1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác quản trị tiền lương

21 283 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công tác quản trị tiền lương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý lao động
Thể loại Báo cáo thực tập
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 183,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG TẠI CÔNG TY TNHH TM VA QC HOA HƯỚNG DƯƠNG

Trang 1

CHƯƠNG II.

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG TẠI CÔNG TY TNHH TM VA QC HOA HƯỚNG DƯƠNG

A CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

I Một số khái niệm liên quan.

1 Khái niệm tiền lương, tiền công, thù lao lao động.

- Theo tổ chức lao động thế giới (ILO):

+ Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo một sốlượng nhất định không căn cứ vào số giờ làm việc thực tế, thường được trả theo thánghoặc nửa tháng

+ Tiền công là khoản tiền trả công lao động theo hợp đồng lao động (chưa trừ thuế thunhập và các khoản khấu trừ theo quy định) được tính dựa trên số lượng sản phẩm làm rahoặc số giờ làm việc thực tế

- Ngày nay người ta đã đi đến thống nhất về khái niệm tiền lương như sau:

+ Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa ngườilao động và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động (bằng văn bản hoặcbằng miệng) phù hợp với quan hệ cung – cầu sức lao động trên thị trường lao động vàphù hợp với các quy định tiền lương của pháp luật lao động Tiền lương được người sửdụng lao động trả cho người lao động một cách thường xuyên, ổn định trong thời gianhợp đồng lao động

+ Tiền công là số tiền người thuê lao động trả cho người lao động để thực hiện một khốilượng công việc hoặc trả cho một thời gian làm việc (thường là theo giờ) trong nhữnghợp đồng thuê mướn nhân công, phù hợp với quy định của pháp luật lao động và phápluật dân sự về thuê mướn lao động Việc trả công lao động thường được trả một lần saukhi hoàn thành khối lượng công việc nhất định hoặc cho một thời gian làm việc

+ Thù lao lao động: bao gồm mọi hình thức lợi ích về tài chính, phi tài chính và nhữngdịch vụ đích thực mà người lao động được hưởng trong quá trình làm thuê

2. Chức năng của tiền lương

+ Chức năng thước đo giá trị lao động

Tiền lương là giá cả của sức lao động, là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sức laođộng, được hình thành trên cơ sở giá trị lao động nên phản ánh được giá trị sức laođộng

+ Chức năng tái sản xuất sức lao động

Tiền lương là biểu hiện của giá trị sức lao động, đó là giá trị của những tư liệu sinhhoạt cần thiết để duy trì cuộc sống của người lao động, theo điều kiện kinh tế - xã hội vàtrình độ văn minh của mỗi nước

+ Chức năng kích thích

Trang 2

Kích thích là hình thức tác động, tạo ra động lực trong lao động Trong hoạt độngkinh tế thì lợi ích kinh tế là động lực cơ bản, nó biểu hiện trên nhiều dạng, có lợi ích vậtchất và lợi ích tinh thần, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, có lợi ích cá nhân, lợi íchtập thể và cộng đồng xã hội

+ Chức năng bảo hiểm, tích lũy

Bảo hiểm là nhu cầu cơ bản trong quá trình làm việc của người lao động Chứcnăng bảo hiểm tích lũy của tiền lương duy trì được cuộc sống hàng ngày trong thời giancòn khả năng lao động và đang làm việc, tiết kiệm tiền lương từ người lao động

+ Chức năng xã hội

Chức năng xã hội là yếu tố kích thích việc hoàn thiện các mối quan hệ lao động,điều phối thu nhập trong nền kinh tế quốc dân, tạo nên sự công bằng xã hội trong việctrả lương cho người lao động trong cùng một ngành nghề, khu vực và giữa các ngànhnghề, khu vực khác nhau

Như vậy, bản chất tiền lương không bó hẹp trong phạm trù kinh tế đơn thuần đượcthể hiện như một khoản thù lao bù đắp những chi phí thực hiện trong quá trình lao động

3 Sự cần thiết đưa ra các hình thức trả lương tại công ty

*Trong phạm vi doanh nghiệp:

Tiền lương có vai trò rất quan trọng nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp Thông thường người ta trả lương theo cách: hết giờ lấy tiềngiống như những lao động làm các công việc theo giờ, theo ngày nhất định, hay của việctrao đổi mua bán diễn ra ở chợ Còn doanh nghiệp là một tổ chức trong đó có ít nhất là

10 lao động trở lên, mọi hoạt động phải tuân thủ pháp luật nên cách thức trả lương nhưtrên là không phù hợp, không khoa học Mặt khác nếu doanh nghiệp không có cách thứctrả lương hợp lý sẽ không kích thích được người lao động làm việc hết khả năng, khôngthu hút được lao động có trình độ cao, năng lực tốt, cũng không giữ chân được ngườilao động do quy định cạnh tranh rất khốc liệt của thị trường Vì vậy việc xây dựng chomình các hình thức trả lương hợp lý, tuân thủ quy định của nhà nước, theo kịp được thờiđại mang lại hiệu quả cao là rất cần thiết

Song việc lựa chọn các hình thức trả lương nào cho đơn vụ mình để phù hợp vớiđiều kiện, đặc điểm sản xuất kinh doanh không phải là đơn giản Có rất nhiều hình thứctrả lương như: trả lương sản phẩm tập thể, khoán, gian tiếp, trả lương thời gian…, tất cả

nó đều có một quy tắc chung, có ưu điểm và những hạn chế nhất định nhưng áp dụngnhư thế nào để hiệu quả cao nhất đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có một bộ phận chuyênsâu nghiên cứu và triển khai, xây dựng một quy chế hoàn chỉnh tính thực thi cao Bêncạnh đó cần học hỏi kinh nghiệm của các đơn vị rút ra được những hạn chế của họ đểkhi áp dụng vào đơn vị mình tốt hơn

Trang 3

*Trong phạm vi xã hội:

Các doanh nghiệp đưa ra các hình thức trả lương rất cần thiết vì khi đưa ra đơn vị phảiđăng ký với cơ quan nhà nước có thể theo dõi được hệ thống trả lương trong doanhnghiệp có phù hợp với quy định không, có công bằng với người lao động không, có thấphay cao quá so với mặt bằng chung xã hội không để từ đó yêu cầu với doanh nghiệpphải điều chỉnh lại cho hợp lý hơn

Việc đưa ra các hình thức trả lương trong doanh nghiệp la một trong những yếu tốkích thích hoàn thiện các mối quan hệ lao động, điều phối thu nhập trong nền kinh tếquốc dân, tạo nên sự công bằng xã hội trong việc trả lương cho người lao động trongcùng một ngành nghề, khu vực và giữa các ngành nghề khác

*Yếu tố người lao động:

Người lao động là cá nhân trực tiếp làm việc, tạo ra quá trình sản xuất, là nhữngmắt xích để gắn lại thành một doanh nghiệp hoàn chỉnh Họ tạo ra hiệu quả sản xuất,khả năng của họ mang lại lợi ích cho côn ty, doanh thu và sự tồn tại và phát triển Sựbiến động của giá cả ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sinh hoạt của họ, ai cũng mongmuốn mình làm việc và được hưởng đúng với thành quả sức lao động bỏ ra Tiền lươnghợp lý chính là kết quả mà họ mong đợi từ phía công ty

Trong quá trình làm việc sự cạnh tranh giữa các bộ phận thì yếu tố tiền lươngđược đưa ra hàng đầu Nếu trong cách thức trả lương không hợp lý giữa các bộ phận thìlập tức sẽ có những phản ứng không tốt, công viêc có khả năng bị đình trệ, mất sự đoànkết Mặt khác những người lao động có trình độ và năng lực tốt lại ảnh hưởng mứclương bằng với những người kém hơn thì họ sẽ không hài lòng, không cống hiến hết khảnăng của mình và có thể chuyển đến làm việc cho những đơn vị có chế độ đãi ngộ tốthơn

Tất cả những cạnh tranh, những cố gắng, phấn đấu của người lao động đều bắtnguồn từ tiền lương, đó là thu nhập đảm bảo cho cuộc sống của bản thân và gia đình họ.Hơn thế nữa chính là sự khẳng định mình trong công việc Vì vậy việc đưa ra các hìnhthức trả lương hợp lý trong doanh nghiệp sẽ là một trong những yếu tố hàng đầu trongviệc giữ chân người lao động và sự phát triển của doanh nghiệp

4 Các hình thức trả lương

4.1 Hình thức trả lương theo sản phẩm

- Khái niệm: Hình thức trả lương sản phẩm là hình thức trả lương cho người lao

động căn cứ trực tiếp vào số lượng và chất lượng sản phẩm (hoặc dịch vụ) mà họ đãhoàn thành

Trong hình thức trả lương theo sản phẩm tiền lương của người lao động nhậnđược nhiều hay ít phụ thuộc vào đơn giá của sản phẩm, số lượng, chất lượng của sảnphẩm được nghiệm thu hay khối lượng công việc đã hoàn thành

Trang 4

- Ý nghĩa của hình thức trả lương theo sản phẩm:

+ Quán triệt nguyên tắc trả lương theo lao động, vì tiền lương mà người lao động

nhận được phụ thuộc vào số và chất lượng sản phẩm đã hoàn thành

+ Trả lương theo sản phẩm có tác dụng khuyến khích người lao động ra sức học tập

nâng cao trình độ tay nghề, tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng, phát huy sángtạo…để nâng cao khả năng làm việc và năng suất lao động

+ Đóng góp vào việc không ngừng hoàn thiện công tác quản lý, nâng cao tính tự chủ,chủ động làm việc của người lao động và tập thể người lao động

- Đối tượng áp dụng:Hình thức trả lương theo sản phẩm áp dụng rộng rãi cho những

công việc có thể định mức lao động để giao việc cho người lao dộng trực tiếp sản xuất

Để hình thức trả lương sản phẩm phát huy đầy đủ tác dụng và đem lại hiệu quả khitrả lương cần có đầy đủ các điều kiện sau:

- Xác định chính xác đơn giá trả lương sản phẩm

-Phải tổ chức phục vụ tốt nơi làm việc

-Phải tổ chức kiểm tra nghiệp thu sản phẩm chặt chẽ

-Phải có đội ngũ cán bộ nghiệp vụ chuyên sâu về tiền lương

*Các hình thức trả lương theo sản phẩm

4.1.1 Hình thức trả lương sản phẩm trực tiếp cho cá nhân

a Khái niệm: Là hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân là trả lươngcho người lao động căn cứ trực tiếp và số lượng, chất lượng sản phẩm (hay chi tiết sảnphẩm) mà người lao động làm ra

b Đối tượng áp dụng: được áp dụng đối với những người trực tiếp sản xuất kìnhdoanh trong các đơn vị kinh tế mà quá trình lao động của họ mang tính độc lập tươngđối cao, công việc có thể định mức lao động và kiểm tra nghiệm thu sản phẩm một cách

Trang 5

+ TLspi: Tiền lương sản phẩm của công nhân i

+Qi: Sản lượng của công nhân I trong một thời gian xác định

ĐG = (LCBCV +PC) x Mtg hoặc ĐG = (LCBCV + PC)/MSL

Chế độ trả lương này đơn giản, dễ hiểu, dễ tính, công nhân có thể tự tính được sốtiền lương của mình Gắn được lương với kết quả lao động, năng suất, chất lượng laođộng cá nhân Nhưng nếu thiếu những quy định chặt chẽ, hợp lý, công nhân sẽ ít quantâm đến việc tiết kiệm nguyên vật liệu, coi nhẹ việc tiết kiệm chi phí sản xuất, ít quantâm đến việc bảo quản máy móc thiết bị

4.1.2 Hình thức trả lương sản phẩm tập thể

a Khái niệm: Chế độ trả lương sản phẩm tập thể là chế độ trả lương căn cứ vào sốlượng sản phẩm hay công việc do một tập thể công nhân đã hoàn thành và đơn giá tiềnlương của một đơn vị sản phẩm hay một đơn vị công việc trả cho tập thể

b Đối tượng áp dụng: áp dụng với những công việc hay sản phẩm do đặc điểm vềtính chất công việc (hay sản phẩm) không thể tách riêng từng chi tiết mà phải có sự phốihợp của một nhóm công nhân cùng hực hiện

+ ĐGtt đơn giá tiền lương sản phẩm tập thể

+(LCBCV + PC) tổng tiền lương và phụ cấp tính theo cấp bậc công việc của cả tổ

+ MSL mức sản lượng của cả tổ

+ MTG mức thời gian của tổ

Tiền lương sản phẩm tập thể tính theo công thức:

TLtt = ĐGtt x Qtt.

Trong đó: Qtt là sản lượng (hoặc doanh thu đạt được của tổ, đội)

Bước 2: Tính lương cho từng người

Sau khi xác định tiền lương sản phẩm tập thể có thể áp dụng các phương phápkhác nhau để chia lương sản phẩm tập thể cho từng công nhân theo các phương phápsau:

a.Phương pháp trả lương theo hệ số điều chinh

Để tiến hành chia lương tập thể theo phương pháp thời gian hệ số ta phải tiến hành cácbước sau:

Bước 1: Tính thời gian làm việc thực tế quy đổi của từng công nhân.

TqđCNi = HLCBCNi x TLVTTCNi

Trang 6

Trong đó:

+ TqđCNi là thời gian làm việc thực tế quy đổi của công nhân i

+ HLCBCNi là hệ số lương cấp bậc của công nhân i

+ TLVTTCNi là thời gian làm việc thực tế của công nhân i

Bước 2: Tính lương sản phẩm theo một đơn vị thời gian quy đổi.

TL1tghs = ∑TTsptt /∑Tqđi (với i=1,n)

Trong đó:

+ TL1tghs là tiền lương của một đơn vị thời gian quy đổi

+ ∑TTsptt là tổng tiền lương sản phẩm của tổ, nhóm

+ ∑Tqđi là tổng thời gian quy đổi (hệ số) của tổ, nhóm

Bước 3: Tính tiền lương sản phẩm cho từng công nhân

TLSPCNi = TLSP / 1 đơn vị Tqđ x Tqđ Cni

b Phương pháp trả lương theo thời gian hệ số

Bước 1: Tính đổi thời gian làm việc thực tế của từng công nhân về đơn vị thời gian quy

đổi chung

Bước 2: Tính tiền lương sản phẩm cho 1 đơn vị thời gian quy đổi

Bước 3: Tính tiền lương sản phẩm cho từng các nhân

c Phương pháp chia lương theo bình điểm và hệ số lương

Thực chất của phương pháp này là căn cứ vào năng suất, kết quả lao động của mỗingười lao động, những người có trách nhiệm sẽ tiến hành bình bầu và cho điểm dùng đểtrả lương

Bước 1: Quy đổi điểm được bình bầu của từng công nhân

Đqđcni = Đđbcni x HLCBCNi

Trong đó:

+ Đqđcni là điểm quy đổi của công nhân i

+ Đđbcni là điểm được bình của công nhân i

+ HLCBCNi là hệ số lương cấp bậc của công nhân i

Bước 2: Tính lương sản phẩm cho 1 điểm quy đổi

TLsplđ = ∑TLsptt / ∑Đqđcni (với i =1,n)

Trong đó:

+ TLsplđ là tiền lương của 1 điểm quy đổi

+ ∑TLsptt là tổng tiền lương sản phẩm của tổ, nhóm

+ ∑Đqđcni là tổng điểm quy đổi của tổ, nhóm

Bước 3: Tính tiền lương sản phẩm của từng công nhân

TLspcni = TLsp1đ x Đqđcni

Trong đó:

Trang 7

+ TLspcni là tiền lương sản phẩm của công nhân i

+ TLsp1đ là tiền lương của 1 điểm quy đổi

+ Đqđcni là điểm quy đổi của công nhân i

Cách tính lương này có tác dụng nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần hợp tác vàphối hợp có hiệu quả giữa các công nhân làm việc trong tổ, nhóm để cả tổ, nhóm làmviệc hiệu quả hơn Nhưng nếu việc phân phối tiền lương của nhóm không chính xác cóthể gây mất đoàn kết nội bộ làm giảm động lực lao động

4.1.3 Hình thức trả lương theo sản phẩm gián tiếp

a Khái niệm: là hình thức trả lương cho công nhân làm các công việc phục vụ phụ

trợ như công nhân điều chỉnh và sửa chữa máy móc thiết bị, phục vụ vận chuyển khotàng, kiểm tra chất lượng sản phẩm…, căn cứ vào kết quả lao động của công nhân chínhhưởng lương sản phẩm và đơn giá tiền lương tính theo mức lao động của công nhânchính

b Cách tính trả

Công thưc tổng quát tính đơn giá tiền lương sản phẩm gián tiếp của công nhân phụ, phụtrợ:

ĐGPi = (LCBCNP + PCP) x Mtgi x HPvi hoặc ĐGPi = (LCBCNP + PCP) x HPvi / Msli

Như vậy tiền lương được tính theo công thức:

TLSPCNi = ∑ (ĐGPi x Qi)

Trong đó:

+ ĐGPi: là đơn giá tiền lương sản phẩm của công nhân phụ khi phục vụ công nhân thứ i+ LCBCNP: là lương cấp bậc của công nhân phụ

+ PCP: phụ cấp của công nhân phụ

+ Mtgi: mức thời gian của công nhân chính thứ i được công nhân phụ phục vụ

+ Msli: mức sản lượng của công nhân chính thứ I được công nhân phụ phục vụ

+ HPvi: hệ số phục vụ của công nhân phụ đối với công nhân chính thứ i

+ TLSPCNi: là tiền lương của công nhân phụ

+ Qi: sản lượng hoàn thành của công nhân thứ i

Hình thức trả lương này khuyến khích công nhân phụ phục vụ tốt hơn cho côngnhân chính, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động của công nhân chính Tuy nhiên,tiền lương của công nhân phụ phục vụ thuộc vào năng suất của công nhân chính Năngsuất lao động của công nhân chính cao thì tiền lương sản phẩm của công nhân phụ cao

và ngược lại Do vậy, tiền lương của công nhân phụ nhiều khi phản ánh không chính xáckết quả lao động của công nhân phụ

4.1.4 Hình thức trả lương sản phẩm khoán

Trang 8

- Khái niệm: là chế độ trả lương cho một người hay một tập thể công nhân căn cứ

vào mức độ hoàn thành công việc và đơn giá tiền lương được quy định trong hợp đồnggiao khoán

- Đối tượng áp dụng: được áp dụng trong trường hợp mà sản phẩm hay công việckhó giao chi tiết, phải giao nộp cả khối lượng công việc, hay nhiều công việc tổng hợpyêu cầu phải làm xong trong một thời gian xác định Đối tượng khoán có thể là cá nhânhay một nhóm lao động

- Cách tính trả;

Tiền lương sản phẩm khoán được xác định như sau:

TLspk = ĐGk x Qk

Trong đó:

+ TLspk là tiền lương sản phẩm khoán

+ ĐGk là đơn giá khoán cho sản phẩm hay công việc

+ Qk khối lượng sản phẩm khoán được hoàn thành

Trả lương khoán có thể tạm ứng lương theo khối lượng công việc đã hoàn hànhtrong từng đợt và thanh toán lương sau khi đã hoàn thành toàn bộ công việc theo hợpđồng giao khoán

Với phương pháp trả lương này sẽ khuyến khích người lao động phát huy sáng tạo,cải tiến kỹ thuật, cải tiến phương pháp lao động để tối ưu hóa quá trình lao động, tuynhiên việc xác định đơn giá khoán đòi hỏi phải phân tích kỹ, tính toán phức tạp

4.1.5 Hình thức trả lương sản phẩm có thưởng

- Khái niệm: là chế độ trả lương theo sản phẩm kết hợp thực hiện các hình thức

tiền thưởng nếu công nhân đạt được các tiêu chuẩn thưởng quy định

- Đối tượng áp dụng: được áp dụng đối với công nhân hưởng lương theo sản phẩm

mà công việc hoặc sản phẩm có vai trò quan trọng hoặc yêu cầu bức xúc góp phần vàoviệc hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch của đơn vị

- Cách tính trả:

Khi áp dụng hình thức trả lương này, toàn bộ sản phẩm đều được trả một đơn giá

cố định, còn tiền thưởng sẽ căn cứ vào mức độ hoàn thành vượt mức các chỉ tiêuthưởng

Tiền lương sản phẩm có thưởng được tính theo công thức sau:

TLspt = L + L x m x h/100

Trong đó:

+ TLspt: là tiền lương trả theo sản phẩm có thưởng

+ L: là tiền lương theo đơn giá cố định

+ m: tỷ lệ thưởng cho 1% vượt mức chỉ tiêu thưởng

Trang 9

+ h: % vượt mức chỉ tiêu thưởng

Phương pháp tính lương này sẽ khuyến khích người lao động tích cực làm việc,khuyến khích họ tích cực học hỏi, tích lũy kinh nghiệm để hoàn thành vượt mức sảnlượng Tuy nhiên, nếu chỉ tiêu thưởng, điều kiện thưởng, tỷ lệ thưởng nếu xác địnhkhông hợp lý sẽ làm tăng chi phí tiền lương và bội chi quỹ lương

4.2 Hình thức trả lương thời gian

- Khái niệm: là hình thức trả lương căn cứ vào mức lương cấp bậc hoặc chức vụ và

thời gian làm việc thực tế của công nhân viên chức

- Đối tượng áp dụng: áp dụng chủ yếu đối với khu vực hành chính sự nghiệp hoặc

đối với công việc khó xác định mức lao động chính xác, khó đánh giá công việc chínhxác

- Cách tính trả:

Tiền lương thời gian được tính trả như sau:

TLTG = ML x TLVTT

Trong đó:

+ TLTG: là tiền lương thời gian trả cho người lao động

+ ML: là mức lương tương ứng với cấp bậc trong thang lương, bảng lương (mức lươnggiờ, ngày, tháng…)

+ TLVTT: thời gian làm việc thực tế (số ngày công, giờ công đã làm trong kỳ, tuần,tháng…)

4.2.1 Hình thức trả lương theo thời gian đơn giản

- Khái niệm: Là hình thức trả lương mà tiền lương nhận được của mỗi người lao

động phụ thuộc vào mức lương cấp bậc, chức vụ hay cấp hàm và thời gian làm việcthực tế của họ

- Đối tượng áp dụng: Hình thức trả lương này được áp dụng chủ yếu đối với khu

vực hành chính sự nghiệp hoặc đối với công việc khó xác định định mức lao động chínhxác, khó đánh giá công việc chính xác

- Hình thức trả lương tháng: Là hình thức trả lương tính theo mức lương cấp bậc

hoặc chức vụ tháng của công nhân viên chức

Hình thức trả lương tháng được áp dụng chủ yếu đối với viên chức làm việc trongkhu vực nhà nước

Mức lương tháng được tính trả như sau:

Trang 10

- Hình thức trả lương ngày: Là hình thức trả lương tính theo mức lương (cấp bậc

hay chức vụ) ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng

Hình thức trả lương ngày được áp dụng đối với công nhân viên chức trong các cơquan, đơn vị mà có thể tổ chức chấm công và hạch toán ngày công cho mỗi người được

Hình thức trả lương này giảm bớt được tính bình quân trong trả lương, có tácdụng khuyến khích việc nâng cao hiệu quả sử dụng thời gian lao động trong thángnhưng chưa phản ánh được hiệu quả lao động trong ngày làm việc

4.2.2 Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng

- Khái niệm: Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng là sự kết hợp thực hiện

hình thức trả lương theo thời gian đơn giản với việc áp dụng hình thức thưởng nếu cán

bộ công nhân viên chức đạt được các chỉ tiêu và điều kiện thưởng quy định

Hình thức trả lương này thường áp dụng đối với những bộ phận sản xuất hoặcnhững công việc chưa có điều kiện trả lương theo sản phẩm hay những công việc đòihỏi phảm đảm bảo tính chính xác cao, những công việc có trình độ cơ khí hóa, tự độnghóa cao

- Cách tính trả: Tiền lương của người lao động nhận được bao gồm tiền lương theothời gian đơn giản cộng với tiền thưởng

TLtg = ML x T1vtt + T thưởng

Ngày đăng: 01/05/2013, 16:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bộ máy tổ chức của công ty : - Công tác quản trị tiền lương
Sơ đồ b ộ máy tổ chức của công ty : (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w