ĐẶT VẤN ĐỀ: Đối với việc bồi dưỡng học sinh giỏi tại các trường chuyên, ngoài việc trang bị được các kiến thức cơ bản về ngành du lịch, giáo viên còn yêu cầu học sinh cần hiểu sâu sắc về
Trang 1VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ DU LỊCH VIỆT NAM
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thùy Dung
Giáo viên Địa Lý – Trường THPTChuyên Vĩnh Phúc
A ĐẶT VẤN ĐỀ:
Đối với việc bồi dưỡng học sinh giỏi tại các trường chuyên, ngoài việc trang bị được các kiến thức cơ bản về ngành du lịch, giáo viên còn yêu cầu học sinh cần hiểu sâu sắc về các vấn đề các nhân tố ảnh hưởng, tình hình phát triển và phân bố du lịch Đây là cơ sở quan trọng cho các em thực hiện khai thác các trang ATLAT có liên quan, đặc biệt là trang Du lịch, đồng thời có cách giải thích các vấn đề một cách toàn diện
Vì thế chuyên đề này nhằm mục đích hệ thống hóa các nội dung kiến thức cơ bản về vai trò của ngành du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội; các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển, phân bố của ngành, từ đó đánh giá được tình hình phát triển và phân bố của ngành du lịch ở nước ta trong những năm qua
B NỘI DUNG:
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DU LỊCH
1 Du lịch và vai trò của du lịch:
1.1 Các khái niệm chủ yếu:
a Du lịch:
Thuật ngữ Du lịch ngày nay tuy đã sử dụng phổ biển trên thế giới, song lại có nhiều cách
hiểu khác nhau
Trong Luật du lịch (2005) – Điều 4, chương I có định nghĩa: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
b Tài nguyên du lịch:
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, các giá trị nhân văn, các công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo
ra sự hấp dẫn du lịch
c Khách du lịch:
Khách du lịch là đối tượng trực tiếp tham gia vào quá trình du lịch, là đối tượng của các đơn
vị phục vụ và kinh doanh du lịch
Ở nước ta, theo Luật du lịch (2005)
- Tại điều 4, chương I: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến
- Tại điều 34, chương III quy định: Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách
du lịch quốc tế.
Trang 2- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
- Khách du lịch quốc tế là người nươc ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
d Sản phẩm du lịch:
- Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch
- Có hai loại sản phẩm du lịch cơ bản:
+ Sản phẩm du lịch hữu hình, tồn tại ở dạng vật thể Ví dụ: đồ lưu niệm, các món ăn, đồ
uống
+ Sản phẩm du lịch vô hình, tồn tại ở dạng phi vật thể và chỉ có thể biết được thông qua
cảm nhận của du khách Ví dụ: các loại hình dịch vụ lữ hành, lưu trú, giải trí, mua sắm, thăm quan danh lam thắng cảnh
1.2 Vai trò của du lịch:
a Đối với kinh tế:
- Góp phần tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân, tăng thêm tổng sản phẩm trong nước
- Góp phần tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập giữa các vùng
- Du lịch nội địa phát triển góp phần đảm bảo sức khỏe cho nhân dân lao động; giúp cho việc sử dụng cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch ngày càng hợp lí hơn
- Góp phần làm tăng thu nhập quốc gia thông qua việc thu ngoại tệ
- Du lịch là hoạt động “xuất khẩu” có hiệu quả cao Không chỉ thực hiện xuất khẩu tại chỗ,
mà còn là ngành xuất khẩu vô hình hàng hóa du lịch Đó là các cảnh quan thiên nhiên, khí hậu, các phong cảnh đẹp, các giá trị văn hóa độc đáo
Với hình thức xuất khẩu trên cho thấy hàng hóa và dịch vụ được bán thông qua du lịch đem lại lợi nhuận cao hơn do tiết kiệm được đáng kể chi phí sản xuất đồng thời lại thu hồi vốn nhanh
- Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Do xuất phát từ thực tiễn cho thấy
du lịch là một lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn so với nhiều ngành kinh tế khác (vốn đầu tư ít, thời gian thu hồi vốn nhanh, kĩ thuật không phức tạp, đem lại tỉ suất lợi nhuận cao )
- Góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế ở những vùng có hoạt động du lịch
b Đối với xã hội:
- Góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Đây là ngành có khả năng tạo ra một số lượng việc làm rất lớn
- Góp phần thực hiện phân bố lại dân cư và lao động, giảm sự tập trung dân cư quá mức ở những đô thị lớn
- Thỏa mãn nhu cầu của người dân, là cơ sở để phát sinh những nhu cầu, dịch vụ du lịch mới
- Là phương tiện tuyên truyền quảng cáo hữu ích về các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giới thiệu về con người, phong tục tập quán của các vùng, miền
Trang 3- Là phương tiện để giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, gìn giữ và phát huy truyền thống, góp phần khai thác, bảo tồn các di sản văn hóa của dân tộc
c Đối với môi trường, sinh thái:
Du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ và khôi phục môi trường thiên nhiên bao quanh Việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức độ tập trung khách vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu hóa quá trình sử dụng tự nhiên, vì vậy cần sử dụng các biện pháp nhằm bảo vệ tự nhiên và đảm bảo điều kiện sử dụng chúng một cách hợp lí, bền vững
2 Khái quát các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố du lịch:
2.1 Tài nguyên du lịch.
- Được chia thành hai nhóm là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn + Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm: Các dạng địa hình đặc sắc, các yếu tố của khí hậu, nguồn nước, sinh vật
+ Tài nguyên du lịch nhân văn gồm: Các di tích văn hóa – lịch sử; lễ hội, ẩm thực
- Chúng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành tổ chức lãnh thổ du lịch (điểm, tuyến, trung tâm, vùng du lịch)
2.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật phục vụ cho ngành du lịch
- Hệ thống cơ sở vật chất, kĩ thuật, hạ tầng của ngành du lịch rất đa dạng:
+ Cơ sở vật chất của ngành bao gồm: hệ thống các cơ sở lưu trú, ăn uống (nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, căn hộ cho thuê ), các khu vui chơi giải trí, các cơ sở thương mại phục vụ cho nhu cầu của du khách, các cơ sở thể thao
+ Cơ sở hạ tầng của ngành du lịch không phải do ngành quản lí, mà cùng sử dụng chung cơ
sở hạ tầng với các ngành, hoạt động kinh tế khác; bao gồm các yếu tố như: giao thông vận tải, thông tin liên lạc, điện, nước
- Đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch, đặc biệt là về chất lượng
2.3 Nguồn lao động:
Tính chuyên nghiệp của nguồn lao động du lịch có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phục vụ, hiệu quả kinh doanh, gây ấn tượng đối với du khách, hấp dẫn họ trở lại và đồng thời thông qua họ để quảng bá du lịch cho vùng, lãnh thổ
2.4 Các điều kiện kinh tế - xã hội khác:
- Trình độ phát triển của các ngành kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ khác đã góp phần làm phong phú thêm các sản phẩm, dịch vụ du lịch, đồng thời có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và phân bố du lịch
- Năng suất lao động cao, mức sống của người dân ngày càng cao là điều kiện thuận lợi để gia tăng và thỏa mãn các nhu cầu du lịch
- Những chính sách kinh tế - xã hội tích cực, chẳng hạn như các quy định về xuất, nhập cảnh
sẽ có tác động không nhỏ tới việc thu hút khách quốc tế
- Các điều kiện về an ninh xã hội, đảm bảo an toàn cho du khách có ý nghĩa rất lớn Sự ổn định về chính trị cũng là một trong những yếu tố hấp dẫn khách du lịch
Trang 4II CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ DU LỊCH
Ở VIỆT NAM:
1 Tài nguyên du lịch:
Nhờ có vị trí địa lí đặc biệt, cùng với lịch sử hào hùng hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nên tài nguyên du lịch của nước ta rất đa dạng và phong phú Sự đa dạng của tài nguyên du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn của nước ta là tiền đề quan trọng để phát triển nhiều loại hình du lịch
1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên:
1.1.1 Địa hình:
Cấu trúc địa hình đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch
a Khu vực miền núi:
+ Địa hình miền núi có nhiều ưu thế đối với phát triển du lịch với sự kết hợp của nhiều dạng địa hình với khí hậu mát mẻ, trong lành
+ Đối tượng cho các hoạt động du lịch ở miền núi đa dạng: sông, suối, thác nước, hang động, rừng Miền núi còn là nơi cư trú của đồng bào dân tộc ít người với đời sống và nền văn hóa đa dạng, đặc sắc, có sức thu hút du khách
b Khu vực đồng bằng:
Địa hình thấp và khá bằng phẳng, với hai đồng bằng lớn là đồng bằng Nam Bộ và đồng bằng Bắc Bộ thuận lợi cho sản xuất, cư trú, phát triển kinh tế, trong đó có hoạt động du lịch
c Các dạng địa hình đặc biệt:
+ Địa hình caxtơ:
- Là dạng địa hình của vùng núi đá vôi được hình thành do quá trình xâm thực của nước
- Ở nước ta, dạng địa hình này chiếm diện tích khá lớn, khoảng 15% diện tích cả nước, tập trung chủ yếu ở vùng Trung du miền núi phía Bắc (các tỉnh lai Châu, Lào Cai, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Sơn La, vùng núi đá vôi Hòa Bình – Thanh Hóa ), Bắc Trung Bộ (vùng núi đá vôi Quảng Bình), ngoài ra còn có một ít ở Hà Tiên (Kiên Giang)
- Địa hình caxtơ tạo nên phong cảnh hùng vĩ, các hang động và sông suối ngầm kì ảo của dạng địa hình này là đối tượng du lịch hấp dẫn Cao nguyên đá bao trùm bốn huyện của tỉnh
Hà Giang đã được công nhận là công viên địa chất toàn cầu Các công trình nghiên cứu, điều tra hang động ở Việt Nam đã phát hiện khoảng 200 hang động, trong đó phần lớn (>90%) là các hang ngắn và trung bình (độ dài dưới 100m) và chỉ có trên 10% số hang động dài trên 100m Các hang động dài nhất nước ta được phát hiện tập trung chủ yếu ở khối đá vôi Kẻ Bàng (Quảng Bình) như: động Sơn Đoòng, Thiên Đường, Hang Vòm dài 27 km (và chưa kết thúc), động Phong Nha gần 8km, hang tối 5,5 km Ở Lạng Sơn, các hang như: hang Cả, hang Bè cũng dài gần 3,3 km
+ Địa hình ven biển:
- Nước ta có đường bờ biển dài 3260km với nhiều bãi tắm đẹp (nhiều bãi tắm vẫn còn ở dạng sơ khai, chưa bị ô nhiễm) và một hệ thống đảo ven bờ, trong đó nhiều đảo có giá trị du lịch
- Dọc bờ biển nước ta có khoảng 125 bãi biển Các bãi biển phân bố chạy suốt từ Bắc vào Nam, với nhiều bãi tắm đẹp như: Trà Cổ, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm, Đá Nhảy,
Trang 5Nhật Lệ, Thuận An, Cảnh Dương, Lăng Cô, Non Nước, Mĩ Khê, Sa Huỳnh, Quy Nhơn, Đại Lãnh, Dốc Lết, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né, Long Hải, Phước Hải, Vũng Tàu
- Vùng biển nước ta có khoảng 4000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó đại bộ phận là các đảo gần
bờ Hai quần đảo xa bờ của nước ta là Hoàng Sa và Trường Sa Các đảo và quần đảo có nhiều giá trị lớn cho du lịch Chúng được phân bố từ Bắc vào Nam, nhưng tập trung nhiều nhất ở vùng biển Đông Bắc thuộc tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng, gồm hơn 2000 hòn đảo, chiếm 60% tổng số đảo của cả nước Trên các đảo có nhiều bãi biển đẹp, phong cảnh còn nguyên vẻ hoang sơ và những điều kiện tự nhiên rất tiêu biểu để phát triển các loại hình du lịch biển Tiêu biểu nhất là các đảo: Phú Quốc, Cái Bầu, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Côn Đảo
1.1.2 Khí hậu:
- Khí hậu nước ta mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa Nhiệt độ trung bình năm từ
22-270C, tổng nhiệt hoạt động từ 8000 – 10.0000C Lượng mưa trung bình năm từ 1500 – 2000mm, ở những sườn đón gió và vùng núi cao, lượng mưa có thể lên tới 3500 – 4000mm,
độ ẩm không khí cao, > 80%
- Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa tạo điều kiện cho thảm thực vật quanh năm xanh tốt, hoạt động du lịch diễn ra thuận lợi, đặc biệt là phía Nam của nước ta
- Đặc điểm khí hậu đã tạo cho cảnh quan thiên nhiên nước ta phân hóa đa dạng, xanh tươi giàu sức sống tạo điều kiện thuận lợi cho đa dạng hóa các hoạt động du lịch: du lịch thể thao, vui chơi, giải trí, du lịch sinh thái tham quan nghỉ dưỡng, nghiên cứu, dã ngoại
Bảng đánh giá mức độ thuận lợi của khí hậu trong năm đối với hoạt động du lịch:
Quảng Ninh-Hải
Phòng * * * *** *** ** ** ** ** ** * *
Huế-Đà Nẵng * * ** *** *** ** ** ** * * * *
Nha Trang-Khánh
Vũng Tàu-Côn Đảo *** *** *** *** *** *** ** ** ** ** ** **
(Ghi chú: ***: thuận lợi **: tương đối thuận lợi *: ít thuận lợi)
- Trên nền khi hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, khí hậu nước ta có sự phân hóa đa dạng theo không gian và thời gian Khí hậu có sự phân hóa từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây, từ thấp lên cao
- Miền khí hậu phía Bắc với đặc điểm đặc trưng là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có một mùa đông lạnh Khí hậu dường như có đủ 4 mùa trong năm, mà mỗi mùa lại có cảnh sắc thiên nhiên đặc biệt, hấp dẫn khách du lịch
- Miền khí hậu phía Nam mang sắc thái của khí hậu cận xích đạo gió mùa, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động du lịch quanh năm, đặc biệt từ vĩ độ 200B trở vào Ở đây đầy nắng và gió, thích hợp với các hoạt động du lịch nghỉ biển, nghỉ núi, khám phá mạo hiểm, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng
- Khí hậu cũng gây ra những khó khăn không nhỏ cho hoạt động du lịch như: bão trên biển, các hiện tượng thời tiết cực đoan
Trang 61.1.3 Tài nguyên nước:
a Sông ngòi:
- Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc, với mật độ trung bình khoảng 0,5-1,0km/km2, dọc bờ biển trung bình cứ 20km lại bắt gặp một cửa sông, chỉ tính riêng những con sông có
độ dài trên 10km nước ta đã có 2360 con sông
- Ở nước ta, một số dòng sông đã và đang được đưa vào khai thác phục vụ cho hoạt động du lịch như: sông Hương (Huế), hệ thốn kênh rạch chằng chịt ở đồng bằng sông Cửu Long
- Do chảy trên nền địa chất phức tạp, sông ngòi nhiều thác ghềnh Có thể kể ra vài thác tiêu biểu như: thác Bản Dốc (trên Sông Quy Sơn – Cao Bằng), Thác Bạc (Sa Pa – Lào Cai), thác Đầu Đẳng (Sông Năng – Bắc Kạn), thác Bờ (Sông Đà – Hòa Bình), thác Đray Sap, thác Trinh Nữ, thác Gia Long (Sông Xre Pok – Đắc Nông) Các thác nước tạo ra những vẻ đẹp nguyên sơ, tinh khiết, trong lành, hùn vĩ, có sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách
- Tuy nhiên, thủy chế phân hóa theo mùa gây ra những khó khăn không nhỏ cho hoạt động
du lịch, nhất là vào mùa mưa lũ
b Hồ, đầm:
- Nước ta có nhiều hồ với diện tích mỗi hồ dao động từ vài đến vài chục ha, thậm chí có thể lên đến hàng trăm ha, với phong cảnh hữu tình
- Các hồ của nước ta có nguồn gốc khác nhau
- Các hồ tự nhiên được hình thành do vận động đứt gãy kiến tạo (hồ Ba Bể - Bắc Kạn), từ các miệng núi lửa đã tắt (Biển Hồ T’Nưng – Gia Lai), do phun trào ba zan chặn dòng chảy (hồ Đăk Lăk) hoặc hồ móng ngựa trên các lòng sông cũ (hồ Tây - Hà Nội)
- Các hồ nhân tạo được hình thành do đắp đập ngăn dòng chảy tự nhiên nhằm mục đích thủy lợi (hồ Dầu Tiếng – Tây Ninh; hồ Ayun Hạ - Gia Lai; hồ Núi Cốc – Thái Nguyên;
hồ Đại Lải, hồ Suối Hai – Hà Nội), hoặc thủy điện (hồ Hòa Bình, hồ Thác Bà, hồ Yaly, hồ Trị An)
- Dù là với nguồn gốc nào, song các hồ của nước ta đều có cảnh quan đẹp, có sức hấp dẫn du lịch rất lớn
c Nước ngầm:
- Tiềm năng nước ngầm của nước ta khá phong phú, ước tính nguồn nước ngầm có thể khai thác được là 6 – 7 tỉ m3/năm
- Có ý nghĩa đối với du lịch là nước khoáng Đây là nguồn tài nguyên có giá trị cho du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh
- Nước ta có trên 400 nguồn nước khoáng tự nhiên với nhiệt độ của nước từ 27 – 1050C phân bố rải rác từ Bắc vào Nam Có tới hơn 80% nguồn nước khoáng có nhiệt độ trên 350C (riêng ở suối khoáng Bang – Lệ Thủy, Quảng Bình nhiệt độ nước lên tới 1050C) Đó là điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch, nhất là trong thời kì mùa đông tương đối lạnh ở miền Bắc
1.1.4 Sinh vật:
- Sinh vật nước ta đa đạng, phong phú Nguồn tài nguyên quý giá này cũng đã và đang được khai thác nhằm mục đích phục vụ du lịch
- Việt Nam được công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao hàng đầu thế giới với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông, suối, rạn san hô tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên trái đất
Trang 7- Sự đa dạng của sinh vật và các hệ sinh thái tạo điều kiện cho nước ta có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như: nghiên cứu, khám phá, sinh thái Đối với hoạt động du lịch, tài nguyên sinh vật được tập trung khai thác chủ yếu ở các khía cạnh sau:
- Các vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển, khu bảo tồn thiên nhiên và các khu rừng
di tích, lịch sử, văn hóa, môi trường
Cả nước hiện đã thành lập được 30 vườn quốc, gia, 125 khu bảo tồn thiên nhiên Đây là nơi tập trung đa dạng sinh học, trong đó có nhiều loài động thực vật đặc hữu, quý hiếm (Voọc đầu trắng, Sếu đầu đỏ ) Điều này có ý nghĩa quan trọng để các vườn quốc gia trở thành tài nguyên du lịch có giá trị, đặc biệt vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng được công nhận di sản thiên nhiên thế giới năm 2003
Ở việt Nam hiện nay có 4 vườn quốc gia được công nhận là vườn di sản ASEAN Đó là: Hoàng Liên (Lào Cai), Ba Bể (Bắc Kạn), Chư Mom Ray (Kon Tum), Kon Ka Kinh (Gia Lai) Vườn di sản ASEAN là danh hiệu có giá trị để phát triển du lịch, nghiên cứu khoa học, giáo dục
Ngoài ra còn có một số khu rừng di tích lịch sử - cách mạng, văn hóa, môi trường khá tiêu biểu có giá trị du lịch như: Hương Sơn (Hà Nội), Côn Sơn – Kiếp Bạc (Hải Dương), Đền Hùng (Phú Thọ), Hoa Lư (Ninh Bình), rừng Thông (Đà Lạt), rừng Sác
- Một số hệ sinh thái đặc biệt:
Hệ sinh thái đất ngập nước: rất đa dạng và phong phú với những đặc thù riêng Vùng đất ngập nước có các hệ sinh thái khác nhau, từ hệ sinh thái ngập mặn đến hệ sinh thái vùng nước châu thổ Sông Cửu Long, các hệ sinh thái đầm phá Mỗi hệ sinh thái có đặc trưng riêng, tạo nên tiềm năng đa dạng để phát triển du lịch
Hệ sinh thái san hô: là một trong những hệ sinh thái đặc thù của vùng biển nhiệt đới, thu hút sự quan tâm đặc biệt của du khách Hệ sinh thái san hô của nước ta khá đa dạng về thành phần loài Các rạn san hô cũng là nơi quần tụ của nhiều loài sinh vật khác nhau cho phép tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái ở các vùng biển khác nhau, từ vịnh Hạ Long đến vùng biển ven bờ Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ, kể cả các quần đảo xa
bờ
1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn:
1.2.1 Di tích văn hóa - lịch sử:
- Theo thống kê của Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch, nước ta hiện có khoảng 7300 di tích các loại trên phạm vi cả nước
- Các di tích văn hóa – lịch sử rất đa dạng, phong phú và được chia thành nhiều loại: di sản văn hóa thế giới, di tích lịch sử - văn hóa, thắng cảnh cấp quốc gia và địa phương
a.
Di sản văn hóa thế giới:
- Tính đến nay, trên phạm vi cả nước có 12 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận Các di sản văn hóa thế giới có sức hấp dẫn đặc biệt với khách du lịch và là niềm tự hào, là tài sản vô giá của quốc gia và nhân loại
Thống kê các di sản văn hóa thế giới ở nước ta(vật thể, phi vật thể):
Trang 83 Khu di tích Mĩ Sơn 1999 Vật thể
10 Mộc bản triều Nguyễn và 82 bia tiến sĩ ở Văn Miếu 2011 Vật thể
b Di tích lịch sử - văn hóa, thắng cảnh cấp quốc gia và địa phương:
- Nhà nước đã xếp hạng 3.026 di tích cấp quốc gia các loại, bao gồm:
1.411 di tích lịch sử
1.422 di tích kiến trúc nghệ thuật
76 di tích khảo cổ
117 danh lam thắng cảnh
- Trong số này có 10 di tích quốc gia, đặc biệt là khu: trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Quần thể kiến trúc Cố đô Huế, Khu đền tháp Mĩ Sơn, Đô thị cổ Hội An, Vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Đền Hùng, Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Chiến trường Điện Biên Phủ, Dinh Độc Lập
c Di tích khảo cổ học:
Các di tích khảo cổ học đa dạng và phức tạp thuộc nhiều tầng văn hóa khác nhau:
- Thời đồ đá: Di chỉ Núi Đọ - Thanh Hóa, Hang Chổ - Hòa Bình, hang Phia Vài – Tuyên Quang
- Thời kì kim khí: Di chỉ Xóm Rền – Phú Thọ, Thành Dền – Vĩnh Phúc, Di chỉ Mán Bạc – Ninh Bình, Mộ thuyền Động Xá – Hưng Yên, Đền Thượng – Cổ Loa, Sa Huỳnh – Quảng Ngãi
- Thời bộ lạc: Di chỉ Cát Tiên – Lâm Đồng, Di tích Mĩ Sơn – Quảng Nam
- Thời kì quân chủ: Thành nhà Hồ - Thanh Hóa, Tòa tháp Hồ - Yên bái, Di tích Lam Kinh – Thanh Hóa, Di chỉ Giồng Nổi – Bến Tre
d Di tích lịch sử:
- Di tích ghi dấu những sự kiện chính trị quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến hướng phát triển của đất nươc và địa phương Tiêu biểu có: Khu di tích Đền Hùng, Bến Bình Than, Căn
cứ địa Việt Bắc, Quảng trường Ba Đình
Trang 9- Các di tích ghi dấu những chiến công chống quân xâm lược như: Sông Bạch Đằng, Gò Đống Đa, Ải Chi Lăng, Điện Biên Phủ, Thành cổ Quảng Trị, Sông Bến Hải – Cầu Hiền Lương, Đường 9 Khe Sanh, Địa đạo Vĩnh Mốc, Địa đạo Củ chi
- Các di tích tưởng niệm như: Di tích gắn với Đức thánh Trần – Trần Quốc Toản, di tích về các danh nhân văn hóa (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du )
- Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc phong kiến như: nhà tù Côn Đảo, Sơn La, Phú Quốc, Hỏa Lò
e Di tích kiến trúc nghệ thuật:
Các di tích kiến trúc nghệ thuật tương đối đa dạng, bao gồm nhiều loại và có giá trị đối với
du lịch
- Làng cổ Việt Nam: Đường Lâm, Cự Đà (Hà Nội), Thổ Hà (Bắc Giang), Đông Sơn (Thanh Hóa)
- Chùa: Ở Việt Nam có rất nhiều chùa Chùa là di tích cổ nhất còn lại ở nước ta, đặc biệt ở miền Bắc Trong số đó, có nhiều chùa có phong cảnh đẹp, có các giá trị về kiến trúc, mĩ thuật Tiêu biểu phải kể đến như: chùa Trấn Quốc, Tây Phương, chùa Đậu, chùa Trăm Gian, chùa Hương, chùa Bái Đính, chùa Ấn Quang, chùa Dơi
- Đình làng: là một công trình kiến trúc không thể thiếu ở làng quê Việt Nam, điển hình như: đình Yên Sở, Kim Liên (Hà Nội), Đình Dương Nổ, đình Kim Long (Huế)
- Nhà thờ: Phát Diệm, nhà thờ Lớn, nhà thờ Đức Bà
1.2.2 Lễ hội:
Cho đến nay, cả nước có gần 9000 lễ hội, trong đó lễ hội dân gian chiếm 88,4%, lễ hội lịch sử cách mạng chiếm 4,2%,
a Lễ hội dân gian:
Một số lễ hội dân gian tiêu biểu hấp dẫn khách du lịch như: Lễ hội Đền Hùng, chùa Hương, Yên Tử, Phủ Giày, Lim, Lễ hội đâm trâu
b Lễ hội lịch sử cách mạng:
Lễ hội Đồng Lộc, Lễ kỉ niệm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Lễ hội Tân Trào, Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam
1.2.3 Làng nghề thủ công truyền thống:
Ở nước ta, số lượng, cơ cấu loại hình làng nghề rất phong phú và đa dạng Cả nước hiện có 2.038 làng nghề, riêng Đồng bằng sông Hồng hơn 880 làng nghề Sản phẩm và phương thức sản xuất phong phú với hàng trăm loại ngành nghề khác nhau
1.2.4 Các loại tài nguyên du lịch nhân văn khác:
a Ẩm thực: Đây là loại hình du lịch hết sức đa dạng, phong phú, gắn liền với các điểm du
lịch, đồng thời cũng là kết quả của quá trình phát triển lâu đời của các dân tộc ở nước ta
b Các loại hình nghệ thuật: diễn xướng dân gian, nghệ thuật trình diễn, âm nhạc cổ truyền,
trò chơi giải trí
2 Hệ thống cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật phục vụ cho ngành:
2.1 Hệ thống cơ sở vật chất:
Trang 10Trong những năm qua, cung với công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế đất nước, hệ thống
cơ sở vật chất kĩ thuật của nền kinh tế, trong đó có ngành du lịch không ngừng được củng
cố, hoàn thiện, hiện đại hóa
- Nước ta đã xây dựng được mạng lưới các cơ sở lưu trú phân bố rộng khắp, đặc biệt tập trung ở các trung tâm, điểm du lịch nổi tiếng Chất lượng của các cơ sở lưu trú được quy định theo chuẩn du lịch (khách sạn 2,3,4,5 sao; nhà nghỉ ) và đồng thời không ngừng được cải thiện thông qua những phản hồi tích cực của du khách Hiện nay, hệ thống cơ sở lưu trú vẫn đang được tiếp tục củng cố, mở rộng, hiện đại hóa
- Gắn liền với các điểm du lịch là các khu vui chơi giải trí, ăn uống, kinh doanh đồ lưu niệm, khu vui chơi thể thao đi kèm Tùy theo quy mô, trình độ phát triển của các điểm du lịch mà có sự đầy đủ của tất cả các yếu tố đi kèm hay không VD: đối với các trung tâm du lịch lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh ngoài sự hội tụ của các điểm du lịch hấp dẫn, còn có sự đầy đủ của các dịch vụ đi kèm, trong khi đối với các điểm du lịch khác ít nhiều không đầy đủ được một trong các yếu tố kể trên (cơ sở thể thao, vui chơi giải trí )
2.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng của ngành du lịch không phải do ngành quản lí, mà cùng sử dụng chung cơ sở hạ tầng với các ngành, hoạt động kinh tế khác; bao gồm các yếu tố như: giao thông vận tải, thông tin liên lạc, điện, nước
Trong những năm qua, nước ta chứng kiến sự chuyển mình tích cực của hệ thống cơ sở hạ tầng của đất nước
- Mạng lưới giao thông vận tải phát triển rộng khắp, không ngừng được nâng cấp, cải tạo, hiện đại hóa Hệ thống giao thông vận tải của nước ta đã và đang hòa mình vào hệ thống đường bộ, không quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch
- Sự phát triển mạnh về năng suất, sản lượng, mạng lưới điện phát triển rộng khắp Bên cạnh việc cải thiện, hiện đại hóa các nhà máy điện đã có, nước ta còn tiếp tục phát triển mạnh các nhà máy mới với công suất, năng lực ngày càng tăng tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế phát triển trong đó có du lịch
3 Nguồn lao động:
Nguồn lao động trong ngành du lịch của nước ta trong những năm qua có sự chuyển biến mạnh mẽ về cả số lượng và chất lượng Điều đó tạo ra rất nhiều thuận lợi cho phát triển của ngành du lịch
- Về số lượng: Số lao động trực tiếp tham gia vào du lịch tăng khá nhanh, từ 150.000 lao động (2000) lên 275.000 lao động (2005) và 450.000 lao động (2010)
- Về chất lượng:
- Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm khoảng 55,3% tổng số lao động Trong đó: lao động có trình độ cao đẳng trở lên chiếm 13,2%, trung cấp chiếm 18,6%, sơ cấp 23,5%
- Du lịch là ngành nghề đòi hỏi về trình độ ngoại ngữ Đến năm 2010 có khoảng 60%
số lao động biết và sử dụng các ngoại ngữ khác nhau, trong đó tiếng Anh chiếm tỉ trọng lớn nhất
- Tính chuyên nghiệp của nguồn lao động du lịch có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phục
vụ, hiệu quả kinh doanh, gây ấn tượng đối với du khách, hấp dẫn họ trở lại và đồng thời thông qua họ để quảng bá du lịch cho vùng, lãnh thổ Đây là điều mà trong những năm qua ngành du lịch đang không ngừng phấn đấu
4 Các điều kiện kinh tế - xã hội khác: