1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

một số vấn đề về hình thức của di chúc

20 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 208 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của di chúc hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người lập nhưng về những biểu hiện hay nói cách khác là hình thức của di chúc thì có chỉ thể lựa chọn một trong hai cách mà pháp lu

Trang 1

A MỞ BÀI Trong cuộc sống mỗi con người “sinh lão bệnh tử” là hiện tượng của tự nhiên.

Không ai có thể chạy trốn nó, thoát khỏi nó, chính và vậy việc cần làm là đối diện với nó và chấp nhận nó Việc được cất tiếng khóc trào đời để được sống, được hít thở không khí trong lành là một niềm vui lớn lao tuy nhiên chưa chắc việc rời xa khỏi thế giới này lại đem đến toàn những nỗi buồn Biết đâu đấy khi không còn sống trên trái đất này nữa thì đang có một nơi tuyệt vời khác đang chờ đón Vì thế tất cả mọi người trước khi nằm xuống, ai cũng đều muốn để lại những gì mình có

là tốt nhất, là có ý nghĩa và có tác dụng nhất cho những người ở lại Họ có thể để lại những lời căn dặn, những lời khuyên bảo hay phổ biến nhất hiện nay vẫn là việc phân chia lại tài sản cho những những người ở lại Chính vì vậy vấn đề di chúc đã được đặt ra và nó trở thành đối tượng nghiên cứu của luật dân sự Nội dung của di chúc hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người lập nhưng về những biểu hiện hay nói cách khác là hình thức của di chúc thì có chỉ thể lựa chọn một trong hai cách mà pháp luật quy định, đó là: di chúc bằng văn bản và di chúc miệng Việc lập di chúc theo hình thức nào cần tuân thủ theo những quy định rất

cụ thể của bộ luật dân sự Việc tìm hiểu về vấn đề hình thức của di chúc rất có ý nghĩa, nó phục vụ trực tiếp cho bản thân mình sau này, chính vì vậy em đã chọn

đề bài: “một số vấn đề về hình thức của di chúc” để làm bài tập lớn học kỳ.

Trang 2

B NỘI DUNG

I DI CHÚC

1 Khái niệm

Thuật ngữ “di chúc” đã được đề cập và sử dụng nhiều trong đời sống nên từ lâu

đã trở thành một vấn đề hết sức quen thuộc đối với nhân dân ta Tuy vậy, nó thường chỉ được hiểu một cách đơn giản như: di chúc là sự dặn lại của một người trước lúc chết với những người khác về những việc cần làm, nên làm Còn đứng trên phương diện khoa học pháp lý thì di chúc là phương tiện phản ánh trung thực

ý nguyện cuối cùng của cá nhân trong việc dịch chuyển tài sản của họ sau khi

chết Vì vậy Điều 646 BLDS 2005 có quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của

cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.

Theo quy định trên thì di chúc phải có những yếu tố sau:

a Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải là bất cứ chủ thể nào khác: di chúc do cá nhân tự nguyện lập ra với mục đích dịch chuyển tài sản

thuộc quyền sở hữu của mình cho người còn sống khác, sau khi người lập di chúc chết Di chúc trước hết phải là sự thể hiện ý chí của cá nhân, đây là ý chí mang tính chất đơn phương của người lập di chúc Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật thì vợ chồng có quyền lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung (Điều 663- BLDS2005) Trường hợp này xuất hiện ý chí của cả vợ chồng (2 người) nhưng vẫn là sự thể hiện tính đơn phương của di chúc Vì vợ, chồng là hai chủ thể đứng về một phía (trong việc lập di chúc) để định đoạt tài sản cho những người thừa kế Xét về tính chất của giao dịch dân sự di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương, hoàn toàn độc lập tự định đoạt ý chí của cá nhân người lập di chúc mà không có bất kỳ sự lệ thuộc nào vào bất kỳ ý kiến của ai, do vậy di chúc là giao dịch dân sự một bên

b Mục đích của việc lập di chúc là chuyển tài sản là di sản của mình cho người khác Đây là yếu tố hết sức quan trọng, nếu di chúc không đề cập đến việc

Trang 3

“chuyển tài sản” này thì di chúc cũng không tồn tại giá trị pháp lý dưới góc độ pháp luật dân sự Thực tế trong cuộc sống, vẫn thấy không phải mọi di chúc đều nhằm chuyển tài sản của người lập di chúc cho người thừa kế nhất định mà di chúc thể hiện ý nguyện nào đó của người lập di chúc Những di chúc này thường xuyên là sự thể hiện ý chí của người viết di chúc căn dặn các con, các cháu phải đoàn kết, chăm chỉ lao động và học tập, giúp đỡ, đùm bọc yêu thương lẫn nhau trong những lúc khó khăn Di chúc thể hiện một ý hoặc một vài ý nguyện nào đó

và những người còn sống phải suy nghĩ và tự sửa chữa rèn luyện bản thân Di chúc căn dặn con cháu phải trông nom mồ mả tổ tiên và chỉ ra những vị trí của ngôi mộ, đôi khi di chúc còn chứa đựng một số nội dung như: bí mật của gia đình, dòng họ được tiết lộ, lập hương hỏa… Xét về mặt ý nghĩa xã hội thì di chúc này không nhằm chuyển dịch bất cứ tài sản nào của người lập di chúc cho những người được nêu tên trong di chúc hoặc chỉ cụ thể người nào hoặc người lập di chúc chỉ đề cập chung chung mà không nói rõ là ai Những di chúc này không thuộc loại di chúc do luật dân sự điều chỉnh và những tranh chấp có thể có trong

xã hội này không được giải quyết bằng việc khởi kiện ra tòa án mà dựa trên cơ sở thỏa thuận, hòa giải Tuy nhiên, tính chất và nội dung của loại di chúc này không thể xác định là trái pháp luật mà là di chúc đề cập loại nghĩa vụ tự nhiên, pháp luật không điều chỉnh hậu quả pháp lý của nghĩa vụ tự nhiên đó Không ai ép buộc một người nào đó thực hiện những loại nghĩa vụ này, họ được quyền thực hiện hoặc không thực hiện tùy theo lương tâm và ý chí chủ quan của mỗi người, đồng thời họ cũng không phải chịu bất cứ hậu quả pháp lý nào Ví dụ: về nghĩa

vụ thăm nom mồ mả tổ tiên, không ai bắt ép con, cháu của người đã chết hay bất

cứ ai thực hiện công việc này Tuy nhiên dư luận xã hội sẽ lên án họ còn về góc

độ pháp luật thì họ sẽ không phải chịu hậu quả pháp lý nào Di chúc thể hiện ý chí chủ quan của người lập, tuy nhiên ý định của người lập di chúc nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết có thể không thực hiện được trong những trường hợp sau:

Trang 4

+ Tài sản được định đoạt trong di chúc cho người thừa kế hưởng đã không còn vào thời điểm mở thừa kế của người để lại di chúc

+ Những người thừa kế được chỉ định thừa kế theo di chúc đã chết trước, chết cùng thời điểm với người lập di chúc

+ Những người thừa kế được chỉ định thừa kế theo di chúc đều không có quyền hưởng, từ chối quyền hưởng di sản

Cả ba trường hợp trên đều làm cho mục đích chuyển tài sản của người lập di chúc cho người thừa kế không đạt được Phần di chúc không thể thực hiện được là phần di chúc vô hiệu

c Di chúc có hiệu lực sau khi người để lại di chúc chết.

Như đã nói ở trên di chúc là giao dịch dân sự một bên Vì vậy trước tiên phải có

sự đáp ứng đầy đủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 122- BLDS 2005:

“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật; không trái đạo đức xã hội;

c Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”.

Mặt khác, di chúc là một loại giao dịch đặc biệt, đồng thời chỉ có hiệu lực khi người lập ra nó chết Do hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc và nội dung của di chúc nhằm vào việc thờ cúng, để lại di tặng nhằm trao tặng cho một hoặc nhiều người vẫn không chắc chắn vì khi còn sống, người lập di chúc có quyền thay đổi ý chí của mình trong việc lập di chúc, theo đó nội dung của di chúc bị thay đổi theo Ý chí của cá nhân người lập di chúc có tính khả biến, vì ý chí trước hết do tâm lý, tình cảm của người lập di chúc chi phối và cung bậc tình cảm đối với những người được chỉ định thừa kế theo di chúc lại rất khác nhau Có nghĩa là khi người lập di chúc còn sống thì ý chí và tình cảm của họ vẫn có thể

Trang 5

thay đổi vì vậy kéo theo đó là nội dung của di chúc cũng thay đổi theo Khi mà người đó chết thì nội dung của di chúc không thể thay đổi được nữa và chỉ khi đó thì di chúc mới phát sinh hiệu lực Quy định này của pháp luật đã vô tình đã làm phát sinh hành vi tẩu tán tài sản trước khi chết của một số người, kéo theo đó là lợi ích của người thứ ba – các chủ nợ có thể bị xâm phạm Cụ thể, trong xã hội

đã có nhiều trường hợp một người còn sống đã cho tập hợp các con, các cháu của mình để nghe việc thể hiện ý chí Đó có thể là tài sản này sẽ để lại cho ai thừa kế, phần thừa kế của mỗi người cũng được định đoạt theo ý chí của người có tài sản Những người được chỉ định hưởng di sản thừa kế đã không thể chờ đợi sau khi người lập di chúc chết và họ đã thỏa thuận chia tài sản của người có ý nguyện định đoạt của mình Trong trường hợp này, những người được người có tài sản chỉ định hưởng di sản sau khi người có tài sản chết nhưng đã nhận tài sản trong khi người có tài sản vẫn còn sống thì những trường hợp này không phải là người thừa kế theo di chúc Lúc này tính chất của quan hệ đã là hợp đồng tặng cho- cả người có tài sản và người được tặng cho tài sản đều còn sống Người nhận được tài sản trong trường hợp này không phải là người thừa kế theo di chúc, vì di chúc chưa phát sinh hiệu lực thi hành Chính vì vậy những người được nhận tài sản trong trường hợp này không phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh sau khi người để lại di sản chết Điều này gây ra một thực tế trong xã hội đó là trường hợp một người khi còn sống có nghĩa vụ tài sản với người khác, người này có tài sản để thực hiện nghĩa vụ của mình với bên có quyền nhưng lại mang tài sản đó tặng cho người khác và khi người này qua đời đã không còn tài sản, do đó bên phải chịu thiệt ở đây là những người chủ nợ Pháp luật chưa quy định trường hợp này nên

họ cũng không biết và không thể yêu cầu ai thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chết

2 Thừa kế theo di chúc

Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện trong di chúc Tìm hiểu về thừa kế theo di chúc chúng ta cần nắm rõ những vấn đề sau:

Trang 6

Thứ nhất: người lập di chúc: một cá nhân khi còn sống có quyền lập di chúc để

định đoạt tài sản của mình cho bất kỳ ai Người lập di chúc bao giờ cũng là cá nhân, không thể là tổ chức Pháp luật không quy định cá nhân có thể lập bao nhiêu bản di chúc Vì di chúc chỉ phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ khi người lập

di chúc chết và nếu một người để lại nhiều bản di chúc thì bản di chúc cuối cùng

có hiệu lực thi hành Người lập di chúc là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi có các quyền sau:

- Chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

- Dành một phần tài sản trong khối tài sản để di tặng, thờ cúng;

- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản; người phân chia di sản;

- Có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc

Thứ hai: người thừa kế theo di chúc:

Sau khi mở thừa kế, nếu có di chúc và di chúc hợp pháp thì di sản được chia cho người thừa kế Người được chỉ định trong di chúc là người thừa kế theo di chúc nếu họ đủ năng lực hưởng di sản (không mất quyền hưởng di sản) Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức Trường hợp người thừa kế là cá nhân, thì có thể là người trong hoặc ngoài diện thừa kế Người thừa kế theo di chúc được hưởng phần di sản chỉ định trong di chúc, ngoài ra có thể được hưởng phần

di sản chia theo pháp luật, nếu họ là người thừa kế theo pháp luật Người được chỉ định thừa kế là cá nhân thì phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế Trường hợp người được chỉ định trong di chúc chết trước thời điểm mở thừa kế, thì di chúc không có hiệu lực, di sản được chia cho người thừa kế theo pháp luật

Trường hợp di chúc chỉ định một thai nhi sẽ hưởng thừa kế sinh ra sau khi mở thừa kế mà còn sống, thì cá nhân đó có được hưởng thừa kế theo di chúc hay không Vấn đề này được quy định trong thừa kế theo pháp luật nhưng không quy định trong thừa kế theo di chúc Tuy nhiên trường hợp này áp dụng tương tự pháp luật để xác định thai nhi được chỉ định trong di chúc đã thành thai vào thời điểm

Trang 7

mở thừa kế hay chưa và nếu sinh ra sau thời điểm mở thừa kế mà còn sống thì sẽ được hưởng thừa kế theo di chúc

Người thừa kế theo di chúc có thể là cơ quan, tổ chức thì cơ quan, tổ chức được thành lập hợp pháp và còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

Người thừa kế theo di chúc có các nghĩa vụ được người lập di chúc giao cho và các nghĩa vụ khác như người thừa kế theo pháp luật Nếu người thừa kế theo pháp luật được hưởng di sản theo di chúc và theo pháp luật, thì phải thực hiện nghĩa vụ của người để lại di sản trong phạm vi toàn bộ di sản được hưởng

Thứ ba: về hạn chế quyền của người lập di chúc: việc đặt ra vấn đề hạn chế

quyền của người lập di chúc là hoàn toàn cần thiết Pháp luật thừa kế Việt Nam cho phép cá nhân – người lập di chúc có quyền tự do, tự nguyện, tự định đoạt trong việc lập di chúc để lại tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bất cứ ai được hưởng sau khi người lập di chúc chết Tuy nhiên sự tự do đó cũng được pháp luật hạn chế trong một chừng mực nhất định Bản chất của sự tự do đó phải được đặt trong những mối quan hệ xã hội cụ thể Quyền tự do định đoạt này cũng cần đặt trong mối quan hệ với lợi ích và quyền lợi đối với những cá nhân, chủ thể khác có liên quan Chính vì vậy, pháp luật thừa kế Việt Nam cũng có những quy định hạn chế đối với quyền tự định đoạt của người lập di chúc trong những trường hợp sau:

Trường hợp 1: Nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của những người là: cha, mẹ, vợ chồng, các con dưới mười tám tuổi của người lập di chúc và các con tuy đã trưởng thành nhưng không có khả năng lao động của người để lại di sản, trong trường hợp này người có tài sản định đoạt trong di chúc không cho họ hưởng di sản hoặc cho họ hưởng một phần di sản ít hơn 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật (Điều 669 – BLDS 2005) Tuy nhiên những người nói trên không phải là người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 – BLDS 2005 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 643 – BLDS 2005

Trang 8

Trường hợp 2: theo pháp luật thừa kế Việt Nam, người lập di chúc có quyền định đoạt tài sản cho bất kỳ ai: người thuộc diện thừa kế theo pháp luật hoặc người khác ngoài những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật, có quyền cho tổ chức, cho nhà nước hưởng di sản của mình Tuy nhiên pháp luật không thừa nhận di chúc của cá nhân định đoạt cho gia súc, gia cầm, cây cối được thừa kế Trong trường hợp di chúc của cá nhân định đoạt tài sản của mình cho vật nuôi, cây trồng được hưởng thì di chúc đó trở nên vô hiệu tuyệt đối và không có giá trị thi hành Điều này có thể giải thích như sau: vật nuôi, cây trồng và các vật thể khác không thể trở thành chủ thể của các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ thừa kế nói riêng, chúng chỉ có thể dừng lại là đối tượng của các quan hệ xã hội Và do đó vật nuôi, cây trồng và các vật thể khác không thể tham gia vào quan hệ giao dịch dân

sự đặc biệt này Điều hạn chế này chính là một sự khác biệt giữa luật dân sự Việt Nam với luật dân sự một số nước khác trên thế giới

Ví dụ: Luật dân sự Mỹ cho phép cá nhân – người để lại di sản có quyền để lại di sản thừa kế của mình cho vật nuôi Hiện nay, quy định này đã làm dấy lên phòng trào những người giàu có muốn để lại một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho vật nuôi Như bà Posner đã để lại cho 3 con chó của mình, tên là Conchita, April Maria và Lucia, 3 triệu USD tiền mặt và tòa lâu đài ở Miami trị giá 8,3 triệu USD hay như bà chủ khách sạn Leona Helmsely đã để lại 12 triệu USD cho con chó sục giống Maltese

3 Điều kiện có hiệu lực của di chúc

Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của người lập di chúc, do

đó để di chúc có hiệu lực pháp luật thì ngoài việc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung (Điều 122 – BLDS 2005 như đã nói ở phần trên) di chúc còn phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của di chúc Cụ thể:

a Người lập di chúc phải có năng lực chủ thể

Cá nhân chết có thể là bất cứ ai người này có thể có năng lực hành vi dân sự đầy

đủ hoặc ra bị Tòa ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự…Pháp luật cho phép bất cứ cá nhân nào cũng có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản (năng

Trang 9

lực pháp luật) Tuy nhiên, không phải bất cứ cá nhân nào cũng có thể thực hiện được quyền lập di chúc trước khi qua đời, điều đó còn phụ thuộc vào năng lực hành vi dân sự của cá nhân Năng lực chủ thể trong việc lập di chúc được xác định như sau:

- Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có toàn quyền trong việc lập di chúc Theo quy định của pháp luật thì người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là những người đủ 18 tuổi trở lên, không bị tòa án ra quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc tuyên bố mất năng lực hành

vi dân sự (Điều 18, Điểu 19, BLDS 2005)

- Người từ đủ 15 tuổi đến đủ 18 tuổi được lập di chúc nhưng di chúc đó phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý Người đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã có thể tham gia lao động, có thu nhập và tài sản Do đó, pháp luật cho phép người này có quyền lập di chúc Tuy nhiên, sự nhận thức của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được suy đoán là chưa đầy đủ nên cần phải được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ là đồng ý với việc cho lập di chúc chứ không phải là đồng ý với nội dung của di chúc

- Người bị hạn chết về thể chất (khiếm thị, cụt tay không viết được…) hoặc người không biết chữ cũng có quyền lập di chúc nhưng di chúc đó phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực

b Người lập di chúc phải tự nguyện

Ý chí của người lập di chúc là chuyển tài sản của mình cho những người khác sau khi người lập di chúc chết Do đó, ý chí này phải là ý chí đích thực Nói cách khác, mong muốn, nguyện vọng của người lập di chúc trong việc định đoạt tài sản của họ như thế nào phải được thể hiện đứng như vậy Di chúc sẽ không có sự tự nguyện của người lập di chúc nếu không có sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí Mặt khác, sự thể hiện ý chí của người lập di chúc phải được kiểm soát bởi chính

lý trí của họ

Trang 10

Điểm a, khoản 1, Điều 642, BLDS 2005 quy định: “Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép”

Những trường hợp không có sự tự nguyện của người di chúc như: di chúc giả mạo, người lập di chúc có sự nhầm lẫn trong khi lập di chúc, người lập di chúc bị lừa dối, bị đe dọa, bị cưỡng ép khi lập di chúc, người để lại di sản lập di chúc vào thời điểm không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình

c Nội dung của di chúc không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Nội dung của di chúc là những quyền, nghĩa vụ của người thừa kế cũng như những điều kiện … mà người lập di chúc có thể đưa ra Theo quy định tại đểm b, khoản 1, Điều 652, BLDS 2005 thì: “Nội dung của di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội…”

Quyền của người lập di chúc được pháp luật quy định rộng rãi Tuy nhiên, xuất phát từ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác mà pháp luật quy định nội dung của di chúc không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội Chẳng hạn, trong di chúc người lập di chúc không thể định đoạt vật mà Nhà nước cấm lưu thông, định đoạt tài sản cho những tổ chức phản động, đưa ra những điều kiện trái pháp luật đối với người thừa kế (giết người, hủy hoại tài sản, không được nuôi dưỡng, chăm sóc người mà người thừa

kế có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng…)

d Hình thức của di chúc không trái quy định của pháp luật.

Hình thức của di chúc là những phương thức biểu hiện ý chí của người lập di chúc Theo quy định của pháp luật thì di chúc có hai loại hình thức đó là: hình thức bằng văn bản và hình thức miệng Để hiểu rõ về vấn đề này, hãy cùng tìm hiểu phần dưới đây

II MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC

Hiểu một cách khái quát ta có thể thấy, hình thức của di chúc là phương thức biểu hiện ý chí của người lập di chúc, là căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc, là chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho người được chỉ định trong di chúc Vì vậy, di chúc phải được lập dưới một hình thức nhất định Theo

Ngày đăng: 30/01/2016, 05:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w