Khái niệm người khuyết tật trong Công tác xã hội Người khuyết tật là người không bình thường về sức khỏe do các di chứng hoặc do bệnh tật làm hủy hoại, rối loạn các chức năng của cơ thể
Trang 1Vấn đề công tác xã hội với người khuyết tật
1 Khái niệm về người khuyết tật
Khái niệm chung
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về người khuyết tật được đưa ra
nhưng chung nhất là “người khuyết tật là những người do bị khiếm khuyết
nào đó của cơ thể dẫn tới sự giảm sút đáng kể trong việc thực hiện chức
năng so với những cá nhân bình thường khác”
Việc sử dụng khái niệm “khuyết tật, tàn tật hay tật nguyền” ở Việt
Nam vẫn chưa được thống nhất giữa các nhà chuyên môn Ở đây chúng ta
tạm thời dùng từ “khuyết tật” có nên chăng ta thay đổi cách gọi để mọi
người nhìn nhận theo khía cạnh tích cực của nhóm đối tượng này
Ví dụ: Ở một số nơi lại sử dụng nhóm từ “những người có nhu cầu
đặc biệt”
Khái niệm người khuyết tật trong Công tác xã hội
Người khuyết tật là người không bình thường về sức khỏe do các di
chứng hoặc do bệnh tật làm hủy hoại, rối loạn các chức năng của cơ thể,
hoặc do hậu quả của những chấn thương dẫn đến những khó khăn trong
đời sống cần được xã hội quan tâm, giúp đỡ, bảo vệ
2 Phân loại người khuyết tật
Dựa vào các căn cứ khác nhau, người khuyết tật được chia làm một
- Khuyết tật từ nhỏ, ngay từ khi sinh ra đã bị khuyết tật về một
phần, chức năng nào đó của cơ thể
Trang 2- Khuyết tật do chiến tranh (thương binh): là người bình thường khi
tham gia chiến đấu do hậu quả của bom đạn, kẻ thù… làm ảnh hưởng đến
cơ thể
- Khuyết tật do tai nạn lao động: trong quá trình sinh hoạt, làm việc
do không cẩn thận đã dẫn đến chấn thương lớn làm ảnh hưởng lâu dài tới
cơ thể dẫn đến hậu quả không đáng có Vì vậy, việc đề cao vấn đề an toàn
lao động là hết sức cần thiết
- Khuyết tật do bệnh nói chung: là nhóm người khuyết tật do di
chứng của những căn bệnh cũ để lại
Ví dụ: Một số người do tai biến mạch máu não đã bị liệt nửa người
hoặc toàn thân…
3 Về mức độ khả nang lao động
- Những người khuyết tật nhóm 1: mất kahr năng lao động
- Những người khuyết tật nhóm 2: tạm thời mất khả năng lao động
hoặc còn khả năng lao động trong những lĩnh vực hạn chế
Ví dụ: Người tàn tật do bị mất một chân họ vẫn có thể tham gia hoạt
động và làm việc ở lĩnh vực khác như bán hàng, học tập…
- Những người khuyết tật nhóm 3: còn khả năng lao động trong
những điều kiện được ưu ái
Ví dụ: Người mù tại nhiều nơi được tạo điều kiện làm việc và học
tập (chữ nổi), làm tăm…
4 Về tính chất bệnh tật
Những người khuyết tật có thể được liệt vào các nhóm:
- Cơ động được: vẫn có thể có hoạt động, tham gia làm việc ở lĩnh
vực có thể
- Ít cơ động: hạn chế mức độ hoạt động
- Bất động: không thể hoạt động cơ thể được (liệt)
Tùy theo sự quy thuộc nhóm này hay nhóm khác mà giải quyết
các vấn đề về bố trí công ăn việc làm và tổ chức sinh hoạt đời sống cho
người khuyết tật
Trang 3Đối với những người khuyết tật ít cơ động (có khả năng di chuyển
chỉ khi nhờ có xe lăn hay nạng chống) có thể làm việc ở nhà hoặc chuyên
chở giúp họ đến nơi làm việc
Đối với những người khuyết tật bất động không di chuyển được nếu
không có người khác giúp đỡ họ có thể làm những công việc về trí óc
như: nghiên cứu khoa học, viết sách báo, sáng tác văn học nghệ thuật…
Đối với những người bị mù nhưng vẫn đi lại được thì những người
làm Công tác xã hội hay các tổ chức xã hội cần trực tiếp giúp đỡ họ…
3 Một số đặc điểm tâm sinh lý, nhu cầu của người khuyết tật
Là một nhà Công tác xã hội, muốn giúp đỡ và giải quyết những khó
khăn của người khuyết tật thì trước hết phải hiểu về tâm lý, nhu cầu của
các nhóm người khuyết tật - nhóm yếu thế Ngoài những nhu cầu chung
nhất họ còn có những đòi hỏi riêng mà nhà Công tác xã hội cần chú ý:
- Sự thiếu hụt về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động chức năng của
người khuyết tật có thể bị giảm sút, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn, trở
ngại trong sinh hoạt, lao động, học tập… Do đó gia đình vfa xã hội cần có
hỗ trợ, ưu tiên đặc biệt cho nhóm đối tượng này như: chăm sóc sức khỏe,
phục hồi chức năng, làm tay chân giả, cung cấp xe lăn, máy trợ thính,
thiết bị tiện nghi, nhà ở … cần có được các dịch vụ giáo dục đặc biệt dành
cho người khuyết tật
Ví dụ: Dạy chữ nổi Braile cho người mù, chương trình giáo dục đặc
biệt cho trẻ câm điếc,…
- Cơ chế bù trừ chức năng của các cơ quan cảm giác ở người khuyết
tật được thể hiện rõ nét: khi họ mất đi khả năng hoạt động của cơ quan
cảm giác nào đó thì ở họ khả năng hoạt động của các cơ quan còn lại rất
phát triển và sự nhận biết thế giới xung quanh thực hiện chủ yếu thông
qua giác quan còn lại này
Ví dụ: Người mù do mất đi khả năng thị giác nên độ nhạy cảm của
cơ quan thính giác, xúc giác phát triển Với đặc điểm trên, khi thực hiện
Trang 4các hoạt động dạy học, dạy nghề… ta cần vận dụng tối đa sự tham gia của
các cơ quan cảm giác còn lại (cần nghiên cứu, thiết kế nhiều đồ dùng học
tập để khi giảng dạy người câm điếc ta tăng cường sử dụng hình ảnh trực
quan, các động tác tay chân để mô phỏng, ngược lại với người mù phải
tích cực hỗ trợ bằng các phương tiện nghe, sờ…
- Do mất hoặc giảm khả năng hoạt động một trong các cơ quan tiếp
nhận thông tin cần thiết cho hoạt động nhận thức nên phần lớn một số
người khuyết tật giác quan, tật thần kinh… hoạt động tư duy có phần bị
giảm sút về tốc độ do khối lượng thông tin cần tiếp thu bị hạn chế (những
người tật vận động thì vẫn bình thường) Chính vì vậy trong hoạt động
giáo dục, dạy nghề ta cần cung cấp thông tin qua nhiều kênh, nhiều nguồn
bằng nhiều biện pháp để tăng cường lượng thông tin cho hoạt động nhận
thức của đối tượng
Ví dụ: Dạy trẻ câm điếc ta dùng hình ảnh để trẻ nhìn, dùng vật mà
trực tiếp tiếp xúc được, thậm chí dùng độ rung của âm thanh để trẻ được
cảm nhận
- Do bị bệnh tật, khó khăn đi lại hoặc giao tiếp nên hoạt động lao
động, giao lưu hạn chế hơn so với người bình thường nếu không có hỗ trợ
xã hội thì phạm vi quan hệ xã hội ở người khuyết tật sẽ bị thu hẹp Do đó,
gia đình và xã hội cần tạo điều kiện cho đối tượng hòa nhập vào cuộc
sống xã hội của những người bình thường
Ví dụ: Tổ chức các câu lạc bộ, các sinh hoạt giải trí, thể thao… để
họ có dịp được gặp, tạo cơ hội để trẻ khuyết tật học chung lớp với trẻ em
bình thường để xóa bỏ mặc cảm
- Họ cần được học văn hóa, học nghề phù hợp với dạng tật: các
công việc thủ công đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn có thể phù hợp với họ Việc
làm vừa đem lại cho họ niềm vui trong lao động, vừa giúp họ có thu
nhập… điều này giúp họ giảm bớt tâm lý bị phụ thuộc vào kinh tế, tâm lí
bị bỏ đi…
Trang 5- Môi trường cộng đồng và gia đình cũng cần được thích ứng với
hoàn cảnh của người khuyết tật
Ví dụ: Trong gia đình, tại trường học, các khu công cộng cần được
thiết kế các phương tiện sinh hoạt phù hợp với nhu cầu người khuyết tật
- Do sự thiếu hụt dẫn đến những cản trở trong sinh hoạt, lao động
trên nên người khuyết tật thường bị ức chế dẫn đến bi quan, chán nản, tự
ti hay cáu gắt, nóng nảy… Ngay cả khi này, họ cũng cần được chấp nhận,
tôn trọng Cộng đồng và xã hội cần giáo dục mọi người tránh cử chỉ, hành
vi miệt thị xa lánh, cần loại bỏ những tên gọi theo dị tật như “thằng què,
con cụt”… xúc phạm đến họ
- Cần động viên khuyến khích, phát huy những mặt tích cực của
than chủ Bên cạnh những khó khăn trên mà người khuyết tật phải trỉa
qua, nhưng họ lại là người rất giàu về nghị lực để vượt qua khó khăn của
tật nguyên Với sự hỗ trợ thích hợp của gia đình và xã hội một số người
khuyết tật đã đạt được nhiều thành tích cao trong lao động và học tập
- Mặt khác họ là người có đời sống nội tâm rất nhạy ảm và tế nhị,
họ rất thông cảm với những khó khăn của người khác hơn cả so với người
bình thường Chính vì vậy, họ là những người hoạt động rất có hiệu quả
trong các nhóm tự giúp Tại đây họ giúp nhau vượt qua khó khăn của
bệnh tật, chia sẻ kinh nghiệm với nhau để thích nghi tốt hơn
5 Cơ sở pháp lý của việc bảo vệ người khuyết tật về mặt xã hội
- Những nhân vien Công tác xã hội phải nắm bắt được cac văn bản
liên ngành về pháp lý xác định quy chế người khuyết tật
Quyền lợi chung thuộc người khuyết tật được nêu trong Tuyên ngôn
Liên Hợp Quốc “Về quyền lợi của người khuyết tật”
- Một số điều trong văn kiện pháp lý quốc tế đã nêu rõ: “Người
khuyết tật có quyền được tôn trọng nhân phẩm, có quyển công dân, quyền
lợi chính trị, có quyền được hưởng các biện pháp nhằm có được sự độc
lập tự chủ càng nhiều càng tốt, có quyền được hưởng sự điều trị về y tế,
Trang 6về kỹ thuật nhằm phục hồi sức khỏe và vị thế trong xã hội, có quyền được
đi học, đào tạo nghề nghiệp, tư vấn, bố trí công ăn việc làm và phải được
bảo vệ trước bất cứ hình thức bóc lột nào”
- Các văn bản nền tảng mang tính pháp lý cũng đã được áp dụng
nhiều ở các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Với ý nghĩa để xác
định quyền hạn của người khuyết tật trách nhiệm của nhà nước, của các tổ
chức từ thiện của các cá nhân với việc phục vụ xã hội đối với những
người khuyết tật
6 Góc độ bảo vệ người khuyết tật về mặt y tế, xã hội
- Hướng trợ giúp người khuyết tật về mặt y tế xã hội có một vị trí
đáng kể trong tổng thể các biện pháp quan tâm xã hội về bố trí công ăn
việc làm và về sinh hoạt đời sống cho những người khuyết tật
- Người làm Công tác xã hội phải luôn sẵn sàng giúp đỡ người
khuyết tật giải quyết hàng loạt vấn đề có tính chất pháp lý tâm lý học, sư
phạm học, điều này rất quan trọng, có tính chất y tế, xã hội
- Người làm Công tác xã hội phải nắm được các thủ tục gửi họ đi
giám định y tế xã hội, xác định nguyên nhân và nhóm khuyết tật mức độ
mất khả năng lao động, xác định các hình thức khối lượng và thời hạn
phục hồi chức năng cho họ cũng như các biện pháp về mặt xã hội, nêu lên
những kiến nghị và việc bố trí lao động cho họ
- Sự trợ giúp về y tế, xã hội sẽ làm dịu đi nỗi đau của người khuyết
tật, thúc đẩy quá trình phục hồi tâm lý cho họ Phải đặt biệt quan tâm đến
những gia đình người khuyết tật là trẻ nhỏ Trẻ tàn tật cần được chăm sóc,
theo dõi thường xuyên đảm bảo đầy đủ các nhu cầu về đời sống cho trẻ
- Trong các trách nhiệm của người làm Công tác xã hội có việc tổ
chức giúp đỡ y tế cho người khuyết tật, tổ chức khi tiến hành phục hồi
chức năng trong điều kiện tập trung ở một số nơi quy định hay tại gia,
giúp đỡ đi nghỉ ngơi, điều dưỡng chữa bệnh, mua sắm thiết bị luyện tập,
chỉ bảo cụ thể cho cha mẹ trẻ khuyết tật, tổ chức sản xuất ở nhà cho họ…
Trang 77 Góc độ quản lý các hoạt động quan tâm đến người khuyết tật
- Sự quan tâm của xã hội… không thể thiếu các cơ quan quản lý Hệ
thống quản lý các công việc về người khuyết tật nhiều cấp nhiều góc độ
này đảm bảo đáp ứng được các nh cầu của đối tượng đặc thù này Song
một vấn đề chính còn tồn tại là khâu tổ chức làm thủ tục đầy đủ chứng
nhận mức độ khuyết tật
- Đối với 1 con người khuyết tật phải có lòng bao dung, từ tâm tham
gia vào việc đảm bảo cho người khuyết tật có những điều kiện cần thiết
cho một cuộc sống theo đúng nghĩa của nó Chính sách nhà nước đối với
người khuyết tật được thực hiện thông qua các cơ cấu tổ chức nhà nước,
tổ chức phi chính phủ và các hiệp hội Hiện nay nhiều tổ chức xã hội, ở
nhiều quốc gia đã có nhiều chương trình hoạt động tích cực đưa người
khuyết tật hòa nhập vào cộng đồng (các kỳ PARAGAMES) Việc tiến
hành được các hoạt động này là cả một quá trình mà các nhà Công tác xã
hội đã bỏ nhiều công sức Họ đã và đang cố gắng tìm được nhiều hơn
những người, tổ chức, các nhà bảo trợ hướng tới việc giúp đỡ cho người
khuyết tật
- Sự bảo trợ xã hội và Công tác xã hội phải đảm bảo cho họ có được
những khả năng, những điều kiện ngang bằng nhau trong việc thực hiện
các quyền của họ, loại bỏ những hạn chế trong sinh hoạt, tạo mọi điều
kiện cho họ được tham gia tích cực vào tất cả các mặt của đời sống xã
hội Họ cần được giúp đỡ để thích nghi với cuộc sống
8 Công tác xã hội đối với thương binh
Việt Nam, một đất nước đã phải chịu đựng cuộc chiến tranh hủy
diệt thật tàn khốc trong thế kỷ XX Đây là một cuộc chiến tranh không
cân sức, nhưng với truyền thống chống giặc ngoại xâm dân tộc Việt Nam
đã anh hùng đánh thắng 2 đế quốc Pháp và Mỹ, giữ vững độc lập chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Thương binh, đây là nhóm người
đã hi sinh một phần cơ thể hoặc đã mang trên mình di chứng của chiến
Trang 8tranh Đó chính là một bộ phận những người có công với cách mạng
Đóng góp của họ mãi được tôn vinh, Tổ quốc luôn ghi ơn và toàn xã hội
phải có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, giúp đỡ họ
- Nhà nước phải xây dựng một hệ thống chính sách trợ cấp thương
binh (dựa vào từng loại thương tật) Hàng năm, có chế độ chăm sóc sức
khỏe, định kì giám định thương tật để điều chỉnh chế độ đãi ngộ; vận
động các tổ chức xã hội, các cấp cq, đoàn thể… thường xuyên quan tâm,
giúp đỡ thương bệnh binh và gia đình họ cả vật chất và tinh thần
- Tư vấn, giúp đỡ và ưu đãi trong vấn đề việc làm phù hợp với điều
kiện thương tật Phát huy mọi tiềm năng của họ sống có ích cho gia đình
và đóng góp cho xã hội theo lời dạy của Bác “Tàn nhưng không phế”
9 Tăng cường thực hiện chính sách về việc làm cho người khuyết tật
Sáng 15/12/2006, tại Hà Nội, Văn phòng Điều phối các hoạt động
hỗ trợ người tàn tật Việt Nam, Hội người khuyết tật Hà Nội và Tổ chức
lao động Quốc tế (ILO) tổ chức hội thảo “thực hiện các chính sách pháp
luật về việc làm liên quan đến nhu cầu của người khuyết tật” Hội thảo đã
qui tụ đông đủ nhóm đại biểu có thể tư vấn và đưa ra được những chính
sách, giải pháp thích hợp về vấn đề việc làm cho người khuyết tật, đó là
đại diện của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam VCCI, ILO và một số
chủ sử dụng lao động khuyết tật từ các miền trong cả nước…
* Bức tranh “việc làm” của người khuyết tật
Việt Nam hiện có trên 5,3 triệu người khuyết tật, chiếm 6,34% dân
số Người khuyết tật ở độ tuổi lao động từ 16-55 đối với nữ và từ 16-60
đối với nam, chiếm trên 69% Một thực tế là hơn 80% người khuyết tật
sống ở nông thôn với các điều kiện về cơ sở hạ tầng, điều kiện sống,
phương tiện sinh hoạt chuyên dùng còn nhiều thiếu thốn, do vậy họ gặp
nhieeuftr[r ngại về đi lại và giao tiếp với cộng đồng, xã hội Trình độ học
vẫn của người tàn tật cũng rất thấp, gần 36% không biết chữ, chỉ có
20,7% có trình độ tiểu học và 24,5% trung học cơ sở Đại bộ phận tàn tật
Trang 9không thể sống tự lập, khoảng 70% phải sống dựa vào gia đình, chỉ
khoảng trên 25% có hoạt động tạo thu nhập bằng các nghề thủ công
truyền thống như đan lát mây, tre, làm chổi, dệt đay, bện thừng, trồng rau,
chăn nuôi gia súc, gia cầm… ở nhiều nơi, người khuyết tật còn làm việc
theo tổ, nhóm trong các hợp tác xã, sản xuất kinh doanh do người khuyết
tật tự thành lập Nhiều người lại làm việc tại nhà, được giao nguyên liệu
và thu nhận sản phẩm Việc làm của người khuyết tật ở nông thôn đã góp
phần nhất định vào thu nhập của gia đình và tạo cho họ một cuộc sống
độc lập, tạo vị thế bình đẳng và hòa nhập nhất định
Có việc làm và được làm việc luôn luôn là nguyện vọng cháy bỏng
của người khuyết tật và mỗi quốc gia đều có quy định tỷ lệ nhận người
khuyết tật vào làm việc trong doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
Ở Việt Nam, lĩnh vực này thực hiện chưa có hiệu quả, mặc dù văn bản
quy phạm pháp luật của Nhà nước đã ban hành khá đầy đủ
*Về việc làm cho người khuyết tật
Nếu như năm 1995 mới có 177 cơ sở với trên 7.800 lao động là
người tàn tật thì nay trên toàn quốc, hiện có hơn 400 cơ sở với khoảng
hơn 20.000 người knt đang làm việc Trong số đó, co nơi có trên 350
người khuyết tật đang làm việc như Công ty Chân - Thiện - Mỹ ở Hải
Dương và Bắc Ninh, nhưng ngược lại cũng có những doanh nghiệp chỉ có
5 - 6 người Riêng Hội người mù quản lý 146 cơ sở, thu hút khoảng 4.000
lao động Quỹ quốc gia về việc làm đã giao cho tổ chức này quản lý trên
31 tỉ đồng, giúp khoảng 13 nghìn hội viên được vay vốn để phát triển sản
xuất kinh doanh, tạo việc làm…
Mặc dù các địa phương đã và đang cố gắng tạo điều kiện, hỗ trợ sản
xuất kinh doanh đối với ntt, song việc làm cho đối tượng này vẫn là vấn
đề rất nan giải và chưa có giải pháp hiệu quả Cho đến nay, người khuyết
tật và các tổ chức Hội của người khuyết tật tự vận động, tự tạo việc làm là
chính thông qua việc thành lập các cơ sở sản xuất, kinh doanh Sự trợ
giúp theo quy định của pháp luật là rất hạn chế Hiệp hội sản xuất, kinh
Trang 10doanh của người khuyết tật Việt Nam (VABED) được thành lập tháng
9/2003 Sau hơn 3 năm hoạt động, Hiệp hội đã phát triển từ 113 lên 240
cơ sở hội viên, trong đó cso 57 đơn vị có chức năng dạy nghề Năm 2006,
các cơ sở này đã đào tạo được 416 hội viên là người khuyết tật bằng ngân
sách Nhà nước và đã có 70% số người sau khoa học đã được bố trí việc
làm tại doanh nghiệp
* Về tỷ lệ người khuyết tật mà các doanh nghiệp phải nhận vào
làm
Theo quy định hiện hành là 2% hoặc 3% tùy theo ngành nghề, hoặc
phải đóng một khoản tiền trên cơ sở số người lao động tàn tật còn chưa
đủ, vào quỹ việc làm cho người khuyết tật Tuy nhiên, qua kiểm tra giám
sát của ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội thì ngoài một vài điển
hình tốt như Chi cục Thuế thành phần Hồ Chí Minh, Công ty Chân -
Thiện - Mỹ đã nêu trên, Công ty Chanshins Đồng Nai và các cơ sở sản
xuất kinh doanh dành riêng cho người khuyết tật… còn lại hầu như rất ít
nơi thực hiện quy định này với nhiều lý do được đưa ra để từ chối nhận
người khuyết tật vào làm việc Mặt khác, do chỉ có khoảng 3% tổng số
người khuyết tật được đào tạo nghề, vì vậy các doanh nghiệp cũng khó mà
tìm được người khuyết tật đã được đào tạo nghề một cách bài bản
Trong khi đó, đối với những doanh nghiệp nghiêm túc thực hiện quy
định của pháp luật, nhận nhiều lao động là người khuyết tật (thậm chí cao
hơn tỷ lệ quy định) cũng chưa nhận được hỗ trợ theo quy định Nguyên
nhân là do Quỹ việc làm dành cho người khuyết tật nhiều nơi chưa được
hình thành và thậm chí cả cơ sở sản xuất, kinh doanh của người khuyết tật
cũng chưa nhận được hỗ trợ này ngoài việc được miễn thuế thu nhập
Thực tế, một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh nhận được sự hỗ
trợ là do chính sách thu hút và khuyến khích đầu tư của địa phương đối
với tất cả các doanh nghiệp chứ không phải là ưu đãi riêng theo quy định
của pháp luật về người khuyết tật
* Về quỹ việc làm cho người khuyết tật