hoặc loại trừ xã hội ở EU là một trong những mục tiêu chính của chiến lược 2020 Châu Âu
Cơ quan thống kê của Liên minh châu Âu cho biết: Trong năm 2010, số người đang có nguy cơ nghèo đói hoặc loại trừ xã hội được ghi nhận cao nhất ở Bulgaria (42%), Rumani (41%), Latvia (38%), Lithuania (33%) và Hungary (30%),
và thấp nhất ở Cộng hòa Séc (14%), Thụy Điển và Hà Lan (cả hai đều 15%), Áo, Phần Lan và Luxembourg (tất cả 17%)
Năm 2011 vẫn chưa có số liệu thống kê, nhưng theo dự báo của một số chuyên gia kinh tế, tình trạng khủng hoảng nợ công, thiếu việc làm tại nhiều nước trong Liên minh châu Âu sẽ tiếp tục đẩy số lượng người nghèo tăng cao hơn nữa Con số người nghèo được dự báo sẽ tăng lên xóa đói giảm nghèo đến 140 triệu
người [8]
1.2.2 Thực trạng nghèo tại Việt Nam
Ngày 28/03/2012, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Quyết định số 375/QĐ-LĐTBXH phê duyệt kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2011
Theo kết quả điều tra năm 2011, số hộ nghèo trên cả nước xấp xỉ 2,6 triệu
hộ, chiếm tỷ lệ 11,76%; số hộ cận nghèo là hơn 1,5 triệu hộ, chiếm tỷ lệ 6,98% So với kết quả điều tra hộ nghèo và hộ cận nghèo năm 2010, cả nước đã giảm được hơn 450.000 hộ nghèo, tỷ lệ giảm nghèo đạt 2,44%; giảm hơn 80.000 số hộ cận nghèo với tỷ lệ giảm là 0,51%
Về phân bố số hộ nghèo theo vùng lãnh thổ trên cả nước, số hộ nghèo ở các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất 33,02%; tiếp theo đến khu vực miền núi Đông Bắc như: Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng có tỷ
lệ hộ nghèo là 21,01%, khu vực Đông Nam Bộ có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất trong cả nước với con số 1,70% [3]
Trang 251.2.3 Tình hình phát triển sinh kế hộ nông dân ở các nước trên thế giới và những bài học kinh nghiệm
Thực tiễn cho thấy, quá trình xây dựng và phát triển sinh kế nông hộ của các nước đã có nhiều kinh nghiệm để chúng ta học tập
* Thái Lan: Là một nước trong khu vực Đông Nam Á của châu Á, chính phủ
Thái Lan đã thực hiện nhiều chính sách để đưa đất nước từ lạc hậu trở thành nước
có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến Một số chính sách có liên quan đến việc phát triển sinh kế vùng núi ban hành (Từ 1950 đến năm 1980)
+ Thứ nhất: Xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn Mạng lưới đường bộ
bổ sung cho mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập
Các vùng ở xa (Bắc, Đông bắc, Nam…), đầu tư xây dựng đập nước ở các vùng + Thứ hai: Chính sách mở rộng diện tích canh tác và đa dạng hóa sản phẩm như cao su ở vùng đồi phía Nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng núi phía Đông Bắc
+ Thứ ba: Đẩy mạnh công nghiệp hóa công nghiệp hóa chế biến nông sản để xuất khẩu như: Ngô, sắn,… sang các thị trường Châu Âu và Nhật Bản
+ Thứ tư: Thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và chính sách thay thế nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ Nhà nước cũng thực hiện chính sách trợ giúp tài chính cho nông dân như: cho nông dân vay tiền với lái suất thấp, ứng trước tiền cho nông dân và cam kết mua sản phẩm với giá trị định trước,… cùng với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy vùng núi Thái Lan phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Hàng năm có khoảng 95% sản lượng cao su, hơn 4 triệu tấn dầu cọ do nông dân sản xuất ra Song trong quá trình thực hiện có bộc lộ một số vấn đề còn tồn tại:
Đó là việc mất cân bằng sinh thái, là hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt đất đai Kinh tế vẫn mất cân đối giữa các vùng, xu hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành thị lâu dài hoặc rời bỏ nông thôn theo thời vụ ngày càng gia tăng
* Trung Quốc: Trong những năm qua phát triển rất mạnh trong lĩnh vực đầu tư
cho nông nghiệp nông thôn Một trong những thành tựu của Trung Quốc trong cải cách mở cửa là phát triển nông nghiệp hương trấn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đó tăng trưởng với tốc độ cao Nguyên nhân của thành tựu đó có nhiều, trong
Trang 26đó điều chỉnh chính sách đầu tư rất quan trọng, tăng vốn đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp để tạo ra tiền đề vật chất cho sự tăng trưởng trước hết là đầu tư xây dựng công trình thủy lợi, mở rộng sản xuất lương thực, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, nghiên cứu ứng dụng cây trồng ,vật nuôi, vào sản xuất nhất là lúa, ngô, bông
* Malaysia: Mục tiêu của Malaysia là xây dựng một nền nông nghiệp hiện
đại, sản xuất hàng hóa có giá trị cao Vì thế chính sách nông nghiệp của Malaysia tập trung chủ yếu vào khuyến nông và tín dụng Bên cạnh đó chính phủ nước này cũng chú trọng tìm kiếm thị trường xuất khẩu nông sản Nhờ đó một vài năm gần đây kinh tế nông hộ của người dân nước này có thu nhập cao và ổn định hơn
1.2.4 Quá trình phát triển sinh kế hộ nông dân ở nước ta qua các thời kỳ
* Trong thời kỳ Pháp thuộc: Ở thời kỳ này đại bộ phận nông dân đi làm thuê
cho địa chủ, một bộ phận rất ít nông dân sản xuất hàng hóa nhỏ theo kiểu cổ truyền với kinh nghiệm và kỹ thuật thô sơ Trong thời kỳ này Chính Phủ đưa ra chính sách giảm tô cho nông dân, vận động gia tăng sản xuất thực hiện tiết kiệm nhờ vậy mà sản lượng quy thóc năm 1954 đạt 3 triệu tấn tăng 13,70% so với năm 1946
* Tờ năm 1955 đến năm 1959: Sau khi niềm bắc hoàn toàn giải phóng, Đảng
và Chính Phủ ta đã thực hiện chính sách cải cách với mục đích „„Người cày có ruộng‟‟ Năm 1957 cải cách ruộng đất cơ bản được hoàn thành cải cách ruộng đất
đã chia 81 vạn hecta ruộng, 74 nghìn con trâu bò cho 2,1 triệu hộ nông dân Kết quả
là nông dân có đất canh tác, trâu bò để sản xuất đời sống kinh tế có phần cải thiện
* Từ 1960 đến 1980: Đây là giai đoạn chúng ta tiến hành cải cách ruộng đất,
thực hiện tập thể hóa một cách ồ ạt, xong đây cũng là tập thể thể hiện rõ tính yếu kém của mình, thời kì này kinh tế nông hộ không được coi trọng Đây là thời kỳ xuống dốc của nền kinh tế nước ta
* Từ 1981 đến 1987: Chỉ thị 100CT/TW được ban bí thư trung ương Đảng
ban hành, quyết định chế độ khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, đây là việc làm có ý nghĩa trong việc thực hiện quyền tự chủ trong sản xuất
hộ nông dân đời sống của nhân dân phần nào được cải thiện, nhờ vậy mà sản lượng lương thực tăng lên liên tiếp (mỗi năm tăng gần 1 triệu tấn Năm 1985 đạt 15,875 triệu tấn)
Trang 27* Từ 1988 đến 2003: Ngày 5/5/1988 Bộ Chính Trị và Ban chấp hành Trung
ương Đảng đã ban hành nghị quyết 10 về „„Đổi mới quản lý kinh tế bản trong nông nghiệp và nông thôn‟‟ Thừa nhận kinh tế hộ là đơn vị kinh tế cơ bản trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn đổi mới Hộ gia đình được giao quyền sử dụng đất lâu dài, hộ trở thành đơn vị kinh tế độc lập Hàng loạt những chính sách đổi mới
đó đã tạo được động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Kết quả là sản lượng lương thực từ chỗ dưới 18 triệu tấn năm 1984 - 1987 đã đạt 21,5 triệu tấn vào năm 1989 bình quân giai đoạn 1986 - 1990 sản lượng lương thực tăng 13,50% năm
Từ một nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu lương thực, năm 1989 xuất khẩu được 1,4 triệu tấn gạo, năm 1990 được 1,6 triệu tấn gạo, Đến năm 2003 Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan
* Từ 2009 đến nay: Dự án kết nối sinh kế cộng đồng nông dân nghèo với
thị trường công nghiệp hướng tới thân thiện môi trường còn có tên gọi khác là
“Dự án Lương thực, Thức ăn chăn nuôi, Nhiên liệu và Sợi cho tương lai xanh tươi hơn (4FGF)”, vì vậy có thể gọi tắt là “Dự án 4FGF”, được thực hiện với thời gian hơn 4 năm, từ 14 tháng 1 năm 2009 đến 31 tháng 3 năm 2013, trong đó các hoạt động hiện trường sẽ kết thúc vào 31 tháng 12 năm 2012
Trang 28Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chủ yếu là nhóm hộ nghèo trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên và các hoạt động sinh kế của họ
- Thời gian triển khai thực hiện đề tài: Từ ngày 01/08/2013 - 01/08/2014
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra sơ lược về điều kiện tự nhiên dân sinh kinh tế xã hội tại địa bàn
nghiên cứu
- Điều tra sơ bộ và phân tích thực trạng sinh kế của các hộ nghèo trên địa bàn
- Phân tích những nguyên nhân dẫn tới nghèo đói tại địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất được các giải pháp cải thiện sinh kế phù hợp và thiết thực gắn với phát triển kinh tế xanh giúp các hộ gia đình nghèo tại địa phương thoát nghèo và vươn lên trong cuộc sống
2.3 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập thông tin:
- Thu thập tài liệu thứ cấp: Tài liệu về khung sinh kế bền vững, văn kiện Chương trình, báo cáo đánh giá chương trình Chia Sẻ, báo cáo đánh giá của các tổ chức/nhà khoa học về XĐGN
- Phương pháp chuyên gia: Nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia hay tổ chức các cuộc hội thảo lấy ý kiến rộng rãi của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý
- Phỏng vấn cấu trúc: Hệ thống câu hỏi phỏng vấn được soạn thảo và điều tra thử để kiểm tra mức độ thu thập thông tin có thể và kiểm tra tính chính xác của thông tin thu thập Các câu hỏi in sẵn tập trung vào việc thu thập các tư liệu số liệu
Trang 29phục vụ nghiên cứu thực trạng, đánh giá nhu cầu nâng cao năng lực tiếp cận nguồn vốn sinh kế của người nghèo và những đề nghị của người nghèo về cơ chế, chính sách giúp họ trong việc tiếp cận nguồn lực sinh kế
* Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được vận dụng để mô tả bức tranh tổng quát về tình hình cơ bản các địa bàn nghiên cứu, thực trạng nghèo đói, thực trạng các nguồn lực sinh kế cho giảm nghèo bền vững tại các địa phương Bằng phương pháp này chúng ta có thể mô tả được những nhân tố thuận lợi và cản trở sự tiếp cận các nguồn vốn sinh kế đối với người nghèo
- Phương pháp phân tích so sánh: Từ việc phân tổ thống kê các nhóm hộ theo các tiêu chí phân tổ, chúng ta sẽ so sánh các nhóm hộ với nhau về điều kiện và khả năng tiếp cận nguồn vốn sinh kế Trên cơ sở đó phân tích được mức độ ảnh hưởng, nguyên nhân của hạn chế giữa các vùng, các nhóm hộ So sánh giữa các vùng tiếp cận dễ dàng hay khó khăn đối với từng nguồn lực và khả năng của người dân trong việc tiếp cận, và cuối cùng là so sánh giữa các hộ tham gia dự án Chia Sẻ và các hộ không tham gia dự án Chia Sẻ để có sự đối chứng
- Phương pháp phân tích định tính: Dựa vào nguồn số liệu PRA, phóng vấn sâu, để phân tích định tính các vấn đề liên quan đến nghèo đói, những khó khăn trở ngại, các nhân tố hỗ trợ người dân tiếp cận các nguồn vốn sinh kế để giảm nghèo bền vững
- Phân tích những khó khăn, tồn tại, cơ hội và thách thức (SWOT), biểu
tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau nhưng đều có tỷ lệ hộ nghèo cao
+ Số hộ điều tra là 30 hộ nghèo/1 vùng
+ Chọn hộ điều tra để phản ánh một cách trung thực, chính xác nhất tình hình kinh tế của các hộ nông dân tại huyện Võ Nhai, tôi tiến hành nghiên cứu điều tra 90
hộ trên 3 vùng là:
Trang 30Bảng 1.2 Bảng mẫu điều tra
Võ Nhai
Vùng 1: Xã Nghinh Tường 30 hộ nghèo Vùng 2: Xã Lâu Thượng 30 hộ nghèo Vùng 3: Xã Dân Tiến 30 hộ nghèo
- Đại diện cho vùng 1: là xã Nghinh Tường, đây là xã có địa hình núi cao
dốc, có khí hậu mát về mùa hè, rét về mùa đông Dân cư chủ yếu là Dao, Tày, Thái, Kinh Cơ sở hạ tầng còn thấp kém, giao thông đi lại không thuận tiện, trình độ dân trí còn thấp, đời sống khó khăn về nhiều mặt, nhất là nông dân các dân tộc ít người
- Đại diện vùng 2: Là xã Lâu Thượng, là vùng đồi núi thấp xen lẫn núi đá
vôi, người dân vùng này chủ yếu là người Kinh Việc tổ chức sản xuất nông nghiệp
có nhiều mô hình sản xuất kinh doanh đa dạng, vừa có thể kết hợp trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Các hộ nông dân tập trung sinh sống chủ yếu gần đường giao thông nên một số bộ phận đã tiếp cận được nền kinh tế thị trường Nền sản xuất đang chuyển dần theo hướng sản xuất hàng hóa
- Đại diện cho vùng 3: Là xã Dân Tiến, là vùng có độ cao trung bình, đất đai
phì nhiêu rất thuận tiện cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp Dân cư vùng này chủ yếu là dân tộc Mường, Kinh, Thái
* Câu hỏi nghiên cứu
+ Các hoạt động sinh kế của người dân bao gồm những hoạt động gì?
+ Những nguồn vốn sinh kế mà người dân có được trong hoạt động sinh kế? + Những yếu tố nào tác động đến hoạt động sinh kế của người dân nghèo? + Hiệu quả của các hoạt động sinh kế mang lại cho người dân nghèo?
+ Thu nhập của người dân từ các hoạt động sinh kế như thế nào?
+ Những khó khăn người dân nghèo gặp phải trong hoạt động sinh kế
Trang 31Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thị trấn Đình Cả liên thong quốc lộ 3 và quốc lộ 1B cách Hà Nội khoảng
120 km, cách thành phố Thái Nguyên 38km và cánh thị trấn Đồng Đăng, Lạng Sơn
80 km
Với vị trí địa lý như vậy, nếu sử dụng hết lợi thế trong giao lưu hàng hóa, du lịch, sẽ thúc đẩy nhanh sản xuất và có thể đưa Võ Nhai trở thành một huyện trọng điểm của tỉnh Thái Nguyên
3.1.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng
- Địa hình:
Huyện Võ Nhai nằm ở vị trí tiếp giáp của hai dãy núi cao, dãy Ngân Sơn chạy từ Bắc Kạn theo hướng Đông Bắc - Tây Nam đến Võ Nhai và dãy Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nên địa hình khá phức tạp, đồi núi là chủ yếu, đất ruộng ít
Diện tích vùng núi dốc và núi đá vôi là chủ yếu (chiếm 9%) Những vùng đất bằng phẳng để sản xuất nông nghiệp chiếm tỉ lệ nhỏ, tập trung chủ yếu tại các khe suối, các triền sông và các thung lũng ở vùng núi đá vôi
Khái quát chung thì địa hình của huyện Võ Nhai rất phức tạp và đa dạng, cho phép phát triển một nền nông nghiệp, lâm nghiệp phong phú và đa dạng, song đây cũng là điều kiện bất lợi cho việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thong, thủy lợi và sự lưu thong hàng hóa trong và ngoài huyện
Trang 32- Thổ nhưỡng:
Theo tài liệu của các cơ quan chức năng, trên địa bàn toàn huyện có các nhóm đất như sau: đất dốc tụ, thung lũng đất đỏ vàng, đất mùn vàng Các loại đất đa dạng tạo nên thảm thực vật phong phú và thích hợp với nhiều loại cây, điều này tạo điều kiện phát triển một nền sản xuất nông nghiệp đa dạng trên địa bàn Song bên cạnh những thuận lợi thì cũng đi cùng những khó khăn không nhỏ đó là đất đai manh mún gây khó khăn cho việc áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất, chi phí sản xuất cao, năng lực cạnh tranh thấp
3.1.1.3 Khí hậu
- Khí hậu của huyện Võ Nhai mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi
Bắc Bộ, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô
+ Nhiệt độ: Võ Nhai nằm trong vùng lạnh của tỉnh Thái Nguyên, phía Đông Bắc thuộc vùng lạnh nhất của tỉnh, phía tây nam ở mức trung bình Nhiệt độ trung bình năm là 22,4 o C, các tháng 6, 7, 8 là các tháng nóng nhất trong năm, nhiệt độ trung bình là 28,7 o C Lạnh nhất là tháng 1 nhiệt độ trung bình là 12,6 o C Biên độ ngày và đêm trung bình năm là 8 o
C, tháng có biên độ lớn nhất là tháng 10, biên độ
là 8,7 o C Với chế độ nhiệt như trên rất thích hợp để phát triển các cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới, đặc biệt là các lợi cây ăn quả như: hồng, na, táo, cam, quýt, vải, nhãn,… cây nông nghiệp ngắn ngày
Do địa hình nằm gọn giữa hai dãy núi cao, dãy núi đá vôi cao phía Bắc và dãy núi Sa phiến thạch ở phía Nam tạo nên khí hậu ẩm ướt, ít mưa, ít chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc vì vậy thích hợp trồng các loại cây ăn quả
Nhiệt độ xuống thấp vào mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 02 năm sau) là điều kiện cho việc phân hóa của cây vải, nhãn, nhưng bên cạnh đó cũng là hạn chế cho
sự phát triển của một số cây trồng khác
+ Chế độ mưa: vẫn mang đặc trưng của vùng núi Bắc Bộ, mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 Lượng mưa bình quân là 1941,5 mm/năm, thấp hơn so với các vùng khác của tỉnh Thái Nguyên (2050 - 2500 mm)
và phân phối không đồng đều Tháng 8 là tháng có lượng mưa lớn nhất, tới 373 mm
và thường gây ra xói mòn đất, lũ lụt gây ảnh hưởng tới cây trồng, độ phì của đất và
Trang 33các công trình thủy lợi, đặc biệt các vùng 3 và vùng 1 có địa hình phức tạp, độ dốc cao, bị chia cắt nhiều
Các tháng mùa khô có lượng mưa không đáng kể, trong khi đó lượng bốc hơi nước lại rất lớn gây ra tình trạng khô hạn nghiêm trọng cho cây trồng nhất là đối với cây hàng năm Trong tháng 12 và tháng 1 thường có các đợt rét đậm kéo dài, là điều kiện thích hợp cho các loại cây ăn quả như vải, nhãn, na,… ngoài ra có thể tận dụng các bãi đồi dưới tán rừng, vườn cây làm nơi chăn thả trâu, bò
+ Chế độ bốc hơi: Lượng bốc hơi nước hàng năm khoảng 985 mm, lượng bốc hơi lớn nhất vào tháng 5, lên tới 100 mm, các tháng mùa khô có lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nhiều, chỉ số ẩm ướt nhỏ hơn 0,5 dẫn tới tình trạng khô hạn gay gắt, nếu không có biện pháp tưới nước, giữ ẩm thì sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến chế
độ sinh trưởng và năng suất cây trồng
+ Chế độ ẩm: Độ ẩm bình quân của không khí dao động từ 81 - 87% Trong các tháng mùa khô nhất là trong các tháng cuối năm độ ẩm thấp gây khó khăn cho việc phát triển cây vụ đông muộn nhưng cũng tạo điều kiện cho thu hoạch và bảo quản nông sản trong thời kỳ này
3.1.1.4 Nguồn nước, thủy văn
Võ nhai là huyện miền núi, có địa hình bị chia cắt nhiều bởi các dãy núi đá
và núi đất nên nguồn nước khá phong phú nhưng phân bố không đều Ngoài nguồn nước từ các dãy sông, suối còn có các nguồn nước ngầm từ các hang, động trong núi đá vôi, hiện đã và đang sử dụng vào sản suất và sinh hoạt
Trong huyện có hai hệ thống sông nhánh trực thuộc hệ thống sông Cầu và sông Thương, được phân bố ở hai vùng phía Bắc và phía Nam huyện
- Hệ thống sông Nghinh Tường: Phân bố ở phía Bắc huyện, là nhánh của sông cầu bắt nguồn từ dãy núi của vòng cung Bắc Sơn (Lạng Sơn) chảy qua các xã: Nghinh Tường, Sàng Mộc, Thượng Nung, Thần Xa và đổ về sông Cầu
- Hệ thống sông Rong: Phân bố ở phía Nam của huyện, là nhánh của sông Thương, bắt nguồn từ xã Phú Thượng chảy qua thị trấn Đình Cả, Tràng Xá, Dân Tiến, Đình Long, và chảy tới tỉnh Bắc Giang
Trang 34Trong những năm gần đây do nạn chặt phá rừng bất hợp pháp đã làm giảm nguồn sinh thủy dẫn đến làm cạn kiệt nguồn nước về mùa khô gây lũ lụt vào mùa mưa, làm phá hủy các công trình giao thong, thủy lợi và phá hoại sản xuất, làm ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân huyện Võ Nhai
3.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
- Tài nguyên đất:
+ Về loại đất: Theo kết quả điều tra cũng như từ tài liệu của địa phương
Toàn huyện có 4 nhóm đất chính: Đất phù xa, đất đen, đất xám bạc mầu, đất đỏ
Về độ dốc tầng dẫy: diện tích của huyện được phân cấp làm 5 mức như sau:
Diện tích đất có tầng dày chiếm 8,7%, tầng dày trung bình chiếm 38,3% và tầng mỏng chiếm tới 53%
- Tài nguyên nước: Huyện có hai hệ thống sông,do đó nguồn nước mặt tương
đối phong ph, song sự phân bố không đồng đều Nguồn nước ngập cũng tương đối phong phú, chất lượng nước nói chung là tốt đảm bảo phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất của đồng bào trong huyện
- Tài nguyên rừng: Võ Nhai là một huyện vùng cao, khí hậu nhiệt đới nên
thực vật ở đây tương đối phong phú và đa dạng, có nhiều gỗ quý Song đến nay trữ lượng còn thấp, hiện nay đang có nhiều chương trình nhằm trồng và bảo vệ rừng Theo số liệu kiểm kê rừng cho thấy đất rừng hiện có của huyện là 34.288,73 ha
- Tài nguyên khoáng sản:
+ Kim loại mầu: chì, kẽm được tìm thấy ở Thần Xa,quy mô, trữ lượng nhỏ không tập trung
+ Vàng tìm thấy ở khu vực Thần Xa, nhưng chỉ là vàng xa khoáng có hàm lượng thấp
+ Mỏ Phốt Pho ở La Hiên trữ lượng được đánh giá khá cao
Trang 35+ Khoáng, vật liệu xây dựng như đá xây dựng, đá sét, cát sỏi… đặc biệt có sét xi măng ở Cúc Đường có trữ lượng lớn và chất lượng tốt
+ Nhóm khoáng sản lớn nhất hải kể đến là đá cacbonat, bao gồm đá vôi xây dựng và đã vôi xi măng, Đôlomít cùng với các mỏ đá khác ở núi Voi La Giang và
La Hiên đã xác định có trữ lượng khoảng 222 triệu tấn
Tuy có nhiều khoáng sản có trữ lượng lớn và phông phúnhưng Võ Nhai khai thác chưa đáng kể, tài nguyên khoáng sản còn nằm ở dạng tiềm năng là chính
- Về truyền thống: Nhân dân các dân tộc Võ Nhai giàu long yêu nước, là một huyện có nhiều dân tộc sinh sống nên nhiều phong tục tập quán của từng dân tộc, nhưng nhìn chung huyện không có phong tục, lễ hội gì nổi bật
Trang 363.1.2 Tình hình sử dụng đất huyện Võ Nhai
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất huyện Võ Nhai Chỉ tiêu
Số lƣợng (ha)
Cơ cấu (%)
Số lƣợng (ha)
Cơ cấu (%)
Số lƣợng (ha)
Cơ cấu (%)
3 Đất tôn giáo tín ngưỡng 12.24 0.01 12.24 0.01 12.24 0.01 100.00 100.00 100.00
4 Đất nghĩa trang nghĩa địa 15.20 0.02 15.20 0.02 15.20 0.02 100.00 100.00 100.00
5 Đất sông suối và mặt nước 2,521.36 2.99 2,521.36 2.99 2,521.36 2.99 100.00 100.00 100.00
6 Đất phi nông nghiệp khác 449.93 0.53 1,329.85 1.58 1,356.57 1.61 295.57 102.01 198.79
Trang 37Huyện Võ Nhai là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, vì thế huyện mang nhiều nét riêng của vùng Địa hình nhiều đồi núi cao, chủ yếu là núi đá vôi nên diện tích đất chưa sử dụng còn nhiều Để thấy rõ hơn tình hình sử dụng đất của huyện qua 3 năm ta nghiên cứu bảng 3.1:
Qua khảo sát tình hình đất đai trên địa bàn huyện cho thấy tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 84,357.8 ha năm 2011 đến năm 2013 diện tích đất tự nhiên không
có gì thay đổi Năm 2011 diện tích đất nông nghiệp của huyện là 6,845.12 ha chiếm 8.21% diện tích đất tự nhiên Năm 2012 diện tích đất nông nghiệp là 6,925 ha chiếm 8.43% diện tích đất tự nhiên, tăng 1.17% so với năm 2011 Đến năm 2013 diện tích đất nông nghiệp là 7,135 ha, chiếm 8.46% diện tích đất tự nhiên, tăng 3.03% so với năm 2012 Diện tích đất nông nghiệp tăng bình quân 3 năm là 2.1%/năm
+ Đất trồng cây hàng năm: Diện tích đất trồng cây hàng năm có sự tăng giảm qua các năm và không ổn định Năm 2011 diện tích là 6,525 ha chiếm 81.58% diện tích đất nông nghiệp Đến năm 2012 diện tích đã giảm xuống còn 6,445 ha chiếm 78.22% diện tích đất nông nghiệp, giảm so với năm 2011 là 0.45% Đến năm 2013 diện tích trồng cây hàng năm là 6,325 ha chiếm 80.25% diện tích đất nông nghiệp, tăng 5.56% so với năm 2012 Diện tích đất trồng cây hàng năm có tốc độ phát triển bình quân qua 3 năm là 2.51%/năm
+ Đất trồng cây lâu năm: Đất trồng cây lâu năm cũng có xu hướng tăng giảm không ổn định Năm 2011 diện tích là 801 ha chiếm 11.69% diện tích đất nông nghiệp Sang năm 2012 diện tích là 1,088.2 ha chiếm 15.3%, tăng 35.86% so với năm 2011 Đến năm 2013 diện tích trồng cây lâu năm giảm xuống chỉ còn 984.7 ha chiếm 13.45% diện tích đất nông nghiệp, giảm so với năm 2012 là 9.51% và tốc độ phát triển bình quân qua 3 năm là 10.88%/năm
+ Diện tích đất mặt nước và đất vườn tạp ổn định trong 3 năm
+ Diện tích đất lâm nghiệp: tăng dần qua các năm nhưng không đáng kể, tốc
độ phát triển bình quân qua 3 năm là 1.12%/năm Trong đó đất rừng tự nhiên không thay đổi, chỉ có đất rừng trồng có sự tăng dần qua 3 năm, cụ thể: năm 2011 diện tích rừng trồng là 4,580 ha chiếm 8.33% diện tích đất lâm nghiệp Đến năm 2013 tăng hơn so với năm 2012 là 4.68%, tốc độ phát triển bình quân là 12.72%/năm
Trang 38+ Đất chuyên dùng: Có xu hướng tăng không đáng kể qua 3 năm Năm 2011
có diện tích là 492 ha chiếm 0.58%, năm 2012 diện tích là 536.2 ha chiếm 0.64% diện tích đất tự nhiên và tăng thêm so với năm 2011 là 8.98% Đến năm 2013 tăng lên 1.45% so vơi năm 2012 Tốc độ phát triển bình quân đạt 5.15%/năm
+ Đất dân cư: tăng không đáng kể, tốc độ phát triển bình quân qua 3 năm là 0.4%/năm
+ Diện tích đất chưa sử dụng, hiện nay huyện Võ Nhai vẫn còn diện tích đất chưa
sử dụng tương đối lớn và việc sử dụng và kế hoạch khai thác nguồn đất chưa sử dụng vẫn còn hạn chế Loại đất chưa sử dụng chủ yếu là đất đồi núi, đất đồi trọc nhưng vẫn có thể khai thác và phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
3.1.3 Tình hình dân số và lao động
Qua bảng 3.2 ta thấy sự biến động dân số trong những năm qua trên địa bàn huyện, ta thấy tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trên địa bàn tăng nhưng không đáng kể và đang có xu hướng giảm dần và ở mức mặt bằng chung của cả nước Cụ thể qua 3 năm tỷ lệ tăng dân số ổn định điều này chứng tỏ vấn đề dân số được chính quyền địa phương rất quan tâm Năm 2011 tổng số nhân khẩu của toàn huyện là 61,626 người, trong đó nhân khẩu nông nghiệp là 58,217 người chiếm 94.47% tổng số nhân khẩu trên địa bàn huyện, còn lại nhân khẩu phi nông nghiệp chỉ chiếm 5.53% trong tổng số nhân khẩu trên địa bàn huyện Năm 2012 tổng số nhân khẩu toàn huyện tăng lên 62.612 người, trong đó nhân khẩu nông nghiệp là 59,152 người chiếm 94.52% nhân khẩu toàn huyện Đến năm 2013 tổng nhân khẩu của huyện là 62,744 người, trong đó nhân khẩu nông nghiệp là 59,302 người chiếm 94.51% tổng nhân khẩu toàn huyện Tốc độ tăng dân số bình quân trên địa bàn huyện trong 3 năm là 0.9%/năm
Trang 39Bảng 3.2 Tình hình lao động và sử dụng lao động của huyện Võ Nhai giai đoạn 2011 - 2013
Chỉ tiêu Đơn vị tính
2011 2012 2013 So sánh
Số lƣợng
Cơ cấu (%)
Số lƣợng
Cơ cấu (%)
Số lƣợng
Cơ cấu (%)
I Tổng số nhân khẩu Người 61626 100 62612 100 62744 100 101.60 100.21 100.91
1 Nhân khẩu NN Người 58217 94.47 59182 94.52 59302 94.51 101.66 100.20 100.93
2 Nhân khẩu phi NN Người 3409 5.53 3430 5.48 3442 5.49 100.62 100.35 100.48
II Tổng số hộ Hộ 15152 24.59 15284 24.41 15259 24.32 100.87 99.84 100.35
1 Hộ NN Hộ 13644 22.14 13743 21.95 13714 21.86 100.73 99.79 100.26
2 Hộ phi NN Hộ 1508 2.45 1541 2.46 1545 2.46 102.19 100.26 101.22
III Tổng lao động Lao động 31317 50.82 32018 51.14 32843 52.34 102.24 102.58 102.41
1 Lao động trong tuổi Lao động 16467 26.72 16487 26.33 16521 26.33 100.12 100.21 100.16
2 Lao động ngoài tuổi Lao động 14850 24.10 15531 24.81 16322 26.01 104.59 105.09 104.84
IV Phân bổ lao động
Trang 40Tổng số hộ: Năm 2011 tổng số hộ của huyện là 15,152 hộ, đến năm 2012 tăng lên 12,284 hộ Tốc độ gia tăng trong 3 năm là 0.35%/năm Trong đó hộ nông nghiệp năm 2011 là 13,644 hộ Đến năm 2013 là 13,714 hộ, tốc độ phát triển bình quân qua 3 năm là 0.26%/năm
Tổng số lao động: Huyện Võ Nhai là một huyện thuần nông nên lao động chủ yếu tập trung vào nông nghiệp, cụ thể là năm 2011 tổng số lao động toàn huyện
là 31,317 người, trong đó lao động trong nông nghiệp là 8,756 người chiếm 91.82% Lao động phi nông nghiệp có 2,561 người chiếm 8.18% tổng số lao động Đến năm 2012 tổng số lao động là 32,018 người trong đó có 29,478 lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 92.1% tổng số lao động Năm 2004 tổng số lao động của huyện là 32,843 lao động trong đó lao động nông nghiệp là 30,256 lao động chiếm 92.12% tổng số lao động Tốc độ phát triển bình quân của lực lượng lao động trong 3 năm là 2.41%/năm
Ta thấy tổng nhân khẩu của Võ Nhai là 62,744 người năm 2013 và có xu hướng tăng, đây cũng là xu hướng chung của cả nước Tốc độ tăng dân số của địa phương bình quân qua ba năm là 0.91%/năm, không cao so với mặt bằng chung của nước ta, qua đây là thấy đây là vấn đề không đáng lo ngại khi nước ta đang phải cố gắng trong công cuộc ngăn chặn sự bùng nổ dân số Vấn đề của huyện là tỷ lệ nhân khẩu nông nghiệp tức là sinh sống ở trong khu vực nông thôn hoặc liên quan đến nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ rất cao gần 95% và vẫn tăng trong khi đó nhân khẩu phi nông nghiệp chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ Đây là thực tế đối với huyện vùng núi như Võ Nhai
Qua bảng số liệu trên nếu địa phương muốn chuyển dịch cơ cấu và theo kịp đà phát triển của đất nước thì dào tạo nguồn nhân lực là vấn đề cấp bách Chuyển dịch cơ cấu nhưng phải gắn với lợi thế của vùng đó là nông nghiệp hay nói cách khác cần có nhiều biện pháp tác động để vừa cải thiện sinh kế nhưng phải gắn liền với một nền kinh
tế xanh Theo tôi vấn đề cần phải làm nhất là đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ dân trí và xây dựng nhiều cổng thông tin tuyên truyền xuống người dân để người dân chủ động vươn lên và có cái nhìn đa chiều và toàn diện hơn Số hộ nông nghiệp so với
số hộ phi nông nghiệp cũng đang áp đảo tuyệt đối Do 90% người dân sống ở vùng nông thôn Huyện có thị trấn Đình Cả là trung tâm chính của huyện