Đặc biệt hơn, mất đi một phần hay mối thu nhập chớnh từ người thõn giờ đó trở thành khuyết tật, mất cả một cụng lao động để phải chăm sóc cho NKT này, và những thay đổi trong tõm tớnh c
Trang 1CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT
1.Khái niệm
“Trẻ khuyết tật” là người dưới 16 tuổi bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ
phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn
Các dạng khuyết tật:
- Khuyết tật thính giác (khiếm thính) : chỉ sự suy giảm hay mất khả năng nghe dẫn đến chậm phát triển ngôn ngữ hoặc câm, hạn chế chức năng giao tiếp
- Khuyết tật vận động: Do bị tổn thương các cơ quan vận động : tay chân, cột sống gây khó khăn trong cầm nắm, đi lại, di chuyển, nằm, ngồi, đi, đứng
- Khuyết tật thị giác (khiếm thị): chỉ sự suy giảm hay mất khả năng nhìn như mù hay nhìn kém
- Khuyết tật trí tuệ: Chỉ sự suy giảm năng lực nhận thức, không thích nghi với các hoạt động xã hội, chỉ số thông minh thấp, xảy ra trước tuổi trưởng thành, khó chữa trị
- Khuyết tật ngôn ngữ: Do bị tật ở cơ quan tiếp nhận chỉ huy ngôn ngữ vùng não và tổn thương của bộ phận phát âm làm ảnh hưởng đến ngôn ngữ giao tiếp
- Ða tật: Trên 1 trẻ có 2 hay nhiều loại khuyết tật
2 Thực trạng
Kết quả cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam năm 2006 (VHLSS, 2006) cho thấy, tỷ lệ khuyết tật của dân số từ 5 tuổi trở chiếm đến 15,3% trong tổng dân số, và mới đây nhất, kết quả
Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 cho thấy, tỷ lệ người khuyết tật ở độ tuổi từ
5 tuổi trở lên chiếm 7,8% dân số tương đương với 6,7 triệu người, trong đó có khoảng 5,8% là
nữ giới và khoảng 75% tập trung ở khu vực nông thôn
Mặc dù, những số liệu trên có thể còn chưa phản ánh đầy đủ và chính xác quy mô, cơ cấu
người khuyết tật ở Việt Nam, nhưng ở một chừng mực nào đó đã cho thấy vấn đề khuyết tật và
Trang 2người khuyết tật là phổ biến ở Việt Nam1 và là vấn đề cần quan tâm trong quá trình phát triển
kinh tế, xã hội quốc gia
Trong tổng số 32 triệu trẻ em ở Việt Nam, trẻ khuyết tật có khoảng 1,1 triệu em, chiếm khoảng 3,4% so với trẻ em cùng độ tuổi Hiện nay, mới chỉ có khoảng gần 269 nghìn em, chiếm 24,22% số trẻ khuyết tật được đi học ở các loại hình trường lớp Trong số trẻ khuyết tật đã đi học có tới 32,99% số trẻ bỏ học Trong cả nước còn khoảng 2,57% số trẻ em chưa có cơ hội đến trường vì
lý do khuyết tật Nếu tình trạng này kéo dài thì chỉ 99% số trẻ em trong độ tuổi đến trường vào năm 2010 khó có thể đạt được (Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010) (Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật – Viện Khoa học giáo dục Việt Nam điều tra tại 13 tỉnh, 13 huyện với tổng 313 xã thuộc xã thành phố, nông thôn, cả đồng bằng, trung du, miền núi, miền biển trên dọc Bắc Trung Nam, năm 2008)
3 Nguyên nhân
- Nguyên nhân trước khi sinh: trong thời kỳ mang thai mẹ bị ốm, bị nhiễm
độc, bệnh di truyền gây dị tật bẩm sinh…
- Nguyên nhân trong khi sinh: Do mẹ đẻ khó, bị ngạt phải can thiệp dụng
cụ…
- Nguyên nhân sau khi sinh:
+ Do nuôi dưỡng và chăm sóc : suy dinh dưỡng, thiếu Vitamin A, loét giác mạc, thiếu iốt, lơ là trong khi chăm sóc trẻ khiến trẻ bị ngã, điện giật, bỏng …
+ Do bệnh tật để lại di chứng : viêm não, sốt xuất huyết, sốt bại liệt, lao, viêm tai chảy mủ
+ Do chiến tranh, thiên tai, tai nạn: bom mìn, lũ lụt, tai nạn giao thông…
Theo báo cáo năm 2006 của Bộ Y tế, dị tật bẩm sinh là nguyên nhân gây
ra khuyết tật ở 70,8% trẻ em ở độ tuổi từ 5-9, và 74,9% trẻ em ở độ tuổi dưới 4
4 Hậu quả
- Đối với trẻ khuyết tật:
+ Thể chất: sức khỏe yếu, ảnh hưởng đến học tập, sinh hoạt…
Trang 3+ Tinh thần: Tự ti, mặc cảm, ngại giao tiếp, khó hũa nhập, Khó
khăn trong việc học tập, trình độ học vấn thấp: Theo Bộ LĐTBXH, trỡnh độ học vấn của NKT rất thấp 41% số NKT chỉ biết đọc biết viết; 19,5% NKT học hết cấp một; 2,75% có trỡnh độ trung học chuyờn nghiệp hay chứng chỉ hoc nghề,
và ớt hơn 0.1% có bằng đại học hoặc cao đẳng Nhỡn chung, chỉ có khoảng 3% được đào tạo nghề chuyờn mụn, và chỉ hơn 4% người có việc làm ổn định Hiện có hơn 40% người khuyết tật sống dưới chuẩn nghốo (Bộ LĐTBXH, 2005)
- Đối với gia đỡnh trẻ khuyết tật: Những gia đỡnh có người thõn mới trở thành NKT cũng trải qua những đau đớn và bối rối tương tự Đặc biệt hơn, mất
đi một phần hay mối thu nhập chớnh từ người thõn giờ đó trở thành khuyết tật, mất cả một cụng lao động để phải chăm sóc cho NKT này, và những thay đổi trong tõm tớnh của người mới bị khuyết tật làm cho sự khuyết tật trở thành một
“tai họa” cho cả gia đỡnh Mọi người, cả NKT lẫn cỏc thành viờn khỏc của gia đỡnh, đều mệt mỏi và thay đổi
Những bậc cha mẹ và cỏc thành viờn trong những gia đỡnh này thường khụng biết phải làm gỡ hoặc tỡm đến ai khi cần Và thỏi độ thương hại hay tội nghiệp của những người thõn quen càng làm cho họ đau khổ hơn Họ hết sức cần những hỗ trợ thớch hợp để khụng cảm thấy đơn độc hay bị bỏ rơi trong tỡnh huống bất ngờ nhưng sẽ gắn bó lõu dài với cuộc sống của họ và cả gia đỡnh
- Đối với xó hội:
+ Bố trớ nguồn kinh phớ cho cụng tỏc chăm sóc người khuyết tật
+ Phải có một hệ thống từ con người, thể chế chớnh sỏch để thực hiện cỏc hoạt động chăm sóc người khuyết tật
5 Nhu cầu
- Nhu cầu cơ bản (thể chất): chăm sóc sức khỏe, được khỏm chữa bệnh,
phục hồi chức năng,…
- Nhu cầu an toàn: Hỗ trợ phỏp lý, được bảo vệ…
- Nhu cầu được yờu thương: được quan tõm, chia sẻ, khuyến khớch, động
viờn…
- Nhu cầu được tụn trọng: được hũa nhập cộng đồng, đối xử cụng bằng,
được đỏnh giỏ đỳng năng lực, được vui chơi với trẻ cựng lứa tuổi …
Trang 4- Nhu cầu được phát triển: Được học tập, học nghề, tạo việc làm, có thu
nhập, có chỗ đứng trong xã hội…
6 Các chính sách, dịch vụ trợ giúp
6.1 Chính sách
- Các văn bản pháp luật liên quan:
+ Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 số 25/2004/QH11 ngày 15/6/2004;
+ Luật Người khuyết tật số 51/2010/QH12 ngày 17/6/2010 (chưa có thông tư hướng dẫn thi hành);
+ Luật giáo dục;
+ Nghị định 67 và 13 …
- Chúng tôi hệ thống các chính sách dành cho trẻ khuyết tật như sau:
a Chính sách chăm sóc sức khỏe cho trẻ khuyết tật
- Trợ cấp: Trẻ khuyết tật không có khả năng tự phục vụ (1) và trẻ bị tâm
thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luận bệnh mãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện hộ nghèo (2) được hưởng chế độ theo nghị định 67 và 13:
+ Do xã, phường quản lý: Đối tượng (1) hưởng trợ cấp hệ số 2,0;
đối tượng (2) hưởng trợ cấp hệ số 1,5 (NĐ 67 là 120k, NĐ 13 sửa thành 180k) (các địa phương cũng có thể điều chỉnh mức trợ cấp cho trẻ khuyết tật theo tình hình tài chính của địa phương nhưng không được thấp hơn khoản trợ cấp mà nhà nước qui định) Gia đình có 2,3 hoặc 4 trẻ tàn tật nặng được hưởng trợ cấp
hệ số 2, 3 hoặc 4
+ Tại các cơ sở bảo trợ XH: Đối tượng (1) không có chế độ; đối
tượng (2) hưởng hệ số 2,5, ngoài ra còn được trợ cấp mua sắm tư trang, vật dụng phục vụ đời sống hàng ngày, trợ cấp thuốc chữa bệnh thông thường…
+ Ngoài ra, các đối tượng khi chết được hưởng mai táng phí
2tr/người
+ Nhà nước còn khuyến khích các cá nhân, gia đình nhận nuôi
dưỡng trẻ khuyết tật Gia đình nhận nuôi trẻ khuyết tật dưới 18 tháng tuổi hưởng hệ số trợ cấp 3,0 Nhận nuôi trẻ KT trên 18 tháng tuổi là hệ số 2,5
Trang 5- Khám chữa bệnh
+ Được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định tại NĐ 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 về ban hành điều lệ bảo hiểm y tế
+ Được khám chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập theo quy định điều 18 NĐ 36/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
b Chính sách học văn hóa và hòa nhập học đường
Luật về người khuyết tật quy định nhà nước tạo điều kiện để trẻ khuyết tật được học tập phù hợp với nhu cầu và khả năng của các em
Việc học tập của trẻ khuyết tật được tổ chức thực hiện dưới các hình thức: Học hội nhập và hoà nhập trong các trường phổ thông, học ở trường chuyên biệt dành cho người khuyết tật, học tại nơi chăm sóc trẻ khuyết tật và tại gia đình
Trẻ khuyết tật được miễn, giảm học phí và được hưởng chế độ học bổng khuyến khích:
+ Trẻ khuyết tật được miễn học phí là đối tượng: thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005
+ Trẻ khuyết tật được giảm học phí, hỗ trợ học phí: (theo Điều 5 Nghị định 49/2010/NĐ-CP quy định về đối tượng là trẻ em được giảm học phí như sau)
/ Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông (trong đó có trẻ khuyết tật) có cha mẹ thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo được giảm 50% học phí
/ Khoản 2 Điều 6 NĐ này cũng quy định: Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế được hỗ trợ chi phí học tập với mức 70.000 đồng/học sinh/tháng để mua sách, vở và các đồ dùng khác thời gian được hưởng theo thời gian học thực tế và không quá 9 tháng/năm học
+ Học bổng và khuyến khích học tập: (Theo thông tư liên tịch số 53/1998/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH ngày 25/8/1998) học sinh là người tàn tật đang học tại các trường dạy nghề Trung ương dành cho thương binh và người tàn tật (không hưởng lương và sinh hoạt phí khi đi học) do ngành Lao động –
Trang 6Thương binh và Xã hội quản lý Mức học bổng chính sách là 120.000 đồng /tháng, nếu có kết quả học tập và rèn luyện đạt từ khá – giỏi trở lên thì ngòai phần học bổng chính sách được cấp hàng tháng còn được nhận thêm phần thưởng khuyến khích học tập
Dù đã có những qui định bảo vệ về luật pháp, trình độ văn hoá của các em khuyết tật vẫn được đánh giá là rất thấp Tình trạng trẻ em không được đi học
và bỏ học giữa chừng được cho là do gia đình các em còn nghèo, thiếu các chương trình giáo dục và hỗ trợ trẻ khuyết tật, nhà trường không tiếp cận được các em khuyết tật và tâm lý đau buồn và mất lòng tin ở các em khuyết tật, thiếu đội ngũ giáo viên và thông tin liên quan tới các em khuyết tật, và tình trạng kỳ thị định kiến đối với các em
Hy vọng rằng mục tiêu của chiến lược giáo dục vào năm 2010 sẽ có
khoảng 75% trẻ khuyết tật được giáo dục hòa nhập sẽ là con số trở thành hiện thực, để trẻ khuyết tật nào cũng được đến trường, được học, được giao lưu với những bạn không khuyết tật trong môi trường yêu thương, đùm bọc lẫn
nhau Giáo dục hòa nhập chính là việc “nâng cánh” để trẻ khuyết tật bước vào đời với một tương lai tươi sáng hơn
c Chính sách học nghề và tạo việc làm
Việc dạy nghề và học nghề là một trong các nội dung chính trong việc trang bị hành trang vào đời cho các em
Trong học nghề, các em ở trung tâm bảo trợ được quyền tự chọn ngành nghề học theo sở thích và nguyện vọng Các em trai thường theo học các nghề sửa chữa cơ khí (sửa xe gắn máy), điện gia dụng, điện lạnh, cắt tóc, mộc mỹ nghệ Các em gái thường theo học may công nghiệp, may dân dụng, uốn tóc, tiểu thủ công, vi tính văn phòng,đan lát, mây, tre, lá, thú nhồi bông
Theo Pháp lệnh số 06/1998/PL-UBTVQH ngày 30/7/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Người tàn tật quy định về việc học nghề và việc làm đối với người tàn tật từ điều 18 đến điều 23 Chương IV như sau:
- Với trẻ khuyết tật:
+ Người tàn tật học nghề được giảm hoặc miễn học phí, được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của Chính phủ
Trang 7+ Người tàn tật tự tạo việc làm và làm việc tại nhà được vay vốn lãi suất
ưu đãi; được chính quyền địa phương giúp đỡ về chuyển giao công nghệ, hướng dẫn sản xuất và kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm
- Với Tổ chức, cơ sở dạy nghề, cá nhân, cơ sở sản xuất kinh doanh:
+ Thu nhận người tàn tật vào học nghề, làm việc và tạo việc làm cho người tàn tật được hưởng các chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật lao động (Điều 18)
+ Cơ sở dạy nghề thu nhận người tàn tật vào học nghề, cơ sở dạy nghề , Cơ
sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho người tàn tật được xét giảm, miễn thuế, được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo dự án dạy nghề, được địa phương giao hoặc cho thuê đất tại những địa điểm thuận lợi cho việc tổ chức dạy nghề; được chính phủ hỗ trợ ngân sách xây dựng trường, lớp, mua sắm thiết bị, phương tiện dạy học, đào tạo giáo viên.(Điều 19)
+ Cơ quan hành chính, sự nghiệp không được từ chối nhận người tàn tật vào làm việc khi người tàn tật đó đủ tiêu chuẩn để được tuyển chọn làm công việc phù hợp mà cơ quan có nhu cầu tuyển dụng
+ Khi sử dụng lao động là người tàn tật, người sử dụng lao động phải thực hiện những quy định của Bộ Luật lao động và các quy định riêng đối với lao động là người tàn tật.(Điều 21)
d Chính sách hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao
-Tại luật người khuyết tật nhấn mạnh sự cần thiết tạo điều kiện cho trẻ khuyết tật tham gia vào các hoạt động xã hội, gồm các hoạt động văn hóa, thể thao và vui chơi giải trí, và tham gia vào các tổ chức xã hội và quy định Nhà nước và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện cho trẻ khuyết tật phát triển tiềm năng sáng tạo của mình trong các lĩnh vực
- Hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch của người khuyết tật được lồng ghép vào đời sống văn hóa cộng đồng, được tổ chức đa dạng về loại hình, đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch của người khuyết tật VD: Paragame
6.2 Dịch vụ trợ giúp
- Dịch vụ chăm sóc tại trung tâm, cơ sở bảo trợ xã hội, mái ấm tình thương…
Trang 8- Tư vấn tâm lý qua đường dây nóng hoặc trực tiếp
- Hỗ trợ pháp lý cho người khuyết tật
- Mô hình Nhà chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trong đó có trẻ khuyết tật nặng, thí điểm tại 14 tỉnh: Hải phòng, Hưng Yên, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Kontum, Đắc lắc, HCMinh…
- Tăng cường giao thông công cộng và các nơi vui chơi công cộng dành cho trẻ khuyết tật đáp ứng quy cách kỹ thuật và tiêu chuẩn xây dựng đảm bảo thân thiện như ga tàu, nhà văn hóa, bưu điện như hiện nay ở sân bay quốc tế Nội Bài, khu tổ hợp thể thao Mỹ Đình, Bảo tàng dân tộc học Hà Nội, Trung tâm thương mại Tràng Tiền, các khu phố cổ ở trung tâm thành phố Hội An, một vài tuyến phố ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
VD: Thành phố Hồ Chí Minh là nơi đầu tiên và cũng là nơi duy nhất đưa
các xe khách thân thiện với người khuyết tật vào sử dụng Bắt đầu từ 1/11/2011 một HTX xe buýt tại TP HCM sẽ vận hành mỗi ngày 5 xe buýt thân thiện với Người Khuyết Tật Các phương tiện vận tải sẽ có sàn thấp và cửa có lắp ván trượt được kéo xuống vỉa hè Các loại xe này cũng được có khu riêng dành cho Người Khuyết Tật, người già và phụ nữ mang thai Các xe này sẽ đi qua một số điểm chính như trung tâm chấn thương và chỉnh hình, Trung tâm Phục hồi chức năng cho Trẻ em Khuyết tật, Làng trẻ em mồ côi và khuyết tật SOS Thủ Đức, Bệnh viện Quân đội ở Thủ Đức Giá cao gấp 1,5 lần đến 2 lần so với các loại xe bình thường do các thiết kế đặc thù.Người Khuyết Tật có thể đi lại miễn phí Thành phố kể từ tháng 6 đã cấp 4000 thẻ xe buýt miễn phí cho Người Khuyết Tật và thương bệnh binh Con số này có thể tăng nhiều lần trong thời gian tới
- 18/4 ngày người KT Việt Nam và 3/12 ngày người KT quốc tế là cơ hội lớn cho người khuyết tật trên cả nước giao lưu, chia sẻ và tìm kiếm cơ hội việc làm
7 Thách thức
- Ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục, trẻ khuyết tật chưa chính thức
và còn quá ít Cơ chế chính sách về giáo dục trẻ khuyết tật chưa đủ để bảo đảm cho việc xây dựng, quản lý và phát triển hệ thống giáo dục trẻ khuyết tật
- Đã có nhiều dịch vụ và chương trình cho trẻ khuyết tật nhưng những chương trình này chưa kết nối với nhau nên còn tình trạng manh mún rải rác;
- Cơ sở vật chất cho giáo dục trẻ khuyết tật còn kém về chất lượng và
Trang 9thiếu về số lượng, chủng loại Các cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật chưa có những trang thiết bị tối thiểu cần thiết để dạy trẻ khuyết tật như sách giáo khoa và đồ dùng dạy học đặc thù cho từng loại trẻ khuyết tật
- Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy trẻ khuyết tật chưa được đào tạo, bồi dưỡng đủ về số lượng và chất lượng Các nhân viên y tế tại xã, phường không được đào tạo chuyên nghiệp về phát hiện sớm tình trạng khuyết tật;
- Các tài liệu hướng dẫn vẫn chưa chú ý đến việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời để tránh tình trạng khuyết tật trong trẻ em, giảm hiệu quả của phương pháp phục hồi
- Sự kỳ thị với người khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng vẫn tồn tại trong một nhóm nhỏ của xã hội Cha mẹ các sinh viên khỏe mạnh bình thường không ủng hộ nhiều việc giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật vì sợ tác động tiêu cực lên con Học sinh đôi khi lại trêu đùa bạn khuyết tật cùng lớp, làm giảm sự tự tin của các em này
Như vậy, nhà nước ta đã ban hành một hệ thống văn bản pháp lý khá toàn diện về người khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng, Mặc dù vậy, vẫn cần Nhà nước và chính quyền địa phương cố gắng hơn nữa trong trợ cấp xã hội cho trẻ khuyết tật Các tổ chức phi chính phủ quốc tế và các cơ quan tài trợ cần chủ động hỗ trợ tài chính và kỹ thuật hơn nữa cho nhiều dự án và chương trình chăm sóc cho trẻ khuyết tật để trẻ nhanh chóng hòa nhập và phát triển trong xã hội