Việc chuyển tài sản của người đã chết cho những người khác sau khi người đó chết căn cứ vào di chúc mà người đó đã lập khi họ còn sống được gọi là thừa kế theo di chúc.. Đặc điểm của di
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội ngày càng phát triển thì các vấn đề về thừa kế đặt ra càng phức tạp, đòi hỏi hệ thống pháp luật Việt Nam phải hoàn thiện hơn để phù hợp với thực
tiễn Thừa kế là một trong những chế định cơ bản của pháp luật dân sự Việt
Nam Thừa kế gồm có thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Thừa kế theo di chúc là việc chuyển tài sản của người đã chết cho những người thừa kế theo ý chí tự nguyện của người để lại di sản thể hiện trong di chúc Vậy di chúc
là gì, di chúc có những hình thức nào và việc quy định các hình thức của di chúc
có ý nghĩa gì? Với mong muốn tìm hiểu rõ hơn những điều này nên em đã chọn
đề tài “Những vấn đề về hình thức của di chúc” cho bài tập lớn học kỳ của mình
NỘI DUNG
I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA DI CHÚC
1 Khái niệm
Điều 646 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”
Di chúc còn được gọi là chúc thư do cá nhân còn sống tự nguyện lập ra với mục đích chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người còn sống khác, sau khi người lập di chúc chết Người lập di chúc dựa vào ý chí và tình cảm của mình (mang tính chủ quan), định đoạt cho người khác được hưởng di sản sau khi qua đời Do tính chất chủ quan của ý chí và mục đích chuyển dịch tài sản của người lập di chúc cho người khác hưởng sau khi chết đã phản ánh tính độc lập
và tự định đoạt của người lập di chúc
Về phương diện khoa học pháp lý thì di chúc là phương tiện phản ánh trung thực ý nguyện cuối cùng của cá nhân trong việc dịch chuyển tài sản của họ cho người khác sau khi chết
Di chúc thường được thể hiện thông qua một hình thức nhất định, trong đó người lập di chúc bày tỏ ý chí của mình về việc định đoạt toàn bộ hay một phần
Trang 2tài sản của mình cho một người hay cho nhiều người khác nhau Việc chuyển tài sản của người đã chết cho những người khác sau khi người đó chết căn cứ vào di chúc mà người đó đã lập khi họ còn sống được gọi là thừa kế theo di chúc
2 Đặc điểm của di chúc
Qua trên, chúng ta thấy rằng, di chúc với tư cách là căn cứ để dựa vào đó thực hiện quá trình dịch chuyển tài sản của người chết cho người khác luôn luôn hàm chứa các đăc điểm sau đây:
- Di chúc là ý chí đơn phương của cá nhân
Di chúc là “sự thể hiện ý chí của cá nhân” (Điều 646 Bộ luật dân sự) nên nó
được hình thành duy nhất bằng ý chí đơn phương của người để lại thừa kế (một bên chủ thể trong giao dịch dân sự về thừa kế) Qua việc lập di chúc, cá nhân đó
có ý định làm xác lập một giao dịch dân sự về thừa kế Theo đó họ quyết định chuyển giao một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho người đã được họ xác định trong di chúc mà không cần biết người đó có nhận di sản của mình hay không Như vậy, nếu hợp đồng (giao dịch hai bên) được hình thành bởi sự thoả thuận ý chí của nhiều bên chủ thể thì di chúc chỉ là sự quyết định đơn phương của người lập ra nó
Đối với những di chúc do vợ, chồng lập chung, trong đó mặc dù thể hiện ý chí của cả hai người nhưng di chúc vẫn mang tính chất quyết định đơn phương bởi dù di chúc thể hiện ý chí của nhiều người nhưng những người đó vẫn chỉ là một bên trong giao dịch dân sự
- Di chúc nhằm chuyển tài sản của người chết cho người khác đã được xác định trong di chúc
Đây là nội dung quan trọng không thể thiếu được của một di chúc nếu muốn được coi là một căn cứ để dịch chuyển tài sản của người chết cho những người khác Thông thường, một người chỉ lập di chúc trong trường hợp họ có một khối tài sản trước khi chết và muốn bằng ý chí của mình để định đoạt cho ai đó Mặt khác, cho dù trước lúc chết, người đó có một khối tài sản và cũng để lại di chúc
Trang 3nhưng nếu di chúc không chứa đựng nội dung này thì cũng không làm phát sịnh thừa kế theo di chúc Nghĩa là di chúc đó chẳng có ý nghĩa gì đối với quá trình dịch chuyển tài sản Nói cách khác, di chúc chỉ đem lại ý nghĩa về mặt vật chất cho những người thừa kế theo di chúc đồng thời chỉ thật sự là một phương tiện
để người để lại thừa kế thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản của mình chừng nào di chúc chứa đựng nội dung nói trên
Thừa kế ở bất kỳ một nhà nước nào cũng đều là sự quy đinh của pháp luật nhằm điều chỉnh qúa trình dịch chuyển tài sản từ một người đã chết sang những người còn sống khác với tư cách là hệ luận của quyền sở hữu, pháp luật về thừa
kế là phương tiện để đảm bảo cho chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản của mình Thông qua thừa kế, quyền sở hữu của một người đối với thành quả lao động của họ được dịch chuyển từ đời này qua đời khác đặc biệt, ghi nhận về tôn trọng quyền định đoạt tài sản của người lập di chúc chính là việc pháp luật tôn trọng và bảo đảm quyền tự định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản của họ, đảm bảo cho người lập di chúc “có quyền sử dụng tài sản ngay cả khi đã chết rồi”
- Di chúc là loại giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi chính người xác lập ra
nó đã chết
Việc xác lập di chúc và việc giao kết hợp đồng đều là những giao dịch dân
sự Tuy nhiên, nếu như hợp đồng thể hiện ý chí của cả hai bên thì di chúc chỉ thể hiện ý chí của một bên Sự khác nhau này làm cho một di chúc có tính chất khác hẳn so với một hợp đồng dân sự Nếu hợp đồng dân sự có hiệu lực từ thời điểm giao kết (trừ trường hợp các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định khác) thì thời điểm bắt đầu có hiệu lực của di chúc hoàn toàn phụ thuộc vào thời điểm
người lập ra nó chết Khoản 1 Điều 667 Bộ luật dân sự 2005 đã quy định: “Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế” Tức là, khi người lập di
chúc còn sống thì di chúc đó chưa có hiệu lực Mặt khác, di chúc chỉ là ý chí đơn phương của người lập ra nó nên người lập di chúc luôn luôn có quyền tự
Trang 4mình thay đổi nội dung đã định đoạt trong di chúc hoặc huỷ bỏ di chúc đã lập Tính chất này cho chúng ta thấy rằng dù di chúc đã được lập nhưng khi người lập di chúc còn sống (trong thực tế, từ thời điểm di chúc đã lập đến thời điểm người lập di chúc chết bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định về mặt thời gian) thì người thừa kế theo di chúc không có bất kỳ một quyền nào đối với tài sản của người lập di chúc và họ cũng chưa chắc chắn có được hưởng di sản đó hay không
Pháp luật tôn trọng quyền lập di chúc của cá nhân với hai mục đích Một mặt, nhằm đảm bảo quyền định đoạt của chủ sở hữu Mặt khác, nhằm đảm bảo cho cá nhân thông qua việc định đoạt tài sản của mình để thể hiện tình cảm, trách nhiệm của mình đối với những người khác Vì vậy, nếu sự định đoạt trong
di chúc đã lập không còn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện tại thì người lập
di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ di chúc
II MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC
Điều 649 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình”
Hình thức của di chúc là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc ra bên ngoài cho người khác biết, để sau này căn cứ vào đó mà thực hiện ý chí của người lập
di chúc sau khi người đó chết Di chúc lập ra phải theo hình thức do pháp luật quy định
Di chúc trước hết phải lập thành văn bản Điều 5 Hiến pháp năm 1992 quy
định rõ: “các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc
và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình” Di chúc có thể được thể hiện bằng chữ viết hoặc tiếng nói bằng tiếng
Kinh, những cũng có thể bằng chữ viết hoặc tiếng nói của bất kỳ dân tộc nào
Trang 5Di chúc miệng chỉ được coi là có giá trị pháp lý khi thoả mãn các điều kiện quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự Sau đây ta sẽ đi tìm hiểu về từng hình thức của di chúc
1.Di chúc bằng văn bản
Di chúc bằng văn bản quy định tại Điều 650 Bộ luật dân sự bao gồm; di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, di chúc bằng văn bản có người làm chứng, di chúc bằng văn bản có công chứng và di chúc bằng văn bản có chứng thực Chứng thực hay công chứng, có người làm chứng hay không có người làm chứng là cơ sở để xác định tính khách quan của di chúc, là bằng chứng để bảo vệ lợi ích của người thừa kế theo di chúc và là chứng cứ chứng minh di chúc do người có tài sản tự nguyện lập ra Di chúc bằng văn bản theo quy định tại Điều 653 BLDS có nội dung sau:
“1 Di chúc phải ghi rõ:
a Ngày, tháng, năm lập di chúc
b Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định
rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d Di sản để lại và nơi có di sản;
đ Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.
2 Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc”.
Nội dung của di chúc là các điều khoản của di chúc thể hiện ý chí của người lập di chúc
Từ quy định trên ta thấy, nội dung của di chúc bao gồm:
thứ nhất, ngày, tháng, năm lập di chúc Điều này có ý nghĩa quan trọng
trong trường hợp người lập di chúc đã lập nhiều di chúc về di sản hoặc một phàn di sản của mình Phải đối chiếu ngày, tháng, năm trong các di chúc này
Trang 6Di chúc nào mà ngày, tháng, năm lập di chúc là thời gian gần nhất với ngày mà người lập di chúc chết, thì được coi là di chúc lập cuối cùng Di chúc này có thể
bổ sung, sửa đổi, hoặc huỷ bỏ toàn bộ hoặc một phần của di chúc, hoặc các di chúc đã lập trước đó
thứ hai, họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc
thứ ba, họ, tên người được hưởng di sản hoặc một phần di sản, một hiện
vật nhất định hay một số tiền nhất định trong khối di sản
thứ tư, di sản để lại và nơi có di sản Nên ghi cụ thể các hiện vật trong
khối di sản nếu thấy là cần thiết, nhất là đối với những hiện vật có giá trị Nếu có các hiện vật để rải rác ở nhiều nơi thì ghi rõ nơi để hoặc giữ hiện vật
đó, để sau này thu thập lại và giải quyết việc phân chia tài sản các món tiền gửi ở đâu, hoặc cho ai vay chưa đòi đều được ghi vào để thu hồi và phân chia cho những người thừa kế
thứ năm, trong các di chúc bằng văn bản, người lập di chúc có thể chỉ
định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ Ví dụ, chỉ định đích danh người đứng ra trả một món nợ vay cho ai mà người lập di chúc đã vay khi còn sống chưa trả, hoặc chỉ định người thừa kế theo di chúc với điều kiện người thừa kế phải thực hiện một nghĩa vụ nhất định Tuy nhiên, những nghĩa vụ mà người thừa kế phải thực hiện không được trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Nếu là nghĩa vụ về tài sản thì người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ này trong phạm vi di sản mà người thừa kế đó nhận Ngoài ra, người lập di chúc còn có thể chỉ định trong di chúc người giữ di chúc, người quản lý di sản khi người lập di chúc chết, người phân chia tài sản
Xét khoản 2 của Điều 653, ta thấy một điểm cần lưu ý trong thể thức lập
di chúc bằng văn bản là trong di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiêu Nếu di chúc gồm nhiều trang thì phải đánh số thứ tự các trang vào mỗi trang của di chúc, mỗi trang đó đều phải có chữ ký của người lập di chúc
Trang 7Nếu là di chúc bằng văn bản có người làm chứng thì mỗi trang đó đều phải
có chữ ký của người làm chứng các chữ ký nên ký vào cuối mỗi trang, ngay dưới dòng chữ cuối cùng Nếu là di chúc có chứng thực hay công chứng nhà nước thì phải có dấu giáp lai của Uỷ ban nhân dân hoặc công chứng nhà nước vào các trang của di chúc Thể thức này có ý nghĩa quan trọng nhằm đề phòng việc thay thế một trang của di chúc để làm thay đổi nội dung của di chúc
Theo như Điều 650 ta thấy, di chúc bằng văn bản có 4 hình thức, đó là di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, di chúc bằng văn bản có người làm chứng, di chúc bằng văn bản có công chứng và di chúc bằng văn bản có chứng thực
1.1 Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
Điều 654 Bộ luật dân sự quy định mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người được quy định trong điều này, đó là:
Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; người
có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc; người chưa đủ mười
tá tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự
Như vậy nếu di chúc có người làm chứng thì người làm chứng phải là người
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Đồng thời, trong việc lập di chúc phải có sự
tự nguyện hoàn toàn của người lập di chúc về nội dung của di chúc Những quy định tại khoản 1 và khoản 2 của điều này có ý nghĩa ngăn ngừa sự tác động của người thừa kế theo di chúc hoặc người thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc, hay của người có quyền lợi hoặc nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc vào ý chí của người lập di chúc khi lập di chúc
Điều 655, quy định về di chúc bằng văn bản không có người làm chứng như sau:
“Người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc.
Trang 8Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 653 của Bộ luật này”.
Như vậy, di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải do người lập
di chúc tự tay viết và ký vào bản di chúc Nói cách khác, đối với di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thì di chúc đánh máy không có giá trị pháp
lý, dù rằng người lập di chúc biết đánh máy chữ và tự tay đánh máy di chúc Trong thực tiễn xét xử các vụ tranh chấp về di sản thừa kế đối với thừa kế theo di chúc, đã xảy ra nhiều trường hợp một bên đương sự không thừa nhận di chúc, cho là di chúc giả mạo Người ta nêu lý do di chúc đánh máy không phải phải do người để lại di sản lập ra mà do người khác lập, hoặc người lập di chúc
ký vào di chúc đánh máy sẵn khi không còn minh mẫn vì ký vào lúc hấp hối, chữ ký trong di chúc đánh máy không phải là chữ ký của người lập di chúc
Ý nghĩa của quy định di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải
do người lập di chúc tự tay viết:
thứ nhất, chỉ sau khi người lập di chúc chết, di chúc mới được thi hành Nếu
có việc không thừa nhận di chúc Cho là giả mạo thì việc giám định những nét chữ của một người trên một trang giấy hoặc trên nhiều trang giấy của một di chúc viết tay cũng dễ dàng và thuận lợi hơn là giám định có một chữ ký của người lập di chúc trong một di chúc đánh máy để xác định có giả mạo chữ viết hay không
thứ hai, việc tự tay mình viết di chúc thể hiện ý chí của chính mình định đoạt tài sản sau khi chết nói lên người lập di chúc ở trạng thái minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc
Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo những quy định của Điều 653 Bộ luật dân sự về nội dung của di chúc bằng văn bản
Trang 91.2 Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
Điều 656 Bộ luật dân sự quy định: “Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ ngời khác viết, nhưng phải có
ít nhất hai người làm chứng Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản
di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.
Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 653 và Điều 654 của Bộ luật này”.
Như vậy, trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc vì không biết đọc, biết viết hoặc vì lý do nào khác thì có thể nhờ người khác viết hộ di chúc Người lập di chúc phải đọc cho người khác viết hộ di chúc trước mặt ít nhất hai người làm chứng Di chúc viết xong phải do người làm chứng đọc to cho mọi người nghe, được người lập di chúc thừa nhận là di chúc viết hộ đã ghi đúng và đầy đủ những lời đọc của người lập di chúc
Người lập di chúc và người viết hộ di chúc phải cùng ký tên vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng Nếu người lập di chúc không ký được, thì điểm chỉ vào di chúc và trong di chúc ghi rõ lý do không ký được Sau đó, những người làm chứng ký vào di chúc xác nhận có việc lập di chúc trước mặt mình, xác nhận người lập di chúc và người viết hộ di chúc đã ký vào di chúc trước mặt mình
Họ, tên, tuổi và nơi cư trú của người viết hộ di chúc và những người làm chứng cần được ghi rõ trong di chúc cần ghi rõ tuổi của họ để biết rõ đó là những người đã đủ mời tám tuổi trở lên mới có thể là người viết hộ di chúc, người làm chứng trong việc lập di chúc
1.3 Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực
Theo Điều 657 BLDS, người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng nhà nước chứng nhận bản di chúc của mình hoặc có quyền yêu cầu uỷ ban nhân dân cấp xã chứng thực vào bản di chúc do mình lập ra Người lập di chúc phải tự
Trang 10mình mang bản di chúc đến công chức nhà nước yêu cầu công chứng Pháp luật không cho phép người lập di chúc uỷ quyền cho người khác mang di chúc của mình đến công chứng nhà nước yêu cầu công chứng Công chứng viên có nghĩa
vụ công chứng vào bản di chúc theo yêu cầu của người lập di chúc Tuy nhiên, yêu cầu của ngươì lập di chúc có thể bị công chứng viên từ chối trong trường hợp có sự nghi ngờ người lập di chúc đã không làm chủ hành vi lập di chúc do
có dấu hiệu của bệnh tâm thần, có dấu hiệu của bệnh khác đã không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình hoặc di chúc được lập ra do bị người khác lừa dối, doạ nạt, áp đặt ý chí đối với người lập di chúc Những tình huống trên cũng cũng được áp dụng đối với uỷ ban nhân dân, nơi người lập di chúc yêu cầu chứng thực di chúc Tuy nhiên, những nghi ngờ của công chứng viên hoặc thư ký uỷ ban nhân dân có thể được giải toả bằng những minh chứng của cơ quan giám định xác minh theo yêu cầu của người lập di chúc
1.4 Di chúc bằng văn bản được lập trong những trường hợp đặc biệt (di chúc có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực)
Trường hợp thứ nhất, theo quy định tại Điều 658 BLDS thì thủ tục lập di
chúc tại cơ quan công chứng hoặc uỷ ban nhân dân cấp xã theo những thủ tục sau: Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc
Đối với di chúc được lập theo thủ tục trên, tại khoản 2 Điều 658 BLDS quy
định: “Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có