Giải thích về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại với Trung Quốc của ĐCS Việt Nam sau Đại hội VI, tác giả Quách Minh cho rằng: “thành tựu của Trung Quốc trong những năm cải cách, mở c
Trang 1MỤC LỤC
Mục lục
Bảng quy ước các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
6 Những đóng góp mới của luận án
7 Cấu trúc của luận án
Chương 1: Quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ 1986 đến 1991
1.1 Khái quát về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ 1945 đến 1986
1.1.1 Quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Trung Quốc từ 1945 đến 1949
1.1.2 Quan hệ Việt – Trung trong giai đoạn từ 1950 đến 1975
1.1.3 Quan hệ Việt - Trung trong giai đoạn từ 1975 đến 1986
1.2 Quá trình khôi phục đàm phán và bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc (từ 1986 đến 1991)
Tiểu kết chương 1
Chương 2: Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc phục hồi và bước đầu phát triển trong giai đoạn từ 1991 đến 2000
2.1 Bối cảnh của quan hệ Việt - Trung trong giai đoạn từ 1991 đến 2000
2.2 Quan hệ chính trị, ngoại giao, quốc phòng, an ninh
2.2.1 Hoạt động ngoại giao của lãnh đạo cấp cao hai nước
1
4
5
6
6
7
15
15
16
17
18
19
19
19
21
28
43
57
59
59
61
61
Trang
Trang 22.2.2 Hợp tác giữa hai Đảng, các đoàn thể, các ngành ngoại giao và
quốc phòng, an ninh
2.3 Hợp tác trên lĩnh vực kinh tế
2.3.1 Quan hệ thương mại
2.3.2 Hợp tác đầu tư và du lịch
2.4 Quan hệ giao lưu văn hoá, khoa học và giáo dục
2.4.1 Hợp tác, giao lưu văn hóa
2.4.2 Hợp tác trong lĩnh vực khoa học và giáo dục
2.5 Quá trình giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa hai nước
2.5.1 Giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông
2.5.2 Giải quyết vấn đề biên giới trên bộ và phân định Vịnh Bắc Bộ
Tiểu kết chương 2
Chương 3: Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc phát triển trong những năm đầu thế kỉ XXI (2001 – 2006)
3.1 Bối cảnh của quan hệ Việt – Trung đầu thế kỉ XXI
3.2 Quan hệ chính trị, ngoại giao, quốc phòng, an ninh
3.2.1 Các hoạt động ngoại giao của lãnh đạo cấp cao hai nước
3.2.2 Hợp tác giữa hai Đảng, các đoàn thể, địa phương và các ngành ngoại giao, quốc phòng, an ninh
3.3 Hợp tác trên lĩnh vực kinh tế
3.3.1 Sự phát triển mạnh mẽ trong quan hệ thương mại
3.3.2 Hợp tác đầu tư và du lịch
3.4 Quan hệ giao lưu văn hóa, khoa học và giáo dục
3.4.1 Hợp tác, giao lưu văn hóa
3.4.2 Hợp tác trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật và giáo dục
3.5 Quá trình giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa hai nước
3.5.1 Quá trình giải quyết vấn đề tranh chấp trên biển Đông
3.5.2 Phân giới cắm mốc biên giới trên bộ và phân định Vịnh Bắc Bộ
Tiểu kết chương 3
66
69
70
76
85
85
87
89
90
104
114
116
116
118
118
123
126
126
131
138
138
140
145
145
149
152
Trang 3Chương 4: Một số nhận xét và đánh giá về quan hệ Việt Nam – Trung
Quốc từ 1986 đến 2006
4.1 Những thành tựu, hạn chế của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc và hướng khắc phục
4.1.1 Những thành tựu
4.1.2 Những hạn chế của Việt Nam
4.1.3 Một số đề xuất về giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế
4.2 Vị thế và đặc điểm của quan hệ Việt – Trung từ 1986 đến 2006
4.2.1 Quan hệ Việt – Trung có vị trí quan trọng trong các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam và của khu vực
4.2.2 Quan hệ Việt – Trung là một quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh vì lợi ích của mỗi nước
4.2.3 Quan hệ Việt – Trung phát triển mạnh mẽ, toàn diện và theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi
4.3 Một số bài học lịch sử
4.3.1 Khai thác những bài học của dân tộc trong lịch sử về quan hệ với một nước láng giềng lớn
4.3.2 Nghiên cứu một cách cụ thể và nhạy bén tình hình quốc tế có lợi cho mối quan hệ Việt – Trung, khai thác thế mạnh của Việt Nam trong khu vực và quốc tế để giải quyết những bất lợi trong quan hệ với Trung Quốc
4.3.3 Nắm bắt thời cơ, đẩy mạnh đổi mới và hội nhập để củng cố nội lực, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế nhằm thúc đẩy hợp tác và đấu tranh với Trung Quốc có hiệu quả
4.4 Cơ hội và thách thức của quan hệ Việt Nam – Trung Quốc
4.4.1 Những cơ hội phát triển
4.4.2 Những thách thức
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
153
153
153
156
165
169
169
172
173
175
175
176
177
178
178
181
183
188
209
Trang 4BẢNG QUY ƯỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kim ngạch thương mại Việt – Trung từ 1990 đến 2000 73
Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam từ 1991
Bảng 2.3 Số lượng khách Trung Quốc vào Việt Nam từ 1992
Bảng 3.1 Kim ngạch thương mại Việt – Trung từ 2000 đến 2006 128
Bảng 3.2 Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam từ 2000
Bảng 3.3 Số lượng khách Trung Quốc đến Việt Nam từ 2001
Bảng 4.1 Tỉ lệ thâm hụt thương mại Việt – Trung trong cán cân
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nước Việt Nam “núi liền núi, sông liền sông” và “biển liền biển” với nước láng giềng “khổng lồ” Trung Quốc, đất rộng gấp 29 lần, người đông gấp 15,6 lần Việt Nam(1) Trong lịch sử, Việt Nam đã nhiều lần trở thành nạn nhân của tham vọng bành trướng từ chính quyền Trung Quốc, làm cho quan hệ giữa hai nước lúc hữu hảo, lúc xung đột, thậm chí có lúc tình trạng hữu hảo và xung đột tồn tại đan xen lẫn nhau
Thắng lợi của Cách mạng Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của ĐCS dẫn đến sự
ra đời của nước CHND Trung Hoa (01/10/1949) đã mở ra giai đoạn phát triển hòa bình, hữu nghị của quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ 1949 đến 1975 Xuất phát từ những nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc sau 1975 bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu rạn nứt và đến năm 1979, quan hệ hai nước chính thức rơi vào tình trạng đối đầu căng thẳng
Thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới của Đại hội VI (1986), Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tích cực thực hiện nhiều biện pháp để cùng với chính quyền Trung Quốc đưa quan hệ hai nước trở lại bình thường Cuối cùng đến tháng 11/1991, lãnh đạo hai nước đã tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc
Từ khi bình thường hóa quan hệ đến nay, xu thế hoà bình, hữu nghị và hợp tác
đã trở thành yếu tố chủ đạo trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc Việc tiếp tục duy trì mối quan hệ giữa hai nước đang phát triển theo chiều hướng tốt đẹp nhằm tạo sự ổn định, góp phần đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước Việt Nam Tuy nhiên trong thời gian qua, giữa hai nước vẫn còn tồn tại những bất đồng tranh chấp chưa giải quyết được Mặt khác, Trung Quốc hiện đang phát triển mạnh
mẽ trên tất cả các lĩnh vực, có vai trò ngày càng lớn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực Trong tương lai không xa, Trung Quốc sẽ trở thành một trong những cường quốc kinh tế, khoa học kĩ thuật và quân sự Là một quốc gia láng
(1)
Tính đến ngày 01/7/2006, dân số Việt Nam là: 84.200.000 người, diện tích: 331.200 Km2; dân
số Trung Quốc là: 1.314.500.000 người, diện tích: 9597.000 km2[236, tr 825]
Trang 7giềng của Trung Quốc, Việt Nam đã và đang có được những thuận lợi, nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với những thách thức lớn từ sự phát triển đó
Chính vì vậy, chúng ta cần phải nghiên cứu, tổng kết và đánh giá lại một cách toàn diện mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc kể từ khi Đảng ta thực hiện đường lối đổi mới đến nay (2006), để rút ra những bài học lịch sử, thấy được những thành tựu và hạn chế của Việt Nam, đặc biệt là hiểu rõ hơn về đối tác Trung Quốc, từ đó xác định chính sách phù hợp nhằm tranh thủ những thuận lợi, khắc phục những hạn chế trong quá trình phát triển quan hệ hợp tác và đấu tranh với quốc gia láng giềng khổng lồ này trong tương lai
Việc nghiên cứu đề tài “Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ 1986 đến 2006”
không những có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn phù hợp với những yêu cầu của thực tiễn xây dựng và hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong quan
hệ với Trung Quốc nói riêng và trong công tác đối ngoại nói chung Đó cũng chính
là lí do để chúng tôi chọn đề tài này cho Luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành Lịch
sử Việt Nam cận đại và hiện đại của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ 1986 đến 2006 là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Trong thời gian qua, nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này đã được công bố
Những kết quả nghiên cứu trong nước liên quan đến quan hệ Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn 1986 - 1991 gồm có: “Chủ trương của ĐCS Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc từ năm 1975 đến năm 2001”[85] của Nguyễn Thị Mai Hoa, “Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945 – 1995”[115] của Lưu Văn Lợi,
“ĐCS Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại (1986 – 2000)”[282] của Vũ Quang
Vinh Qua đó, các tác giả đã khôi phục tiến trình đàm phán và đi đến bình thường
hoá quan hệ Việt – Trung từ 1986 đến 1991, đồng thời làm nổi bật lên vấn đề là Việt Nam luôn chủ động thúc đẩy tiến trình đàm phán để nhanh chóng đi đến bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, nhưng ngược lại Trung Quốc luôn tìm lí do để
từ chối và kéo dài quá trình đàm phán, chính vì vậy mãi đến tháng 11/1991, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc mới đi đến bình thường hóa
Về phía các nhà nghiên cứu Trung Quốc, quá trình bình thường hóa quan hệ Việt – Trung được phản ánh qua các công trình như: “Quan hệ Trung – Việt sau bình thường hóa: nhìn lại thời gian qua và triển vọng”[176] của Hồ Tài, “Diễn biến
Trang 8quan hệ Trung – Việt trong 40 năm qua”[255] của Quách Minh Giải thích về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại với Trung Quốc của ĐCS Việt Nam sau Đại hội
VI, tác giả Quách Minh cho rằng: “thành tựu của Trung Quốc trong những năm cải cách, mở cửa hết sức hấp dẫn với Việt Nam; nhiều cán bộ và đông đảo nhân dân Việt Nam có “tâm lí chống lại” đối với chính sách chống Hoa và hậu quả của nó, họ hoài niệm sự viện trợ to lớn và tình hữu nghị của Trung Quốc trước kia đối với Việt Nam hết sức hy vọng sớm khôi phục quan hệ hữu hảo Trung – Việt”[255, tr 213], hay đánh giá về nguyên nhân thúc đẩy bình thường hóa quan hệ Việt – Trung, tác giả Hồ Tài đã kết luận rằng: “việc khôi phục và xây dựng mối quan hệ Trung – Việt láng giềng thân thiện là hợp thời cuộc, thuận lòng dân, chân trời bao la, tiền đồ hấp dẫn…”[176, tr 7], Việt Nam khôi phục và xây dựng quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc là để “tìm kiếm sự ủng hộ của Trung Quốc để tự bảo tồn, làm dịu áp lực từ bên ngoài”[176, tr 3]
Tại sao Trung Quốc lại không muốn nhanh chóng nối lại đàm phán để bình thường hóa quan hệ với Việt Nam và phải chăng Việt Nam “khao khát” được bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, còn Trung Quốc thì không có nhu cầu bình thường hóa quan hệ với Việt Nam như các học giả Trung Quốc đánh giá? Đây là vấn đề cần được tiếp tục lý giải và đánh giá một cách thỏa đáng
Từ khi bình thường hóa (11/1991) đến nay, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc phát triển theo xu hướng hữu hảo, việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai nước giai đoạn từ 1991 đến 2006 vì thế cũng được chú trọng hơn Những kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước được công bố liên quan đến vấn đề này khá nhiều, bao gồm nhiều khía cạnh, góc độ với những lập trường quan điểm khác nhau:
Về quan hệ chính trị, ngoại giao Việt – Trung giai đoạn 1991 – 2006, các nhà nghiên cứu trong nước đã có các công trình như: “Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc: nhìn lại 10 năm và triển vọng”[78] của Hồng Hà, “Chủ trương của ĐCS Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc từ năm 1975 đến năm 2001”[85] của Nguyễn Thị Mai Hoa, “Quan hệ hữu nghị Việt – Trung hướng tới thế kỉ mới”[157] của Nguyễn Huy Quý, “Chính sách đối ngoại rộng mở của Việt Nam và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc”[164] do Đỗ Tiến Sâm và Furuta Motoo chủ biên, Kỉ yếu Hội thảo khoa học “Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc nhìn lại 10 năm và triển vọng”[266],…
Trang 9Các công trình trên đã phản ánh về chủ trương, chính sách của Việt Nam và Trung Quốc trong việc bình thường hóa, phát triển quan hệ giữa hai nước, khái quát diễn tiến của các hoạt động quan hệ chính trị ngoại giao Việt – Trung kể từ sau
1991, qua đó làm nổi bật lên xu thế phát triển hữu nghị, tốt đẹp trong quan hệ chính trị ngoại giao giữa hai nước từ sau bình thường hóa quan hệ đến nay Riêng về vấn
đề hợp tác an ninh quốc phòng và những vấn đề có tính nhạy cảm trong quan hệ hai nước vẫn còn những khoảng trống nhất định
Thông qua hai hội thảo khoa học: “Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc nhìn lại
10 năm và triển vọng” và “Việt Nam – Trung Quốc tăng cường hợp tác cùng nhau phát triển hướng tới tương lai”, một số nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng đã có những công bố liên quan đến vấn đề này Đáng lưu ý là quan điểm trong nghiên cứu
và đánh giá về quan hệ Việt – Trung từ phía các nhà nghiên cứu Trung Quốc có những điểm không giống như các nhà nghiên cứu Việt Nam
Chẳng hạn như khi đề cập đến vấn đề bản chất của mối quan hệ hữu nghị Việt – Trung từ khi bình thường hóa đến nay, có nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã đề cao rằng, những nhân tố quan trọng trong việc tiến tới bình thường hoá và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị, ổn định lâu dài đó là tính tương đồng văn hoá, cùng thể chế chính trị và vị trí địa lí “núi liền núi, sông liền sông, có chung biên giới, lãnh hải” của hai nước[266, tr 117 - 126]; trong khi đó, tác giả Quách Minh (Trung tâm nghiên cứu kinh tế, chính trị Đông Nam Á - Quảng Tây, Trung Quốc) lại viết: “hiện nay nhân tố chủ yếu trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc không phải là hình thái ý thức mà là lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc”[266, tr 45] Qua những quan điểm tiếp cận khác nhau như trên cho thấy, bên cạnh việc nghiên cứu để chứng minh cho sự phát triển tốt đẹp của quan hệ Việt – Trung trong thời gian qua, các nhà nghiên cứu Việt Nam cần phải tổng kết lại thực tiễn quan hệ hợp tác với Trung Quốc từ khi bình thường hóa quan hệ đến nay để đánh giá đúng chiến lược và chính sách thực tế của Trung Quốc trong quan hệ với Việt Nam, từ đó
có những chủ trương, đường lối đối nội, đối ngoại phù hợp để xây dựng và củng cố nội lực, tranh thủ ngoại lực nhằm đảm bảo lợi ích của dân tộc trong quá trình quan
hệ hợp tác với Trung Quốc
Vấn đề giải quyết những tranh chấp biên giới trên bộ và Vịnh Bắc Bộ trong giai đoạn từ 1991 đến 2006 giữa hai nước đã có kết quả tốt đẹp Bài “Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa
Trang 10nước CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa”[185] của Nguyễn Hồng Thao và rải rác trong nhiều bài viết về quan hệ Việt – Trung khác đã khái quát quá trình giải quyết vấn đề biên giới trên bộ, Vịnh Bắc Bộ và đánh giá rằng việc đạt được những thỏa thuận trong việc phân giới cắm mốc biên giới trên bộ năm 1999 và phân định Vịnh Bắc Bộ năm 2000 là thành công lớn trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc Tuy nhiên, những tranh chấp về chủ quyền trên biển Đông vẫn còn chưa đến hồi kết, là mối đe dọa đối với chủ quyền của Việt Nam, gây bất ổn cho an ninh khu vực, ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc Chính vì vậy, những tranh chấp trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở biển Đông là vấn đề được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nhiều nhất: Những công trình nghiên cứu trong nước phần lớn đều tập trung đưa ra những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lí để chứng minh, khẳng định chủ quyền tuyệt đối của Việt Nam và đồng thời bác bỏ những tuyên bố chủ quyền thiếu cơ sở của Trung Quốc trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam Tiêu biểu có thể kể đến là các công trình: “Bạch thư về Hoàng Sa và Trường Sa – Tuyên cáo ngày 14/2/1974 của Việt Nam Cộng Hòa”[9] của chính quyền Sài Gòn, “Tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế”[103] của Hoàng Trọng Lập,
“Cuộc tranh chấp Việt – Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”[113] của Lưu Văn Lợi, “Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa”[137] của Nguyễn Nhã, “Hoàng Sa – Trường Sa: Lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế”[183] của Nguyễn Q Thắng,…
Bên cạnh ưu điểm là công bố những cứ liệu lịch sử có giá trị khoa học chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, một số tác giả Việt Nam đã bộc lộ những hạn chế trong công tác sử liệu, chẳng hạn như: Sách trắng của chính quyền Sài Gòn năm 1974 xác định khoảng cách từ Đà Nẵng đến Hoàng Sa là 200 hải lí, trong khi đó Sách trắng của BNG Việt Nam xuất bản năm 1979 lại xác định khoảng cách này là 120 hải lí; hay khi đưa ra những bằng chứng lịch sử về chủ quyền của Việt Nam, Nguyễn Q Thắng đã trích dẫn tư liệu của một giáo sĩ phương Tây xác định rằng: “…những bãi ngầm của Hoàng Sa (Paracel), chỉ cách xa bờ biển Nam hà khoảng 15 hay 20 dặm (1 dặm = 1,609344
km - TG)”[183, tr 151],… Do không làm tốt công tác phê phán tư liệu, nên những
sử liệu thiếu chính xác và mâu thuẫn nhau như trên đã trở nên phản tác dụng
Trang 11Phía Trung Quốc cũng công bố rất nhiều công trìnhđể cố chứng minh rằng Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) là của mình Tiêu biểu như: “Nguyên tắc quyền sở hữu có tính lịch sử và chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Nam Sa”[95] của Cao Jianliao, “Việt Nam với quần đảo Tây Sa và Nam Sa của Trung Quốc”[124] của Quách Minh, “Trung Quốc – biển Nam Trung Hoa và các yếu tố lịch sử”[286] của John Zeng,… Tuy những bằng chứng lịch sử của Trung Quốc đưa ra thiếu sức thuyết phục, thậm chí bịa đặt, gán ghép, nhưng các công trình này đã khai thác một số sai sót trong các tư liệu của Việt Nam để chứng minh rằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những đảo nhỏ ven biển miền Trung Việt Nam chứ không phải là Tây Sa và Nam Sa của Trung Quốc(?), từ đó phủ nhận chủ quyền hợp pháp của Việt Nam, đồng thời ngang nhiên khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo này và đưa ra tuyên bố về một vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn trên biển Đông
Một nhóm công trình nghiên cứu khác về vấn đề Trường Sa và Hoàng Sa cần phải kể đến đó là các học giả phương Tây và người Việt Nam ở nước ngoài với các công trình tiêu biểu như: “Các tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Việt Nam và
sự ổn định khu vực”[1] của Ramses Amer, “Biên giới biển của Trung Quốc: Luật quốc tế - lực lượng quân sự và sự phát triển của quốc gia”[6] của Greg Austin,
“Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong Biển Đông”[41] của Brice M Claget, “Trung Quốc tiến công trên biển Nam Trung Hoa (Biển Đông): Chiến lược và mục tiêu”[84] của Shigeo Hiramatsu, “Chính sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa trong những năm 1990”[107] của Sheng Lijun, “Chiến lược hải quân của Trung Quốc và hàm ý của nó đối với khu vực Biển Đông”[111] của Ngô Vĩnh Long, “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Thử phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc”[205] của Đặng Từ Minh Thu,…
Nếu như các công trình xuất bản ở Việt Nam và Trung Quốc đều tập trung vào việc chứng minh chủ quyền, phủ nhận những bằng chứng lịch sử của nhau, thì nhóm công trình này lại xem xét tất cả các bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lí từ cả hai phía và cho rằng, những bằng chứng lịch sử của Việt Nam đưa ra rõ ràng, có giá trị thuyết phục hơn phía Trung Quốc Nhưng với thực tế tranh chấp như hiện nay, so sánh thực lực của Việt Nam với Trung Quốc và chính sách biển Đông của Trung Quốc trong giai đoạn gần đây, nhiều ý kiến cho rằng việc đấu tranh để bảo vệ toàn
Trang 12vẹn chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở biển Đông là một vấn đề hết sức gian khó, đòi hỏi phải có một nỗ lực tổng hợp trên nhiều lĩnh vực, từ nhiều phía để đấu tranh với Trung Quốc, trong đó không loại trừ việc công khai đề nghị Trung Quốc đưa vấn đề ra tòa án quốc tế và quốc tế hóa vấn
đề này để tuyên truyền, vận động thế giới công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa
Có thể nói, việc tổng kết quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở biển Đông của Việt Nam trong giai đoạn từ 1991 đến nay, nhằm hiểu rõ về chính sách biển Đông của Trung Quốc, từ đó xác định chủ trương đấu tranh thích hợp để bảo vệ, giữ vững chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông trước những chủ trương tranh chấp và sức mạnh quân sự của Trung Quốc hiện tại và trong tương lai là rất cần thiết Đây một vấn đề hết sức nhạy cảm đối với mối quan hệ Việt – Trung hiện nay, nhưng không phải vì vậy mà các nhà nghiên cứu Việt Nam né tránh, trái lại cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc và đầy đủ
để góp phần bảo vệ lợi ích của dân tộc
Các công trình nghiên cứu quan hệ kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học kĩ thuật Việt – Trung từ 1991 đến 2006 tiêu biểu có: “Thương mại Việt Nam – Trung Quốc”[19] của Bộ Công thương, “Quan hệ giao lưu văn hóa Việt – Trung từ 1993 đến 1999”[27] của Nguyễn Văn Căn, “Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc quá trình hình thành và triển vọng”[29] của Hồ Châu, “Buôn bán qua biên giới Việt Trung: Lịch sử – hiện trạng và triển vọng”[82] do Nguyễn Minh Hằng chủ biên, “Nghiên cứu đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam, một số giải pháp tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư này”[92] của Trần Thị Hương, “Tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc tại Việt Nam”[93] của Cù Ngọc Hưởng, “Quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc: thực tiễn và những vấn đề đặt ra”[97] của Doãn Công Khánh, “Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trên lĩnh vực ngoại thương: nhìn lại 10 năm và triển vọng”[127] của Nguyễn Thị Mơ, “Tình hình đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam (11/1991 – 12/1999)”[146] của Vũ Phương, Kỉ yếu Hội thảo khoa học “Quan hệ kinh tế văn hoá Việt Nam – Trung Quốc: Hiện trạng và triển vọng”[254], “Hợp tác và cạnh tranh kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc trong bối cảnh quan hệ kinh tế quốc tế mới hiện nay của Trung Quốc”[258] của Nguyễn Văn Tuấn và Kỉ yếu Hội thảo khoa học “Phát triển hai
Trang 13hành lang một vành đai kinh tế Việt – Trung trong khuôn khổ hợp tác ASEAN – Trung Quốc”[274],…
Điểm nổi bật của các công trình trên là đã thống kê, tổng kết những thành tựu chính trong quan hệ kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học kĩ thuật giữa hai nước
kể từ 1991 đến 2006 Các nhà nghiên cứu đều nhận định rằng, quan hệ kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật và giáo dục giữa hai nước phát triển nhanh chóng kể từ sau bình thường hóa Đặc biệt sang đầu thế kỉ XXI, quan hệ thương mại hai nước phát triển quá nhanh và đẩy Việt Nam vào tình trạng nhập siêu, quan hệ hợp tác đầu tư lại phát triển chậm, hạn chế về mặt công nghệ
Việc phân tích, đánh giá những thành tựu và đặc biệt là những hạn chế của Việt Nam trong quá trình hợp tác và đấu tranh với Trung Quốc thời gian qua trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - giáo dục như: tình trạng thâm hụt thương mại với Trung Quốc đã tác động như thế nào đến Việt Nam, những tác động tiêu cực từ hoạt động đầu tư trực tiếp và đặc biệt là đầu tư ODA của Trung Quốc cho Việt Nam; những thách thức mà hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam phải đối mặt trước sự cạnh tranh mạnh mẽ của các đối tác Trung Quốc, tìm ra những giải pháp hữu hiệu, giúp Việt Nam khai thác hiệu quả những thuận lợi, khắc phục những hạn chế trong quá trình hợp tác với Trung Quốc là một vấn đề cần được nghiên cứu thấu đáo hơn Nghiên cứu, đánh giá về sự phát triển tổng thể của quan hệ Việt – Trung từ
1991 đến 2006 được thể hiện qua công trình biên niên sử “Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc những sự kiện 1991 - 2000”[71] do Trần Văn Độ chủ biên và một số báo cáo khoa học như: “Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc sau 12 năm bình thường hóa”[139] của Trần Xuân Nhiễm, “55 năm quan hệ Việt – Trung: nhìn lại quá khứ
và hướng tới tương lai”[161] của Nguyễn Huy Quý, “Mấy suy nghĩ về quan hệ Việt – Trung nhân kỉ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc”[162] của Đỗ Tiến Sâm, “Cấu trúc của quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 1991
- 2008”[288] của Carlyle A Thayer
Qua các công trình này, “diện mạo tổng thể sự phát triển liên tục theo chiều hướng đi lên thân thiện và tốt đẹp của mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc”[71, tr 12] đã được phác thảo Tuy nhiên, do xu thế hòa bình, hữu nghị chiếm
vị trí chủ đạo trong quan hệ Việt – Trung giai đoạn này, nên các công trình trên thường tập trung phản ánh những mặt tích cực, hữu nghị, phân tích, chứng minh cho
sự phát triển bền vững và ổn định của mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ 1991
Trang 14đến nay, đưa ra những dự báo lạc quan về sự phát triển của quan hệ Việt – Trung, còn những vấn đề được coi là “nhạy cảm” thì vẫn chưa được quan tâm đúng mức Gần đây, công trình “Sự tiến triển trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc (từ
1991 đến 2005)”[182] của Lê Tuấn Thanh cũng đã đề cập đến các giai đoạn phát triển trong quan hệ chính trị, ngoại giao, kinh tế - thương mại, văn hóa giáo dục giữa hai nước từ 1991 đến 2005
Qua nghiên cứu về sự tiến triển trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ 1991 đến 2005, tác giả đã đánh giá rằng: trong quan hệ chính trị ngoại giao, quan hệ chính trị đóng vai trò chủ đạo trong hợp tác song phương, các hình thức tiếp xúc giữa các đoàn đại biểu hai nước hết sức đa dạng, hợp tác giữa hai Đảng ngày càng chặt chẽ[182, tr 76 - 80]; trong quan hệ kinh tế, Trung Quốc viện trợ nhiều cho Việt Nam, nhiều doanh nghiệp Trung Quốc nhận thầu công trình ở Việt Nam[182, tr 98]; trong quan hệ thương mại, đối tượng, phạm vi tham gia trao đổi thương mại ngày càng đa dạng, cơ cấu hàng hóa trao đổi giữa hai nước mang tính bổ sung cho nhau, tốc độ tăng trưởng kim ngạch thương mại tăng liên tục[182, tr 99 - 108]; trong quan hệ đầu tư, chủ yếu là đầu tư của Trung Quốc sang Việt Nam, quy mô dự
án tăng chậm, không có nhiều đột phá, cơ cấu đầu tư chuyển dần sang công nghiệp nặng và khai thác khoáng sản[182, tr 109 - 115]
Và để làm nổi bật “sự tiến triển trong quan hệ Việt – Trung”, công trình này cũng đã nêu ra những “vấn đề còn tồn tại trong quan hệ giữa hai nước cần được tiếp tục thực hiện trong những năm sắp tới”[182, tr 21] bao gồm: vấn đề người Hoa ở Việt Nam, vấn đề biên giới lãnh thổ, vấn đề nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc, hàng kém chất lượng và hàng giả từ Trung Quốc, buôn lậu, bất cập trong thanh toán, công nghệ lạc hậu trong đầu tư, buôn người, tội phạm xuyên biên giới
Qua tìm hiểu tình hình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ 1986 đến 2006, chúng tôi nhận thấy rằng đây là một giai đoạn có nhiều diễn biến phức tạp Mối quan hệ Việt – Trung trong giai đoạn này là khách thể nghiên cứu của nhiều công trình khác nhau, song đối tượng mà các công trình này hướng đến mới chỉ dừng lại ở từng khía cạnh cụ thể như: chính trị - ngoại giao; kinh tế; văn hóa - giáo dục; chủ trương của Đảng trong quan hệ với Trung Quốc hoặc là sự tiến triển của mối quan hệ này dưới góc độ lịch sử thế giới
Đến nay, việc nghiên cứu toàn diện về mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ
1986 đến 2006 dưới góc nhìn của Việt Nam, nhằm làm rõ những thành tựu, hạn chế
Trang 15của Việt Nam trong quá trình hợp tác và đấu tranh với Trung Quốc, từ đó rút ra những đặc điểm, bài học lịch sử, đề xuất những giải pháp để bảo vệ quyền lợi của dân tộc đến nay vẫn là một hướng mới cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tổng hợp nguồn tư liệu một cách có hệ thống, luận án phục dựng đầy đủ và toàn diện bức tranh quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trên tất cả các lĩnh vực, trong giai đoạn từ 1986 đến 2006
Phân tích, đánh giá để làm rõ những bước thăng trầm, đặc điểm của quan hệ Việt – Trung từ 1986 đến 2006, thấy được những lợi ích, hạn chế đối với Việt Nam,
đề xuất hướng khắc phục những bất lợi và rút ra những bài học kinh nghiệm lịch sử nhằm đảm bảo lợi ích của Việt Nam trong quá trình phát triển quan hệ với Trung Quốc thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu như trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa, khái quát hóa toàn bộ nguồn tư liệu, góp phần khôi
phục một cách khách quan, khoa học toàn bộ diễn biến của quan hệ Việt Nam – Trung Quốc qua ba giai đoạn: 1986 – 1991; 1991 – 2000 và 2001 - 2006
Thứ hai, phân tích, đánh giá về bối cảnh khu vực, thế giới và thực trạng của
quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ 1986 đến 2006
Thứ ba, tổng kết thực tiễn, đánh giá thành tựu và hạn chế của Việt Nam và đề
xuất những biện pháp khắc phục; rút ra những đặc điểm, bài học lịch sử nhằm đảm bảo lợi ích của Việt Nam trong quá trình hợp tác và đấu tranh với Trung Quốc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ
1986 đến 2006 trên hai khía cạnh: chủ trương, chính sách đối ngoại và việc triển khai những chủ trương chính sách đó trong thực tiễn quan hệ hợp tác giữa hai nước trên tất cả các lĩnh vực: chính trị - ngoại giao, quốc phòng - an ninh, kinh tế, văn hóa – giáo dục và khoa học kĩ thuật Trong đó, luận án xem xét mối quan hệ này trên quan điểm và lợi ích của Việt Nam
Trang 16Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu của đề tài là Việt Nam và đối tác của Việt Nam là Trung Quốc (không bao gồm các vùng lãnh thổ Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao của Trung Quốc)
Thời gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn từ năm 1986 đến năm 2006: Do đứng dưới góc độ lịch sử Việt Nam, lấy Việt Nam làm chủ thể của mối quan hệ, nên tác giả đã chọn những mốc thời gian quan trọng của tiến trình lịch sử Việt Nam để làm cơ sở cho việc giới hạn thời gian nghiên cứu của đề tài, cụ thể là năm 1986 là năm chính thức khởi đầu công cuộc đổi mới đất nước, năm 2006 là mốc tổng kết 20 năm đổi mới đất nước, trong đó có đường lối đối ngoại
Tuy nhiên, để đảm bảo tính liên tục và hệ thống, luận án còn giới thiệu khái quát về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong giai đoạn từ 1945 đến 1986 và phân tích thêm về bối cảnh khu vực, quốc tế có tác động đến mối quan hệ này
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu được sử dụng và khai thác trong quá trình nghiên cứu đề tài Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ 1986 đến 2006 bao gồm:
Tài liệu gốc:
Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, thông tư, báo cáo tổng kết, sách trắng,… của Đảng và Nhà nước ta về hoạt động đối ngoại nói chung và trong quan hệ với Trung Quốc nói riêng được công bố chính thức hoặc được lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương ĐCS Việt Nam
Các nghị quyết đại hội, báo cáo chính trị, các bài phát biểu của lãnh đạo Đảng
và Chính phủ Trung Quốc do Thông tấn xã Việt Nam xuất bản
Các tuyên bố chung, thông cáo chung, hiệp định, nghị định và văn bản thỏa thuận hợp tác song phương giữa hai nước và các tuyên bố chung, thông cáo chung giữa Trung Quốc và ASEAN; các bài báo cáo, phát biểu của nguyên thủ quốc gia hai nước; số liệu thống kê của Tổng cục thống kê, Bộ thương mại, Tổng cục Du lịch, Bộ kế hoạch đầu tư
Tài liệu tham khảo khác liên quan đến đề tài:
Các bài báo khoa học của các nhà khoa học đăng trên các tạp chí: Nghiên cứu Trung Quốc, Nghiên cứu Quốc tế, Cộng sản, Nghiên cứu Đông Bắc Á, Tài liệu
Trang 17phục vụ nghiên cứu của Viện Thông tin Khoa học xã hội, Tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam,…
Các sách chuyên khảo về Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Trung Quốc, Lịch sử thế giới, Quan hệ quốc tế; các kỉ yếu hội thảo về Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc; các luận án tiến sĩ liên quan đến vấn đề quan hệ Việt Nam – Trung Quốc; các tập tài liệu chuyên đề về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc do Vụ Trung Quốc thuộc Bộ Ngoại giao và Trung tâm lưu trữ thuộc Bộ Quốc phòng xuất bản
Do điều kiện không cho phép, nên tác giả mới chỉ bước đầu khai thác được một số thông tin từ các tài liệu tiếng Anh sưu tầm được trong quá trình nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận án đã sử dụng những phương pháp chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp định lượng Trong đó, tác giả đặc biệt chú trọng đến việc sử dụng phương pháp lịch sử để tái hiện bức tranh sinh động của mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong giai đoạn từ 1986 đến 2006, đồng thời kết hợp sử dụng phương pháp logic để phát hiện ra bản chất và những đặc điểm mang tính quy luật đang ẩn mình trong vô vàn sự kiện phức tạp của quan hệ Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn này
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng một số phương pháp liên ngành như phương pháp nghiên cứu của khoa học quan hệ quốc tế, khoa học kinh tế, chính trị học
6 Những đóng góp mới của luận án
Hệ thống hóa và bổ sung các tư liệu, số liệu mới về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ 1986 đến 2006 trên tất cả các lĩnh vực: chính trị - ngoại giao, quốc phòng –
an ninh, kinh tế, văn hóa – giáo dục
Phân tích quá trình triển khai, vận dụng đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thực tiễn quan hệ, hợp tác và đấu tranh với Trung Quốc qua các giai đoạn:
1986 – 1991, 1991 – 2000 và 2001 – 2006
Trang 18Tổng kết, đánh giá về những kết quả của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, phân tích những thành tựu, hạn chế của Việt Nam trong quá trình hợp tác, đấu tranh với Trung Quốc từ 1986 đến 2006, những cơ hội, thách thức của quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong tương lai Từ đó đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế, rút ra một số bài học lịch sử, nhằm đảm bảo quyền lợi của Việt Nam trong quá trình phát triển quan hệ với Trung Quốc
Luận án là một tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy
và học tập về lịch sử Việt Nam hiện đại, quan hệ quốc tế mà cụ thể là quan hệ Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn từ 1986 đến 2006
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính
của luận án gồm có 4 chương:
Chương 1: Quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ
Trang 19CHƯƠNG 1
QUÁ TRÌNH BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ VIỆT NAM –
TRUNG QUỐC TỪ 1986 ĐẾN 1991
1.1 Khái quát về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ 1945 đến 1986
1.1.1 Quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Trung Quốc trong giai đoạn từ 1945 đến 1949
Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng, “núi liền núi, sông liền sông”, phong tục tập quán và văn hoá có nhiều nét tương đồng, nhân dân hai nước
có truyền thống hữu nghị trong nhiều thời kì lịch sử Cuối thế kỉ XIX, Việt Nam và Trung Quốc đều trở thành nạn nhân của chủ nghĩa thực dân phương Tây Xuất phát
từ hoàn cảnh chung đó, phong trào cách mạng của nhân dân hai nước đã có những mối quan hệ từ rất sớm Trong thời gian hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã gặp
gỡ, tiếp xúc với các lãnh tụ quan trọng của ĐCS Trung Quốc sau này như: Lý Đại Chiêu, Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân, Đặng Tiểu Bình, Triệu Thế Viêm, Tiêu Tam, Thái Hòa Sâm,… và Người đã giới thiệu kết nạp một số nhân vật trong nhóm này vào ĐCS Pháp, “đó là các đồng chí Triệu Thế Viêm, Vương Nhược Phi, Trần Diên Niên, Trần Kiều Niên, Tiêu Tam”[215, tr 18]
Sau khi ĐCS Trung Quốc thành lập (1921), các tổ chức cách mạng của Việt Nam hoạt động ở Trung Quốc đã được ĐCS và nhân dân Trung Quốc hết lòng ủng
hộ, lãnh thổ Trung Quốc trở thành địa bàn hoạt động của các tổ chức cách mạng Việt Nam, trong đó có Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Ngược lại, Nguyễn Ái Quốc và các chiến sĩ cách mạng Việt Nam cũng đã tích cực tham gia phong trào cách mạng và lịch sử đấu tranh gian khổ của ĐCS và nhân dân Trung Quốc(2) Trong chiến tranh thế giới thứ hai, theo đề nghị của Tổng thống Mĩ Ru-dơ-ven, ngày 02/01/1942, Mặt trận Đồng Minh quyết định thành lập Mặt trận Trung Quốc bao gồm: Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan do Tưởng Giới Thạch làm thống soái tối cao Mặt trận Việt Minh đã phối hợp cùng với nhân dân Trung Quốc kháng chiến chống phát xít Nhật dưới ngọn cờ của Đồng Minh
(2)
Nhiều chiến sĩ cách mạng Việt Nam đã tham gia Quảng Châu công xã, gia nhập Hồng quân công nông, tham gia Vạn lí trường chinh, xây dựng cơ sở cách mạng và phát động chiến tranh du kích ở một số vùng nông thôn Trung Quốc [215, tr 19]
Trang 20Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam DCCH ra đời, quan hệ đồng minh giữa Việt Nam với chính quyền Quốc dân đảng trở nên đối lập Dưới danh nghĩa của quân Đồng Minh vào giải giáp quân đội Nhật, tháng 9/1945,
20 vạn quân Tưởng do Lư Hán chỉ huy cùng lực lượng tay sai của chúng là Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) do Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh cầm đầu đã thực hiện kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” nhằm lật đổ chính quyền cách mạng Việt Nam, đưa lực lượng tay sai Việt Quốc, Việt Cách lên nắm chính quyền
Trước hoàn cảnh cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù mạnh hơn ta rất nhiều, Đảng và Chính phủ Việt Nam DCCH đã thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo, khéo léo, chấp nhận nhượng bộ cho quân Tưởng một số quyền lợi kinh
tế, chính trị trong giai đoạn đầu Ngày 06/3/1946, ta đã chấp nhận kí Hiệp định sơ
bộ với Pháp để đuổi 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc cùng các lực lượng tay sai ra khỏi lãnh thổ Việt Nam
Trong các năm 1948 - 1949, mặc dù đang phải kháng chiến chống Pháp, nhưng Đảng và Chính phủ Việt Nam DCCH vẫn sẵn sàng hỗ trợ ĐCS và lực lượng cách mạng Trung Quốc kháng chiến chống lại quân Trung Hoa dân quốc ở các tỉnh Hoa Nam Năm 1948, Trung Quốc đề nghị ĐCS Đông Dương và Chính phủ Việt Nam giúp đỡ phối hợp chống quân Trung Hoa dân quốc ở Tĩnh Tây, quân dân Việt Nam đã giúp bạn trên mọi phương diện: “từ tháng 01/1948 đến cuối năm 1948, mỗi tháng Việt Nam gửi giúp riêng quân dân Biên khu Điền Quế 50 tấn muối, hàng chục tấn gạo và một số lượng đáng kể đạn cối 81 ly, máy ngắm của súng cối 81 ly, đạn AT… là những thứ mà quân giải phóng Trung Quốc lúc đó rất cần và rất ưa thích”[215, tr 45]
Đầu năm 1949, các khu căn cứ của cách mạng Trung Quốc ở sát biên giới Việt – Trung gặp nhiều khó khăn do lực lượng của Trung Hoa dân quốc tăng cường lực lượng cố thủ vùng Hoa Nam Tháng 3/1949, ĐCS Trung Quốc đã cử Sầm Minh Coóng, Chính ủy Bộ tư lệnh biên khu Việt Quế sang gặp Trung ương ĐCS Đông Dương đề nghị bộ đội sang giúp xây dựng củng cố Biên khu Điền Quế và Việt Quế, chuẩn bị thời cơ đón chủ lực quân giải phóng Trung Quốc tiến xuống Hoa Nam Đáp lại đề nghị trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho Bộ Tổng tư lệnh phái ngay lực lượng sang giúp cách mạng Trung Quốc Ngày 23/4/1949, Bộ Tổng
tư lệnh đã ra lệnh “phối hợp với Quân giải phóng Trung Quốc mở rộng khu giải
Trang 21phóng Biên khu Việt Quế”[215, tr 46] và giao nhiệm vụ cho Liên khu I “phối hợp cùng các lực lượng vũ trang Biên khu Việt Quế kịp thời hành động giúp quân giải phóng xây dựng một khu giải phóng ở vùng Ung – Long – Khâm liền với biên giới Đông Bắc của ta”[215, tr 46] Từ đầu tháng 6/1949 đến khi được lệnh rút về nước (cuối tháng 10/1949), bộ đội Việt Nam đã phối hợp với Quân đội giải phóng Trung Quốc thực hiện thắng lợi nhiều trận đánh, chiến dịch, mở rộng và củng cố vững chắc vùng căn cứ Thập vạn Đại Sơn
Như vậy, trước khi nước CHND Trung Hoa ra đời, Chính phủ Việt Nam DCCH đã có quan hệ gắn bó mật thiết với cách mạng và nhân dân Trung Quốc do ĐCS lãnh đạo Đây là tiền đề cho sự phát triển tốt đẹp và ổn định của quan hệ Việt – Trung trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ của nhân dân Việt Nam
1.1.2 Quan hệ Việt – Trung trong giai đoạn từ 1950 đến 1975
Trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp (1950 - 1954)
Ngày 01/10/1949, nước CHND Trung Hoa ra đời, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã đề nghị Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân giúp đỡ nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp Đề nghị của Đảng, Chính phủ Việt Nam được Chính phủ và nhân dân Trung Quốc nhanh chóng đáp ứng Cuối năm 1949, đồng chí La Quý Ba được cử làm đại diện Trung ương ĐCS Trung Quốc bên cạnh Trung ương ĐCS Đông Dương có nhiệm vụ “truyền đạt cho Trung ương Trung Cộng” các đề nghị viện trợ của Việt Nam Ngày 5/01/1950, khi làm việc với đại diện Việt Nam tại Bắc Kinh, đồng chí Lưu Thiếu Kì nói: “cuộc kháng chiến ở Việt Nam do Đảng Việt Nam lãnh đạo rất đúng và rất hay Đảng Trung Quốc hết sức giúp Đảng Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ đó”[215, tr 20]
Ngày 18/01/1950, Trung Quốc ra tuyên bố công nhận và chính thức đặt quan
hệ ngoại giao với Việt Nam DCCH, mở ra một trang mới của lịch sử quan hệ giữa hai nước Việt – Trung nói riêng và ngoại giao của Việt Nam DCCH nói chung Theo thỏa thuận giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với lãnh đạo Trung Quốc và Liên
Xô, trước mắt, Liên Xô trang bị cho Việt Nam một trung đoàn pháo cao xạ 37 ly, một số xe vận tải Mô-lô-tô-va và thuốc quân y, Trung Quốc trang bị vũ khí cho một
số đại đoàn bộ binh và một đơn vị pháo binh, đồng thời đảm nhận vận chuyển hàng viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam, Trung Quốc sẽ cử một đoàn cố vấn quân sự sang giới thiệu những kinh nghiệm chiến đấu của giải phóng quân và đồng ý cho Việt Nam đưa Trường Lục quân sang Vân Nam để đào tạo và bổ túc cán bộ Từ
Trang 22đây, Trung Quốc trở thành cầu nối giữa Việt Nam với các nước XHCN và các lực lượng tiến bộ trên thế giới, đảm nhiệm vai trò chính là nước chủ yếu viện trợ giúp
đỡ Việt Nam kháng chiến
Tổng số viện trợ (súng đạn, lương thực, hàng quân y, quân trang…)
từ tháng 5 năm 1950 đến tháng 6 năm 1954 là 21.517 tấn, trị giá 34 triệu rúp – đô la Trong đó, ngoài ô tô vận tải, pháo cao xạ, hỏa tiễn sáu nòng (Ca-chiu-sa), tiểu liên K50 là của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, còn lại các vũ khí bộ binh, pháo 105 ly, 75 ly và lương thực là do chính phủ và nhân dân Trung Quốc viện trợ Số viện trợ nói trên chiếm khoảng 20% tổng số vật chất bộ đội chủ lực Việt Nam sử dụng trên chiến trường Bắc bộ trong những năm 1950 đến 1954[215, tr 42]
Cùng với những viện trợ về vật chất, Trung Quốc đã cử một đoàn cố vấn quân
sự gồm 79 cán bộ, do Vi Quốc Thanh phụ trách và cử đồng chí Trần Canh đại diện cho ĐCS Trung Quốc cùng đoàn cố vấn quân sự sang giúp Việt Nam mở chiến dịch Biên giới với tinh thần hữu nghị giúp đỡ qua lại lẫn nhau: Chủ tịch Mao Trạch Đông nói: “Hồ Chí Minh và nhiều người Việt Nam đã từng tham gia và giúp đỡ cho cuộc đấu tranh cách mạng của Trung Quốc, có người còn đổ máu hy sinh Bây giờ các đồng chí sang giúp đỡ cuộc đấu tranh chống Pháp của họ là hoàn toàn nên”[215,
tr 22] Trong tổng số 50 chiến dịch lớn nhỏ, đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tham gia bảy chiến dịch (Biên giới, Trung du, Đường 18, Hà – Nam – Ninh, Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ), các đồng chí cố vấn đã đề xuất nhiều ý kiến hay và trực tiếp giúp đỡ một số đơn vị chủ lực Việt Nam trên chiến trường chính Bắc bộ
Sự ủng hộ, giúp đỡ qúy báu của đảng, chính phủ, nhân dân và đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam
Tuy nhiên, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trong quá trình đàm phán tại Hội nghị Giơ-ne-vơ, Trung Quốc lại có những hành động đi ngược lại với lợi ích của nhân dân Việt Nam
Tại Hội nghị Giơ-ne-vơ, phái đoàn đàm phán Việt Nam đã kiên trì đấu tranh cho một giải pháp hoàn chỉnh: “đòi đình chỉ chiến sự trên toàn bán đảo Đông Dương đi đôi với một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, vấn đề Lào và “vấn
đề Căm-pu-chia” trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước”[22, tr 26] Ngược lại, phía Trung Quốc muốn chấm dứt
Trang 23cuộc chiến tranh Đông Dương bằng một giải pháp theo kiểu Triều Tiên(3) là đình chỉ chiến sự mà không có giải pháp chính trị, với hy vọng có thể tạo ra một vùng đệm ở Đông Nam Á ngăn chặn Mĩ vào thay thế Pháp ở Đông Dương, tránh được sự đụng đầu với Mĩ và đảm bảo an ninh biên giới phía Nam của Trung Quốc, đồng thời hạn chế thắng lợi của Việt Nam
Trong quá trình Hội nghị diễn ra, Trung Quốc thúc đẩy Việt Nam nhân nhượng Pháp, Thủ tướng Chu Ân Lai đã có điện văn gửi BCH Trung ương ĐCS Trung Quốc và sao gởi BCH Trung ương Đảng Lao động Việt Nam rằng: “có những điều kiện công bằng và hợp lí để chính phủ Pháp có thể nhận được, để đi đến hiệp định trong vòng 10 ngày, điều kiện đưa ra nên giản đơn, rõ ràng để dễ đi đến hiệp thương, không nên làm phức tạp lôi thôi để tránh thảo luận mất thì giờ, rườm
rà, kéo dài đàm phán để cho Mĩ phá hoại”[22, tr 30-31] Cuối cùng, Việt Nam phải chấp nhận một bản hiệp định mà nội dung của nó không phản ánh so sánh lực lượng trên chiến trường lúc bấy giờ
Về quan hệ kinh tế, ngày 3/5/1951, hai đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc đã có cuộc họp đầu tiên về mậu dịch và công tác giao nhận hàng hóa giữa hai nước Đến tháng 4/1952, mối quan hệ giữa hai nước đã chính thức hóa bằng việc kí kết “Bị vong lục mậu dịch” Tuy nhiên, hoạt động quan hệ kinh tế giữa hai nước diễn ra theo hướng một chiều thông qua hình thức viện trợ của Trung Quốc dành cho Việt Nam là chủ yếu
Tóm lại, trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, tuy có một
số chủ trương đi ngược lại với quyền lợi của dân tộc Việt Nam, nhưng Trung Quốc
đã giúp đỡ, viện trợ to lớn về vật chất và con người cho Việt Nam Sự giúp đỡ này
đã góp phần vào thắng lợi của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp Đây
là những bằng chứng của mối tình hữu nghị, đoàn kết giữa hai Đảng, hai Chính phủ
và nhân dân hai nước Việt - Trung
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 - 1975)
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Việt Nam tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Để đương đầu với kẻ thù mới, Việt Nam rất cần sự ủng hộ và giúp đỡ về mặt quốc tế từ hệ thống XHCN, đặc biệt là Trung Quốc và Liên Xô Chính vì vậy, Đảng và Chính phủ Việt Nam thực hiện chủ trương tiếp tục gìn giữ và
(3)
Ngày 24/8/1954, Thủ tướng Chu Ân Lai đã tuyên bố rằng: “đình chiến ở Triều Tiên có thể dùng làm mẫu mực cho những cuộc xung đột khác”[22, tr 26]
Trang 24phát triển mối quan hệ tốt đẹp đang có với Trung Quốc Chủ trương này đã được Trung Quốc đón nhận và ủng hộ, làm cho mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước tiếp tục phát triển ổn định
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, nhân dân Việt Nam đã nhận được sự giúp
đỡ nhiều mặt từ phía Trung Quốc:
Về chính trị, Trung Quốc đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa của đế quốc Mĩ đối với nhân dân Việt Nam: Ngày 06/8/1964 (một ngày sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ), Chính phủ nước CHND Trung Hoa đã ra tuyên bố lên án hành động xâm lược của Mĩ và khẳng định tình đoàn kết và trách nhiệm cao đối với Việt Nam
Ngày 09/02/1965, Mĩ dùng không quân và pháo hạm đánh phá thị xã Đồng Hới và một số mục tiêu thuộc tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, ngay ngày hôm sau (10/02/1965), hơn 1 triệu nhân dân thủ đô Bắc Kinh cùng với các nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước Trung Quốc (Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kì, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình,…) đã tổ chức một cuộc Mít-tinh tại quảng trường Thiên An Môn để phản đối đế quốc Mĩ và tỏ rõ quyết tâm ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam
Ngày 22/7/1966, Trung Quốc lại tổ chức một cuộc mít-tinh lớn tại Thiên An Môn để ủng hộ Việt Nam Tại đây, Chủ tịch Lưu Thiếu Kì đã tuyên bố:
Chính phủ Trung Quốc nhắc lại rằng, đế quốc Mĩ xâm lược Việt Nam tức là xâm lược Trung Quốc, 700 triệu nhân dân Trung Quốc là hậu phương vững chắc của nhân dân Việt Nam Đất đai rộng lớn của Trung Quốc là hậu phương đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam Nhân dân Trung Quốc đã hạ quyết tâm, đã chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt, sẽ có những hành động bất cứ lúc nào và ở đâu mà nhân dân hai nước Việt – Trung cho là cần thiết để cùng nhau đánh bọn xâm lược Mĩ[215, tr 60] Ngày 24, 25/4/1970, Việt Nam, Lào, Căm-pu-chia tổ chức Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương, ra tuyên bố chung cùng nhau đoàn kết, gắn bó chống kẻ thù chung là đế quốc Mĩ Chính phủ Trung Quốc đã ra tuyên bố khẳng định: “Chính phủ và nhân dân Trung Quốc kiên quyết ủng hộ nhân dân Việt Nam tiến hành đến cùng cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước để thực hiện mục tiêu thiêng liêng là giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất đất nước”[215, tr 61]
Trang 25Về quân sự, theo thỏa thuận giữa Đảng và Chính phủ hai nước, bắt đầu từ cuối năm 1966, một số chi đội phòng không Trung Quốc đã luân phiên nhau sang tham gia chiến đấu chống máy bay Mĩ ở một số khu vực thuộc các tỉnh biên giới giáp với Trung Quốc
Trong lĩnh vực kinh tế - văn hóa – khoa học và giáo dục, Trung Quốc đã viện trợ kinh tế, kĩ thuật, cung cấp các thiết bị, xây dựng các cơ sở sản xuất công nông nghiệp, các cơ sở đào tạo cho Việt Nam Để tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông liên lạc, trao đổi hàng hóa giữa hai nước và các nước XHCN khác, Trung Quốc đã giúp ta xây dựng các cầu đường, nối liền giao thông giữa Việt Nam với Trung Quốc
và phe XHCN, gởi chuyên gia kĩ thuật của Trung Quốc sang giúp Việt Nam trong hầu hết các ngành kinh tế, tiếp nhận cán bộ Việt Nam sang Trung Quốc thực tập, khảo sát kinh nghiệm, kĩ thuật của các ngành kinh tế, văn hóa của Trung Quốc Tuy nhiên bên cạnh những giúp đỡ trên, Trung Quốc cũng đã có những chủ trương và hành động làm ảnh hưởng không tốt đến cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân Việt Nam:
Trong giai đoạn 1954 – 1960, Trung Quốc khuyên Việt Nam phải “trường kì mai phục”, “chờ đợi thời cơ”, không nên đấu tranh vũ trang ở miền Nam, chỉ đấu tranh chính trị, và không nên đưa lực lượng quân miền Bắc vào miền Nam Sách trắng của BNG Việt Nam đã đưa ra nhiều dẫn chứng về việc này: “tháng 7/1955, Đặng Tiểu Bình đã nói với ta rằng: Dùng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền Bắc”[22, tr 39]; tháng 11/1956, Mao Trạch Đông lại khuyên: “tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong thời gian ngắn mà cần phải trường kì… nếu 10 năm chưa được thì phải một trăm năm”[22, tr 39] và tháng 7/1957, Mao Chủ tịch lại khuyên:
“phải giữ biên giới hiện có Phải giữ vĩ tuyến 17 Thời gian có lẽ dài đấy Tôi mong
thời gian dài thì sẽ tốt”[22, tr 40]; đến tháng 5/1960, sau khi Đảng Lao động Việt
Nam thông qua Nghị quyết 15, phía Trung Quốc đã phát biểu quan điểm rằng:
“miền Bắc có thể ủng hộ chính trị cho miền Nam, giúp miền Nam đề ra các chính sách, nhưng chủ yếu là bồi dưỡng tinh thần tự lực cánh sinh cho anh em miền Nam… có thể cung cấp một số vũ trang cho miền Nam mà không ai biết Nhưng nói chung là không giúp”[22, tr 40]
Trang 26Khi nhân dân Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn do Mĩ thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965 - 1968), Trung Quốc đã thực hiện nhiều hành động bất lợi cho cách mạng Việt Nam:
Tháng 4/1965, Trung Quốc bác bỏ đề nghị gửi một sư đoàn máy bay tiêm kích MIC loại mới nhất để bảo vệ bầu trời Việt Nam và lập căn cứ tạm thời trên đất Trung Quốc; từ tháng 6/1965 đến tháng 02/1966, Trung Quốc đã từ chối thực hiện nhiều cam kết ủng hộ Việt Nam như đã thỏa thuận giữa lãnh đạo hai nước(4);
Trong hai cuộc phản công mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967, cách mạng Việt Nam đang rất cần vũ khí, đạn dược, Trung Quốc lại thực hiện rất nghiêm ngặt quy định buộc tất cả các hàng hóa viện trợ cho Việt Nam qua đường Trung Quốc phải trực tiếp làm thủ tục thông quan cho từng chuyến hàng, gây ách tắc một khối lượng vũ khí, đạn dược lớn do các nước XHCN viện trợ cho Việt Nam tại các cửa khẩu biên giới Trung Quốc, gây khó khăn cho Việt Nam;
Theo sách trắng “sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung quốc trong 30 năm qua của Bộ ngoại giao, khi Việt Nam chủ trương mở mặt trận đấu tranh ngoại giao với
Mĩ, Trung Quốc cho rằng: “lúc này Việt Nam chấp nhận đàm phán chưa phải là thời
cơ và trên tư thế cao, ta đã nhân nhượng một cách vội vã”[22, tr 51], và đề nghị phía Việt Nam “nên để cho Mĩ bắn phá trở lại khắp miền Bắc” [22, tr 52] Đến đầu năm 1968, không thể cản Việt Nam mở mặt trận ngoại giao với Mĩ, Trung Quốc đã quay sang ủng hộ Việt Nam, nhưng lại bắt đầu cắt giảm viện trợ quân sự cho Việt Nam và đồng thời đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao với Mĩ
Ngày 21 đến 28/02/1972, Tổng thống Ních-xơn thăm Trung Quốc, hai bên Xô – Mĩ đã ra Thông cáo chung Thượng Hải, qua đó Mĩ cam kết: “trong khi chờ đợi, tùy theo tình hình trong khu vực, Mĩ sẽ dần dần giảm bớt lực lượng và cơ sở quân
sự của Mĩ ở Đài Loan”[22, tr 58], đổi lại, “Trung Quốc phải ép Hà Nội đi vào một giải pháp thỏa hiệp để tạo điều kiện cho Mĩ thực hiện cuộc rút quân khỏi chiến tranh Việt Nam trong danh dự”[215, tr 78]
Sau khi Hiệp định Pa-ri được kí kết (1973), Trung Quốc một mặt tán thành Hiệp định, nhưng mặt khác tiếp tục đẩy mạnh thực hiện những chủ trương và hành động nhằm kéo dài cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam: tiếp tục cắt giảm viện trợ quân sự cho Việt Nam (năm 1973 còn bằng 60% của năm 1972, năm 1974 bằng
(4)
Tháng 6/1965, Trung Quốc không gửi phi công sang Việt Nam và tháng 02/1966, Mao Trạch Đông bác bỏ việc thành lập mặt trận quốc tế thống nhất ủng hộ Việt Nam như đã thỏa thuận
Trang 2734% của năm 1973, năm 1975 bằng 11% so với năm 1974[68, tr 302], quán triệt cho cấp dưới chủ trương “bề ngoài ta đối xử tốt với họ (Việt Nam - TG) như đối xử với đồng chí mình, nhưng trên tinh thần phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta”[21, tr 2], và điều đó đã bắt đầu trở thành hiện thực vào đầu năm 1974 - khi Trung Quốc đưa quân chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam
Phân tích về nguồn gốc của chủ trương này, các nhà nghiên cứu cho rằng, trong bối cảnh cuộc đấu tranh về ý thức hệ giữa hai khối XHCN và TBCN đang diễn ra quyết liệt, là một nước XHCN láng giềng lớn của Việt Nam, Trung Quốc giúp Việt Nam chống Mĩ là điều dễ hiểu, tuy nhiên thông qua sự giúp đỡ này, Trung Quốc còn muốn “nắm vấn đề Việt Nam để tập hợp lực lượng chống lại Liên Xô,… tranh thủ thế giới thứ ba; nắm quyền lãnh đạo cách mạng thế giới, chiếm lĩnh một vị trí mà Trung Quốc cho là xứng đáng trong phong trào cách mạng khu vực”[85, tr 28] và cũng không loại trừ khả năng Trung Quốc lấy việc chống Liên Xô và ủng hộ hoặc không ủng hộ Việt Nam chống Mĩ để xích lại gần Mĩ (trong bối cảnh quan hệ
Xô – Mĩ căng thẳng) và làm điều kiện mặc cả với Mĩ trong quá trình cải thiện quan
hệ với nước này
Trung Quốc không muốn cách mạng miền Nam phát triển trong giai đoạn từ
1954 đến 1960, thực hiện những chính sách nhằm kéo dài tình trạng chiến tranh và hạn chế thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ giai đoạn từ 1961 đến 1975 xuất phát từ ba lí do sau:
Thứ nhất, Trung Quốc lo ngại rằng, nếu Việt Nam phát động đấu tranh vũ
trang ở miền Nam, chiến tranh có thể mở rộng, có khả năng kéo Trung Quốc đụng
độ với Mĩ một lần nữa, trong khi Trung Quốc muốn có hòa bình để phục hồi và xây dựng kinh tế
Thứ hai, Trung Quốc thực hiện chủ trương vừa duy trì một nước Việt Nam bị
chia cắt không đủ mạnh, vừa có miền Bắc Việt Nam xây dựng CNXH làm vùng đệm an ninh cho Trung Quốc
Thứ ba, Trung Quốc lấy việc giúp đỡ Việt Nam để gây sức ép, đẩy Mĩ vào thế
phải thỏa hiệp với Trung Quốc, nhằm làm suy yếu cách mạng Việt Nam Và khi bắt được tín hiệu về khả năng cải thiện quan hệ Trung – Mĩ, Trung Quốc đã nhanh chóng chuyển sang hạn chế giúp Việt Nam để làm điều kiện mặc cả, thúc đẩy quan
hệ với Mĩ và khi có điều kiện, Trung Quốc không ngừng ngại đưa quân “nuốt chửng” quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (1974)
Trang 28Tóm lại, trong giai đoạn từ 1954 đến 1975, Trung Quốc thực hiện chính sách hai mặt đối với Việt Nam: vừa giúp đỡ, ủng hộ, vừa tìm cách hạn chế, gây khó khăn nhằm kéo dài tình trạng chia cắt và chiến tranh của nhân dân Việt Nam để phục vụ cho lợi ích của họ Tuy nhiên, do phải huy động mọi nguồn lực cho cuộc kháng chiến chống Mĩ, nên Việt Nam đã thực hiện chủ trương hòa bình, hữu nghị và tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc, Liên Xô và các nước XHCN khác, làm cho quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong giai đoạn này vẫn phát triển ổn định
1.1.3 Quan hệ Việt - Trung trong giai đoạn từ 1975 đến 1986
Quan hệ Việt – Trung rạn nứt trong những năm 1975 - 1978
Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn tiếp tục chủ trương coi trọng, giữ gìn quan hệ hòa bình, hữu nghị với Trung Quốc, bất chấp những chủ trương và hành động đi ngược lại lợi ích của Việt Nam mà Trung Quốc đã thực hiện trước đó:
Trong diễn văn đọc tại lễ chào mừng chiến thắng (15/5/1975), TBT Lê Duẩn
đã thể hiện “lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em khác”[66, tr 203] đã dành cho Việt Nam sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn
và quý báu trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước;
Trong Báo cáo chính trị tại kì họp thứ nhất, Quốc hội chung của cả nước (25/6/1976), TBT Lê Duẩn một lần nữa khẳng định: “…nhân dịp này, chúng ta bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em khác đã dành cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta sự giúp đỡ to lớn và quý báu,
và hiện đang tiếp tục giúp đỡ ta hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng CNXH”[67, tr 139];
Chủ trương coi trọng mối quan hệ với Trung Quốc còn được thể hiện ở việc Trung Quốc được Đảng ta chọn làm nơi viếng thăm đầu tiên của TBT Lê Duẩn (cuối tháng 9/1975) kể từ sau ngày đất nước thống nhất
Trung Quốc vẫn tiếp tục chủ trương duy trì tình trạng bình thường trong quan
hệ với Việt Nam: Ngày 1/5/1975, Đảng và Chính phủ nước CHND Trung Hoa đã gởi đến Đảng và Chính phủ Việt Nam DCCH bức điện chúc mừng thắng lợi của nhân dân Việt Nam, trong đó các nhà lãnh đạo của Trung Quốc khẳng định “sẽ tiếp tục làm tròn nghĩa vụ quốc tế của mình, kiên quyết ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa nhằm củng cố thành quả thắng lợi, thống nhất và xây dựng tổ quốc của nhân dân Việt Nam”[215, tr 84]
Trang 29Tuy nhiên, thực tế sau đó diễn ra không tốt đẹp như những thông điệp mà Trung Quốc đã gửi đến Việt Nam Trong chuyến thăm đầu tiên của TBT Lê Duẩn ở Trung Quốc, mối thâm tình mà Đảng và Nhà nước Việt Nam dành cho Trung Quốc
đã không được đáp lại một cách xứng đáng Bên cạnh việc tiếp đón nồng nhiệt cùng với những cam kết thực hiện các khoản viện trợ mà Trung Quốc đã hứa cho Việt Nam trước 1975 để xây dựng 111 công trình, Trung Quốc đã có những biểu hiện thiếu hữu nghị đối với phái đoàn Việt Nam Ngày 18/9/1975, Nhân dân nhật báo đã cho đăng 6 bức ảnh lớn về quân đội Trung Quốc ở Hoàng Sa – đúng vào lúc phái đoàn ngoại giao của Việt Nam đang ở thăm Bắc Kinh[85, tr 30] Kết quả là chuyến thăm đã kết thúc sớm hơn so với dự kiến và hai bên không có bất cứ một tuyên bố hay thông cáo ngoại giao nào
Những hành động và thái độ của Trung Quốc đã làm cho quan hệ giữa hai nước từ đó trở nên lạnh nhạt dần Mặc dù chưa có những xung đột lớn xảy ra, nhưng những hành động xâm lấn ở vùng biên giới trên bộ bắt đầu xảy ra, những tranh cãi liên quan đến biên giới lãnh thổ, lãnh hải và vai trò của Liên Xô trong quan hệ quốc tế giữa hai nước bắt đầu nổi lên
Việt Nam bắt đầu có những điều chỉnh và tỏ ra thận trọng hơn trong mối quan
hệ đồng minh với Trung Quốc Tại Hội nghị lần thứ 25 BCH Trung ương Đảng (từ 24/9 đến 24/10/1976), TBT Lê Duẩn đã có bài phát biểu, tuy nội dung của nó dù không nói thẳng ra, nhưng cũng đã ít nhiều bộc lộ được điều đó: “Liên Xô và Trung Quốc giúp đỡ ta nhiều, không có sự giúp đỡ của họ, ta khó lòng thắng được, ta phải luôn biết ơn Liên Xô và các nước anh em khác đã giúp chúng ta, nhưng chúng ta phải độc lập, tự chủ bởi vì trong quan hệ quốc tế, mỗi nước có lập trường riêng do
vị trí và quyền lợi mỗi nước mỗi khác, cho nên giữa các nước trong phe cũng không nhất trí được”[67, tr 333]
Cùng với tình trạng xấu đi trong quan hệ chính trị - ngoại giao, tháng 02/1977, Trung Quốc đã thông báo với Việt Nam rằng sẽ không tiếp tục cung cấp viện trợ cho Việt Nam nữa(5) Và đồng thời cuộc đàm phán cấp Thứ trưởng về biên giới, lãnh thổ và lãnh hải giữa hai nước diễn ra tại Bắc Kinh (từ 10/1977 đến 6/1978)
(5)
Trong năm 1976, Trung Quốc tiếp tục viện trợ cho Việt Nam một số vũ khí phòng thủ và đến đầu năm 1977 cho Việt Nam vay 900.000 tấn lương thực [85, tr 30]
Trang 30cũng không đạt được một thỏa thuận quan trọng nào do phía Trung Quốc đưa ra những đòi hỏi mà Việt Nam khó có thể chấp nhận được(6)
Quan hệ Việt – Trung tiếp tục xuống thấp sau chuyến thăm Trung Quốc vào cuối tháng 11/1977 của TBT Lê Duẩn Chuyến thăm này đã không đủ sức hàn gắn lại những rạn nứt trong quan hệ giữa hai nước trước đó Trung Quốc đã tỏ rõ thái độ không ủng hộ Việt Nam trong việc giải quyết cuộc xung đột biên giới Tây Nam giữa Việt Nam với Căm-pu-chia và ngược lại thái độ ngã về phía Liên Xô của Việt Nam cũng bắt đầu lộ rõ(7)
Bước sang năm 1978, quan hệ Việt – Trung trở nên căng thẳng hơn khi Trung Quốc không những không đáp ứng lời đề nghị giúp đỡ giải quyết cuộc xung đột giữa Việt Nam với Căm-pu-chia của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (01/1978) mà còn
kí với Căm-pu-chia một hiệp định xúc tiến viện trợ quân sự cho nước này, đồng thời tuyên bố sẽ sẵn sàng bảo vệ Căm-pu-chia trước những cuộc tấn công từ bên ngoài
và bắt đầu chuyển vũ khí đến cho lực lượng Khơ-me đỏ
Trong lúc quan hệ Việt – Trung đang tồn tại những bất đồng chưa thể hòa giải được thì những bất đồng, mâu thuẫn mới lại nảy sinh, đẩy quan hệ giữa hai nước lâm vào thế đối đầu, căng thẳng
Tháng 4/1978, Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam Tuy không có chủ ý đánh vào lực lượng Hoa kiều, nhưng do đặc điểm lịch sử là phần lớn tư sản ở miền Nam là Hoa kiều nên họ đã trở thành đối tượng chính của cuộc cải tạo này Trung Quốc coi cuộc cải tạo công thương nghiệp của Việt Nam như một đòn đánh vào cộng đồng người Hoa ở Việt Nam và là một hành động thách thức chính sách bảo vệ Hoa kiều ở hải ngoại mà chính phủ Trung Quốc vừa mới công bố trước đó không lâu(8) Ngay lập tức, chính quyền Trung Quốc đã kêu gọi
(6)
Trong quá trình đàm phán, Việt Nam kiên trì nguyên tắc phải giữ nguyên trạng đường biên giới được hoạch định trong hai công ước Pháp – Thanh năm 1887 và 1895 Phía Trung Quốc cũng nhất trí với điều này, nhưng lại cho rằng cần có sự điều chỉnh để đi đến một đường biên giới mới theo hiện trạng quản lí thực tế, hoặc gắn liền với hiện trạng quản lí thực tế
(7)
Trong chuyến thăm Trung Quốc ngày 21/11/1977, TBT Lê Duẩn đã thể hiện quan điểm không tham gia vào cuộc tranh luận Trung - Xô với Chủ tịch Hoa Quốc Phong một cách gián tiếp qua việc nhấn mạnh rằng: Việt Nam “chân thành cám ơn Liên Xô và các nước XHCN khác về sự nhiệt, giúp
đỡ to lớn đối với Việt Nam”[85, tr 32] và đồng thời ngược lại, Trung Quốc cũng tỏ ra thờ ơ trước lời đề nghị phía Trung Quốc yêu cầu Căm-pu-chia chấp nhận một giải pháp cho tuyến biên giới Tây Nam của TBT Lê Duẩn
(8)
Bắt đầu từ năm 1977, Chính phủ Trung Quốc đã thay đổi chính sách đối với lực lượng người Hoa ở nước ngoài Từ chỗ phân biệt đối xử chuyển sang kêu gọi họ hướng về tổ quốc, góp phần
Trang 31chống lại chính sách “bài Hoa” của Việt Nam và thực hiện các biện pháp kích động, gây ra tâm lí lo sợ trong cộng đồng Hoa kiều, tạo ra làn sóng hồi hương ồ ạt của Hoa kiều ở Việt Nam mà chính phủ Trung Quốc gọi là “nạn kiều”(9)
Ngay sau khi vấn đề “nạn kiều” xảy ra, Trung Quốc đã giảm dần các khoản viện trợ cho Việt Nam và đến ngày 03/7/1978, Chính phủ Trung Quốc chính thức gởi công hàm cho Chính phủ Việt Nam thông báo chấm dứt mọi trợ giúp kinh tế, kĩ thuật và rút hết chuyên gia kĩ thuật về nước, đóng cửa các tổng lãnh sự của Việt Nam trên lãnh thổ Trung Quốc Không chỉ dừng lại ở đó, Trung Quốc còn yêu cầu Việt Nam phải nhanh chóng thu xếp hoàn trả số “ngoại tệ mạnh” được quy đổi từ những hàng hóa quân sự mà Trung Quốc đã cho Việt Nam vay trong chiến tranh Cùng với những đòn tấn công kinh tế - chính trị, Trung Quốc còn tăng cường lực lượng áp sát biên giới Việt – Trung, đẩy mạnh xâm lấn lãnh thổ và khiêu khích chiến tranh trên toàn tuyến biên giới phía Bắc(10) Đồng thời, Trung Quốc còn hậu thuẫn cho lực lượng Khơ-me đỏ đẩy mạnh khiêu khích, xung đột và lấn chiếm trên tuyến biên giới Tây Nam
Trong bối cảnh Trung Quốc không ngừng tăng cường những hành động chống lại Việt Nam, chủ trương giải quyết những mâu thuẫn với Trung Quốc và Căm-pu-chia bằng con đường đàm phán hòa bình không còn triển vọng, Việt Nam đã đi đến những quyết định rõ ràng hơn trong chủ trương đối ngoại với Trung Quốc và sẵn sàng cho một cuộc đối đầu với nước láng giềng Trung Quốc và Căm-pu-chia:
Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 4 khóa IV của ĐCS Việt Nam đã xác định rõ: “nếu kẻ thù chính của nhân dân Việt Nam vẫn là CNĐQ do Mĩ cầm đầu, thì hiện tại, tập đoàn Mao-ít trong giới cầm quyền ở Bắc Kinh đã trở thành kẻ thù trực tiếp
và nguy hiểm nhất của Việt Nam Tập đoàn này đang theo đuổi đường lối bành trướng và bá quyền nước lớn, phản bội phong trào cách mạng thế giới”[86, tr.27] Đồng thời, Việt Nam cũng đã tỏ rõ thái độ dứt khoát đối với Trung Quốc khi quyết định ngã hẳn về phía Liên Xô Ngày 03/11/1978, Việt Nam và Liên Xô đã kí kết Hiệp ước hòa bình hữu nghị và hợp tác, trong đó điều 6 đã nêu rõ: “trong trường
xây dựng đất nước và chính phủ Trung Quốc tuyên bố sẽ bảo vệ quyền lợi của những Hoa kiều ở nước ngoài con mang quốc tịch Trung Quốc
Trang 32hợp một trong hai bên bị tấn công hoặc bị đe dọa tấn công, hai bên sẽ trao đổi với nhau nhằm loại trừ mối đe dọa đó và áp dụng những biện pháp thích đáng có hiệu lực để đảm bảo hòa bình và an ninh của hai nước”[51, tr 212]
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng, Việt Nam đã liên minh với các đối thủ phương Bắc của họ và coi đây là sự phản bội của Việt Nam đối với Trung Quốc, đồng thời là sự khởi đầu cho cuộc bành trướng của Liên Xô ở Đông Nam Á Quan
hệ Việt Nam – Trung Quốc chính thức bước sang một giai đoạn mới đầy sóng gió
Quan hệ Việt – Trung rơi vào tình trạng đối đầu, căng thẳng
Cùng với những dấu hiệu rạn nứt ngày càng gia tăng trong quan hệ Việt – Trung, Chính quyền Pôn-pốt đẩy mạnh những hành động xung đột và xâm lấn lãnh thổ của Việt Nam ở vùng biên giới Tây Nam Ngày 21/12/1978, quân đội của Pôn-pốt đã mở một cuộc tiến công quy mô lớn trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, trong
đó mục tiêu chủ yếu là chiếm thị xã Tây Ninh
Ngày 23/12/1978, quân đội Việt Nam bắt đầu phản công để bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia Sau khi đẩy lùi quân đội Pôn-pốt ra khỏi lãnh thổ, theo đề nghị của Mặt trận thống nhất dân tộc cứu quốc Căm-pu-chia, quân đội nhân dân Việt Nam đã đưa vào lãnh thổ Căm-pu-chia giúp nhân dân Căm-pu-chia thoát khỏi nạn diệt chủng và đến ngày 7/01/1979 đã giải phóng được Pnôm-pênh, chế độ Pôn-pốt bị lật
đổ, thay vào đó là Hội đồng nhân dân Căm-pu-chia do Hiêng-xom-ring đứng đầu
Ba ngày sau, Hội đồng ra tuyên ngôn thành lập nước CHND Căm-pu-chia
Ngay sau khi quân đội Việt Nam đánh bại lực lượng Pôn-pốt, Trung Quốc đã gấp rút hoàn thành bản dự thảo nghị quyết về Căm-pu-chia, theo đó thì “hành động xâm lược của Việt Nam chống lại nước Căm-pu-chia dân chủ đã tạo ra mối nguy cơ đối với hòa bình và an ninh trên thế giới”[86, tr 31] và khuyến cáo HĐBA LHQ thông qua nghị quyết đòi rút quân đội nước ngoài ra khỏi lãnh thổ Căm-pu-chia Từ ngày 11 đến 14/1/1979, theo đề nghị của Trung Quốc và được sự ủng hộ của Mĩ, HĐBA LHQ đã nhóm họp để thảo luận về tình hình Căm-pu-chia
Sau một thời gian tích cực chuẩn bị về lực lượng, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận quốc tế và đặc biệt là sự đồng tình của Mĩ sau chuyến thăm nước này của Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình trong tháng 01/1979, Trung Quốc đã sẵn sàng cho một hành động quân sự nhằm vào Việt Nam mà họ gọi là “cho Việt Nam một bài học” Rạng sáng ngày 17/02/1979, Trung Quốc lần lượt đưa 60 vạn quân được trang
bị đầy đủ các phương tiện vũ khí hiện đại tấn công xâm lược 6 tỉnh biên giới phía
Trang 33Bắc của Việt Nam Ngay lập tức, Chính phủ Việt Nam đã ra tuyên bố về cuộc tấn công của Trung Quốc và ra lời kêu gọi nhân dân chiến đấu để tự vệ Cuộc giao tranh diễn ra trong một thời gian ngắn, quân xâm lược Trung Quốc đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của quân đội nhân dân Việt Nam và do sức ép của dư luận quốc
tế, ngày 14/3/1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước Sự kiện này làm cho quan hệ Việt – Trung vốn đã rạn nứt trước đó khó có thể hàn gắn trở lại được Sau cuộc xung đột xảy ra, hai nước đã tiến hành đàm phán song phương (vòng
1 diễn ra tại Hà Nội và vòng 2 diễn ra tại Bắc Kinh), song dường như cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đều không có ý định đưa mối quan hệ giữa hai nước trở lại bình thường bằng các cuộc đàm phán này Quan điểm của cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đưa ra đều thể hiện sự bất đồng gay gắt và thiếu tính xây dựng:
Trong vòng đàm phán thứ nhất từ ngày 18/4/1979 tại Hà Nội, phái đoàn Việt Nam đã đưa ra đề nghị 3 điểm để giải quyết vấn đề biên giới: “chấm dứt chiến sự, phi quân sự hóa biên giới; khôi phục giao thông vận tải bình thường, một giải pháp cho bất cứ vấn đề lãnh thổ nào trên cơ sở tôn trọng đường biên giới lãnh thổ mà các Hiệp định Trung – Pháp năm 1887 và 1895 đã thiết lập”[69, tr 3]
Tại vòng đàm phán thứ hai ở Bắc Kinh (từ ngày 8/6/1079), Việt Nam đã đưa
ra dự thảo thỏa thuận về việc hai bên cam kết “không tập trung quân sát đường biên giới, cách li lực lượng vũ trang hai bên, chấm dứt mọi hành động khiêu khích chiến tranh, không bành trướng lãnh thổ dưới bất cứ một hình thức nào”[115, tr 194] Và đồng thời công bố quan điểm của Việt Nam về chống bá quyền với nội dung:
Không xâm lược, không dùng vũ lực để “trừng phạt” hoặc “dạy bài học” cho bất cứ một nước nào Không áp đặt tư tưởng, quan điểm, đường lối của mình cho nước khác Không dùng bất kì thủ đoạn nào, kể cả viện trợ kinh tế để ép buộc nước khác phải từ bỏ đường lối độc lập tự chủ, không can thiệp vào quan hệ của một nước với nước khác Không dùng những tổ chức chống đối do mình nuôi dưỡng, lực lượng kiều dân của mình hoặc bất cứ hình thức nào để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác Không liên minh với CNĐQ và các thế lực phản động khác chống lại hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH[115, tr 194-196] Trung Quốc đã từ chối những đề nghị của Việt Nam và đưa ra lập trường 8 điểm chứa đựng nhiều nội dung mà phía Việt Nam cũng khó có thể chấp nhận:
Trang 34Bất cứ bên nào đều không mưu cầu bá quyền ở Đông Dương, Đông Nam Á và các khu vực khác, mỗi bên đều phản đối sự cố gắng của bất cứ quốc gia hoặc tập đoàn quốc gia nào khác nhằm thiết lập bá quyền đó Bất cứ bên nào đều không đóng quân ở nước ngoài, quân đội đã đóng ở nước ngoài thì phải rút về nước mình Bất cứ bên nào đều không tham gia tập đoàn quân sự nhằm chống lại bên kia Quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và quần đảo Nam Sa (Trường Sa) xưa nay vẫn là một bộ phận lãnh thổ không thể chia cắt được của Trung Quốc Phía Việt Nam cần trở lại lập trường cũ công nhận sự thật đó tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này và rút hết tất cả nhân viên trên các hòn đảo thuộc quần đảo Nam Sa (Trường Sa) mà phía Việt Nam chiếm đóng”[115, tr 197 - 198]
Kết quả sau hai vòng đàm phán, cả hai bên đã không đạt được một thoả thuận nào ngoài việc trao trả tù binh Tình trạng căng thẳng của mối quan hệ Việt – Trung ngày càng trở nên gay gắt và đã dẫn đến những hành động công kích, xung đột lẫn nhau kéo dài trên nhiều lĩnh vực:
Chính quyền Trung Quốc đã tiến hành hàng loạt hành động xung đột, tranh chấp, làm cho quan hệ hai nước trở nên căng thẳng cực độ Các cuộc đụng độ vũ trang nhỏ thường xuyên xảy ra ở biên giới Việt – Trung, đặc biệt là những tranh chấp, xung đột trên Biển Đông(11)
Cùng với những hành động tranh chấp, lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam, BNG Trung Quốc còn xuất bản sách trắng về Hoàng Sa và Trường Sa, cố tình xuyên tạc rằng ngày 14/9/1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gởi công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai công nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa
Đến đầu năm 1980, Trung Quốc đã đơn phương từ chối việc tiếp tục vòng 3 của cuộc đàm phán và cho rằng “tình hình chưa chín muồi”[85, tr 51], mặc cho Việt Nam đã nhiều lần đề nghị Từ đó, kênh đàm phán chính thức giữa hai bên hoàn toàn bị cắt đứt
(11)
Tháng 7/1979, Tổng cục Hàng không dân dụng Trung Quốc công bố thông cáo quy định
“bốn vùng nguy hiểm” ở Tây Nam đảo Hải Nam, trong đó có không phận quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam; tháng 01/1980, Trung Quốc cho máy bay H-6 của hải quân Trung Quốc thực hiện cuộc tuần tra trên không đầu tiên ở quần đảo Trường Sa; năm 1982, Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Quốc Dương Đắc Chí viếng thăm quần đào Hoàng Sa và hải quân Trung Quốc và Việt Nam đã đụng độ nhau ở ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa
Trang 35Ngược lại trong năm 1979 và 1980, BNG Việt Nam cũng đã công bố 2 cuốn sách trắng “sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong ba mươi năm qua”,
“Chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” và cho xuất bản nhiều cuốn sách khác để tố cáo những âm mưu của Trung Quốc đối với Việt Nam Và chủ trương chống Trung Quốc của Việt Nam lên đến đỉnh điểm khi nó chính thức được đưa vào lời nói đầu của Hiến pháp mới được Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 18/12/1980:
Vừa trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng, đồng bào ta thiết tha mong muốn có hòa bình để xây dựng Tổ Quốc, nhưng lại phải đương đầu với bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng
ở Căm-pu-chia Phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân
ta đã giành được thắng lợi oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc chống bọn phản động Căm-pu-chia ở biên giới Tây - Nam và chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía Bắc[102, tr 69 - 70]
Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc của ĐCS Việt Nam lần thứ V (tháng 3/1982), chủ trương đối với Trung Quốc như trên vẫn chưa có những thay đổi lớn, Văn kiện Đại hội ghi rõ:
“Nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thôn tính, xâm lược của giới cầm quyền phản động Trung Quốc đối với nước ta, nhưng chúng ta vẫn giữ nguyên tình cảm hữu nghị đối với nhân dân Trung Quốc Chúng ta chủ trương khôi phục quan hệ bình thường giữa hai nước trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình, tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau và giải quyết những vấn
đề tranh chấp bằng con đường thương lượng, chúng ta đã nhiều lần đề nghị nối lại các cuộc đàm phán đã bị Trung Quốc đơn phương bỏ dỡ, nhưng phía Trung Quốc vẫn một mực khước từ những đề nghị của chúng ta”[57, tr 153-154]
Nguồn gốc của tình trạng đối đầu căng thẳng trong quan hệ Việt – Trung
Giải thích về vấn đề này, một số học giả Việt Nam cho rằng Trung Quốc đã chủ động tạo ra tình trạng đối đầu này để “làm cho Việt Nam chảy máu thêm trong lúc Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội
và tình thế bị cô lập trên trường quốc tế gây ra Trung Quốc muốn dùng “vấn đề Căm-pu-chia” để tập hợp lực lượng, hạn chế ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam
Trang 36Á”[115, tr 199] Ngược lại, phía Trung Quốc cho rằng tình trạng căng thẳng trong quan hệ Việt – Trung giai đoạn này là do Việt Nam có âm mưu bá quyền ở Đông Dương và liên kết với Liên Xô chống lại Trung Quốc
Phân tích bối cảnh quốc tế và thực tiễn quan hệ Việt – Trung trong những năm
từ 1978 đến 1982, chúng ta có thể nhận thấy nguồn gốc sâu xa của tình trạng đối đầu căng thẳng của quan hệ Việt Nam – Trung Quốc:
Thứ nhất, xuất phát từ chủ trương tranh thủ phương Tây để thực hiện “bốn
hiện đại hóa” và thu hồi Đài Loan của Trung Quốc Sau khi chính thức trở lại cầm quyền, Đặng Tiểu Bình đã đưa ra kế hoạch “bốn hiện đại hoá” (công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kĩ thuật và quốc phòng) để đưa Trung Quốc thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, vươn lên trở thành siêu cường ở châu Á, với phương châm thực hiện cải cách mở cửa nhằm tranh thủ vốn, kĩ thuật và thị trường của Mĩ, Tây Âu và Nhật Bản Kế hoạch này nhanh chóng được Đại hội XI ĐCS Trung Quốc (8/1978) thông qua và triển khai thực hiện Nói về tầm quan trọng của “bốn hiện đại hoá”, Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh:
“Đường lối chính trị của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay, nói khái quát là một lòng một dạ thực hiện bốn hiện đại hoá, bất cứ lúc nào cũng không được quấy nhiễu công việc này, nhất thiết phải kiên quyết không lay chuyển, một lòng một dạ tiếp tục thực hiện Rất nhiều vấn đề, nếu không thực hiện được bốn hiện đại hoá thì không giải quyết được Sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, sự gia tăng của thu nhập quốc dân việc quốc phòng cần được củng cố và tăng cường một cách tương ứng đều phải dựa vào bốn hiện đại hoá”[275, tr 62]
Để thực hiện “bốn hiện đại hoá”, Trung Quốc không thể tiếp tục phương châm
“tự lực cánh sinh” như trước đây được nữa mà phải dựa vào nguồn lực bên ngoài
Và nguồn lực bên ngoài đó không ai khác đó chính là Mĩ, Nhật Bản, và Tây Âu Điều đó đã hoàn toàn công khai khi mà tại kì họp Quốc hội vào tháng 3/1978,
“Đặng Tiểu Bình đã đưa ra lời mời Hoa Kì tham gia mặt trận chung chống Liên Xô
mà Đặng đã đề cập không một chút quanh co hồi đầu tháng 10/1977”[152, tr 348] Tuy Trung Quốc đã đánh bài ngữa với Mĩ, nhưng tại thời điểm này, Mĩ vẫn chưa xác định rõ chính sách đối với Trung Quốc Theo Kít-xin-gơ, quan điểm của giới cầm quyền Mĩ lúc bấy giờ là “gần với Mát-xcơ-va lẫn gần với Bắc Kinh sẽ
Trang 37luôn là điều tốt hơn nếu chỉ chọn gần với một bên, trừ trường hợp Liên Xô tấn công Trung Quốc”[152, tr 344]
Thái độ trên của Mĩ chỉ được duy trì trong một thời gian ngắn, cho đến khi họ phát hiện được Liên Xô đã bí mật triển khai hệ thống tên lửa SS-20 mang 3 đầu đạn hạt nhân có thể bắn tới bất cứ trung tâm chiến lược nào của Tây Âu Chính quyền của tổng thống Can-tơ đã quyết định đáp lại lời kêu gọi của Đặng Tiểu Bình Tháng 7/1978, hai bên Trung - Mĩ đã đưa ra những lời kiêu gọi về một “chính sách chung chống Liên Xô, không phát triển quan hệ với Việt Nam và tỏ thái độ thù địch với Cu-ba”[152, tr 348] Sau quyết định này của Mĩ, Trung Quốc đã không mấy khó khăn trong việc cải thiện và thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Nhật Bản (ngày 12/8/1978, Hiệp ước hoà bình và hữu nghị Trung – Nhật được kí kết)
Ngày 15/12/1978 (sau khi Mĩ công nhận Trung Quốc), Đặng Tiểu Bình đã đến
Mỹ hội kiến với Tổng thống Ca-tơ Ngày 16/12/1978, Mĩ và Trung Quốc đã ra thông cáo chung Trung – Mĩ về việc thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ từ ngày 01/01/1979 Bản thông cáo đã chính thức khẳng định sự liên kết Trung – Mĩ nhằm chống lại cái mà lãnh đạo hai nước này gọi là “bá quyền của Liên Xô ở Châu Á” Những hành động này đã chứng tỏ Trung Quốc đang lấy việc chống Liên Xô, các nước XHCN để cải thiện quan hệ với Mĩ và thế giới tư bản nhằm mục tiêu thực hiện “bốn hiện đại hoá” của mình
Ngoài mục tiêu trên, phía Trung Quốc còn hy vọng rằng việc bình thường hóa quan hệ với Mĩ sẽ giúp họ thu hồi Đài Loan Bản thông cáo của Hội nghị Trung ương lần III khoá XI của ĐCS Trung Quốc (12/1978) viết:
“Việc kí Hiệp ước hoà bình và hữu nghị Trung – Nhật và việc hoàn thành các cuộc thương lượng về việc bình thường hoá quan hệ giữa Mĩ
và Trung Quốc là những đóng góp quan trọng cho hoà bình ở châu Á và thế giới Hội nghị cho rằng việc bình thường hoá quan hệ giữa Trung Quốc và Mĩ đã mở ra trước mắt chúng ta triển vọng đưa Đài Loan – lãnh thổ thiêng liêng của chúng ta trở về với tổ quốc”[243, tr 189]
Như vậy, cuộc đối đầu Xô – Mĩ và chính sách chống Liên Xô để cải thiện quan hệ với Mĩ và thế giới tư bản nhằm thực hiện mục tiêu “bốn hiện đại hoá” và thu hồi Đài Loan của Trung Quốc chính là một trong những nguồn gốc của chính sách chống Việt Nam mà Trung Quốc thực hiện trong giai đoạn này
Trang 38Điều đó đã lí giải được tại sao Trung Quốc lại đơn phương từ chối những đề nghị đàm phán nhằm giải quyết những vấn đề mâu thuẫn giữa hai nước do Việt Nam đưa ra và đồng thời câu kết với Mĩ, Thái Lan cùng thế giới tư bản bao vây, cô lập Việt Nam, ủng hộ lực lượng Khơ-me đỏ, làm cho quân đội Việt Nam buộc phải tiếp tục duy trì ở Căm-pu-chia
Thứ hai, Trung Quốc không chấp nhận ưu thế của Việt Nam ở Đông Dương
và ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á Điều này đã được Phó Thủ tướng Lý Tiên Niệm nói thẳng rằng: “một trong những nguyên nhân khiến cho quan hệ giữa
Hà Nội với Bắc Kinh trở nên căng thẳng là do Trung Quốc chống lại âm mưu của Việt Nam muốn thành lập Liên bang Đông Dương”[86, tr 27]
Thứ ba, chủ trương đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc Trước sự
liên kết giữa Trung Quốc và Mĩ nhằm mục đích chống lại Liên Xô, Việt Nam và các nước XHCN khác như trên thì dù muốn hay không, Việt Nam cũng đã bị Trung Quốc đẩy về phía đối lập với họ Vốn là một nước nhỏ, đang bị đe dọa trực tiếp từ phía Trung Quốc (giờ đây là đồng minh của Mĩ), việc thắt chặt hơn nữa mối quan
hệ vốn có với Liên Xô là hành động duy nhất mà Việt Nam có thể làm lúc này để đối phó với liên minh Trung - Mĩ
Ngày 05/4/1979, ĐCS Việt Nam đã ra Thông tri số 80 phân tích rằng: “những lực lượng thù địch với Việt Nam đang thất bại về mọi mặt, nhưng chúng vẫn chưa
từ bỏ âm mưu thôn tính Việt Nam và bành trướng xuống Đông Nam Á Do vậy, chúng có thể dùng đàm phán ngoại giao để che đậy cho những bước tiếp theo”, hoặc
“các lực lượng này không chịu ngồi vào bàn đàm phán”[177, tr 45] Từ đó, Đảng
đã đưa ra chủ trương: “thúc đẩy các cuộc đàm phán, khoét sâu những mâu thuẫn, kéo chúng xuống thang từng bước, tranh thủ dư luận quốc tế; đồng thời phải khẩn trương tăng cường lực lượng của chúng ta về mọi mặt, sẵn sàn đánh bại mọi bước phiêu lưu quân sự mới có thể xảy ra”[177, tr 46]
Xuất phát từ thực tế và chủ trương trên, Việt Nam đã liên tục đề nghị Trung Quốc nối lại đàm phán trên cơ sở kiên quyết bảo vệ lập trường của mình Nếu xét đến đây thì rõ ràng việc đơn phương từ chối nối lại đàm phán với Việt Nam là do chủ trương của Trung Quốc Tuy nhiên, qua những sự thật về Trung Quốc mà BNG Việt Nam đã công bố trong sách trắng, những lời lẽ nói về Trung Quốc trong Hiến pháp và văn kiện Đại hội V cho thấy, Việt Nam lúc này đã chấp nhận đối đầu với Trung Quốc
Trang 39Như vậy, tình trạng đối đầu căng thẳng trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc cuối thập niên 70 và những năm đầu thập niên 80 xuất phát từ những mâu thuẫn trong quan hệ Xô – Trung - Mĩ, đặc biệt là chính sách chống Việt Nam của Trung Quốc và một phần từ chủ trương đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc
Chủ trương nối lại đàm phán của Việt Nam và thái độ của Trung Quốc
Sau khi đưa quân sang giúp nhân dân Căm-pu-chia đánh bại chế độ diệt chủng Pôn-pốt, Việt Nam không những bị Trung Quốc đưa quân tràn sang tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc, gây nên trình trạng căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước
mà còn bị Trung Quốc và Mĩ cáo buộc xâm lược Căm-pu-chia Đồng thời Trung Quốc đã thúc đẩy LHQ ra Nghị quyết yêu cầu Việt Nam rút khỏi Căm-pu-chia, vận động hầu hết các nước trong Nghị viện châu Âu và các nước trong khu vực Đông Nam Á đình chỉ viện trợ kinh tế, siết chặt cấm vận, cắt đứt quan hệ, đẩy Việt Nam vào thế bị cô lập với khu vực và thế giới phương Tây
Sau một thời gian cả nước đi lên CNXH, Việt Nam bắt đầu lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng nghiêm trọng (lạm phát ngày một gia tăng với tốc độ phi mã: năm 1978: 128%, năm 1981 lên đến 131%) Chỗ dựa quốc tế - ngoại lực quan trọng nhất của Việt Nam lúc này là Liên Xô cũng đang lâm vào khủng hoảng, nên viện trợ của Liên Xô đối với Việt Nam giảm đi và chuyển từ viện trợ không hoàn lại sang cơ chế hợp tác hai bên cùng có lợi, đã làm Việt Nam ngày càng lún sâu vào cuộc khủng hoảng Vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong đầu thập nhiên 80 là phải phá thế bị bao vây, cô lập, mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực và thế giới để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng
Đại hội Đại biểu toàn quốc của ĐCS Việt Nam lần thứ V (tháng 3/1982) đã có những thay đổi trong chính sách đối ngoại Văn kiện Đại hội đã xác định: “Nhân dân Việt Nam chủ trương thiết lập những quan hệ láng giềng tốt với các nước ASEAN, luôn luôn sẵn sàng phối hợp, cố gắng để xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hoà bình và ổn định”[57, tr 153] Đối với các nước khác thì sẵn sàng
“thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường về mặt nhà nước về kinh tế, văn hoá, khoa học kĩ thuật với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị xã hội, trên
cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền bình đẳng cùng có lợi”[57, tr 155]
Tuy nhiên, những tuyên bố về đường lối đối ngoại mới của Việt Nam trong năm 1982 dường như không được các nước ASEAN và phương Tây đón nhận và ủng hộ Nguyên nhân của tình trạng đó không nằm ngoài việc quân tình nguyện
Trang 40Việt Nam vẫn còn đóng trên lãnh thổ Căm-pu-chia Giờ đây, việc giải quyết “vấn đề Căm-pu-chia” để rút quân khỏi nước này chính là “chìa khoá” để Việt Nam mở cánh cửa giao lưu tiếp xúc với các nước trong khu vực và trên thế giới, thoát khỏi
sự bao vây cô lập để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng
Nhưng việc giải quyết “vấn đề Căm-pu-chia” lại liên quan đến nhiều nước khác nhau, trong đó Trung Quốc có một vị trí rất quan trọng Đồng thời tình trạng đối đầu căng thẳng với Trung Quốc đã ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Chính vì vậy, Việt Nam không thể không cải thiện quan hệ với Trung Quốc để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết “vấn đề Căm-pu-chia”, tiến tới mở rộng quan hệ quốc tế, tạo sự ổn định để xây dựng và phát triển đất nước Tháng 7/1982, thông qua Hội nghị Ngoại trưởng ba nước Đông Dương, Việt Nam đã đưa ra tuyên bố rằng: “mong muốn có quan hệ hoà bình hữu nghị và hợp tác với Trung Quốc trong cùng tồn tại hoà bình và nối lại đàm phán Việt - Trung”[115, tr 202] Và ngày 17/7/1982, Việt Nam đã chủ động rút một phần quân tình nguyện ở Căm-pu-chia về nước và tuyên bố sẽ tiếp tục rút như vậy hàng năm Những tín hiệu tích cực mà Việt Nam đưa ra đã không được giới lãnh đạo Trung Quốc đáp lại trực tiếp Tuy nhiên, trong vòng 1 của cuộc đàm phán Xô – Trung sau đó gần 3 tháng (10/1982), Trung Quốc đã đưa vấn đề “rút quân tình nguyện Việt Nam khỏi Căm-pu-chia” làm một trong ba điều kiện tiên quyết mà Liên Xô phải thực hiện để tiến tới bình thường hoá quan hệ Xô – Trung(12)
Tại sao Trung Quốc lại không chấp nhận đàm phán trực tiếp với Việt Nam để góp phần giải quyết “vấn đề Căm-pu-chia”, bình thường hoá quan hệ Việt – Trung, mặc dù phía Việt Nam đã có những đề nghị lẫn hành động đầy thiện chí, mà lại lấy
nó làm điều kiện mặc cả với Liên Xô trong quá trình đàm phán Xô - Trung?
Giải thích về vấn đề này, ông Lưu Văn Lợi viết: “rõ ràng là ý đồ của Trung Quốc là dùng con bài Việt Nam để cải thiện quan hệ Xô – Trung, dùng Liên Xô ép Việt Nam rút quân khỏi Căm-pu-chia, chưa phải là bàn việc bình thường hoá quan
hệ với Việt Nam”[115, tr 202]
(12)
Trong qúa trình đàm phán Xô – Trung, Trung Quốc đã luôn đặt ra điều kiện để bình thường hoá quan hệ với Liên Xô đó là Liên Xô phải giải quyết dứt điểm ba trở ngại: Thứ nhất là sự hiện diện của quân đội Xô Viết trên vùng biên giới Xô – Trung và Trung – Mông Cổ; Thứ hai là sự hiện diện của quân đội Liên Xô ở Áp-ga-nít-xtan; Thứ ba là sự ủng hộ mà Liên Xô dành cho Việt Nam trong vấn đề quân đội Việt Nam ở Căm-pu-chia