Từ thời điểm đó cho đến nay, dù ở dạng giáo trình, chuyên luận hay công trình nghiên cứu, các học giả cũng đã tìm hiểu về các khúc ngâm trên các phương diện như văn bản, dịch giả, nội du
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
V ới tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Lê Thu Y ến, người đã tận tình hướng dẫn và khích lệ tôi trong suốt quá trình th ực hiện luận văn
Lu ận văn được hoàn thành không chỉ là một quá trình phấn đấu của bản thân tôi mà còn có s ự giúp đỡ quý báu của các thầy cô trong khoa Ngữ văn Tôi xin chân thành c ảm ơn quý thầy cô đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành t ốt luận văn của mình Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến thư viện
Qu ốc gia Hà Nội, thư viện trường Đại học Sư phạm TPHCM và thư viện Khoa h ọc Tổng hợp đã cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu bổ ích phục vụ cho đề tài
Xin c ảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Trang 4M ỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cám ơn
Mục lục
M Ở ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích - Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10
6 Cấu trúc luận văn 11
Chương 1: NGÂM KHÚC - VẤN ĐỀ VĂN BẢN VÀ THỂ LOẠI 12
1.1 Ngâm khúc - nguồn văn bản 12
1.1.1 Tình hình văn bản hiện nay 12
1.1.2 Việc xác định lại hệ thống văn bản 18
1.2 Ngâm khúc - một thể loại của thơ ca trữ tình Việt Nam 23
1.2.1 Ngâm khúc - nguồn gốc ra đời 23
1.2.2 Các chặng đường phát triển 30
1.2.3 Ngâm khúc - một thể loại thơ ca mang đậm bản sắc dân tộc 39
Chương 2: NGÂM KHÚC - THẾ GIỚI CỦA CẢM THỨC BI AI 49
2.1 Khái niệm cảm thức bi ai 49
2.2 Thế giới của cảm thức bi ai trong thể ngâm 56
2.2.1 Cảm thức bi ai trước thiên nhiên 56
2.2.2 Cảm thức bi ai trước cuộc đời 69
2.2.3 Cảm thức bi ai trước thân phận con người 84
Chương 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CẢM THỨC BI AI TRONG THỂ NGÂM 99
3.1 Thể song thất lục bát 100
3.1.1 Sự vận dụng tối đa các hình thức đối xứng 101
Trang 53.1.2 Sự phá vỡ cách ngắt nhịp quen thuộc 106
3.1.3 Sự thành công của nghệ thuật trùng điệp 111
3.2 Ngôn ngữ thơ ca 116
3.2.1 Sự đa dạng của các kiểu câu 116
3.2.2 Hệ thống từ ngữ chỉ cảm thức bi ai 131
3.3 Giọng điệu nghệ thuật 139
3.3.1 Giọng điệu buồn thương, ai oán 141
3.3.2 Giọng điệu suy tư triết lý 144
K ẾT LUẬN 152
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 155
Trang 6MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CH ỌN ĐỀ TÀI
1.1 Trong diện mạo thơ ca trung đại nói chung và giai đoạn hậu kì trung đại1
nói riêng, ngâm khúc là một thể loại văn học đặc sắc, dù nó chỉ vương vấn nơi người đọc bởi độc nhất một sợi tơ lòng buồn thương Thế nhưng, cũng chỉ bởi một đường
tơ đó mà ngâm khúc đã “phát triển đến tột độ quan niệm tự tình của thơ trữ tình
trung đại” [65, tr.183] Lần đầu tiên, con người của tâm trạng, của những nỗi niềm
riêng tư cá nhân đã vượt qua dòng sông thi ca quan phương và nặng về “tải đạo”,
“ngôn chí” để khơi nên một dòng chảy mới trong văn học, một dòng chảy đậm đà
chất nhân văn nhân đạo Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu tập trung
đi sâu vào thể loại này Việc nghiên cứu xét trên bình diện thể loại chiếm giữ vị trí khá khiêm tốn so với việc nghiên cứu từng khúc ngâm riêng lẻ Quan trọng hơn, các học giả cũng chỉ hướng đến những đỉnh cô phong như Chinh phụ ngâm, Cung
cũng không kém phần giá trị như Quả phụ ngâm, Chinh phụ dạ tĩnh ngâm khúc…
Thêm vào đó, nguồn văn bản cũng như tiêu chí xác định thể loại cho đến nay vẫn chưa tìm được một tiếng nói chung giữa các nhà học thuật Đó là những lí do đầu tiên mà người viết chọn thể loại ngâm cho đề tài nghiên cứu của mình
1.2 Nỗi buồn là cảm thức chung của thơ ca giai đoạn thế kỉ XVIII - XIX Chính môi trường xã hội và hoàn cảnh lịch sử cụ thể của giai đoạn này đã trở thành mảnh đất màu mỡ ươm mầm cho hạt giống buồn thương; thế nên lần giở những trang thơ
của các tác giả đương thời như Nguyễn Du, Bùi Huy Bích, Đoàn Nguyễn Tuấn,
Phạm Nguyễn Du…, niềm bi cảm khi thì bàng bạc khi thì da diết neo đậu mãi trong tâm hồn người đọc Tuy nhiên, không phải tác giả nào cũng lựa chọn nỗi buồn làm
hạt nhân cho toàn bộ sáng tác của mình, cũng như không phải tác phẩm hay thể loại
1 - Theo cách phân kì lịch sử văn học trung đại của PGS.TS Đoàn Thị Thu Vân trong công trình “Con người
nhân văn trong thơ ca sơ kì trung đại”, trang 9; trong đó giai đoạn sơ kì trung đại từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ
XV, trung kì trung đại từ giữa thế kỉ XV đến giữa thế kỉ XVIII và hậu kì trung đại từ giữa thế kỉ XVIII đến
cu ối thế kỉ XIX
Trang 7nào cũng đậm đặc cảm thức bi ai như thể ngâm Không quá để nói rằng, cảm xúc bi thương chính là yếu tính nuôi dưỡng sự sinh tồn và làm nên giá trị độc đáo không
thể lẫn giữa thể ngâm với các thể loại khác cùng thời Tập trung vào vấn đề cốt lõi này hẳn là chúng ta tìm đúng chiếc chìa khóa để mở ra cánh cửa nghệ thuật của thể thơ trữ tình trường thiên trong giai đoạn thơ ca hậu kì trung đại Việt Nam
1.3 Văn chương thế giới không thiếu những tác phẩm bi ca Chỉ cần nhìn qua nền văn học của các nước lân cận, văn học Nhật Bản ngay từ thời đại Heian, niềm bi
cảm (aware) đã thấm đẫm trong truyện Genji của Murasaki và trở thành một trong
những cảm thức chủ yếu xuyên suốt nền văn học của xứ sở Phù Tang Từ thế kỉ X
-XI trước công nguyên, tác phẩm nổi tiếng Trung Quốc Li tao của Khuất Nguyên cũng đã mang tinh thần bi kịch Các nhà thơ Lí, Đỗ đời Đường (618 - 907) cũng để
hồn thơ của mình phiêu diêu trong nỗi buồn bi thiết của tha nhân Nỗi buồn không
vắng mặt giữa dòng chảy của cuộc đời và vì thế cũng thường trực trong thơ ca như
một phạm trù thẩm mỹ mang tính phổ quát Với thể ngâm và cụ thể hơn là “cảm
ấn riêng của văn học Việt Nam đặt trong tương quan với các nước trong khu vực Trong dòng chảy chung đó, văn học Việt Nam tự hào có một thể loại riêng chuyên
biệt viết về nỗi buồn với tên gọi rất riêng, đó là “cảm thức bi ai”
Với những lí do trên, người viết chọn vấn đề Cảm thức bi ai trong các khúc
2 L ỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Lịch sử nghiên cứu ngâm khúc chính thức bắt đầu từ nửa cuối thế kỉ XVIII với các ý kiến bình giá của các nhà thơ sáng tác dưới ý thức hệ phong kiến Họ chủ yếu thưởng ngoạn vẻ đẹp của tác phẩm từ văn tài của các nhà thơ và dịch giả… Hoàng Xuân Hãn từng ghi lại rằng Ngô Thì Sĩ xem xong bài ngâm của Đặng Trần Côn đã thán phục và nói “Văn như thế thì áp đảo lão Ngô này” Cao Bá Quát ngợi ca
Nguyễn Gia Thiều “Ôn Như cổ cận, qui mô Thiếu Lăng”, nghĩa là cụ Ôn Như dù
làm theo thể tài cổ đại hay thể tài cận đại, quy mô phép tắc cũng chẳng kém gì văn thơ ông Đỗ Thiếu Lăng đời Đường
Trang 8Từ thời điểm đó cho đến nay, dù ở dạng giáo trình, chuyên luận hay công trình nghiên cứu, các học giả cũng đã tìm hiểu về các khúc ngâm trên các phương diện như văn bản, dịch giả, nội dung, nghệ thuật, tư tưởng, triết lý… Tuy nhiên chưa có
một công trình nào tập trung đi vào vấn đề “cảm thức bi ai” của thể loại, dù rằng
những vấn đề thân cận với đề tài như “cái bi”, “nỗi buồn”, “tâm trạng”, “cảm xúc bi
thương” phần nào đã được các nhà nghiên cứu không ít thì nhiều bàn đến, bởi lẽ từ
bản thân nhan đề tác phẩm đến nội dung và nghệ thuật biểu hiện bên trong, khúc ngâm chính là muôn vạn “những tâm trạng được ngưng đọng trên khối sầu” [36,
tr.68] Vì thế viết về lịch sử nghiên cứu của đề tài thực hiện, thiết nghĩ, không thể không nói qua những công trình nghiên cứu như vậy Có thể chia lịch sử vấn đề làm hai chặng như sau:
trung tìm hiểu từng tác phẩm cụ thể Có những công trình tìm hiểu toàn bộ khúc ngâm, thường dưới dạng chuyên luận, luận đề như: Luận đề về Chinh phụ ngâm (Tạ Văn Ru), Luận đề về Cung oán ngâm (Sao Mai), Khảo luận về Cung oán ngâm
văn học sử như Việt Nam văn học sử yếu (Nghiêm Toản), Văn chương chữ Nôm (Thanh Lãng), Vi ệt Nam văn học sử giản ước tân biên (Phạm Thế Ngữ), Văn học
vấn đề chuyên biệt như Đoàn Thị Điểm với Chinh phụ ngâm hay là một tác phẩm
Suy nghĩ về thể loại thơ song thất lục bát (Phan Ngọc)… Phần lớn các công trình
này đều hướng đến những tác phẩm có giá trị, được mọi người biết đến, nhiều nhất
vẫn là Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, sau mới đến các tác phẩm như Tự Tình
Trang 9hiểu các giá trị trong tác phẩm hay đi vào những vấn đề riêng biệt, đều nhận ra nỗi
buồn đậm nét trong mỗi khúc ngâm, từ nội dung đến hình thức nghệ thuật
Về phương diện nội dung, các tác giả đều khái quát được tâm trạng buồn
thương tha thiết trong mỗi khúc ngâm Dương Quảng Hàm nhận xét về Chinh phụ
ngâm người chinh phụ “Sầu và oán là điệu chung của khúc ngâm Nó tràn trề khắp
tr.25], thế nhưng ông cho rằng Chinh phụ ngâm và cả Cung oán ngâm về sau cũng
không mang tâm sự bi thiết, tuyệt vọng và thấm thía cực độ như trong Tự tình khúc
Những câu thơ “huyết lệ” trong tác phẩm này đã góp phần dệt nên “một khúc ngâm
đẫm nước mắt, phản ánh cảnh đời và tâm sự oan khổ của người tử tù, đượm một vẻ
ta bắt gặp một “bản nhạc lòng như khóc như than, như oán như sầu, tế nhị mà lưu
loát, n ỉ non mà man mác” [3, tr.19] của chính tác giả - chủ thể trữ tình trong bài thơ
Về phương diện hình thức, các tác giả tuy chưa có sự phân tích dày dặn và đầy
đủ nhưng ít nhiều đã thấy được “khả năng quý báu” của thể song thất lục bát
bàn đến văn chương của Chinh phụ ngâm, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng nếu
thể trường đoản cú đắc dụng với việc diễn tả chiều thay đổi, nhịp mau chậm của tình cảm thì thể song thất lục bát lại hoàn toàn thắng thế khi muốn bày tỏ tình cảm
êm đềm dài dặc, tả mối sầu đằng đẳng của con người Phạm Văn Diêu trong Việt nam văn học sử nói thêm rằng để “làm nổi bật cái tâm sự bi thương” của người
chinh phụ, Đặng Trần Côn đã cố ý vận dụng mọi hiện tượng liên quan đến tình yêu,
có khi tùy nghi lấy một hiện tượng chính mà ghi thành một bức hoành, một bức tranh, một khúc nhạc, có khi hỗn hợp nhiều hiện tượng chằng chịt cùng nhau… Tất
Trang 10cả đều nhằm khơi chảy dòng tâm trạng buồn thương bất tận của nhân vật trữ tình
Trong T ự tình khúc của Cao Bá Nhạ, nhà nghiên cứu đã tinh tế nhận ra nhịp khai
triển đôi, vừa luân lý vừa tâm lý để song hành cùng lúc việc viện dẫn lý lẽ và gợi tình thương nhằm minh oan cho chính mình Ngoài ra, tác giả cũng không quên nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, cách dùng từ, âm điệu… vốn là những yếu tố quan
trọng về mặt hình thức tạo nên tính nội dung trong tác phẩm
Không chỉ dừng lại ở những nhận định, các học giả còn tìm ra nguyên nhân
bốn nguyên nhân làm nên đau khổ của con người, đó là bản thân, thiên nhiên, xã hội
và ông trời, trong đó ông cho rằng “bản thân ta với những bệnh tật thể xác, những
tâm nhiều đến nguyên nhân xã hội, ông thấy rằng “giữa thi nhân và đại chúng có
ngâm khúc đều đã phản ánh đúng tâm trạng thê thảm của xã hội loạn li lúc bấy
gi ờ” [50, tr.101] Nói cách khác, chính bối cảnh xã hội ngột ngạt của thế kỉ XVIII là
nguồn cội sâu xa cho những “xúc cảm bi ai, sầu hận” trong các khúc ngâm
Nhìn chung, khi đi vào tìm hiểu, phẩm bình hay luận bàn về các khúc ngâm, các học giả đều quan tâm đến nỗi buồn thể hiện trong nội dung hình thức của tác
phẩm Tuy nhiên, tính chất chìa khóa ấy không được nhìn trên một diện rộng của
thể loại mà chỉ mới dừng lại ở một số tác phẩm cụ thể, tiêu biểu; đồng thời nó cũng không được đặt hẳn thành một vấn đề riêng mà chỉ là những nhận định, đánh giá, khái quát được rút ra để làm bật những vấn đề tìm hiểu khác như thế giới tâm trạng
của nhân vật, vấn đề số phận người phụ nữ, tính chất văn chương cổ điển, vấn đề luân lí, thời đại… Vì thế chưa một công trình nào khái quát nên một tên gọi chung đích đáng cho cảm xúc buồn thương có mặt thường trực trong nhiều khúc ngâm,
giống như văn học Nhật Bản có hẳn một cụm từ để nói về “niềm bi cảm” như
“aware”
Trang 11Ch ặng thứ hai: từ năm 1975 đến nay (2010) Nói chính xác hơn, từ khoảng
những năm 80 của thế kỉ XX đến nay, các nhà nghiên cứu bắt đầu đi sâu vào vấn đề
thể loại, dù rằng việc nghiên cứu về từng tác phẩm cụ thể vẫn được đồng hành nhưng có phần kém sôi nổi và dồi dào hơn
Trên phương diện tác phẩm, các nhà nghiên cứu thường tập trung đi sâu vào
một số vấn đề mình quan tâm và trong những vấn đề ấy, nỗi niềm bi thương trong
Đặc biệt phải kể đến công trình Tiếng khóc Nguyễn Gia Thiều, tiếng khóc nhân loại
của Sở văn hóa - thông tin và thể thao Hà Bắc nhân kỉ niệm 250 năm ngày sinh của Nguyễn Gia Thiều Ta không khó để tìm ra rất nhiều đoạn nghiên cứu tìm hiểu kĩ
niềm bi cảm về thân phận con người Bài nghiên cứu của Vũ Khiêu đã chỉ ra tiếng khóc nhân loại trong tiếng khóc của Nguyễn Gia Thiều, đó là những giọt nước mắt
xót thương cho “kiếp sống đầy rẫy đau thương và khổ cực”, “thân phận con người
mong manh như chiếc thuyền bào ảnh, sẽ sớm muộn bị dập vùi trước bão gió cuộc đời” [58, tr.19-20] Đặng Thanh Lê khi đặt Cung oán ngâm trên bước đường phát
và đánh giá trên, Nguyễn Hữu Sơn trong bài viết Cảm quan Phật giáo trong sáng
của thân phận làm người mà Nguyễn Gia Thiều đã trực tiếp đề cập đến “Từ câu thơ
37 đến câu thơ thứ 132 là đoạn thơ bộc lộ những suy nghiệm về lẽ đời suy thịnh, về
Trang 12h ọa khôn lường” [58, tr.113] Vậy là, những cảm xúc buồn thương về số phận con
người đã được nhiều nhà nghiên cứu tập trung phân tích trong tác phẩm Cung oán
ngâm khúc
Trên phương diện thể loại, lịch sử nghiên cứu khúc ngâm được mùa với hàng
loạt các công trình có giá trị như: Suy nghĩ về thể loại thơ song thất lục bát (Phan
Ngọc), Diễn biến của hình thức song thất lục bát (Phan Ngọc), Những khúc ngâm
pháp văn học trung đại Việt Nam (Trần Đình Sử), Ngâm khúc - Quá trình hình
kể trên bên cạnh việc tiếp tục phẩm bình, đánh giá các giá trị của tác phẩm đã đặc
biệt chú ý đến quá trình hình thành và phát triển thể loại, đến đặc trưng của thể ngâm ở cả nội dung và nghệ thuật Phan Ngọc cho rằng “hình thức không chỉ là
[41, tr.75] Ngô Văn Đức tìm hiểu đặc trưng thể loại (chủ yếu ở giai đoạn thế kỉ XVIII - XIX) xét dưới góc độ thi pháp như kết cấu, nhân vật trữ tình, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật, lời thơ Đào Thị Thu Thủy dựng lại diện mạo
của thể loại ngâm khúc thông qua việc nghiên cứu quá trình vận động, phát triển nghệ thuật của chúng (ở các thế kỉ XVIII - XIX - đầu XX) trên các phương diện như nhân vật trữ tình, kết cấu, nghệ thuật xây dựng nhân vật, lời văn nghệ thuật Liên
quan đến “cảm thức bi ai” trong thể loại, có một số nhận định rất gợi mở như “Nhân
Trang 13m ột trường hợp nào được đền bù theo cái kết thúc có hậu của truyện Nôm… Tất cả
khúc “đi vào những bi kịch tâm trạng, nỗi buồn mang tinh thời đại Các bi kịch hầu
điều này làm nên vẻ độc đáo riêng cho thể loại ngâm khúc Đây chính là những gợi
ý quan trọng để người viết đi sâu vào tìm hiểu “cảm thức bi ai” trong thể ngâm
Tựu trung lại, có thể thấy, nỗi buồn như một thuộc tính tất yếu trong các khúc ngâm đã được giới nghiên cứu đề cập đến; tuy nhiên chưa có một công trình chuyên
biệt nào đi sâu vào vấn đề trung tâm này Với đề tài nghiên cứu của luận văn, người
viết không làm công việc hệ thống và thâu tóm lại những vấn đề đã được bàn mà hơn hết có cái nhìn sâu và rộng hơn đối với một trong những đặc trưng cơ bản và quan trọng của các khúc ngâm Tuy nhiên, đặc trưng nào làm nên sự khác biệt của ngâm khúc với truyện thơ Nôm cũng rất phát triển giai đoạn đó? Đặc trưng nào ghi
dấu sự phát triển của thể loại trữ tình trong văn học trung đại nói riêng và văn học
Việt Nam nói chung? Đi vào thể loại, chỉ tìm thấy duy nhất một câu trả lời, đó chính
là “c ảm thức bi ai” hiện diện rất đậm nét trong toàn bộ các khúc ngâm Tìm hiểu
vấn đề này, chúng ta không chỉ lắng nghe tiếng khóc của từng thân phận cụ thể như nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra mà còn nghe dội lại tiếng khóc của cả nhân loại về thân phận con người nói chung Chúng ta cũng không dừng chân trước một tác
phẩm riêng biệt nào mà mở cửa bước vào tất cả các khúc ngâm, để từ đó thấy được nét đặc sắc của thể loại thông qua vấn đề được tìm hiểu này
Trang 143 M ục đích - Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu
a M ục đích
Luận văn được thực hiện nhằm chỉ ra một trong những đặc trưng cơ bản nhất làm nên thể loại ngâm khúc, đó chính là “cảm thức bi ai”
b Đối tượng
Để thực hiện đề tài, đối tượng mà luận văn hướng đến là tất cả các tác phẩm
được xác định là khúc ngâm Người viết sử dụng nguồn tư liệu chính là Tổng tập
văn học Việt Nam tập 13 với các tác phẩm cụ thể như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Ai tư vãn, Tự tình khúc, Thu dạ lữ hoài ngâm Tác phẩm Chinh phu ngâm
(Hồng Liệt Bá) được lấy từ Hợp tuyển ngâm khúc Việt Nam
Các tác phẩm còn lại, người viết sẽ dựa trên những cuốn sách được xuất bản riêng, không có trong các tuyển tập như Quả phụ ngâm (khuyết danh), Bần nữ thán
(khuyết danh), Hương thôn nữ thán (khuyết danh), Quá xuân nữ thán (Chu Ngọc Chi), Thán Ki ều (Chu Ngọc Chi), Chinh phu ngâm khúc (khuyết danh), Lí thị vọng
c Ph ạm vi
Đề tài chỉ tập trung vào “cảm thức bi ai” trong các khúc ngâm Các nội dung
khác nếu có được bàn đến cũng chỉ để soi tỏ cho vấn đề trung tâm này
Trong việc sử dụng nguồn tư liệu, người viết xin tạm thời bỏ qua các vấn đề
về văn bản dịch, dịch giả, thời điểm ra đời chính xác của một số khúc ngâm, những
vấn đề còn chưa được xác định cụ thể
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, người viết sử dụng một số phương pháp như sau:
Luận văn sẽ tìm hiểu “cảm thức bi ai” trong các khúc ngâm từ góc nhìn thể
loại, thể ngâm khúc (Xuyên suốt trong luận văn khi dùng khái niệm các khúc ngâm
người viết muốn nói đến vấn đề thể loại chứ không phải là những sáng tác riêng
Trang 15biệt, rời rạc)
Trong suốt quá trình thực hiện luận văn, để làm nỗi rõ “cảm thức bi ai” của
thể ngâm, chúng tôi tiến hành phân tích qua những dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu từ đó
tổng hợp lại, khái quát nên những luận điểm chính, những nhận định, đánh giá qua
từng chương, mục
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong quá trình người viết tìm kiếm các biểu hiện cụ thể thể hiện “cảm thức bi ai” của thể ngâm như từ ngữ, câu, giọng
điệu…
Luận văn đặt vấn đề nghiên cứu “cảm thức bi ai” vào hệ thống nội dung, nghệ
thuật của thể loại để thấy đây là một trong những đặc trưng cơ bản nhất
Đồng thời, người viết cũng đưa nội dung tìm hiểu vào truyền thống thơ ca trữ tình của dân tộc, vào thơ ca đương thời để phần nào thấy sự tiếp nối, gặp gỡ và khác
kiếm tư liệu (chưa có được đầy đủ văn bản, không xác định được chính xác tên tác
giả, thời điểm ra đời tác phẩm), vấn đề được đưa ra chưa thể gọi là giải quyết triệt
để và hoàn tất Song người viết cũng mong muốn trên cái nhìn toàn diện về tình hình văn bản hiện nay đưa ra các tiêu chí xác định thể loại, kiến giải cho những tác
phẩm còn nhiều tranh cãi và đưa ra con số cụ thể cho số lượng các khúc ngâm hiện nay
Luận văn cũng muốn chỉ ra một tên gọi riêng cho nỗi buồn vốn luôn thường
trực và ghi dấu ấn đậm nét trong thể loại Nếu như văn học Nhật Bản vẫn được biết đến với cảm thức aware, văn học Trung Quốc vẫn thường được nhắc đến với cảm
Trang 16hứng ai oán, thì văn học Việt Nam cũng có quyền hãnh diện về một thể loại riêng
mang đậm “cảm thức bi ai” Từ việc chỉ ra tên gọi, người viết cũng muốn nêu lên
nội dung và nghệ thuật thể hiện cho đặc trưng tiêu biểu ấy, xem đó như là một con đường hữu hiệu nhất để đi vào thế giới của thể loại ngâm khúc
b Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài được thực hiện sẽ trở thành một nguồn tư liệu cho việc học tập và nghiên cứu về thể loại ngâm khúc trong trường phổ thông cũng như các trường đại
học
6 C ấu trúc luận văn
Luận văn gồm ba phần: mở đầu, nội dung và kết luận; trong đó phần chính
thức và quan trọng của luận văn là nội dung sẽ được triển khai cụ thể ở những chương chính như sau:
Chương 1: Ngâm khúc - vấn đề văn bản và thể loại
1.1 Ngâm khúc - nguồn văn bản
1.2 Ngâm khúc - thể loại của thơ ca trữ tình Việt Nam
Chương 2: Ngâm khúc - Thế giới của cảm thức bi ai
2.1 Khái niệm “cảm thức bi ai”
2.2 Thế giới của cảm thức bi ai trong thể ngâm
Chương 3: Hình thức thể hiện cảm thức bi ai trong ngâm khúc
3.1 Thể song thất lục bát
3.2 Ngôn ngữ thơ ca
3.3 Giọng điệu nghệ thuật
Trang 17Chương 1: NGÂM KHÚC - VẤN ĐỀ VĂN BẢN VÀ THỂ LOẠI
1.1 Ngâm khúc - ngu ồn văn bản
1.1.1 Tình hình văn bản hiện nay
Văn bản là một cửa ngỏ quan trọng trước khi đặt chân vào khám phá nội dung tác phẩm Thế nhưng, tình hình văn bản hiện nay vẫn chưa tìm được tiếng nói chung giữa các nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong bài viết Suy nghĩ về thể loại thơ
phẩm viết theo thể song thất lục bát từ cổ chí kim, trong đó, theo ông, những “bài
thơ bất tử, làm nên mẫu mực cho thể thơ ấy” [41, tr.72] là các khúc ngâm Chinh
ngâm khúc Thể loại ngâm, từ đó, bao gồm tất cả đặc điểm được nói đến của thể song thất lục bát “Thứ nhất, đó là những bài thơ nội tâm Thứ hai, nó phải được xây
d ựng dựa trên sự đối lập giữa một bên là hiện tại, một bên kia là dĩ vãng hoặc tương lai và nhiều khi với cả hai Thứ ba những bài thơ song thất lục bát phải có
tr.69-71] Những luận điểm mà ông đưa ra rất có ý nghĩa trong việc hiểu về thể
ngâm nhưng chúng tôi băn khoăn ở ý kiến cho rằng “bài thơ song thất lục bát hay
đều có một đặc điểm không thể thiếu được làm thành tính đảng của nó là sự kêu
thơ song thất lục bát ở giai đoạn sau, giai đoạn Cách mạng cần thiết phải có những dòng thơ hô hào, hiệu triệu phục vụ cho lợi ích chung của cả dân tộc Sẽ là khó thuyết phục nếu cho rằng Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Ai tư vãn, Tự tình
của tác phẩm như chính tác giả cũng đã nói là “giãi bày tiếng nói của con tim” [41,
tr.71] Thêm vào đó, những tác phẩm viết bằng thể song thất lục bát thuộc giai
đoạn sau như Hà thành thất thủ ca, Lời người vợ hát chèo, Khóc Dương Khuê, Hải
Trang 18ngo ại huyết thư, Tỉnh quốc hồn ca… liệu có được xem là các khúc ngâm như những
tác phẩm “mẫu mực” thuộc giai đoạn đầu hay không chưa được xác định rõ Có một ranh giới thật mong manh, mơ hồ vắt giữa thể song thất lục bát và thể ngâm
Kế đến, các nhà biên soạn tuyển tập cũng tìm cho mình một tiếng nói riêng khi
đưa ra những con số khác nhau về số lượng các tác phẩm Trần Lê Sáng trong Hợp
ngâm được nhìn từ một phạm vi rất rộng, ôm trọn cả thể ca, khúc, vãn, thán, oán… trong 10 thế kỉ của nền văn học trung đại (từ thế kỉ X - XIX) Ở đây, tuy phần nào
đã chỉ ra sự khác biệt giữa thể ngâm với các thể khác nhưng soạn giả cũng cho rằng,
thể ngâm không đứng riêng trong thế đơn độc mà có quan hệ “ruột thịt” với các thể
khác như vãn, thán, ca, hành, từ… Riêng ở thể ngâm, tiêu đề các tác phẩm dứt khoát phải xuất hiện chữ “ngâm” Do đó, nhà biên soạn dễ dàng thừa nhận các tác
phẩm Phóng cuồng ngâm, Trừu thần ngâm (Tuệ Trung), Thu dạ lữ hoài ngâm (Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm) thuộc thể loại này Thêm vào đó, “tác phẩm ngâm không
vậy, thể loại ngâm dung hợp cả những tác phẩm mang âm điệu buồn lẫn những giai điệu vui và sự khác nhau trong âm hưởng đó tuỳ thuộc vào văn bản đó sử dụng văn
tự bằng chữ Hán hay chữ Nôm
Đến Những khúc ngâm chọn lọc, các tác giả tuy đã kéo biên độ thời gian đến
văn học hiện đại, nhưng do mục đích biên soạn là tinh tuyển, chọn lọc nên số lượng khúc ngâm chỉ nằm gọn trong 9 tác phẩm, bao gồm Phóng cuồng ngâm, Tứ thời
thán), Đại nam quốc sử diễn ca, Long thành cầm giả ca, Việt sử danh nhân liệt nữ
đính này bên cạnh những khúc ngâm quen thuộc như Chinh phụ ngâm khúc, Cung
oán ngâm khúc, Ai tư vãn, Thu dạ lữ hoài ngâm, Tự tình khúc đã tuyển thêm các
bản dịch Nôm như Tỳ bà hành (Phan Huy Thực), Trường hận ca (Tản Đà) và Chức
Trang 19c ẩm hồi văn (Ngô Thế Vinh) Theo Nguyễn Quang Tuân, các tác phẩm kể trên tuy
nguyên tác được viết bằng những thể thơ khác nhau (có bản viết theo thể trường
đoản cú như bài Chinh phụ ngâm, có bài viết theo thể trường thiên, mỗi câu bảy chữ như bài Tỳ bà hành) nhưng tất cả bản diễn âm đều được viết theo thể song thất lục
bát đồng thời chúng diễn tả những tình cảm buồn sầu đau thương nên lẽ dĩ nhiên chúng được gắn với tên gọi là các khúc ngâm
Vấn đề xác định văn bản thể loại không chỉ dừng lại ở đó; nó tiếp tục thu hút
sự quan tâm chú ý các học giả thông qua những luận án nghiên cứu khoa học Luận
án tiến sĩ của Ngô Văn Đức bảo vệ năm 2000, đã khoanh vùng tác phẩm ở con số 8
với việc xét thêm tác phẩm Văn chiêu hồn của Nguyễn Du Lí giải cho việc lựa
chọn này, Ngô Văn Đức cho rằng tác phẩm đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí mang tính chất điển hình của thể ngâm như “a- Tâm trạng chung của nhân vật trữ tình là
Quang trong luận án tiến sĩ bảo vệ năm 2002 cũng đã đồng tình với quan điểm trên đồng thời ông xét thêm một số tác phẩm thuộc giai đoạn sau, từ thế kỉ XIX trở đi Ông cho rằng các văn bản như Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến), Tục huyền
những nỗi niềm đau thương trước những mất mát, đổ vỡ trong hạnh phúc riêng tư…
có thể xem là những dư âm còn lại của thể ngâm đã từng một thời vang bóng Riêng
những tác phẩm vừa có tính chất bi thương vừa có tính chất bi ca như Á tế ca
(Khuyết danh), Hải ngoại huyết thư (Phan Bội Châu), Hai chữ nước nhà (Á Nam
Trần Tuấn Khải)…, nhà nghiên cứu xác định nó khác với giai đoạn trước khi thiên
về khuynh hướng thể hiện tâm trạng và nhiệt tình công dân đối với đất nước, giống nòi Ông không khẳng định đây là những khúc ngâm mà cho rằng đây là những tác
phẩm có sự đan xen giữa thể ngâm khúc và thể vịnh khúc
Công trình nghiên cứu gần đây nhất là luận án tiến sĩ của Đào Thị Thu Thủy,
học giả này đã nâng số lượng các khúc ngâm lên đến con số cao nhất là 27 tác
phẩm Đào Thị Thu Thủy đã chia từng thời kì của thể loại và xác định các tác phẩm
Trang 20cụ thể như: 1- Thế kỉ XVIII có ba tác phẩm Chinh phụ ngâm (bản dịch), Cung oán
có năm tác phẩm Thu dạ lữ hoài ngâm (Đinh Nhật Thận), Tự tình khúc (Cao Bá
Nhạ), Hoài cổ khúc (Miên Bửu), Bần nữ thán (khuyết danh), Quả phụ ngâm
(khuyết danh), 3- Nửa đầu thế kỉ XX có 19 tác phẩm Quả phụ ngâm (Nguyễn Thúc Nghiêm), Hương thôn nữ thán (?), Hàn nho thán (Bùi Huy Đức), Thán Kiều (Chu
Ngọc Chi), Quá xuân nữ thán (Chu Ngọc Chi), Chinh phu ngâm khúc (?), Hạ dạ lữ
(Ngô Văn Triện), Xà lim oán (Vũ Văn Cảo), Hàn sĩ thán (khuyết danh), Biệt xứ tù
cưới (Hoàng Thị Tòng), Tự tình (Tương Phố), Tự tình (Đặng Trần Phất) Để xác
định những tác phẩm như thế, Đào Thị Thu Thủy đã đưa ra khái niệm về thể loại ở
phần mở đầu luận án “Khúc ngâm song thất lục bát là những tác phẩm trường thiên
tiêu đề thường chứa chữ ngâm, ngâm khúc, vãn, thán… có tính chất tự tình, thể hiện
[77, tr.31] Với định nghĩa này, nhà nghiên cứu đã thừa nhận thêm những tác phẩm
ở giai đoạn sau - thế kỉ XX (Tù phụ ngâm, Biệt xứ tù ngâm, Xà lim oán), những
khúc ngâm với cảm hứng trữ tình công dân, nỗi buồn không những gắn với những
hạnh phúc riêng tư mà còn mở rộng ra là nỗi đau chung của toàn dân tộc; sự mở
rộng đó được xem như cuộc chuyển mình của thể loại đáp ứng nhu cầu mới của thời đại, nhu cầu phản ánh cuộc sống của nhân dân trước gót giày xâm lấn của thực dân Pháp (1858)
Xem xét chủ yếu 7 công trình có đề cập trực tiếp đến nguồn văn bản của thể
loại, có thể đưa đến những kết luận sau:
Điểm giao nhau của nhiều công trình chính là 5 tác phẩm được xác định chắc
chắn Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Tự tình khúc, Ai tư vãn, Thu dạ lữ hoài
Trang 21ngâm Không còn là điều phải bàn cãi khi xem các tác phẩm trên là các khúc ngâm
Nhưng một số tác phẩm còn lại vẫn chưa tìm được sự nhất trí giữa các nhà học thuật, tựu trung ở các khía cạnh sau:
Th ứ nhất, về mặt chữ viết Có hai luồng ý kiến, ý kiến thứ nhất cho rằng khúc
ngâm bao gồm cả những sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm Ý kiến này nằm trong các công trình H ợp tuyển ngâm khúc Việt Nam và Những khúc ngâm chọn lọc
Những sáng tác bằng chữ Hán với nhan đề thường kèm theo các từ như ngâm, vãn,
Trung), Côn Sơn ca (Nguyễn Trãi), Hương miết hành (khuyết danh), Hoán tỉnh
hướng này quan tâm đến thể ngâm trên một phạm vi rất rộng, bao gồm cả các thể khác như ca, khúc, oán, thán, vãn… nhưng lại thiếu đi một cái nhìn tập trung về nội
dung và hình thức thể hiện của tác phẩm Cách xác định thể loại như vậy có phần
lỏng lẻo, không chính xác Trong khi đó, ý kiến thứ hai chỉ thừa nhận những văn
bản khúc ngâm được viết bằng chữ Nôm và chữ quốc ngữ từ đó khái quát nên nhận định đây là thể loại thơ ca tuy ít nhiều ảnh hưởng yếu tố ngoại lai nhưng chủ yếu
vẫn sinh ra và lớn lên từ bầu sữa mẹ Việt Nam Đây là ý kiến chiếm được sự đồng thuận từ nhiều nhà nghiên cứu như Phan Ngọc, Nguyễn Quang Tuân, Ngô Văn Đức, Nguyễn Ngọc Quang và Đào Thị Thu Thủy…
Th ứ hai, về nội dung thể hiện Các nhà nghiên cứu thừa nhận những khúc
ngâm bằng chữ Hán cho rằng nội dung thể loại không chỉ là tiếng đàn bầu buồn bã, hiu hắt trong đêm vắng mà còn là những thanh âm vui vẻ, phấn khởi của chiếc đàn tranh, không ngừng tấu lên khúc nhạc ngợi ca non nước thái bình, thiên nhiên diễm
lệ hay những tấm gương trung thần liệt nữ Và hẳn nhiên, ý kiến còn lại loại đi
mảng màu sáng đó trong bức tranh thể loại mà chỉ nhìn thấy sắc buồn có khi đậm
nhạt khác nhau qua từng tác phẩm Tuy nhiên, cùng lấy tông buồn làm chủ đạo nhưng nội dung thể hiện trong khuynh hướng này tiếp tục rẽ nhánh theo từng thời
kì, nếu như giai đoạn nửa đầu thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX, nỗi buồn thu hẹp trong
những tâm sự cá nhân, riêng tư thì đến giai đoạn sau, thế kỉ XX đến nay, nỗi buồn
Trang 22nới rộng đến những vấn đề liên quan đến vận mệnh của cả cộng đồng
Th ứ ba, về hình thức thể loại Các tác phẩm ngâm khúc được xác định bằng
chữ Hán, nội dung pha trộn sắc thái vui lẫn buồn thì hình thức thể hiện thường khá
đa dạng, có thể song thất lục bát, lục bát, thất ngôn bát cú Đường luật Trong khi đó,
ý kiến còn lại thống nhất thể ngâm khúc chỉ có một khuôn hình thức chung là thể
thơ làm tên gọi cho thể loại, thể ngâm hay còn có một tên gọi khác là thể song thất
lục bát
Th ứ tư, về giai đoạn tồn tại Đây cũng là nút thắt chưa thể tháo gỡ khi nhiều
nhà nghiên cứu theo khuynh hướng thứ nhất cho rằng khúc ngâm có một tuổi đời khá dài, sinh thành và phát triển từ văn học trung đại (thế kỉ XII - XIII) và không
ngừng biến đổi đến văn học hiện đại (đến những năm 60 của thế kỉ XX qua tác
phẩm Ba mươi năm đời ta có Đảng của Tố Hữu) Theo khuynh hướng thứ hai, các
nhà nghiên cứu chỉ thấy khúc ngâm nằm gọn trong khoảng thế kỉ XVIII - XIX, thế
kỉ phát quang những ánh sáng rực rỡ và huy hoàng nhất của thể loại, hoặc xa hơn
chỉ có thể kéo dài đến đầu thế kỉ XX
Lí giải về sự không thống nhất giữa các nhà nghiên cứu, có thể thấy việc xác định nội hàm khái niệm sẽ quy định số lượng ngữ liệu mà tác giả thu thập được
Mỗi một cách hiểu về thể loại sẽ cho ra đời một số lượng văn bản khác nhau Tất nhiên, cũng phải tính đến việc, thời gian trở thành trở lực không nhỏ để các nhà nghiên cứu trở về quá khứ tìm kiếm, xác định các tác phẩm vốn chưa được lưu giữ
và bảo tồn Cho đến nay, chưa có ai dám tổng kết chắc chắn số lượng của các khúc ngâm Còn bao nhiêu tác phẩm chưa được phát hiện, nhất là những tác phẩm khuyết danh, tản mác trong dân gian? Và còn đó những tác phẩm ngâm khúc không thể tìm
thấy tên tác giả và thời đại sáng tác? Đây được xem là cửa ải khó vượt qua đối với các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu về thể ngâm Tuy nhiên, việc xác định nguồn
văn bản thể loại một cách khoa học và thống nhất cần thiết được đặt ra
Trang 231.1.2 Vi ệc xác định lại hệ thống văn bản
Để điền tên các tác phẩm vào bảng danh sách của thể ngâm, nhất thiết phải xây dựng các tiêu chí thể loại chặt chẽ và đầy đủ Những tiêu chí này một mặt sẽ trở thành tấm màng lọc để xem xét lại những tác phẩm chưa nhận được sự thống nhất
của giới nghiên cứu, mặt khác sẽ là những điều kiện quan trọng để nhận biết về thể
loại
Hệ thống các tiêu chí được xây dựng như sau:
V ề mặt chữ viết, phần lớn các khúc ngâm được viết bằng chữ Nôm (giai đoạn
đầu) và chữ quốc ngữ (giai đoạn sau đó) Trong 18 tác phẩm được xem là khúc ngâm thì có 3 tác phẩm nguyên tác đều bằng chữ Hán, đó là Chinh phụ ngâm (Đặng
Trần Côn), Chinh phu ngâm (Hồng Liệt Bá) và Thu dạ lữ hoài ngâm (Đinh Nhật
Thận) Tuy nhiên, các bản dịch đều được viết bằng chữ Nôm và thể thơ song thất
lục bát, nội dung đều gửi gắm tình cảm thiết tha, sầu muộn của con người, vì thế chúng tôi xem những bản dịch này là những khúc ngâm Nói cách khác, khi gọi các tác phẩm này là khúc ngâm chúng tôi đang muốn nói đến các bản dịch nôm của nó
V ề mặt nội dung, các khúc ngâm thể hiện rất rõ những cung bậc cảm xúc
buồn thương của con người về thân phận mình Chủ thể trữ tình thường là một cá nhân nào đó đang trực tiếp đối diện trước tấm gương của cuộc đời để cảm nghiệm
những khổ đau muộn phiền mà mình đang trải qua Khác với nhiều tác phẩm trữ tình khác, những cảm xúc riêng tư đó thường có sự trở đi trở lại theo suốt chiều dài tác phẩm và là kết quả của một quá trình dài của những trở trăn và suy ngẫm Nỗi
buồn vì thế không tự giới hạn mình trong những cảm xúc mang tính riêng tư mà đã nâng tầm, mở rộng thành những nỗi niềm mang tính nhân sinh Chính đặc điểm này khiến khúc ngâm không thể bó hẹp trong khoảng đôi ba câu thơ Yêu cầu về mặt nội dung đã quy định dung lượng bài thơ cần đạt đến Khác đi, nói đến thể ngâm, nhất thiết phải nói đến một thể loại trữ tình dài hơi, ở đó tâm trạng vượt biên ra khỏi
những gì gọi là khoảnh khắc, ngắn ngủi mà vươn đến chiều kích không cùng của
cảm xúc Những tác phẩm có quy mô ngắn (dưới 50 dòng) giới hạn sự trở đi trở lại
của cảm xúc không thể xem là một khúc ngâm đúng nghĩa, dù rằng nó cũng phản
Trang 24ánh tâm trạng buồn thương
Với những lí do trên, chúng ta gỡ hẳn tấm bảng tên khúc ngâm ra khỏi một số
văn bản Trước hết là tác phẩm Văn chiêu hồn Tác phẩm không phải là tiếng lòng
của chủ thể “tự tình” kể lại tâm sự, cảnh ngộ của chính mình hay nhập vai để bày tỏ
nỗi niềm của một đối tượng cụ thể nào; tình cảm bi thương trong tác phẩm cũng không có sự lặp lại Hơn thế, vai trò chủ yếu của sáng tác này là “chiêu hồn” cho
những linh hồn đau khổ, lang thang vất vưởng Do vậy, Văn chiêu hồn phù hợp với
thể loại văn tế hơn là ngâm khúc Tiếp đến là Bản dịch Chức cẩm hồi văn Tuy cũng
nói lên tâm sự thê thiết của người thiếu phụ có chồng đi chinh chiến, nhưng nó chưa
có sự trải nghiệm theo chiều dài của thời gian để tạo thành một khúc ngâm có độ sâu của cảm xúc Dung lượng gồm 40 câu thơ song thất lục bát chỉ đủ để ví tác
phẩm như một bức thư tình nhỏ gói ghém dòng tâm sự ngắn ngủi của nàng Tô Huệ
gửi đến chồng là Đậu Thao đi lính thú mười năm chưa về Do đó, tác phẩm này không thể xem là một khúc ngâm
Cũng cần nói thêm rằng, tính chất dài hơi trong thể ngâm không chỉ phụ thuộc vào dung lượng trường thiên được nói đến mà còn được trợ sức từ yếu tố tự sự có
mặt trong từng tác phẩm Những sự kiện chính trong cuộc đời của nhân vật, những chi tiết được chêm xen vào tác phẩm (chi tiết ngoại hình, lai lịch nhân vật, hoàn
cảnh…), sự dịch chuyển của không gian, sự thay đổi về thời gian… là những yếu tố
tự sự không thể vắng mặt trong thể ngâm Nó tạo điều kiện cho tâm trạng “hầu như
giác đơn điệu nhàm chán cho người đọc Quan trọng hơn, nếu không có một bệ đỡ
vững chắc từ yếu tố tự sự, cảm xúc của chủ thể trữ tình khó thể kéo dài lên đến mấy trăm câu thơ Khái quát hơn, thế đứng vững chãi của thể loại không chỉ nhờ yếu tố
trữ tình mà còn cần đến chất tự sự; và khác với truyện thơ lấy phương thức tự sự làm hạt nhân, ngâm khúc chọn sự mềm mại, mượt mà của cảm xúc làm chất liệu chính Việc nói thêm yếu tố này cũng nhằm xem xét lại một số tác phẩm vẫn được cho là các khúc ngâm Xét các bản dịch Tỳ bà hành (Phan Huy Thực) và Trường
Trang 25là một câu chuyện bằng thơ hơn là một khúc ngâm Hàng loạt các chi tiết, sự kiện
nối tiếp nhau theo trật tự tuyến tính thời gian, lời thơ chủ yếu là lời kể của tác giả về
một câu chuyện có nhân vật, có đối thoại và các tình tiết, biến cố Vì thế ta khó có
thể tìm thấy những dòng tâm trạng miệt mài của nhân vật khi đối diện với lòng mình Nói tóm lại, sự gia giảm của hai yếu tố tự sự, trữ tình cùng với vai trò quyết định của từng yếu tố sẽ góp phần xác định tên gọi từng thể loại, truyện thơ hay ngâm khúc Và như đã đề cập ở trên, những tác phẩm như bản dịch Tỳ bà hành
(Phan Huy Thực) và Trường hận ca (Tản Đà) không thể gọi là các khúc ngâm
V ề mặt hình thức, chúng ta xét đến hai yếu tố nhan đề tác phẩm và thể thơ
được sử dụng Phần lớn nhan đề của tác phẩm thường có những từ đi kèm như
loại nhưng những từ ngữ này là chỉ dẫn quan trọng để khu biệt thể ngâm với thể loại khác trong thơ ca trữ tình nói chung, vì bản thân nó đều gợi nên ý niệm về nỗi buồn,
về sự thở than, oán thán, những tâm trạng chính yếu được nói đến trong tác phẩm
Về thể thơ, ngâm khúc được viết bằng thể song thất lục bát Thể thơ này có kết cấu 7-7-6-8, một cặp câu thất và một cặp lục bát Bốn dòng thơ sẽ tạo thành một khổ và nhiều khổ thơ ghép lại ta có một khúc ngâm Tự thấy rằng, một khổ thơ đơn độc khó lòng diễn đạt được cuộc sống nội tâm phong phú, sâu sắc mà cần có sự trợ sức
của nhiều khổ thơ, chức năng kể trên mới được thể hiện Đồng thời sự lặp lại của
những khổ thơ như thế đã làm nên tính chu kì của thể loại, khiến cho cái cảm giác
buồn buồn, đều đều được kéo dài miên man, vô tận Hình thức do đó cũng mang tính nội dung, chứa đựng nghĩa biểu đạt cụ thể Vì vậy, những tác phẩm phá vỡ nội dung quen thuộc đó trong hình thức đều không được nhìn nhận như một khúc ngâm
đúng nghĩa Tác phẩm Hoài cổ khúc của Miên Bửu, xét về mặt đại thể, được viết
theo thể thơ song thất lục bát, nhưng xem xét cụ thể hơn, có thể thấy, những dòng thơ lục bát kéo dài từ 3 đến 5 cặp liên tiếp chen giữa hai câu thất đã khiến cấu trúc
của thể thơ bị phá vỡ Tác dụng của tính chu kì trong thể thơ vì thế không được đảm
bảo Bên cạnh đó, đối với những tác phẩm mà nỗi buồn cá nhân không còn là vấn
đề hạt nhân thâu tóm toàn bộ nội dung tư tưởng, cảm hứng sáng tác thì cũng không
Trang 26thể gọi tên là các khúc ngâm Nhận định này nhằm gạt các tác phẩm thuộc giai đoạn
trước thế kỉ XVIII như Đại Nam quốc sử diễn ca, Việt Nam sử yếu diễn ngâm, Việt
Đảng… ra bên ngoài thể loại ngâm khúc Cảm hứng và nội dung của những tác
phẩm này đã tìm đến những vấn đề lớn lao của lịch sử, của cách mạng để phản ánh
và chuyển tải Sự thay đổi này đã khiến tác phẩm không còn dừng chân trong thể ngâm mà có bước chuyển mình sang những thể loại khác
V ề giai đoạn tồn tại của thể loại, ta thấy khúc ngâm được khai sinh từ trong
lòng của nền văn học trung đại Việt Nam, phát triển đến đỉnh cao trong giai đoạn từ
thế kỉ XVIII - XIX và tiếp tục ảnh hưởng đến khoảng đầu thế kỉ XX Chính điều
kiện xã hội và văn học thời kì này với những đặc điểm riêng biệt (sẽ được đề cập trong phần sau) đã cho ra đời thể loại ngâm mang đậm dấu ấn của văn học dân tộc
Những tác phẩm ở giai đoạn sau, nhất là thoát thai từ nền văn học hiện đại, tuy ít nhiều ảnh hưởng từ nội dung và hình thức của thể ngâm nhưng ta không nên xem
nó thuộc thể loại này hay là biến thể của thể loại Vì như đã nói, một thể loại được định hình khi có sự ổn định và thống nhất về nội dung và hình thức, một trong hai
yếu tố đó có sự biến đổi thì thể loại mới sẽ được sinh thành và tiếp tục hoàn thiện
Do đó các tác phẩm thuộc giai đoạn sau chỉ có thể xếp vào thơ trữ tình nói chung hay cụ thể hơn là thơ ca Cách mạng chứ không thể gọi tên là các khúc ngâm
Từ các tiêu chí kể trên, chúng tôi xác định có 18 tác phẩm là khúc ngâm:
1 Bản dịch Chinh phụ ngâm
(Đặng Trần Côn)
Đoàn Thị Điểm - Phan Huy Ích (?) Nửa đầu thế kỉ XVIII
Thiều Giữa thế kỉ XVIII
4 Bản dịch Thu dạ lữ hoài ngâm
(Đinh Nhật Thận) Nguyễn Văn Đề Giữa thế kỉ XIX
Trang 275 Tự tình khúc Cao Bá Nhạ Giữa thế kỉ XIX
6 Bần nữ thán Khuyết danh Cuối thế kỉ XIX
7 Quả phụ ngâm Khuyết danh Cuối thế kỉ XIX
8 Bản dịch Chinh phu ngâm2
(Hồng Liệt Bá) Khuyết danh
Khoảng thế kỉ XVIII –XIX
9 Hương thôn nữ thán Khuyết danh Khoảng đầu thế kỉ XX
10 Quá xuân nữ thán Chu Ngọc Chi Khoảng đầu thế kỉ XX
11 Thán Kiều Chu Ngọc Chi Khoảng đầu thế kỉ XX
12 Chinh phu ngâm3 Khuyết danh Khoảng đầu thế kỉ XX
13 Hàn nho thán Bùi Huy Đức Đầu thế kỉ XX (1915)
14 Lý thị vọng phụ ngâm Xuân Lan Đầu thế kỉ XX (1923)
15 Chinh phụ dạ tĩnh ngâm khúc Ngô Văn Triện Đầu thế kỉ XX (1925)
16 Hàn sĩ thán Khuyết danh Đầu thế kỉ XX (1932)
17 Thiếu nữ hoài xuân ngâm khúc Khuyết danh Đầu thế kỉ XX (1935)
18 Việt Tiên ngâm khúc Nguyễn Bá Cảnh Đầu thế kỉ XX (1935) (So với công trình nghiên cứu mới nhất công bố 27 khúc ngâm của Đào Thị Thu Thuỷ, chúng tôi tìm được 24 tác phẩm, còn lại 3 tác phẩm chưa tìm được là
(khuyết danh)4 Trong 24 tác phẩm có được, so với những tiêu chí xác định thể loại
đã nêu trên, chúng tôi loại bỏ 7 văn bản được nhà nghiên cứu này cho là các khúc
2 - Theo Trần Lê Sáng, trong Hợp tuyển ngâm khúc Việt Nam, tác phẩm chữ Hán của Hồng Liệt Bá ra đời thế
k ỉ XVIII (thời đại tác giả sinh sống) tuy nhiên về bản dịch Nôm bằng song thất lục bát, không rõ của chính tác gi ả hay của dịch giả nào, cũng như không biết chính xác thời điểm ra đời của nó Chính vì lí do này, nhà nghiên c ứu Đào Thị Thu Thuỷ loại bỏ tác phẩm này ra khỏi phạm vi nghiên cứu thể ngâm Tuy nhiên, xét nội dung và ngh ệ thuật thể hiện, tác phẩm đáp ứng đầy đủ các tiêu chí đặt ra của thể loại nên chúng tôi vẫn ghi
Trang 28ngâm như Hoài cổ khúc (Miên Bửu), Xà lim oán, Biệt xứ tù ngâm, Tù phụ ngâm,
Thư gửi chồng chưa cưới (Hoàng Thị Tòng), Tự tình (Tương Phố), Tự tình (Đặng
Trần Phất) Chúng tôi sẽ lí giải thêm nguyên nhân cho sự loại bỏ này trong phần sau khi nói về các giai đoạn phát triển của thể loại
1.2 Ngâm khúc - một thể loại của thơ ca trữ tình Việt Nam
1.2.1 Ngâm khúc - nguồn gốc ra đời
Thuật ngữ “ngâm” vốn đã được tìm thấy trong các thư tịch cổ Trung
Quốc Theo Hán ngữ đại từ điển, “ngâm” nghĩa là thán, oán thán, than vãn Vì thế nói đến “ngâm” người ta vẫn thường nói đến các thuật ngữ gần gũi với nó như thán,
nó trong mối quan hệ mật thiết đó
Các thuật ngữ trên được dùng để chỉ một số thể tài trong thơ cổ và dân ca
Nhạc phủ trong văn học cổ Trung Quốc Thời Xuân Thu, Chiến Quốc đã xuất hiện
Sở từ hay Cửu ca của Khuất Nguyên Khi triều Hán thành lập Nhạc phủ, một cơ
quan có nhiệm vụ thu thập các bài dân ca và thơ để phổ nhạc thì các thể tài đã trở
nên phong phú hơn trước: ngâm có Bạch đầu ngâm, Lương phủ ngâm…; khúc thì
có Thái liên khúc…; hành thì có Oán ca hành Tiếp nối triều Hán, thời đại Lục triều cũng có các tác phẩm như Tây khúc ca và Ngô thanh khúc ca (triều đại phương Bắc), Lưỡng cổ giáo hành xúy khúc, Tạp khúc ca từ, Tạp ca dao từ (triều
đại phương Nam) Dân ca Nhạc phủ Hán, Lục triều trở thành cái nôi nuôi dưỡng cho thơ ca giai đoạn sau phát triển mạnh mẽ Đời Đường là sự nở rộ và phát triển
khá đồng đều của nhiều thể tài thông qua các tác phẩm như Tái thượng khúc, Tái hạ
Ngang), Trường hận ca (Bạch Cư Dị) Đời Tống phát triển từ, đời Nguyên thiên về
Tản khúc…
Tìm hiểu các thể tài này, xét thấy ranh giới giữa chúng thật khó minh định cho
rõ ràng, tường tận Như đã nói trên, ngâm rất gần với thán, vãn với âm hưởng thơ
Trang 29chủ yếu là buồn rầu, than thở Ngâm cùng gặp gỡ từ, khúc và ca trong tính chất giàu
nhạc điệu của nó Ngâm vẫn thường đi liền với khúc, khúc vẫn thường song hành
với ca, ngâm khúc hay ca khúc được xem là một Trong Nhạc phủ, ca hành lại là
một thể, trong đó hành được biết đến với một dung lượng câu chữ nhiều hơn, nhịp điệu thường là dồn dập Vì thế, theo quan hệ họ hàng, hành lại rất gần với ngâm
Hầu như, các thể tài này đều có thể thay thế nhau xuất hiện trong mỗi nhan đề bài thơ và không có sự quy định nào về nội dung và nghệ thuật phải thể hiện Giữa chúng không có một lằn ranh cố định và chắc chắn để phân biệt cụ thể và rạch ròi Các đối tượng phản ánh trong tác phẩm có khi không thuần nhất, có bài thơ
diễn tả niềm vui, nhưng cũng có bài nói đến nỗi buồn, nhất là đối với các thể có tên
là ca, khúc Tuy vậy, nỗi buồn vẫn thường là cảm hứng chung được nói đến, song
nó chỉ đơn thuần là những lát cắt của tâm trạng chứ chưa tạc thành khối, đúc thành thiên như các khúc ngâm về sau của Việt Nam Đó là nỗi hờn giận, trách móc của
người vợ bị chồng phụ bạc trong Bạch đầu ngâm của Lí Bạch, là tiếng thổn thức
của cô gái tiếc thương cho một tình yêu muộn mằn trong Tiết phụ ngâm của Trương
Tịch, là niềm ân hận của người vợ trẻ khuyên chồng đi lập công danh để rồi hạnh phúc lứa đôi dang dở trong Khuê oán của Vương Xương Linh Hình thức thể hiện
của các thể tài này cũng không có sự thống nhất Cùng là thể hành nhưng Yên ca
lại được viết theo lối ngũ ngôn cổ thi của thơ Nhạc phủ Thể oán có cả ngũ ngôn
luật thi (Xuân cung oán - Đỗ Tuân Hạc), ngũ ngôn tuyệt cú (Xuân oán - Kim Xương
Tự) và thất ngôn tuyệt cú (Trường Tín oán - Vương Xương Linh)… Trong quá trình
phát triển của lịch sử văn học, các thể tài này cũng không được hình thành và tồn tại
một cách ổn định Ở từng giai đoạn chúng lại có những tên gọi khác nhau như thời
Lưỡng Hán có Đinh đô hộ ca, thời Lục triều lại có Ô thê khúc, thời Trần Hậu Chủ
lại xuất hiện của Xuân giang hoa nguyệt dạ ca… Có thể thấy, các đặc điểm để hình
thành nên một thể loại cụ thể thì “ngâm” được nói đến trong thơ ca Trung Quốc vẫn
chưa đáp ứng được
Trang 30Nói tóm lại, các thể tài ngâm, oán, thán, vãn, hành… trong văn học Trung
Quốc chưa đủ định hình thành một thể loại trữ tình chuyên biệt Nguyễn Ngọc Quang chỉ xem đó như là những điệu thức khác nhau trong thơ ca Nhạc phủ của Trung Quốc Tuy nhiên, những thể tài này cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến sáng tác của văn học trung đại Việt Nam và quan trọng hơn, nó đã góp phần sáng tạo nên
một thể loại văn học của dân tộc Việt: thể loại ngâm khúc
Sự ra đời của thể loại bên cạnh sự ảnh hưởng về mặt thể tài của văn học Trung
Quốc còn có sự tác động trực tiếp từ những điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam giai đoạn hậu kì trung đại Chính những điều kiện nội lực ấy là mảnh đất màu mỡ giúp gieo trồng nên hạt giống ngâm khúc Xã hội Việt Nam từ cuối thế kỉ XVIII đến đầu
thế kỉ XIX đã bắt đầu đi vào quãng cuối của tình trạng “đời suy thói tệ”, “thế đạo
Ngọc) Những mâu thuẫn tiềm tàng trong lòng xã hội từ thế kỉ XVI - XVII đã có dịp
bộc phát một cách dữ dội
Đất nước ở vào thế “nhị thống”, vừa có vua vừa có chúa Từ Lê Hiển Tông 47 năm trị vì chỉ biết khoanh tay rủ áo “mua vui bên đám cung nữ”5 đến Lê Chiêu
Thống luồn cúi, đê hèn “cõng rắn cắn gà nhà”6 khi rước quân Thanh vào giày xéo
nước ta; từ chúa Trịnh Sâm hoang dâm, vô lối, đến chúa Trịnh Bồng hèn nhát, yếu đuối chỉ biết “làm ông sư già, chống cây thiền trượng ở dưới cửa thiền”7; tất cả đã
khái quát bộ mặt thối nát, bất tài, vô dụng của những người nắm giữ quyền lực quốc gia Cả vua lẫn chúa đều nhăm nhăm vào quyền lực bản thân mà quên đi sự an nguy
của xã tắc và tính mạng của muôn dân
Chính trong xã hội không chính danh định phận ấy khiến mọi giềng mối kỉ cương, đạo lý thánh hiền bị sụp gãy không phương cứu vãn Tư tưởng trung với vua, hiếu với cha, đễ với anh em, tín với bằng hữu đều bị chôn vùi dưới lòng đất sâu
5 - Trích trong Hoàng Lê nh ất thống chí
6 - Trích trong Hoàng Lê nh ất thống chí
7 - Trích trong Hoàng Lê nh ất thống chí
Trang 31của đời vua Thái Tổ, Thái Tông Thật hiếm có triều đại nào mà danh sách các bề tôi trung nghĩa lại trống vắng đến thế Ở đây, chỉ rặt những bọn quan quân lấy sự tùy
thời, cơ hội, gió chiều nào theo chiều ấy để làm triết lý sống cho bản thân Khi gặp
bất trắc thì tìm cách thoát thân để bảo toàn tính mạng, khi nhìn thấy mối lợi thì trăm phương nghìn kế xâu vào để kiếm chác tranh chấp Lí tưởng trí quân trạch dân không còn có đất để dung thân.8
Sự bệ rạc, mục ruỗng đến tận lục phủ ngũ tạng đó trên thân thể của giai cấp
thống trị đã khiến cho trăm điều oan ức đau khổ đổ lên đầu nhân dân Cảnh loạn lạc
li tán, nạn đói kém triền miên, thuế khóa nặng nề, phu phen phục dịch vất vả là cảnh
ngộ chung của nhân dân giai đoạn đó Chính cảnh sống bần cùng cộng với nền kinh
tế hàng hóa rất phát triển ở giai đoạn này (khiến tư tưởng thị dân được nảy mầm) đã giúp con người không chịu kiếp sống gục đầu cam chịu mà vùng lên đấu tranh đòi quyền sống đúng nghĩa với chữ Người được viết hoa Các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp được nổ ra mà hội tụ tất cả sức mạnh ấy là cuộc quật khởi của nghĩa quân Tây Sơn Như cơn mưa dầm tưới tắm cho mảnh đất đã cằn đi vì cháy nắng9, phong trào Tây Sơn đã kéo nhân dân thoát khỏi chốn lầm than, cho họ được ngẩng mặt đón mừng cuộc sống thái bình thịnh trị Thế nhưng triều đại tồn tại quá ngắn ngủi (1789 - 1792) Sự phục quốc của nhà Nguyễn vào đầu thế kỉ XIX đứng đầu là Nguyễn Ánh đã đẩy guồng máy xã hội phong kiến trở về với quỹ đạo vốn có của
nó “Gi ặc cướp nổi lên như ong” và hàng chục cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ diễn ra
8
- Trong Hoàng Lê nh ất thống chí, các tác giả trong Ngô gia văn phái đã kịp ghi lại hình ảnh một Đặng Mậu Lân công nhiên hạ bệ chúa một cách thảm hại “Chúa là cái quái gì?” Bọn kiêu binh sẵn sàng trả cheo với
chúa “Tưởng rằng muốn làm chúa nên mới lập, chớ nếu không muốn thì có ai ép… Bẻm mép thế Thôi, hãy
xu ống khỏi bệ đi!” Thần Trung hầu sẵn sàng từ chối bảo vệ nhà vua “Bệ hạ khoanh tay rũ áo không làm việc
gì, thì còn c ần chi lính bảo vệ” Dương Trọng Tế còn làm bài hịch chỉ trích tội của vua Lê “Đã không xứng làm vua L ấy gì tiêu biểu cho nước” Nguyễn Cảnh Thước đòi vua phải lột chiếc áo ngự khi chở vua sang
sông Một tuần huyện Trang nổi tiếng với câu nói “Sợ thầy chưa bằng sợ giặc, yêu chúa chưa bằng yêu thân
mình”…
9 - Ý th ơ trong Hịch Tây Sơn
Trang 32khiến mâu thuẫn giữa nhà nước phong kiến và nhân dân càng trở nên gay gắt, đời
sống người dân càng bị đẩy xuống tận cùng của sự khốn khổ và bi đát
Trên mảnh đất hiện thực điêu tàn ấy, văn học kết được mùa hoa thơm trái ngọt khi hình thành trào lưu nhân văn, nhân đạo sâu sắc Con người cá nhân bắt đầu choàng tỉnh sau một giấc ngủ dài chỉ biết gắn cái tôi của mình vào cái ta chung của
cộng đồng, của tập thể Lần đầu tiên, họ nhận biết được tất cả những giá trị vốn có
của mình: tài năng, vẻ đẹp, phẩm hạnh, quyền được hưởng tình yêu, hạnh phúc…
tr.218] Thế nhưng cuộc đời tang thương dâu bể, xã hội với những cuộc biến thiên
dữ dội, gió không ngừng đổi chiều giữa các cuộc thay ngôi đổi vị của những bậc quân vương, số phận của con người chẳng khác cánh bèo, chiếc lá bơ vơ, vô định
giữa dòng nước xiết Nguyễn Du từ cuộc đời trong “màn hoa, trướng huệ” với
hùng tâm tráng chí của kẻ làm trai phút bỗng hóa ra người tay trắng, 10 năm phiêu
bạt trong gió bụi mà hùng tâm lẫn sinh kế, cả hai đều trở nên mờ mịt “Hùng tâm
trong chớp mắt, phải lánh mình ẩn dật để trốn sự hợp tác với nhà Tây Sơn, khối
tình10 còn lại là một tiếng kêu uất nghẹn “Muốn kêu một tiếng cho to lắm - Rằng
về hạnh phúc, thứ hạnh phúc bình dị và tự nhiên mà họ đáng được hưởng, thế nhưng càng cố gắng truy tìm con người chỉ gặp toàn những nỗi tang thương bất
hạnh Những câu hỏi thống thiết không ngừng vang lên:
M ảnh thân chiếc lá biết là về đâu (Văn tế thập loại chúng sinh)
Khóc vì n ỗi thiết tha sự thế
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Sang đến đầu thế kỉ XX xã hội Việt Nam tuy khác với giai đoạn trước đó
10 - Tên m ột tác phẩm của Nguyễn Gia Thiều
Trang 33nhưng cũng đồng quy ở một nỗi buồn nên một số khúc ngâm cũng vì thế mà tiếp tục
ra đời Năm 1858, tiếng súng xâm lấn của thực dân Pháp đã xé toang những vá víu
và nỗ lực của giai cấp thống trị phong kiến nhằm cứu vãn cho địa vị của mình Sự đầu hàng từ miễn cưỡng đi đến việc quỳ mọp gối dâng nước ta cho Pháp đã chấm
dứt hẳn sinh mệnh đã mục ruỗng của chế độ phong kiến Việt Nam, nhường chỗ cho
sự thống trị và bình định của kẻ ngoại quốc; để rồi một hình thái xã hội mới với tất
cả “tấn bi hài kịch” của nó đã ra đời: xã hội thực dân nửa phong kiến Giới tri thức
đứng trước đôi dòng nước băn khoăn tìm kiếm cho mình một lối đi Các nhà nho
nửa cuối thế kỉ XIX có khuynh hướng tìm lại điểm tựa tinh thần từ nền tảng Nho gia (học hành, thi cử) và đạo lý thánh hiền, thế nhưng tất cả đã bị xuống cấp trầm
trọng Nguyễn Khuyến hoang mang tự hỏi “Đạo học mất rồi ta biết đi về đâu” (Đão
, muốn say một nghìn ngày12, muốn chìm trong giấc ngủ không bao giờ tỉnh thức13 hay chọc cho mù
mắt14, bởi lẽ họ mang một bi kịch rất lớn của người kẻ sĩ “muốn sống hồn nhiên,
Trong khi đó phải giương mắt nhìn xã hội thực dân nửa phong kiến hiện ra với mọi
thứ nhất đã hoàn toàn tiêu vong Họ tìm đến con đường thứ hai, con đường đấu tranh bảo vệ tổ quốc Đây là sự lựa chọn của nhiều trí sĩ yêu nước giai đoạn đầu thế
kỉ XX như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng Thế nhưng tất cả các phong trào đấu tranh của họ đều bị dìm trong bể máu Ngả rẽ thứ hai cũng không khiến con người thoát ra khỏi vòng bế tắc Không khí tang thương, buồn chán lại một lần nữa vây bủa toàn dân tộc, trong mọi tầng lớp tiến bộ nhất của thời
11 - Ý thơ “Khéo ngơ ngơ ngác ngác ngỡ là ngây” - Anh giả điếc - Nguyễn Khuyến
12
- Ý thơ “Khổ hận sở cầu thiên nhật túy” (Uất hận lắm chỉ muốn say luôn một nghìn ngày) - Kí Khắc Niệm
Dương niên ông - Nguyễn Khuyến
13
- Ý thơ “Ngủ quách sự đời thây kẻ thức” - Đêm buồn - Tú Xương
14 - Ý thơ “Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ” - Tú Xương
15 - Trích trong sách Tú Xương, tác phẩm và giai thoại (Nguyễn Văn Huyền), tr.37
Trang 34đại và lần này, nó có phần nặng nề hơn, đau thương hơn, bởi lẽ nó đã động chạm đến nỗi đau lớn nhất của con người: nỗi đau vì mất tự do Đêm tối đối với Tú
Xương là khoảnh khắc ông đối diện với điệp khúc buồn muôn thuở “trời không
nhìn thân thế đời mình như “cỏ úa” Bài Viễn hải quy hồng của Phan Châu Trinh
tràn đầy nước mắt, khóc non sông, miếu xã, khóc dân tộc, khóc vua quan16
Có thể thấy, nỗi buồn, sự cô đơn bế tắc là bầu không khí chung của xã hội giai đoạn kéo dài từ thế kỉ XVIII đến những năm đầu của thế kỉ XX Chính tâm trạng đó
của thời đại đã bao phủ lên những sáng tác của thời kì này một không khí ảo não, thê lương và buồn bã Và đó chính là bầu khí quyển tốt nhất để nuôi dưỡng và phát triển thể loại ngâm khúc
Cũng phải nói thêm rằng, để có được một diện mạo văn học rực rỡ và nhiều đổi mới như thế, không thể không kể đến vai trò của lực lượng sáng tác, những người đã nói giúp nỗi lòng của hàng triệu người dân đang đói khổ lầm than lúc bấy
giờ Ngoài trái tim rung động và tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ, đó còn là
một cuộc đời đến gần với cuộc sống nhân dân Phải nói rằng, chính bối cảnh xã hội
đã “mở ra cho trí thức phong kiến một con đường mới mẻ, con đường của những
[30, tr.23] Nếu như ở những giai đoạn trước, “đạo không được thực hiện” các nhà
nho tìm về con đường “ẩn thân”, “cưỡi chiếc bè (rong chơi) ra biển” [30, tr.21] để
gặp gỡ với những gian nan, lưu lạc của nhân dân, để từ đó trái tim dễ dàng hòa điệu
với những đói khổ, tang thương, mất mát mà nhân dân phải chịu đựng Có lẽ chưa bao giờ trong tòa văn học trung đại thâm nghiêm cổ kính các nhà văn gần gũi với
quần chúng lao khổ đến thế Vang vọng trong thơ ca không chỉ là tiếng nói của
những người thuộc tầng lớp trên mà còn là những tiếng lòng từ nơi trồng dâu, trồng
16
- Nay tôi khóc d ạt dào chan chứa - Khóc thảm thương vì sự dân mình - Vì ai khốn khổ lênh đênh - Dù ai kêu có thương tình chi đâu (Vi ễn hải quy hồng của Phan Châu Trinh)
Trang 35càng về sau càng xuất hiện nhiều những tác phẩm bình dân Văn học tiệm cận dần
với con đường bình dân hóa Nhân vật trữ tình vì thế cũng là những con người thuộc tầng lớp dưới như cô gái nghèo không lấy được chồng, người thiếu nữ hoài
tiếc tuổi xuân… Nói cách khác, chính “những phen thay đổi sơn hà” đã khiến cho
những khuynh hướng tư tưởng xã hội tiến bộ đã được nảy mầm trong tầng lớp trí
thức phong kiến, tạo chuyển biến đáng kể cho văn học thời kì này Những điều trình bày trên đã cho thấy khúc ngâm được sinh thành từ chính những tác động nội tại
của điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam
1.2.2 Các chặng đường phát triển
Các thể ngâm, khúc, oán, thán, vãn của thơ ca Trung Quốc chính thức bước
vào nước ta từ thời điểm nào vẫn chưa được xác định cụ thể Chỉ biết học giả Phan Huy Chú (1782 - 1840) trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí, phần Văn tịch chí
cho biết Trần Ích Tắc (thế kỉ IV) có bộ Củng cực lạc ngâm nhưng hiện nay cũng
không còn Khoảng 10 thế kỉ sau đó, thế kỉ XIV, Tuệ Trung thượng sĩ có hẳn ba bài
thơ viết theo thể tài trên như Phóng cuồng ngâm, Trừu thần ngâm và Phật tâm ca
Vua Trần Nhân Tông cũng góp mặt bằng bài thơ Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca
Nguyễn Trãi thế kỉ XIV tiếp bước với Côn Sơn ca và đến thế kỉ XV vua Lê Thánh
Tông viết Quỳnh uyển cửu ca, Thái Thuận - một trong nhị thập bát tú trong hội Tao đàn đầy thương cảm khi viết về Chinh phụ ngâm, Lão kỹ ngâm; thế kỉ XVI - XVII Đào Duy Từ tiếp nối với Ngọa long cương vãn, Tư Dung vãn, tao đàn Chiêu Anh
Các có Lư Khê vãn, Ngô Thì Ức có Tiêu dao ngâm, Ngô Thế Lân sáng tác Thiệp thế
Thái Thuận là một trong những bài thơ đã bày tỏ tâm trạng của con người với giọng điệu thơ buồn rầu đầy thương xót:
Đình thảo thành khoa liễu hựu ty
Chinh phu hà nh ật thị quy kỳ
Nh ất chẩm đề quyên lạc lệ thì
Trang 36Tái b ắc vân trường cô nhạn ảnh
T ằng đáo quân biên tri bất tri 17
Bài thơ viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật Dung lượng bài thơ Đường gói gọn một góc nhỏ của khúc tâm tình của con người, cụ thể ở đây
là nỗi buồn thê thiết của người chinh phụ có chồng đi chinh chiến Nhìn chung,
những bài thơ này tuy có xuất hiện tên của các thể tài ở nhan đề tác phẩm nhưng chưa thể đóng dấu tên gọi của thể loại Cũng như trong văn học Trung Quốc, mỗi
thể tài không có tiêu chí xác định nội dung và nghệ thuật cụ thể và giữa chúng cũng khó tìm ra những lằn ranh cụ thể để phân biệt Nếu Phóng cuồng ngâm của Tuệ
Trung ngát hương thiền với tinh thần tự do, thích thảng, buông bỏ mọi phiền lụy
của cuộc đời thì Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi quay về cái trong sáng hữu tình của
tiếng suối chảy rì rầm, của đá rêu phơi và những bóng trúc râm, để từ đó đạt cái tâm
an bằng, thư thái Nếu Tiêu dao ngâm (Ngô Thì Ức) mượn lối thất ngôn cổ phong
để biểu đạt thì Thiệp thế ngâm (Ngô Thế Lân) dùng lối thơ ngũ ngôn cổ phong để
thể hiện Có thể thấy, sự không thống nhất về mặt nội dung và hình thức khiến cho
những tác phẩm này không thể sống chung dưới một mái nhà ngâm khúc
Thể song thất lục bát cũng phôi thai từ thế kỉ XVI với bài Nghĩ hộ tám giáp
dung thích hợp nhất để phát huy tiềm lực Dù rằng dung lượng bài thơ khá dài để chuyển tải nhiều hơn những điều tác giả muốn gửi gắm nhưng nội dung chưa có sự
tập trung, dòng tâm trạng bi thương của nhân vật - vốn đặc trưng của khúc ngâm không được nói đến mà chủ yếu hướng đến việc miêu tả cảnh đẹp thiên nhiên và ca
17
- D ịch nghĩa:C ỏ tốt đầy sân liễu rủ mành - Ngày nào v ề hỡi kẻ tòng chinh - Rèm thưa lòng não trăng tàn bóng - G ối lạnh châu tràn cuốc gọi canh - Ải Bắc mây bay con nhạn lẻ- Sông Nam xuân hết nét ngài xanh - Tương tư mấy độ đêm thường mộng - Có thấu tình chăng anh hỡi anh
Trang 37ngợi triều đình phong kiến, những quy phạm trong thơ ca trung đại giai đoạn trước
Có thể lấy tác phẩm Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sĩ Khải làm ví dụ để minh họa
Thông qua việc miêu tả bốn mùa, tác giả với cương vị của một cựu thần triều Mạc
đã không tiếc lời ca ngợi công đức của nhà vua và sự trường tồn của ngai vàng, dù
rằng triều đình phong kiến lúc bấy giờ cũng đã bước chân vào con đường suy thoái:
Tung hô ba ti ếng kêu rân
Tính chất tụng ca và ý thức tôn quân đã chi phối mạnh mẽ nội dung, cảm hứng
và tình điệu trong đoạn thơ Toàn bài thơ ta chỉ thấy những lời tung hô đầy hào
sảng, niềm vui và sự phấn khởi pha lẫn tự hào của một kẻ bề tôi hết lòng “ơn vua,
nội dung như thế
Nhìn chung, các thể tài ngâm, khúc, oán, thán, vãn đã tìm đường vào nước ta
từ rất sớm nhưng chưa có được một nội dung và hình thức ổn định thống nhất; cũng như thể thơ song thất lục bát tuy đã được phôi thai nhưng cũng chưa gặp được một
nội dung tương ứng để chuyển tải Ở giai đoạn đầu chúng vẫn là những kẻ lạ mặt chưa tìm được chất xúc tác để xe kết Vì thế thể ngâm chưa có điều kiện để ra đời
1.2.2.2 Ch ặng 2 - Sự ra đời và phát triển
Đến thế kỉ XVIII, thể song thất lục bát mới đạt đến độ chín muồi khi trở thành hình thức chính diễn tả tâm trạng buồn rầu, đau đớn kéo dài triền miên của con người Từ đó thể loại ngâm cũng chính thức được khai sinh, trong đó thế kỉ XVIII
được xem là thế kỉ nở rộ của nhiều khúc ngâm như Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), Cung oán ngâm (Nguy ễn Gia Thiều), Ai tư vãn (Ngọc Hân)… Thế kỉ XIX
tiếp nối với sự thành công của các tác phẩm như Thu dạ lữ hoài ngâm (Đinh Nhật
Thận), Tự tình khúc (Cao Bá Nhạ) và sự mở đầu của những khúc ngâm bình dân như Bần nữ thán (khuyết danh), Quả phụ ngâm (khuyết danh) Đây là những thế kỉ
định hình rõ rệt nhất cho thể loại, thậm chí không quá để nói rằng đây là giai đoạn
Trang 38phát triển đến đỉnh cao của thể ngâm, với những tác phẩm được xem là mẫu mực
cho các sáng tác giai đoạn sau đó Lê Trí Viễn ngợi ca thơ Chinh phụ ngâm là “một
của Cung oán ngâm “Cung oán xứng đáng nhận cái ghế ngồi danh dự mà người ta
đã dành cho nó, đã coi nó là một tập văn Nôm làm được nhiệm vụ khai đường mở
[38, tr 88] Sự thành công đó được thể hiện ở việc ngâm khúc đã tìm cho mình được một hệ thống đặc trưng thể loại khá ổn định từ kết cấu, nhân vật trữ tình, không gian, thời gian nghệ thuật và lời văn nghệ thuật Về kết cấu, các khúc ngâm
tuân theo kết cấu tâm trạng Mở đầu thường là tâm trạng con người ở thời hiện tại
với những điều bất như ý trong cuộc đời Để giải tỏa niềm u uẩn, theo quy luật tâm
lý, con người lần tìm trở về quá khứ để tìm lại dấu vết của hạnh phúc và niềm vui
mà mình đã từng được nếm trải Tuy nhiên sự trở về đó không giúp con người tìm được giá trị đã mất mà chỉ nhận ra một quá khứ không thể vãn hồi Tiếp tục hướng đến tương lai để tìm kiếm chút hi vọng, chút niềm tin vực dậy sau bao nhiêu đau
khổ, con người chỉ lạc lối trong sự trống không, vô vọng Ở mọi ngả đường, cánh
cửa hạnh phúc đều như khép lại, khiến cho nỗi buồn cứ tiếp tục kéo lê họ trong suốt
quãng đời dài còn lại Về phía nhân vật, nhân vật trữ tình trong các khúc ngâm là
con người mang nỗi buồn cá nhân Dù là nhân vật nhập vai (tác giả mượn một đối tượng khác để bày tỏ) hay là chính tác giả (tự nói về cảm xúc, tâm trạng của chính mình) thì nhân vật cũng luôn phân thân để xem mình như là một khách thể thẩm mỹ
để kể, tả, thuật lại nỗi buồn của chính mình Vì thế nhiều nhà nghiên cứu vẫn xem các khúc ngâm là những bài thơ tự tình, một nhánh của thơ trữ tình, ở đó một nhân
vật trữ tình đang “độc bạch” (chữ dùng của Đặng Thai Mai) Tâm trạng ấy không
phải là những phút bất chợt của cảm xúc, nhẹ nhàng thoảng qua rồi bỗng chốc tan
biến mà là kết quả của cả quá trình suy tư trăn trở về vấn đề hết sức trọng đại của
Trang 39đời sống nhân sinh: vấn đề số phận con người và hạnh phúc Có không hạnh phúc
của con người trên cuộc đời trần thế này? Nếu có, nó tồn tại ở đâu trong đời người? Con người có thể tìm kiếm nó được chăng? Đáp lại những câu hỏi ấy, con người chỉ
nhận ra một sự thật đau lòng rằng: cuộc đời không bao giờ trao ban cho họ những giá trị đáng được nhận, càng ý thức được giá trị của mình, con người chỉ nhận về
những khổ đau, phiền muộn Nỗi buồn được nhân đôi và trở thành niềm đau lớn Con người chỉ còn biết đổ tội cho số mệnh, số kiếp và cất lời oán thán, than vãn cho
số phận bi thương của mình Giọng điệu buồn thương, than thở không ngừng vang lên trên từng dòng của khúc ngâm Về mặt không gian nghệ thuật, không gian
trong các khúc ngâm bao gồm không gian bên ngoài (nơi nhân vật hướng đến để
giải tỏa nỗi buồn) và không gian bên trong (nơi nhân vật sống và trải nghiệm nỗi đau khổ của chính mình) Cả hai không gian đó đều nhấn chìm con người vào sự bế
tắc, bất lực; khi hướng ra bên ngoài thì thấy bơ vơ, lạc lõng; bước chân vào bên trong thì tù túng, ngột ngạt Không nơi nào con người có thể tìm thấy niềm vui và
sự thanh thản trong tâm hồn Không gian đó được song hành cùng thời gian nghệ
thu ật mang tính chất tâm lý Thời gian của hạnh phúc, tình yêu, tuổi trẻ thì vùn vụt
trôi đi tựa bóng câu qua cửa, còn thời gian trông ngóng chờ đợi thì lê từng bước dài
chậm chạp nặng nề Con người càng thu mình vào trong nỗi buồn không thể giải tỏa được Các yếu tố xét từ góc độ thi pháp học đều thấm đẫm sự bi thương, tập trung nói đến nỗi buồn rất đậm nét trong các khúc ngâm Để diễn tả nội dung đó, thể song
thất lục bát rõ ràng là một thể thơ có ưu thế riêng Sự phong phú về vần, nhịp, kiểu câu và các biện pháp tu từ (từ láy, điệp) đã tăng tính nhạc cho các khúc ngâm, nâng
thể loại lên thành những “ca khúc nội tâm” viết về tình buồn Bên cạnh đó, không
thể không kể đến sự có mặt đông đảo của các từ gợi ý nghĩa đau buồn, sầu thảm,
mất mát Hiếm có thể loại nào sở hữu kho từ vựng thuần Việt đặc tả nỗi buồn nhiều đến thế Tất cả những yếu tố kể trên làm nên giá trị khu biệt của ngâm khúc đối với các thể loại khác Và cũng thật độc đáo khi nhận ra rằng, ít có thể loại nào khi vừa chào đời đã tạo dựng cho mình một hệ thống thi pháp chặt chẽ và ổn định đến vậy Điều này đã làm nên giá trị đặc sắc riêng cho các khúc ngâm thế kỉ XVIII - XIX
Trang 401.2.2.3 Ch ặng 3 - Sự tiếp nối và ảnh hưởng
Từ nửa thế kỉ XIX trở về sau, các tác phẩm viết bằng thể song thất lục bát tiếp
tục xuất hiện trên văn đàn Nhưng một câu hỏi đặt ra là liệu những tác phẩm này có
thể được xem là khúc ngâm hay không? Trả lời vấn đề này, trước hết chúng ta phân
nhỏ các giai đoạn để tìm kiểu kỹ hơn về những tác phẩm Có thể chia làm hai chặng đường:
a Từ sau thế kỉ XIX đến 1945: tìm hiểu các hợp tuyển và tổng tập văn học của giai đoạn này, thật đặc biệt khi có thể nhặt ra rất nhiều các tác phẩm viết bằng thể song thất lục bát, ước khoảng 120 tác phẩm, trong đó ta có thể phân chia làm hai bộ
phận sau:
Một bộ phận vẫn đi theo khuynh hướng sáng tác trước đó, viết về những nỗi
niềm tâm sự của cá nhân như Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến), Thư gửi tình
tĩnh ngâm khúc, Hương thôn nữ thán, Quá xuân nữ thán, Chinh phu ngâm, Thán
Ở bộ phận này, một số tác phẩm như Việt Tiên ngâm khúc (Nguyễn Bá Cảnh),
Hàn nho thán, Hàn sĩ thán, Chinh phụ dạ tĩnh ngâm khúc, Hương thôn nữ thán,
đặc trưng thể loại trước đó nên được xác định là những khúc ngâm
Còn lại, một số tác phẩm khác như Khóc Dương Khuê, Trị mệnh, Lời vợ anh
phường chèo (Nguyễn Khuyến), Nói chuyện với ảnh, Thư lại trách người tình nhân
Thư gửi chồng chưa cưới (Hoàng Thị Tòng)… Đây chỉ được xem như những tác
phẩm trữ tình có thừa hưởng những thành tựu của thể ngâm Nói cách khác, thành
18 - Viết theo tên nhan đề bài thơ của Đặng Trần Phất “Thư gửi cho người yêu không được gập” ( chữ “gập”
không ph ải viết sai chính tả)