Trải qua hàng ngàn năm, ông cha ta đã đúc kết được pho kinh nghiệm từ thực tiễncuộc sống về kiến tạo, khai thác, chế biến và sử dụng nguồn dược liệu song song với sựhình thành của pho lý
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Nền Y học cổ truyền nước ta có lịch sử lâu đời và phong phú gắn liền với cuộc đấutranh xây dựng và giữ nước của dân tộc Từ xa xưa, cha ông ta đã biết sử dụng nguồndược liệu quí báu của đất nước để phòng và chữa bệnh
Trải qua hàng ngàn năm, ông cha ta đã đúc kết được pho kinh nghiệm từ thực tiễncuộc sống về kiến tạo, khai thác, chế biến và sử dụng nguồn dược liệu song song với sựhình thành của pho lý luận về y lý, phương thuốc, phương pháp bào chế, chế biến thuốc.Những danh y nổi tiếng đã xuất hiện sáng chói, xuất chúng trong suốt quá trình pháttriển của lịch sử dân tộc như: Nguyễn Bá Tĩnh (Tuệ Tĩnh, thế kỷ 13), Trần Nguyên Đào(thế kỷ 14), Nguyễn Trực (thế kỷ 15), Hải Thượng Lãn Ông (Lê Hữu Trác - thế kỷ 18)
và hàng chục danh y khác như Chu Văn An, Hoàng Đôn Hoà, Nguyễn Đình Chiểu
Từ khi nước ta giành được độc lập năm 1945, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là
" y học hiện đại kết hợp chặt chẽ với y học cổ truyền " Chính phủ mà trực tiếp là Bộ Y
tế không ngừng mở rộng và phát triển y học cổ truyền, trân trọng các phương thuốc cổtruyền, bào chế thuốc theo phương pháp của y học cổ truyền
Pho kiến thức về y lý, phương thuốc, vị thuốc và cách bào chế thuốc đã được các nhà
y học phương đông từ cổ chí kim tập hợp đến nay với một khối lượng khổng lồ Việchiểu biết về đông dược là một yêu cầu bắt buộc đối với các thầy thuốc y học cổ truyền.Thuốc là một trong những vũ khí quan trọng nhất mà thầy thuốc cần có để phòng và tiêudiệt bệnh tật cho người bệnh và cộng đồng
Học môn bào chế và chế biến đông dược, các thầy thuốc tương lai cần nắm vững những kiến thức cơ bản về đặc điểm, phương pháp bào chế, tính dược và công năng chủ trị của vị thuốc Đặc biệt là hiểu biết về vị thuốc dưới ánh sáng của khoa học hiện đại Mỗi một vị thuốc chỉ chứa một hàm lượng mỗi hoạt chất là rất nhỏ bé, nhưng bào chế
đã tạo ra cho nó sự vĩ đại trong việc vai trò của người phòng bệnh, chữa bệnh và nâng cao thể trạng của con người
Trang 2Giáo trình gồm bốn chương với nội dung như sau: Chương 1: Đại cương bào chế đông dược
Chương 2: Thủ thuật và kỹ năng bào chế và chế biến đông dược
Chương 3: Chuyên luận bào chế, chế biến vị thuốc
Chương 4: Một số dạng đông dược thường dùng
Lần đầu tiên biên soạn, chúng tôi không tránh khỏi những khiếm khuyết Mong được sự đóng góp của độc giả để giáo trình ngày càng được hoàn thiện
Hà Nội, ngày 04 tháng 09 năm 2010
DS Nguyễn Thị Hải
TS Nguyễn Văn Quân
Trang 3CHƯƠNG I
ĐẠI CƯƠNG BÀO CHẾ, CHẾ BIẾN ĐÔNG DƯỢC
(4 tiết)
MỤC TIÊU
1 Trình bày được khái niệm cơ bản và bản chất của bào chế, chế biến thuốc
2 Hiểu, phân tích và trình bày được mục đích của bào chế, chế biến thuốc
3 Nắm vững và trình bày được các yêu cầu của bào chế đông dược
4 Trình bày được mối quan hệ giữa bào chế thuốc và thất tình hoà hợp
NỘI DUNG
I – KHÁI NIỆM VỀ BÀO CHẾ, CHẾ BIẾN ĐÔNG DƯỢC.
1.1 Định nghĩa
Theo y học hiện đại:
Bào chế học là môn khoa học chuyên nghiên cứu về kỹ thuật điều chế các dạng thuốc nhằm mục đích phòng và chữa bệnh cho người
Môn bào chế cung cấp những kiến thức và kỹ năng cơ bản về kỹ thuật điềuchế, kiểm tra, bảo quản các dạng thuốc
Tuy nhiên, bào chế đông dược không chỉ bao gồm các dạng thuốc mà còn baogồm cả các vị thuốc
Bào chế đông dược là sử dụng chế hoá cơ học, chế hoá lý hoá hoặc sinh
tổng hợp nhằm thay đổi hình dạng, lý tính, dược tính của các nguyên liệu có
nguồn gốc tự nhiên từ động vật, thực vật hoặc khoáng vật để đáp ứng yêu cầu
của quá trình sản xuất, bảo quản, kinh doanh, nâng cao hiệu quả phòng bệnh,
điều trị bệnh và nâng cao thể trạng con người
Trang 4Bản chất của bào chế chủ yếu gồm chế hoá lý hoá và chế hoá cơ học.
Bản chất chế hoá cơ học là lực tác động như: Thái, bào, tán, rây nhằm thayđổi hình dạng, kích thước, hình dáng, bề mặt tiếp xúc, hình khối v.v của thuốc Bản chất chế hoá lý hoá là quá trình tác động của các yếu tố vật lý như nhiệt
độ, áp suất, ánh sáng kèm theo đó là các quá trình hoá học xảy ra (pH, thuỷ phân,bay hơi, thăng hoa, loại trừ, tổng hợp v.v ) Hoả chế, thuỷ chế, thuỷ hoả hợp chế,rán dầu, khúc, chế sương thuộc chế hoá lý hoá Nó bao gồm các phương pháp bàochế như: Sao trực tiếp, sao có thêm chất trung gian truyền nhiệt, trích ( tẩm rượu,giấm, gừng, mật, muối, đồng tiện, nước vo gạo, hoàng thổ, nước đậu đen ), thuỷphi (nghiền dược liệu trong nước), thuỷ bào, hơ, chích, đốt, lùi, nung, sắc, ngâm,hãm, hầm, nấu, đồ, chưng, ủ, làm trong v.v
Tuy nhiên trong quá trình bào chế, hai cơ chế chế hoá lý hoá và chế hoá cơhọc thường được sử dụng xen kẽ với nhau
Nói chung bào chế, chế biến thuốc là công việc biến đổi tính chất thiên nhiêncủa dược liệu thành những vị thuốc có giá trị phòng bệnh và trị bệnh tốt nhất
Tóm lại: Chế biến thuốc cổ truyền là phương pháp tổng hợp của việc dùng nước - lửa, phụ liệu để làm cho vị thuốc từ trạng thái thiên nhiên trở thành trạng
thái có thể sử dụng để phòng, trị bệnh và nâng cao thể trạng cho con người
1.2 Nội dung nghiên cứu môn bào chế
Nội dung nghiên cứu của môn Bào chế Đông dược là tất cả những vấn đề đặt
ra trong quá trình chế biến của các dược liệu thành các chế phẩm và dạng thuốc,sao cho các thành phẩm đó dễ bảo quản, kinh doanh, tiện sử dụng và phát huy tối
đa phòng bệnh và chữa bệnh
Như vậy, nội dung nghiên cứu của môn bào chế là rất rộng và dựa trên các vấn
đề cơ bản sau đây:
- Nâng cao kỹ thuật trên cơ sở cải tiến phương pháp bào chế cổ điển dựa trênnhững thành tựu của khoa học, công nghệ
- Nghiên cứu triển khai từ qui mô phòng thí nghiệm đến qui mô công nghiệp
Trang 5- Nghiên cứu để tìm ra các tác dụng mới, các dạng thuốc mới, bảo quản thuốctốt hơn
- Nghiên cứu về kiểm nghiệm và bảo quản các dạng thuốc nhằm bảo đảm chấtlượng thuốc
1.3 Mối liên quan giữa môn bào chế với các môn khoa học khác
Bào chế học là môn khoa học ứng dụng, vì vậy đòi hỏi người ứng dụng phải cónhững kiến thức các môn khoa học cơ bản và các môn học chuyên môn nghiệp vụkhác Có thể khẳng định rằng Bào chế học là tổng hợp những phát minh có giá trịcủa các ngành khoa học kỹ thuật khác Mối liên quan giữa bào chế với các mônkhoa học khác được thể hiện qua sơ đồ sau:
II - MỤC ĐÍCH BÀO CHẾ, CHẾ BIẾN ĐÔNG DƯỢC.
2.1 Làm thuốc sạch và đảm bảo vệ sinh an toàn dược phẩm
Các tạp chất vô cơ và hữu cơ lẫn lộn trong dược liệu cần phải loại bỏ bao gồm:
nấm mốc, mối mọt, cát, sỏi, đất, xác thực vật chết v.v
Các loại không phải là dược liệu (tinh chế dược liệu) và những thành phần hoáhọc được đưa vào khi trồng trọt và bảo quản thuốc men; các vi sinh vật luôn phảiloại trừ trong quá trình sơ chế, bào chế, chế biến dược liệu và thuốc
Bỏ bớt các bộ phận không cần thiết của dược liệu để vị thuốc tinh khiết hơn,
Bào chế
Trang 6lựa chọn được đúng bộ phận dùng: Mạch môn bỏ lõi; Ve sầu bỏ đầu, chân; Ngưutất bỏ đầu, Kim anh bỏ hạt, Bỏ vỏ tang bạch bì, bỏ rễ phụ tử
Hơn nữa, trong cùng một dược liệu có thể phải tách ra các bộ phận dùng khácnhau với tác dụng thậm chí trái ngược nhau như Ma hoàng (rễ và thân), Trắc bá diệp (lá và hạt); Câu kỷ tử (vỏ rễ và quả)
Ngoài ra để dễ sử dụng, tránh được các mùi vị khó chịu, giúp cho việc chiếtxuất (hãm, ngâm, sắc ) thuận lợi, nâng cao chất lượng dược liệu, chất lượngthuốc và hiệu quả điều trị
2.2 Tạo vị thế hàng hoá đặc biệt cho thuốc
Thuốc là hàng hoá đặc biệt Việc bào chế, chế biến thuốc giúp đạt những tiêuchuẩn qui định
- Tạo ra vị thuốc có hình dáng, màu sắc đẹp, mùi vị thơm ngon hơn;
- Tạo tính hấp dẫn của vị thuốc, tính tiện lợi, tính hiệu quả trong việc sử dụng
và lưu chuyển
- Xây dựng vị thế cho thuốc cao hơn trong lòng ngưòi tiêu dùng, thoả mãn nhucầu của người tiêu dùng, biến nó trở thành một hàng hoá đặc biệt trên thươngtrường, có tính cạnh tranh cao, được y học hiện đại công nhận
Ví dụ: Nhân xâm đóng hộp, Tam thất, Linh chi tán, Lục vị ẩm, một số chế
phẩm khác
Có thể phân chia vị thuốc đến kích thước, hình dáng hợp lý, tiện lợi, phù hợpvới thói quen người tiêu dùng Ví dụ: Thuốc dạng phiến, dạng khúc, dạng bột
2.3 Tạo ra tác dụng chữa bệnh mới cho thuốc.
Bào chế, chế biến một số vị thuốc có thể thay đổi tác dụng tạo ra các tác dụngmới ngoài tác dụng vốn có của nó Ngoài ra còn một số thuốc khi ở dạng nguyênliệu thì không có tác dụng trị bệnh, chỉ có tác dụng trị bệnh và đưa làm thuốc saukhi đã bào chế theo phương pháp riêng Đó chính là biện pháp làm tăng hoặc giảmtính âm, tính dương của thuốc
Trang 7Ví dụ:
- Bồ hoàng sống có tác dụng hoạt huyết, thán sao có tác dụng chỉ huyết
- Táo nhân, Tâm sen để sống gây mất ngủ; sao đen có tác dụng an thần gây ngủ
- Sài hồ có tác dụng (khuynh hướng) thăng đề, sau khi chế với dấm có tác dụnggiáng
- Sinh địa (sống) vị đắng, ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt lương huyết;sau khi chế biến thành Thục địa Thục địa này có vị ngọt, tính ôn, có tác dụng bổ
âm, bổ huyết (thay đổi cả khí và vị)
- Tóc chỉ làm thuốc cầm máu sau khi đốt tồn tính
- Mẫu lệ, Cửu khổng, Trân châu mẫu nung hoặc tôi trong dấm có tác dụng cốtinh sáp niệu
- Xuyên sơn giáp sao cách cát hoặc nướng đến khi chín phồng đều được dùng
để hoạt huyết, giải độc, tiêu mủ
- Thạch cao sống có tác dụng sinh tân chỉ khát, thanh nhiệt tả hoả nhưng saukhi nung chủ yếu chỉ được dùng ngoài
2.4 Tăng hiệu lực chữa bệnh của thuốc
Đây là mục đích trọng tâm của bào chế.
Theo lý luận chung, các chứng bệnh sinh ra đều xuất phát từ yếu tố nội thươnghoặc ngoại thương hoặc bất nội ngoại thương có liên quan đến các tạng phủ, vinh
vệ, khí huyết, đường kinh lạc, vùng bị bệnh không vượt quá qui nạp của âmdương ngũ hành Nhiều phương pháp chế biến thuốc khác nhau, phụ liệu khácnhau để tăng tác dụng (hiệu lực) của thuốc và tạo cho thuốc có màu sắc, mùi vịtương ứng với hành trong thuyết ngũ hành Đây là giải pháp nhằm tăng tính quykinh của vị thuốc
- Tăng tác dụng của thuốc ở tỳ, vị thì chế biến để vị thuốc có màu vàng, vị
ngọt, mùi thơm Để tăng tác dụng kiện tỳ: Chế biến thuốc sao vàng, sao với Cámgạo, sao với Hoàng thổ, Bích thổ, nước vo gạo, chích Mật ong, chích đường, chích
Trang 8nước Cam thảo Ví như tăng tác dụng kiện tỳ của Bạch truật thì chế với cám,hoàng thổ hoặc sao vàng Hoài sơn sao vàng; Hoàng kỳ trích mật
- Tăng tác dụng của thuốc ở thận, bàng quang thì chế biến để vị thuốc có màu
đen, vị mặn Qui kinh Thận: Chế biến thuốc với nước Muối, nước Đậu đen Ví
dụ : Tăng tác dụng bổ thận của Hà thủ ô thì chế biến với nước đậu đen, Đỗ trọng
và Cẩu tích với muối.; Thục địa chưng; Hoa hoa thán và Trắc bách diệp thán sao
để cầm máu với ý nghĩa “đen chỉ huyết”
- Tăng tác dụng của thuốc ở phế thì chế để vị thuốc có vị cay, màu trắng Qui
kinh Phế: Chế biến thuốc với nước Gừng, nước Phèn chua, nước Cam thảo Vídụ: Bán hạ, đẳng sâm chế dịch nước gừng Rễ dâu bóc lấy vỏ, bỏ vỏ ngoài tạoTang bạch bì
- Tăng tác dụng của thuốc ở tâm thì chế biến để vị thuôc có vị đắng, màu đỏ.
Qui kinh Tâm: Chế biến thuốc với nước Đồng tiện
- Tăng tác dụng của thuốc ở can, đởm thì chế biến để vị thuốc có vị chua, màu
xanh Qui kinh Can: Chế biến thuốc với Dấm Ví dụ Hương phụ, Sài hồ, Huyền hồchế dấm
Trên đây chính là phương pháp tăng tính qui kinh của vị thuốc, làm cho tác
dụng và chỉ định chữa bệnh của vị thuốc được mở rộng
- Để dẫn thuốc phía trên để thăng đề, cần chế biến thuốc với rượu (như chế
Xuyên khung, Đại hoàng, Thăng ma )
Một số chú ý quan trọng:
a/ Việc sử dụng các phụ liệu để chế biến thuốc phải phù hợp với tính qui kinh bản thân vốn có của thuốc, không bừa bãi làm thay đổi tính chất qui kinh Ví dụ: Bạch truật qui vào kinh tỳ, vị Chế biến để tăng tác dụng kiện tỳ vị, không thể chế biến để bổ can thận.
b/ Việc sử dụng các phụ liệu để chế biến thuốc phải phù hợp với tính qui kinh bản thân vốn có của thuốc, không bừa bãi làm thay đổi tính chất qui kinh
Ví dụ: Bạch truật qui vào kinh tỳ, vị Chế biến để tăng tác dụng kiện tỳ vị,
Trang 9không thể chế biến để bổ can thận.
c/ Người ta thường không dùng các phụ liệu làm ảnh hưởng tới tác dụng của thuốc.
Ví dụ: Thuốc bổ thận dương tẩm Cam thảo sẽ hạn chế các thuốc đó qui kinh
thận; Ngưu tất là thuốc cố hạ, đi xuống phía dưới cơ thể nếu tẩm với nước Camthảo là thuốc cố trung sẽ làm cho Ngưu tất không phát huy tác dụng ở hạ tiêu
d/ Có thể làm giao tính qui kinh của vị thuốc.
Ví dụ: Để giúp cho tâm thận giao nhau thì chế Hoàng liên với nước Nhục quế
hoặc ngược lại và nhằm mục đích dẫn dương vào âm, để tâm thận giao nhau giúp
vị thuốc có thêm tác dụng an thần gây ngủ
e/ Để tăng thêm “vị” cho các thuốc về khí, về dương như thuốc bổ khí kiện tỳ, thuốc bổ thận dương thường phải chế biến về vị.
Ví dụ: - Thuốc bổ thận dương thường tẩm thêm với muối ăn có “vị mặn” để
chúng có đủ cả khí lẫn vị cho thận làm cho tăng tác tác dụng của chúng đối với thận
- Các thuốc bổ khí kiện tỳ cần bổ sung thêm vị nên chúng thường được chích
Mật ong, chích đường, sữa để có thêm vị ngọt
Như vậy, khí và vị thường hỗ trợ nhau để tăng sức cho vị thuốc
2 5 Giảm độc tính và tạo đường dùng mới cho thuốc
Hầu hết các dược liệu độc phải bào chế để giảm độc trước khi dùng cho ngườibệnh
Thuốc độc trong y học cổ truyền được chia làm hai loại: Loại có tác dụngmạnh gây nguy hiểm đến tính mạng người dùng (tương đương như độc bảng A vàcác thuốc gây nghiện) như Phụ tử, Hoàng nàn, Mã tiền và loại khác gây kíchứng ngứa, nôn như Bán hạ, Nam tinh, Ráy
Giảm độ độc tức là giảm mức độ độc gây nguy hiểm cho tính mạng, hoặc gâykích ứng gây ngứa, buồn nôn.v.v cho người sử dụng
Muốn đạt điều đó, người ta phải sử dụng các phương pháp chế biến như:
Trang 102.5.1 Hoả chế
Dùng nhiệt độ để giảm độc tính của vị thuốc
Ví dụ: Sử dụng nhiệt độ cao từ 200˚C - 250˚C để phân huỷ chất độc trongdược liệu như đối với Mã tiền , sấy ở nhiệt độ trên 190˚C Bán hạ sẽ mất vị ngứa.Chất độc bị phân huỷ theo 3 cơ chế sau:
- Nhiệt phân: Do độ cao phân huỷ một số thành phần hoá học cấu tạo nên vị
thuốc; các chất khác nhau sẽ bị phân huỷ ở mức độ khác nhau; men sinh học bịgiảm hoặc mất hoặt tính khi nhiệt độ tăng cao tới 100°C
- Bay hơi: Một số chất dễ bay hơi như tinh dầu, một số chất có cấu tạo ester
- Thăng hoa: Antranoid, một số chất trong nhóm alcaloid (cafein )
Sau khi bào chế sẽ tạo thêm hai vị thuốc mới là Phụ tử gồm Bạch phụ tử vàHắc phụ tử (độc bảng B)
Trang 112 6 Giảm tác dụng không mong muốn của thuốc.
Một số vị thuốc có thành phần hoá học gây tác dụng không có lợi cho ngườibệnh như antranoid, saponin triterpenic, chất nhầy Các chất này thường gây ỉachảy ở người đang rối loạn tiêu hoá, một số tinh dầu gây kích ứng dạ dày Thậmchí một số chất gây tác dụng ngược lại với tác dụng của hoạt chất Việc chế biến
có thể làm giảm hoặc mất tác dụng này là cần thiết để tăng hiệu lực trị bệnh, tăng
độ an toàn cho người bệnh
Ví dụ: Quyết minh tử dùng sống sẽ gây ỉa chảy, liều cao có thể tả hạ, sau khi
sao vàng thì thuốc có tác dụng nhuận hạ và giáng áp, sao cháy có tác dụng an thần
Đó là do quá trình sao thuốc, một số hoạt chất mang tính dương, dạng ô xy hoá,tồn tạo tự do Dạng này, các hoạt chất có tác dụng kích thích thành ruột Sau khisao, chúng chuyển sang dạng khử, dạng liên kết và mang tính âm nên giảm hoặcmất tác dụng kích thích thành ruột
Mỗi vị thuốc thường có nhiều tác dụng khác nhau, trong bệnh cảnh của người
Trang 12bệnh này thì nó là tốt, nhưng trong bệnh cảnh của bệnh nhân khác trở thành tácdụng bất lợi, chế biến có thể làm giảm tác dụng bất lợi này.
Ví dụ: Thục địa bổ âm, bổ huyết sinh tân dịch Khi dùng cho người bệnh tâm,
tỳ hư thì sẽ gây đầy chướng bụng, rối loạn tiêu hoá Nếu sao khô thì sẽ hạn chế tácdụng này (giảm bớt tuỷ trong thuốc để tránh hiện tượng tương thừa)
Bạch truật có tác dụng kiện tỳ táo thấp Khi dùng cho người âm hư nội nhiệt,nếu chế với nước vo gạo sẽ giảm tính " ráo" của thuốc
2.7 Thay đổi tính (khí) vị, từ đó thay đổi tác dụng của thuốc
Tính vị là hai đặc trưng của vị thuốc và biểu hiện xu hướng và cường độ tácdụng của thuốc Các yếu tố có thể gây ra thay đổi khí vị của thuốc như nhiệt độ(sao, nướng ), phụ liệu (tính chất của phụ liệu )
- Tăng tính ấm, giảm tính hàn bằng phương pháp hoả chế, thuỷ hoả hợp chếhoặc dùng các phụ liệu tính ôn như sa nhân, gừng, rượu
Ví dụ: Sinh địa vị đắng, hơi hàn, tác dụng thanh nhiệt lương huyết Thục địa
(chế từ Sinh địa) vị ngọt, tính hơi ôn, tác dụng bổ âm, bổ huyết
- Giảm tính đại nhiệt, đại hàn có thể chế bằng cách ngâm trong dịch nước vogạo, nước cam thảo hoặc sao đen
2 8 Ổn định tác dụng của thuốc
Phương pháp sao, sấy khô (nhiệt độ khoảng 50 - 70°C) làm giảm độ ẩm tránhphân huỷ thành phần hoạt chất của thuốc và tiêu diệt được men, nấm mốc gây hạicho thuốc
Ví dụ: Hoa hoè sao qua, có thể hạn chế sự phân huỷ Rutin trong hoa, duy trì tốt
tác dụng lương huyết, hạ huyết áp
Tương tự đối với vị thuốc Hoàng cầm
Ngoài ra, để ổn định các dược liệu có chứa Glycozid (tránh Enzym tác độngxấu), người ta thường áp dụng phương pháp này
Trang 132 9 Giảm tính bền vững cơ học, tăng khả năng giải phóng hoạt chất
Điều đó có nghĩa là tăng hiệu lực của thuốc, thuận lợi cho việc sử dụng
Ví dụ: Cửu khổng, mẫu lệ nung ở nhiệt độ cao (vô cơ hoá) để tán bột.
Nhiệt độ có thể làm giảm độ bền cơ học
2.10 Bảo quản thuốc được tốt hơn
Do qua chế biến, thuốc có thể tránh được mối mọt, men mốc Cụ thể:
- Làm khô hoặc giảm độ ẩm của vị thuốc
- Làm thay đổi tính chất của một số thành phần hoá học dễ gây nấm mốc nhưpectin, chấy nhầy, tinh bột, chất đường, chất béo và diệt nấm mốc
- Diệt men (làm mất hoạt tính của men ở nhiệt độ cao) có trong thuốc để ổnđịnh thuốc Ví dụ: Nhiệt độ cao làm mất hoạt tính của men glycosidase, bảo vệthành phần glycosid
- Tạo thành lớp bảo vệ (Hoàng kỳ chích mật ta được ra lớp màng caramen hoá
ở bên ngoài tạo thành lớp bảo vệ ngăn hạn chế vi khuẩn, ký sinh, côn trùng xâmnhập)
III MỘT SỐ YÊU CẦU CỦA BÀO CHẾ, CHẾ BIẾN ĐÔNG DƯỢC 3.1 .Các yêu cầu cơ bản của bào chế, chế biến đông dược
* Theo Trần Gia Mô (1562) đời Minh (Trung Quốc) có nói:" Bào chế cốt ở chỗ vừa chừng, non quá thì khó kiến hiệu, già quá thì mất khí vị".
Do đó, người bào chế phải thực hiện bào chế đúng kỹ thuật, thích hợp
* Phải đảm bảo hình thức mẫu mã, chất lượng (phẩm chất) sản phẩm
* Người bào chế phải nắm vững về tính dược của thuốc, tương tác thuốc, tươngtác giữa thuốc và phụ liệu, yêu cầu trạng thái phẩm chất của từng sản phẩm (vịthuốc, bài thuốc) đáp ứng yêu cầu điều trị
3.2 Các trường hợp tương tác của dược liệu cần nhớ trong quá trình bào chế cũng như sử dụng thuốc
Trang 143.2.1 Đơn hành
Dùng riêng một vị thuốc cũng có thể phát huy được hiệu quả chữa bệnh của
nó Ví dụ bài Độc sâm thang
- Hoàng liên dùng cùng Liên tâm tăng tác dụng thanh tâm hoả
- Đại hoàng dùng cùng Mang tiêu tăng tác dụng tả hạ lên nhiều lần so với dùngriêng từng vị
- Hoàng bá dùng cùng Tri mẫu thì tác dụng tư thận giáng hoả được chắc chắn
- Hoàng kỳ dùng cùng Bạch linh làm tác dụng bổ ích tỳ khí được tăng cường
- Đại hoàng dùng cùng Hoàng cầm làm tăng tác dụng tiết nhiệt
- Bạch truật phối hợp với hoàng cầm để tăng hiệu lực an thai
- Thương truật phối hợp với Hoàng bá để tăng tác dụng thanh nhiệt táo thấp
- Hoàng kỳ phối hợp với phòng phong tăng công hiệu củng cố vệ khí
- Bán hạ giúp sài hồ dẫn thuốc vào kinh thiếu dương
- Hương phụ giúp đào nhân để tán ứ huyết giảm đau
3.2.3 Tương uý
Vị thuốc này ức chế độc tính của vị thuốc kia
Ví dụ: Bán hạ uý Sinh khương.
Bản thân Bán hạ có độc, uống gây ngứa cổ muốn kêu to, nôn lợm
Bán hạ dùng với Sinh khương thì Sinh khương làm mất tính kích thích họngcủa Bán hạ, đồng thời làm hết tác dụng phụ của Bán hạ như buồn nôn, lợm giọng,
Trang 15trừ đờm Chính vì vậy, trong chế biến người ta dùng Sinh khương để chế Bán hạ(Khương bán hạ)
- Nhân sâm uý Ngũ linh chi;
Tuy nhiên, dùng Đảng sâm phối ngũ với Ngũ linh chi sẽ có tác dụng ích khíkiện tỳ, hoá ứ hành trệ để chữa viêm teo dạ dày mạn kèm sa niêm mạc dạ dày (thể
tỳ hư huyết ứ) đều thu kết quả cao
- Hoàng liên (vị hàn) phối hợp với Nhục quế (vị nhiệt), tuy đối lập nhau nhưnglại có tác dụng giao lưu giữa tâm và thận
- Đinh hương uý Uất kim;
Mang tiêu (Nha tiêu, Huyền minh phấn) uý Tam lăng, Lưu huỳnh
Thuỷ ngân uý Thạch tín, Ba đậu ;
Ô đầu (thảo ô) uý Tê giác;
Lang lộc uý Mật đà tăng;
Quan quế uý Thạch chi
Tuy nhiên có một số tương uý vẫn dùng được như Phòng phong và Hoàng kỳ
nhằm tăng khả năng miễn dịch của cơ thể
Tương uý hay được áp dụng trong việc bào chế thuốc độc và ngay trong điều trị bệnh.
3.2.4 Tương ác
Là vị thuốc này kiềm chế tính năng, tác dụng của vị thuốc kia
Ví dụ: Hoàng cầm vị đắng tính hàn tương ác Sinh khương vị cay tính ấm
Khi dùng chung tính hàn của Hoàng cầm sẽ kiềm chế tính ấm của Sinhkhương
Trang 16Liên vị đắng tính hàn tương sử Ngô thù vị cay tính ấm chỉ nôn; Mộc hương vị cay tính
ấm tương sử với hoàng liên vị đắng tính lạnh
- Liên kiều vị đắng tính hàn tương sử (dùng chung) Ngô thù du vị cay tính ấm để
chỉ nôn (cầm nôn) tăng lên Đó chính là do chúng có khả năng hạn chế tiết dịch nướcbọt và dịch vị Trên cơ sở đó có thể chữa chứng ợ chua của bệnh đau dạ dày
- Hoàng kỳ dùng cùng Bạch linh làm tác dụng bổ ích tỳ khí và lợi tiểu đượctăng cường
- Đại hoàng dùng cùng Hoàng cầm làm tăng tác dụng tiết nhiệt
- Xuyên khung, thương truật giúp Ô dược thuận
3.2.6 Tương sát
Là sự triệt tiêu tính độc của nhau Chủ yếu áp dụng để giải độc
Phòng phong trừ độc của Thạch tín,
Đậu xanh trừ độc của Ba đậu
Ngũ vị tử sát Ô đầu; dùng chung tạo ra chất độc mới
Ba đậu phản Khiên ngưu (Hắc sửu, Bạch sửu);
Cam thảo phản Cam toại; Đại kích, Nguyên hoa, Hải tảo
Hải tảo, Bạch cập phản Bán hạ;
Bối mẫu, Qua lâu nhân, Bán hạ, Bạch cập, Bạch liễm phản Ô đầu;
Đại kích phản Nguyên hoa
Trang 17Các loại sâm (Nhân sâm, Sa sâm, Đan sâm, Huyền sâm, Khổ sâm ) và các vịthuốc Tế tân, Bạch thược đều phản khắc vị Lê lô (Veratrum nigrum)
Về nguyên tắc các vị thuốc tương phản nhau thì không thể dùng chung vớinhau được
Điều đó cần hết sức chú ý và nắm vững
Ví dụ: Dùng Tế tân với Lê nô sẽ gây mù mắt cho người bệnh, hoặc Nguyên
hoa là vị thuốc có khả năng lợi thuỷ nhưng khi dùng với Cam thảo không nhữngkhông có tác dụng lợi thuỷ mà lại làm tăng tính độc của Nguyên hoa
Ngũ vị tử khi dùng chung với Ô đầu sẽ tạo ra chất độc mới có hại
Tuy nhiên, trong thực tế một số người có kinh nghiệm đã lợi dụng tính chấttương phản của một số vị thuốc để chữa bệnh
Ví dụ: Cam thảo phản Cam toại song người ta đã dùng chính hai vị thuốc này
(trong bài Cam toại tán) với mục đích trục đờm ẩm
Tóm lại, khi tiến hành phối hợp các vị thuốc trong một đơn thuốc cần lưu ý tớibảy tình huống trên Cần khai thác mặt tốt của chúng vào việc chữa bệnh và chếbiến thuốc; đồng thời phải hết sức tránh các trường hợp tương phản, tương ác đểtránh các hậu quả có thể xảy ra khi dùng thuốc cũng như tác dụng kém của thuốcTrong thực tế nên phối ngũ thuốc theo tương tu, tương sử, nếu có vị độc phảikhử độc dùng phép tương ố (tương ác), tương sát, tương uý (huý)
CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1: Phân biệt đúng / sai các câu hỏi sau bằng cách koanh tròn vào chưa A cho
câu hỏi đúng và chữ B cho câu hỏi sai?
1 Hoa hòe khi hái về cần phải phưoi và sao ngay ở nhiệt độ dưới 100° C A - B
2 Không có phương pháp bào chế Thảo quyết minh để thuốc có tác dụng nhuận
hạ ……… ……… A - B
Câu 2: Trình bày các tiêu chuẩn của thuốc sạch
Câu 3: Trình bày các cơ chế làm giảm độc tính của thuốc
Trang 18Câu 4: Trình bày các phương pháp nhằm tăng tính qui kinh của thuốc
Câu 5: Tại sao Bào chế giúp tăng vị thế của thuốc trong lòng người tiêu dùng Câu 6: Phân biệt sự khác nhau sử dụng thất tình hoà hợp trong bào chế và trong
kê đơn thuốc
Câu 7: Mục đích của Hoàng kỳ chích Mật ong?
Câu 8: Kể tên các thuốc sau khi bào chế cho tác dụng ngược lại tác dụng ban đầu
vốn có của nó
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Trung Hoà, Đông y toàn tập, Nhà xuất bản Thuận Hoá năm 2000
2 Nguyễn Xuân Sinh, Phùng Hoà Bình, Dược học cổ truyền – Giáo trình
Đại học Dược Hà Nội, NXB Y học 1999 và 2006
3 Đỗ Tất Lợi, Các cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – NXB Y học năm 2000
Trang 19CHƯƠNG II
THỦ THUẬT VÀ KỸ NĂNG BÀO CHẾ VÀ CHẾ BIẾN ĐÔNG DƯỢC
BÀI 1
DỤNG CỤ CHẾ BIẾN THUỐC VÀ TIÊU CHUẨN THUỐC CHÍN
(1 Tiết)
MỤC TIÊU
1 Trình bày được các dụng cụ bào chế thông thường
2 Trình bày được các dạng thuốc
3 Nắm vững và trình bày được các tiêu chuẩn thuốc chín, nhất là tiêu chuẩncảm quan
NỘI DUNG
1 Các dụng cụ bào chế thông thường.
Các dụng cụ thông thường bao gồm:
- Bàn chải (lông, tre, đồng):
Trang 20- Dao cầu dùng để thái thuốc
- Chảo dùng để sao thuốc Chảo to có thể dùng để chưng thuốc
- Dao bào
- Siêu (đất, men ) càng tốt dùng để sắc thuốc
- Cối, chày dùng để tán thuốc
- Thuyền tán dùng để tán thuốc
Trong sản xuất công nghiệp hiện đại, các dụng cụ chế biến thuốc đang được cơgiới hoá với công nghệ cao như dùng máy nghiền, máy sàng, hệ thống chiếtxuất và nhiều sản phẩm đã mang màu sắc của thuốc hiện đại
2 Các dạng thuốc đông dược hiện nay
Nó bao gồm dạng bào chế ở thể rắn và dạng thuốc bào chế ở thể lỏng
Trang 21- Thuốc cao xoa
- Dầu thuốc
Gần đây đã thấy xuất hiện dạng thuốc viên nén (uống, ngậm), viên nang cứng
và mềm (capsul), thuốc dạng khí dung, dạng tiêm mà thành phần là dược liệu
3 Tiêu chuẩn thuốc chín (đã chế biến)
Thuốc chín có thể dùng điều trị trực tiếp cho người bệnh dưới dạng thuốcthang, thuốc chè và các dạng bán thành phẩm khác
Tiêu chuẩn dựa vào cảm quan và một số chỉ tiêu:
- Kích thước: Phải hợp lý về độ dày, chiều rộng, chiều dài tuỳ thuộc vào cấutạo và đặc tính tự nhiên của vị thuốc
- Màu sắc, mùi vị: Phải đặc trưng cho mỗi vị thuốc, mỗi phương pháp chếbiến
- Tỉ lệ vụn nát không quá 15% so với khối lượng thuốc
- Độ ẩm tối đa khoảng 10 - 15% (cá biệt 7% hoặc 18%)
- Tiêu chuẩn kiểm nghiệm hoá học: Theo tiêu chuẩn ngành hoặc cơ sở
Theo tổ chức Y tế thế giới, thuốc y học cổ truyền cần có một số tiêu chuẩn sau:
+ Tên khoa học cây thuốc, người và cơ sở xác định tên cây
+ Bộ phận dùng;
Nơi thu hái cây thuốc (vùng sinh thái, khí hậu );
Cơ sở chế biến khi thu hoạch;
Tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, tồn dư một số chất vô cơ;
+ Về hoá học: Định tính, định lượng thành phần hoá học đặc trưng, chất điểmchỉ (hoạt chất hoặc không phải là hoạt chất)
CÂU HỎI
Câu 1 Trình bày các dụng cụ thô sở sử dụng trong bào chế
Câu 2: Trình bày tiêu chuẩn thuốc chín
Trang 22Như vậy những chất trơ không có tác dụng phòng và chữa bệnh thì chỉ gọi là chấttrung gian, chất màu, tá dược trơ v.v mà thôi.
Các tỷ lệ giữa thuốc và phụ liệu được trình bày trong tài liệu này là tỷ lệ thật vềkhối lượng giữa dược liệu với chất tạo nên phụ liệu
Ví dụ : Ðại phúc bì (thịt quả cau) ngâm ngập trong nước sắc Cam thảo tỷ lệ
100:2 ; tức là ngâm 100 gam Ðại phúc bì trong nước sắc chứa đủ 2 gam Cam thảo
2 Các phụ liệu
2.1.1 Rượu
Tính vị qui kinh: Vị cay, ngọt, tính nhiệt có độc;
Tác dụng: Thông huyết mạch (dãn mạch ngoại biên, giảm thân nhiệt), tán thấp
khu phong
Trang 23Thành phần hoá học: Alcol ethylic và một số chất thơm.
Mục đích sử dụng:
- Giảm tính lạnh, tăng tính ấm, tăng tác dụng thăng đề của thuốc; dẫn thuốc lên
bộ phận phía trên cơ thể (thượng tiêu) và ra ngoài bì phủ, vào phế
- Tăng sự hấp dẫn của thuốc,
- Tăng tính hoà tan của một số hoạt chất trong dược liệu vào Rượu sau đó tan vàothuốc sắc ( tăng sự hấp thu thuốc) Bởi lẽ, Rượu là một dung môi hữu cơ dễ hoà tancác thành phần hoá học
- Bảo quản thuốc: Do có khả năng làm đông vón một số thành phần dễ gâynấm mốc như chất nhày, pectin
Áp dụng: Vỏ Núc nác, Hoàng liên, Hoàng bá, Hoàng cầm, Bạch thược (dưỡng
huyết điều kinh), Xuyên khung, Đương qui ; Đại hoàng phiến; Đảng sâm phiến;Địa cốt bì; Cẩu tích, Đương qui phiến; Hoàng cầm phiến, Hoàng kỳ phiến, Ngưutất phiến, Thăng ma phiến, Sài hồ phiến, Ba kích
1.2.2 Gừng:
Tính vị qui kinh: Vị cay, tính ôn, vào tỳ, vị, phế kinh;
Tác dụng: Phát tán phong hàn, ôn trung hoà vị, chỉ nôn.
Thành phần hoá học: Gừng chứa tinh dầu, chất cay, nhựa, tinh bột.
Mục đích:
- Làm giảm tính hàn (Trúc lịch ), tăng tính ấm vị thuốc (Sinh địa), làm cho vịthuốc chủ thăng chủ tán tức đưa khí vị của thuốc lên thượng tiêu hoặc ra phần biểu
do tác dụng gây giãn mạch của Gừng
- Dẫn thuốc vào phế, tỳ, vị; ôn trung tiêu, nên có tác dụng chỉ nôn
Làm thuốc có tác dụng giảm ho (Bán hạ), bổ khí, ôn bổ phế (Sa sâm, Đảngsâm, Cát cánh, ), kích thích tiêu hoá và của thuốc
- Giảm tác dụng gây nề trệ của một số vị thuốc sinh tân dịch (Huyền sâm, Sinhđịa, Mạch môn, Thiên môn, Sa sâm, ) và bài thuốc (Lục vị địa hoàng hoàn)
Trang 24- Giảm tính kích ứng, giảm độc tính của một số vị thuốc gây ngứa (Bán hạ,Nam tinh).
Áp dụng: Bán hạ, Mạch môn, Thiên môn, Sinh địa chế thục, các loại Sâm,
Thạch xương bồ; Hậu phác
1.2.3 Muối
Tính vị qui kinh: Vị mặn, ngọt, tính hàn, vào tâm, thận, vị kinh
Tác dụng: Giáng khí nghịch, giảm đau, sát trùng, nhuyễn kiên, kích thích ăn uống Thành phần hoá học: Natri clorid ( NaCL ) và một số nguyên tố vi lượng Mục đích: - Tăng sự dẫn thuốc vào kinh thận, hạ tiêu ( dẫn thuốc đi xuống ),
làm cho vị thuốc tác dụng mạnh hơn đối với thận, bàng quang (lợi niệu do thamgia quá trình trao đổi chất điện giải)
- Giải độc và nhập vào huyết mà nhuận táo, làm mềm khối u rắn (nhuyễn kiên )
- Bảo quản thuốc, hạn chế mốc mọt
Áp dụng: Nhóm thuốc liên quan tới thận ( nhất là thuốc bổ thận dương): Cẩu
tích, Ba kích, Đỗ trọng, Trạch tả, Hoàng bá, Tục đoạn, Huyền sâm phiến; Hươngphụ; Ngưu tất phiến; Tỳ giải; Bạch mao căn, Bạch thược, Bạch truật
Hoàng kỳ tẩm muối sao nhằm bổ thận và tăng tác dụng chữa băng đới
1.2.4 Dấm thanh
Tính vị qui kinh: Vị chua, tính lương, không độc;
Tác dụng: Lý khí huyết, tiêu thũng, giảm đau.
Thành phần hoá học: Acid axetic 4 - 5%; men thuỷ phân tinh bột.
Mục đích: - Tăng qui kinh can đởm cho vị thuốc, vì dấm chua sẽ làm a cid hoá
một số hợp chất hoá học trong vị thuốc, biến nó thành muối dễ tan trong nước,làm dễ chiết xuất chúng ra khỏi thuốc Dấm vị nhập can
- Giảm tính kích thích của một số vị thuốc
- Tăng tác dụng chỉ thống (Huyền hồ, Cù túc xác ), tăng tác dụng hành khí,hoạt huyết, tăng tính năng thu liễm và làm êm dịu vị thuốc
Trang 25Áp dụng: Sài hồ, Hượng phụ, Cù túc xác, Nga truật, Miết giáp, Mẫu lệ, Đan
sâm; Bạch chỉ, Huyền hồ; Bạch thược
1.2.5 Đồng tiện
Tính vị qui kinh: Vị mặn, tính hàn, vào tâm, thận kinh;
Tác dụng: Tư âm, giáng hoả, thanh nhiệt, giải độc, trục ứ, sinh tân.
Thành phần: Sắc tố, chất chứa ni tơ, chất vô cơ, nội tiết tố, men, vitamin
Mục đích: - Tăng tính âm (tư âm), bớt tính ráo, tăng tính nhuận cho vị thuốc,
lợi cho chức năng của thận
- Bổ xung chất điện giải do nó chứa nhiều chất như vitamin, hormon, muối
- Tăng sự dẫn thuốc vào máu và giáng hoả
- Tăng tác dụng hành huyết, tiêu ứ
Áp dụng: Hương phụ, Nga truật, Phụ tử
1.2.6 Nước vo gạo (mễ trấp, mễ cam trấp)
Tính vị qui kinh: Vị ngọt, chua, qui tỳ vị kinh
Tác dụng: Khử mùi tanh, mau phân huỷ dược liệu, bài độc, kiện tỳ và kích
thích tiêu hoá
Thành phần hoá học: Chứa vitamin PP, vitamin B1, một số khoáng chất như
sắt, đồng
Mục đích: - Giảm bớt tính ráo, nóng hoặc độc của vị thuốc
- Kích thích tiêu hóa, tăng tác dụng kiện tỳ, hoà vị; tăng tính nhu nhuận
Ví dụ: Bạch truật: Để sống thanh thấp nhiệt, sao Hoàng thổ thì bổ tỳ, an thai,
chỉ ẩu; sao mật thì bổ tỳ, nhuận phế; tẩm nước vo gạo sao thì chống chớ và ănchậm tiêu ở trẻ ; sao cháy thì chỉ huyết, ấm trung tiêu
Áp dụng: Thương truật, Bạch truật, Hoàng nàn, Ráy
1.2.7 Sữa
Tính vị qui kinh: Vị ngọt, mặn, tính ôn, qui tỳ, vị và phế kinh
Trang 26Tác dụng: Bổ dưỡng, cung cấp vitamin, muối khoáng, acid amin và một số vi
chất cần thiết cho cơ thể
Thành phần hoá học: Các vitamin, muối khoảng và acid - amin
Mục đích: Tăng dưỡng huyết, giảm tính khô táo của vị thuốc, dẫn thuốc vào tỳ.
Áp dụng: Bạch linh, Hoài sơn
1.2.8 Mật ong
Tính vị qui kinh: Vị ngọt, tính bình, qui phế, tỳ, vị kinh
Tác dụng: Kiện tỳ, bổ khí, nhuận táo, trừ bách trùng.
Thành phần hoá học: Chứa nhiều loại vitamin A2, E, C, pantothenic, các axit
folic và biotin… Các thành phần khác như canxi, muối, magiê, ferrum, iốt, vàcác khoáng chất khác cần thiết Hai loại đường là fructosse và glucose, ngoài ra cóchứa nhiều thành phần hydrat cacbon
Mục đích: - Nhuận bổ dưỡng do xung nhiệt lượng cho cơ thể.
- Tăng độ ngọt, mùi thơm, tính ấm, giảm độ đắng độ chát và tính ráo cho thuốc
- Bảo quản thuốc nhờ lớp caramen hạn chế tác dụng của nấm mốc, bảo vệ
Áp dụng: - Nhóm thuốc bổ khí, kiện tỳ: Hoàng kỳ, Bạch truật, Cam thảo
- Các thuốc khác: Tang bạch bì, Bách bộ (nhuận phế, bình suyễn), Mạch môn,Ngũ vị tử, Bách hợp, Tử uyển , Cát cánh, Ma hoàng, Tiền hồ, Thiên môn, Viễnchí v.v,
1.2.9 Hoàng thổ - Bích thổ ( Hoàng thổ chế - Bích thổ chế)
Hoàng thổ: Vị ngọt, tính bình, hơi lương;
Tác dụng: Chỉ huyết, trừ độc, thanh lỵ nhiệt
Bích thổ: Vị ngọt, tính ôn.
Tác dụng: ôn trung tiêu, kiện tỳ, trị hoắc loạn, lỵ
Thành phần: Các chất vô cơ; muối sắt (Hoàng thổ)
Mục đích:
- Rút bớt tinh dầu trong dược liệu để giảm bớt tính ráo, nóng của vị thuốc
Trang 27- Dẫn thuốc vào tỳ vị, làm tăng tính ôn, bổ và kiện tỳ của vị thuốc (do bổ sungmuối nhôm, sắt và một số nguyên tố vi lượng, đa lượng).
Áp dụng: Bạch truật, Nam truật, Hoài sơn
1.2.10 Nước Đậu đen (Vigna cylindrica)
Tính vị qui kinh: Tính hơi ôn, vị ngọt, qui kinh thận
Tác dụng: Bổ thận, bài độc (khử được sulfates)
Thành phần hoá học: Chứa chất vi lượng molypden, chất xơ, anthocyanins,folate, magie, sắt, man gan, protein, gluxit, lipid v.v
Mục đích: - Tăng tính qui kinh thận (Đậu đen)
- Giải độc, giảm tác dụng không mong muốn của thuốc (do chất anthoxiantrong Đậu đen có tác dụng chống oxy hoá, thanh nhiệt;)
- Làm thuốc êm dịu, đỡ chát tăng tính nhuận và tính bổ cho thuốc (Đậu đen).Hiệp đồng tác dụng để trị các chứng ho, nhiều đờm, viêm loét dạ dày và điều hoà tínhmãnh liệt của thuốc
Áp dụng: - Nước Đậu đen: Hà thủ ô, Trâu cổ,
1.2.11 Nước Cam thảo
Tính vị qui kinh: Vị ngọt, tính bình, qui 12 đường kinh
Tác dụng: Bổ Tỳ, bổ trung ích khí, nhuận Phế, ích tinh, điều hoà các vị thuốc,
giải độc, chỉ thống
Thành phần hoá học: Glycyrrhizic acid, glycyrrhetinic acid, glycyrrhizin, uralenic
acid, liquirintigenin, isoliquiriti-genin, liquiritin, neoisoliquiritin, neoliquiritin,licurazid
Mục đích: - Giải độc, giảm tác dụng không mong muốn của thuốc (chất
Glycyrrhizin trong Cam thảo có tác dụng giải độc)
- Tăng qui kinh phế và tỳ, nhận bổ, ích khí của thuốc (Cam thảo) Hiệp đồngtác dụng để trị các chứng ho, nhiều đờm, viêm loét dạ dày và điều hoà tính mãnhliệt của thuốc
Trang 28Áp dụng: Viễn trí, Phụ tử chế, Mã tiền, Hoàng nàn, Bạch truật, Bán hạ, Ba
kích, Bách bộ
1.2.12.Phèn chua
Thành phần hoá học: K2SO4 AL (SO4)3.24H2O
Mục đích: - Định hình vị thuốc, làm vị thuốc cứng, không bị nát, đặc biệt là
dược liệu có nhiều chất bột (Bán hạ, Nam tinh)
- Mất tính chất của chất nhày (Hoài sơn)
- Tăng tác dụng sát trùng và acid hoá môi trường
1.2.13 Nước vôi
Thành phần hoá học: Ca (OH)2 và H2O
Mục đích: - Kiềm hoá môi trường ngâm.
- Định hình vị thuốc, đặc biệt là dược liệu có nhiều chất bột và thiếu chất nhầy như
vị Bán hạ
- Giảm nhanh vị ngứa của Bán hạ
17- SA NHÂN
Tính vị, qui kinh: Vị cay, tính ôn, vào tỳ, vị kinh;
Tác dụng: - Ôn trung, kiện tỳ hoà vị, kích thích ãn uống
Trang 29- Làm giảm tắnh hàn, tãng tắnh ấm của vị thuốc (như Sinh địa chẳng hạn).
18- Mẫu lệ, cửu khổng (văn cáp)
Tắnh vị, qui kinh: Vị mặn, tắnh bình hoặc hõi hàn
Tác dụng:- Hút nước, làm giảm bớt toan dạ dày do phản ứng trung hoà giữa
thuốc và a cid
- Cố sáp, cung cấp can xi
Ngoài ra Cửu khổng: Bình can thoái nhiệt, thanh can minh mục, thông ngũ lâm;chữa can phong váng đầu, hoa mắt, quáng gà, sốt về đêm
Thành phần hoá học: Chủ yếu là muối vô cơ như Calci carbonat, calci sulfat,
magnesi, nhôm, sắt, một ắt chất hữu cơ
Mục đắch sử dụng chế biến thuốc:
- Cũng như Hoạt thạch, bột Văn cáp chủ yếu làm khô táo những chất hay kếtdắnh, làm cháy sạch và hấp phụ những chất hữu cơ có mùi khó chịu còn bám vàodược liệu cần chế biến
- Tăng phần nhiệt, phần dương cho vị thuốc
Ngoài ra người ta còn dùng Tro bếp và nước quả Bồ kết làm phụ liệu để ngâm.
CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1: Phân loại các phụ liệu theo tam tiêu
Câu 2: Phân loại các phụ liệu theo độ pH
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Trung Hoà, Đông y toàn tập, Nhà xuất bản Thuận Hoá năm 2000
2 Nguyễn Xuân Sinh, Phùng Hoà Bình, Dược học cổ truyền Giáo trình Đại
học Dược Hà Nội, NXB Y học 1998 và 2006
3 Đỗ Tất Lợi, Các cây thuốc và vị thuốc Việt Nam NXB Y học năm 2000
4 Nguyễn Xuân Sinh, Phương pháp chế biến thuốc cổ truyền, NXB Y học, 2000
Trang 30BÀI 3
CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT BÀO CHẾ, CHẾ BIẾN VỊ THUỐC
Có 4 loại chính trong bào chế thuốc
A - SƠ CHẾ DƯỢC LIỆU
Mục đích của phương pháp là chế biến các nguyên liệu ban đầu sau khi thuhoạch nhằm làm sạch sẽ, bỏ những bộ phận phụ, làm khô và tinh khiết, ổn định hơn và phân loại dược liệu theo tiêu chuẩn kỹ thuật
1/ LÀM SẠCH DƯỢC LIỆU
* Rửa: Các dược liệu là củ, rễ, hột (củ, rễ phức tạp phải tách nhỏ trước) cần
Trang 31rửa sạch trước khi đưa ra bào chế
Chú ý: không nên ngâm lâu dược liệu vì vị thuốc mất hoạt chất.
Các loại dược liệu như hoa, cành nhỏ hoặc một số dược liệu không rửa đượcnhư Bối mẫu thì không nên rửa
* Sàng, sẩy: Dùng giần sàng để bỏ rác, tạp chất lẫn trong dược liệu (Tử tô, Liên
kiều, Màn kinh tử )
Chải, lau: Dùng bàn chải lông, tre mềm để chải các dược liệu mốc (Hoài sơn,
các loại Sâm ), những lông gây ngứa ở thân, lá (ví dụ lá cây Han) Khi chải, lau
* Bỏ rễ con,lông: Do chúng ít tác dụng, lại gây hại, làm nặng và mất cảm quan
của thang thuốc (Hoàng liên, Hương phụ, Xương bồ )
* Bỏ hạch (hột): Nhằm nhẹ thang thuốc, loại bộ phận không có tác dụng như
Sơn tra, Sơn thù du
* Bỏ màng, vỏ: Nếu chúng không có tác dụng như Sử quân tử, Hạnh nhân, Đào
nhân
* Bỏ lõi ruột: Ví dụ: lõi Mạch môn, Thiên môn, Bách bộ gây chứng " phiền"
cần phải bỏ
* Bỏ chân, đầu: Nhằm loại phần không có tác dụng, hoặc gây độc hại Ví dụ:
Thiền thoái, Toàn yết cần bỏ chân, răng khi dùng làm thuốc tán, cóc cần bỏ đầukhi chế biến
3/ LÀM KHÔ SẢN PHẨM
Sau khi sơ chế xong người ta thường phơi hoặc sấy sản phẩm
Mục đích: Loại bỏ nước đến độ ẩm qui định, an toàn để bảo quản.
Trang 323.1 Phơi
Phơi là phương pháp làm khô sản phẩm trong điều kiện tự nhiên như ánh nắng,gió, độ ẩm
3.1.1 Phơi nắng
Áp dụng cho các vị thuốc không bị tác động, phân huỷ của ánh sáng
3.1.2 Phơi âm can (khô)
Làm khô sản phẩm ở trong bóng râm dựa vào sự lưu thông không khí, độ ẩmtương đối thấp Phương pháp này khó khô tuyệt đối đến độ an toàn Áp dụng chocác vị thuốc có chứa tinh dầu
Hiện nay có một số phương pháp sấy như sau:
+ Sấy nhiệt (sấy dùng nhiệt độ);
+ Sấy bằng dòng điện cao tần từ 500 - 1000hz;
+ Sấy thăng hoa
+ Sấy bức xạ: Dùng bức xạ hồng ngoại làm khô sấy vị thuốc
B - KỸ THUẬT BÀO CHẾ, CHẾ BIẾN VỊ THUỐC BẰNG HOẢ CHẾ ( PHƯƠNG PHÁP CHẾ BIẾN, BÀO CHẾ CHỈ DÙNG LỬA)
Định nghĩa: Là phương pháp dùng sự tác động của nhiệt độ khô, trực tiếp hay
gián tiếp qua những phụ liệu trung gian nhằm thay đổi tác dụng, tính chất, độc tínhcủa vị thuốc và bảo quản cho vị thuốc
Trang 331 - Mục đích
- Làm tăng tính ấm, giảm tính hàn do đưa nhiệt, phần dương vào vị thuốc;
- Giảm độc tính, giảm tác dụng không mong muốn của vị thuốc;
- Giảm độ bền cơ học của vị thuốc do các chất hữu cơ bị phân huỷ và các liênkết hữu cơ bị phá vỡ; tăng thời gian bảo quản chất lượng thuốc và có thể thay đổitính chất, làm tăng hiệu lực chữa bệnh của thuốc
- Ổn định hoạt chất trong vị thuốc;
2- Các phương pháp chế biến.
2.1 Sao (rang).
Định nghĩa: Là phương pháp dùng sự tác động của nhiệt độ khô không quá
250˚C, trực tiếp hay gián tiếp qua những phụ liệu trung gian nhằm thay đổi tácdụng, tính chất, độc tính của vị thuốc và bảo quản cho vị thuốc
2.1.1 Sao trực tiếp (sao không thêm chất khác):
Định Nghĩa: Là phương pháp sao mà thuốc được truyền nhiệt trực tiếp qua
dụng cụ sao
+ Sao qua (vi sao): Nhiệt độ sao không quá 80 °C
Mục đích: Nhằm làm khô thuốc, thơm thuốc, tránh mối mọt và ổn định thành phần hoạt chất Ví dụ: Hoa hoè sao qua; Độc hoạt, Cam thảo, Bách bộ, Hoàng
đằng phiến, Hoàng liên phiến, Kim ngân hoa, Mạch môn, Phá cố chỉ, Trần bìphiến, Tam thất phiến, Tử tô, Tỳ giải phiến, Xích thược phiến, Cóc mẳn, Côn bố
+ Sao vàng (hoàng sao): Nhiệt độ sao khoảng 100 - 150 °C, thời gian sao lâu,nhỏ lửa Để tăng sức nóng thấm sâu vào ruột mà không cháy cạnh cần làm ẩmthuốc trước khi đem sao ( Ý dĩ, Đậu đen ) Thuốc mặt ngoài có màu vàng, trongruột có màu nguyên liệu; khô giòn, mùi thơm
Mục đích: Sao vàng nhằm vỏ ngoài thuốc có màu vàng, tăng tác dụng quy tỳ,
tăng mùi thơm và tăng tính ấm, mà giảm tính hàn của thuốc
Thực chất, sao vàng sẽ giúp phần nào một số hợp chất có phân tử lớn bị bẻ gãy
Trang 34thành những phân tử nhỏ hơn, dễ hấp thu hơn và có tác dụng hiệp đồng mạnh hơn.Hơn nữa những chất nhầy, pectin sẽ bị biến tính dễ hoà tan trong môi trường cónước Vì vậy, đa số dược liệu có tác dụng mạnh hơn sau khi được sao vàng
Ví dụ: Bá tử nhân, Hoài sơn, Ý dĩ, Bạch giới tử, Bạch truật phiến; Bạch biển
đậu, Cốc nha, Cát cánh, Đảng sâm phiến, Đào nhân, Hạnh nhân, Hoè hoa, Khiếmthực, Mạch nha, Mẫu đơn bì phiến, Ô dược phiến, Sa sâm phiến, Sơn tra phiến,Thương truật phiến, Tri mẫu phiến, Cóc mẳn, Cúc hoa, Trữ ma căn, Sài hồ, Cúc tần
+ Sao vàng hạ thổ: Sao vàng rồi đổ thuốc xuống hố đất đã chuẩn bị trước lót
vải hoặc giấy bản rồi đậy vung lại từ 10 - 30 phút Đây thực chất là phương pháp
hạ nhanh nhiệt độ, tránh ảnh hưởng tiếp theo của nhiệt độ
Mục đích: Nhằm cân bằng âm - dương cho vị thuốc (hạ bớt tính dương, tăng
thêm tính âm ); thuốc khô dễ bảo quản; vị thuốc có mùi thơm để nhập tỳ và khôngbuồn nôn
Theo y học hiện đại: Quá trình sao vàng làm gia tăng sức căng bề mặt của dượcliệu Khi sức căng lớn, hạ thổ sẽ gặp hơi lạnh gây ran nứt bề mặt dược liệu Nhờ
đó, hoạt chất dễ thoát ra ngoài hơn trong quá trình sắc thuốc
Ví dụ: Lá Tường vi, lá Vọng cách, Đậu đen,ấài hồ
+ Sao vàng sém (cháy) cạnh: Sao lửa to, chảo nóng mới bỏ thuốc vào, đảo
không cần nhanh Thuốc chỉ cần vỏ ngoài màu vàng, mép phiến sém cạnh đencháy; mùi thơm cháy nhẹ Áp dụng cho vị thuốc chua, chát, tanh và các vị thuốcTrữ ma căn, Cúc hoa
Mục đích: Nhằm giảm mùi vị khó chịu, tăng mùi thơm mà vẫn đảm bảo chất
lượng thuốc Ví dụ: Thường sao Thần khúc, Chỉ thực, Chỉ xác, Thăng ma,
+ Sao đen (hắc sao, sao tồn tính): Nhiệt độ sao khoảng 190 - 220 °C Lửa to giàmới cho thuốc vào chảo, đảo đều Sản phẩm bề mặt ngoài có màu đen, bên trong cómàu vàng Chênh lệch nhiệt độ giữa bên trong và bên ngoài khoảng 50 - 60 °C
Mục đích: Tăng tác dụng tiêu thực, cầm tả, chỉ huyết, giảm tính mãnh liệt của
vị thuốc (Hương phụ, Toan táo nhân, địa du, ba đậu, Bạch thược, Hoàng kỳ
Trang 35phiến, Hồng hoa, Thương nhĩ tử, Mẫu đơn bì phiến, Bạch giới tử ) Sơn tra saođen có tác dụng tiêu thực tích;
Ví dụ: Ba đậu sao đen mảnh hạt màu đen, khi bóp mạnh thấy còn dầu.
Bạch thược sao đen: Có màu đen lẫn vài phiến màu vàng đậm, mùi thơm cháy,khô giòn
Hoàng cầm phiến sao đen: Phiến màu đen, bên trong màu nâu
- Binh lang sao tồn tính tăng cường tác dụng tiêu tích;
+ Sao cháy ( thán sao): Nhiệt độ sao khoảng 200 - 240 °C Lửa to già mới chothuốc vào chảo, đảo đều đến khi khói lên nhiều, mang ra và úp vung lại để nguội.Sản phẩm mặt ngoài có màu đen, bên trong màu nâu đen Chênh lệch nhiệt độgiữa bên trong và bên ngoài khoảng 20 - 30 °C
Ví dụ: Chi tử, Đan sâm phiến, Hoè hoa, Kinh giới tuệ, Sơn tra phiến
Mục đích: Để vị thuốc có vị đắng, nhằm tăng tác dụng chỉ huyết (Trắc bách
diệp, Sinh khương, Hoa hoè ) và dẫn thuốc vào tâm
Sơn tra thán sao tăng cường thu liễm, chỉ huyết lỵ Binh lang thán sao trị bệnh
tả, lỵ huyết; Cốc nha sao cháy tiêu thực hóa tích; Chỉ thực sao cháy để chỉ huyếtnhất là xuất huyết đường tiêu hóa; Đan sâm thán sao vừa chỉ huyết vừa hoạt huyết;
Chú ý khi sao cháy: Dược liệu phải to đều, phải thực hiện mục tiêu là sao
thuốc chứ không phải đốt thuốc
2.1.2 Sao gián tiếp (sao có thêm chất khác )
Định nghĩa: Là phương pháp sao mà vị thuốc được truyền nhiệt đều và sâu qua
phụ liệu trung gian như Cám gạo, bột Hoạt thạch, bột Văn cáp, Cát
Các phụ liệu này đều có khả năng giữ nhiệt cao: Cát (300°C), bột Văn cáp(250°C), bột Hoạt thạch (200 - 220°C)
+ Sao cách cám: Với mục đích để tăng tác dụng kiện tỳ, hoà vị của vị thuốc; để
sản phẩm có màu vàng và vị thơm của cám ( Bạch truật, Bạch biển đậu, Cốc nha,Đào nhân, Địa cốt bì, Hoài sơn phiến, Ô dược phiến, Mạch nha, Tri mẫu phiến, );
Trang 36giảm độ bay của tinh dầu (Chỉ thực, Trần bì, )
Phương pháp này hầu hết áp dụng cho những vị có tác dụng kịên tỳ vị như Bạchtruật, Thương truật, Cốc nha, Hoài sơn, Cam thảo, Cát căn Chỉ xác chế cám cótác dụng hòa vị, tiêu tích trướng.; Chỉ thực sao cám để tiêu tích bĩ báng; Cốc nhasao cám kiện tỳ, tiêu thực;
+ Sao cách cát: Sao dược liệu với cát mịn,sạch và nóng với ngọn lửa to dần, đảo
đều tay đến khi được thuốc thì đổ ra sàng để sàng lấy thuốc
Mục đích làm cho dược liệu có bề mặt lồi lõm khô cứng sẽ có màu vàng, phồngđều, không cháy (Xuyên sơn giáp ), giảm độc tính (Mã tiền )
+ Sao cách gạo: Tăng tác dụng kiện tỳ và giảm tính khô táo của thuốc.
+ Sao cách Hoạt thạch, Văn cáp (bột vỏ hến, sò): Nhiệt độ sao khoảng 200
-250°C Áp dụng cho các dược liệu dẻo dính như A giao, Nhũ hương, Một dược,một số loại cao khỏi dính vào nhau hoặc bớt mùi tanh khét (lông nhím)
Ngoài ra còn một số phụ liệu trung gian khác như: Câu kỷ tử sao, Thỏ ty tử;Bạch thược sao đất; Cát căn sao muối
2.2 Nung:
Định nghĩa: Nung là phương pháp sử dụng nhiệt độ cao (có thể trên 1000°C),nhiệt lượng lớn, thời gian dài nhằm phá vỡ cấu trúc của thuốc, vô cơ hoá thuốc tạo
ra CaCO3; Ca3(PO4)2 hoặc loại bỏ nước (Thạch cao)
+ Dược liệu áp dụng: Khoáng vật, xương động vận rắn như: Đá kẽm, Phèn
chua, Thạch tín, Gạc hươu nai, vỏ Hà, vỏ Hầu., Than hoạt
+ Mục đích: Làm cho dược liệu bở, tơi, xốp dễ tán mịn, hoặc làm tinh khiết
dược liệu
+ Có 3 cách nung: - Trực tiếp (Mẫu lệ, Thạch quyết minh, Thạch cao)
- Gián tiếp (đá Kẽm, Phèn chua )
- Thăng hoa (tinh khiết dược liệu: Thạch tín, Mai hoa băng phiến, Long não )
- Ngoài ra còn nung thán như Bạch mao căn nung thán chữa niệu huyết
Trang 372.3 Đốt rượu, cồn:
Áp dụng cho những dược liệu không chịu được sức nóng cao như Nhung hươu,Nhung nai
Mục đích: làm sạch lông, không cháy xém, tạo mùi thơm, giảm mùi tanh và
tăng thời gian bảo quản
2.4 Lùi (ổi)
Định nghĩa: Là phưong pháp đưa thuốc trực tiếp hoặc gián tiếp (qua bọc giấy,
cám ) vào tro nóng không bén lửa đến khi chín dược liệu hoặc khô vật liệu trunggian (Ổi khương, Cam thảo )
Mục đích: Rút bớt một phần dầu để giảm bớt tính kích ứng của vị thuốc
Định nghĩa: Là phương pháp sao trực tiếp các dược liệu là khoáng chất ngậm
nước nhằm thay đổi cấu trúc phân tử , thay đổi tính chất của thuốc (hút nước, sănse) Áp dụng các khoáng chất như Phèn chua chế thành Phèn phi
2.7 Hơ
Dùng lửa nhỏ để hơ dược liệu cho khô ráo đến vàng ròn là được Đôi khi chỉ
hơ nóng để chườm vào nơi bị chấn thương
2.8: Nướng
Nếu nướng không tẩm phụ liệu chỉ nhằm mục đích chín thuốc và giảm tínhmãnh liệt của thuốc như cát căn,
2.9 Chế sương
Định nghĩa: Chế sương là phương pháp nung kín nhằm tinh khiết thuốc thành
bột mịn (Phê sương) Ngày nay phương pháo này ít dùng
Trang 38Cách làm: Cho dược liệu vào cái bát rộng miệng (Thạch tín, Thuỷ ngân, Hùng
hoàng, Thư hoàng v.v ), úp cái bát khác nhỏ hơn lên phía trên, trát kín hai bát.Đốt lửa ở phía dưới bát to, các tinh thể sẽ thăng hoa và kết tinh bám vào lòng bátphía trên Sau khi nguội, bỏ ra cạo lấy phấn thuốc
C/ KỸ THUẬT BÀO CHẾ, CHẾ BIẾN VỊ THUỐC BẰNG THỦY CHẾ (PHƯƠNG PHÁP BÀO CHẾ, CHẾ BIẾN CHỈ DÙNG NƯỚC)
Định nghĩa: Thuỷ chế là phương pháp chế biến mà sử dụng sự tác động của
nước hoặc dung dịch phụ liệu ở những mức độ khác nhau (ẩm, ngâm ) trongđiều kiện nhiệt độ tự nhiên tác động đến dược liệu tạo ra quá trình hoà tan, thuỷphân hoặc lên men nhằm đáp ứng những mục đích khác nhau
Dịch phụ liệu: Nước Cam thảo, nước Đậu đen, nước Vo gạo, nước Phèn chua,
nước Muối ăn
1 - Mục đích
- Giảm độc tính, giảm tác dụng có hại của thuốc tới người bệnh;
- Tăng tác dụng chữa bệnh của vị thuốc (nước Gừng dẫn thuốc vào phế, tỳ, vị;nước cam thảo dẫn thuốc vào 12 đường kinh)
- Giảm tính bền cơ học của vị thuốc, tăng khả năng giải phóng hoạt chất do các
tế bào dược liệu bị hút nước và trương nở
- Làm mềm dược liệu, giúp cho việc phân chia ( thái, bào ) được dễ dàng
- Định hình và bảo quản thuốc, tránh gây vụn nát thuốc (nước Phèn chua, nướcVôi làm cứng vị thuốc lên giữ định hình ban đầu )
- Hạn chế sự phát triển của nấm mốc (nước Muối, nước Phèn chua)
2 - Các phương pháp thuỷ chế
2.1 Tẩy, rửa
* Rửa: Đã trình bày ở phần trên (A - Làm bằng tay)
* Tẩy: Dùng rượu để tẩm hoặc dầm vào vị thuốc từ 5 - 10 phút rồi đưa ra sắc
Trang 39(Đương qui, Ngưu tất )
2.2 Ngâm
Định nghĩa: Ngâm là phương pháp dùng nước hoặc dung môi thích hợp đổ
ngập vào dược liệu trong một thời gian thích hợp (trên 1 giờ ) ở nhiệt độ thíchhợp, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, thu lấy thuốc, loại bỏ dịch ngâm nhằm đạt được mụcđích chế biến và điều trị Khi áp dụng cần cẩn thận tránh làm giảm hoạt chất
Dung môi: Nước, nước có độ PH cao thấp khác nhau (nước vo gạo, rượu, dấm, ),
nước hành
Nhóm có pH trung tính: Nước Cam thảo, Đậu đen, Đậu xanh, Sinh khươngNhóm có pH acid: Dấm, nước Phèn chua
Nhóm có pH kiềm: Dịch nước vôi, nước tro bếp
Nhóm có pH thay đổi: Dịch nước vo gạo, đồng tiện pH thay đổi là do sau vàigiờ lên men hoặc bị phân huỷ Độ pH khác nhau sẽ làm thay đổi độ tan khác nhaucủa các thành phần khác nhau (alcaloid, coumarin ) Vì vậy, cần chọn dung dịchngâm thích hợp
Thường ngày thay dịch ngâm một lần; cần bổ xung chất tan để duy trì nồng độ
Thời gian Phụ thuộc vào vị thuốc, kích thước hình dáng vị thuốc cho ngấm đều;
tính chất của từng vị thuốc như Phụ tử ngâm đến khi hết vị tê, cay; Bán hạ ngâm đếnkhi hết nhân trắng đục
Nhiệt độ: Mùa hè khác mùa đông.
Mục đích: Làm mềm dược liệu để dễ thái, bào (Hà thủ ô ), định hình dược
liệu, tẩy chất nhựa gây bẩn vị thuốc (Bạch thược ) hoặc làm giảm độc tính và tácdụng không mong muốn của thuốc (Hoàng nàn, Phụ tử, Bán hạ ), tăng tác dụngchữa bệnh của thuốc và để chiết lấy các hoạt chất có tác dụng chữa bệnh trong cácdược liệu
Phương pháp này còn được áp dụng trong việc chế cao thuốc, rượu thuốc, cồnthuốc
Trang 402.3 Ủ
Định nghĩa: Dùng nước hay dung dịch phụ liệu tẩm vào vị thuốc trong thời
gian thích hợp (từ vài giờ đến vài ngày) cho đến khi đạt yêu cầu
Mục đích: - Tăng tác dụng trị bệnh nhờ tác dụng hiệp đồng giữa thuốc và phụ liệu
Ví dụ: Bán hạ chế với nước Cam thảo, nước gừng để tăng tác dụng chỉ ho, hoá
Định nghĩa: Thuỷ phi là phương pháp tán thuốc ở trong nước hoặc dung môi
thích hợp (rượu chẳng hạn) trong một điều kiện về nhiệt độ, áp suất thích hợpthành dạng bột min
Mục đích: Thu được bột nhỏ mịn tinh khiết; tránh được bay bụi thuốc và ảnh
hưởng tới người bào chế; Chống sự tăng nhiệt độ dễ phân huỷ thuốc thành chấtđộc trong khi tán do ma sát sinh ra (như Thần sa, Chu sa, Thanh đại, Hoạt thạch, ôlong vĩ ); tránh hao thuốc; hạn chế kích ứng của dược liệu độc mạnh
Cách chế: Cho dược liệu vào cối sành, sứ, cho nước vào, nghiền kỹ Khuấy
đều, bớt bỏ tạp chất, gạn lấy dịch nước đục có chứa các hạt thuốc nhỏ mịn Chothêm nước, tiếp tục nghiền cắn lắng ở dưới, rồi lại gạn Làm nhiều lần đến khi thuđược toàn bộ thuốc Bột thu được mang phơi chỗ thích hợp tới khô
Riêng tẩm Chu sa rồi phơi âm can thì không sao hoặc nướng để tránh độc (thuỷchế) Ví dụ: Bá tử nhân; Viễn chí, Trúc nhự, Táo nhân, thông thảo, Thiên môn,Thạch xương bồ, Đan bì, Long cốt để tăng tác dụng trân kinh, trấn tĩnh, anthần