Các góc độ tiếp cận thơ Nguyễn Khoa Điềm Nhiều nhà nghiên cứu, học giả cũng như những người yêu thơ Nguyễn Khoa Điềm đã tìm hiểu vẻ đẹp thơ ông dưới nhiều góc độ khác nhau: phong cách,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bá Thành
Hà Nội-5/2011
Trang 2MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.1 Tác giả Nguyễn Khoa Điềm 1
1.2 Tư duy thơ 1
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 2
2.1 Các góc độ tiếp cận thơ Nguyễn Khoa Điềm 2
2.2 Nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc độ tư duy nghệ thuật 4
3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 6
3.1 Đối tượng nghiên cứu 6
3.2 Phạm vi nghiên cứu 6
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
4.1 Phương pháp phân tích: 6
4.2 Phương pháp thống kê 7
4.3 Phương pháp so sánh 7
5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 7
B NỘI DUNG CHÍNH 8
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ DUY THƠ VÀ 8
QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM 8
1.1 Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật 8
1.1.1 Khái niệm tư duy 8
1.1.2 Quan niệm về tư duy nghệ thuật, tư duy thơ 10
1.1.2.1 Tư duy nghệ thuật 10
1.1.2.2 Tư duy thơ 11
1.2 Quá trình sáng tác thơ của Nguyễn Khoa Điềm 14
1.2.1 Các giai đoạn sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm 14
1.2.2 Quan niệm thơ của Nguyễn Khoa Điềm 16
1.2.3 Những nét đặc sắc về tư duy thơ Nguyễn Khoa Điềm 18
Tiểu kết chương 1 21
Chương 2: CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ MỘT SỐ BIỂU TƯỢNG ĐẶC SẮC TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM 22
Trang 32.1 Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 22
2.1.1 Quan niệm về cái tôi, cái tôi trữ tình trong thơ 22
2.1.2 Nội dung cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 27
2.1.2.1 Cái tôi yêu say mê nhưng tỉnh táo 27
2.1.2.2 Cái tôi công dân, cái tôi chiến sĩ 36
2.1.2.3 Cái tôi nặng lòng với Huế 46
2.2 Biểu tượng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 53
2.2.1 Biểu tượng trong tư duy thơ 53
2.2.2 Một số biểu tượng đặc sắc trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 55
2.2.2.1 Biểu tượng “mặt đường khát vọng” 55
2.2.2.2 Các biểu tượng “máu”, “ lửa” và “màu đỏ” 60
2.2.2.5 Biểu tượng “cõi lặng” 63
Tiểu kết chương 2 68
Chương 3: NGÔN NGỮ THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM 69
3.1 Ngôn ngữ trong tư duy thơ 69
3.2 Sự sáng tạo ngôn ngữ trong các thể loại thơ 71
3.2.1 Sự sáng tạo ngôn ngữ trong trường ca 72
3.2.2 Sự sáng tạo ngôn ngữ trong thơ trữ tình 81
3.2.3 Sự sáng tạo ngôn ngữ trong thơ lục bát 85
Tiểu kết chương 3 87
III KẾT LUẬN 88
Trang 4A PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Tác giả Nguyễn Khoa Điềm
Nguyễn Khoa Điềm không xa lạ với bạn đọc yêu thơ Ông là một trong số những nhà thơ có nhiều đóng góp tích cực cho thi ca Việt Nam Những vần thơ của ông chan chứa tình đồng bào đồng chí và thấm sâu những suy tư của một người con yêu nước Dù đương chức hay khi rời xa chốn quan trường thì thơ của ông cũng đều
có những đặc sắc riêng Thơ với Nguyễn Khoa Điềm như một người bạn tri âm tri
kỷ, ông luôn dành tình cảm sâu sắc và chân thành tự đáy lòng cho thơ Ông viết khá đều tay và đạt được nhiều thành công Nguyễn Khoa Điềm đạt giải thưởng của Hội
Nhà văn Việt Nam với tập thơ “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm” (1986) Ông đã làm
Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Bộ trưởng bộ Văn hóa thông tin Có thể nói thi sĩ Nguyễn Khoa Điềm thành công trên con đường chính trị và con đường thơ ca, điều đó không phải nhà thơ nào cũng làm được
Thơ Nguyễn Khoa Điềm có nhiều đóng góp lớn lao không thể phủ nhận, và cũng có nhiều người nghiên cứu, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về
tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm Chúng tôi muốn qua đề tài “Thơ Nguyễn
Khoa Điềm nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật” để có một cái nhìn toàn diện và sâu
sắc hơn về thơ Nguyễn Khoa Điềm từ kháng chiến cho đến hôm nay
1.2 Tư duy thơ
Khi tiếp cận thi ca, người ta có nhiều cách nghiên cứu khác nhau để khai thác hết những chiều sâu ý nghĩa cũng như đặc sắc nghệ thuật của từng câu chữ Thơ đặc sắc ở từng chữ, thậm chí từng dấu chấm dấu phẩy, đó là điểm khác biệt cơ bản giữa thơ và văn xuôi Người ta có thể tiếp cận vẻ đẹp của thơ bằng phương pháp thi pháp học, bằng phương pháp xã hội học và tất nhiên mỗi cách tiếp cận có những ưu điểm và hạn chế khác nhau Chúng tôi chọn cách tiếp cận thơ Nguyễn Khoa Điềm
từ góc độ tư duy thơ như một cách tiếp cận tổng hợp các yếu tố nội dung và hình thức đảm bảo đi sâu vào thơ ông, khai thác những vẻ đẹp riêng của thơ ông
Trang 5Nghiên cứu thơ từ góc độ tư duy nghệ thuật sẽ cho ta đi sâu vào các giá trị đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật của những vần thơ mang trong mình sức sống mạnh mẽ qua thời gian Chúng tôi cho rằng đây là một hướng tiếp cận thơ Nguyễn Khoa Điềm tương đối toàn diện và sẽ có những đóng góp nhất định
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
2.1 Các góc độ tiếp cận thơ Nguyễn Khoa Điềm
Nhiều nhà nghiên cứu, học giả cũng như những người yêu thơ Nguyễn Khoa Điềm đã tìm hiểu vẻ đẹp thơ ông dưới nhiều góc độ khác nhau: phong cách, nội dung phản ánh hiện thực, đề tài chiến tranh – người lính…
Trong chuyên luận: “Đặc trưng trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm,
Thanh Thảo”, Mai Bá Ấn, Nxb hội nhà văn 2009, tác giả chủ yếu đi sâu nghiên cứu
trường ca của ba nhà thơ trên, qua đó tìm hiểu một phần phong cách của Nguyễn Khoa Điềm Mai Bá Ấn tiếp cận trường ca Nguyễn Khoa Điềm để khẳng định những đóng góp của ông cũng như của các nhà thơ Thu Bồn, Thanh Thảo cho nền thi ca Việt Nam dưới góc độ thể loại Trong từng chương của công trình nghiên cứu, ông đều thể hiện những nhận định sắc sảo và tinh tế về các khía cạnh của trường ca Nguyễn Khoa Điềm trong thế đối sánh với các trường ca của Thu Bồn, Thanh Thảo Qua đó, những nét đặc sắc trong thể loại trường ca của từng nhà thơ được bộc lộ một cách rõ ràng, sắc nét Chương một, Mai Bá Ẩn tìm hiểu những quan niệm và khái niệm về trường ca nói chung và quan niệm riêng về thơ và trường ca của ba nhà thơ, đồng thời ông cũng không quên khẳng định lại một lần nữa những thành tựu đã được ghi nhận về trường ca của ba nhà thơ trên Ở chương hai, Mai Bá Ẩn đi sâu nghiên cứu tính đa tầng trong khả năng chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống và con người, những khát vọng bình yên qua các biểu chưng tiêu biểu của Nguyễn Khoa Điềm, Thu Bồn, Thanh Thảo Trong chương 3, nhà nghiên cứu Mai Bá Ẩn nghiên cứu tính phức hợp trong cấu trúc nghệ thuật (thể thơ, ngôn ngữ, giọng điệu, cấu trúc tác phẩm) Đây là một công trình nghiên cứu rất có ý nghĩa bởi
đã khẳng định thêm một lần nữa những đóng góp lớn lao và chắc chắn của ba nhà thơ trên cho nền thi ca Việt Nam trên nhiều phương diện Trong thế đối sánh giữa
ba nhà thơ, ta thấy rõ rằng Nguyễn Khoa Điềm dù không viết nhiều trường ca
Trang 6nhưng ông vẫn để lại những đóng góp riêng, phong cách riêng không thể lẫn với bất
cứ nhà thơ nào Trường ca Nguyễn Khoa Điềm hướng về không gian thành thị, về những người thanh niên từ thành thị đi vào kháng chiến Nguyễn Khoa Điềm cũng hướng đến những triết lí sâu sắc về cuộc sống, về đất nước
Mỗi nhà nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm đều có những phát hiện mới mẻ
và quan trọng về đặc trưng cũng như thành tựu thi ca của ông Trong bài viết “Nhà
thơ Nguyễn Khoa Điềm như tôi biết” của Phan Thị Thanh Nhàn, nhà thơ chủ yếu đi
sâu khai thác khía cạnh tính cách của thi sĩ Nguyễn Khoa Điềm qua những vần thơ
và những kỉ niệm khó quên Nữ thi sĩ khẳng định thơ Nguyễn Khoa Điềm khi xưa là
“những bài thơ sâu lắng, tinh tế, trong veo và đầy khát vọng”[42,11] Đó là những lời nhận xét sắc sảo và khái quát về đặc điểm và đóng góp của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm một thời Bài viết của Nguyễn Thị Thanh Nhàn gần gũi và sâu lắng như những lời tâm sự nhẹ nhàng tinh tế
Nhà thơ Trần Đăng trong bài viết rất tâm huyết: Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm:
"Bây giờ gió gọi anh đi" cho chúng ta thêm một trải nghiệm nữa về nhà thơ Nguyễn
Khoa Điềm Đó là một thi sĩ “không chỉ biết làm thơ hay mà còn là người luôn phát hiện và ủng hộ cái mới trong văn học”[12] Nguyễn Khoa Điềm từng giữ nhiều chức vụ quan trọng nhưng rồi khi trở về cuộc sống thường nhật cũng giản dị như tất
cả những người xung quanh ông, điều đó được thể hiện qua những kỉ niệm quanh
“chiếc xe đạp” và cả những vần thơ được viết gần đây, những vần thơ “đẩy con người đến chỗ tận cùng của sự trần trụi Không sợ hãi và không che đậy”[12] Nhà nghiên cứu cũng khẳng định một cách chắc chắn về tập thơ gần đây của Nguyễn
Khoa Điềm: “Bây giờ gió gọi anh đi” là thời kì bùng nổ thứ ba của thơ Nguyễn
Khoa Điềm Bài viết đã thể hiện một cách đầy đủ và trọn vẹn hành trình thơ của Nguyễn Khoa Điềm cùng những kỉ niệm bên lề trong khoảng thời gian về hưu của ông Có lẽ do khuôn khổ của một bài báo ngắn nên Trần Đăng chưa đi sâu hơn nữa vào thơ Nguyễn Khoa Điềm, như những công trình nghiên cứu khoa học khác
Trong bài nghiên cứu “Miễn là dám bước qua giới hạn của mình” của nhà thơ
Thanh Thảo, người đọc cảm nhận được sự phân tích thấu đáo và thuyết phục về
những vần thơ giầu tình yêu nước của Nguyễn Khoa Điềm “Những bài như Đất
Trang 7ngoại ô, Con chim thời gian, Con gà đất cây kèn và khẩu súng là những bài khá tiêu
biểu cho phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm, khi tứ thơ chỉ là “gợi ý”, chỉ là “điểm nhìn” để từ đó bài thơ phát triển tự do theo cảm xúc, nhiều khi vượt ngoài những
“bộ khung” của tứ thơ Đó cũng là cách sáng tạo của nhiều nhà thơ thế hệ chống
Mỹ, những người biết hoà trộn bản năng và nhận thức, giữa những gì có được từ đời sống sách vở với những gì có được từ đời sống chiến trường”[62] Thanh Thảo cũng cho rằng thơ của Nguyễn Khoa Điềm nghiêng về triết lý, lý giải về nhân tình thế thái Bài viết của nhà thơ Thanh Thảo đi sâu vào từng vần thơ xuất sắc của Nguyễn Khoa Điềm và phân tích một cách cặn kẽ cái hay cái đẹp của thơ ông rồi từ
đó khái quát đặc điểm chung của thơ ông
Những sách báo cũng như bài viết trên báo mạng về thơ và trường ca Nguyễn Khoa Điềm, hầu hết đều thống nhất khẳng định thơ Nguyễn Khoa Điềm đã góp phần làm thơ Cách mạng thêm phong phú và có chiều sâu Những tập thơ về sau của ông đầy tính chiêm nghiệm về nhân tình thế thái Chính vì sự thống nhất trong đánh giá thành tựu thơ Nguyễn Khoa Điềm của những nhà nghiên cứu trước nên việc tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm của thế hệ sau không mấy khó khăn Bởi lẽ không bị rối và mất phương hướng trong hàng loạt những công trình nghiên cứu mang nhiều ý kiến trái chiều như một số nhà văn nhà thơ khác
2.2 Nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc độ tư duy nghệ thuật
Cũng cần phải nhìn một cách công bằng rằng thực tế rất hiếm và hầu như chưa
có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm Như trên đã phân tích, công trình nghiên cứu rất công phu của Mai Bá Ẩn về trường ca Thu Bồn, Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện rõ những phát hiện mới mẻ của ông về trường ca của ba nhà thơ trên Chúng ta không thể phủ nhận mức độ công phu và sự thành công của chuyên luận trên Tuy nhiên cách tiếp cận đó không phải là cách tiếp cận duy nhất để khẳng định thành công của Nguyễn Khoa Điềm về mảng thi ca Và cũng như đã phân tích ở trên, những bài báo nghiên cứu về con người và thi ca Nguyễn Khoa Điềm được đăng trên báo chí cũng chưa khai thác hết những đặc sắc của thi ca Nguyễn Khoa Điềm Mỗi hướng tiếp cận đều
Trang 8cho thấy những khám phá và đóng góp nhất định về thành công của thơ Nguyễn Khoa Điềm, nhưng có lẽ vẫn là chưa đầy đủ nếu chúng ta chưa tiếp cận thơ ca Nguyễn Khoa Điềm dưới góc độ tư duy nghệ thuật
Trên thực tế việc nghiên cứu thơ của một tác giả dưới góc độ tư duy nghệ thuật không phải là hiếm Nguyễn Thị Thuỳ Dung nghiên cứu: “Thơ Lê Đạt dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật” (Luận văn thạc sĩ Văn học), Đại học khoa học xã hội và nhân văn 2010 Thuỳ Dung đã nghiên cứu tư duy thơ Lê Đạt một cách tương đối toàn diện, dưới nhiều góc nhìn: Quan niệm thơ, biểu tượng thơ, hình tượng thơ và ngôn ngữ thơ Lê Đạt Bên cạnh đó cũng có luận văn của Nguyễn Thị Hải Yến, nghiên cứu thơ Thanh Thảo từ góc độ tư duy nghệ thuật, Đại học khoa học xã hội
và nhân văn Luận văn này cho chúng ta hiểu một cách toàn diện về thơ Thanh Thảo: cái tôi người lính, cái tôi trữ tình, mối quan hệ giữa biểu tượng và tư duy thơ, biểu tượng của lý tưởng sống và biểu tượng của sự sáng tạo, ngôn ngữ thơ đậm chất đời thường và nhiều khoảng trống, giọng điệu thơ bi hùng và giầu suy tưởng triết lý trong các sáng tác của nhà thơ Thanh Thảo Ngoài ra phải kể đến luận văn của Trần Thị Thuỳ Dung với tiêu đề “Thơ Bùi Giáng từ góc nhìn tư duy nghệ thuật” (Luận văn thạc sĩ Khoa Văn học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội năm 2010)
Luận văn này đã ra đời với mong muốn góp một cách nhìn toàn diện hơn và có
bề sâu về thơ Nguyễn Khoa Điềm nói chung Mỗi giai đoạn sáng tác của mình, Nguyễn Khoa Điềm đều khẳng định một bước thành công mới, những thành tựu nhất định trong nền thi ca Việt Nam Đó là điều không phải thi sĩ nào cũng làm được Mỗi giai đoạn sáng tác, Nguyễn Khoa Điềm thể hiện cảm hứng chủ đạo và tư duy thơ khác nhau Giai đoạn đầu, cảm hứng chủ đạo là về quê hương đất nước đau thương và anh dũng; tư duy hướng ngoại là chủ yếu Giai đoạn sau, cảm hứng chủ đạo của thơ ông hướng vào cuộc sống thường nhật với những suy tư nhiều chiều về cuộc sống, nhân sinh, ông sử dụng tư duy thơ hướng nội, trở về với bản ngã của chính mình
Trang 93 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thơ, trường ca và các sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm Chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu những tập thơ đã làm nên tên tuổi của Nguyễn Khoa Điềm từ những thời kì mới sáng tác cho đến tập thơ gần đây nhất mà ông mang đến cho bạn đọc yêu thơ Chúng tôi cũng tập trung nghiên cứu những vấn
đề có ý nghĩa nhận thức luận, văn hoá… của Nguyễn Khoa Điềm Những tập thơ
khẳng định tên tuổi của Nguyễn Khoa Điềm phải kể đến: Cửa thép (1972), Đất
ngoại ô (1973), Mặt đường khát vọng (1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990), Cõi lặng (2007)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tập trung đi sâu vào các nội dung chính của tư duy nghệ thuật: biểu tượng thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Khoa Điềm Qua đó cho thấy những nét đặc sắc riêng biệt của thơ Nguyễn Khoa Điềm so với những nhà thơ khác Cùng viết về đề tài đất nước và chiến tranh nhưng thơ Nguyễn Khoa Điềm có cách nhìn giản dị và sâu lắng khác hẳn với những vần thơ ngùn ngụt ý chí chiến đấu của Tố Hữu hay những nhà thơ cùng thời khác Tố Hữu thành công vang dội với phong cách riêng của ông và Nguyễn Khoa Điềm cũng ghi tên mình vào danh sách những nhà thơ xuất sắc viết về chiến tranh nhưng lại bằng một giọng thơ sâu lắng, trữ tình, lay động bao trái tim người yêu thơ
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn này chủ yếu tiếp cận tác phẩm Nguyễn Khoa Điềm bằng phương pháp phân tích, thống kê, so sánh
4.1 Phương pháp phân tích:
Phương pháp phân tích sẽ đi sâu phân tích các tác phẩm của Nguyễn Khoa Điềm và chủ yếu làm nổi bật các nội dung của tư duy thơ ông như đã giới hạn ở trên
Trang 104.3 Phương pháp so sánh
Người nghiên cứu cũng đồng thời tìm hiểu những tác phẩm thơ cũng như trường ca của một số nhà thơ cùng thời kỳ trong thế so sánh với thơ Nguyễn Khoa Điềm Qua đó chúng ta sẽ hiểu rõ hơn phong cách riêng của Nguyễn Khoa Điềm trong thể loại trường ca, cũng như trong các thể thơ khác
Qua các phương pháp nghiên cứu trên đây chúng tôi sẽ hiểu sâu sắc những nét đặc sắc của thơ và trường ca Nguyễn Khoa Điềm trong bối cảnh chung của nền thi
ca Việt Nam từng thời kỳ Chúng tôi vừa đi sâu tìm hiểu và phân tích những đặc sắc nghệ thuật và cả những đặc sắc trong nội dung nhằm chỉ ra vẻ đẹp toàn diện và thống nhất của thơ Nguyễn Khoa Điềm
5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì phần nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ DUY THƠ VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Chương 2: CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ MỘT SỐ BIỂU TƯỢNG ĐẶC SẮC TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Chương 3: NGÔN NGỮ THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Trang 11B NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ DUY THƠ VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM
1.1 Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật
1.1.1 Khái niệm tư duy
Để giải thích vấn đề tư duy là gì, nhiều nhà khoa học và nhiều ngành khoa học
đã tốn không biết bao nhiêu thời gian và giấy mực để nghiên cứu, và cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất Triết học nghiên cứu tư duy dưới góc độ lý luận nhận thức Lôgíc học nghiên cứu tư duy ở các quy tắc tư duy đúng Xã hội học nghiên cứu tư duy ở sự phát triển của quá trình nhận thức trong các chế độ xã hội khác nhau Sinh lý học nghiên cứu cơ chế hoạt động thần kinh cao cấp với tư cách là nền tảng vật chất của các quá trình tư duy ở con người Điều khiển học nghiên cứu tư duy để có thể tạo ra “Trí tuệ nhân tạo” Tâm lý học nghiên cứu diễn biến của quá trình tư duy, mối quan hệ qua lại cụ thể của tư duy với các khía cạnh khác của nhận thức
Tư duy không chỉ là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học cơ bản, mà còn là đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực nghệ thuật Tư duy là toàn bộ những hoạt
Trang 12động tâm lý của con người, chỉ con người mới có Tư duy nảy sinh từ sự sống và gắn liền với hoạt động của các tế bào não “Tư duy là quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính, bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết Tư duy của con người có bản chất
xã hội, chịu sự chế ước bởi các nhu cầu xã hội và sử dụng ngôn ngữ, là cái chỉ tồn tại trong xã hội loài người Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó bằng các phương tiện ngôn ngữ, đó là toàn bộ chức năng nhận thức của tư duy”[58,18]
Theo V.I Lê nin, tư duy là sự phản ánh thế giới tự nhiên sâu sắc hơn, trung thành hơn, đầy đủ hơn, đi sâu một cách vô hạn, tiến gần đến chân lý khách quan hơn “Tư duy của người ta - đi sâu một cách vô hạn, từ giả tưởng tới bản chất, từ bản chất cấp một, nếu có thể như vậy, đến bản chất cấp hai đến vô hạn”[67,30]
Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan một cánh gián tiếp, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà ta chưa từng biết Tư duy khác với ý thức, bởi lẽ ý thức là sự phản ánh hiện thực của hoạt động tâm lý Tư duy cũng khác với
lý trí vì nói đến lý trí là nói đến cái logic có tính nguyên tắc của nhận thức Tư tưởng thì vừa là kết quả vừa là xuất phát điểm của tư duy
Tư duy là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh thể hiện qua việc tạo ra các liên kết giữa các phần tử đã ghi nhớ được chọn lọc và kích thích chúng hoạt động để thực hiện sự nhận thức về thế giới xung quanh, định hướng cho hành vi phù hợp với môi trường sống Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan một cánh gián tiếp, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà ta chưa từng biết Tư duy định hướng đến sự thành thục, khi sự thành thục đã có thì tư duy kết thúc Điều này giống với sự nhận thức, khi sự nhận thức chưa có thì cần phải tư duy, khi nhận thức đã có thì tư duy kết thúc
Phương tiện để diễn đạt tư duy chính là ngôn ngữ, ngôn ngữ là công cụ của tư duy “Không có ngôn ngữ thì tư duy chỉ là những dự báo mơ hồ, những phản ứng có tính bản năng trước hiện thực Không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là tiếng kêu bập bẹ
Trang 13của trẻ sơ sinh mà thôi Tư duy làm cho ngôn ngữ phát triển phong phú, tinh xảo Ngôn ngữ tạo điều kiện cho tư duy đi sâu vào bản chất của sự vật”[58,19] Và như vậy, ngôn ngữ thơ chính là một phương tiện biểu hiện tư duy thơ, tư duy thơ thế nào thì ngôn ngữ thơ như vậy
1.1.2 Quan niệm về tư duy nghệ thuật, tư duy thơ
1.1.2.1 Tư duy nghệ thuật
Tư duy nghệ thuật là tư duy sáng tạo của con người trong lĩnh vực nghệ thuật Mỗi nghệ sĩ có một hướng tư duy nghệ thuật khác nhau, làm nên cá tính và phong cách riêng của họ Không phải nhà thơ nào cũng có phong cách nhưng bất cứ nhà thơ nào muốn để lại tên tuổi của mình trên văn đàn, phải khẳng định được cái riêng của mình Cái khắc nghiệt của văn chương nghệ thuật là ở chỗ đó, hoàn toàn khác với các loại hình khoa học khác Khoa học tự nhiên hướng đến những định lí chung nhất, khái quát nhất và được nhân loại thừa nhận Còn văn chương nghệ thuật lại hướng đến cái tôi, cái duy nhất Và chỉ khi nào người nghệ sĩ thực sự say mê với công việc, thì sự sáng tạo mới toả sáng, cái độc đáo của người nghệ sĩ mới được bộc
lộ và được công nhận Bất cứ một sự sao chép và khiên cưỡng nào đều nằm ngoài địa hạt của nghệ thuật chân chính
“Tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật Bản chất của nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng quy định Tư duy nghệ thuật là một phương thức hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hoá hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ Phương tiện của nó là các biểu tượng, tượng trưng có thể trực quan được Cơ sở của nó là tình cảm Dấu hiệu bản chất của tư duy nghệ thuật là: ngoài tính giả định ước lệ, nó hướng tới sự nắm bắt những sự thật đời sống
cụ thể, cảm tính, mang nội dung khả nhiên, có thể cảm thấy, theo xác suất khả năng
và tất yếu”[26,281] Như vậy điều quan trọng nhất của tư duy nghệ thuật đó là sự sáng tạo, và phương tiện biểu hiện nằm trong những biểu tượng nghệ thuật Mỗi nhà
Trang 14văn, nhà thơ đều có sự lựa chọn biểu tượng khác nhau để chuyển tải cách tư duy của mình, cách nhìn thế giới của mình
Tư duy thơ là một cách tư duy hình tượng, thơ cho phép thi sĩ có khả năng liên tưởng phong phú đa dạng Tư duy thơ có khả năng hướng nội và hướng ngoại Tuỳ từng thời điểm và tuỳ thuộc phong cách riêng của mỗi nhà thơ mà họ chọn cách
tư duy phù hợp Tư duy hướng nội thường phổ biến trong thơ trung đại và thơ lãng mạn, nơi cái tôi thi sĩ lên ngôi Tư duy hướng ngoại phổ biến ở giai đoạn văn học cách mạng, các thi sĩ say mê thể hiện cái ta, hoà cái tôi vào cái ta chung của thời đại
Nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành đã bàn nhiều về vấn đề tư duy nghệ thuật nói chung và tư duy thơ nói riêng trong rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau Ông cho rằng: “Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hoá hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo”[58,54] Chính trên cơ sở vai trò của cái chủ thể trong hình tượng nghệ thuật mà Claud Bernard đã ghi chú: “Nghệ thuật là tôi, khoa học là chúng ta…” Tư duy nghệ thuật khác với tư duy khoa học ở chỗ tư tưởng và tình cảm không chỉ là năng lượng của tư duy mà còn là đối tượng nhận thức của tư duy “Hình tượng nghệ thuật được coi là hình tượng của cảm xúc, nghĩa là năng lượng tình cảm còn lại trong hình tượng như là một yếu tố nội dung, một bộ phận hợp thành”[58,19]
1.1.2.2 Tư duy thơ
Thơ ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại Thơ là một thể loại văn học hết sức quen thuộc và gần gũi với con người ở mọi thời đại, ở phương Đông cũng như ở phương Tây… Khác với loại tác phẩm truyện, kí, kịch, thơ trực tiếp gắn với tâm hồn con người, mà tâm hồn con người là một thế giới phức tạp, mờ ảo nên thơ có thể dễ dàng cảm nhận bằng trực giác nhưng rất khó đúc kết, khái quát thành một định nghĩa thật sự hoàn chỉnh “Ở tác phẩm tự sự, tác giả xây dựng bức tranh về cuộc sống, trong đó các nhân vật có đường đi và số phận của chúng Bằng những đối thoại và độc thoại, tác giả kịch thể hiện tính cách và hành động con người qua những mâu thuẫn xung đột Ở tác phẩm trữ tình có khác; thế giới quan của con
Trang 15người, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu” [37, 357]
Để viết nên bài thơ, đầu tiên nhà thơ phải tìm cho mình được tứ thơ Tứ thơ rất quan trọng Tứ thơ, hay ý tứ của bài thơ, là tình cảm, hình ảnh chủ đạo mà bài thơ muốn truyền đạt Một nhà thơ phải biết cách hòa ý tưởng vào cảm xúc và hình ảnh, sáng tạo một tứ độc đáo làm bài thơ linh động hẳn lên, trở nên có hồn Hành động đó gọi là cấu tứ
Lao động thơ trước hết là kiếm tứ… Ngôn từ, lời chữ vẫn rất quan trọng bởi
vì thơ là nghệ thuật của ngôn ngữ Tuy nhiên đó là cái quan trọng thứ hai mà cái quan trọng thứ nhất làm rường cột cho tất cả là cái tứ thơ, nó chủ đạo cả bài thơ
Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nam cho rằng: “Trước hết cần phân biệt ý và
tứ Nói đến ý ta nghĩ đến những điều nảy ra trong trí óc khi suy nghĩ Còn tứ phải là những ý không ở dạng quan niệm nữa, đã thể hiện trong hình tượng Có tứ tất có ý, còn có ý chưa hẳn là có tứ Nói tứ thơ – là hình tượng thơ là đúng nhưng chưa rõ Một hình tượng thơ là sự thể hiện các hiện tượng, tình cảnh, chi tiết cuộc sống… sao cho người đọc có thể hình dung ra hình thể, dáng dấp, màu sắc, âm thanh của nó… biến nó thành những điều có thể tiếp nhận được qua cảm quan”[41] Ông cũng nói thêm: “Khi người đọc thừa nhận một đoạn thơ có tứ, một bài thơ có tứ là đã thừa nhận một phần phẩm chất nghệ thuật của nó Một tứ thơ phải là hình tượng có tìm tòi sáng tạo, thể hiện ý trọn vẹn, gợi lên những điều tốt đẹp, xúc động lòng người, tạo ra những mối liên tưởng rộng rãi, nghĩa là có giá trị thẩm mỹ cao Đó mới là thực chất của tứ thơ thường được nói đến khi bàn luận về thơ Những câu thơ được truyền tụng trích dẫn phần lớn là những tứ thơ”[41]
Tứ thơ không phải là tất cả của bài thơ, bài thơ hay còn căn cứ trên nhiều yếu
tố khác nhau Nhưng tứ thơ là cái hết sức quan trọng: “Có được cái tứ là điều kiện cần yếu của tính nghệ thuật của thơ Vì tứ là đặc sản của tâm hồn thơ, chứng tỏ tác giả có cái nhìn thẩm mỹ – tức cái nhìn thế giới độc đáo, phát hiện ra những khía cạnh tinh vi, thiết yếu, những khía cạnh các nhà sử học không ghi hết được, nhưng lại là bộ phận sống động; cụ thể nhất của lịch sử, hình tượng của những trạng thái tâm hồn con người một thời đại”[41] Tứ thơ vừa thể hiện tầm vóc của tác giả, vừa
Trang 16thể hiện sức sống của bài thơ Với những bài thơ dài thì tứ thơ càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, vì tứ thơ gắn kết các đoạn thơ lại với nhau, tạo thành một chỉnh thể bài thơ thống nhất
Thơ là sự bộc lộ trực tiếp tâm tư, là tiếng nói tha thiết của tâm hồn, tiếng gọi nồng nhiệt của trái tim Yếu tố cảm xúc trong thơ là vô cùng quan trọng Lời thơ, do vậy không lấy chức năng thông báo làm chính mà chủ yếu là hướng đến chức năng biểu hiện Đó có thể là những nỗi niềm riêng tư về hạnh phúc lứa đôi, về tình yêu tan vỡ; niềm vui gặp gỡ, nỗi buồn chia li… Đó cũng có thể là những cảm xúc, những suy tư về nhân tình thế thái, về số phận con người, thăng trầm của xã hội, những cảm xúc về Tổ quốc, đất nước, dân tộc, nhân loại… Trải qua năm tháng, thơ vẫn đóng góp một tiếng nói riêng không thể thiếu và không thể thay thế vào nền văn học dân tộc Thơ sẽ còn tồn tại cho đến khi nào con người có nhu cầu bộc lộ cảm xúc buồn vui của mình Mỗi một nhà thơ muốn ghi dấu tên mình trong nền thi ca dân tộc, cần có một phong cách riêng, một tư duy nghệ thuật riêng
Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan Đó là điểm phân biệt đầu tiên của tư duy nghệ thuật với tư duy khoa học
Tư duy thơ là một phương thức hiểu hiện của tư duy nghệ thuật, nhưng nó mang trong mình một khả năng biểu hiện phong phú nhờ kho biểu tượng của thơ phong phú và đa dạng Kho biểu tượng của thơ được thể hiện ở những biểu tượng gần gũi, cũng có khi trừu tượng và vời vợi cách xa Tùy theo cảm xúc của thi sĩ, dụng ý của thi sĩ mà những biểu tượng của cuộc sống hay của trí tưởng tượng được vận dụng và đưa vào thi ca Mặt khác phương tiện ngôn ngữ của tư duy thơ là một phương tiện giao tiếp có tính xã hội hóa cao độ Cho nên thơ có thể biểu hiện được nhiều tâm trạng, nhiều dạng cảm xúc, nhiều nội dung cụ thể và trực tiếp Biểu tượng thi ca vừa mang tính chất biểu tượng thính giác, vừa mang tính chất biểu tượng thị giác, nghĩa là trong thơ vừa có nhạc, vừa có họa Có lẽ vì thế, nhiều bài thơ đã được phổ nhạc và đi vào lòng người yêu nhạc, yêu thơ bao thế hệ Ở Việt Nam thời hiện
đại, có lẽ không ai không biết đến bài hát “Phượng hồng” được nhạc sĩ Vũ Hoàng
Trang 17phổ nhạc từ bài thơ “Chút tình đầu” của nhà thơ Đỗ Trung Quân Từ khi ra đời đến
nay, tác phẩm đã làm say lòng bao thế hệ Nguyễn Khoa Điềm cũng có những bài
thơ được phổ nhạc và gây được tiếng vang Trong số đó phải kể đến bài thơ “Có
một ngày” được nhà thơ Phú Quang phổ nhạc thành bài hát cùng tên Lời thơ là sự
day dứt đến đau đớn của người con trai khi người tình đã “dứt áo” ra đi tìm niềm
vui khác Bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm được phổ nhạc thành bài hát “Lời ru trên nương” Nhưng nói như vậy không
có nghĩa là chỉ những bài thơ được phổ nhạc mới có tính nhạc Tính nhạc xuất hiện trong từng nhịp điệu câu thơ, lời thơ Tính nhạc ấy còn ngân nga trong trái tim độc giả dù lời thơ đã dứt
1.2 Quá trình sáng tác thơ của Nguyễn Khoa Điềm
1.2.1 Các giai đoạn sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm
Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943 tại làng Ưu Điềm, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế, con của nhà cách mạng Hải Triều Nguyễn Khoa Văn (Nguyễn Khoa Hải Triều), dòng dõi quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng, gốc An Dương (Hải Dương cũ) Sinh ra trong gia đình khoa bảng, chất văn chương nghệ thuật đã thấm đẫm vào dòng máu của Nguyễn Khoa Điềm từ khi còn rất nhỏ Điều đó giải thích vì sao dù sau này khi đã “làm quan” ông vẫn không ngừng sáng tác thơ và đóng góp cho đời những vần thơ xuất sắc không thể trộn lẫn với bất kì ai
Miền quê mà Nguyễn Khoa Điềm cất tiếng khóc chào đời cũng là nơi để lại trong ông những ấn tượng sâu sắc Vùng quê ấy nuôi dưỡng tài năng thi ca Nguyễn Khoa Điềm Cũng không có gì khó hiểu khi từ bỏ mũ áo cân đai, Nguyễn Khoa Điềm lại chọn con đường trở về quê hương, trở về Huế, trở lại với chính bản thân mình Với Nguyễn Khoa Điềm, Huế luôn luôn là một miền quê mộng mơ đi sâu vào thơ ca của ông trong suốt hành trình sáng tác thơ từ những ngày đầu cho đến tận bây giờ Quê hương đã làm bùng cháy xúc cảm nghệ thuật sâu sắc trong trái tim người nghệ sĩ Nguyễn Khoa Điềm Hầu như các thi sĩ đều dành cho quê hương những vần thơ hết sức xúc động và Nguyễn Khoa Điềm cũng vậy
Thơ Nguyễn Khoa Điềm đi sâu vào trái tim độc giả bao thế hệ, với những bài thơ xuất sắc được chọn giảng trong chương trình văn học phổ thông và với hàng
Trang 18loạt những bài thơ xúc động lòng người Đó là một trong những bằng chứng chân thực khẳng định tài năng thơ của thi sĩ Bên cạnh đó, ông cũng được giải thưởng
Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, đó là một giải thưởng
cao quý mà bất cứ nhà thơ nhà văn nào cũng muốn đạt được
Giai đoạn đầu, Nguyễn Khoa Điềm sáng tác Cửa thép (1972), Đất ngoại ô (1973) Ông viết Đất ngoại ô trong suốt một năm trời (từ tháng 4-1968 đến tháng 4- 1969) Giọng thơ của Nguyễn Khoa Điềm ở Đất ngoại ô khá mới mẻ Các câu thơ
được kéo dài một cách tự do phóng khoáng, không quá câu nệ vào vần điệu Lời thơ
tự nhiên, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày Những câu thơ, những đoạn thơ trong
Đất ngoại ô chứa đầy suy tư Từ quá khứ, anh đối chiếu với hiện tại: Vườn thơ xưa không có gã áo trắng đi về / Ngơ ngẩn đọc thơ buồn trong tiếng guốc cạo râu / Chỉ còn người phu xe cũ / Nghiêng cốc rượu chiều nhòe những mái tôn Nhà thơ nhìn
thấy trong cái nắng tháng năm "run rẩy những oan hồn" Trước đây, ông từng lấy bút danh Mặc Hữu, Hướng Dương ký dưới những bài báo, nhưng lần này ông dùng
tên thật của mình khi quyết định gửi Đất ngoại ô ra Hà Nội Bài thơ được đăng
trang trọng trên báo Văn nghệ Bạn đọc yêu thơ bắt đầu biết đến cái tên Nguyễn
Khoa Điềm từ đó Đất ngoại ô chiếm một vị trí đặc biệt trong sự nghiệp thi ca của
ông Nó mở cho ông một hướng đi riêng, một cách nói năng, một giọng điệu riêng trong dòng thơ chống Mỹ
Bước sang trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm vẫn tiếp tục
mạch suy tư về nhân dân, đất nước bằng lối thể hiện tự nhiên, bình dị, phóng
khoáng, hiện đại vốn có của mình Không ai nói về đất nước dễ hiểu như ông: Đất
là nơi anh đến trường / Nước là nơi em tắm Anh giải thích đất nước đến tận cội
nguồn: Đất là nơi chim về / Nước là nơi Rồng ở… Bản trường ca này anh viết trong
những tháng ngày địch bắn phá vùng chiến khu Trị Thiên vô cùng ác liệt Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân kể rằng bản thảo đầu tiên của trường ca này bị bom thả bay tung hết Nguyễn Khoa Điềm tiếc nuối Ông phải ngồi viết lại từng chương một, hoàn thành vào năm 1971 và mãi đến 1974 mới ra mắt bạn đọc Thanh niên trí thức yêu nước ở các đô thị miền Nam lúc bấy giờ rất tâm đắc với bản trường ca này vì họ tìm được ở đó những tâm tư sâu kín của mình
Trang 19Khi nước nhà thống nhất, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lần lượt được giao nhiều trọng trách: Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin; Tổng Thư ký BCH Hội Nhà văn khóa V nên không có nhiều thời gian làm thơ Tuy vậy, vào
năm 1986, ông vẫn cho ra đời tập Ngôi nhà có ngọn lửa ấm Chỉ một thời gian ngắn sau khi nghỉ hưu, ông đã hoàn thành tập thơ Cõi lặng Trong Ngôi nhà có ngọn lửa
ấm và Cõi lặng, Nguyễn Khoa Điềm nghiêng về chiêm nghiệm đời sống xã hội,
nhân tình thế thái Bên cạnh những cái hay, cái đẹp ông còn nhận thấy những cái chưa hay, chưa đẹp trong cuộc sống hiện tại
Có thể nói, Nguyễn Khoa Điềm là một trong rất hiếm những thi sĩ vừa sáng tác thơ rất đều tay, vừa giữ những chức vụ quan trọng trên chính trường Bởi lẽ thơ là địa hạt của trái tim, của trí tưởng tượng, còn chính trường là nơi dành cho những tư duy sắc bén, logic Dung hoà được hai địa hạt đó thực sự là điều không dễ dàng, nhưng Nguyễn Khoa Điềm đã làm được Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã từng kinh qua nhiều chức vụ quan trọng như Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt nam, Trưởng ban Tư tưởng Văn hoá TƯ, Bộ Trưởng Bộ Văn hoá Thông tin
Ông đã để lại cho chúng ta những tài sản tinh thần vô giá, đó là những tập thơ
nồng nàn tình yêu quê hương đất nước, Cửa thép (1972), Đất ngoại ô (1973), Mặt
đường khát vọng (1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990), Cõi lặng (2007)
1.2.2 Quan niệm thơ của Nguyễn Khoa Điềm
Nguyễn Khoa Điềm hầu như chưa công bố một công trình lý luận văn học nào thể hiện quan niệm của mình về thơ, bởi đơn giản ông không là một nhà lý luận văn học, ông là một nhà thơ Ông sáng tác thơ theo cảm hứng, thể hiện hết những
ưu tư trong tận sâu thẳm trái tim mình Đây đó, ở một vài nơi, Nguyễn Khoa Điềm
có thể hiện quan niệm của mình về thơ, nhưng cũng không rõ ràng như rất nhiều nhà thơ khác, hay nhà lý luận văn học khác
Nguyễn Khoa Điềm luôn xác định văn học là phục vụ cuộc sống, phục vụ kháng chiến, những vần thơ của ông là minh chứng hùng hồn cho điều đó Đã có lần ông phát biểu quan niệm của ông về thơ khi trả lời phỏng vấn: “Tôi cũng vậy, tôi luôn thường trực ý nghĩ mình viết cái gì, mỗi một từ ngữ hình ảnh giản dị bình
Trang 20thường nhất thì cũng phải có lợi cho cuộc chiến đấu”[13,267] Đó là quan điểm chung của những thi sĩ cùng thời với ông Thơ từng một thời là vũ khí chiến đấu sắc
bén chống lại quân thù, “Dùng bút làm đòn chuyển chế độ/ Mỗi vần thơ bom đạn
phá cường quyền”- Sóng Hồng Nhưng như vậy không có nghĩa là văn chương
thuần tuý chỉ là công cụ cách mạng, nhà thơ làm theo mệnh lệnh của tổ quốc mà quên đi cảm xúc cá nhân của mình Thơ bao giờ cũng xuất phát từ những rung cảm tận đáy lòng thi sĩ Khi không có cảm xúc, thi sĩ khó viết thành thơ, văn chương nghệ thuật là thế Nguyễn Khoa Điềm cũng từng tâm sự rất chân thành về cảm xúc trong thơ: “Lúc bấy giờ cảm xúc về chủ nghĩa anh hùng, về sự vươn lên trong chiến đấu, hi sinh là những cảm xúc có thật đối với mỗi người, đặc biệt là những người làm văn học Nếu không có cảm xúc thì làm một người bình thường cũng khó, chưa nói đến sáng tác”[44,122] Không cần đao to búa lớn khi phát biểu về những vấn đề thuộc phạm trù lý luận văn học, Nguyễn Khoa Điềm phát biểu những quan điểm của mình về thơ hết sức giản dị, như những lời tâm tình, chia sẻ chân thành Nguyễn Khoa Điềm là thế, người tiếp xúc với ông luôn luôn cảm thấy gần gũi bởi sự giản dị của ông Chính vì thế mà người ta còn kể cho nhau nhiều giai thoại về sự giản dị ấy khi ông không còn giữ chức vụ quan trọng trên chính trường nữa
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm luôn cho rằng thơ như người bạn tâm giao, và
đó là lý do vì sao sự nghiệp thơ văn của ông không hề bị gián đoạn ngay cả khi ông rất bận việc chính trị Ông cho rằng: “Thơ như người bạn tâm giao, mỗi lần gặp lại nhau đều như chuyện kì ngộ”[13] Đến với thơ, thi sĩ được trở lại với chính lòng mình, được trải lòng với người bạn tri âm tri kỉ Thơ giúp thi sĩ cân bằng được cảm xúc, cân bằng được đời sống tình cảm của mình Quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm về thơ rất gần gũi với quan niệm của các bậc tiền bối về thơ: “Thơ khởi phát
từ trong lòng người ta” (Ngô Thì Nhậm) và cũng gần với quan niệm về thơ của các nhà thơ nổi tiếng trên thế giới, Duy Belay quan niệm: “Thơ là người thư ký trung thành của trái tim”
Không nhiều lần Nguyễn Khoa Điềm bày tỏ quan điểm của mình về thơ, nhưng mỗi lần thể hiện quan niệm về thơ, ông đều phát biểu hết sức chân thành và súc tích Hầu như những vần thơ của Nguyễn Khoa Điềm đều là những minh chứng
Trang 21sinh động cho quan niệm thơ ấy Ông đã khái quát một cách ngắn gọn những gì tinh tuý nhất của thơ trong một lời tâm sự: “Tôi nghĩ có ba yếu tố làm nên phẩm chất của văn chương, đó là: Lời (lời văn, cách viết) - Hành động (ý tưởng văn chương thúc giục người ta hành động) - Tấm lòng (là tâm hồn tác giả trên từng trang sách)
Có lời văn hay, có khát vọng hành động mạnh mẽ, nhưng thiếu đi tấm lòng nhân hậu, cao thượng thì chưa thể có văn hay Cho nên có sách nói thuỷ tổ là Lời, có sách nói thuỷ tổ là Hành động, cũng nên có sách nói thuỷ tổ là Tấm lòng”[13] Mượn lời người xưa để thể hiện quan niệm của mình, đó là một cách nói kín kẽ mà sâu sắc của thi sĩ Nguyễn Khoa Điềm Chất uyên bác thấm đẫm trong từng lời tâm sự của ông về thơ văn
Bên cạnh đó, Nguyễn Khoa Điềm cũng thể hiện quan điểm của mình về trường ca Ông viết không nhiều trường ca như Thu Bồn, Thanh Thảo, nhưng cũng
đủ đóng dấu tên tuổi của mình trong lĩnh vực trường ca Khó có ai khi nghiên cứu trường ca lại bỏ qua một tên tuổi lớn như Nguyễn Khoa Điềm Theo ông, cái hay của trường ca không chỉ nằm trong từng câu, từng từ cụ thể, mà là sự thống nhất của
toàn bộ cấu trúc: “Toàn bộ trường ca Mặt đường khát vọng, ngôn ngữ ca dao, tục
ngữ, ngôn ngữ của đời sống dân gian được sử dụng rất nhiều Vậy phân tích tác phẩm này không có nghĩa là phải tìm ra những câu thơ hay, hoặc những chữ nghĩa độc đáo; tác phẩm phải được cảm nhận trong trường cảm xúc, những suy tư ngẫm nghĩ”[44,270] Trường ca thường có độ dài tác phẩm tương xứng với dòng chảy của cảm xúc, vì thế thường có dung lượng khá lớn, dòng chảy cảm xúc của tác phẩm chính là chất xúc tác để gắn kết những trường đoạn thơ lại với nhau, tạo nên một thể thống nhất
1.2.3 Những nét đặc sắc về tư duy thơ Nguyễn Khoa Điềm
Nghiên cứu tư duy thơ Nguyễn Khoa Điềm sẽ cho người yêu thơ một cách nhìn sâu sắc về thành tựu thơ ông Ta có thể thấy rõ những đóng góp trên nhiều phương diện: Hình tượng, biểu tượng, ngôn ngữ và thể loại thơ
Nguyễn Khoa Điềm dùng những biểu tượng hết sức gần gũi của cuộc sống
để phác hoạ hình ảnh đất nước vẹn tròn Những ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà
Điểm… cùng góp sức làm nên đất nước Những biểu tượng máu lửa, con chim thời
Trang 22gian… phác hoạ lại một thời kì đau thương nhưng hùng tráng của quê hương đất
nước Đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm, làm sao người đọc có thể quên được những hình ảnh quê hương đất nước yêu dấu thân thương mà bình dị:
“Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”
Hình ảnh đất nước đã được nhiều nhà thơ viết với cảm xúc dâng trào, và lạ thay hầu như ai viết về đất nước cũng đều tìm cho vần thơ của mình một chỗ đứng nhất định bên cạnh những vần thơ viết về đất nước của các nhà thơ khác, và kết quả
là chúng ta có rất nhiều vần thơ về quê hương đất nước sống mãi với thời gian Chúng ta có những bài thơ ghi lại những năm tháng hào hùng của đất nước chiến
đấu chống giặc ngoại xâm của Lê Anh Xuân trong Dáng đứng Việt Nam, chúng ta
cũng có hàng loạt những bài thơ về chủ đề đất nước trong các tập thơ của nhà thơ
Tố Hữu, chúng ta cũng có Đất nước của Nguyễn Đình Thi, và chúng ta cũng có Bài
thơ của một người yêu nước mình của Trần Vàng Sao Đó là những vần thơ băng
qua sự bao phủ của thời gian năm tháng, những vần thơ không thể thay thế và không dễ gì lặp lại Người ta nói rằng những tác phẩm văn học đích thực sẽ vượt qua được sự băng hoại của thời gian, những vần thơ về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm là một trong những vần thơ như thế
Người đọc cũng không thể quên hình ảnh người mẹ, người em… đã quên mình vì quê hương đất nước trong những ngày mưa bom bão đạn Hình ảnh của những người mẹ người em đi vào thi ca Nguyễn Khoa Điềm một cách hết sức tự nhiên, chân thực, bởi đó là những hình ảnh của quê ông, miền quê giầu truyền thống anh hùng chống giặc cứu nước và cũng là miền quê nghèo khó:
“Tôi lớn lên trên khu phố buồn đau
Đời bà con nghèo đọng giữa đáy truyền đơn
Em gái cứu thương, em trai cầm súng
Mẹ may cờ, em nhỏ đón văn công
Cửa ủy ban rực rỡ lá cờ hồng
Trang 23Người lại, kẻ qua, thợ nề, thợ mộc
Cả chị tiểu thương năm nào tuyệt thực
đều ngồi đây điểm mặt những quân thù ”
(Khu phố ngoại ô)
Tất nhiên, độc giả cũng sẽ không thể quên hình ảnh cái tôi công dân giầu suy
tư, giầu quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do của quê hương đất nước Có lẽ không khí chiến đấu chống quân thù trong những năm tháng hào hùng của dân tộc đã làm nên một thế hệ thi sĩ giầu cảm hứng khi viết về quá trình chiến đấu anh dũng của đất nước Họ bộc lộ một cái tôi cháy hết mình cho độc lập tự do của dân tộc Tố Hữu cũng như Nguyễn Khoa Điềm thời kì này đã trình làng những tập thơ bất hủ viết về không khí chiến đấu chống giặc của đất nước, viết về cái tôi giầu tình yêu quê hương đất nước và sẵn sàng xả thân cho độc lập dân tộc, đó là điều không ai có thể nghi ngờ Lê Anh Xuân cũng “tạc” tên mình vào dòng văn học của dân tộc những năm kháng chiến bằng “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ” Còn nhiều nữa những bằng chứng sinh động cho một thời đại thi ca ngùn ngụt ý chí chiến đấu quật cường
và khí thế oai hùng chiến thắng giặc thù Đặc điểm chung của các thi sĩ thời kì này
là hướng sâu ngòi bút vào nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của đất nước: Cứu Quốc Nguyễn Khoa Điềm cũng giống như rất nhiều nhà thơ cùng thời: tư duy hướng ngoại, hướng đến cái ta và nhiệm vụ chung của tổ quốc Tất nhiên, mỗi nhà thơ lựa chọn công cụ ngôn ngữ và hình ảnh khác nhau để thể hiện tư duy hướng ngoại của mình Bởi lẽ văn chương là địa hạt của sự độc đáo, của cái riêng
Cho đến khi rời bỏ chốn quan trường, cái tôi của ông vẫn không nguôi những nỗi niềm suy nghĩ cho quê hương đất nước Tầm vóc của một nhà thơ lớn, một người giữ vai trò chính trị quan trọng của đất nước luôn giữ vai trò thống trị trong con người Nguyễn Khoa Điềm:
“Nhiều khi đá dạy ta mềm mỏng
Sự tàn nhẫn nhắc ta điều lành
Nỗi buồn đánh thức hy vọng”
(Hy vọng)
Trang 24Tất nhiên, ở Nguyễn Khoa Điềm vẫn có nhiều lúc con tim giầu cảm xúc, con tim yếu mềm của tình yêu lứa đôi ngự trị Ai cũng vậy thôi, cũng có những giây phút trái tim điều khiển lý trí, đâu phải lúc nào lý trí cũng làm chủ trái tim Những vần thơ về tình yêu lứa đôi, tuy không nhiều, nhưng cũng đủ để tên Nguyễn Khoa Điềm khắc vào trái tim những người yêu thơ tình Thử đọc lại một lần nữa những
dòng thơ hàm súc, xót xa trong bài “Có một ngày” ta sẽ tìm được câu trả lời vì sao
Ở giai đoạn này, Nguyễn Khoa Điềm sử dụng triệt để tư duy thơ hướng nội Ông dành nhiều câu thơ và tâm huyết để cái tôi đầy ưu tư của ông có cơ hội bộc lộ mình Chiến tranh qua đi, những nhiệm vụ quan trọng trên chính trường, ông cũng gác lại một bên, Nguyễn Khoa Điềm thể hiện rõ về cái tôi của mình giản dị giữa đời thường
Ngôn ngữ thơ Nguyễn Khoa Điềm khi thì bình dị gần gũi với cuộc sống thường nhật, khi hào hùng giầu khí phách và nhiệt huyết, quyết tâm giữ trọn độc lập
tự do của tổ quốc, khi lại lắng sâu những nỗi niềm tận sâu thẳm trái tim khó thốt nên lời Đó là đặc trưng tư duy thơ Nguyễn Khoa Điềm
Thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng góp một tiếng nói riêng, một tư duy thơ riêng,
và làm nên bản sắc của Nguyễn Khoa Điềm Những chương tiếp theo sẽ lần lượt đi sâu nghiên cứu những đặc sắc trong tư duy thơ Nguyễn Khoa Điềm
Tiểu kết chương 1
Trong chương một, chúng tôi đã nghiên cứu những vấn đề chung nhất về tư duy nghệ thuật, tư duy thơ Điều quan trọng nhất trong tư duy nghệ thuật là sự sáng tạo và phương tiện biểu hiện nằm trong những biểu tượng nghệ thuật Tư duy thơ là một cách tư duy hình tượng, cho phép thi sĩ có khả năng liên tưởng phong phú đa dạng Nghiên cứu thơ dưới góc độ tư duy nghệ thuật là một cách tiếp cận khá toàn diện những nét đặc sắc của một nhà thơ, giai đoạn thơ… Cũng vì lẽ đó mà chúng tôi chọn cách tiếp cận thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc độ tư duy nghệ thuật
Cũng trong chương này, chúng tôi đã tìm hiểu những giai đoạn sáng tác chính trong sự nghiệp Nguyễn Khoa Điềm Ta có thể thấy rõ ba giai đoạn sáng tác thể hiện trong các tập thơ của Nguyễn Khoa Điềm Giai đoạn đầu phải kể đến tập
Trang 25thơ Cửa thép (1972), Đất ngoại ô (1973) Trong những tập thơ này ta thấy nét mộc
mạc và tự nhiên trong từng câu chữ, câu thơ được kéo dài một cách thoải mái theo dòng chảy cảm xúc Trong giai đoạn thứ hai, tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn
Khoa Điềm phải kể đến trường ca Mặt đường khát vọng Trường ca thể hiện cách
nhìn độc đáo của ông về đất nước Đất nước không phải là những gì xa xôi mà chính là những cái gần gũi thân thuộc đến mức chúng ta gần như không để ý đến sự hiện diện của chúng: miếng trầu, gừng cay muối mặn, cái kèo cái cột… Giai đoạn thứ ba trong sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm được nhắc đến khá nhiều với tập thơ mang đến những nét mới lạ: “Cõi lặng” Trong giai đoạn sáng tác này, Nguyễn Khoa Điềm đi sâu vào cuộc sống thường nhật với những nỗi niềm của cuộc sống hiện tại Những giai đoạn trước, Nguyễn Khoa Điềm thường hướng ngòi bút của mình vào những vấn đề lớn lao của đất nước, giờ đây ông hướng cây bút vào cuộc sống thường nhật, những suy nghĩ riêng tư tự sâu thẳm trái tim mình
Việc tìm hiểu một vài nét đặc sắc trong tư duy thơ Nguyễn Khoa Điềm là những yếu tố mở đầu quan trọng làm tiền đề cho việc đi sâu phân tích những nét đặc sắc trong tư duy thơ Nguyễn Khoa Điềm ở những chương tiếp theo
Chương 2: CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ MỘT SỐ BIỂU TƯỢNG ĐẶC SẮC
TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM
2.1 Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Khoa Điềm
2.1.1 Quan niệm về cái tôi, cái tôi trữ tình trong thơ
Thơ là một cách để bộc lộ cái tôi trữ tình của nhà thơ Điều đó khiến thơ khác văn xuôi và cũng khác các ngành nghệ thuật khác Khoa học tự nhiên hướng đến việc khẳng định những chân lý vĩnh cửu, và để làm được điều đó thì họ phải để cho cái tôi tạm thời “ngủ yên” Làm sao có thể để những xúc cảm riêng tư, những nhận định chủ quan võ đoán vào việc chứng minh tính chính xác của các công thức, định lý đây?
Bài thơ có làm rung động lòng người hay không là ở chỗ cái tôi của thi sĩ có được bộc lộ rõ nét, giầu cảm xúc và giầu sức truyền cảm hay không Đặc điểm quan
Trang 26trọng nhất của tư duy thơ là sự thể hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy Cái tôi trữ tình được biểu hiện dưới hai dạng thức chủ yếu là: cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp Khi tìm hiểu thơ mà không tìm hiểu cái tôi trữ tình thì có thể coi như chưa thấu hiểu sâu sắc về thơ, chưa nắm bắt được thần thái chính của bài thơ
Tâm hồn nhà thơ như một chiếc cần ăngten thu nhận tất thảy những tín hiệu
buồn vui của con người, là chiếc “bình thu hợp trí muôn phương” (Xuân Diệu)
Muốn chinh phục được tâm hồn của độc giả trước hết cảm xúc của nhà thơ phải chân thành; niềm yêu ghét của nhà thơ phải xuất phát từ chính trái tim nhạy cảm, thành thực của mình Thật vậy, bài thơ được viết ra khó làm cho ai xúc động nếu như nhà thơ không thật sự “đau đớn lòng” “trước những điều trông thấy”
Cảm xúc của nhà thơ, phải ở mức độ mãnh liệt, dồi dào nồng cháy Mỗi khi
có điều gì chất chứa trong lòng không nói ra không chịu được lúc đó là thi sĩ tìm đến thơ để giải tỏa nổi chất chứa ám ảnh đó Thơ bao giờ cũng vậy, là những gì mà trái tim thi sĩ mách bảo Không có những xúc động từ tận đáy lòng mình, làm sao thi sĩ làm nên những vần thơ giầu tâm trạng và giầu sức sống Chính vì thế nói đến thơ là phải nói đến cái tôi trữ tình của nhà thơ
Vì cảm xúc là yếu tố hàng đầu của thơ nên mọi nhà thơ đều rất coi trọng cảm hứng sáng tạo Cảm hứng làm cho nhà thơ có thể lóe sáng được những ý nghĩ mới lạ, chắp cánh cho trí tưởng tượng của nhà thơ bay bổng, hình thành một cách xuất thần những lời đẹp, tứ hay Ngoài cái lớn lao của cuộc đời thực, thơ cũng tìm đến thế giới của ước mơ và mộng tưởng Nó mở rộng thế giới thực để người đọc có thể cảm nhận đến nhiều phạm vi rộng rãi hơn, bao la hơn của hôm qua, hôm nay và ngày mai, của cái có thật và cái có thể có và nên có, của cái ta đang sống và cái mà mọi người mong ước
Cảm xúc của nhà thơ đồng thời lại phải có tính tiêu biểu điển hình Cảm xúc trong thơ nhất định là của một con người - cá nhân trong hoàn cảnh cụ thể nhưng đồng thời nó không đóng kín, khép lại cho riêng nhà thơ mà cảm xúc đó còn là sự đại diện phát ngôn cho tâm tình, suy nghĩ của nhiều người Vichtor Hugo từng cho
Trang 27rằng “Lầm lẫn thay nếu anh tưởng tôi không phải là anh” Cảm xúc thơ càng có tính tiêu biểu, điển hình thì càng tạo nên sức đồng cảm mãnh liệt và rộng rãi
Tư duy thơ phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại Về mặt nội dung nhận thức có thể cho rằng tư duy thơ là biểu hiện cụ thể và sinh động của những tư tưởng triết học, chính trị, đạo đức, dưới dạng phổ biến nhất của một cộng đồng người Chính vì thế mỗi thời đại đều có tư duy thơ khác nhau Thời trung đại, chủ yếu tư duy thơ hướng nội gián tiếp Các nhà thơ thường để cái tôi của mình ẩn khuất sâu trong cái ta chung của thời thế thế thời Thời Thơ Mới, cái tôi trữ tình của nhà thơ là yếu tố quan trọng hàng đầu và bộc lộ sâu sắc đến tận cùng Tư duy thơ thời này hướng nội trực tiếp là vì thế Thơ ca cách mạng lấy hiện thực cách mạng làm đối tượng nhận thức và phản ánh Sự thay đổi của cơ chế xã hội đã kéo theo sự thay đổi của toàn bộ thượng tầng kiến trúc, thay đổi các quan niệm về chân, thiện,
mỹ Đó là nguyên nhân làm thay đổi hướng vận động của tư duy thơ Thơ Nguyễn Khoa Điềm giai đoạn chống Mỹ không nằm ngoài quy luật chung của tư duy thơ thời kì cách mạng là hướng ngoại Nhưng điểm khác biệt là, ông vẫn không thiếu những vần thơ hướng nội với những suy tư sâu sắc về thế sự Những vần thơ khi ông không còn giữ vị trí quan trọng trong trường chính trị, chính là những vần thơ
như thế Giá trị lớn lao của tập thơ Cõi lặng gần đây được độc giả đón nhận nhiệt
tình chính là vì Nguyễn Khoa Điềm đã bộc lộ đến tận cùng cái tôi của mình, một cái tôi trĩu nặng những suy tư của nhân tình thế thái Tư duy thơ hướng nội của Nguyễn Khoa Điềm đa phát huy được thế mạnh ở giai đoạn này
Những dòng thơ trữ tình tuôn chảy theo dòng chảy của cảm xúc, và thực chất
ở đây là cảm xúc của nhân vật trữ tình Nhân vật trữ tình ở đây có thể là tôi, là ta, là
chúng ta, là anh là em Đó là những hình tượng xuyên suốt bài thơ, làm nên sức
hấp dẫn của bài thơ
Thơ là hình thức nghệ thuật sử dụng ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng Hình tượng trong thơ phong phú, đa dạng với những biến hóa ngẫu hứng phụ thuộc vào cảm xúc và độ nhạy của tâm hồn nhà thơ Vì thế, hình tượng trong thơ, ở một chừng mực nào đó, không nhất thiết phải là một hình hài cụ thể có thể nhìn thấy hoặc sờ mó được như trong hội họa, điêu khắc hay một số hình thức nghệ thuật
Trang 28khác Với các nhà thơ, cuộc đời luôn là một hình tượng mang tính bao trùm và thâu tóm mọi cảm xúc từ họ Mỗi người nhìn và phản ánh cuộc đời theo cách riêng của mình Đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm người ta thấy xuất hiện những hình tượng giầu sức lay động trái tim người đọc: cái tôi giầu suy tư trăn trở, cái tôi nặng lòng với Huế, hình ảnh những người mẹ, người em, người đồng đội quên mình cho kháng chiến…
Đặc trưng nghệ thuật của hình tượng được xác định không chỉ ở việc nó phản ánh và lý giải thực tại, mà còn bởi việc nó sáng tạo ra một thế giới mới, khác thế giới thường – thế giới mang tính hư cấu Bên cạnh bản chất nhận thức, hình tượng còn có bản chất sáng tạo Hình tượng nghệ thuật là kết quả của hoạt động tưởng tượng, nhằm tạo ra một thế giới với những nhu cầu và định hướng về tinh thần của con người, ứng với hoạt động có chủ đích, với lý tưởng của con người Những hình tượng tôi, ta trong thơ vừa thực vừa chịu ảnh hưởng của bàn tay sắp xếp đầy nghệ thuật của thi sĩ Thơ có cảm hứng từ cuộc sống chứ không sao chép cuộc sống và tương tự, văn xuôi cũng vậy Nhưng thế mạnh của văn xuôi là sự kiện, nhân vật thì thế mạnh của thơ là dòng chảy của cảm xúc, và trong nhiều trường hợp, lại là dòng chảy của cảm xúc cái tôi trữ tình Nguyễn Khoa Điềm để cho nhiều bài thơ chảy theo dòng chảy cảm xúc của mình Những vần thơ về Huế yêu thương, về tình cảm lứa đôi… như là những minh chứng sinh động cho luận điểm này
Nội dung tác phẩm trữ tình được thể hiện gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình Đó là hình tượng người trực tiếp bộc lộ suy nghĩ cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể như nhân vật tự sự và kịch Nhưng nhân vật trữ tình cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, trong cách cảm, cách nghĩ Qua những trang thơ, ta như gặp tâm hồn người, tấm lòng người, đó chính là nhân vật trữ tình Cũng cần phân biệt nhân vật trữ tình với nhân vật trong thơ trữ tình Nhân vật trong thơ trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tình cảm, là nguyên nhân trực tiếp khơi dạy nguồn tình cảm của tác giả
“Thơ trữ tình bao giờ cũng mang lại sự thật về sự sống tâm hồn của những cá nhân trong tình huống sinh hoạt và xung đột xã hội” [36,360]
Trang 29Hình tượng cái tôi là một kiểu nhân vật trong thế giới nghệ thuật thơ trữ tình
và có lẽ chiếm một tỉ lệ áp đảo so với những loại hình nhân vật khác Khi buồn, khi vui, thi sĩ thường tìm đến thơ như một cách giải tỏa cảm xúc cá nhân, và khi đến tận cùng cá nhân, với những phát hiện độc đáo, với những xúc cảm độc đáo, thi sĩ sẽ viết nên những vần thơ sống mãi cùng thời gian Có lẽ người đọc bao đời nay không thể quên được một cái tôi ham sống, yêu cuộc đời, say mê với cuộc sống như Xuân Diệu Xuân Diệu sống vội vàng, sống cuống quýt bởi thời gian một đi không trở lại
mà đời người thì hữu hạn Nguyễn Khoa Điềm thể hiện một cái tôi đa chiều, cái tôi
ấy khi dạt dào sức trẻ cũng mãnh liệt yêu đương Cái tôi ấy luôn dành tình cảm sâu nặng cho Huế yêu thương Cái tôi ấy cũng không ngừng triết lý, suy tưởng về cuộc sống, về nhân tình thế thái
Khi nói về nguồn gốc nảy nở và lịch sử phát triển của thơ ca Hêghen phát biểu: “Thơ bắt đầu từ cái ngày con người cảm thấy cần sự bộc lộ mình” Ý kiến đó, phần nào nói lên được tính đặc trưng của thơ trữ tình, đó là bộc lộ cái tôi của thi sĩ Thơ trữ tình là tiếng nói trực tiếp biểu lộ những cảm xúc suy tư, chiêm nghiệm Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là dấu hiệu cơ bản của thơ trữ tình Với thơ, thi sĩ giãi bày những tư tưởng, những cung bậc cảm xúc về thế giới nội tâm của mình
Trong quá trình sáng tác, cái tôi nghệ sĩ bước vào thế giới nghệ thuật và trở thành một hình tượng trọn vẹn Hình tượng cái tôi có mối quan hệ tương đồng với chủ thể trữ tình đang tự bộc lộ với toàn bộ sức mạnh nhân cách với mọi khả năng của nó Hình tượng cái tôi này là nhân vật trung tâm trong tác phẩm thơ, mang vẻ đẹp độc đáo, không lặp lại Cái tôi trữ tình là cái tôi được nghệ thuật hóa, điển hình hóa Hình tượng cái tôi không hoàn toàn đồng nhất với con người tác giả mà là kết quả của sự điển hình hóa nghệ thuật khi cá nhân nhà thơ nghe thấy mình trong người khác, với người khác và cho người khác Khi sáng tác nhà thơ đã tạo nên một thế giới nghệ thuật riêng thì tất yếu trong thế giới nghệ thuật ấy có hình tượng cái tôi và hình tượng này đóng vai trò nhân vật trung tâm Ta có thể thấy rõ sự không đồng nhất giữa cái tôi và con người tác giả bởi lẽ cái tôi trong thơ chỉ là một khoảnh khắc, một thời điểm mà cái tôi tác giả bộc lộ trong đó Dù muốn hay không, thơ
Trang 30không bao giờ là sự sao chép hiện thực một cách khô cứng và đó là một lý kho khiến cái tôi tác giả không hoàn toàn đồng nhất với cái tôi trữ tình Bên cạnh đó, nhiều khi cái tôi tác giả hoá thân vào những thân phận, những mảnh đời khác hoàn toàn với bản thân, khi ấy chắc chắn cái tôi tác giả khác với cái tôi trữ tình Người
con gái trong bài Tiếng hát sông Hương của nhà thơ Tố Hữu làm sao đồng nhất với
cái tôi tác giả được? Trong bài thơ, Tố Hữu thể hiện sự chia sẻ, cảm thông và đồng cảm sâu sắc với người con gái chịu nhiều bất hạnh Những rung động tự đáy lòng đã giúp thi sĩ viết nên những vần thơ giầu sức lay động đến vậy
2.1.2 Nội dung cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Khoa Điềm
2.1.2.1 Cái tôi yêu say mê nhưng tỉnh táo
Nói đến tư duy thơ ca là nói đến tư duy hình tượng Thơ ca thời chống Mỹ đã
sử dụng một hệ thống hình tượng phong phú và độc đáo, phong phú vì nó phản ánh cuộc sống đầy biến động của thời chiến, độc đáo vì nó mang cảm quan sử thi đậm nét Chúng ta dễ dàng tìm thấy những hình tượng mang tính biểu trưng cao và mang tầm vóc vũ trụ với tính khái quát lớn
Đọc thơ tình thời kháng chiến, điểm chung dễ nhận thấy nhất của các nhà thơ
đó là: hầu như tất cả đều hòa tình yêu đôi lứa vào tình yêu cách mạng, yêu quê hương đất nước Trong thời kì chiến tranh, tất cả mọi nguồn lực, mọi tình yêu đều
đổ dồn vào tình yêu tổ quốc và quyết tâm chiến đấu chống ngoại xâm Và đó cũng
là lý do giải thích vì sao đất nước ta chiến đấu ngoan cường, dũng cảm và luôn luôn chiến thắng quân thù
Cũng như rất nhiều nhà thơ khác, những thanh niên giầu nhiệt huyết cứu nước khác… Nguyễn Khoa Điềm cũng để trái tim giầu yêu thương của mình hướng
về đất nước Tình yêu cá nhân hòa trộn trong tình yêu đất nước Đó là vẻ đẹp riêng cũng là vẻ đẹp chung của đại đa số thanh niên Việt Nam thời bấy giờ Thơ Nguyễn Khoa Điềm hầu như không có chỗ cho những giọng bi ai, ai oán trong thời kì chiến tranh Ngược lại, thơ ông mang giọng điệu hào hùng và hào sảng, kể cả những vần
Trang 31thơ viết về tình yêu lứa đôi Đó cũng là đặc điểm chung của thơ ca thời kì chống
Mỹ Thơ tình yêu thời chống Mỹ khác hoàn toàn với thơ tình của phong trào Thơ Mới Thơ tình yêu giai đoạn 1930-1945 là mặt trời, ngọn lửa, biển, sóng, con đường, cây cầu, giầu chất cá nhân riêng tư và sau này, ở ngày hôm nay thì thật dồi dào chất sắc dục Những vần thơ tình yêu chất chứa tâm sự sâu kín của một mối tình thầm lặng và tan vỡ như “Hai sắc hoa tigôn” của TTKH sẽ còn làm trái tim người đọc quặn thắt, đớn đau Rồi hàng loạt bài thơ tình của “Ông hoàng thơ tình Việt Nam” Xuân Diệu sẽ còn là minh chứng hùng hồn cho một giai đoạn thi ca hướng nội, tập trung thể hiện cái tôi cá nhân, cái tôi riêng tư Đến giai đoạn 1930-1945 thì cái tôi thi sĩ bỗng được các nhà thơ nâng lên thành một khái niệm hết sức tốt đẹp, khẳng định vai trò quyết định của nó trong nghệ thuật với tư cách là chủ thể sáng tạo Làm sao có thể tìm thấy những vần thơ táo bạo đến nhường này trong văn học cổ? Những vần thơ như thế này chỉ có thể là sản phẩm của văn học lãng mạn, của những nhà thơ giầu sức sáng tạo:
“Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang nắng trở chiều
Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn
Lần đầu rung động nỗi thương yêu”
(Thơ thơ – Xuân Diệu)
Đó là những cung bậc xao xuyến rung động đầu tiên của cái tôi thi sĩ, và cái lần đầu e ngại ấy sẽ còn đọng lại trong trái tim bao độc giả
Tình yêu cũng có những cung bậc diệu kì của nó, khi vui, khi buồn, khi thất vọng, thơ tình thời kì này dường như không bỏ lỡ bất cứ một cung bậc tình yêu nào Những vần thơ của Hàn Mặc Tử tuy đượm buồn đau và hoài nghi nhưng không vì vậy mà thiếu thiết tha:
“Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà”
(Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử)
Trang 32Cái tôi của thi sĩ đến thời kì văn học cách mạng vẫn được đề cao, nhưng là cái tôi hoà trong cái ta của tình yêu quê hương đất nước, tình yêu cá nhân cũng hoà vào tình yêu chung Nếu như chúng ta đặt những câu thơ này của Tố Hữu vào hoàn cảnh ngày nay, có lẽ không ít người cảm thấy gượng gạo, không phù hợp, nhưng đó
là thực tế của một thời máu lửa:
“Mà nói vậy trái tim anh đó
Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ
Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều
Phần cho thơ và phần để em yêu ”
(Bài ca mùa xuân 61)
Mỗi thời đại đều sản sinh một lớp người đọc tương ứng Một tác phẩm hay không chỉ nhờ bản thân nó hay mà còn phải là sự cộng hưởng của nhiều yếu tố, như không khí xã hội, tâm thế tiếp nhận của bạn đọc Những tác phẩm trường tồn mãi cùng thời gian là nhờ sức mạnh vượt lên trên những giá trị nhất thời để vươn tới tầm nhân loại phổ quát Nói thế không có nghĩa là phủ nhận giá trị, như đã từng có ý kiến coi cả giai đoạn thơ thời chống Mỹ đã hết vai trò lịch sử Ngược lại, thơ thời chống Mỹ sẽ sống mãi cùng thời gian bởi nó như một chứng nhân lịch sử góp phần ghi lại những tháng năm hào hùng nhất, vĩ đại nhất của cả dân tộc ta đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược
Tình yêu trong thơ thời kì chống Mỹ cũng có điểm khác biệt so với các giai đoạn văn học khác Trong tình yêu ấy có cả sắc màu chia xa, buồn lắm nhưng không hề bi luỵ:
“Chiếc áo đỏ rực như than lửa
Cháy không nguôi trước cảnh chia ly
(Cuộc chia ly màu đỏ - Nguyễn Mỹ)
Chia tay để đi xa, hơn nữa để đi ra trận thì tránh sao được những giọt nước mắt Nhưng chia tay mà không hề buồn rầu thảm thương, sầu đau bi lụy vì cả đoạn thơ là giọng nhiệt tình lý tưởng thông qua cách sử dụng hình ảnh với gam màu đỏ
chủ đạo: Đỏ rực, than lửa, cháy, rực cháy, nóng bỏng, sáng ngời, bình minh, rạng
đông, hồng ngọc Màu đỏ ở đây không đơn thuần là màu sắc nữa mà là màu của lý
Trang 33tưởng, màu của nhiệt tình cách mạng, màu của tình yêu rực cháy trong trái tim đôi bạn trẻ
Thơ tình yêu thời chống Mỹ đã kết hợp hài hoà cái cá nhân riêng tư với cái cộng đồng tạo ra một cặp hình tượng đặc sắc chỉ thấy xuất hiện ở thời này, trước đó
và sau này không có, cặp hình tượng: Người yêu - đất nước, quê hương
Tình yêu thời đó hoà vào cái chung, hoà vào quê hương đất nước, tình yêu trong vắt của suối nguồn sử thi, dù yêu nhau tha thiết thế nào, đẹp thế nào thì vẫn cứ
ý thức tình yêu của “chúng mình” nằm trong tình yêu quê hương đất nước Thậm
chí có nhà thơ còn nói cho rõ ra: Đời đẹp thế, đời chiều ta đến thế / Anh yêu đời,
càng tha thiết yêu em / Còn có gì tách được nỗi chung riêng (Cảm ơn tình yêu và
cuộc sống - Bằng Việt) Thời thế hôm nay khác, hiện đại và tỉnh táo, với tâm trạng
ấy, lý trí ấy khó có thể cảm và hiểu hết chất men say lý tưởng cách mạng ở cái thời
"cả nước lên đường" Phải sống lại cuộc sống ở cái thời đó, phải nhập hồn mình vào
lý tưởng của cái thời đó may chăng mới nắm được tinh thần thơ ca thời đó
Nguyễn Khoa Điềm thể hiện sự chia sẻ với tất cả những người dân bình dị đã
làm nên hòa bình mùa xuân cho đất nước: “Sống chiến đấu/ Giản dị và bình tâm/
Không ai nhớ mặt đặt tên/ Nhưng họ đã làm nên đất nước.” Đó là minh chứng cho
một trái tim nghệ sĩ dễ rung động và rung động sâu sắc trước cuộc sống, con người Không có một trái tim ngụp lặn sâu trong nhân thế, không có một trái tim nhạy cảm với cuộc đời, thi sĩ khó viết nên những vần thơ làm rung động trái tim độc giả Thơ Nguyễn Khoa Điềm thể hiện đến tận cùng cái tâm chân thành của một người nghệ sĩ luôn mong ước và cố gắng hết sức mình vì cuộc sống hạnh phúc và yên bình của người dân
Đọc hàng loạt những bài thơ tình của Nguyễn Khoa Điềm trong thời kì kháng chiến ta mới thấu hiểu rõ về tình yêu đôi lứa của thi sĩ hoà quyện một cách nhuần nhuyễn vào tình yêu đất nước như thế nào, nhưng không phải vì thế mà tình yêu trong thơ ông thiếu sự mãnh liệt vốn là bản chất bất biến của tình yêu lứa đôi chân thành Ở Nguyễn Khoa Điềm, ta thấy cái tôi thi sĩ yêu say mê nhưng lại hết sức tỉnh táo, đó là điều không phải ai cũng làm được Bài thơ “Khoảng trời yêu dấu” được Nguyễn Khoa Điềm sáng tác năm 1970 đúng trong giai đoạn kháng
Trang 34chiến chống Mỹ ác liệt, vậy mà ta vẫn tìm thấy trong bài thơ những khoảnh khắc lãng mạn, dịu êm, nhẹ nhàng thường thấy của đôi lứa yêu nhau, ta cũng tìm thấy một tình yêu nhuốm sắc màu lý trí tỉnh táo của người con trai không quên nghĩa vụ
thiêng liêng cứu quốc:
Phía em, phía của quê nhà
Trắng là tóc mẹ, xanh là áo em
Anh đi kháng chiến trăm miền
Hướng dương thương nhớ vẫn nghiêng phía này
(Khoảng trời yêu dấu)
Nơi nào có em, nghĩa là nơi ấy bình yên? Hay chí ít, khi bên em anh thấy bình yên? Phải chăng đó là điều nhà thơ muốn gửi gắm trong bài thơ? Chẳng thế mà
ta tìm thấy những hình ảnh về khoảng trời dấu yêu, với mái tóc em dài buông
xuống, với mênh mông hoa lá, với sương giăng buổi sớm, nắng dời chiều hôm Đó
là một khoảng trời bình yên thực sự, cuộc sống của con người cũng như vạn vật không hề có một sự xáo trộn dưới bóng quân thù Phương trời có em sao mà bình yên và đẹp lạ thường đến vậy? Nguyễn Khoa Điềm đã nhìn vạn vật bằng ánh mắt của một chàng trai đang yêu đến độ say mê và nhìn tất cả bằng trái tim lãng mạn của một nghệ sĩ… Toàn bộ bài thơ mang âm hưởng nhẹ nhàng, lãng mạn và giầu sắc màu tươi vui của cuộc sống chan hoà tình yêu thương Đến cuối bài thơ ta mới chợt hiểu, chàng trai vừa yêu bằng trái tim, vừa yêu bằng cả khối óc, bởi lẽ ta vẫn nhìn thấy một người đàn ông thực sự mang trên vai trách nhiệm lớn lao: “Đi kháng chiến trăm miền” Và hoá ra, tất cả những hình ảnh trong bài thơ là hình ảnh thực của cuộc sống nơi quê nhà có em nhưng qua lăng kính tưởng tượng của một người lính xa quê Đây là một cách cảm nhận cuộc sống tình yêu khá thi vị và sáng tạo của thi sĩ Nguyễn Khoa Điềm Bài thơ thực sự là một minh chứng sinh động cho sự gắn kết hài hoà giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu tổ quốc bao la trong người con giầu tình yêu quê hương đất nước
Nguyễn Khoa Điềm có không ít những bài thơ viết về tình yêu, và đọc thơ tình yêu Nguyễn Khoa Điềm ta được trở về với chính bản thân mình, yêu bằng cả trái tim không toan tính, nhớ người yêu da diết hơn bất cứ nỗi nhớ nào trên cuộc đời
Trang 35này Chàng trai trong bài Trên núi sông so sánh nỗi nhớ của mình còn nồng nàn hơn
nỗi nhớ của hàng trăm người con của Âu Cơ khi phải xa nhau Sự so sánh ấy đã thể hiện đến tận cùng nỗi nhớ không thể tả xiết của chàng trai dành cho cô gái Quả thực, đây là một hình ảnh so sánh độc đáo và biểu cảm Chàng trai có cảm giác nỗi nhớ của mình đã nhuốm vào vạn vật, khiến cho “ngọn lửa cũng nhớ em” Tình yêu đang rực cháy trong trái tim chàng trai xa người yêu, và rồi chàng tự an ủi mình, tự
vỗ về mình bằng niềm tin hạnh phúc trong tương lai, chàng tin cả hai rồi sẽ hạnh phúc Tình yêu đã thắp sáng niềm tin trong trái tim chàng trai, soi đường chỉ lối cho
cả hai đi tới đích cuối cùng
Thơ tình Nguyễn Khoa Điềm dường như bài nào cũng có chất “máu lửa”, nồng nàn và bài thơ nào cũng có chất lãng mạn lạc quan trong những năm gian khó:
“Anh không lơ đãng đâu em, ngày anh đi kháng chiến
Anh gửi trên núi sông cả mối tình anh thầm kín
Có bao nhiêu mặt đất với độ cao khác nhau anh đã từng nằm
Có bây nhiêu nỗi nhớ của anh trải xuống rất đằm
Chắc những đứa con của Âu Cơ từng lên rừng và xuống bể
Cũng không nhớ thương nhau nhiều như ta nhỉ?
(Trên núi sông)
Nguyễn Khoa Điềm đã dành những vần thơ nồng nàn, cháy bỏng, da diết thể hiện tình yêu đôi lứa của mình Âu cũng là lẽ thường tình bởi chàng thi sĩ khi ấy đang dạt dào tuổi xuân, nhựa sống đang tràn căng trong lồng ngực Tình yêu bao đời cũng vậy, chỉ có yêu thương, nhớ nhung, khao khát gần nhau… nhưng không một nhà thơ nào lặp lại nhà thơ nào, dù cùng nói về chủ đề muôn thủa và vô cùng hấp dẫn ấy Cái tôi thi sĩ được thể hiện trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là một cái tôi giầu tình yêu, khát khao hạnh phúc Và cái tôi ấy còn được thể hiện hết sức đa dạng: Giầu tình yêu thương rung động trước những số phận cuộc đời, trước thiên nhiên hoa cỏ Đó là một cái tôi thi sĩ thực thụ bởi lẽ chỉ có giầu tình yêu thương, rung động trước cuộc sống thì thi sĩ mới viết nên những vần thơ giầu xúc cảm Thơ hay luôn xuất phát từ đáy lòng thi sĩ, những rung động không dễ gì có được, không phải
ai cũng có được
Trang 36Hình ảnh em yêu trong thơ Nguyễn Khoa Điềm thật trong sáng, đẹp giản dị
và giầu tình yêu thương Gần như không thấy có bài thơ nào nhà thơ để nhân vật
“em” lên tiếng, nhưng ta vẫn thấy hiện rõ hình ảnh em yêu trong đó Người con gái trong thơ ông đẹp vẻ đẹp hiền hoà, giản dị và thuỷ chung Hình ảnh mái tóc, hình ảnh đôi mắt, sự đợi chờ… đủ nói lên tình yêu thuỷ chung và giầu niềm tin, niềm hi vọng mà người con gái đã dành tặng người yêu Và người con gái ấy còn mang đến sức mạnh đặc biệt cho chàng trai nơi chiến trường, chàng trai luôn mang trong mình sức mạnh tình yêu để vượt qua mọi gian khó của cuộc sống thiếu thốn nơi chiến trường nghìn trùng cách xa Chính vì vậy nên chàng trai luôn mang trong mình một tình yêu son sắt: dù đi chiến đầu trăm miền nhưng vẫn nhớ về em, hướng
về phía có em Phải chăng chàng trai chiến đấu vì chính những người thân yêu nhất của mình, vì người yêu, vì mẹ, vì quê hương…
Chàng trai luôn tin rằng: Rồi người yêu nơi phương xa sẽ hiểu mình hơn, hiểu những việc hôm nay mình làm là vì ai? Vì những người thân yêu, trong đó có
em Tình yêu trong chiến tranh đẹp, nồng nàn nhưng cũng thật buồn, bởi những
khoảng lặng của nỗi nhớ nhung xa cách:
“Những ngày đi, nối những ngày
Thủy chung với nước, vơi đầy với em
Chỉ còn sâu thẳm êm đềm
Rừng xưa vây kín nỗi niềm đôi ta
Những chiều em ngước mắt xa
Xanh xanh bóng núi, đó là lòng anh ”
(Xanh xanh bóng núi)
Tình yêu trong kháng chiến nghĩa là khi nào gặp nhau cũng vội vàng, “không
đủ gần mà giận rỗi” (Bài hát: Tình yêu trên dòng sông Quan họ - Nhạc sĩ Phan Lạc
Hoa), và tình yêu trong thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng không nằm ngoài quy luật ấy
Cả chàng trai và cô gái đều cảm thấy thời gian yêu nhau quá ngắn ngủi: “Yêu em
chưa được ngọn ngành/ Nói em hết nỗi yêu mình đã yêu” Hình ảnh người con gái
chiều chiều ngóng trông người tình chiến đấu nơi xa cũng là hình ảnh đặc trưng của
một thời mưa bom bão đạn “Những chiều em ngước mắt xa/ Xanh xanh bóng núi đó
Trang 37là lòng anh” Đôi trai gái đã để tình yêu của mình hoà vào núi sông, chỉ có núi sông
rộng lớn mới đủ để chất chứa những nỗi niềm mà đôi lứa yêu nhau muốn gửi đến nhau Họ nhắn gửi tình yêu qua cây lá, rừng núi… tình yêu ấy vượt qua mọi không gian và thời gian để đến với nhau, hoà quyện vào nhau Có một điều đặc biệt là trong những bài thơ tình của Nguyễn Khoa Điềm thì có một sắc màu được ông sử dụng rất nhiều, đó là sắc xanh, màu xanh của núi rừng hay chính là màu xanh của sức xuân tuổi trẻ, của tình yêu dạt dào Màu xanh ấy còn là màu xanh của niềm tin
hi vọng vào một ngày mai hoà bình đoàn tụ:
“Nhưng anh biết chúng ta rồi ra hạnh phúc
Bởi chúng ta yêu nhau trong mỗi ngày đất nước”
(Trên núi sông)
Cuộc kháng chiến còn kéo dài, còn gian khổ, chàng trai đi chiến đấu không hẹn ngày trở về nhưng vẫn luôn hướng về người yêu quê nhà, và dặn dò người yêu
chung thuỷ với mình, trong bài Tình ca:
Đừng yêu ai, em nhé
Chỉ yêu mình anh thôi
Dẫu tất cả con trai
Bên em đều tốt đẹp
Đừng thương ai, em nhé
Chỉ thương về anh thôi
Dẫu anh không còn trẻ
Không có chi hơn người
Rồi chàng trai lý giải vì sao mình xứng đáng được đón nhận tình yêu và sự chung thuỷ của người con gái nơi phương xa, ấy là vì chàng càng ra mặt trận chiến đấu quên mình, càng yêu em tha thiết, “yêu em tận lòng”:
Càng đi vào mặt trận
Càng sáng bừng thủy chung
Càng lao lên lửa bỏng
Càng yêu em tận lòng
Trang 38Gần như bất cứ khi nào viết cho người yêu, chàng trai cũng không quên nhiệm
vụ chiến đấu vì tổ quốc Tình yêu dù bỏng cháy nhưng chưa bao giờ thôi tồn tại song song với tình yêu đất nước, nhiệm vụ cứu quốc trong thời khắc gian nguy Khói lửa chiến tranh chưa bao giờ và không bao giờ làm nguôi đi tình yêu đôi lứa luôn bỏng cháy trong chàng trai Cái tôi trữ tình dạt dào yêu thương ấy chưa bao giờ
so sánh giữa tình yêu nước và tình yêu riêng tư, nhưng người đọc đủ cảm nhận được
sự cân bằng và sự mãnh liệt của cả hai
Yêu em, và yêu đất nước luôn luôn tồn tại song song trong trái tim chàng trai Người con trai ấy đi chiến đấu vì quê hương và luôn mang trong mình hình bóng em yêu Mỗi bước anh đi là mỗi bước hình bóng em trong trái tim anh Tình yêu mãnh liệt và thuỷ chung có lẽ cũng chỉ đến nhường ấy mà thôi:
“Những ngày đi, nối những ngày
Thủy chung với nước, vơi đầy với em
(Xanh xanh bóng núi)
Thời kháng chiến, khi còn tràn căng sức trẻ trong lồng ngực, Nguyễn Khoa Điềm cũng như bao chàng trai cùng thời, đều thể hiện một ý chí sắt đá chiến đấu chống quân thù, bên cạnh một tình yêu đôi lứa bỏng cháy Khi ấy, cái tôi trữ tình trong thơ ông phân biệt rạch ròi giữa tình yêu đôi lứa và nhiệm vụ cứu quốc Say
mê và tỉnh táo là hai thái cực gần như đối lập nhưng đã được Nguyễn Khoa Điềm dung hoà một cách hết sức khéo léo
Đến thời bình, người con giầu tình yêu quê hương ấy dành cho mình nhiều khoảng lặng riêng tư hơn Những cung bậc trầm buồn nhất của tình yêu cũng được Nguyễn Khoa Điềm thể hiện trong thơ, chứ không phải chỉ là những nỗi nhớ và hi vọng về một tương lai tốt đẹp như trước Cảm xúc cay đắng của một chàng trai bị
bỏ rơi đã xuất hiện trong thơ tình Nguyễn Khoa Điềm thời kì sau này, điều mà trước kia Nguyễn Khoa Điềm hầu như không bao giờ đề cập tới Đọc thơ tình của Nguyễn
Khoa Điềm, có lẽ ít ai lại không đọc bài thơ Có một ngày của ông Bài thơ đã được
nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc thành bài hát cùng tên, và bài hát đã làm thổn thức bao trái tim:
“Có một ngày em không yêu anh
Trang 39Ngày em không yêu anh
Ngày em rời mái nhà xưa cũ ấy
Và chiếc áo sờn vai ấy
Anh từng hôn lên nỗi khó nhọc hàng ngày
Em xóa mình đi
Bằng chiếc khăn màu thơm ngát…”
Bài thơ không lý giải lý do vì sao người con gái ấy bước chân ra đi Chỉ biết rằng khi ra đi, em sẽ có cái cười vui hơn, có cuộc sống hạnh phúc hơn Người ở lại bao giờ cũng là người buồn nhất, và chàng trai ở đây cũng vậy Dường như tình cảm anh dành cho người yêu vẫn như cũ, tất cả mọi thứ vẫn như xưa, như cái ngày
có em; chỉ có một điều thay đổi, đó là mái tóc của anh, màu tóc anh đã chuyển sang mầu khác Dấu vết thời gian đã để lại trên mái tóc ấy, thời gian đã trôi qua nhưng tình yêu dường như vẫn nguyên vẹn trong trái tim chàng trai Đọc bài thơ, ta cảm nhận được tình yêu thầm lặng và nỗi xót xa giấu kín của người con trai ấy Đây là cung trầm trong những khúc ca tình yêu sôi động mà Nguyễn Khoa Điềm viết trong chiến tranh
2.1.2.2 Cái tôi công dân, cái tôi chiến sĩ
Nguyễn Khoa Điềm chưa một giây phút nào không nghĩ tới nghĩa vụ cứu quốc thiêng liêng và cao cả Điều đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến thơ của ông Hầu như Nguyễn Khoa Điềm dành tất cả những bài thơ của mình trong kháng chiến để viết về những năm tháng cam go ấy Ngay cả khi viết về tình yêu nồng nàn, ông cũng không quên nhắc đến nghĩa vụ cứu nước Nếu tập hợp tất cả các tập thơ của Nguyễn Khoa Điềm theo thứ tự thời gian, ta sẽ có cách nhìn toàn cảnh về cuộc kháng chiến chống Mỹ Ở đó, cái tôi thi sĩ hiển hiện rõ là một cái tôi công dân, cái tôi chiến sĩ, chứ không phải là cái tôi cá nhân như ta thường thấy trong văn học lãng
Trang 40mạn Cái tôi cá nhân, là khi thi sĩ tập trung đến cao độ để thể hiện mọi cung bậc cảm xúc cá nhân Cái tôi chiến sĩ, cái tôi công dân là Nguyễn Khoa Điềm thể hiện những xúc cảm của cái tôi luôn ý thức rõ trách nhiệm của một người công dân yêu nước Nhưng không phải vì vậy mà thơ ông trở nên khô cứng, giáo điều Thơ ông vẫn tràn căng xúc cảm, bởi lẽ cái tôi công dân trong thơ ông hài hoà một cách nhuần nhuyễn với cái tôi cá nhân Nguyễn Khoa Điềm vẫn bộc lộ những xúc cảm riêng tư
và vẫn bộc lộ những trăn trở khôn nguôi về vận mệnh tổ quốc Ở đó ta cảm nhận được cái tôi đã hoà mình vào cái ta một cách hết sức tự nhiên Hoàn cảnh chiến tranh đã khiến các thi sĩ cũng như tất cả người dân thời bấy giờ đều nêu cao tinh thần quyết chiến Những nghĩ suy về vận mệnh tổ quốc luôn thường trực trong trái tim người nghệ sĩ Nguyễn Khoa Điềm, Tố Hữu, Chế Lan Viên… đều là những thi
sĩ bộc lộ mạnh mẽ cái tôi công dân Tố Hữu là một trong những người đầu tiên mang vào thơ Việt Nam một phẩm chất mới: chất trữ tình riêng tư của người cộng sản Ở đấy có sự hòa trộn của đời công và đời tư - cái riêng tư của nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu là sự nghiệp cách mạng
Nguyễn Khoa Điềm hoà mình vào cuộc sống của những người chiến sĩ ngày
đêm chiến đấu giành lại hoà bình cho dân tộc Trong từng câu thơ của bài Tôi lại đi
đường này ta nhìn thấy cuộc hành quân của Nguyễn Khoa Điềm và những người
cha, người đồng đội, người mẹ, người em… họ nối bước nhau trên con đường dẫn đến ngày toàn thắng, dẫn đến ngày mai tươi sáng Nhịp thơ ngắn diễn tả những bước chân dồn dập Bài thơ kéo dài miên man như muốn diễn tả cuộc hành quân bất tận ấy
Tôi lại đi đường này
Dù lần đầu mới gặp Đường cha tôi đánh giặc Đường bạn tôi giao liên Đường em tôi chạy giặc
Bà tôi ra bưng biền Đường đỏ cờ độc lập
Mẹ tôi mơ ngày đêm