1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DÂN TỘC THIỂU SỐ BÁO CÁO TỔNG HỢP DỰ ÁN “BƯỚC ĐẦU TỔNG KẾT CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN VÀ TÌM KIẾM CÁC CƠ CHẾ NHẰM NÂNG CAO
Trang 11
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHÍNH SÁCH
CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DÂN TỘC THIỂU SỐ
(BÁO CÁO TỔNG HỢP DỰ ÁN
“BƯỚC ĐẦU TỔNG KẾT CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN
VÀ TÌM KIẾM CÁC CƠ CHẾ NHẰM NÂNG CAO TIẾNG NÓI CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG QUÁ TRÌNH RA QUYẾT ĐỊNH”)
HÀ NỘI - Tháng 8/2009
Những người thực hiện: TS Mai Thanh Sơn
TS Vũ Thị Minh ThS Khúc Thị Thanh Vân
TS Nguyễn Thị Thu Hoài
CN Nguyễn Trung Dũng
CN Trần Thị Thanh Tuyến
Trang 33
“Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là Nhà nước thống
nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam
Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc
Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc
và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình
Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số”
(Điều 5, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 2001)
Trang 44
MỤC LỤC
LỜI TỰA Error! Bookmark not defined TÓM LƯỢC Error! Bookmark not defined
A Giới thiệu chung về nghiên cứu Error! Bookmark not defined
B Những phát hiện chính Error! Bookmark not defined
I GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined 1.1 Bối cảnh nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.2 Mục tiêu nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.3 Các câu hỏi nghiên cứu chính Error! Bookmark not defined 1.4 Quan điểm tiếp cận Error! Bookmark not defined 1.5 Khung đánh giá và lý thuyết nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.6 Các phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.7 Các nguồn tư liệu và tiến trình thực hiện nghiên cứu Error! Bookmark not defined
II TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC Error! Bookmark not defined 2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc thiểu số Error! Bookmark not defined
2.2 Bước chuyển biến trong quy trình ban hành chính sách dân tộc Error! Bookmark not defined
2.3 Các nội dung chính sách chủ yếu Error! Bookmark not defined
2.4 Một số vấn đề cần thảo luận về cơ sở lý luận của việc hoạch định chính sách đối với
dân tộc thiểu số Error! Bookmark not defined
2.5 Những kết quả chung của việc thực hiện chính sách dân tộc trên cả nước - Tổng hợp từ
hệ thống văn bản Error! Bookmark not defined III TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG Error! Bookmark not defined
3.1 Khái quát về các địa phương được nghiên cứu Error! Bookmark not defined 3.2 Ghi nhận qua sự đánh giá thực địa Error! Bookmark not defined
IV NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TRI THỨC BẢN ĐỊA Error! Bookmark not defined 4.1 Tri thức bản địa là cơ sở đảm bảo đời sống của các dân tộc thiểu số Error! Bookmark not defined
4.2 Tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số đang đối mặt với nhiều thách thức Error! Bookmark not defined
V NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ SỰ THAM GIA Error! Bookmark not defined 5.1 Chủ thể văn hóa đã trở nên thiếu tự tin và ít tham gia Error! Bookmark not defined 5.2 Những trở ngại chính Error! Bookmark not defined
VI TÌNH TRẠNG SỐC VĂN HOÁ VÀ CÁC BỐI CẢNH TỔN THƯƠNG MỚI Error! Bookmark not defined
6.1 Khái niệm sốc văn hoá Error! Bookmark not defined 6.2 Những tác nhân gây sốc hay tạo ra bối cảnh tổn thương của chính sách Error! Bookmark not defined
6.3 Diễn biến sau sốc và bối cảnh bị tổn thương Error! Bookmark not defined VII MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP Error! Bookmark not defined 7.1 Những giải pháp chung Error! Bookmark not defined 7.2 Một số biện pháp cần thực hiện để IK trở thành cơ sở của PTBV Error! Bookmark not defined
Các tài liệu tham khảo chính Error! Bookmark not defined
Phụ lục 1: LÝ THUYẾT “BA ĐIỂM TỰA VÀ MỘT CHIỀU TÁC ĐỘNG” CỦA CHỦ THỂ VĂN HOÁ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM 102
Trang 55
Phụ lục 2: ĐẶC ĐIỂM TRI THỨC BẢN ĐỊA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM 106 Phụ lục 3: MỘT VÍ DỤ VỀ SỰ SONG HÀNH CỦA 2 THỂ CHẾ 112
Trang 66
BẢN ĐỒ CÁC ĐIỂM KHẢO SÁT
Trang 77
BẢNG KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng Phát triển châu Á BCHTW Ban chấp hành Trung ương CPRGS Chiến lược Tăng trưởng và Giảm nghèo Toàn diện CDD Phát triển Lấy cộng đồng làm định hướng
CNH Công nghiệp hoá CTQG Chính trị quốc gia DCCS Dân chủ cơ sở ĐCSVN Đảng Cộng sản Việt Nam EMWG Nhóm công tác dân tộc thiểu số GDP Tổng Sản phẩm Quốc nội
HĐH Hiện đại hoá HĐND Hội đồng nhân dân HTX Hợp tác xã
MOLISA Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội NGOs Các Tổ chức phi chính phủ
OGB Tổ chức Oxfam Anh OHK Tổ chức Oxfam Hongkong PPA Đánh giá nghèo đói có sự tham gia PRA Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân PPC Ủy ban Nhân dân tỉnh
SHHT Sở hữu trí tuệ SWOT Thế mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức TCH Toàn cầu hoá
VHDT Văn hoá dân tộc VND Đồng Việt Nam WIPO Tổ chức sở hữu trí tuệ Liên hợp quốc
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 88
LỜI TỰA
Dự án nghiên cứu Tổng kết các phương pháp phát triển và tìm kiếm cơ chế nhằm nâng cao
tiếng nói của các dân tộc thiểu số do Oxfam Hongkong (OHK) tài trợ, Nhóm công tác dân
tộc thiểu số (EMWG) chủ trì và các tư vấn nghiên cứu độc lập thực hiện Thành viên của nhóm nghiên cứu đến từ nhiều cơ quan khác nhau: i) TS Mai Thanh Sơn - Trưởng nhóm – Nghiên cứu viên chính, Viện Phát triển bền vững vùng Trung Bộ; ii) TS Vũ Thị Minh, Giảng viên chính Trường Đại học Kinh tế quốc dân; iii) TS Nguyễn Thị Thu Hoài, Nghiên cứu viên Viện Xã hội học; iv) ThS Khúc Thị Thanh Vân, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về phát triển; v) CN Nguyễn Trung Dũng, Nghiên cứu viên Viện Phát triển bền vững vùng Tây Nguyên; và vi) Trần Thị Thanh Tuyến, Nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu và
Tư vấn về phát triển
Dự án được chia làm 2 giai đoạn: 1/ Phân tích tài liệu thứ cấp (về các chủ đề được quan tâm)
và 2/ Đánh giá tại thực địa Với cả 2 giai đoạn, nghiên cứu đều tập trung vào tìm hiểu một số chủ trương, chính sách của Chính phủ, các chương trình, dự án can thiệp hoạt động về lĩnh vực giảm nghèo và phát triển cộng đồng trong những năm vừa qua Những nội dung mà nghiên cứu hướng đến là: i) Việc vận dụng các tri thức bản địa trong giảm nghèo và phát triển bền vững; ii) Vấn đề dân chủ cơ sở và chuyển đổi hình thức quản lý ở các địa phương; iii) Làm thế nào để người dân có thể đối mặt tốt nhất trước những cú sốc hay sự thay đổi lớn
do chính sách mang lại; và iv) Các vấn đề liên quan đến giới trong bối cảnh phát triển ở dân tộc thiểu số Thông qua việc tổng hợp, phân tích những bài học kinh nghiệm (thành công cũng như chưa thành công) được đúc kết qua các nguồn tài liệu thứ cấp và đánh giá thực địa, nghiên cứu sẽ xác định những vấn đề cần giải quyết trong cách tiếp cận và lập kế hoạch nên được áp dụng trong các chương trình/dự án trong tương lai
Sau khi khép lại giai đoạn 1 của dự án với bản Báo cáo phân tích tài liệu thứ cấp, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực tế tại 7 dân tộc ở 4 tỉnh: Đắk Nông (dân tộc Mnông và
bộ phận người Hmông di cư tự do), Nghệ An (dân tộc Thái và Khơ-mú), Lai Châu (dân tộc Mảng và bộ phận người Hmông định cư) và Sóc Trăng (dân tộc Hoa và Khmer) Các dân tộc được nghiên cứu thuộc những nhóm ngôn ngữ khác nhau và có mức độ hoà nhập khác nhau Kết quả nghiên cứu thực địa trong khuôn khổ dự án được tập hợp trong các báo cáo độc lập Bản báo cáo tổng hợp được viết dựa trên cơ sở của Báo cáo phân tích tài liệu thứ cấp và các báo cáo nghiên cứu hợp phần
Để thực hiện nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã nhận được sự tài trợ vật chất và tinh thần của Oxfam Hongkong (OHK), sự thúc đẩy nhiệt tình của Nhóm công tác dân tộc thiểu số (EMWG), sự ủng hộ quý báu của chính quyền và nhân dân nhiều địa phương trên cả nước Trước khi bản báo cáo được gửi tới OHK, nhóm nghiên cứu đã nhận được nhiều ý kiến chia
sẻ từ các nhà khoa học thuộc một số lĩnh vực liên quan Nhân dịp này, xin trân trọng cảm ơn
sự giúp đỡ vô giá đó
Nhóm tác giả
Trang 99
TÓM LƯỢC
A Giới thiệu chung về nghiên cứu
Các chính sách dân tộc mà Đảng và Nhà nước đã ban hành trong thời kỳ đổi mới khá toàn diện, tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Nhờ vậy, vùng dân tộc thiểu số đã có bước phát triển quan trọng, cơ cấu kinh tế bước đầu có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đạt được sự tăng trưởng khá; cơ sở hạ tầng ngày càng được cải thiện, đời sống của người dân không ngừng được nâng cao Tuy nhiên, quá trình phát triển cũng bộc lộ những khó khăn, thách thức cần sớm được khắc phục: Tốc độ tăng trưởng vùng dân tộc thiểu số tương đối nhanh song chưa vững chắc, quá trình phát triển
đã và đang nảy sinh những mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản sắc văn hoá riêng và xu thế toàn cầu hoá, hiện đại hoá Nhiều tri thức bản địa (trong sinh kế, quản lý xã hội và đời sống tinh thần) vốn là cơ sở duy trì cuộc sống cộng đồng, cũng là các yếu tố chính tạo nên bản sắc văn hoá tộc người, đã và đang bị mai một hoặc từng bước bị phủ nhận
Trong bối cảnh đó, nghiên cứu này nhằm hướng đến 2 mục tiêu chính: i) Cung cấp thông tin cho các bên liên quan về tính phù hợp (hoặc chưa phù hợp) của quy trình hoạch định và thực hiện các chính sách đối với dân tộc thiểu số sao cho vừa đảm bảo sự ổn định trong phát triển bền vững, vừa bảo tồn được các giá trị văn hoá truyền thống; và ii) Đáp ứng nhu cầu thúc đẩy đối thoại thường xuyên giữa các nhà hoạch định chính sách, chỉ đạo thực hiện chính sách ở cấp trung ương và địa phương; giữa cộng đồng nghiên cứu và các bên liên quan để các khuyến nghị chính sách sẽ có thêm cứ liệu khoa học và thực tiễn
Nghiên cứu được chia làm 2 giai đoạn: i/Phân tích tài liệu thứ cấp; và ii/Đánh giá tại thực địa Các câu hỏi nghiên cứu xuyên suốt được nêu ra trong nghiên cứu là: i) Làm thế nào để duy trì
và sử dụng các kiến thức bản địa như là cơ sở cho các chương trình phát triển; ii) Làm thế nào để tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng người dân tộc thiểu số nói lên mối quan tâm và nhu cầu của họ trước các quan chức địa phương và công chúng; iii) Làm thế nào để cộng đồng người dân tộc thiểu số đối phó tốt nhất với các cú sốc/sự thay đổi lớn về văn hoá và sinh kế; iv) Làm thế nào để các cơ chế của chính phủ phù hợp với sự lãnh đạo truyền thống để phục vụ tốt hơn cho sự phát triển của cộng đồng các dân tộc thiểu số; và v) Câu hỏi tổng quát liên quan đến giới và các chính sách phát triển là: Những nội dung của các chính sách về vai trò giới và quan hệ quyền lực ở cấp độ gia đình và cộng đồng là gì?
Nghiên cứu được thực hiện theo các quan điểm chỉ đạo khoa học chính thức hiện nay của Đảng và Nhà nước Bên cạnh 2 nguyên tắc xuyên suốt: Thượng tôn dân tộc/quốc gia và Khách quan khoa học, nhóm nghiên cứu luôn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc Một số quan điểm nghiên cứu khác cũng được
áp dụng: Tiếp cận hệ thống cấu trúc tổng thể; tiếp cận sinh thái học văn hoá; tiếp cận đa nguyên văn hóa; tiếp cận tương đối văn hoá và tiếp cận nhân học
Lần đầu tiên nghiên cứu áp dụng khung logic hành động của quy trình hoạch định chính sách đối với các dân tộc thiểu số, được xây dựng trên cơ sở theo dõi hoạt động của các nhà hoạch
định chính sách Đồng thời, đây cũng là nghiên cứu đầu tiên áp dụng lý thuyết “Ba điểm tựa
và một chiều tác động đến chủ thể văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam” để phân tích tính
phù hợp của hệ thống mục tiêu/chỉ tiêu trong hệ thống chính sách và các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở cấp Trung ương cũng như các địa phương Với khung phân tích và hệ thống
lý thuyết này, nghiên cứu mong muốn trong tương lai, việc hoạch định các chính sách dân tộc thiểu số không chỉ đơn thuần là công việc của các chiến lược gia, các cơ quan quản lý nhà
Trang 1010
nước với sự tư vấn của giới nghiên cứu phát triển mà còn có sự tham gia tích cực của cả các nhà nghiên cứu cơ bản thuộc các lĩnh vực liên quan như triết học, kinh tế - chính trị học, luật học, nhân học, dân tộc học và văn hoá học
B Những phát hiện chính
1 Đảng và Nhà nước đã có những thay đổi cơ bản trong quy trình hoạch định và ban hành chính sách dân tộc nhưng vẫn còn những khoảng trống về lý luận
Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc có vị trí chiến lược trong đường lối chính sách của Đảng
và Nhà nước song tư tưởng/quan điểm chỉ đạo trong việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc ở mỗi giai đoạn có sự khác nhau nhất định Từ năm 1986 trở về trước, việc hoạch định chính sách dân tộc luôn được làm theo hướng từ trên xuống dưới, từ Trung ương xuống địa phương Chỉ từ sau năm 1986, công tác hoạch định chính sách của Nhà nước mới có những chuyển biến theo phương châm ngày càng dân chủ hơn, phương pháp ngày càng khoa học hơn và tầm nhìn/kế hoạch ngày càng dài hạn hơn
Các văn bản chính sách của Đảng và Nhà nước hiện nay đều đề cao các nguyên tắc: i) Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển Đây là nguyên tắc cơ bản chỉ đạo toàn
bộ quá trình nghiên cứu hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc; ii/ Chính sách
phát triển vùng đồng bào dân tộc và miền núi là một bộ phận hữu cơ của chính sách phát triển đất nước iii) Người dân phải là chủ thể trong thực hiện chính sách dân tộc và cần phát huy tính chủ động, sáng tạo và nội lực của đồng bào các dân tộc; iv) Chính sách dân tộc vừa phải mang tính toàn diện, vừa phải phù hợp với đặc điểm tự nhiên, lịch sử, xã hội, văn hoá của từng vùng, từng dân tộc; v) Tiếp cận liên - đa ngành trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách; và vi) Quán triệt quan điểm phát triển bền vững vùng dân tộc và miền núi
Từ năm 1990 đến nay, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội miền núi và hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số với các mục tiêu chính: i) Phát triển kinh tế, xóa đói - giảm nghèo, nâng cao mức sống đồng bào các dân tộc và ngăn chặn tình trạng suy thoái môi trường sinh thái; ii) Nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc sức khỏe, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào; hoàn thành phổ cập giáo dục trung học
cơ sở; các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số được bảo tồn
và phát triển; iii) Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tại chỗ có phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu của địa phương; củng cố hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh; và iv) Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo an ninh, quốc phòng ở vùng dân tộc và miền núi
Không thể không ghi nhận tính nhân văn cũng như mục tiêu cao cả mà Đảng và Nhà nước mong muốn mang lại cho đồng bào các dân tộc thiểu số Song cũng không vì thế có thể bỏ qua một số vướng mắc có tính lý luận liên quan đến quan điểm, chủ trương đường lối và chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số
1.1 Thiếu sự bổ sung kịp thời cho cơ sở triết học về vấn đề dân tộc thiểu số
Ở Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin được coi là nền tảng lý luận cơ sở, nhưng nhiều năm qua không được bổ sung những nội dung cần thiết để giải quyết vấn đề dân tộc thiểu số dưới góc
độ triết học Cùng với quá trình hội nhập, các phương pháp mới đang được áp dụng ở Việt Nam có phần gần gũi với chủ nghĩa cộng đồng (communitarianism) hơn, chứ không chỉ dựa hoàn toàn vào các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin về mô hình nhà nước cách mạng và chuyên chính vô sản Các câu hỏi được nêu ra từ thực tiễn phát triển đến nay là: i/ Trong hệ thống triết học mà Đảng và Nhà nước đang coi là nền tảng lý luận cơ sở, phạm trù/khái niệm dân tộc thiểu số cần được quan niệm như thế nào? Và ii/ Trong hệ thống chính trị và khung pháp lý của Nhà nước, các dân tộc thiểu số có tư cách như thế nào (là những cộng đồng có
Trang 1111
quan hệ bình đẳng, có tiếng nói ngang hàng với người Kinh hay vẫn là những nhóm người yếu thế, cần có sự giúp đỡ và thúc đẩy phát triển từ bên ngoài; các dân tộc thiểu số có phải là một pháp nhân, một đối tượng của khung pháp lý và phạm vi “Quyền” của các dân tộc thiểu
số phải được xác định đến như thế nào trong khung pháp lý?
1.2 Thiếu sự minh định cần thiết trong các khái niệm về dân tộc và bản sắc văn hoá
Chính vì không giải quyết được vấn đề “dân tộc thiểu số” dưới góc độ triết học, cho đến nay khái niệm “dân tộc/ethnic” chưa thực sự được minh định Thuật ngữ “Dân tộc” ở Việt Nam được hiểu theo 2 nghĩa, Quốc gia (Nation) và tộc người (Ethnic) Các định nghĩa về dân tộc thiểu số được đưa ra trong những năm gần đây đã không còn hoàn toàn chính xác Việc áp dụng các tiêu thức của Nhà nước vào việc xác minh thành phần tộc người đã dẫn đến một số phản ứng tiêu cực của một số cộng đồng người khi tên tự gọi của họ bị phủ nhận Do “tính chất nước đôi” của khái niệm “dân tộc”, công tác quản lý nhà nước gặp nhiều khó khăn
Định nghĩa “Bản sắc văn hóa” được đưa ra trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 (khoá VIII)
của BCHTW Đảng quá chung chung Phạm trù và nội hàm của các thuật ngữ/khái niệm được
đề cập đến trong định nghĩa này đều khó minh định và không thể lượng hoá thành các chỉ tiêu/chỉ số kế hoạch
1.3 Thiếu sự hợp nhất hài hoà giữa quan điểm triết học, quan điểm phát triển và chính sách phát triển
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, dân tộc là một phạm trù lịch sử Điều ấy có nghĩa là, đến một lúc nào đó, ranh giới giữa các dân tộc sẽ bị xoá nhoà, bản sắc văn hóa dân tộc sẽ bị tiêu vong, thay vào đó là những yếu tố văn hóa mang tính quốc tế, tính toàn cầu Trong khi
đó, những năm gần đây, các văn kiện của Đảng và Nhà nước lại luôn nhấn mạnh đến việc bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc, coi đó là một trong những nội dung chính của quan điểm phát triển Vậy tương lai của các dân tộc thiểu số Việt Nam sẽ như thế nào?; Có nhất thiết phải ra sức bảo tồn những giá trị khi biết chắc là sớm muộn gì nó cũng sẽ mất trong tương lai? Với mục tiêu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, các chính sách cần phải hướng đến việc củng cố, bổ sung các cơ sở/điểm tựa của chủ thể văn hoá; nhưng trên thực tế, các chính sách được vạch ra lại có tác dụng ngược lại Tất cả các cơ sở tự nhiên, xã hội và ngưỡng hành vi truyền thống của các dân tộc thiểu số đều bị tổn thương sâu sắc Vì vậy, việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số khó
có thể được coi là một nhiệm vụ khả thi Nhiều giá trị văn hóa hiện nay chỉ tồn tại (hoặc được lưu giữ, bảo tồn) dưới dạng “sân khấu hoá”, không gắn với đời sống tự nhiên của cộng đồng, không thu hút được sự tham gia của người dân
1.4 Sự thiếu đồng bộ của hành lang pháp lý
Khung pháp lý hiện hành của Nhà nước chưa thật sự đủ mạnh để bảo vệ một cách hiệu quả các quyền lợi cơ bản của người dân Cơ chế quản lý nhà nước về đất đai, chủ trương tái cấu trúc dân cư, tổ chức lại bộ máy quản lý nhà nước và các chính sách văn hoá mới đã khiến cho các đơn vị xã hội cơ sở truyền thống của dân tộc thiểu số bị phá vỡ hoặc biến dạng Như vậy, Nhà nước cho phép các dân tộc thiểu số được bảo lưu, giữ gìn bản sắc văn hoá của mình, nhưng lại chưa trao cho họ quyền củng cố các cơ sở hình thành nền văn hoá đó, đồng thời cũng chính là điểm tựa mà các chủ thể văn hoá có thể dựa vào (tự nhiên, cộng đồng thôn làng
và ngưỡng hành vi) để chống lại sự tác động tiêu cực của các yếu tố ngoại lai Một số bộ luật
đã được ban hành có sự thiếu đồng bộ và mâu thuẫn (Luật Đất đai và Luật Dân sự), một số bộ luật khác thiếu các điều khoản bảo vệ các giá trị văn hoá truyền thống hoặc tri thức bản địa của cộng đồng (Luật Di sản văn hoá và Luật Sở hữu trí tuệ) Pháp lệnh Dân chủ cơ sở bộc lộ
nhiều thiếu sót, không xác định được đơn vị xã hội cơ sở và không có chế tài
Trang 121.6 Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp đều thiếu mục tiêu/chỉ tiêu/chỉ số liên quan đến bảo tồn văn hoá dân tộc
Nội dung bảo tồn các giá trị văn hoá bền vững của dân tộc không được thể hiện trong các bản
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở mọi cấp, từ Trung ương đến địa phương Trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, các mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội đều được nêu
cụ thể với hệ thống chỉ tiêu/chỉ số/giải pháp cụ thể Nhưng với lĩnh vực văn hoá, mọi mục tiêu đều chỉ gắn với các loại hình dịch vụ (phát thanh - truyền hình, cung cấp sách báo, ấn phẩm, điện ảnh, sân khấu…) hay các hoạt động văn hoá sự nghiệp (nghiên cứu, khai quật khảo cổ, sưu tầm hiện vật, phát triển hệ thống bảo tàng…); không có bất kỳ hệ thống chỉ tiêu/chỉ số/giải pháp khả thi cụ thể nào nhằm đạt được mục tiêu bảo tồn các giá trị văn hoá như một thực thể sống và biến các giá trị đó thành động lực của tiến trình phát triển như chủ trương đã được đề ra trong các Nghị quyết của Đảng Trong danh mục thống kê của Nhà nước không có các chỉ tiêu phản ánh giá trị văn hoá truyền thống Nhà nước không có bất cứ quy định nào về việc phải đưa các giá trị văn hoá truyền thống vào hệ thống mục tiêu/chỉ tiêu/chỉ số kế hoạch hàng năm Các tri thức bản địa - cốt lõi của văn hoá truyền thống - đều không được tính đến trong khung kế hoạch của các cấp chính quyền từ Trung ương xuống địa phương
2 Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước đã mang lại nhiều kết quả to lớn nhưng cũng tồn tại một số nghịch lý
Do được dành các điều kiện ưu đãi và tập trung nhiều nguồn lực, sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khắc phục những hạn chế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã mang lại những kết quả khả quan Tuy chưa xoá được nghèo, nhưng về cơ bản ở vùng dân tộc thiểu số không còn hiện tượng đói lương thực; bộ mặt kết cấu hạ tầng, đời sống văn hóa, trình độ học vấn, các điều kiện thiết yếu bảo đảm đời sống của người dân đã được cải thiện đáng kể Song công tác đánh giá thực địa cũng chỉ ra nhiều vấn đề tồn tại và nghịch lý
2.1 Các số liệu của tỉnh chưa phản ánh hết diễn biến nghèo ở cấp cơ sở
Quan niệm về nghèo của người dân hiện nay đã khác xa so với 5-10 năm trước Chuẩn nghèo
mà Nhà nước đề ra hiện nay quá thấp và không phản ánh hết quan niệm của người dân về tình trạng nghèo “Nghèo” không còn đồng nghĩa với “đói lương thực” mà đa diện hơn, gắn với nhiều tiêu chí ngoài thu nhập quy thành tiền như sức khoẻ, học vấn, văn hoá…
Một vấn đề nữa cũng không thể không nhắc đến, đó là có sự khác biệt lớn về tốc độ giảm nghèo giữa các dân tộc thiểu số Khả năng tận dụng cơ hội để giảm nghèo của các dân tộc thiểu số thấp hơn nhiều so với người Kinh Từ đó đã dẫn đến một hệ quả tất yếu: Sự giãn cách về mức thu nhập/mức sống giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số Ngay trong nội bộ các dân tộc thiểu số, tốc độ giảm nghèo cũng rất khác nhau Một số ít dân tộc đạt tốc độ giảm nghèo nhanh hơn so với tốc độ chung của cả nước (như người Hoa ở Sóc Trăng); nhưng ở đa
số các dân tộc khác, tỷ lệ hộ nghèo đều cao hơn chỉ số trung bình của cả nước rất nhiều
Trang 132.3 Các chính sách của Đảng và Nhà nước chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo của người dân
Những năm qua, nhà nước đã dành một nguồn lực không nhỏ cho các chương trình, chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và một số khoản trợ cấp xã hội cho người nghèo, đặc biệt cho các nhóm dân tộc thiểu số Bên cạnh những tác động tích cực tới nhiều hộ nghèo, đã manh nha xuất hiện tâm lý trông chờ hưởng lợi thụ động của một số đối tượng Nhiều hộ nghèo thoả mãn với các khoản trợ giúp, trở nên lười lao động và bắt đầu có thái độ ỷ lại, trông chờ vào nhà nước; thậm chí “phấn đấu” thành hộ nghèo hoặc cố xin ở lại dưới ngưỡng nghèo để được hưởng trợ giúp Xu hướng này được nêu lên thành một vấn đề bức xúc tại tất
cả các địa bàn nghiên cứu
2.4 Tạo nhiều tác động không có lợi cho môi trường tự nhiên
Đối với các dân tộc thiểu số, tài nguyên tự nhiên không chỉ là đầu vào của sinh kế, là tư liệu sản xuất mà còn là ký ức lịch sử và luôn có “tính thiêng”, được cộng đồng khai thác, quản lý
và bảo vệ chặt chẽ Với chính sách quốc hữu hoá đất đai, tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên đều được đặt dưới quyền quản lý của nhà nước, quyền quản lý tài nguyên của các thôn làng bị thu hẹp hoặc tước bỏ hoàn toàn Bên cạnh đó, luật tục, các thông lệ xã hội và tri thức cộng đồng về quản lý tài nguyên tự nhiên bị loại bỏ Các chính sách văn hoá mới cũng góp phần không nhỏ vào quá trình “giải thiêng” đối với tự nhiên Vì vậy, người dân đã không còn
ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên; rừng bị chặt phá/khai thác bừa bãi, diện tích che phủ suy giảm đáng kể
2.5 Xu hướng phát triển đẩy nhanh quá trình mai một của văn hóa và chuẩn mực/tổ chức xã hội truyền thống
Quá trình tiếp biến những năm gần đây không chỉ làm thay đổi phương thức sinh kế, mà còn khiến cho các yếu tố văn hoá vật chất như nhà cửa, trang phục của người dân các dân tộc thiểu số bị ảnh hưởng sâu sắc Tình trạng pha trộn giữa cũ và mới phổ biến ở mọi nơi Những giá trị văn hoá phi vật thể cũng bị mai một nhiều Các tiêu chí chuẩn mực xã hội được quy định trong luật tục, thể hiện qua thông lệ xã hội hay dư luận cộng đồng không còn được quan tâm; sức ép của cộng đồng ít có tác động đến hành vi ứng xử của mỗi thành viên Nhiều hoạt động văn hoá tâm linh và loại hình văn nghệ dân gian (lễ hội gầu tào của người Hmông; cồng chiêng, kể khan của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên; hạn khuống, múa xoè của người Thái Tây Bắc…) đã không còn được duy trì trong đời sống cộng đồng
2.6 Tạo tâm lý so bì giữa các đối tượng được hưởng và không được hưởng chính sách
Chính sách của Nhà nước không phải bao giờ cũng được áp dụng thống nhất cho tất cả các đối tượng dân tộc thiểu số Mặt khác, trong cùng một dân tộc, nhưng thuộc những đối tượng khác nhau cũng có mức thụ hưởng chính sách khác nhau Người nghèo thường được nhận nhiều ưu tiên của nhà nước hơn so với các đối tượng còn lại Khoảng cách giữa nhóm nghèo
và cận nghèo thường rất mong manh Nhưng nếu là người nghèo, sẽ nhận được rất nhiều sự
Trang 14Tri thức bản địa là cơ sở để đảm bảo đời sống người dân các dân tộc thiểu số, bình ổn xã hội
và phát triển trong trường kỳ lịch sử Đó cũng chính là những yếu tố cốt lõi của văn hóa truyền thống của mỗi cộng đồng người Các tri thức bản địa biểu hiện ở những khía cạnh chính như kỹ thuật, quản lý cộng đồng và các giá trị tinh thần bền vững
Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển, các tri thức bản địa của người dân các dân tộc thiểu
số đang phải đối mặt với nhiều thử thách: i) Không đủ ứng phó với sự thay đổi quá nhanh của điều kiện sống; ii) Giá trị của tri thức bản địa chưa được nhận thức và đánh giá đầy đủ ở các
cơ quan có quyền ra quyết định; iii) Đối mặt với nguy cơ mai một; iv) Người dân không được bảo hộ về Quyền sở hữu trí tuệ
3.2 Nguyên nhân chủ quan của những thách thức đối với tri thức bản địa
Những thách thức mà hệ thống tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số đang phải đối mặt bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau Về khách quan, không thể không kể đến mức tăng dân số tự nhiên, sự biến đổi khí hậu toàn cầu dẫn đến những thất thường của thời tiết, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và toàn cầu hoá Về chủ quan, những nguyên nhân có tính chất quyết định lại bắt nguồn từ những chính sách xã hội của Nhà nước:
i) Chính sách mới về quản lý đất đai và việc sắp xếp lại lao động với quy mô lớn của Nhà nước giai đoạn nửa sau thế kỷ XX đã không chỉ khiến cho không gian sinh tồn của người dân các dân tộc thiểu số bị thu hẹp mà còn đẩy họ ra khỏi môi trường tự nhiên, không gian văn hóa - xã hội quen thuộc
ii) Chính sách quản lý nhà nước những năm qua đã trực tiếp hay gián tiếp phủ nhận các thiết chế truyền thống, khiến cho cấu trúc tổ chức thôn làng bị phá vỡ, tính cộng đồng bị tổn thương, các thông lệ và chuẩn mực xã hội thay đổi Nhà nước coi các thể chế truyền thống là phi quan phương và dành nhiều nỗ lực để tạo ra những thay đổi xã hội Sự áp đặt các tiêu chí của người Kinh ở miền xuôi lên miền núi và vùng dân tộc thiểu số đã phá vỡ các cơ cấu truyền thống, taọ nên sự bất bình đẳng trong văn hóa
iii) Đức tin của các cộng đồng người bị giải thiêng và áp đặt Một trong những kênh thể hiện rất tập trung tâm thức dân tộc chính là đời sống tinh thần, trong đó có yếu tố tín ngưỡng Các dân tộc thiểu số Việt Nam đều phổ biến nhiều hình thức tôn giáo sơ khai và tin vào quan niệm vạn vật hữu linh Niềm tin tôn giáo phản ánh vũ trụ quan và triết luận nhân sinh của mỗi cộng đồng Đó chính là phần hồn của các thực thể văn hóa mỗi dân tộc, mỗi thôn làng Các lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam là một cấu trúc văn hóa dân gian tổng thể”, không chỉ phản ánh đời sống tâm linh mà còn thể hiện rất rõ các đặc trưng văn hóa của mỗi tộc người Nhưng cuộc cách mạng tư tưởng và văn hóa được tiến hành trong những những năm nửa sau thế kỷ XX đã từng bước giải thiêng đức tin và xoá bỏ những nỗi ám ảnh lâu đời, vốn
là điểm tựa vô hình nhưng rất quan trọng của các chủ thể văn hóa
iv) Hầu hết các chính sách đã được ban hành và thực hiện trong giai đoạn trước năm 1986 đều theo kiếu áp đặt/can thiệp trực tiếp, tác động thẳng đến các chủ thể văn hóa, không tuân theo quy luật thẩm thấu và chọn lọc qua cộng đồng, không cho phép người dân được lựa chọn Với các chính sách như vậy, người dân các dân tộc thiểu số được trang bị các tri thức mới, kỹ năng mới; các quan hệ được mở ra theo nhiều chiều, tầm với ngày càng rộng; lối
Trang 1515
sống của họ ngày càng đa dạng hơn, văn hóa tiêu dùng cũng thay đổi căn bản với nhiều tiện ích hơn Nhưng mặt khác, sự can thiệp của Nhà nước cũng đẩy các chủ thể văn hóa ngày càng xa rời các cơ sở/điểm tựa truyền thống (tự nhiên, xã hội và ngưỡng hành vi) Quá trình này diễn ra nhanh, mạnh, tạo nên sự đột biến/đứt gãy/đổ vỡ văn hóa ở nhiều dân tộc
4 Những vấn đề về sự tham gia
Trước khi chính quyền dân chủ nhân dân được xác lập, thôn làng là tổ chức xã hội cao nhất ở
đa số các dân tộc thiểu số Việt Nam Sự tham gia của người dân trong mỗi thôn làng có sự kết hợp hài hoà giữa hình thức dân chủ đại diện với hình thức toàn dân (thực hiện, giám sát, điều chỉnh) Quá trình tham gia của người dân trong xã hội truyền thống mang tính tự giác cao bởi đó là một trong những quyền lợi sát sườn, đồng thời cũng là một nghĩa vụ bắt buộc gắn với những nỗi ám ảnh thường xuyên Với tư cách là một đơn vị xã hội cơ sở độc lập, các quá trình kinh tế - xã hội của mỗi thôn làng luôn do chính những người dân trong thôn làng quyết định, không có sự áp đặt khuôn mẫu hay can thiệp, cũng không có sự hỗ trợ từ bên ngoài Trong bối cảnh đó, tham gia các công việc của thôn làng vừa đồng nghĩa với quá trình cộng sinh, vừa như một hình thức thoả mãn nhu cầu cộng cảm để từ đó khơi nguồn cho sự sáng tạo nên những giá trị tinh thần Thông qua việc tham gia công việc chung của thôn làng, mỗi người đều cảm thấy được phần nào giải phóng khỏi những nỗi ám ảnh và cảm thấy tự tin hơn Đồng thời, tham gia công việc của thôn làng còn là quá trình chia sẻ, trao truyền các trải nghiệm/kinh nghiệm giữa các thành viên, các thế hệ trong cộng đồng Đó chính là môi trường dung dưỡng, kế thừa, nâng cao hơn nữa năng lực của các tri thức bản địa ở mỗi cộng đồng Ngày nay, mặc dù đã có Pháp lệnh Dân chủ cơ sở nhưng trong thực tế, sự tham gia của người dân ở vùng dân tộc thiểu số hiện có nhiều vấn đề tồn tại: i) Có sự khác biệt ở những nhóm dân tộc khác nhau, nhất là với các dân tộc tương đối cách biệt về địa lý và ngôn ngữ; ii) Nặng tính hình thức, ít có hiệu quả thực tế; và iii) Ngay ở những nơi được triển khai tương đối tốt, vẫn chưa lôi kéo được sự tham gia của những người nghèo, những đối tượng cá biệt
Những trở ngại đối với việc người dân tham gia vào quá trình ra quyết định được bắt nguồn
từ nhiều nguyên nhân:
i) Trong khung pháp lý, dùng thuật ngữ “dân chủ ở cơ sở” để đồng nhất với “dân chủ ở xã/phường/thị trấn” lâu nay là chưa đúng với mục đích yêu cầu của quá trình dân chủ hoá nông thôn Các tổ chức xã hội cơ sở được hình thành trên một cộng đồng dân cư, cộng đồng lãnh thổ bền vững, dưới cấp này không còn một cấp nào khác ở nông thôn hiện nay chính là
thôn làng Do đó, nếu dân chủ ở cơ sở là dân chủ trực tiếp thì thuật ngữ “Dân chủ ở cơ sở”
cần phải được hiểu là quá trình mà người dân làm chủ trước hết từ thôn làng của mình chứ không phải ở cấp xã (phường, thị trấn) Vấn đề này chỉ có thể được giải quyết khi các thôn làng (bản, buôn, ấp, phum/sóc) được định danh và có khung pháp lý phù hợp
ii) Năng lực cán bộ cơ sở còn nhiều hạn chế cũng là một trong những trở ngại chính và là vấn
đề nóng bỏng nhất hiện nay ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Nhiều cán bộ HĐND và UBND xã không được đào tạo về chính trị, về chuyên môn hoặc quản lý nhà nước Họ hoạt động dựa vào kinh nghiệm và uy tín cá nhân Hầu hết trưởng thôn ở các dân tộc thiểu số cũng mới chỉ dừng ở mức độ lớp 4 lớp 5, không lĩnh hội được tinh thần nội dung Dân chủ cơ sở để truyền đạt lại cho người dân
iii) Rào cản ngôn ngữ và các truyền thống xã hội cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho việc thực hiện Dân chủ cơ sở gặp nhiều khó khăn và nguyện vọng của người dân không thể đến được với chính quyền Mặt khác, theo truyền thống của tất cả các dân tộc thiểu số, nam giới bao giờ cũng là người đảm nhiệm việc giao tiếp bên ngoài còn phụ nữ chỉ
lo công việc nội trợ và gia đình mà thôi Điều này xảy ra cả với các cộng đồng theo chế độ
Trang 16v) Các tổ chức hội đoàn quần chúng (Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên…) chưa phát huy được vai trò xã hội và hoạt động kém hiệu quả
vi) Người dân ít/hoặc không tham gia vì họ đã trở nên thiếu tự tin vào chính bản thân mình và cảm thấy bị phân biệt đối xử Họ vốn quen chia sẻ với những người đồng tộc, những người
mà họ tin cậy chứ không phải với những người đến từ các cộng đồng bên ngoài Họ vốn suy nghĩ dựa trên sự quan tâm đối với các lợi ích thiết thực của bản thân, gắn với cộng đồng, được luật tục và thiết chế truyền thống bảo vệ chứ không phải sự áp đặt từ thể chế khác Vì thế, họ lúng túng, bối rối trước sự thay đổi đột ngột trong các phương thức quản lý xã hội mới đối với các nguồn lực tự nhiên, đối với việc luật pháp thay thế luật tục, đối với thể chế mới
mà ở đó các vị trí xã hội truyền thống và người già không còn giữ vai trò quyết định… Bên cạnh đó, không thể không kể đến thái độ kỳ thị của những người đến từ ngoài cộng đồng Thực tế cho thấy, thái độ phân biệt đối xử giữa các dân tộc là hiện tượng có thật, tuỳ vùng, tuỳ bối cảnh quan hệ mà những biểu hiện có thể mang màu sắc và mức độ khác nhau Không chỉ có sự phân biệt giữa người Kinh với người dân tộc thiểu số, mà giữa các dân tộc thiểu số với nhau cũng có sự phân biệt Tâm lý/tư tưởng lấy bản thân và cộng đồng tộc người mình làm trung tâm tương đối phổ biến là nguyên nhân chính dẫn đến thái độ kỳ thị biểu hiện trong ngôn ngữ và hành vi hàng ngày
5 Tình trạng số văn hoá và các bối cảnh tổn thương mới
5.1 Khái niệm sốc văn hoá
Khái niệm “Sốc”, không phải dưới góc độ sinh học mà dưới góc độ kinh tế - văn hoá - xã hội, hiện nay thường được dùng để chỉ trạng thái lo lắng, bất an, rối loạn, bối rối, mất phương hướng của một cá nhân hay cộng đồng trước các tác động của tự nhiên (động đất, thiên tai, bão lũ…) hay do con người gây ra (chiến tranh, sự xâm lăng, sự áp đặt văn hoá - lối sống… của quốc gia này đối với quốc gia khác, cộng đồng này lên cộng đồng khác, cá nhân này lên
cá nhân khác) Một trong những hiệu ứng không mong đợi do việc thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước ở vùng dân tộc thiểu số chính là hiện tượng sốc văn hóa và sự phát sinh những bối cảnh tổn thương mới Hiệu ứng đó có thể để lại những hậu quả lâu dài, rất khó khắc phục Đồng thời, việc khắc phục các bối cảnh tổn thương ở cộng đồng này lại có thể tạo nên những bối cảnh tổn thương mới ở những cộng đồng khác
5.2 Những tác nhân gây sốc hay tạo ra bối cảnh tổn thương của chính sách
i) Tạo bước chuyển đột ngột về điều kiện sinh thái nhân văn: Trường hợp này từng xảy ra trong quá trình vận động người dân các dân tộc thiểu số đang du canh du cư ở các khu vực núi cao và núi giữa xuống núi định cư; hoặc trong các chương trình tái định cư bắt buộc để xây dựng các công trình thuỷ điện - thuỷ lợi Đa số các trường hợp này thường bị điều chuyển đến những vùng đất mới mà ở đó các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thuỷ văn, thảm thực vật…) tương đối xa lạ, không thể áp dụng các kinh nghiệm/tri thức truyền thống để mưu sinh và ổn định cuộc sống
ii) Tạo bước chuyển đột ngột về quyền tiếp cận tài nguyên: Với chính sách đất đai mới, quyền quản lý tài nguyên của các thôn làng bị thu hẹp, người dân không còn được tự do khai
Trang 1717
thác các nguồn tài nguyên tự nhiên để thực hiện các sinh kế của mình Trong bối cảnh nền kinh tế sản xuất chưa kịp chuyển đổi theo hướng chuyên canh, thâm canh, các sinh kế còn lệ thuộc nhiều vào tự nhiên, người dân không khỏi bối rối
iii) Tạo bước chuyển đột ngột trong cơ cấu kinh tế và phương thức canh tác: Các cơ cấu kinh
tế truyền thống luôn bám sát vào tự nhiên, vào kinh nghiệm và khả năng tự điều chỉnh của cộng đồng Các chủ trương chính sách của nhà nước trong mấy chục năm qua đã và đang tác động đến tận gốc rễ của cơ cấu kinh tế này, nhằm đưa chúng ra khỏi tình trạng khép kín, tăng năng lực sản xuất và hạn chế vai trò của tước đoạt tự nhiên Quá trình này diễn ra với nhiều biện pháp đồng bộ: Tổ chức lại sản xuất, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, cung cấp dịch vụ khuyến nông, đầu tư kỹ thuật… Tuy nhiên, do giới hạn về ngôn ngữ, tập quán, thói quen lâu đời của người dân… không phải bao giờ những nỗ lực của nhà nước cũng mang lại hiệu quả như mong đợi Mặt khác, do ở một số địa phương, công tác chuẩn bị chưa được thực hiện chu đáo, người dân thiếu thông tin, nên nhận thức của họ không theo kịp diễn biến của tình hình Mặt khác, các tập quán canh tác cũ đã được hình thành từ rất lâu đời, việc thay đổi không thể chỉ bằng các văn bản chủ trương, chính sách Nó đòi hỏi phải có sự chuẩn bị kỹ càng về nhận thức, tri thức và cả về vật chất cho người dân
iv) Tạo bước chuyển đột ngột về lối sống: Các thôn làng của người dân tộc thiểu số xưa được hình thành ít nhiều mang tính tự phát Nếp sống của mỗi thôn làng được duy trì dựa trên sự thoả thuận, hợp tác giữa các thành viên trong công xã Ý chí, kết quả của sự thỏa thuận đó được thể hiện tập trung trong các bộ luật bất thành văn vẫn được gọi chung là “luật tục” Với các cuộc vận động hạ sơn hay các chủ trương tái định cư bắt buộc, các thôn làng cổ truyền gần như đã bị phá vỡ về cơ cấu và từ trên cơ sở của các mảnh vỡ đó, đã hình thành nên các thôn làng mới không theo mong muốn, thói quen và tập quán mưu sinh của người dân Một
xu thế thay đổi lối sống trong những năm gần đây gắn với quá trình đô thị hoá đang cũng diễn ra ngày một mạnh mẽ ở tất cả các vùng dân tộc thiểu số Bước chuyển đột ngột từ nông dân/nông thôn sang thành cư dân thành thị khiến cho nhiều người bị sốc Các thói quen gắn với không gian thoáng đãng của đồng ruộng, vườn ao (đôi khi có phần tuỳ tiện và cẩu thả) của người nông dân không phải một sớm một chiều có thể thay đổi được
v) Tạo bước chuyển đột ngột trong cơ chế quản lý xã hội: Đối với đa số các dân tộc thiểu số,
tổ chức xã hội truyền thống cao nhất là buôn, sóc, bản, làng (gọi chung là thôn làng), dựa trên
cơ sở của bộ máy tự quản được hình thành do dân cử với các tiêu chí quan trọng nhất là tuổi tác, kinh nghiệm và uy tín Cơ sở vận hành của các thể chế tự quản thôn làng chính là luật tục, các thông lệ và cả những ngưỡng hành vi Khi thiết lập chế độ dân chủ nhân dân, các yếu
tố văn hoá truyền thống trong quản lý cộng đồng thôn làng đã không được bảo lưu Các nguyên tắc quản lý xã hội đã và đang thay đổi tận cùng gốc rễ Vốn quen với cuộc sống tự quản, có quyền tự do tiếp cận các nguồn tài nguyên để thực hành sinh kế, mọi hành vi ứng xử đều tuân theo các quy định của luật tục được để lại từ nhiều đời, không phải người dân nào cũng dễ dàng thích ứng được với hệ thống pháp luật nhà nước Thêm vào đó, sự bất đồng ngôn ngữ cũng đem đến cho họ những trở ngại rất lớn trong việc nhận biết cơ cấu, vai trò của từng vị trí trong thể chế mới, các quy định mới Chính vì thế, không ít người dân tỏ ra bối rối trước sự thay đổi này
vi) Sức ép của kinh tế thị trường và văn hoá tiêu dùng mới: Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, người dân các dân tộc thiểu số đã ít nhất phải đối mặt với những sự thay đổi lớn trong cơ cấu
tổ chức quản lý kinh tế Họ thực sự bị choáng trước 2 thách thức rất lớn: 1/ Nền kinh tế mà
họ đang tham dự không còn mang tính chất khép kín, tự cấp tự túc như xưa nữa Muốn cải thiện nâng cao được đời sống, hay ít nhất là cũng thoát cảnh nghèo đói, không thể duy trì các truyền thống cũ; và 2/ Sự xuất hiện của các tiện ích mới đã làm thay đổi tận gốc rễ văn hoá tiêu dùng của người dân vốn chủ yếu dựa vào các sản phẩm nông nghiệp tại chỗ và sản vật tự
Trang 1818
nhiên Điện thắp sáng, các phương tiện đi lại (xe máy, xe đạp), nghe nhìn (Radio, TV, đầu VIDEO, đầu đĩa), các mặt hàng nhu yếu phẩm công nghiệp (xà phòng, thuốc đánh răng, bánh kẹo, mỳ ăn liền, thuốc lá điếu, rượu bia ) đã khiến cho người dân choáng ngợp, nhất là đối
với lớp trẻ
5.3 Diễn biến sau sốc và bối cảnh bị tổn thương
i) Sự thay đổi các chuẩn mực xã hội: Bên cạnh tác động tích cực, các chính sách can thiệp Nhà nước còn dẫn đến sự thay đổi các chuẩn mực xã hội và làm biến dạng một số giá trị văn hoá truyền thống Mỗi dân tộc, mỗi thôn làng đều có các quan niệm, các tiêu chí/chuẩn mực khác nhau trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, ứng xử, đạo đức… được quy định trong luật tục, trong gia quy của dòng họ hay trong các thông lệ, cũng có thể ẩn tàng trong suy nghĩ, tâm thức của từng lớp người Trong thể chế xã hội mới, phần lớn các chuẩn mực xã hội
cũ bị phủ nhận, văn hoá truyền thống bị đổ vỡ, đồng nghĩa với việc mất đi sức đề kháng trước ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai, mất đi các thang giá trị, chuẩn mực đạo đức và phương pháp giáo dục truyền thống Đó cũng là nguyên nhân tất yếu dẫn đến sự “đứt gãy” văn hóa, suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận thanh niên dân tộc thiểu số hiện nay
ii) Các ngôn ngữ hành vi, xung đột và bạo loạn: Ngôn ngữ hành vi là hình thức phản ứng một cách tiêu cực của người dân trước các thay đổi của bối cảnh xã hội mới Khi không thể cất lên tiếng nói của mình, người dân đã phản hồi bằng chính những hành động trái ngược với các quy định chung Các ngôn ngữ hành vi mang tính tự phát và khá phổ biến ở tất cả các vùng dân tộc thiểu số Có rất nhiều cách thức biểu hiện khác nhau của ngôn ngữ hành vi Đó
có thể là nạn uống rượu tràn lan, là sự bất hợp tác của một bộ phận dân chúng đối với chính quyền cơ sở, là sự hình thành các nhóm xã hội phi quan phương, là việc âm thầm trở lại với những giá trị và phương thức sinh nhai cũ… Bên cạnh các ngôn ngữ hành vi, còn có những mâu thuẫn/xung đột xã hội trong mọi lĩnh vực (sở hữu, kinh tế, chính trị, tôn giáo - tín ngưỡng…), với nhiều hình thức (ẩn tàng, khiếu kiện kéo dài, khiếu kiện tập thể, bạo loạn…)
và quy mô khác nhau
iii) Phân cực xã hội và sự hình thành các chủ thể văn hóa mới xa rời truyền thống: Xã hội truyền thống các dân tộc thiểu số vốn mang tính cộng đồng cao, giữa các thành viên dễ dàng tìm kiếm sự cảm thông, chia sẻ Ở nhiều dân tộc, cho đến trước ngày chính quyền cách mạng được thiết lập còn chưa có sự phân hoá giai cấp; sự phân hoá giàu nghèo cũng chỉ có tính chất tương đối/ước lệ Việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước đã nhanh chóng phá vỡ các đặc điểm đó, dẫn đến sự phân cực và hình thành những nhóm xã hội mới chủ yếu dựa trên quan hệ lợi ích, có sự khác biệt đáng kể trong khả năng tiếp cận các nguồn lực (cả tự nhiên, xã hội và tài chính), các dịch vụ công và điều tất yếu dẫn đến là sự khác biệt trong thu nhập và mức sống Trên cơ sở đó, các chủ thể văn hóa hiện nay đã và đang bị biến dạng, xa rời các điểm tựa và tiêu chí truyền thống
6 Một số kiến nghị và giải pháp
6.1 Những giải pháp chung
i) Giải quyết những vấn đề cơ bản trong lý luận và hành lang pháp lý liên quan đến dân tộc thiểu số trong bối cảnh mới: Hội đồng lý luận Trung ương cần tổ chức thực hiện các nghiên cứu cơ bản để minh định vấn đề dân tộc thiểu số dưới góc độ triết học, bổ sung vào hệ thống
lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc/ethnic trong mối quan hệ với dân tộc/Nation Trên cơ sở bổ sung các quan điểm lý luận, Quốc hội cũng cần có
sự tu chỉnh một số bộ luật cho chặt chẽ hơn, nhất là các bộ luật liên quan đến lĩnh vực xã hội
và văn hoá Quốc hội cần sớm ban hành Luật Kế hoạch, trong đó quy định rõ các mục tiêu/chỉ tiêu/chỉ số liên quan đến việc bảo tồn văn hoá các dân tộc; chỉ đạo ngành thống kê lượng hoá các chỉ tiêu/chỉ số trong mục tiêu bảo tồn văn hoá để phục vụ công tác lập kế
Trang 1919
hoạch của các cấp nhà nước Mặt khác, Quốc hội cũng cần có sự bổ sung cần thiết để Pháp lệnh Dân chủ cơ sở dễ vận dụng và có thể đạt hiệu quả như mong đợi; định dạng cụ thể cho cấp thôn làng để khai thông những vướng mắc hiện nay đang tồn tại trong quá trình thực hiện
và xu thế tương lai Chỉ khi nào hiểu rõ được tâm lý của các dân tộc thiểu số thể hiện qua nền văn hoá của họ, mới có thể dễ dàng đưa các chủ trương/chính sách xuống mà không sợ tạo nên các cú sốc hay làm tổn thương môi trường xã hội vốn có của họ và giảm thiểu đến mức tối đa các hiệu ứng không mong đợi Vì thế, trong việc đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội hay hiện trạng của các vùng dự án (chính phủ và phi chính phủ) cần chú trọng tìm hiểu các yếu tố văn hoá, tâm lý tộc người trước khi đề xuất kế hoạch khả thi Hơn nữa, phát triển vùng dân tộc thiểu số không thể không tính đến các tri thức bản địa phù hợp, coi đó là một trong những ưu tiên hoặc lợi thế so sánh để lập kế hoạch cho tương lai
Không chỉ có các đặc trưng văn hoá tộc người, văn hoá Việt Nam còn là sự thống nhất của các tiểu vùng văn hoá - những dạng thức mang tính chất liên văn hoá ở các tiểu vùng lãnh thổ
có sinh thái khác nhau Văn hoá vùng là kết quả của quá trình lịch sử lâu dài, những đặc trưng của nó đã trở thành truyền thống khá ổn định, truyền từ đời này sang đời khác và luôn giữ vai trò là tảng nền cho sự phát triển xã hội của địa phương Các truyền thống đó phần nhiều còn phù hợp và giữ vai trò tích cực trong sự phát triển xã hội hiện nay Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng không phải không có những mặt hạn chế, lỗi thời, thậm chí trở thành vật cản cho sự phát triển xã hội Do vậy, việc nhận thức văn hoá vùng, các truyền thống văn hoá địa phương có ý nghĩa thiết thực cho việc định hướng phát triển trong hiện tại và tương lai của mỗi vùng, mỗi địa phương Các chủ trương, chính sách chung, khi được hoạch định và triển khai cần tính đến yếu tố đặc thù của mỗi vùng hay tiểu vùng văn hoá để có kế hoạch tương
thích và cách tiếp cận hợp lý
iv) Cần tuân thủ các quy trình theo hướng cộng đồng: Phát triển lấy cộng đồng làm định hướng cũng có nghĩa là sẽ phải xây dựng tốt “quan hệ đối tác” giữa các bên tham gia Nhà tài trợ (Chính phủ và các NGO) không chỉ có các động thái tăng cường công tác tài chính mà còn cần đẩy mạnh các tổ chức cộng đồng có trách nhiệm và thu hút được sự tham gia rộng rãi của người dân Cộng đồng cần được nhận sự hỗ trợ tham gia qua việc tạo điều kiện tiếp cận thông tin, cần được tạo môi trường thuận lợi qua sự gắn kết giữa các tổ chức quan phương và phi quan phương Thay vì hoạch định chính sách và lập kế hoạch dựa vào sự phán đoán và ý
Trang 2020
tưởng chủ quan của một bộ phận có quyền ra quyết định, cần có sự tham gia của các nhà khoa học, các tư vấn chính sách và tổng hợp ý kiến/nguyện vọng của người dân Để đạt được điều đó, người dân các dân tộc thiểu số cần tham gia vào các công đoạn: i/ Khảo sát, đánh giá; ii/ Xây dựng chính sách; iii/ Tiếp cận/chia sẻ và phản hồi thông tin; iv/ Xây dựng kế hoạch hành động và khung theo dõi/giám sát/đánh giá; v/ Cùng hành động và chịu trách nhiệm đối với các chương trình/chính sách; vi/ Theo dõi/giám sát và điều chỉnh chính sách; vii/ Phân chia việc hưởng lợi từ các chương trình/chính sách mà nhà nước đầu tư thực hiện v) Nâng cao năng lực thực hành ở địa phương: Những bất cập về năng lực của cán bộ cần sớm được khắc phục để thoả mãn nhu cầu của phát triển Đây cũng là một trong những điều kiện đảm bảo cho người dân được hưởng đầy đủ các quyền lợi của mình Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đó, trong những năm qua, các dự án tài trợ của các tổ chức phi chính phủ và các nhà tài trợ khác đã rút ra nhiều kinh nghiệm về phương pháp và nội dung đào tạo, xây dựng năng lực cho cán bộ xã, thôn, cán bộ khuyến nông, lãnh đạo các tổ chức của nông dân Thế nhưng hầu hết các hoạt động này vẫn có xu hướng thiên về tổ chức đào tạo theo hợp đồng để thoả mãn nhu cầu trước mắt chứ không giải quyết vấn đề cơ bản và lâu dài là làm thế nào để tăng cường năng lực quản lý và kỹ thuật một cách bền vững ở cấp xã và thôn bản Để khắc phục tình trạng này, Nhà nước cần mở rộng khuôn khổ hệ thống đào tạo chính thức, thông qua các trường chính trị cấp tỉnh và cấp huyện; đa dạng hoá các hình thức đào tạo, đối tượng đào tạo; đổi mới chương trình đào tạo, phương pháp truyền đạt cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn và trình độ tiếp thu của các học viên
vi) Cần chú ý đến năng lực tiếp nhận của người dân: Một mặt, Chính phủ vừa phải tìm các biện pháp nâng cao học vấn thông qua các chương trình quốc gia về giáo dục, đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số, coi đó là mục tiêu, cũng là giải pháp lâu dài để phục vụ phát triển bền vững Nhưng mặt khác, cũng cần tìm ra các giải pháp trước mắt, nhằm đưa các chính sách về với người dân một cách dễ hiểu nhất và kéo họ tham gia vào các chương trình, dự án cụ thể Có thể tham vấn những đề xuất mà nhóm nghiên cứu ghi nhận được từ các địa phương: i) Tăng cường đội ngũ cán bộ cấp huyện và xã là người dân tộc thiểu
số để tối đa hoá khả năng giao tiếp với người dân; ii) Khuyến khích các cán bộ là người Kinh công tác ở vùng dân tộc thiểu số học tiếng dân tộc, coi đó là một trong những điều kiện để đề bạt/xét nâng ngạch lương; iii) Đổi mới phương pháp và hình thức tập huấn, tuyên truyền ở vùng dân tộc thiểu số; thay vì các bài giảng mang tính kinh viện, có phần giáo điều, nên tăng cường phương thức thị phạm, cầm tay chỉ việc; thay vì những tập tài liệu dày dặn có rất nhiều chữ, cần bổ sung các hình thức tài liệu hình vẽ, tranh ảnh, panô/áp phích
vii) Tăng cường công tác theo dõi, giám sát: Công tác theo dõi, giám sát ở các địa bàn tham vấn hiện còn rất nhiều bất cập, chưa đạt được kết quả như mong đợi và chưa đáp ứng được sự
kỳ vọng của nhân dân Từ những thách thức và nguyên nhân đã được nêu ở phần trên, những giải pháp chính cần được xem xét để nâng cao hiệu quả hoạt động và tác dụng của công tác theo dõi/giám sát là: 1/ Sớm ban hành quy chế, quy trình nhằm tăng cường sự phối hợp của các bên tham gia; 2/ Tổ chức các lớp tập huấn, các chương trình đào tạo phù hợp nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ tham gia công tác theo dõi/giám sát; 3/ Xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp sai phạm được phát hiện trong quá trình theo dõi/giám sát; 4/
Có chính sách đãi ngộ phù hợp đối với các cán bộ tham gia theo dõi/giám sát; 5/ Cải tiến các hình thức, phương pháp truyền tin để tăng khả năng giám sát của các cơ quan chuyên môn;và 6/ Tăng cường công tác chỉ đạo đối với hoạt động theo dõi/giám sát ở mọi cấp độ
6.2 Một số biện pháp cần thực hiện để tri thức bản địa trở thành cơ sở của công tác lập kế hoạch phát triển bền vững
i) Đối với việc nghiên cứu, vận dụng các tri thức bản địa trong sinh kế, trước hết cần thay đổi
về nhận thức, xác định rằng, tri thức bản địa là một trong những nguồn tài nguyên quí giá, là
Trang 2121
cơ sở của sự hiểu biết về nhiều lĩnh vực Những kiến thức này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà khoa học, các nhà lập kế hoạch phát triển bền vững Nó cần được xem xét và so sánh với kiến thức hiện đại để từ đó xác định những khía cạnh bổ ích hoặc có thể cải tiến thông qua công nghệ mới Nhưng đồng thời, cũng cần hiểu rằng, mặc dù đã chứng tỏ được giá trị trong nhiều trường hợp, song không phải tất cả các tri thức bản địa đều đưa ra được giải pháp bền vững cho những vấn đề sinh kế phát sinh ngày nay Tri thức bản địa không nên được vận dụng và quảng bá khi chưa được xem xét thận trọng dưới nhiều góc độ khác nhau (lợi thế so sánh, khả năng ứng dụng, mức độ phổ cập, mạng lưới dịch vụ và nhu cầu thị trường) Cũng không nên tách kiến thức bản địa ra khỏi bối cảnh hình thành mà phải đặt nó trong bối cảnh của từng dân tộc, từng địa phương mới có thể phát huy giá trị Các giải pháp mang tính địa phương luôn phải được xét trong từng bối cảnh cụ thể Đối với một dự án phát triển, việc xác định một phương pháp hoàn toàn bản địa hay đã được xen lẫn với kiến thức từ bên ngoài du nhập vào, được bản tộc hoá/bản địa hoá là không quan trọng Thay vì việc tìm hiểu nguồn gốc, cần tập trung tìm hiểu xem cộng đồng đó đã có những gì; từ đó có những phương cách trợ giúp các giải pháp kỹ thuật cho người dân để sử dụng kiến thức được coi là thích hợp và
có ích vào phát triển bền vững
Thứ hai, cần đảm bảo các điều kiện cho nghiên cứu - ứng dụng Khó khăn lớn nhất hiện nay phải kể đến việc tìm kiếm, phát hiện các tri thức bản địa còn tiềm ẩn, phục hồi các tri thức có nguy cơ bị mất Thực tế, có nhiều tri thức bản địa hiện chưa có điều kiện xác định và đánh giá chính xác do các khó khăn về nhân lực thực hiện, địa lý, giao thông và tài chính Đã đến lúc Nhà nước, các cơ quan liên quan và các địa phương cần quan tâm đúng mức đến kế hoạch bảo tồn, ứng dụng các tri thức bản địa vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, từng vùng, từng dân tộc nói riêng; tránh hiện tượng nghiên cứu đơn lẻ, cục bộ, phân tán Việc nghiên cứu dĩ nhiên cần tiến hành với sự tham gia của những người sở hữu kiến thức bản địa và cộng đồng địa phương trong khu vực Bên cạnh đó, cần phải có sự cổ vũ
về mặt tinh thần vì những kiến thức địa phương thường ít được áp dụng hơn so với khoa học
kỹ thuật phương Tây trong cả lĩnh vực phát triển cũng như khoa học Một trong những điều kiện tiên quyết của toàn bộ quá trình thu thập, ứng dụng và phổ biến kiến thức bản địa là sự tham gia đầy đủ của người dân địa phương Điều này chỉ có thể đạt được khi cộng đồng địa phương được tham gia với một vị trí tương xứng Vì vậy, nếu việc duy trì hệ thống kiến thức truyền thống được ủng hộ tích cực thì vấn đề xây dựng đội ngũ và nâng cao năng lực nhân sự trở thành vấn đề then chốt và thiết yếu Đây cũng chính là nhược điểm cần khắc phục ở Việt Nam, nếu chúng ta muốn biến tri thức bản địa thành nền tảng cơ sở của phát triển bền vững ở vùng dân tộc thiểu số Đó chính là quá trình kiện toàn tổ chức và đào tạo nhằm trang bị tốt hơn cho người dân các dân tộc thiểu số cũng như các nhà khoa học để họ có thể tiến hành nghiên cứu, ứng dụng các tri thức bản địa vào thực tiễn Điều này chỉ có thể đạt được khi có
sự cộng tác giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức thế giới và người dân
Thứ ba, cần có chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với tri thức bản địa Nhận thức về giá trị của kiến thức bản địa, đặc biệt là khả năng đóng góp của nó vào phát triển bền vững và xoá đói giảm nghèo, đang dần được nâng cao Cũng chính vào lúc này, nhiều câu hỏi quan trọng đang được đặt ra: Ai sở hữu những kiến thức bản địa và ai có thể sử dụng chúng? Ai quyết định việc sử dụng những kiến thức đó và sử dụng như thế nào, cho mục đích gì? Những người sở hữu kiến thức bản địa được hưởng những lợi ích gì? Và ai là người bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các tri thức bản địa cho cộng đồng các dân tộc thiểu số?
Việc sử dụng tri thức truyền thống đem lại lợi ích đáng kể về kinh tế, văn hóa, xã hội cho mỗi quốc gia Vấn đề quan trọng đang đặt ra hiện nay là cần phải có các công cụ pháp lý hữu hiệu
để bảo vệ các tri thức truyền thống đó Liên quan đến vấn đề này, nhiều tài liệu đã đề cập đến các phương cách khác nhau Tuy nhiên, muốn bảo hộ được quyền sở hữu trí tuệ của cộng
Trang 2222
đồng đối với các tri thức bản địa, cần có các khung pháp lý cụ thể, chi tiết hơn Cần đưa các tri thức bản địa vào phạm vi điều chỉnh của Luật Di sản văn hóa và điều chỉnh Luật Sở hữu trí tuệ theo chiều hướng có lợi cho người dân Đồng thời, phải có được bộ máy hành pháp, tư pháp đủ mạnh để đảm bảo các quyền của người dân đối với tri thức bản địa luôn được tôn trọng đầy đủ
ii) Đối với việc nghiên cứu, vận dụng những tri thức trong quản lý xã hội, trước hết cần xác định bản chất của thôn làng hiện đại Trước khi đề xuất các phương pháp thực hành cụ thể, cần phải có sự thống nhất nhận thức trong quan điểm chỉ đạo và sự pháp lý hoá các quan điểm nhận thức đó về bản chất của đơn vị thôn làng và thiết chế tổ chức thôn làng hiện nay Vấn đề đặt ra đòi hỏi phải giải đáp trước khi có được sự định hướng là: Thôn làng có vị trí như thế nào trong bộ máy nhà nước và bản chất của nó là gì? Là một cấp hành chính, là một đơn vị xã hội tự quản hay chứa đựng cả yếu tố hành chính và tự quản? Cách hiểu có vẻ như
dễ được chấp nhận nhất hiện nay là sự thừa nhận về nguyên tắc tính chất của một đơn vị xã hội cơ sở có quyền tự quản cao Nhưng thực tế, tính chất tự quản của thôn làng đã bị biến đổi đáng kế Về mặt pháp lý, hiện nay thôn làng không phải là một đơn vị hành chính lãnh thổ, không phải là một cấp chính quyền mà chỉ là đơn vị tụ cư mang tính truyền thống, tự nhiên;
là nơi thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân nhưng không hoàn toàn là một đơn vị
tự quản Mặt khác, dường như cũng sẽ rất khó xác định được ranh giới, mức độ ảnh hưởng của phạm trù “tính chất tự quản” với “thể chế hành chính” trong các thôn làng - những trường hợp nào thì được hành xử như một đơn vị tự quản và trường hợp nào thì được coi là một đơn
vị hành chính Sự chậm trễ trong xác định quan điểm về vấn đề này đã gây nên những cản trở nhất định trong quá trình triển khai một số chủ trương, chính sách của Nhà nước
Thứ hai, cần có các biện pháp tái xác lập tính cộng đồng của thôn làng Thôn làng là một đơn
vị mang tính cộng đồng cao, thể hiện ở nhiều yếu tố: Cộng cư, cộng sinh, cộng đồng văn hoá, tâm linh tín ngưỡng… Rời khỏi môi trường cộng đồng, các thành viên trở nên thiếu tự tin Bị phá vỡ tính cộng đồng, quan hệ trong các thôn làng trở nên lỏng lẻo, rối loạn và mất khả năng chống chịu trước các áp lực đa chiều của một nền kinh tế đầy biến động và một xã hội mà sự bùng nổ thông tin đang kéo mỗi người ra khỏỉ sự khép kín để hoà vào với thế giới rộng lớn Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử trong thời hiện đại, cơ cấu thôn làng các dân tộc thiểu số đã
có nhiều thay đổi Một trong những hệ quả của những thay đổi đó chính là sự suy giảm của tính cộng đồng Vai trò của các cá nhân có quyền lực (những người có lợi thế về điền sản, những người có địa vị xã hội) và cả các nhóm xã hội phi quan phương có lợi thế về điền sản đang ngày càng lấn lướt Họ không chỉ chi phối các thể chế truyền thống mà thậm chí còn có thể ảnh hưởng đến thể chế nhà nước Vì thế, muốn tận dụng các lợi thế của văn hoá thôn làng, trong đó có tri thức quản lý cộng đồng, vào việc thúc đẩy tăng trưởng, trước hết cần phải tái xác lập và bảo lưu tính cộng đồng thôn làng với tư cách là một cộng đồng cư trú với những điều kiện và khả năng phát triển phù hợp phong tục tập quán của từng dân tộc; một cộng đồng có chung đặc điểm tâm lý, ý thức nguồn cội thể hiện qua các đặc trưng văn hoá, phong tục, tập quán mang tính dân chủ, bình đẳng theo quan niệm cộng đồng và luật pháp; một cộng đồng tâm linh lành mạnh, thể hiện trên các phương diện tín ngưỡng, tôn giáo Thứ ba, cần xây dựng Quy ước thôn làng nhằm khắc phục các bất cập về thể chế: Một trong những vấn đề bức xúc hiện nay ở các thôn làng chính là sự tồn tại song hành của 2 thể chế nhưng chưa đạt hiệu lực cần thiết trong việc điều chỉnh các hành vi và giữa 2 thể chế đó có những khoảng trống có thể lợi dụng để trục lợi cá nhân Muốn khắc phục được tình trạng đó, việc xây dựng một bản Quy ước thôn làng có sự kết hợp giữa các yếu tố luật tục truyền thống với cơ sở luật pháp là cần thiết Trên cơ sở của khung pháp lý, các bản Quy ước thôn làng phải phản ánh những đặc trưng văn hoá của từng dân tộc, từng vùng văn hoá Các điều khoản của Quy ước sẽ là khung điều chỉnh hành vi cho hoạt động của mọi thành viên trong thôn
Trang 2323
làng Để bản Quy ước thôn làng có hiệu lực cần thiết, bên cạnh những căn cứ pháp luật, cần
có sự tham vấn người dân, nhất là các già làng và các trưởng tộc của mỗi dòng họ Tiếp thu ý kiến của những người này sẽ khắc phục được sự bất cập trong việc tận dụng các yếu tố tích cực của phong tục, tập quán Đồng thời, sự tham gia của đông đảo người dân còn đảm bảo cho việc củng cố mối liên kết cộng đồng và sự bình đẳng giữa các dòng họ trong thôn làng Thông qua hoạt động này, có thể giúp người dân tìm lại được sự tự tin bởi tiếng nói của họ đã được trân trọng
Thứ tư, cần tăng cường và đổi mới hình thức đối thoại với người dân: Trên nền tảng của Pháp lệnh Dân chủ cơ sở, cần có các biện pháp thực tế, hiệu quả tạo điều kiện cho người dân được tham gia quá trình ra quyết định trong chiến lược phát triển thôn làng, cả về kinh tế - xã hội
và văn hoá Muốn vậy, Nhà nước cần bổ sung khung pháp lý (trong Pháp lệnh Dân chủ cơ sở, Luật Di sản văn hoá, xây dựng Luật Kế hoạch…) để xác lập cơ chế cụ thể về sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai thực hiện, theo dõi và đánh giá các chương trình/dự án đầu tư Bảo đảm nguyên tắc thực sự trao quyền cho người dân từ lựa chọn mục tiêu, phân bổ nguồn lực đến tổ chức thực hiện, kiểm tra; bảo đảm tính minh bạch, phổ biến công khai rõ ràng của các quyết định, chủ trương của Nhà nước về xóa đói giảm nghèo, các đối tượng và lĩnh vực được thụ hưởng ưu đãi đầu tư hỗ trợ; bảo đảm công bằng, hiệu quả và bền vững trong việc phân bổ, xây dựng các dự án đầu tư và duy trì được năng lực, người hưởng lợi được tự chủ
Trang 24mà vùng dân tộc thiểu số đã có bước phát triển quan trọng, cơ cấu kinh tế bước đầu có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đạt được sự tăng trưởng khá; cơ sở
hạ tầng ngày càng được cải thiện, đời sống của người dân không ngừng được nâng cao Theo đánh giá của các cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc và nghèo đói (Uỷ ban Dân tộc,
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) cũng như các tổ chức quốc tế (Ngân hàng Thế giới, các tổ chức phi chính phủ…), bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số cũng bộc lộ những vấn đề cần sớm được khắc phục Tốc độ tăng trưởng vùng dân tộc thiểu số tương đối nhanh song chưa vững chắc, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, mức chênh lệch về đời sống giữa đồng bào dân tộc thiểu số và người Kinh
có xu hướng ngày càng tăng, sự tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ xã hội cơ bản như
y tế, giáo dục còn nhiều hạn chế Đặc biệt, trong quá trình phát triển, ở vùng dân tộc thiểu số
đã và đang nảy sinh những mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản sắc văn hoá riêng và xu thế toàn cầu hoá, hiện đại hoá Nhiều tri thức bản địa (trong sinh kế, quản lý xã hội và đời sống tinh thần) vốn là cơ sở duy trì cuộc sống cộng đồng, cũng là các yếu tố chính tạo nên bản sắc văn hoá tộc người, đã và đang bị mai một hoặc từng bước bị phủ nhận
Thực tế ấy đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu nhằm tìm ra một quy trình có tính chất nguyên tắc hay ít nhất cũng là một khung lý thuyết cho quá trình xây dựng kế hoạch và thực hiện các dự án phát triển ở vùng miền núi và dân tộc, sao cho vừa đảm bảo được sự phát triển bền vững, ổn định, ít rủi ro; vừa giúp cho người dân giữ được các đặc trưng văn hoá riêng của mình Đồng thời, quá trình phát triển ấy phải được diễn ra trong bối cảnh mà ở đó nguyên tắc có sự tham gia của người dân luôn được đề cao, những bất bình đẳng về giới được giảm thiểu đến mức thấp nhất
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, nhằm cung cấp thông tin cho các bên liên quan về tính phù hợp (hoặc chưa phù hợp) của quy trình hoạch định và thực hiện các chính sách đối với dân tộc thiểu số Qua phân tích tính logic trong các văn bản chính sách cũng như những bằng chứng xác thực thu thập được tại các địa bàn điền dã, chỉ ra sự bất cập và đề xuất các khuyến nghị giải pháp khắc phục để đảm bảo vừa phát triển bền vững kinh tế - xã hội, vừa bảo tồn được các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc thiểu số
Thứ hai, nhằm đáp ứng nhu cầu thúc đẩy đối thoại thường xuyên giữa các nhà hoạch định chính sách, chỉ đạo thực hiện chính sách ở cấp trung ương và địa phương; giữa cộng đồng nghiên cứu và các bên liên quan Từ hoạt động đối thoại, các khuyến nghị chính sách sẽ dựa nhiều hơn vào cơ sở khoa học và thực tiễn Việc chấp nhận đối thoại sẽ khuyến khích giới nghiên cứu nhanh nhạy hơn, bắt kịp nhu cầu của các nhà hoạch định chính sách; bản thân các nhà hoạch định chính sách cũng quan tâm, sử dụng nhiều hơn các khuyến nghị dựa trên những đề xuất được nêu ra trong các báo cáo nghiên cứu của giới khoa học
Trang 2525
1.3 Các câu hỏi nghiên cứu chính
Quá trình phân tích về các vấn đề đang được đặt ra trong thực tiễn phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, có rất nhiều yếu tố đã được đề cập đến Tuy nhiên, trong khuôn khổ của dự
án này, chúng tôi sẽ chỉ hướng đến giải quyết các vấn đề được coi là then chốt, nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
Làm thế nào để duy trì và sử dụng các kiến thức bản địa như là cơ sở cho các chương trình phát triển?
Làm thế nào để tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng người dân tộc thiểu số nói lên mối quan tâm và nhu cầu của họ trước các quan chức địa phương và công chúng?
Làm thế nào để cộng đồng người dân tộc thiểu số đối phó tốt nhất với các cú sốc/sự thay đổi lớn về văn hoá và sinh kế?
Làm thế nào để các cơ chế của chính phủ phù hợp với sự lãnh đạo truyền thống để phục vụ tốt hơn cho sự phát triển của cộng đồng các dân tộc thiểu số?
Câu hỏi tổng quát liên quan đến giới và các chính sách phát triển là: Những nội dung của các chính sách về vai trò giới và quan hệ quyền lực ở cấp độ gia đình và cộng đồng là gì?
1.4 Quan điểm tiếp cận
Nghiên cứu được thực hiện theo các quan điểm chỉ đạo khoa học chính thức hiện nay của Đảng và Nhà nước Bên cạnh 2 nguyên tắc xuyên suốt: Thượng tôn dân tộc/quốc gia và Khách quan khoa học, nhóm nghiên cứu luôn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc: Coi con người là “tổng hoà các mối quan hệ xã hội” và “mọi người đều có quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Các thực thể xã hội đều vận động, biến đổi theo các quy luật chung nhất được chỉ ra trong các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng tham chiếu một số quan điểm hiện đang được giới khoa học
xã hội Việt Nam quan tâm xung quanh vấn đề phát triển bền vững và đảm bảo lợi ích của các dân tộc thiểu số trên cả bình diện kinh tế, môi trường cũng như văn hoá, xã hội:
- Tiếp cận hệ thống cấu trúc tổng thể: Coi mỗi dân tộc, mỗi xã hội, mỗi nền văn hoá, mỗi
thôn làng…là một hệ thống cấu trúc tổng thể bao gồm các thành tố có quan hệ chi phối, tác động lẫn nhau và quan hệ đa chiều với tự nhiên và xã hội Mỗi sự thay đổi của môi trường (tự nhiên và xã hội) hay sự can thiệp từ bên ngoài vào đều có thể ảnh hưởng tới một hay nhiều thành tố văn hoá và vì vậy cũng có thể ảnh hưởng đến cấu trúc văn hoá tổng thể
- Tiếp cận sinh thái học văn hoá: Hệ thống lý thuyết chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa môi
trường tự nhiên và văn hóa, trong đó môi trường tự nhiên đặc thù là cơ sở cho việc hình thành các mô hình văn hóa khác nhau Kiểu văn hóa của mỗi tộc người được tạo ra là do nguồn tài nguyên và những giới hạn của môi trường xung quanh trong quá trình biến đổi thường xuyên Tiếp cận sinh thái học văn hóa, giúp nhà nghiên cứu lý giải được những yếu tố văn hóa khác nhau giữa các vùng miền, từ đó đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đó tới hệ thống kinh tế - văn hoá - xã hội của cộng đồng dân cư tại mỗi vùng sinh thái khác nhau Từ khái niệm “Văn hoá” và lý thuyết “Sinh thái học văn hoá”, nhà nghiên cứu có thể có căn cứ lý giải các hiện tượng được coi là “Đồng quy văn hóa” (các dân tộc sinh sống trong cùng điều kiện tự nhiên thường có sự tương đồng về văn hóa) hay “Tiếp biến văn hóa” (các dân tộc khác nhau về nguồn gốc lịch sử và điều kiện sinh sống nhưng vẫn có thể có chung những đặc trưng văn hoá do thường xuyên tiếp xúc và biến đổi)
Trang 2626
- Tiếp cận đa nguyên văn hóa: Mọi nền văn hóa đều có cơ chế mở và các dân tộc đều có
quan hệ giao lưu từ rất sớm; vì thế, bên cạnh các yếu tố nội sinh, luôn có quá trình tiếp thu, tích hợp các yếu tố đến từ bên ngoài để làm giàu vốn văn hóa bản tộc Các tri thức bản địa của mỗi dân tộc ngày nay đều là kết quả của sự tích hợp giữa các yếu tố văn hóa nội sinh với các kiến thức được du nhập từ bên ngoài
- Tiếp cận tương đối văn hoá: Thuyết tương đối văn hóa khẳng định sự bình đẳng của tất cả
các kiểu văn hóa, phủ nhận sự phân biệt các hệ thống giá trị văn hóa; hướng tới chống lại cách giải thích sự phát triển văn hóa lịch sử, lấy châu Âu là trung tâm, nhấn mạnh tính độc đáo của các văn hóa địa phương Các nhà khoa học theo thuyết này cho rằng, thế giới chúng ta vốn tồn tại nhiều nền văn hoá khác nhau và mỗi nền văn hóa đều có tính độc đáo rất riêng của nó, vì vậy chỉ có sự khác biệt về văn hóa chứ không có sự phân biệt nền văn hóa nào cao hơn nền văn hóa nào
- Tiếp cận nhân học văn hóa: Hiểu theo nghĩa rộng nhất, nhân học là ngành khoa học
nghiên cứu về bản chất con người, xã hội loài người quá khứ và hiện tại Nhân học sử dụng những khám phá, những tri thức của các ngành khác kết hợp với những dữ liệu của Nhân học để làm rõ vai trò của từng yếu tố như sinh thái tự nhiên, kinh tế, dòng họ và gia đình, tín ngưỡng và tôn giáo… cũng như sự tương tác giữa các yếu tố đó như thế nào để tạo nên đời sống con người Nhân học là ngành học toàn diện mang tính liên ngành và là một khoa học so sánh đối chiếu
1.5 Khung đánh giá và lý thuyết nghiên cứu
Việc đánh giá đối với các hệ thống chính sách nói chung chỉ có thể thực hiện nếu xác định được chuỗi logic từ tư duy lý luận đến hành động thực tiễn Vì thế, nhóm nghiên cứu đã tổng hợp quy trình ban hành chính sách đối với các dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước trong những năm qua, từ đó dựng nên “Khung logic hành động” làm công cụ để phân tích Lật ngược Khung logic hành động, bằng cách xoay lại chiều mũi tên và đặt các câu hỏi về tính phù hợp, sẽ có “Khung đánh giá”
Đồng thời, nghiên cứu cũng áp dụng lý thuyết “Ba điểm tựa và một chiều tác động đến chủ thể văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam” để phân tích hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu, chỉ số của chính sách và các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Đây là khung lý thuyết mới được đề xuất, nhằm xác lập các mối quan hệ phụ thuộc vào các cơ sở/điểm tựa và bối cảnh của các tác động từ bên ngoài đến các chủ thể văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam1
1
Lý thuyết “Ba điểm tựa và một chiều tác động của chủ thể văn hoá các dân tộc thiểu số” do TS Mai Thanh Sơn đề xuất từ năm 2007, chỉ mới được áp dụng cho nghiên cứu này và một vài nghiên cứu thí điểm khác như nghiên cứu về sự biến đổi của văn hoá các buôn làng dân tộc thiểu số tại chỗ ở Đắk Lắk (do Viện Phát triển bền vững vùng Trung bộ chủ trì) hay nghiên cứu về chính sách đất đai ở Việt Nam (do Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường thực hiện) Cho đến nay, lý thuyết này chưa được phổ biến rộng rãi
Thực tiễn phát triển
Chính sách phát triển
Phương pháp phát triển
Quan điểm phát triển
Quan điểm triết học
Dân tộc thiểu số
Trang 2727
Theo lý thuyết này, Con người - với tư cách là một chủ thể/thực thể văn hóa - là tập hợp, là
trung tâm (đồng thời cũng là những mắt xích ngoại biên của những Con người khác) của tất
cả các mối quan hệ liên đới trong mọi lĩnh vực và khía cạnh đời sống như môi trường tự nhiên, sở hữu, tổ chức xã hội, chuyển giao thế hệ (bao gồm cả tái sản xuất con người và trao truyền kỹ năng), các chế tài, sự kiểm soát, sự răn đe, đức tin, những nỗi ám ảnh, sự sợ hãi… Điều hiển nhiên, Con người trước hết là sản phẩm tự nhiên, là một phần của tự nhiên Nhưng ngay cả với tư cách là một Chủ thể văn hóa, Con người cũng không tách khỏi tự nhiên, không đối lập với tự nhiên Hơn thế nữa, đối với các dân tộc thiểu số, khi nền kinh tế chưa bị ảnh hưởng nhiều của thị trường, mức độ quan hệ với tự nhiên càng sâu sắc Cuộc đời của họ gắn chặt với đất, với rừng, với nước, với cỏ cây, muông thú Đó là những yếu tố đầu vào cơ bản
để các sinh kế được thực hiện Họ thích ứng, tìm hiểu, tìm cách khai thác và luôn khát khao chinh phục tự nhiên Quá trình đó được lặp đi lặp lại hàng năm theo chu kỳ đắp đổi mùa vụ của thời tiết khí hậu Từ đó, những hiểu biết của con người về tự nhiên được đúc kết và tích luỹ ngày một nhiều hơn, phương thức thích ứng với tự nhiên ngày một tốt hơn, các kỹ năng khai thác tự nhiên ngày càng thích hợp hơn, việc quản lý tự nhiên ngày một hợp lý hơn Không chỉ thuộc về tự nhiên, mỗi con người còn luôn thuộc về một cộng đồng nào đó: Cộng đồng huyết tộc (dòng họ và nhóm thân - thích tộc), cộng đồng tộc người (ethnic) và cộng
Ngưỡng hành vi
Cộng đồng thôn làng
Con người:
- Kỹ năng
- Lối sống
-Ngưỡng hành vi
Tác động ngoại lai được chủ thể văn hóa chắt lọc, tái tạo và bản tộc hoá Đồng thời, văn hóa bản tộc cũng phát tán, lan toả và ảnh hưởng đến các tộc người khác
Thời gian
Trang 2828
đồng thôn làng Đối với các dân tộc thiểu số Việt Nam, cộng đồng thôn làng có vị trí đặc biệt quan trọng Đó là tổ chức xã hội cơ sở, thuộc loại hình công xã láng giềng, tập hợp của các thành viên thuộc nhiều dòng họ khác nhau trên một địa vực cư trú được xác định là sở hữu chung Cư dân trong mỗi thôn làng cổ truyền đều thuộc về một thành phần dân tộc (ethnic), nói chung một thứ tiếng (cộng đồng ngôn ngữ), dễ dàng chia sẻ với nhau về mọi vấn đề, có chung những niềm tin và cùng có những lúc thăng hoa về tinh thần (có thể hiểu đó là quá trình giải toả những ẩn ức/phát tiết tinh anh để rồi từ đó sáng tạo nên hệ thống văn nghệ dân gian với nhiều thể loại khác nhau nhằm thoả mãn nhu cầu của đời sống tinh thần/nội tâm) Sự vận hành của mỗi thôn làng luôn được duy trì trên cơ sở của luật tục, được điều hành bởi bộ máy tự quản hoạt động không vụ lợi nhưng hiệu quả vì luôn nhận được sự ủng hộ của cộng đồng và được giám sát bởi cộng đồng
Ngưỡng hành vi là tập hợp những quan niệm của cộng đồng về giới hạn cho phép đối với mỗi Con người Đó có thể là những quan niệm liên quan đến đời sống tinh thần và tâm linh; có thể là đức tin, là sự sợ hãi, sự răn đe của các thông lệ, phong tục tập quán; cũng có thể là nỗi
ám ảnh về đạo đức, về các chuẩn mực xã hội và lòng tự trọng Đối với các dân tộc thiểu số Việt Nam, đây là một trong những chỗ dựa vô hình nhưng lại có tác động rất lớn đến đời sống và nhân cách của mỗi Con người
Ba điểm tựa của chủ thể/thực thể văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số có quan hệ chặt chẽ và hoà quyện với nhau Mỗi cộng đồng luôn sống trong một điều kiện tự nhiên thuộc phạm vi lãnh thổ được xác định và được các cộng đồng khác chấp nhận từ nhiều đời Tự nhiên gần gũi nhưng cũng luôn kỳ bí Người ta luôn cố tìm cách thích ứng và cũng luôn mang trong mình khát khao chinh phục nó Khi biên độ hiểu biết của con người được nới rộng, thì đồng thời, những bí ẩn của tự nhiên cũng trở nên rộng lớn hơn Vì thế, những nỗi ám ảnh do
tự nhiên mang lại không bao giờ hết Mỗi cánh rừng, mảnh đất, ngọn suối, con sông, cổ thụ đều là chỗ dựa vật chất hoặc tinh thần; nhưng cũng có thể trở thành nguy cơ, là nỗi ám ảnh và được linh thiêng hoá Chính trên nền cảnh của các môi trường tự nhiên cụ thể, các loại hình văn hóa tương thích đã được hình thành: Sự hiểu biết và phương cách thích ứng, các truyền thống kỹ thuật, các mô hình - kinh nghiệm quản lý xã hội và con người, sự thăng hoa và cả những nỗi ám ảnh Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã coi khuôn vi tự nhiên của mỗi thôn làng
là “không gian sinh tồn” hay “không gian văn hóa - xã hội”
Quyền sở hữu đối với các nguồn lực tự nhiên trong phạm vi lãnh thổ mỗi thôn làng luôn thuộc về tập thể cộng đồng Để bảo vệ quyền sở hữu ấy, đã có những “thoả ước” trong phạm
vi cộng đồng và kết quả của nó chính là các bộ luật tục và thông lệ xã hội được duy trì từ nhiều đời Việc đảm bảo các quyền của mỗi thành viên trong công xã luôn được coi là một trong những tiêu chí đạo đức và chuẩn mực ứng xử xã hội Để luật tục hay các thông lệ được duy trì và có hiệu lực cần thiết, các thiết chế tự quản được hình thành Hoạt động của các thành viên trong thiết chế tự quản xưa không chỉ chịu sự giám sát của cộng đồng mà còn bị ràng buộc bởi nỗi ám ảnh về sự giám sát của thần linh, các thế lực siêu nhiên và mặc cảm đạo đức gắn với lòng tự trọng Chính vì thế, mặc dù hoạt động phi lợi nhuận, nhưng các thành viên trong bộ máy tự quản xưa đều có ý thức trách nhiệm cao Đối với người dân, ý thức về
sự tuân thủ chặt chẽ luật tục và các thông lệ đã trở thành nếp sống tự giác Trái với điều đó, người ta có thể bị cộng đồng ruồng bỏ và đó cũng là nỗi ám ảnh thường xuyên đối với mỗi người Thậm chí, ở nhiều dân tộc (như các dân tộc thiểu số ở Trường Sơn - Tây Nguyên), bị xua đuổi khỏi cộng đồng còn là nỗi ám ảnh lớn nhất, đáng sợ nhất; bởi lẽ, một cá nhân nào đó khi đã bị cộng đồng của mình loại bỏ, sẽ không có bất cứ cộng đồng nào khác chấp nhận; họ
sẽ phải sống cô đơn, lang thang vô định trong rừng và chết trong sự quên lãng
Nhưng không chỉ có sự ám ảnh về đạo đức xã hội, về sự ràng buộc của luật tục hay phong tục tập quán, mỗi chủ thể văn hóa còn luôn có những nỗi ám ảnh khác cũng không kém phần sâu
Trang 2929
sắc Đó là đức tin, là niềm tin vào thần linh, ma quỷ hay sự chết Người ta luôn tin rằng, thần linh và ma quỷ là những thế lực siêu hình có mặt ở khắp nơi, có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi cộng đồng, mỗi con người; có thể mang lại cho người ta niềm sung sướng, nỗi đau khổ, sự sống hay cái chết
Bên cạnh ba cơ sở/điểm tựa, các chủ thể văn hoá còn luôn chịu ảnh hưởng của yếu tố tác động/can thiệp đến từ bên ngoài Thực tế cho thấy, môi trường văn hóa của các dân tộc thiểu
số Việt Nam không đóng kín, mọi cộng đồng đều có sự giao lưu với các nền văn hóa khác Quá trình này bắt đầu từ sơ kỳ lịch sử và kéo dài liên tục cho đến nay với chiều hướng ngày càng nhanh, càng mạnh Với sự hỗ trợ của các tiện ích hiện đại (phương tiện giao thông, mạng thông tin toàn cầu…), trong bối cảnh CNH-HĐH-TCH, các dân tộc đang xích lại gần nhau với tốc độ ngày một nhanh hơn Vì thế, bản thân các chủ thể văn hóa cũng luôn thay đổi theo nhiều cách Nếu quá trình tác động của văn hóa ngoại lai diễn ra tự nhiên, bình đẳng, có trình tự lớp lang, có sự thẩm thấu, chắt lọc của cộng đồng; được cộng đồng chấp nhận, dung hoà, tái tạo và kết hợp với các yếu tố nội sinh, đó sẽ là sự làm giàu cho văn hóa truyền thống Các nhà văn hóa học gọi đó là quá trình Tiếp biến văn hóa (Acculturation) Nhưng nếu đó là
sự áp đặt, sự can thiệp thô bạo, đó sẽ là con đường huỷ diệt đối với các nền văn hóa chịu sự tác động Hiện tượng đó được coi là Cưỡng bức văn hóa hoặc Đồng hoá (Acculturate) Nó luôn có thể tạo nên các cú sốc văn hóa và là nguyên nhân của xung đột hay tiềm ẩn những nguy cơ xung đột
Dựa vào mô hình trên đây, chúng ta có thể dễ dàng hình dung rằng, mỗi Con người - chủ thể/thực thể văn hóa chỉ có thể là chính mình khi anh ta được sống trong bối cảnh mà các quan hệ điểm tựa truyền thống được duy trì; sự tiếp thu các yếu tố văn hóa ngoại lai diễn ra từ
từ, có sự chọn lọc, tái tạo và bản tộc hoá qua quy trình thẩm thấu cộng đồng Điều ấy cũng có nghĩa là, văn hóa của một cộng đồng nào đó chỉ có thể tồn tại và phát triển như một dòng chảy liên tục, có trao truyền/thừa kế, tiếp thu có chọn lọc để làm giàu và nâng cao, nếu các cơ sở/điểm tựa được duy trì, bổ sung và củng cố Ngược lại, nếu các điểm tựa bị phá vỡ, chủ thể/thực thể văn hóa sẽ bị biến dạng; văn hóa truyền thống của các cộng đồng người sẽ bị xoá
bỏ hay chí ít cũng bị tổn thương
Từ hệ thống lý thuyết này, có 2 vấn đề cơ bản được đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách
và làm công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở mọi cấp: i) Một chính sách can thiệp chỉ được coi là phù hợp cho cả 2 mục tiêu Phát triển bền vững và Bảo tồn văn hóa nếu
nó đồng thời quan tâm đến việc củng cố các điểm tựa của chủ thể văn hóa; và ii) Trong công tác lập kế hoạch, bên cạnh các mục tiêu/chỉ tiêu/chỉ số liên quan đến Phát triển, còn cần phải
có các mục tiêu/chỉ tiêu/chỉ số với những giải pháp cụ thể cho khía cạnh Bảo tồn
1.6 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu văn bản lịch sử: Rà soát các Nghị quyết, văn kiện của Đảng; Hiến pháp và hệ thống văn bản pháp quy của các cơ quan Nhà nước; các văn bản chính sách, thông tư hướng dẫn, các báo cáo đánh giá việc thực hiện chính sách dân tộc thiểu
số Tham khảo các đề tài đã được thực hiện trong nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu phát triển liên quan đến nội dung đề tài
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu phát triển về những vấn đề mà dự án quan tâm (thông các buổi hội thảo và những buổi phỏng vấn sâu)
- Phương pháp nhân học - dân tộc học, bao gồm cả việc sử dụng bộ công cụ PRA: Thông qua nghiên cứu tham dự, quan sát và phỏng vấn sâu để tìm hiểu/đánh giá việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong những năm qua ở một số địa phương đại diện cho các vùng miền trên cả nước, một số dân tộc thuộc các nhóm ngôn
Trang 3030
ngữ và lịch sử cũng như quá trình tộc người khác nhau Sử dụng một số công cụ PRA (như thảo luận nhóm, cây vấn đề…) để tìm ra những bất cập trong việc hoạch định và thực thi chính sách, từ đó tìm các biện pháp khắc phục
1.7 Các nguồn tư liệu và tiến trình thực hiện nghiên cứu
Trong giai đoạn 1 của dự án, nhóm nghiên cứu đã tiến hành tập hợp, đọc và phân tích hơn
200 tài liệu khác nhau Nguồn tài liệu thứ cấp được tham khảo và đưa ra phân tích chủ yếu
mà Đảng và Nhà nước chủ trương Đổi mới/Mở cửa)
- Các tài liệu cơ sở - cơ bản về phát triển và phát triển bền vững
- Các báo cáo đánh giá về thực trạng kinh tế - văn hoá - xã hội ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số
- Các báo cáo đánh giá sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chủ trương, chính sách, dự án (chính phủ và phi chính phủ)
- Các nghiên cứu/đánh giá về hệ thống chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước đã được thực hiện trước đó
Kết quả nghiên cứu của giai đoạn 1 đã được viết thành một báo cáo độc lập Trong bản báo cáo đó, một số kết luận quan trọng đã được rút ra và nội dung cần nghiên cứu tại thực địa cũng đã được đề xuất Sau khi các đề xuất của giai đoạn 1 được chấp nhận, nghiên cứu điền
dã được tiến hành tại 4 tỉnh có nhiều dân tộc thiểu số đại diện cho 4 vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống: Bắc (tỉnh Lai Châu), Trung (tỉnh Nghệ An), Tây Nguyên (tỉnh Đắk Nông) và Nam (tỉnh Sóc Trăng) Các dân tộc thiểu số ở những địa phương này đại diện cho nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn và có những sự khác biệt nhất định trong việc thụ hưởng hay tận dụng các cơ hội phát triển từ các chính sách của Nhà nước Với mỗi địa phương, sau khi làm việc tại tỉnh, nhóm tư vấn đã đến làm việc ở
1 huyện, mỗi huyện chọn 2 xã, mỗi xã chọn 1 thôn/ấp làm đối tượng đánh giá Để có được góc nhìn tổng quát/toàn diện, ở mỗi tỉnh, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thảo luận và phỏng vấn sâu với nhiều nhóm xã hội/đối tượng khác nhau: i/ Các cán bộ chủ chốt ở những cơ quan liên quan đến công tác dân tộc thiểu số hoặc có chức năng theo dõi/giám sát/đánh giá việc thực hiện chính sách dân tộc (ở cả 3 cấp: Tỉnh, huyện và xã); ii/ Các cán bộ tổ chức thực hiện chính sách dân tộc thiểu số ở cấp xã và thôn/ấp; và iii/ Những người dân thuộc nhiều thành phần khác nhau (nam/nữ, giàu/nghèo, người Kinh/người dân tộc thiểu số và nhóm những người yếu thế như phụ nữ đơn thân, người tàn tật) Kết quả nghiên cứu thực địa cung cấp các điển cứu để khẳng định hay phủ nhận các giả định được đưa ra sau khi phân tích tài liệu thứ cấp và là cơ sở quan trọng cho việc viết báo cáo cuối cùng
Báo cáo tổng hợp của dự án là sự tích hợp, đối sánh giữa việc phân tích tài liệu thứ cấp với các kết quả đánh giá tại thực địa Ngoài tài liệu thực địa thu thập được ở 7 dân tộc đang sinh sống tại 4 tỉnh mà OHK lựa chọn để thực hiện các hợp phần nghiên cứu ngay từ đầu (Mnông, Hmông, Mảng, Thái, Khơ-mú, Khmer và Hoa), nhóm tác giả còn sử dụng các tư liệu về dân tộc Raglai ở tỉnh Ninh Thuận và người Pakoh ở tỉnh Quảng Trị Đây là kết quả của các cuộc nghiên cứu do hệ thống tổ chức Oxfam chủ trì, được thực hiện bởi các tư vấn đến từ Viện Khoa học xã hội Việt Nam (VASS)
Trang 3131
Trong quá trình thực hiện dự án, việc tham vấn chuyên gia cũng được coi là 1 trong những phương pháp ưu tiên Vì thế, sau khi có kết quả phân tích các tài liệu thứ cấp và những đề xuất cho nghiên cứu thực địa, OHK đã tổ chức các cuộc Hội thảo nhằm tham khảo ý kiến các bên liên quan, trong đó có các chuyên gia về xây dựng và thực hiện chính sách Trước khi được đệ trình, bản báo cáo cuối cùng cũng được thảo luận ở những cấp độ khác nhau
II TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU
SỐ CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC 2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc thiểu số
Trong diễn trình phát triển, Đảng và Nhà nước luôn coi vấn đề dân tộc và công tác dân tộc có
vị trí chiến lược trong đường lối chính sách Kể từ khi mới thành lập đến nay, các Văn kiện của ĐCSVN đều đề cập đến các nhiệm vụ cần phải làm để giải quyết vấn đề dân tộc và công tác dân tộc cho từng giai đoạn cụ thể Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thống nhất các dân tộc trong một khối đại đoàn kết là một trong những nhiệm vụ hàng đầu để đảm bảo cho thắng lợi cuối cùng Phần lớn diện tích miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số từ Bắc vào Nam đã luôn là căn cứ địa cách mạng Người dân các dân tộc thiểu số luôn sát cánh chiến đấu cùng nhân dân cả nước Khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Đảng và Chính phủ đã luôn coi việc phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một vấn
đề có tính chất chiến lược; vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, vừa là cơ sở đảm bảo an ninh chính trị, sự ổn định xã hội và toàn vẹn lãnh thổ Từ sự nhất quán trong nhận thức, chính sách đối với các dân tộc thiểu số luôn là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước trong mọi thời kỳ Tất cả các bản Hiến pháp của nhà nước cách mạng Việt Nam (khai sinh năm 1945 là nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, từ năm 1976 là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đều thừa nhận các quyền cơ bản của người dân các dân tộc thiểu số Điều 5, Chương I, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ban hành ngày 25 tháng 12 năm 2001, khẳng định:
“Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc
cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam
Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc
Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình
Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số”
2.2 Bước chuyển biến trong quy trình ban hành chính sách dân tộc
Mặc dù luôn coi trọng công tác dân tộc, nhưng tư tưởng/quan điểm chỉ đạo của Đảng trong việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc ở mỗi giai đoạn có sự khác nhau nhất định
Từ năm 1986 trở về trước, việc hoạch định chính sách dân tộc luôn được làm theo hướng từ trên xuống dưới, từ Trung ương xuống địa phương Các chính sách này nằm trong hệ thống
chính sách chung của một cơ chế mà sau này thường gọi là “tập trung, quan liêu, bao cấp”
Người dân các dân tộc thiểu số hầu như không được tham gia vào việc hoạch định các chính sách hay chiến lược phát triển cho chính bản thân mình Chỉ từ sau năm 1986, nhất là từ khi Đảng đề ra chủ trương phát triển miền núi2, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, từng bước nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc miền núi, góp phần phát triển kinh tế - xã hội
chung của cả nước và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ “Về một số chủ trương chính
2
Trong Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị BCHTW Đảng, Khoá VI, ngày 27/11/1989
Trang 3232
sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi”3, công tác hoạch định chính sách của Nhà nước mới có những chuyển biến nhất định Đánh giá về việc hoạch định chính sách dân tộc giai đoạn này, nhiều nghiên cứu cùng có chung nhận định:
Nhìn chung, định hướng công tác dân tộc của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam trong những năm qua đã thể hiện tầm nhìn có tính chất chiến lược, lâu dài, toàn diện, hợp lý, đảm bảo tính nhân văn, với phương châm ngày càng dân chủ hơn, phương pháp ngày càng khoa học hơn và kế hoạch ngày càng dài hạn hơn Việc hoạch định chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay đã thể hiện được tính linh hoạt trong việc vận dụng các cơ sở lý luận và thực tiễn Bên cạnh việc đề cao những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những lý thuyết có tính chất phổ biến toàn cầu về phát triển và phát triển bền vững cũng đã được xem xét áp dụng Về mặt cơ sở thực tiễn, việc xây dựng phần lớn các chủ trương, chính sách đã tương đối bám sát vào những nhận định sát thực, khách quan của diễn biến tình hình từng vùng, từng dân tộc hay nhóm dân tộc Các cơ sở thực tiễn (các dân tộc thiểu số phân bố xen kẽ nhau trên diện rộng, có trình độ phát triển không đồng đều về kinh tế
- xã hội, có đời sống khó khăn, có sắc thái văn hoá đa dạng, có chung vận mệnh lịch sử ) đã được nhận thức đúng4
Kết quả phân tích và tổng hợp tài liệu thứ cấp cho thấy, các văn bản chính sách của Đảng và Nhà nước hiện nay đều đề cao các nguyên tắc cơ bản: i) Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển Đây là nguyên tắc cơ bản chỉ đạo toàn bộ quá trình nghiên cứu hoạch định chính sách dân tộc và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc, nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tất cả các dân tộc phát triển bình đẳng về mọi mặt trong đời sống xã hội; chống mọi biểu hiện chia rẽ, kỳ thị dân tộc, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, tự ti dân tộc ; đảm bảo sự bình đẳng trong quan hệ lợi ích giữa các dân tộc; bảo đảm cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc, làm đa dạng và phong phú nền văn hoá Việt Nam thống
nhất ii/ Chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc và miền núi là một bộ phận hữu cơ của
chính sách phát triển đất nước iii) Người dân phải là chủ thể trong thực hiện chính sách dân tộc và cần phát huy tính chủ động, sáng tạo và nội lực của đồng bào các dân tộc; iv) Chính sách dân tộc vừa phải mang tính toàn diện, vừa phải phù hợp với đặc điểm tự nhiên, lịch sử,
xã hội, văn hoá của từng vùng, từng dân tộc; v) Tiếp cận liên - đa ngành trong hoạch định và
tổ chức thực hiện chính sách; và vi) Quán triệt quan điểm phát triển bền vững vùng dân tộc
và miền núi [Báo cáo phân tích tài liệu thứ cấp, tháng 10/2007]
2.3 Các nội dung chính sách chủ yếu
Trên cơ sở của chủ trương và các nguyên tắc chung, từ năm 1990 đến nay, bên cạnh việc tăng cường xây dựng hành lang pháp lý, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội miền núi và hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số Nội dung của các chính sách đó nhằm vào các mục tiêu chính như: i) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng quan hệ sản xuất mới; ii) Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; ii) Đầu tư tài chính để kích cầu và hỗ trợ phát triển sản xuất; iv) Nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ; v) Phát triển văn hóa, y tế và giáo dục; vi) Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số; vii) Tái tạo và bảo vệ môi trường sinh thái; và viii) Hỗ trợ trực tiếp nhằm nâng cao đời sống Đối với một số vùng đặc biệt khó khăn hoặc với các dân tộc có dân số ít, Nhà nước còn có những chính sách riêng, cụ thể hơn nhằm đẩy nhanh quá trình thu hẹp khoảng cách với các địa phương và các dân tộc khác Có thể kể ra những ví dụ như Chương trình 120 của Chính phủ
về xây dựng các xã tuyến biên giới phía Bắc, Dự án hỗ trợ phát triển dân tộc có dân số ít và đặc biệt khó khăn như La Hủ, Si La, Mảng, Pu Péo, Cờ Lao; Chương trình 132 hỗ trợ đất sản
3 Quyết định số 72/1990/QĐ-CP, ban hành ngày 13/3/1990
4
Trần Văn Thuật, Hoàng Công Dũng (2005): Tài liệu nghiên cứu Xây dựng chính sách dân tộc, Ủy ban Dân
tộc - UNICEF
Trang 3333
xuất cho đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên; ở tỉnh Sóc Trăng (và các tỉnh Tây Nam bộ) có Chương trình 74 về việc hỗ trợ đất sản xuất, chuyển đổi ngành nghề; Chương trình hỗ trợ Internet và Dự án điện cho đồng bào dân tộc Khmer, v.v…
Tháng 3 năm 2003, tại Hội nghị lần thứ 7, BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá IX, một Nghị quyết về công tác dân tộc đã được ban hành, xác định các mục tiêu cơ bản trong phát triển vùng dân tộc và miền núi đến năm 2010 Cho đến nay, việc thực hiện các mục tiêu đó vẫn đang được thực hiện bằng nhiều hệ thống chính sách, giải pháp khác nhau (chính trị - pháp luật, kinh tế - tài chính, khoa học - kỹ thuật, y tế, giáo dục, truyền thông, cán bộ…) và liên tục được bổ sung bằng các Nghị quyết mới của Đảng và Chính phủ
Hộp 1: Các mục tiêu cơ bản trong phát triển vùng dân tộc và miền núi đến năm 2010
“i) Phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống đồng bào các dân tộc Đến năm 2010, các vùng dân tộc và miền núi cơ bản không còn hộ đói; giảm hộ nghèo xuống dưới 10%; giảm dần khoảng cách chênh lệch mức sống giữa các dân tộc, các vùng; trên 90%
hộ dân có đủ điện, nước sinh hoạt; xóa tình trạng nhà tạm, nhà dột nát; 100% số xã có đường ô-tô đến trung tâm xã; cơ bản không còn xã đặc biệt khó khăn; hoàn thành cơ bản công tác định canh, định cư; chấm dứt tình trạng di cư tự do; giải quyết cơ bản vấn đề đất sản xuất cho nông dân thiếu đất ; ngăn chặn tình trạng suy thoái môi trường sinh thái; ii) Nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc sức khỏe, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào; hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo; đẩy mạnh việc dạy và học chữ dân tộc Hầu hết đồng bào nghèo vùng sâu, vùng xa được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng dân tộc Phấn đấu 90% đồng bào được xem truyền hình; 100% được nghe đài phát thanh; các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số được bảo tồn và phát triển; iii) Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tại chỗ có phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu của địa phương; củng cố hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh; nâng cao vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc tham gia thực hiện tốt chính sách dân tộc; và iv) Giữ vững an ninh, quốc phòng ở vùng dân tộc và miền núi; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo an ninh, quốc phòng ở các địa bàn xung yếu vùng sâu, biên giới, ngăn chặn việc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để phá hoại khối đoàn kết giữa các dân tộc, làm mất ổn định xã hội”
Nếu tính từ năm 1990, ở vùng dân tộc thiểu số đã có rất nhiều chính sách/chương trình/dự án/đề án được thực hiện Có thể kể đến các chương trình chính như: Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo; Chương trình 327, phủ xanh đất trống đồi núi trọc; Chương trình 135 giai đoạn I và II: Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn miền núi và vùng dân tộc thiểu
số đặc biệt khó khăn; Chương trình định canh, định cư; Chương trình 661 trồng 5 triệu ha rừng; Chương trình 134: Hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt; Chương trình
TW, nghị quyết 30a: Hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở những vùng đặc biệt khó khăn (có trên 50% số dân thuộc diện nghèo); Chương trình cho vay ưu đãi Ngân hàng chính sách
xã hội; Chương trình trợ giá, trợ cước một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu; Chương trình hỗ trợ giống gia súc; Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế và Quyết định 139 về việc cấp phát thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo; Quyết định 167, xóa nhà tạm, di dời các hộ dân trong vùng có nguy cơ bị sạt lở; Chính sách 975 của Chính phủ về cấp miễn phí báo chí và các ấn phẩm văn hoá; Đề án Phát huy và bảo tồn văn hóa các dân tộc (giai đoạn 2005 – 2010); Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và Chính sách ưu tiên phát triển giáo dục: Chương trình cử tuyển bậc đại học và cao đẳng; chính sách thu hút học sinh đến lớp ở các bậc học phổ thông; chính sách phát triển trường dân tộc nội trú, trường bán trú dân nuôi; Cấp phát tiền cho người nghèo ăn tết Nguyên đán Kỷ Sửu 2009; v.v…
Trang 3434
Ngoài ra, mỗi địa phương còn có thể có những chính sách riêng, tuỳ yêu cầu cụ thể của tình hình Đây có thể là những chính sách do Chính phủ ban hành, cũng có thể là những sáng kiến của các tỉnh, nhưng đều được TW cấp ngân sách Ví dụ, ở tỉnh Lai Châu có Dự án Giảm nghèo miền Bắc; Chương trình hỗ trợ trồng, chăm sóc rừng vùng cao; Dự án hỗ trợ, phát triển dân tộc Si La, Chính sách đầu tư và hỗ trợ các dân tộc đặc biệt khó khăn của tỉnh (5 dân tộc: Mảng, Cống, Si La, La Hủ, Khơ Mú); ở tỉnh Nghệ An có "Một số chính sách về dân tộc và miền núi"5, Chính sách bảo tồn văn hoá các dân tộc thiểu số6, Dự án phát triển dân tộc ƠĐu7,
Dự án hỗ trợ phát triển tộc người Đan Lai ở huyện Con Cuông8; tỉnh Đắk Nông có Chương trình định canh - định cư cho đồng bào di cư tự do; Chương trình hỗ trợ kinh phí cho sinh viên đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và học nghề9; Dự án phát triển kinh tế xã hội bền vững 12 bon/buôn đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn; ở tỉnh Sóc Trăng có Chương trình
74 về việc hỗ trợ đất sản xuất, chuyển đổi ngành nghề; Chương trình hỗ trợ Internet cho người dân tộc, Dự án điện cho đồng bào dân tộc Khmer…
Gần đây, Hội nghị lần thứ 7, BCHTW Đảng khóa X đã ban hành “Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”10, trong đó nhấn mạnh: “Tập trung nguồn lực và tăng cường
chỉ đạo thực hiện đồng bộ chiến lược về tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo Đặc biệt quan tâm tới miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long và các huyện, xã có tỉ lệ
hộ nghèo trên 50%, các hải đảo, vùng bãi ngang Nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số” Nhằm thực hiện Nghị quyết trên đây của Trung ương Đảng, Chính phủ đã xác định
Chương trình hành động, nêu rõ mục tiêu, yêu cầu và những nhiệm vụ cụ thể để đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá, thị trường hoá khu vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong đó
có vùng đồng bào dân tộc thiểu số11 Đồng thuận với quan điểm của UNESCO, Đảng và Nhà nước cũng sớm xác định, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển Vì thế, khi đặt vấn đề phát triển, Đảng và Nhà nước đã luôn thể hiện sự quan tâm tới việc bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc (hiểu theo cả 2 nghĩa, Quốc gai và Tộc người) Điều này thể hiện rõ trong tất cả các văn bản liên quan đến dân tộc thiểu số đã được ban hành (Hiến pháp, các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ…) trong nhiều năm qua, nhất là trong Nghị quyết Hội nghị BCHTW lần thứ 5, Khoá VIII của Đảng Năm 2001, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật Di sản văn hóa, chính thức tạo hành lang pháp lý cho việc bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc/quốc gia cũng
như dân tộc/tộc người Tại Điều 1, Chương I, Luật Di sản văn hóa có ghi: “Di sản văn hoá
quy định tại luật này bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Về các khái niệm liên quan
đến “di sản văn hóa”, trong Điều 4, Chương I, Luật đưa ra định nghĩa: “Di sản văn hoá phi
vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XII
đã ban hành “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá”, trong đó khoản 1,
5 Quyết định 39/2004/QĐ-UB ngày 29/4/2004 của UBND tỉnh Nghệ An 6
Theo Quyết định số 84/2006/QĐ-UBND ngày 14/8/2006 của UBND tỉnh Nghệ An 7
Theo Quyết định số 3764/QĐ.UBND ngày 01/1/2007 của UBND tỉnh Nghệ An 8
Theo Quyết định số778/QĐ-UBND-TM ngày 5/3/2007 của UBND tỉnh Nghệ An 9
Theo Quyết định số 71/2004/QĐ-UB của UBND tỉnh Đắk Nông 10
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ban hành ngày 05 tháng 08 năm 2008 11
Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, ban hành ngày 28/10/2008
Trang 3535
Điều 4 được sửa đổi bổ sung như sau: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn
với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”12 Dựa trên cả 2 văn bản đã được trích dẫn, đều có thể hiểu rằng, tất cả các tri thức bản địa có “giá trị lịch sử, văn hóa” của các dân tộc thiểu số cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của
Luật Di sản văn hóa Điều 24, Chương III quy định: “Nhà nước có chính sách khuyến khích
việc duy trì, phục hồi và phát triển các nghề thủ công truyền thống có giá trị tiêu biểu; nghiên cứu và ứng đụng những tri thức về y, dược học cổ truyền; duy trì và phát huy giá trị văn hoá ẩm thực, giá trị về trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân gian khác”
Đây là một trong những vấn đề mấu chốt cần được xem xét trong quá trình phân tích chính sách và đánh giá việc thực hiện các chính sách đó trong thực tiễn
2.4 Một số vấn đề cần thảo luận về cơ sở lý luận và khung pháp lý của việc hoạch định chính sách đối với dân tộc thiểu số
Căn cứ vào kết quả phân tích các văn bản chính sách, không thể không ghi nhận tính nhân văn cũng như mục tiêu cao cả mà Đảng và Nhà nước mong muốn mang lại cho đồng bào các dân tộc thiểu số Song cũng không vì thế có thể bỏ qua một số vướng mắc có tính lý luận liên quan đến quan điểm, chủ trương đường lối và chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số Dưới đây là một số vấn đề nổi cộm ghi nhận được qua việc phân tích nguồn tài liệu thứ cấp
2.4.1 Thiếu sự bổ sung kịp thời cho cơ sở triết học về vấn đề dân tộc thiểu số
Trong các báo cáo phân tích chính sách nói chung, chính sách đối với dân tộc thiểu số nói riêng ở Việt Nam đã được công bố, tất cả các tác giả đều hoặc chỉ phân tích dựa trên các bối cảnh thực tiễn (việc thực hiện các chủ trương/chính sách của Đảng và Nhà nước), hoặc chỉ lấy các quan điểm/chủ trương của Đảng làm hệ quy chiếu (để phân tích tính phù hợp/bất cập của việc hoạch định và thực hiện các chính sách)13 Điều đó đúng và cần thiết, song chưa đủ Các chính sách được ban hành dựa trên quan điểm phát triển chung của Đảng và Nhà nước; song, quan điểm phát triển lại có nguồn gốc sâu xa và chịu sự chi phối của các quan điểm triết học Chính vì vậy, việc phân tích các chính sách phát triển cần được bắt đầu từ việc xem xét tính phù hợp giữa quan điểm phát triển với quan điểm triết học Đó cũng chính là lý do nhóm nghiên cứu xây dựng khung logic hành động bắt đầu từ quan điểm triết học và coi việc phân tích các quan điểm triết học mà Đảng và Nhà nước xác định là cơ sở lý luận (triết học Mác-Lênin) như chìa khoá chính để đánh giá chính sách đối với dân tộc thiểu số
Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ đơn thuần là một hệ tư tưởng, trước hết, đó còn là một hệ thống khoa học bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau: Triết học, kinh tế - chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học Với tư cách là một hệ thống triết học, chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, tìm ra những quy luật cơ bản cũng như sự tồn tại các cặp phạm trù của tự nhiên (trong chủ nghĩa duy vật biện chứng) và xã hội (trong chủ nghĩa duy vật lịch sử) Đó là những phát hiện khoa học có giá trị toàn cầu to lớn và không thể phủ nhận được ở mọi xã hội, mọi thể chế nhà nước
Tuy nhiên, trong hệ thống triết học của mình, Mác-Ăngghen, sau này là Lênin và những người kế tục sự nghiệp của ông, đều không đề cập đến vấn đề dân tộc thiểu số (ethnic
12
Quyết định ban hành “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá” của Quốc hội khoá XI, kỳ
họp thứ 5, số 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009 13
Có thể xem thêm các nghiên cứu cùng chủ đề: Trần Văn Thuật - Hoàng Công Dũng (2005), tài liệu đã dẫn;
Fritzen, S (2000): Thể chế hoá sự tham gia: các bài học cần lưu ý và những điều cần đẩy mạnh trong các
chương trình quốc gia của Việt Nam, Chương trình phát triển Liên hợp quốc, Hà Nội; Phạm Xuân Nam (2003):
Về đánh giá chính sách và hoạch định chính sách giảm nghèo Nxb Khoa học xã hội
Trang 3636
minorities) Đối với khía cạnh lịch sử xã hội, trọng tâm của triết thuyết Mác-Lênin là quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp Triệt để và kiên trì theo quan điểm tiến hoá luận lịch sử, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, lịch sử luôn phát triển từ thấp đến cao; các hình thái kinh tế - xã hội thay thế nhau thông qua đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là các cuộc cách mạng xã hội và chiến thắng cuối cùng luôn thuộc về giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn Theo quan điểm đó, cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản nhằm lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản Trong quá trình tiến hành cách mạng, giai cấp công nhân luôn tìm thấy người bạn đồng minh tin cậy là những người nông dân Trong hệ thống lý thuyết Macxit về đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội chủ nghĩa không thấy bóng dáng của các dân tộc thiểu số (ethnic minorities) Phạm trù “dân tộc” mà V.I Lênin nhắc đến trong bút
ký “Phê phán về vấn đề dân tộc” và nguyên tắc nổi tiếng về “Quyền dân tộc tự quyết” được
đề ra vào những năm 1913-1914 là “Dân tộc quốc gia/Nation” chứ không phải “Dân tộc thiểu số/Ethnic minorities” Định nghĩa của I.V Xtalin về dân tộc được đưa ra trong tác phẩm
“Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc” xuất bản năm 1914 cũng là định nghĩa về dân tộc/quốc gia trong bối cảnh quá độ từ chủ nghĩa phong kiến sang chủ nghĩa tư bản ở châu Âu Trước chủ nghĩa tư bản, các quốc gia châu Âu đều phổ biến tình trạng cát cứ của các lãnh chúa phong kiến và mỗi quốc gia đều là tập hợp của nhiều lãnh địa đơn lẻ Chính quyền trung ương cai trị nhà nước bằng sức mạnh quân sự tập trung trong tay nhà vua chứ không phải bộ máy tư pháp và các công cụ kinh tế thống nhất Chỉ đến khi chủ nghĩa tư bản thắng lợi, với sức mạnh to lớn của kinh tế hàng hoá, một thị trường thống nhất mới được hình thành trong mỗi vùng lãnh thổ quốc gia Đó cũng chính là mối liên kết bền vững, là điều kiện quan trọng nhất (bên cạnh các điều kiện khác như có chung lãnh thổ, tiếng nói và tâm lý thể hiện qua nền văn hoá) để hình thành dân tộc quốc gia hiện đại với “tam quyền phân lập” rõ ràng I.V Xtalin đưa ra định nghĩa này trên cơ sở quan sát quá trình hình thành các dân tộc quốc gia châu Âu như Anh, Pháp và điển hình là Đức Riêng ở nước Mỹ, quá trình thống nhất dân tộc quốc gia chỉ được đánh dấu bằng thắng lợi của phe miền Bắc đối với phe miền Nam trong cuộc nội chiến 1861-1865 chứ không phải ngay từ khi Thomas Jefferson soạn bản “Tuyên ngôn độc lập” nổi tiếng vào năm 1776 Nội hàm của khái niệm “dân tộc” mà Xtalin đưa ra không thể áp dụng cho khái niệm dân tộc thiểu số
Chính vì thế, sau khi giành được chính quyền, mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa đã vấp phải một thách thức không nhỏ: Giải quyết vấn đề các dân tộc thiểu số (ethnic minorities) trong thể chế nhà nước kiểu mới như thế nào? Liên xô (cũ), Trung Quốc và Nam Tư (cũ) đã
có những giải pháp nhau đối với vấn đề này Tại Liên xô (cũ), bên cạnh các nhà nước thuộc Liên bang, ngay trong lòng nước Nga cũng có các nhà nước tự trị (Chesnia, Đaghetstan…) Tại Trung Quốc, ở các khu vực dân tộc thiểu số cũng hình thành các thể chế tự trị (khu tự trị, châu/địa khu tự trị và huyện tự trị) Các vùng đất được hưởng quy chế tự trị đều có lãnh thổ được xác định và quyền tự quyết nhất định liên quan đến kinh tế, xã hội và văn hoá Tuy nhiên, tất cả các giải pháp được biết đến đều chứa đựng những mầm mống bất ổn, tiềm tàng mâu thuẫn và nguy cơ xung đột là rất cao Diễn biến tại các quốc gia tự trị trong khuôn khổ Liên bang Nga (Chesnia, Đaghetstan) sau ngày Liên xô sụp đổ, tại Nam Tư hay tại các khu vực tự trị của Trung Quốc (Tây Tạng, Tân Cương) trong những năm gần đây có thể minh hoạ sinh động cho điều đó
Ở nước ta, do đặc thù của một quốc gia thuộc địa nửa phong kiến, mục tiêu ban đầu của cuộc cách mạng do Đảng lãnh đạo là độc lập dân tộc (national independence) Khi đó, với ngọn cờ yêu nước và chính sách đại đoàn kết toàn dân Đảng đã tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân, trong đó có đồng bào các dân tộc thiểu số, tạo nên sức mạnh to lớn để giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Tuy nhiên, ngay sau khi chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, Đảng và Nhà nước cũng đứng trước vấn đề nan giải như Liên xô (cũ) và
Trang 3737
Trung Quốc: Quan hệ giữa nhà nước cách mạng với các dân tộc thiểu số dưới tư cách là những cộng đồng người có các cơ sở kinh tế - thiết chế xã hội - truyền thống văn hoá và diễn trình lịch sử riêng
Để giải quyết vấn đề đó, sau năm 1954, ở miền núi phía Bắc, Đảng và Nhà nước đã xây dựng
2 khu tự trị: Khu tự trị Việt Bắc và Khu tự trị Tây Bắc Sau ngày đất nước thống nhất, các khu tự trị bị giải thể, mô hình nhà nước 4 cấp được xây dựng thống nhất trên cả nước (Trung ương, tỉnh, huyện và xã) Theo mô hình này, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý, quy hoạch và phân phối sử dụng; các thiết chế xã hội truyền thống bị giải thể; các yếu tố “văn hoá mới” được truyền bá rộng rãi Vấn đề dân tộc thiểu số được che phủ bởi lớp sương mù của cuộc đấu tranh ý thức hệ giai cấp Một thời gian dài, các dân tộc thiểu
số luôn được quan niệm là hiện thân của sự trì trệ, lạc hậu, cổ hủ; vì thế, Nhà nước cần phải
có những chính sách giúp đỡ và thúc đẩy họ cùng tiến triển theo mục tiêu XHCN Để thực hiện mục tiêu đó, Đảng và Nhà nước đã tiến hành cấu trúc lại dân cư và sắp xếp lại lao động với quy mô lớn chưa từng có từ Bắc vào Nam Tuy nhiên, các chủ trương, chính sách đó còn nhiều bất cập, thiếu cơ sở thực tiễn và cơ sở khoa học,… đã làm biến đổi hoặc triệt tiêu/phá
vỡ các cơ sở điểm tựa cho sự tồn tại của chủ thể văn hoá dân tộc thiểu số Nhiều phản ứng tiêu cực đã xảy ra ở một số nơi Cuộc bạo loạn của người Hmông ở Đồng Văn năm Kỷ hợi
1959 hay phong trào FULRO tái bùng phát ở Tây Nguyên giai đoạn 1976-1992 vừa phản ánh mâu thuẫn giai cấp, vừa mang màu sắc xung đột dân tộc/ethnic
Từ khi gia nhập Liên hợp quốc (1978), nhất là từ sau năm 1986, với chính sách cải cách/mở cửa, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào các quá trình toàn cầu Để mở thông cánh cửa ra thế giới, Nhà nước đã ký nhiều công ước quốc tế, trong đó có các công ước liên quan đến nhân quyền và đa dạng văn hoá Lúc này, vấn đề dân tộc thiểu số lại càng trở nên nóng bỏng hơn bao giờ hết Hành lang pháp lý xây dựng trên quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin dường như không đủ rộng để giải quyết triệt để vấn đề này Học hỏi kinh nghiệm của một số nước đang phát triển trong khu vực và trên thế giới, một số phương pháp phát triển mới đã từng bước được áp dụng ở Việt Nam Ban đầu, đó là những sáng kiến cộng đồng; từ đầu thế kỷ XXI, “Định hướng cộng đồng” và “Sự tham gia” được coi là những nguyên tắc bắt buộc của việc hoạch định và thực hiện chính sách Điều đáng suy nghĩ là: Các phương pháp mới đang được áp dụng ở nước ta lại có phần gần gũi với chủ nghĩa cộng đồng (communitarianism) hơn, chứ không chỉ dựa hoàn toàn vào các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin về mô hình nhà nước cách mạng và chuyên chính vô sản Một loạt câu hỏi được nêu ra từ thực tiễn phát triển đến nay vẫn chưa có lời giải:
- Trong hệ thống triết học mà Đảng và Nhà nước đang coi là nền tảng lý luận cơ sở, phạm trù/khái niệm dân tộc thiểu số cần được quan niệm như thế nào?
- Trong hệ thống chính trị và khung pháp lý của Nhà nước, các dân tộc thiểu số có tư cách như thế nào: i) Là những cộng đồng có quan hệ bình đẳng, có tiếng nói ngang hàng với người Kinh hay vẫn là những nhóm người yếu thế, cần có sự giúp đỡ và thúc đẩy phát triển từ bên ngoài?; ii) Các dân tộc thiểu số có phải là một pháp nhân, một đối tượng của khung pháp lý; và iii) Phạm vi “Quyền” của các dân tộc thiểu số được xác định đến đâu trong khung pháp lý?
2.4.2 Thiếu sự minh định cần thiết trong các khái niệm về dân tộc và bản sắc văn hoá
“Dân tộc/Ethnic”: Chính vì không giải quyết được vấn đề “dân tộc thiểu số” dưới góc độ triết
học, cho đến nay khái niệm “dân tộc/ethnic” chưa thực sự được minh định Thuật ngữ “Dân tộc” ở Việt Nam có thể được hiểu theo 2 nghĩa, Quốc gia (Nation) và cộng đồng tộc người (Ethnic) Trước đây, các nhà dân tộc học theo trường phái Xôviết thường hiểu khái niệm
“Dân tộc thiểu số” theo quan điểm của Xtalin: Dân tộc là cộng đồng người có chung lãnh thổ,
Trang 3838
có chung tiếng nói, có chung cơ sở kinh tế và chung tâm lý thể hiện qua nền văn hóa Dường như người ta cố tình quên một điều cơ bản: Khi đưa ra định nghĩa trên đây, Xtalin đang nói đến “Dân tộc/Quốc gia” chứ không phải Dân tộc theo nghĩa là các cộng đồng tộc người
(ethnic) Các từ điển tiếng Việt phổ thông hiện nay thường định nghĩa: Dân tộc/ethnic là “Tên
gọi chung những cộng đồng người có chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hoá, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc”14 Định nghĩa này đã không còn hoàn toàn chính xác, ít nhất là nếu xét theo các tiêu chí về lãnh thổ và cơ sở kinh tế Sau 2 lần tiến hành xác minh thành phần tộc người (ethnic), giới khoa học xã hội Việt Nam thống nhất các tiêu chí chính được xem xét là: i/ Có cùng một ngôn ngữ; ii/ Có những tương đồng về văn hoá (bao hàm những nghĩa rộng nhất của khái niệm này); và iii/ Ý thức tự giác tộc người (ý thức về nguồn cội với tên tự gọi riêng) Tuy nhiên, việc áp dụng các tiêu thức trên đây còn chứa đựng nhiều bất cập khoa học cũng như thực tiễn và trong thực tế, đã dẫn đến sự phát sinh của nhiều vấn đề ở các địa phương Ví dụ, đồng bào nhóm Pacoh đang sinh sống tại các tỉnh Quảng Trị
và Thừa Thiên Huế được các nhà khoa học xác định là có quan hệ ngôn ngữ/lịch sử chặt chẽ với người Tà-ôi Vì thế, năm 1979, nhà nước đã gộp 2 nhóm này vào một thành phần tộc người, với tên gọi “Tà-ôi” Nhưng từ nhiều năm nay, người Pacoh vẫn kiên trì theo đuổi nguyện vọng được tách ra thành một thành phần tộc người riêng, với lý lẽ: “Tôi có tên của tôi, tại sao bắt tôi mang tên của người khác?”
Do “tính chất nước đôi” của khái niệm “dân tộc”, công tác quản lý nhà nước cũng gặp nhiều khó khăn Thuật ngữ “dân tộc” được đề cập đến trong một số văn bản chính sách rất khó có thể phân biệt là thuộc phạm trù nào (Dân tộc quốc gia/Nation hay Tộc người/Ethnic) Ví dụ: Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 (khoá VIII) của BCHTW Đảng về “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” nhiều đoạn có đề cập đến khái niệm “Dân tộc” trong mối tương quan với “Văn hóa”, nhưng sẽ thật khó minh định, đâu là Dân tộc/Quốc gia, đâu là Dân tộc/Tộc người (ngoại trừ những đoạn dành riêng nói về các dân
tộc thiểu số)
“Bản sắc văn hóa”: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 (khoá VIII) của BCHTW Đảng chủ trương
“xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và đưa ra
định nghĩa: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng
các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn nǎm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân-gia đình-làng xã-Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc vǎn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo” Thực tế, sẽ rất khó minh định được những thuật ngữ, những phạm trù
và nội hàm của các khái niệm được đề cập đến trong định nghĩa này Thế nào là “Giá trị bền vững”, là “Tinh hoa”? Các yếu tố khác như “lòng yêu nước”, “ý chí tự cường dân tộc”, “tinh thần đoàn kết”, “ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân-gia đình-làng xã-Tổ quốc”; “lòng nhân ái”, “khoan dung”, “trọng nghĩa tình”, “đạo lý”; “đức tính cần cù”, “sáng tạo trong lao động”;
“sự tinh tế trong ứng xử”, “tính giản dị trong lối sống” liệu có phải là những đức tính riêng, chỉ có ở người Việt Nam?
2.4.3 Thiếu sự hợp nhất hài hoà giữa quan điểm triết học, quan điểm phát triển và chính sách phát triển
Theo quan điểm triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin đang được vận dụng tại Việt Nam, dân tộc (với cả 2 nghĩa Dân tộc/Quốc gia và Dân tộc/Tộc người) là một phạm trù lịch sử Điều ấy
có nghĩa là, đến một lúc nào đó, ranh giới giữa các dân tộc sẽ bị xoá nhoà Hiểu theo một cách
14
Viện Ngôn ngữ học: “Từ điển tiếng Việt phổ thông”, Nxb Phương Đông 2008, tr.222
Trang 3939
khác, bản sắc văn hóa dân tộc sẽ bị tiêu vong, thay vào đó là những yếu tố văn hóa mang tính quốc tế, tính toàn cầu (mà trong giai đoạn hậu bán thế kỷ XX, chúng ta thường gọi là “Thế giới đại đồng”) Trong khi đó, những năm gần đây, các văn kiện của Đảng và Nhà nước luôn nhấn mạnh đến việc bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc, coi đó là một trong những nội dung chính của quan điểm phát triển Một loạt các câu hỏi được đặt ra là: Tương lai của các dân tộc thiểu số Việt Nam sẽ như thế nào?; Có nhất thiết phải ra sức bảo tồn những giá trị khi biết chắc là sớm muộn gì nó cũng sẽ mất trong tương lai?; Nếu thực sự một ngày nào đó, bản sắc văn hóa tiêu vong thì con đường hội nhập toàn cầu của nó sẽ diễn biến theo chiều hướng nào -
tự nguyện hay đồng hoá cưỡng bức? Về phương diện lý luận, cho đến nay chưa có những câu trả lời thoả đáng, làm cơ sở cho định hướng phát triển
Đảng và Nhà nước cũng luôn nhấn mạnh đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số Với mục tiêu đó, các chính sách ở vùng dân tộc thiểu số lẽ
ra cần hướng đến việc củng cố, bổ sung các cơ sở/điểm tựa của chủ thể văn hoá; nhưng trên thực tế, các chính sách được vạch ra dường như lại có tác dụng ngược lại Từ sau ngày chính quyền cách mạng được thiết lập, với các chính sách mới về quản lý đất đai, cấu trúc lại dân cư
và phân bổ lại lao động, không gian văn hóa - xã hội của các dân tộc thiểu số đã từng bước bị phá vỡ Những diễn biến văn hóa sau đó chủ yếu lấy văn hóa của dân tộc Kinh (đã bị biến đổi rất nhiều do tác động ngoại lai) làm hệ quy chiếu Ngoại trừ một số dân tộc có nền tảng văn hóa vững chắc, có quan hệ với người Kinh và văn hoá Kinh từ lâu đời, có khả năng đề kháng cao trước các yếu tố văn hóa ngoại nhập (như các dân tộc Hoa, Khmer, Thái, Tày, Nùng…) hay các dân tộc sinh sống trong những khu vực địa lý có nhiều điểm bất lợi về điều kiện tự nhiên (như các dân tộc La Hủ, Hà Nhì, Hmông…) còn giữ được tương đối tốt các giá trị văn hóa của dân tộc mình, đa số các nền văn hóa khác đều ít nhiều bị xâm hại hay đổ vỡ Thật khó
có thể coi đó là quá trình tiếp biến bình đẳng (Acculturation) Nếu có một tầm nhìn chiến lược với những bước đi cụ thể cho từng giai đoạn, chắc chắn đã không có những mất mát đáng tiếc như hiện nay Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW Đảng khoá IX15 về “nhiệm vụ
chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới” có đoạn nêu ra nhiệm vụ: “Coi
trọng việc tổng kết thực tiễn trong nghiên cứu lý luận và trong hoạt động của các cấp uỷ đảng; coi tổng kết thực tiễn là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp, các ngành; gắn nghiên cứu thực tiễn Việt Nam với tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học của nhân loại…”
Nhưng tuyệt nhiên không có nội dung nào đề cập đến việc cần nghiên cứu bổ sung cho hệ thống lý luận về dân tộc thiểu số Nghị quyết số 24-NQ/TW của BCHTW Đảng khoá IX tại
Hội nghị lần thứ 7 về công tác dân tộc cũng coi “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề
chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam” Song những vấn đề được đề cập đến cũng chủ yếu xoay quanh các nội dung như: Xoá
đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, công tác cán bộ và đảm bảo an ninh quốc phòng; không có bất cứ nội dung nào liên quan đến việc xem xét “Dân tộc/Ethnic” như một vấn đề triết học cần nghiên cứu để từ đó xác định tầm nhìn chiến lược và ban hành chính sách dài hơi hơn Quan điểm phát triển chung của Đảng và Nhà nước hiện nay luôn coi “Vǎn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội”
Đối với các dân tộc thiểu số, Nhà nước có nhiệm vụ “Coi trọng và bảo tồn, phát huy những
giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới về vǎn hóa, vǎn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số”16 Tuy nhiên, trong thực tế, một số chính sách của Đảng và Nhà nước đã và đang phá vỡ các nền tảng cơ sở/điểm tựa của văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số: Tước bỏ các quyền sở hữu truyền thống của họ đối với các nguồn lực tự nhiên (các chính sách liên quan đến đất đai, chủ trương dịch chuyển và phân bố lại lao động), phủ nhận
15 Nghị quyết số 16-NQ/TW, ban hành ngày 18/3/2002 16
Nghị quyết Trung ương 5, khoá VIII, tài liệu đã dẫn
Trang 4040
các thể chế xã hội truyền thống gắn với cộng đồng thôn làng (các chính sách về quản lý nhà nước, quản lý xã hội cơ sở), triệt tiêu chỗ dựa tinh thần vốn có tác dụng tạo nên những rào cản/giới hạn hành vi của những con người cụ thể (các chính sách liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng trước năm 1986, chính sách văn hóa mới, chủ trương tiến hành các cuộc vận động bài trừ các hoạt động mà Nhà nước cho là hủ tục lạc hậu; dù trong thực tế, một số hoạt động trong đó thể hiện rất rõ tính nhân văn của các phong tục tập quán) Với các chính sách như vậy, việc phát triển kinh tế - xã hội gắn với công tác bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số chỉ có thể được coi là những mục tiêu/mong muốn đầy tính nhân văn chứ khó có thể được coi là một nhiệm vụ khả thi Nhiều giá trị văn hóa hiện nay chỉ tồn tại (hoặc được lưu giữ, bảo tồn) dưới dạng “sân khấu hoá”, được nhà nước và các cơ quan nghiệp vụ tổ chức, không hề gắn với đời sống tự nhiên của cộng đồng, không thu hút được sự tham gia của người dân/chủ thể sáng tạo của chính các giá trị văn hoá đó
2.4.4 Sự thiếu đồng bộ của hành lang pháp lý
Về nguyên tắc, các quyền lợi cơ bản của người dân tộc thiểu số phải được bảo vệ bằng các công cụ pháp lý Tuy nhiên, với các bộ luật hiện hành, thật khó có thể có sự bảo vệ một cách hiệu quả các quyền của họ Qua phân tích các văn bản luật, có thể dễ dàng nhận thấy những khoảng trống và sự thiếu đồng bộ của hành lang pháp lý
Hiến pháp của nhà nước cách mạng, sau nhiều lần sửa đổi, luôn thể hiện được tính nhân văn sâu sắc trong vấn đề dân tộc thiểu số Điều 5 của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm
1992 khẳng định các quyền bình đẳng của dân tộc thiểu số đã được đề cập đến trong các bản Hiến pháp trước đó Nhưng khái niệm “bình đẳng” ở đây chỉ được hiểu là sự bình đẳng với tư cách công dân hơn là bình đẳng về pháp nhân của các cộng đồng dân tộc thiểu số Chính vì thế, trong các bộ luật cụ thể, “dân tộc thiểu số” không được coi là là một đối tượng điều chỉnh Cơ chế quản lý nhà nước về đất đai, chủ trương tái cấu trúc dân cư, tổ chức lại bộ máy quản lý nhà nước và các chính sách văn hoá mới đã khiến cho các đơn vị xã hội cơ sở truyền thống của dân tộc thiểu số bị phá vỡ hoặc biến dạng Như vậy, Nhà nước cho phép các dân tộc thiểu số được bảo lưu, giữ gìn bản sắc văn hoá của mình, nhưng lại chưa trao cho họ quyền củng cố các cơ sở hình thành nền văn hoá đó, đồng thời cũng chính là điểm tựa mà các chủ thể văn hoá có thể dựa vào (tự nhiên, cộng đồng thôn làng và ngưỡng hành vi) để chống lại sự tác động tiêu cực của các yếu tố ngoại lai Nói cách khác, các dân tộc thiểu số chỉ có quyền giữ phần ngọn, còn phần gốc được quyết định bởi nhà nước
Thực hiện chủ trương cải cách sâu rộng quá trình dân chủ hoá, từ những năm 90 của thế kỷ trước, Nhà nước đã ban hành các Nghị định về dân chủ cơ sở ở cấp xã Từ ngày 1/7/2007, Pháp lệnh Dân chủ cơ sở ở cấp xã đã có hiệu lực, mang lại nhiều hy vọng cho người dân Tuy nhiên, ngay trong cấu trúc cũng như nội dung của Pháp lệnh cũng bộc lộ nhiều vấn đề chưa được tường minh: Quá trình thực hiện dân chủ cơ sở cần lấy xã hay thôn/làng làm đơn vị tổ chức? Xã là 1 cấp nhà nước, nhưng không phải là một đơn vị xã hội cơ sở Vấn đề đặt ra đòi hỏi phải giải đáp trước khi có được sự định hướng để thực hiện dân chủ cơ sở là: Thôn làng
có vị trí như thế nào trong bộ máy nhà nước? Điều dễ khẳng định được ngay: Đó là một đơn
vị dân cư, đơn vị xã hội cơ sở Nhưng bản chất của đơn vị đó là gì? Là một cấp hành chính, là một đơn vị xã hội tự quản hay chứa đựng cả yếu tố hành chính và tự quản? Thực tế, tuy là 1 đơn vị xã hội cơ sở, nhưng thôn/làng hiện nay không phải là 1 cấp nhà nước, cũng không còn
là 1 tổ chức xã hội tự quản Đây là câu hỏi không dễ trả lời và luôn đặt các cấp chính quyền trước sự lựa chọn khó khăn Mặt khác, cũng cần nói thêm rằng, Pháp lệnh Dân chủ cơ sở là một văn bản dưới luật, nhưng không có các điều khoản chế tài Đó là điều khó chấp nhận đối với một văn bản mang tính pháp lý
Ở nhiều bộ luật khác cũng có tình trạng tương tự Ví dụ: Luật Đất đai năm 2003 cho phép các thôn làng có quyền sở hữu công cộng về đất, nhưng trong Luật Dân sự, các thôn làng lại