1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI GIÁO DỤC CON CÁI TRONG CÁC GIA ĐÌNH NÔNG THÔN HIỆN NAY

85 719 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 860,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lí do chính đáng như vậy đã thôi thúc tôi tiến hành nghiên cứu đề tài thực tập tốt nghiệp “ công tác xãhội với phương pháp giáo dục con cái trong các gia đình nông thôn hiện nay

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

KHOA LỊCH SỬ - -

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI GIÁO DỤC CON CÁI TRONG CÁC GIA ĐÌNH NÔNG THÔN

HIỆN NAY

(Trường hợp nghiên cứu tại xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh

Thanh Hóa)

HUẾ, 05/2O10

Trang 2

7 UB: Ủy ban

8 UBND: Ủy ban nhân dân

9 CP: Chính phủ

10 TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

11 Nxb: Nhà xuất bản

Trang 3

MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài:

Chắc hẳn những ai là người dân đất Việt, những ai mang quốc tịch ViệtNam đều đã được nghe những câu nói bất hủ như: “Giáo dục là quốc sáchhàng đầu”, “văn hóa là chìa khóa mở đầu”, hay “học, học nữa, học mãi”…Vậy chúng ta hiểu như thế nào về giáo dục, về văn hóa hay về sự nghiệp họctập, trau dồi kiến thức? Không phải cứ nói đến giáo dục, đến văn hóa, đến họctập là chúng ta nghĩ đến thầy cô giáo, đến trường lớp, đến sách vở… Điều nàyđúng nhưng chưa đủ

Theo các quy luật của tạo hóa nhằm duy trì nòi giống thì hằng ngày,hằng giờ, hằng giây trên thế giới và Việt Nam đều có những đứa trẻ cất tiếngkhóc chào đời.Để cho những đứa trẻ ấy trở thành người có ích cho gia đình,

xã hội, có ích cho Đất nước không phải là đơn giản, không phải là ngày mộtngày hai là chúng ta có thể làm được Để thu được kết quả như mong muốnthì tất cả chúng ta phải chung tay góp sức, thể hiện rõ vai trò và trách nhiệmcủa mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các em Trong đó quantrọng nhất là giai đoạn giáo dục con cái bằng cái nôi đầu tiên, bằng tổ ấm giađình thân thương của mình

Chúng ta cũng đã biết rằng gia đình đảm nhận nhiều chức năng khácnhau, trong đó có 4 chức năng cơ bản: Chức năng sinh học (hay còn gọi làchức năng tái sản xuất); Chức năng kinh tế; Chức năng xã hội; Chức nănggiáo dục Trong bốn chức năng cơ bản này ta thấy chức năng sinh học (chứcnăng tái sản xuất) đã biến mất ở một số gia đình, do vậy chức năng giáo dụccon cái trong các gia đình là một chức năng đặc biệt quan trọng, bởi vậy xãhội luôn quan tâm tới chức năng này vì đây là chức năng liên quan tới tâm lí,đạo đức, nhân cách của một thế hệ tương lai, của một nguồn nhân lực rất quantrong với xã hội, với đất nước

Trang 4

Thực tế ta thấy ở nhiều gia đình, các bậc cha mẹ giáo dục con cái chủyếu là theo thói quen, theo truyền thống, kinh nghiệm tiếp thu được từ thế hệ

đi trước Nếu cứ theo cách giáo dục như vậy thì không đủ và sẽ thu được kếtquả không như mong muốn Bởi vì sao? Vì xã hội không ngừng vận động vàbiến đổi theo thời gian Gia đình là một tế bào tuy nhỏ nhưng vô cùng quantrọng của xã hội khi ấy cũng phải biến đổi theo cái xu thế ấy của xã hội Chọnphương pháp giáo dục nào trong hoàn cảnh nào, với đối tượng như thế nàocho phù hợp cần có một sự lựa chọn hợp lý, hợp lý với suy nghĩ của cha mẹ

và với tâm thế của con cái Không nên giáo dục con cái bằng biện pháp nuôngchiều quá mức cũng như không nên giáo dục con cái bằng cách quá nghiêmkhắc, thậm chí có những gia đình chuyên sử dụng các biện pháp bạo lực đểgiáo dục con cái, điều này là hoàn toàn không nên vì nó ảnh hưởng đến sựphát triển toàn diện của trẻ

Từ thực tiễn phấn đấu cho sự tiến bộ của trẻ em trên toàn thế giới,UNICEF đã rút ra bài học: “Mục đích của sự phát triển con người trong tươnglai sẽ không đạt được nếu gia đình không có khả năng nuôi dưỡng và tạo ranhững bài học kinh nghiệm tích cực cho trẻ em Vì vậy chiến lược và chiếnthuật phát triển ngắn và dài hạn trong tương lai phải chú trọng đến viêc cungcấp một mạng lưới an toàn đề trẻ em nghèo có thể bứt ra khỏi nghèo đóithông qua việc tiếp cận với sự chăm sóc và bảo vệ, các dịch vụ sức khỏe,những cơ hội học tập có chất lượng và điều kiện để tham gia vào cuộc sốngcủa cộng đồng”

Gần đây nhất, nhằm đảm bảo cho thế hệ trẻ Việt Nam được phát triểntoàn diện đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trongthời kỳ đẩy mạnh cong nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 28/6/2000,

Bộ chính trị (khóa VIII) đã ra chỉ thị số 55-CTTW về “tăng cường sự lãnhđạo của các cấp ủy đảng ở cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáodục trẻ em” Chỉ thị đã khẳng định sau 15 năm đổi mới, tình hình sức khỏe,

Trang 5

học tập, đời sống văn hóa tinh thần của trẻ em đã có nhiều cải thiện Tuy vậy

số trẻ em suy dinh dưỡng, trẻ em bị thất học, bỏ học vẫn còn nhiều, nhất là ởnông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa Số trẻ em lang thang kiếm sống, làmtrái pháp luật, nghiện hút ma túy không giảm, tình trạng buôn bán trẻ em, hiếpdâm trẻ em, lừa gạt, dụ dỗ trẻ em tham gia buôn bán ma túy, mại dâm ngàymột tăng Tình hình trên đã tác động xấu đến sự phát triển lành mạnh của trẻ

em, đến thuần phong mỹ tục của nhân dân Trong khi đó nhiều cấp ủy đảng,chính quyền, nhất là ở cơ sở chưa thấy hết tính cấp bách của tình hình, chưanhận thức đầy đủ vị trí và tầm quan trọng của công tác bảo vệ, chăm sóc, giáodục trẻ em trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực để thực hiện công nghiệp hóa,hiện đại hóa, vì tương lai lâu dài của đất nước, còn lúng túng trong lãnh đạo,chỉ đạo xây dựng phong trào toàn xã hội, đặc biệt là tạo điều kiện và phát huyvai trò của các gia đình, cộng đồng để giải quyết tốt những vấn đề của trẻem”

Trong sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Đảng và Nhà nướcViệt Nam đặc biệt đề cao vị trí và vai trò của gia đình, cộng đồng Chủ tịch

Hồ Chí Minh từng nói “Giáo dục các em là việc chung của gia đình, nhàtrường và xã hội Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách”

“Gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình” Tráchnhiệm của gia đình và việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em còn được nhànước ta thể chế hóa trong nhiều văn bản pháp quy, cũng như trong các hoạtđộng bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Điều 64 và 65 Hiến pháp năm 1992ghi rõ: “Gia đình là tế bào của xã hội” và “Trẻ em được gia đình, nhà nước và

xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” Luật pháp còn quy định: “Việc bảo vệchăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cơ quannhà nước, tổ chức xã hội và công dân” (Điều 3, Luật bảo vệ chăm sóc và giáodục trẻ em ban hành 16/8/1991) “Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chứckinh tế và gia đình, công dân có trách nhiệm tham gia vào việc thực hiện phổcập giáo dục tiểu học” (Điều 7, Luật phổ cập giáo dục tiểu học ban hành

Trang 6

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề giáo dục con cái trong cácgia đình, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những chính sánh, điều luật cụ thể,xác thực Do vậy mà phương pháp giáo dục của các gia đình phần nào đã cónhững bước được cải thiện từ đó mà thu được những kết quả khả quan Songbên cạnh đó thì phương pháp giáo dục con cái ở nhiều gia đình vẫn còn nhiềubất cập và có phần nào không đúng đắn, từ đó mà để lại những hậu quả khôngnhư mong muốn, nhất là ở các gia đình nông thôn hiện nay Do nhiều yếu tốtác động mà cha mẹ chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trong của giáo dụccon cái

Đợt thực tập này được sự giới thiệu của ban chủ nhiệm khoa, cùng với

sự hợp tác giúp đỡ của quý cơ quan, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài này tại

xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc, Tỉnh Thanh Hóa, cũng là quê hương tôi sinh ra

và lớn lên Với mong muốn để quê mình phát triển hơn, đặc biệt là nguồnnhân lực sau này, thế hệ tương lai có đầy đủ các điều kiện phát triển sao chotoàn diện cả về thể lực và trí lực để sau này giúp ích cho gia đình, cho xã hội,cho đất nước Tôi sẽ cố gắng hết sức để tìm hiểu rõ hơn,sâu sắc hơn về thựctrạng, các yếu tố tác động, hậu quả… Của vấn đề phương pháp giáo dục concái trong các gia đình nông thôn hiện nay Từ những lí do chính đáng như vậy

đã thôi thúc tôi tiến hành nghiên cứu đề tài thực tập tốt nghiệp “ công tác xãhội với phương pháp giáo dục con cái trong các gia đình nông thôn hiện nay”

II Mục tiêu nghiên cứu:

1 Mục tiêu chung.

Người nghiên cứu đã nhận thấy được tầm quan trọng của sự nghiệptrồng người và quá trình phát triển toàn diện của trẻ em Nên mục tiêu củangười nghiên là muốn thế hệ trẻ, thế hệ mầm non tương lai của đất nước cóđiều kiện để phát triển tốt nhất, được đối xử công bằng nhất Có như vậy các

em mới có cơ hội để góp công sức của mình vào sự phát triển phồn thịnh của

Trang 7

III Tổng quan về vấn đề nghiên cứu:

Gia đình là môi trường xã hội đầu tiên có ảnh hưởng đặc biệt to lớn đến

sự phát triển của cà đời người, đặc biệt là với lứa tuổi 11 đến 15 tuổi (là lứatuổi có những biến đổi rất quan trọng về cả tâm lý và sinh lý) Vì vậy trướckhi đi vào vấn đề trọng tâm “Công tác xã hội với giáo dục con cái trong cácgia đình nông thôn hiện nay” ta đi tìm hiểu những thông tin khái quát về cácgia đình là một việc làm rất cần thiết, góp phần hoàn thành tốt hơn đề tàinghiên cứu Số liệu điều tra cho thấy tuyệt đại đa số các gia đình trên địa bàn

là kiểu gia đình đủ (có vợ, chồng, con cùng chung sống) chiếm 96%, số giađình thiếu (ly thân, ly hôn hoặc góa bụa) chỉ có 4% Đa số các gia đình đều có

từ 1 – 2 con(chiếm 55%), khoảng trên 40% gia đình có từ 3 con trở lên Quatìm hiểu tôi thấy ở địa phương tâm lý nhất quyết phải sinh con trai để nối dõitông đường của những gia đình trong mẫu điều tra còn khá nặng nề, điều này

đã làm chi phối hành vi sinh đẻ của các bậc cha mẹ Có những gia đình là cán

Trang 8

bộ, công nhân viên chức nhà nước nhưng vì tâm lý như: là con trưởng đứngđầu dòng họ nên phải có con trai để nối dõi, từ đó họ chịu mấtt việc để vềchăn nuôi, sản xuất, cố gắng sinh cậu con trai.

Trong mẫu điều tra của chúng tôi, phần lớn các bậc cha mẹ có độ tuổi từ

35 đến 45 tuổi (55 %); Khoảng 25% có độ tuổi từ 50 trở lên Số liệu củachúng tôi cũng cho thấy có khoảng 60% tổng số hộ trong diện điều tra là hộthuần nông, các hộ còn lại phần lớn vừa làm nghề nông lại vừa làm thêm cácnghề khác (như buôn bán nhỏ, cán bộ xã…) Các hộ chuyên làm nghề khácchiếm tỷ lệ không đáng kể

Nhìn một cách tổng quát và đánh giá khách quan thì ta thấy các nghiêncứu về gia đình từ lâu đã là một chủ đề rất quen thuộc, đặc biệt là trong cácnghành khoa học xã hội Tuy nhiên không vì thế mà nghiên cứu của chúng tôigiảm bớt giá trị vì gia đình vẫn luôn là một vấn đề mang tính thời sự Và đốivới người Việt Nam gia đình luôn có một vị trí đặc biệt quan trọng mỗi ngườidân Mặt khác trong các nghiên cứu xoay quanh chủ đề gia đình ta nhận thấy

có rất nhiều mảng đề tài khác nhau Mỗi mảng đề tài có những cái hay vànhững tác dụng to lớn góp phần vào việc xây dựng các gia đình Việt Nam vớinhiều tiêu trí văn minh văn hóa, vững mạnh trên nhiều khía cạnh mà xã hộihiện đại yêu cầu “Phương pháp giáo dục con cái trong các gia đình nôngthôn” cũng là một mảng đề tài góp ích rất nhiều trong quá trình xây dựng mụcđích chung ấy Xung quanh vấn đề giáo dục con cái trong gia đình nông thônhiện nay ta cũng đã thấy có nhiều nghành thuộc khối các nghành khoa học xãhội tham gia nghiên cứu như : Xã hội học, Tâm lý học và gần đây là nghànhCông tác xã hội (một nghành còn trẻ ở Viêt Nam)

Tác giả Lê Tiến Hùng trong bài viết “Quyền uy của cha mẹ trong giáodục gia đình” cũng quan tâm tới vấn đề giáo dục con cái trong gia đình nhưngông đứng trên một cơ sở khác tác giả Đoàn Việt khi nói về vấn đề này TS LêTiến Hùng không đi vào các số liệu thực nghiệm, cũng không đi sâu phân tích

Trang 9

các biện pháp giáo dục con cái mang tính bạo lực mà tập trung lí giải tại saocha mẹ có thể giáo dục được con cái Thông qua nghiên cứu của mình tác giả

đề cập đến mối quan hệ giữa quyền uy của cha mẹ với việc giáo dục con cái.Tác giả chỉ ra cơ sở tất yếu tự nhiên của quyền uy mà cha mẹ sử dụng tronggiáo dục con cái Khẳng định tầm quan trọng của việc giáo dục con cái bằngquyền uy và hậu quả khi cha mẹ không có uy quyền khi giáo dục con cái Tuyvậy tác giả cũng chỉ ra rằng khi cha mẹ quá lạm dụng quyền uy trong giáo dụccon cái tất yếu sẽ dẫn đến những phản ứng về mặt tâm lý của con cái Lờikhuyên mà tác giả dành cho các bậc cha mẹ là phải biết sử dụng quyền uy củamình một cách đúng lúc và không được lạm dụng uy quyền trong giáo dụccon cái.Việc giáo dục con cái là một chức năng tất yếu của cha mẹ trong giađình Bởi sự giáo dục con cái sẽ định hướng cho trẻ nhận thức đúng đắn vềcác giá trị đích thực của cuộc sống, những khuôn mẫu, chuẩn mực xã hội…Không những thế việc giáo dục con cái trong gia đình còn giúp cho trẻ có khảnăng miễn dịch với các tệ nạn xã hội và phòng ngừa các hành vi sai lệch Tuynhiên không phải lúc nào giáo dục con cái trong gia đình cũng mang lạinhững kết quả đáp ứng những kì vọng như vậy Có rất nhiều yếu tố tác độngtới kết quả giáo dục, và phương pháp giáo dục của xha mẹ là một nhân tốquan trọng Điều này đã được GS Lê Thi khẳng định trong bài viết : “Vai tròcủa người cha và người mẹ trong việc nuôi dạy con cái” đăng trên tạp chíkhoa học về phụ nữ số 1 năm 2003 Tác giả khẳng định tầm quan trọng củagia đình trong việc: “giúp trẻ em trưởng thành cả về thể chất, trí tuệ,tìnhcảm” Trong việc giáo dục con cái cha mẹ chính là hai nhân vật đóng vai tròtrung tâm, trong đó cha và mẹ cần thống nhất với nhau cả về nội dung vàphương pháp giáo dục, nếu không thống nhất với nhau sẽ dẫn đến tình trạng

“người quá nuông chiều người quá khắt khe” dẫn đến những hậu quả khôngmong muốn trong giáo dục conc cái Đồng thời tác giả cũng chỉ ra những nétkhác biệt trong giáo dục con cái của người cha và người mẹ, qua đó cũng giải

Trang 10

thích những khác biệt này là do các yếu tố khác biệt giới quy định Từ đó GS.

Lê Thi đã đi đến khẳng định: “Cha và mẹ đều có vị trí và vai tò quan trọng,không được xem nhẹ bên nào trong việc giáo dục giúp con phát triển toàndiện”

Nếu như trong gia đình truyền thống cha mẹ giáo dục con trẻ phảingoan ngoãn, vâng lời theo nguyên tắc trên bảo dưới phải nghe, theo lối ápđặt, thì hiện nay điều này phải được xem xét nhìn nhận từ hai phía chủ thểgiáo dục (cha mẹ) và khách thể giáo dục (con cái), đó là những suy nghĩ banđầu của tác giả Nguyễn Sĩ Liêm về nội dung và phương pháp giáo dục giađình ở nước ta hiện nay Tác giả đã so sánh yêu cầu của giáo dục con cái ngàyxưa với ngày nay, từ đó chỉ ra những khác biệt và yêu cầu mới của việc giáodục con cái trong giai đoạn hiện nay: “Ngày nay thời cuộc đã thay đổi, xã hộiphát triển làm xuất hiện nhiều nghành nghề mới, cha mẹ hướng con cái họctập không chỉ để có trình độ học vấn… Mà còn giáo dục con rèn luyện ý chíquyết tâm làm giàu bằng chính kiến thức và năng lực của bản thân; Hơn thếnữa phải kết hợp một cách biện chứng giữa học chữ, học nghề và học cáchlàm người – làm người có nhân cách” Để có thể đạt được mục tiêu đó thìphương pháp giáo dục con cái trong gia đình phải thay đổi để phù hợp với sựphát triển của xã hội

Giáo dục bằng phương pháp phục tùng mệnh lệnh của ông bà, cha mẹ

đã dần thay đổi theo định hướng khích lệ Tác giả Nguyễn Sĩ Liêm nêu ra baphương pháp giáo dục cần phải có trong giai đoạn hiện nay là: phương pháp

uy quyền, phương pháp nêu gương và phương pháp khích lệ

Theo tác giả trong đời sống dân chủ hiện nay một phương pháp giáo dục

có hiệu quả cần phải lồng ghép các phương pháp giáo dục trên để không phảirơi vào tình trạng “nuông chiều quá sẽ làm cho trẻ trở nên ích kỷ, thụ động vàyếu hèn Nghiêm khắc quá sẽ dẫn đến tính lì lợm, bướng bỉnh ở trẻ”

Trên đây chỉ là một số nghiên cứu, một số các bài viết điển hình có liên quan

Trang 11

đến vấn đề nghiên cứu Chắc chắn sẽ còn rất nhiếu các nghiên cứu khác có liên quan đến vấn đề “phương pháp giáo dục con cái trong các gia đình” Nhưng điều kiện không cho phép nên người nghiên cứu chỉ đi qua vài vấn đề khái quát như vậy Qua những nghiên cứu điển hình trên ta thấy được phần nào tầm quan trọng cũng như tính cấp bách của vấn đề Song có một điều chúng ta nhận thấy rất rõ là mặc dù có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên cứu mà nghiên cứu không có sự trùng lặp với các nghiên cứu trước đó.Bởi qua các nghiên cứu ấy ta thấy các tác giả chủ yếu tập trung vào thực trạng, nguyên nhân, hậu quả cũng như các nội dung giáo dục con cái trong giađình để nhằm làm nổi bật chức năng giáo dục của gia đình.Ở đây người

nghiên cứu muốn tập trung vào phương pháp giáo dục con cái của các bậc cha

mẹ trong các gia đình nông thôn, trong đó chú ý hơn tới những biện pháp giáodục thiếu đúng đắn, thiếu khoa học Đặc biệt hơn là qua đó nhà nghiên cứu muốn thể hiện vai trò của nhà công tác xã hội trước các biện pháp giáo dục như vậy Và một lần nữa nhà nghiên cứu muốn khẳng định lại lí do lựa chọn

đề tài “công tác xã hội với phương pháp giáo dục con cái trong các gia đình nông thôn hiện nay” cho khoá luận tốt nghiệp của mình là hoàn toàn đúng đắn

IV Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

1 Phương pháp luận:

1.1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì khi xem xét, đánhgiá mỗi hiện tượng – sự kiện xã hội phải đặt nó trong mối liên hệ phổ biến vớicác hiện tượng – sự kiện khác Ngoài ra phải có quan điểm toàn diện khi đánhgiá về một vấn đề để tránh cách nhìn phiến diện

Áp dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào đề tài nghiêncứu của mình thì chắc chắn giáo dục con cái trong các gia đình nông thôn

Trang 12

hiện nay phải được đặt trong mối quan hệ khăng khít, bền chặt với các nhân

tố khác như: Đặc điểm cá nhân của cha mẹ, hoàn cảnh, thời điểm xảy ra biệnpháp giáo dục, bối cảnh đời sống văn hoá, giá trị chuẩn mực ở nông thôn, đờisống kinh tế của các gia đình thuộc diện nghiên cứu… Khi đặt các biện phápgiáo dục con cái của các bậc cha mẹ trong mối quan hệ biện chứng với cácyếu tố khách quan và chủ quan khác nhau như vậy thì chúng ta mới đánh giáchính xác và khách quan về vấn đề, để từ đó đưa ra giải pháp giải quyết mộtcách hiệu quả và thuyết phục hơn

1.2 Chủ nghĩa duy vật lịch sử

Cùng với chủ nghĩa duy vật biện chứng thì chủ nghĩa duy vật lịch sủ cóquan điểm: Khi nhìn nhận và đánh giá bất kỳ hiện tượng, vấn đề, thực trạngnào trong xã hội chúng ta luôn phải xác định được hoàn cảnh lịch sử cụ thể,nơi vấn đề đang tồn tại và chịu ảnh hưởng Bởi cùng một sự vật hiện tượngnhưng trong những bối cảnh lịch sử xã hội khác nhau thì cách nhìn nhận,đánh giá về hiện tượng, sự vật đó là khong giống nhau Và phương pháp giáodục con cái trong các gia đình nông thôn hiện nay không phải là một trườnghợp ngoại lệ Vận dụng quan điểm này trong đề tài người nghiên cứu muốnhướng đến việc phân tích và lí giải hành vi giáo dục con cái của cha mẹ trongđiều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá cụ thể Đồng thời cũng đặt vấn đề trongmối quan hệ so sánh với việc giáo dục con cái ở các thời điểm khác

2 Phương pháp nghiên cứu:

2.1 Phương pháp chọn mẫu

Trước hết người nghiên cứu tiến hành lập danh sách tất cả 120 hộ giađình của thôn 9 (địa bàn nhiên cứu) Căn cứ vào các gia đình có ít nhất mộtngười con trong độ tuổi từ 11 đến 15 Người nghiên cứu lấy mẫu là 60 mẫu.Trong đó có 30 đơn vị mẫu nghiên cứu thuộc về cha mẹ và 30 đơn vị mẫunghiên cứu thuộc trẻ em tương ứng với 30 gia đình Trong 30 đơn vị nghiên

Trang 13

cứu là cha mẹ thì phần lớn là làm nông nghiệp Riêng với mẫu nghiên cứu làtrẻ em, vì có những gia đình có những gia đình có nhiều trẻ em thoả mãn yêucầu lứa tuổi nên khi bốc thăm người nghiên cứu người nghiên cứu đã chú ýđến các yếu tố giới tính, lớp học, tuổi tác… Sau khi bốc thăm ta có các đơn vịmẫu nghiên cứu tương ứng như sau: Phân theo giới tính ta có 17 nam (chiếmkhoảng 56%), 13 nữ (chiếm khoảng 44%) Phân theo lớp học, ở lớp 6 có 4 em(chiếm khoảng 13%), lớp 7 có 5 em (chiếm khoảng 16%), lớp 8 có 10 em(chiếm khoảng 33%) và lớp 9 có 11 em (chiếm khoảng 38 %) Theo lứa tuổingười nghiên cứu chia ra các lứa tuổi từ 11 đến 13 có 16 em (chiếm khoảng53%), từ 13 đến 15 tuổi có 14 em (chiếm khoảng 47%).

Về cách thức chọn mẫu: Người nghiên cứu sử dụng phương pháp chọnmẫu ngẫu nhiên (cụ thể là chọn mẫu hệ thống khởi đầu bằng ngẫu nhiên) Tức

là lập danh sách đầy đủ 120 hộ dân cư, lấy mẫu 60 đơn vị Khoảng cách lấymẫu là 2 Ta lấy tổng dân cư chia cho số mẫu cần lấy và được hệ số k là 2.Dựa vào danh sách mẫu đầu tiên lấy ngẫu nhiên là số 2, tiếp theo là 4, 6,

8, 10 ,12 ,14…

2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân

Để thu thập được thông tin chính xác phục vụ cho nghiên cứu của mình.Đây là một phương pháp khá quan trọng, cung cấp cho đề tài nhiều thông tinquý báu Trong đề người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn 6 đối tượng, trong

đó có 3 đối tượng là cha mẹ và 3 đối tượng là trẻ em từ 11 đến 15 tuổi có cácđặc điểm cá nhân khác nhau

2.3 Phương pháp phân tích tài liệu

Nguồn tài liệu đã được người nghiên cứu sử dụng trong đề tài này gồm

có hai mảng Một là các tài liệu, bài viết, trích đoạn, các nghiên cứu, ý kiến

có liên quan đến giáo dục nói chung và giáo dục con cái trong các gia đìnhnông thôn nói riêng Thứ hai là nguồn tài liệu thu thập được từ địa phương,bao gồm các báo cáo tổng kết hằng năm của xã Vĩnh An và của thôn 9 (địa

Trang 14

bàn nghiên cứu trực tiếp).

2.4 Phương pháp quan sát

Đây cũng là phương pháp khá quan trọng góp phần để thu thập thêmnhững thông tin bổ sung cho quá trình nghiên cứu của đề tài Thông qua cảhai hình thức cả quan sát công khai và quan sát bí mật, người nghiên cứu tậptrung vào quan sát hành vi của cha mẹ (thái độ, cử chỉ, hành động, lời nói…)khi giáo dục con cái mình, trạng thái tâm lí cảm xúc của cha mẹ Mặt khácngười nghiên cứu cũng tiến hành quan sát những hành vi, cử chỉ của trẻ emkhi cha mẹ sử dụng hình thức giáo dục mềm dẻo, khoa học cũng như khi cha

mẹ sử dụng các biện pháp mang tính chất bạo lực để giáo dục con cái

V Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu:

1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác xã hội với phương pháp giáo dục con cái trong các gia đìnhnông thôn hiện nay

đi sâu tìm hiểu được vấn đề và để mọi người dễ hiểu, hiểu một cách sâu sắcbản chất của vấn đề chỉ là cha mẹ và các em có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi

Trang 15

3 Phạm vi nghiên cứu.

Thôn 9, xã Vĩnh An, huyện Vĩnh lộc, tỉnh Thanh Hoá

Tìm hiểu về tất cả các yếu tố thuộc địa bàn nghiên cứu liên quan và tác động đến vấn đề nghiên cứu

VI Giả thuyết nghiên cứu, khung lý thuyết:

1 Giả thuyết nghiên cứu:

- Thực trạng của vấn đề giáo dục con cái trong các gia đìnhnông thôn hiện nay còn nhiều bất cập

- Hành vi giáo dục của cha mẹ chịu tác động của nhiều yếu tố:Thu nhập của gia đình, nghề nghiệp, tuổi tác, học vấn, giới tính, bối cảnh vănhóa nông thôn hiện nay

- Hành vi giáo dục của cha me để lại nhiều hậu quả không nhưmong muốn

Trang 16

Hành vi của

con cái

Đặc điểm cá nhân của cha mẹ

Đặc điểm cá nhân của con cái

Hệ quả tích cực

Hệ quả tiêu cực

Thông qua đề tài nghiên cứu giúp người đọc hiểu một cách đầy đủ, cụthể hơn về các lý thuyết của bộ môn này nói chung cũng như bộ môn công tác

xã hội nói riêng Tức là chúng ta nhìn nhận vấn đề giáo dục con cái trong cácgia đình nông thôn sẽ khách quan, khoa học hơn

Góp phần vào việc làm sáng tỏa vai trò chức năng giáo dục gia đìnhtrong việc hình thành và phát triển nhân cách gốc của con người

Trang 17

2 Đóng góp thực tiễn

Từ góc độ công tác xã hội và xã hội học thông qua đề tài nghiên cứu này

sẽ giúp các nhà nghiên cứu có thêm tư liệu về vấn đề này

Mặt khác đề tài cũng giúp các bậc làm cha làm mẹ tiếp thu, tích luỹ thêmđược nhiều kiến thức về cách thức giáo dục con cái, từ đó có những phươngpháp giáo dục đúng đắn đối với con em mình Từ đó để thế hệ trẻ có điều kiệnphát triển một cách toàn diện cả về thể lực cũng như trí tuệ

Mặt khác đề tài cũng có thể dùng để làm tư liệu tham khảo cho cácchương trình giáo dục liên quan đến vấn đề này

VIII Bố cục của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, khuyến nghị, đề tài gồm có 3chương sau:

Chương I: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và các khái niệm liên quanđến vấn đề nghiên cứu

Chương II: Phương pháp giáo dục con cái trong các gia đình tại xãVĩnh An, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa

Chương III: Công tác xã hội với phương pháp giáo dục con cái trongcác gia đình tại xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa

Trang 18

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN VÀ CÁC KHÁI

NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I Tổng quan về địa bàn nghiên cứu:

1 Vài nét về điều kiện địa lý và kinh tế ở xã Vĩnh An:

Vĩnh An là một xã được công nhận xã miền núi từ năm 2006, thuộchuyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá.Trong huyện Vĩnh Lộc, Vĩnh An là xã cótốc độ phát triển kinh tế ở mức độ thấp so với các xã khác Tính đến năm

2007 số dân của toàn xã là 3850 người, trong đó cơ cấu dân số tương đối trẻ,lực lượng lao động dồi dào, phần lớn đều đi làm ăn xa

xã Định Công thuộc huyện Yên Định Có thể nói Vĩnh An là xã có một vị tríkhá thuận lợi để giao lưu kinh tế, văn hoá, chính trị, mặc dù xã ở hơi xa trungtâm của huyện

Trang 19

1.3 Về nông nghiệp, chăn nuôi

- Về nông nghiệp:

+ Diện tích cây lúa trong năm 2008 đạt 360 ha/360 ha

+ Diện tích cây ngô đạt 110 ha/ 114,5 ha

+ Diện tích cây đậu tương vụ thu + vụ đông đạt 21,34 ha

+ Diện tích rau màu các loại đạt 117 ha

+ Năng suất cây lúa bình quân đạt 55 tạ/ ha

+ Năng suất cây ngô bình quân đạt 54 tạ/ ha

+ Năng suất cây đậu tương đạt 15 tạ/ ha

+ Giá trị cây công nghiệp ngắn ngày và rau màu các loại đạt 1,5 tỷ đồng

- Về chăn nuôi:

Đang tập trung chỉ đạo xây dựng 5 mô hình kinh tế trang trại gồm:

+ 2 mô hình lúa – cá kết hợp, với diện tích trên 5 ha

+ 2 mô hình chăn nuôi lợn hướng nạc

+ 1 mô hình chăn nuôi bò dê và kết hợp sản xuất gạch xây dựng

Tập trung chỉ đạo tiêm vacxin phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầmnăm 2008 Trong năm 2008 không có dịch bệnh xảy ra, tạo điều kiện về mặtbằng, vốn vay cho các hộ đăng ký chăn nuôi theo mô hình kinh tế trang trại.+ Tổng đàn trâu bò 2000 con

+ Đàn lợn 3000 con

+ Đàn dê 1200 con

+ Đàn gia cầm 50000 con

+ Sản lượng cá thịt đạt 25 tấn

1.4 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ

Duy trì nghề khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác than đá,nung gạch và nung vôi

Trang 20

Tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng đất đai và hành lang pháp lý cho các

hộ có nhu cầu kinh doanh dịch vụ

Tổng thu nhập xã hội năm 2008 đạt 22 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầungười 6 triệu đồng/ người/ năm

Năm 2006 – 2007 ở ba cấp học có 878 học sinh: Trong đó

 Trường mầm non 195 cháu

 Trường tiểu học 278 học sinh

 Trường trung học cơ sở 310 học sinh

 Trường phổ thông trung học 95 học sinh

Trang 21

Chất lượng học tập năm 2006 – 2007:

Trường mầm non: Giỏi 35%, Khá 46%, Trung bình 19%

Trường tiểu học: Giỏi 19%, Khá 30%, Trung bình 49%

Trường trung học cơ sở: Giỏi 7%, Khá 25%, Trung bình 65%, Yếu 3%

Tỷ lệ học sinh xét tốt nghiệp lớp 9 có 95/112 em, đạt 93%

Tỷ lệ học sinh đậu tốt nghiệp THPT 22/32 em, đạt 75%

Học sinh thi vào các trường ĐH – CĐ và THCN đậu 20 em tăng hơn sovới các năm trước

2.2 Công tác y tế, dân số - gia đình và trẻ em

Thực hiện tốt chương trình y tế quốc gia, y tế dự phòng và công tácphòng chống dịch bệnh, không có dịch bệnh xảy ra trên địa bàn

Xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, đề nghị thẩm định,kiểm tra công nhận xã đạt chuẩn quốc gia về y tế Kết quả kiểm tra đạt94,3/100 điểm (đạt chuẩn)

Duy trì tốt công tác vệ sinh môi trường, kết hợp với trung tâm y tế dựphòng huyện cấp thuốc CloraminB xử lý nước sinh hoạt vùng ngập lụt vàphun thuốc diệt muỗi trên địa bàn xã đảm bảo an toàn không có dịch bệnh xảy

ra sau bão lụt

Tăng cường công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm: Chỉ đạo vàphối hợp tuyên truyền công tác phòng chống dịch tiêu chảy cấp, đảm bảo antoàn không có dịch xảy ra

Chỉ đạo làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, đặcbiệt là công tác khám chữa bệnh cho các đối tượng chính sách, bảo hiểm y tế,đối tượng hộ nghèo và các cháu học sinh Năm 2007, đã khám cho 4022 lượtngười, trong đó khám tại trạm là 3199 người, khám tại nhà 55 người, khám tạitrường 788 lượt người Tổng số bệnh nhân được điều trị là 2017 ca, trong đó

Trang 22

điều trị nội trú 38 ca, điều trị ngoại trú 1979 ca, bệnh nhân chuyển tuyến trên

là 720 ca

Phối hợp tuyên truyền thực hiện tốt chương trình phòng chốngHIV/AIDS trong tình hình mới theo chỉ thị số 54 của Ban Bí Thư TW Đảng.Thực hiện tốt công tác dân số - gia đình - trẻ em Tỷ lệ tăng dân số tựnhiên là 0,75% năm 2007, tỷ lệ người sinh con thứ 3 trở lên chiếm 8%, tỷ lệtrẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng chiếm 21,5% Tỷ lệ hộ gia đình sử dụngnước hợp vệ sinh đạt 75% Tuyên truyền phát động quyên góp quỹ bảo trợ trẻ

em năm 2007 gần 4 triệu đồng

2.3 Công tác văn hoá thông tin, thể dục thể thao

Duy trì thực hiện tốt nếp sống văn hoá mới ở khu dân cư, xây dựng nếpsống văn hoá lành mạnh, không có các tệ nạn xã hội

Duy trì thực hiện tốt việc cưới, việc tang và các lễ hội theo nếp sống vănhoá mới

Khai trương xây dựng hai làng văn hoá mới thôn 7 và thôn 9 Phối hợpvới UBND huyện kiểm tra công nhận làng văn hoá Nham Thôn cấp huyện,qua kiểm tra không đạt yêu cầu do tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên đang còn chiếm

tỷ lệ quá cao

Tổ chức lễ cắt băng khánh thành chùa Ngọc Sơn Linh Ứng phục vụ nhândân và du khách dâng hương vào các ngày lễ tết

Phối hợp với UB Mặt trận Tổ quốc xã bình xét gia đình văn hoá năm

2007 là 610 hộ/875 hộ, chiếm tỷ lệ 69,7%, có 285 hộ gia đình đạt danh hiệu “gia đình ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo”

Duy trì thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền, đảm bảo 100%nhân dân trong xã được nghe thông tin, chủ trương chính sách pháp luật củaĐảng và Nhà nước, kế hoạch chỉ đạo điều hành của địa phương, làm tôt côngtác tuyên truyền, cổ động trong các ngày lễ, tết năm 2007

Trang 23

Trên lĩnh vực phong trào thể dục thể thao: Duy trì luyện tập thể dục thểthao ở các môn như: cầu lông, bóng bàn, bóng chuyền và các môn điền kinh.Trong năm 2008 đã tổ chức thi đấu thể dục thể thao trong các ngày lễ, tết cóhơn 1200 người tham gia luyện tập thể dục thể thao, gia đình thể thao cũng cótrên 15 gia đình.

2.4 Công tác lao động việc làm, chính sách xã hội

UBND xã luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các lao động đi làm việc

có thời hạn ở nước ngoài và làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuấttrong và ngoài tỉnh

Tổng số lao động có thời hạn đi làm việc ở nước ngoài là 10 lao động,trong đó thị trường Đài loan có 03 ngưỜi, Malaixia có 02 người, Quata có 5người

Tổng số lao động đi làm tại các khu công nghiệp, khu chế xuất trong vàngoài tỉnh có gần 500 lao động, lao động thời vụ khoảng trên 300 lao động.Thực hiện tốt chính sách xã hội, chính sách người có công, thường xuyênlàm tố công tác đền ơn đáp nghĩa, thăm hỏi tặng quà các gia đình chính sáchvào dịp lễ tết, ngày thương binh liệt sỹ 27/07 Trợ cấp khó khăn đột xuất vớitổng tiền trên 50 triệu đồng

Lập danh sách đề nghị hưởng chế độ điều dưỡng cho 48 đối tượng chínhsách, với tổng số tiền đã chi trả là 32 triệu đồng, bình quân 650.000đ/người Hoàn thiện việc điều tra giải quyết chế độ cho 75 đối tượng tham giakháng chiến chống Pháp, chống Mỹ theo quyết định 98/CP của Chính phủ.Hoàn thiện hồ sơ cấp sổ ưu đãi trong giáo dục cho 45 đối tượng con thươngbinh, bệnh binh

Tổ chức điều tra, rà soát và đề nghị giải quyết chế độ cho 147 đối tượngtheo Nghị quyết số 67/CP của Chính phủ

Trang 24

Tổ chức điều tra khảo sát mức sống hộ chính sách, người có công vớicách mạng.

Công tác xoá đói giảm nghèo luôn được chú trọng, các hộ nghèo đượctạo điều kiện vay vốn ngân hàng để phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo.Năm 2007, giảm 25 hộ = 4%, số hộ nghèo còn lại là 237 chiếm tỷ lệ 28%.Tổng số hộ đã được cứu đối kịp thời trong và sau cơn bão số 5 là 163 hộ/

544 nhân khẩu…

Thông qua các điều, các lĩnh vực mà chính quyền địa phương và nhândân đã triển khai đã đạt được như trên chúng ta thấy rằng:

Trên lĩnh vực vị trí địa lý, cơ cấu hành chính, lãnh thổ địa bàn nằm cách

xã trung tâm gây khó khăn cho việc tham gia các hoạt động văn hoá – xã hội

do huyện tổ chức Nhưng bù vào đấy xã đã có nhiều hoạt động thiết thực, bổích Mặt khác lại có điều kiện để giao lưu với các huyện lân cận Đây cũng làmột lợi thế của xã

Về các lĩnh vực văn hoá – xã hội: Địa bàn cũng đã thực hiện tốt công tác

xã hội hoá giáo dục Duy trì và giữ vững phổ cập giáo dục tiểu học, trung học

cơ sở đúng độ tuổi Đặc biệt xã đã chỉ đạo xây dựng trường tiểu học đạttrường chuẩn Quốc gia mức độ I

Trên lĩnh vực y tế, gia đình, trẻ em: Địa bàn cũng đã triển khai và thựchiện tốt chương trình y tế Quốc gia, y tế dự phòng và công tác phòng chốngdịch bệnh sảy ra trên địa bàn

Trên lĩnh vực kinh tế xã cũng có nhiều hoạt động và việc làm thiết thực,

do vậy trong thời gian qua xã đã đạt được những kết quả nhất định Đây cũng

là một trong những điều kiện thuận lợi góp phần nâng cao đời sống vật chấtcho các hộ gia đình để họ có điều kiện hơn trong việc chăm sóc và dạy dỗ concái mình

Song ta thấy tỷ lệ sinh con thứ 3 ở xã vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao làm

Trang 25

cản trở phần nào việc chăm sóc và giáo dục trẻ em được tốt nhất Đây cũng làmột trong những hạn chế mà xã cần phải khắc phục trong thời gian tới.

II Các khái niệm liên quan:

1 Gia đình:

Nếu như chúng ta đi tìm hiểu về khái niệm gia đình thì ta sẽ thấy có rấtnhiều các khái niệm và định nghĩa đã được đưa ra

Gia đình là một “tế bào” của xã hội, ở những góc nhìn khác nhau người

ta có thể đưa ra nhiều cách định nghĩa khác nhau về gia đình Nhưng dù khácnhau đến đâu thì những định nghĩa ấy đều thừa nhận rằng, gia đình là mộtnhóm xã hội nhỏ nhất (tế bào xã hội) gồm những người liên kết với nhau bởinhững mối quan hệ hôn nhân, huyết thống Đó có thể là gia đình hạt nhân (vợchồng và con cái) hoặc gia đình, gồm nhiều thế hệ cùng chung sống (tam đạiđồng đường, tứ đại đồng đường, ngũ đại đồng đường…) Do đặc thù của cácmối quan hệ hôn nhân, huyết thống, kinh tế, giáo dục… Trong nội bộ gia đình

và với bên ngoài mà mỗi gia đình hình thành những yếu tố văn hoá riêng gópphần xây dựng nên nền văn hoá chung của làng xã và của toàn xã hội Giađình có nhiều chức năng, trong đó chức năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dụccon cái thành người có ích cho gia đình và xã hội là một trong những chứcnăng chính và quan trọng nhất Dấu ấn của văn hoá gia đình để lại trong nhâncách mỗi thành viên của nó là vô cùng sâu sắc và sẽ đi theo con người chođến khi nhắm mắt xuôi tay

Theo từ điển tiếng Việt: “Gia đình là một tập hợp những người có quan

hệ hôn nhân và huyết thống sống trong cùng một mái nhà” Đây là một trong

những định nghĩa ngắn gọn nhưng chưa đầy đủ và chặt chẽ về mặt khoa học.Định nghĩa về gia đình mà cho tới nay được các nhà khoa học, nhà nghiên

cứu đánh giá là đầy đủ, chính xác là: “Gia đình là một tập thể xã hội có từ hai

người trên cơ sở huyết thống, hôn nhân hay nghĩa dưỡng cùng sống với nhau.

Trang 26

Gia đình là cơ chế trung tâm của tất cả xã hội, con người là thể chế xã hội đặc biệt tập hợp nhau về thân phận, vai trò, chuẩn mực và giá trị để đạt tới các mục tiêu xã hội quan trọng”.

2 Giáo dục:

Chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất giáo dục là tổng thể nhữngviệc làm của thế hệ trước tiến hành nhằm chuyển giao cho thế hệ sau nhữngtri thức trong nền văn hoá mà loài người đã tích luỹ được, biến nó thành tàisản riêng và phương tiện thúc đẩy sự phát triển toàn diện nhân cách của mỗingười Hiệu quả của sự chuyển giao này (giáo dục) phụ thuộc vào hoạt độngcủa chính bản thân người được giáo dục trong những điều kiện, phương tiệnhiện có và đặc biệt là phụ thuộc vào phương pháp giáo dục hiện hành

Việc giáo dục thế hệ sau được thực hiện ở gia đình (giáo dục gia đình),thực hiện trong nhà trường (giáo dục nhà trường) và thực hiện ngoài xã hội(giáo dục xã hội) Việc giáo dục ở những nơi này đòi hỏi phải có những điềukiện và phương pháp phù hợp, tuy nhiên không cô lập với nhau, trái lại phảiphối hợp nhịp nhàng với nhau theo cơ chế phân công và hợp tác, nhằm đạt tớimột mục tiêu chung, thống nhất, được quy định của xã hội đương thời

Tóm lại, các tri thức trong nền văn hoá nhờ có giáo dục đã được chuyểngiao, biến thành vốn liếng riêng và nhờ đó làm nên sự phát triển của mỗi trẻ

em – những người quyết định sự phát triển trong tương lai của mỗi quốc gia,dân tộc

3 Nông thôn:

Nông thôn là danh từ để chỉ những vùng đất trên một lãnh thổ nhất định,

ở đó người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp

Cách khác: Nông thôn là khái niệm chỉ những khu vực dân cư sinh hoạt

có hoạt động nông nghiệp, dựa trên hoạt động nông nghiệp Thích ứng với

Trang 27

hoạt động nông nghiệp là một kiểu tổ chức sinh hoạt đặc thù của dân cư.Nông thôn là khái niệm chỉ vùng cư dân sinh hoạt bởi nghề nông vàđược quần cư theo đơn vị làng.

4 Gia đình nông thôn:

Qua các khái niệm gia đình và nông thôn đã được trình bày ta có thể hiểuđược phần nào về khái niệm gia đình nông thôn Khái niệm này có những đặctrưng cơ bản sau: Là những gia đình chủ yếu hoạt động nông nghiệp, sốngtrong đơn vị làng, cha mẹ thường có trình độ học vấn không cao, nghề nghiệpkém đa dạng hơn so với cha mẹ trong các gia đình ở đô thị

5 Giáo dục trong gia đình:

Giáo dục trong gia đình là một quá trình lâu dài từ khi đứa trẻ hình thành

ý thức đến khi tuổi già “Giáo dục gia đình có đặc trưng riêng là xuất phát từ

tình cảm và thông qua tình cảm, thái độ việc làm và hành vi ứng xử của người lớn mà lớp trẻ học tập cách sống và cách nghĩ”.

6 Trẻ em:

Trẻ em được định nghĩa theo nhiều cách khac nhau, tuỳ theo cách tiếpcận của từng khoa học cụ thể (Triết học, Xã hội học, Tâm lý học…) Cáichung trong tất cả các định nghĩa đó là ở chỗ đều thừa nhận rằng, trẻ emkhông phải là người lớn thu nhỏ lại, mà trẻ em và người lớn là những giaiđoạn phát triển khác nhau, đánh dấu những chặng đường phát triển khác nhaucủa một thế hệ người (từ lúc sinh ra đến khi chết) Điều đó có nghĩa là trẻ emvận động và phát triển theo quy luật riêng Cần chú ý rằng, Bộ Luật Lao Độngchỉ sử dụng khái niệm người lao động chưa thành niên đến người lao độngdưới 18 tuổi

Theo luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của nước ta thì trẻ em làngười dưới 16 tuổi Trong lứa tuổi này, Tâm lý học lại chỉ ra nhiều giai đoạn

Trang 28

phát triển tương ứng với những độ tuổi sau:

 Tuổi sơ sinh: Dưới 1 tuổi

 Tuổi hài nhi: Từ 1 đến 3 tuổi

 Tuổi mẫu giáo nhỏ: Từ 3 đến 5 tuổi

 Tuổi mẫu giáo lớn: Từ 6 đến 7 tuổi

 Tuổi nhi đồng: Từ 6,7 đến 11 tuổi

 Tuổi thiếu niên: Từ 11 đến 15 tuổi

 Tuổi thanh niên mới lớn: Từ 15 đến 18 tuổi

Tóm lại sự phát triển của trẻ em ở những độ tuổi khác nhau là khác nhau.Mặt khác cần thấy rằng, trẻ em ở mỗi thời đại lịch sử khác nhau đượctiếp thu những nền văn hoá khác nhau

Vì vậy có thể khẳng định rằng, trẻ em rất khác nhau không chỉ ở độ tuổi

mà còn khác nhau bởi thời đại, bởi nền văn hoá mà nó được thụ hưởng thôngqua hoạt động của chính nó Không có trẻ em chung chung, chỉ có trẻ em củamột thời đại ở một độ tuổi cụ thể Chính vì vậy, người lớn phải nhìn nhận trẻ

em bằng con mắt biện chứng, không thể lấy quá khứ, lấy lúc chính mình còn

là trẻ con để làm chuẩn cho con cháu hiện nay

Theo công ước Quốc tế về Quyền trẻ em khái niệm trẻ em được hiểu như

sau: “Trong phạm vi của công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18

tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.

Còn theo định nghĩa của Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam

khái niệm này được hiểu là: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi, trừ

trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định độ tuổi thành niên sớm hơn”.

Trong đề tài này trẻ em được hiểu theo định nghĩa của Uỷ ban bảo vệ vàchăm sóc trẻ em Việt Nam

Trang 29

Ngoài ra khách thể nghiên cứu của đề tài là trẻ em trong độ tuổi từ 11đên 15 tuổi, do vậy trẻ em trong giai đoạn này còn đang ở trong giai đoạn vị

thành niên Theo tổ chức y tế thế giới WTO “vị thành niên là một giai đoạn

chuyển tiếp của cuộc đời từng cá nhân, đó là giai đoạn mà: Sự phát triển của

cá nhân kể từ khi những đặc tính giới tính bắt đầu xuất hiện cho đến khi những đặc tính ấy hoàn toàn hoàn chỉnh; Chính sự phát triển tâm lý và những đặc điểm cá nhân từ một đứa trẻ thành một người trưởng thành; Sự chuyển tiếp từ giai đoạn phụ thuộc đến giai đoạn hoàn toàn độc lập về kinh tế

và xã hội Cũng theo tổ chức y tế thế giới, vị thành niên là những người trong

độ tuổi từ 10 đến 19 tuổi”

 Vị thành niên sớm: Từ 10 đến 14 tuổi

 Vị thành niên trung bình: Từ 15 đến 17 tuổi

 Vị thành niên muộn: Từ 18 đến 19 tuổi

Ở Việt Nam theo hội kế hoạch hoá gia đình Việt Nam độ tuổi vị thànhniên là từ 10 đến 19 tuổi, trong đó vị thành niên sớm từ 10 đến 13 tuổi; vịthành niên trung bình từ 14 đến 16 tuổi; vị thành niên muộn từ 17 đến 19 tuổi.Theo vụ bảo vệ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hoá gia đình – Bộ Y tế, vịthành niên gồm hai giai đoạn: Giai đoạn 1 từ 10 đến 14 tuổi; Giai đoạn 2 từ

15 đến 19 tuổi

7 Công tác xã hội:

Định nghĩa về công tác xã hội có rất nhiều quan niệm khác nhau, nhiềuđịnh nghĩa khác nhau đã được đưa ra Chúng ta có thể tham khảo một số địnhnghĩa sau:

 Công tác xã hội là sự vận dụng các lý thuyết khoa học về hành vicon người và hệ thống xã hội nhằm khôi phục lại các chức năng xã hội vàthúc đẩy sự thay đổi liên quan đến vị trí, địa vị, vai trò của cá nhân, nhóm,cộng đồng người yếu thế nhằm tới sự bình đẳng và tiến bộ xã hội

 Công tác xã hội là một dịch vụ đã chuyên môn hoá, góp phần giải

Trang 30

quyết những vấn đề xã hội liên quan đến con người nhằm thoả mãn các nhucầu căn bản của hững cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội Mặt khác góp phầngiúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của chính mình.

 Theo Nguyễn Thị Oanh (người đã có nhiều năm kinh nghiệmnghiên cứu, giảng dạy và thực hành công tác xã hội ở Việt Nam, nguyên làgiảng viên Đại Học Mở Bán Công TP.HCM) định nghĩa: Công tác xã hội làhoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao, được thực hiện theo các nguyêntắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân và nhóm người trong việcgiải quyết các vấn đề đời sống của họ; Qua đó công tác xã hội theo đuổi mụctiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội Công tác xã hội làhoạt động thực tiễn bởi họ luôn làm việc trực tiếp với đối tượng, với nhómngười cụ thể và mang tính tổng hợp cao, bởi người làm công tác xã hội phảilàm việc với nhiều vấn đè khác nhau như: Tệ nạn xã hội, vấn đề người nghèo,vấn đề gia đình Công tác xã hội không giải quyết mọi vấn đề của con người

và xã hội mà chỉ nhằm vào những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống hằng ngàycủa con người Đó là an sinh xã hội hay phúc lợi xã hội, đồng thời hỗ trợ conngười giải quyết vấn đề đời sống cụ thể của họ nhằm đem lại sự ổn định, hạnhphúc cho mọi người và phát triển cho cộng đồng xã hội

8 Phương pháp giáo dục:

Phương pháp giáo dục (hay còn gọi là phương pháp dạy học,phương pháp giảng dạy, giáo dục sư phạm, sư phạm) là cách thức sử dụng cácnguồn lực trong giáo dục như giáo viên, trường lớp, công cụ học tập, cácphương tiện vật chất để giáo dục người học

Trang 31

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC CON CÁI TRONG CÁC GIA ĐÌNH TẠI XÃ VĨNH AN, HUYỆN VĨNH LỘC,

TỈNH THANH HÓA

I Nội dung/ quan niệm của cha mẹ về giáo dục con cái trong các gia đình

1 Nội dung giáo dục:

Gia đình là tế bào tuy nhỏ bé nhưng vô cùng quan trọng Đó là cái nôinuôi dưỡng, là môi trường giáo dục giúp mỗi người hình thành nên nhân cách,hoàn thiện nhân cách của mình Gia đình từ khi xuất hiện hình thành đã được

xã hội, tự nhiên trao cho trách nhiệm đảm đương những chức năng vô cùngquan trọng : Chức năng tái sản xuất ra con người; Chức năng văn hóa; Chứcnăng kinh tế; Chức năng giáo dục; Chức năng xã hội Trong các chức năng cơbản ấy thì chức năng giáo dục có một vị trí và ý nghĩa rất to lớn Vậy để hiểuhơn được về chức năng giáo dục trước hết chúng ta có thể đi tìm hiểu về cácnội dung cơ bản mà chức năng giáo dục con cái cần phải thực hiện:

1.1 Giáo dục đạo đức, giá trị, chuẩn mực truyền thống

1.2 Giáo dục tri thức, kinh nghiệm sống

1.3 Giáo dục định hướng nghề nghiệp

1.4 Giáo dục định hướng hôn nhân (giới tính)

Sau đây là quan niệm của các bậc làm cha làm mẹ về những nội dunggiáo dục con cái trong các gia đình nông thôn:

2 Quan niệm của các bậc làm cha làm mẹ về các nội dung giáo dục con cái trong gia đình:

2.1 Quan niệm về giáo dục giá trị đạo đức, chuẩn mực truyền thống

Đạo đức là giá trị chuẩn mực Trong mọi xã hội, đạo đức là cái gốc củanhân cách con người Gia đình và xã hội nông thôn càng coi trọng, quan tâm

Trang 32

răn dạy con cái là làm con phải ngoan ngoãn lễ phép, ăn nói cư xử có trên có

dưới “gọi dạ bảo vâng” có tính hướng thiện, sống trung thực, có lòng nhân ái,

lễ nghĩa, chứ không ích kỷ lạnh nhạt, vô tình với những người xung quanh,biết rèn luyện tính cần cù dẻo dai, vượt khó giúp đỡ người khác… Một giađình gọi là danh giá, có truyền thống đạo lý thì trước hết ông bà, bố mẹ lànhững người đức độ, con cháu phải ngoan ngoãn, nết na và sống có tình nghĩaxóm làng Một môi trường giáo dục gia đình tốt có nghĩa là những người lớn,ông bà, bố mẹ, anh chị em phải có những phẩm chất tốt

Giáo dục gia đình trước hết là giáo dục đạo đức cho con cái mà không aikhác là phải thông qua ông bà, cha mẹ, anh chị em và những người trong giađình Những người ấy phải được chuẩn bị hay phải được giáo dục để dạy, đểgiáo dục Nhận thức của họ về đạo đức, giá trị, chuẩn mực chính là nhữngkhuôn mẫu hành vi, tác phong tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình

thành nhân cách con cái Ông bà thường nói con “con nhà tông không giống

lông cũng giống cánh” hay “giỏ nhà ai quai nhà ấy” Sản phẩm của gia đình

nào cũng mang đậm dấu ấn của gia đình ấy Đó là những quan niêm của cácbậc làm cha làm mẹ về nội dang giáo dục đạo đức và nhưng giá trị chuẩn mựctruyền thống, qua đây ta thấy nhưng người có trách nhiệm với con cái họ đềumong muốn con họ trở thành những người con có hiếu, có đức, có nhữngphẩm chất tốt đẹp như họ mong muốn

2.2 Quan niệm về giáp dục tri thức

Trong xã hội dù ở thời đại nào thì những người có tài có trí cũng đềuđược mọi người coi trọng, đề cao Sau phẩm chất đạo đức và đồng thời vớiđạo đức là “tài, trí” Sự kết hợp giữa đức và tài tạo nên sự hoàn hảo trongnhân cách con người và cũng là mục tiêu của mọi nền giáo dục mà con người

hướng tới Bác Hồ của chúng ta đã dạy: “Có tài mà không có đức là người vô

dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”.

Trang 33

Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, đất nước có nhiều chuyển biếntrong sự nghiệp đổi mới Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi,bồi dưỡng và phát triển nhân tài phục vụ cho đất nước Mục tiêu của nền giáo

dục đào tạo là xây dựng con người mới “vừa hồng vừa chuyên” Nhờ thế mà

nền giáo dục nước nhà trong thời gian qua đã đạt được kết quả khả quan Độingũ tri thức với trình độ chuyên môn cao ngày càng tăng

Trong mỗi thời đại và dù ở thời đại nào tri thức đều đóng vai trò rất quantrọng, đều được xem như một mục tiêu giáo dục con người cần đạt đến Nếukhông có tri thức thì cũng đồng nghĩa với việc con người tồn tại một cách thụđộng, phụ thuộc hoàn toàn vào thế giới tự nhiên Vậy tri thức là gì? Có nhiềucách hiểu nhưng chúng ta có thể hiểu theo nghĩa rộng nhất là hệ thống kiếnthức tổng hợp về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học kỹ thuật vàvăn hoá Vậy để có được tri thức chúng ta phải làm gì? Không cách nào khác

chúng ta phải “học” Khái niệm học ở đây phải hiểu theo nghĩa đầy đủ nhất.

“Học” bằng con đường chính thức, phi chính thức…Có thể nói cách khác

“học” thông qua quá trình xã hội hoá và cá thể hoá Trong quá trình ấy giáo

dục gia đình đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành nhân cáchgốc của mỗi người Lĩnh hội hệ thống tri thức cho phép trẻ có một khả năngsuy xét về hiện tại, quá khứ và tương lai để khi trưởng thành có khă năng tựchủ độc lập trong cuộc sống, để không chỉ thích nghi, tồn tại và phát triển, màcòn có khả năng sống vững vàng, tự tin trong sự biến đổi không ngừng của xãhội

Song không phải nền giáo dục ở đâu cũng có điều kiện phát triển thuậnlợi, nền giáo dục tri thức ở nông thôn nói chung và ở địa bàn nghiên cứu của

đề tài nói riêng còn gặp khá nhiều khó khăn, do ở đây còn chưa đủ điều kiệnphương tiện, trang thiết bị phục vụ cho sự nghiệp giáo dục Mặt khác từ phíagia đình thì trình độ của bố mẹ còn hạn chế, điều kiện kinh tế của các gia đình

ở nông thôn còn nhiều bất cập

Trang 34

Các gia đình thuộc địa bàn xã Vĩnh An, cụ thể là những gia đình thuộcdiện nghiên cứu, khi chúng tôi tìm hiểu thì họ đều có mong muốn và nguyệnvọng là con cái họ được học hành và thành đạt Tỷ lệ cha mẹ mong muốn concái được học cao chiếm 75% trong tổng số mẫu nghiên cứu (theo kết quả thuđược từ phiếu điều tra) Từ mong muốn như vậy mà các bậc cha mẹ đã tạonhiều điều kiện cho con cái mình học tập, lĩnh hội tri thức, dành thời giangiúp con học, cho con học thêm, cố gắng về kinh tế, nâng cao thu nhập đểsắm đồ dùng học tập và cho con học thêm…

2.3 Quan niệm của cha mẹ về giáo dục định hướng nghề nghiệp

Cùng với việc nhận thấy tầm quan trọng của tri thức, đầu tư cho con cáihọc hành thì việc định hướng nghề nghiệp cho con cũng là một nội dungkhông thể thiếu của giáo dục gia đình Ngày nay dù ở môi trường nào (nôngthôn hay thành thị) thì các bậc cha mẹ không chỉ coi trọng và quan tâm tớivấn đề học hành của con cái, mà mong muốn và mục đích cao hơn của họ làmuốn con học cao để sau này kiếm được một nghành nghề ổn định, có thunhập cao và cũng từ đó mà có cơ may thăng tiến trong xã hội, thoát khỏi cảnh

quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” mà không đủ ăn như bố mẹ.

Đây là những mong muốn và mục đích chính đáng mà các bậc làm cha làm

mẹ cũng cố gắng để đạt tới Mặt khác khi con cái bước vào tuổi trưởng thànhchúng thường xuyên mong đợi ở người cha, người mẹ những ý kiến cần thiết

và bổ ích trong những bước ngoặt của cuộc đời Vì vậy trong dự định tươnglai và hướng nghiệp, con cái luôn coi cha mẹ là những người thầy gần gũi,thân thiết giàu kinh nghiệm có thể chia sẻ với chúng Điều đó cho chúng tathấy vì sao trong nhiều gia đình con cái hướng theo nghề nghiệp của bố mẹhoặc chọn một nghề nào đó bố mẹ thích hoặc bố mẹ gợi ý Có nhiều trườnghợp trong diện nghiên cứu khi được chúng tôi hỏi thì họ trả lời là con cái phụthuộc hoàn toàn vào quyết định của bố mẹ trong lĩnh vực này

Trang 35

Qua khảo sát thu thập thông tin ta thấy trong các gia đình (gia đình hạt

nhân) thì người quyết định việc định hướng nghề nghiệp cho con thuộc về cả

người cha và người mẹ trong gia đình Vậy ở các gia đình họ muốn cho con

theo nghành nghề nào? Theo phiếu điều tra và phỏng vấn của chúng tôi thì

các bậc cha mẹ có mong muốn con mình theo các nghành như: Giáo viên, bác

sỹ, quân sự, kỹ sư xây dựng – những nghề này phải gắn liền với học vấn cao,

có cơ may thăng tiến trong xã hội, dễ có địa vị, vị thế xã hội… Điều đó được

thể hiện qua biểu đồ dưới đây:

Biểu đồ thể hiện định hướng nghề nghiệp cho con cái của các bậc cha mẹ

Qua biểu đồ ta thấy: tỷ lệ các bậc cha mẹ muốn con mình theo nghành

Giáo viên là cao nhất (30%), thứ hai là cha mẹ muốn con theo nghành Bác sỹ

(23%), tiếp đến là cha mẹ muốn con theo nghành quân sự (16%), và cuối

cùng là tỷ lệ các bậc cha mẹ muốn con theo nghành Kỹ sư xây xây dựng

(13%) Còn lại khoảng 18% tỷ lệ các bậc cha mẹ trong mẫu điều tra hướng

con cái mình theo các nghành khác

Như vậy, kỳ vọng của các bậc cha mẹ trong các gia đình hạt nhân hàm

chứa một thang giá trị mới như chọn các nghề có uy tín, có nhiều ưu đãi của

nhà nước, rất phù hợp với xu thế phát triển kinh tế - xã hội của xã hội nông

thôn nói chung và ở địa bàn nghiên cứu nói riêng

Tóm lại định hướng nghề nghiệp có mối quan hệ với định hướng xã hội

%

Ngành nghề

Trang 36

(lựa chọn vị thế - vai trò xã hội) Gần như chúng có mối quan hệ biện chứngvới nhau, cái này đồng thời là phương tiện, là mục đích của cái kia Trong giađình giáo dục và xã hội hoá trẻ em luôn gắn liền với quá trình định hướngnghề nghiệp, định hướng tương lai cho trẻ Thực hiện chức năng ấy vừa lànghĩa vụ vừa là quyền lợi của các bậc cha mẹ, vừa là bổn phận với nền giáodục, xa hơn nữa là trách nhiệm đối với sự tồn tại và phát triển của đất nước.

2.4 Quan niệm của các bậc cha mẹ về giáo dục định hướng hôn nhân

Từ xưa đến nay truyền thống của dân tộc ta vốn rất coi trọng chuyện hônnhân, bởi đây là “hạnh phúc trăm năm”, là “việc hệ trọng”, là chuyện đại sựcủa cả đời người Chuyện ly hôn trong hôn nhân là chuyện bất thường, sẽ bị

dư luận xôn xao, chê cười… nhất là ở nông thôn (xã hội hầu như khép kín) lyhôn làm hại đến thanh danh của người vợ hay người chồng và ảnh hưởng đến

bố mẹ, gia đình, dòng họ, làng xã…Điều này khiến các bậc trong mỗi giađình khi con cái đến tuổi thành niên đều không thể không quan tâm lo lắng,giáo dục và định hướng về chuyện hôn nhân cho chúng được Định hướnghôn nhân nếu xét theo góc độ giáo dục thì đây cũng là một nội dung khá quantrọng của giáo dục gia đình, bởi lẽ hôn nhân là sự biểu hiện một hệ chuẩnmực và giá trị đặc trưng của một nền văn hoá, mang màu sắc tập quán phongtục tâm lý; Ở phạm vi hẹp nó mang đặc trưng của một tiểu văn hoá thể hiệnnếp nhà gia phong, gia tộc và đương nhiên định hướng hôn nhân như nhữnggiá trị chuẩn mực khác phải chịu sự tác động của các yếu tố biến đổi xã hội

Ở địa bàn nghiên cứu khi chúng tôi tiến hành phỏng vấn, điều tra thì hầuhết các bậc cha mẹ đều rất coi trọng việc định hướng hôn nhân cho con cái.Trong việc hỏi chồng hỏi vợ cho con mình họ rất coi trọng tuổi tác, gia đình,trước khi đi đến kết hôn họ phải có thời gian thử thách gia đình bên kia, họ để

ý cách đối nhân xử thế của các thành viên Mặt khác khi con cái họ chuẩn bịbước vào tuổi dựng vợ gả chồng họ dặn dò, dạy dỗ con họ phải cư xử thế nào

Trang 37

cho hợp đạo lý, tránh để bố mẹ đẻ phải mang tiếng là không biết cách dạycon Đặc biệt là con gái khi đi lấy chồng được cha mẹ trang bị cho những kiếnthức tương đối kĩ về bổn phận làm dâu…

Qua đây ta thấy mặc dù là ở nông thôn, điều kiện kinh tế còn khó khăn,trình độ của các bậc làm cha làm mẹ phần lớn còn hạn chế Nhưng nhờ vốnkinh nghiệm của các thế hệ đi trước, nhờ tiếp thu được nền văn hoá địaphương, kết hợp với những hoạt động, những phương tiện thông tin đại chúngđược phổ biến hằng ngày… Họ đã thể hiện rõ phần nào đấy trách nhiệm,nghĩa vụ của các bậc làm cha làm mẹ góp phần làm rõ hơn chức năng giáodục trong gia đình

II Thực trạng của phương pháp giáo dục con cái trong các gia đình thuộc mẫu nghiên cứu:

1 Các gia đình có phương pháp giáo dục con cái đúng đắn, khoa học:

Để hiểu được một cách tương đối chính xác về các gia đình (thuộc mẫunghiên cứu) giáo dục con cái bằng những biện pháp đúng đắn khoa học, trướchết người nghiên cứu tiến hành một cuộc khảo sát, điều tra thực địa, tìm hiểu

về điều kiện kinh tế, nghề nghiệp, độ tuổi của các bậc cha mẹ Bởi vì các yếu

tố này có tác động rất lớn tới hành vi giáo dục của cha mẹ với con em mình

Ở phần tổng quan về vấn đề nghiên cứu cho thấy trong mẫu điều tra cótới 60% các gia đình thuần nông, còn lạ là buôn bán nhỏ, cán bộ, giáo viên…

Mà ở nông thôn ta thấy trẻ em thường phải tham gia lao động giúp gia đìnhsớm hơn ở thành thị Nhiều bậc cha mẹ cho là ở lứa tuổi từ 11 đến 15 khôngphải là lứa tuổi nhỏ nữa Do vậy họ không dành nhiều thời gian để giáo dụcdạy dỗ phẩm chất đạo đức cho con mình… Với các gia đình làm các nghềkhác như cán bộ, giáo viên… do lĩnh vực hiểu biết của họ về lĩnh vực này cókhác hơn, mặt khác họ lại có nhiều thời gian hơn, nên họ quan tâm hơn tới việcgiáo dục phẩm chất đạo đức

Trang 38

20%

10%

60%

Nông nghiêp buôn bán nhỏ Giáo viên Cán bộ

Biểu đồ thể hiện cơ cấu nghề nghiệp của các bậc cha mẹ

Qua hai trường hợp thuộc diện nghiên cứu mà chúng tôi đã phỏng vấn cóthể thấy rằng, cùng một vấn đề, cùng một lĩnh vực là giáo dục con cái nhưnghai gia đình này lạ có những quan điểm trái ngược nhau về cách thức giáodục Điều đó cho thấy, yếu tố nghề nghiệp, điều kiện kinh tế gia đình có tácđộng nhiều tới vấn đề nghiên cứu Không những thế mà các yếu tố như: Trình

độ, tuổi tác, giới tính… của các bậc cha mẹ cũng ảnh hưởng không nhỏ đếnkết quả giáo dục con cái mình Do đặc trưng của địa bàn nghiên cứu, vốn làmột vùng nông thôn còn chưa phát triển, phần lớn các gia đình là thuần nông,trình độ của các bậc làm cha làm mẹ còn hạn chế Do vậy các gia đình giáodục con cái bằng biện pháp đúng đắn, khoa học chiếm tỷ lệ không cao Theokết quả điều tra của chúng tôi chỉ có khoảng 30% thuộc diện nghiên cứu cóbiện pháp giáo dục hợp lý, còn lại phần nhiều là sử dụng các hành vi mangtính chất bạo lực để giáo dục con em mình (cả bằng lời nói và hành động).Trong số 30% gia đình có cách giáo dục con cái có hiệu quả, có những gia

Trang 39

đình để lại cho người nghiên cứu khá nhiều ấn tượng vì nếp sống gia đình của

họ, vì biện pháp giáo dục của họ rất đơn giản mà sâu sắc và hiệu quả Đó làcác gia đình đã giáo dục con cái bằng biện pháp nêu gương Tức là trong giađình, người lớn luôn sống với nhau bằng những cử chỉ, những lời nói vănminh, văn hóa, từ đó mà con cái họ đã để ý, tiếp thu, thực hiện theo nếp sốngcủa họ Những gia đình như vậy thường con cái họ chăm ngoan, học giỏi, lạihiếu thảo với cha mẹ, lễ phép với người lớn, trong mẫu nghiên cứu có khoảng5% số gia đình như vậy Bên cạnh đó còn có những gia đình đã cố gắng hếtsức trong việc xây dựng kinh tế gia đình Bởi họ cho rằng nếu gia đình vữngmạnh về kinh tế thì họ sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc chăm sóc, nuôidưỡng và cho con em ăn học tới nơi tới chốn, bằng bạn bằng bè Đây cũng làmột trong những việc làm khá thiết thực, có hiệu quả mà chúng tôi thấy ở địaphương Song những gia đình làm được như vậy còn quá ít, khoảng 5% trong

số 30% các gia đình có biện pháp giáo dục đúng đắn, khoa học

Một điều dặc biệt là trong mấy năm gần đây có một trường hợp là cựuchiến binh ở địa phương đã có những phương pháp và việc làm khá thiết thực,

có hiệu quả trong quá trình giáo dục con cháu Bác Năm vốn là một bộ đội vềhưu, bác đã quan tâm rất đặc biệt tới thế hệ tương lai Bác đã đưa ra sáng kiến

là tổ chức các hoạt động lao động và và văn hóa để giáo dục con cháu tronggia đình Hằng ngày vào buổi tối bác Năm thường tổ chức tập kèn tập hát chocác cháu vui chơi giải trí, tạo không khí sinh hoạt vui tươi, lành mạnh chothanh thiếu niên, góp phần hạn chế giảm bớt các tệ nạn xã hội ở địa phương.Nhờ đó mà tình nghĩa xóm làng ngày càng thắt chặt, ý thức cộng đồng ngàycàng phát triển tốt, và nhất là các bậc cha mẹ yêu thương và hiểu con cái mìnhhơn

2 Các gia đình nuông chiều con cái quá mức:

Bên cạnh các gia đình có phương pháp và cách thức giáo dục con cái

Trang 40

đúng đắn, khoa học có hiệu quả, thì còn có những gia đình giáo dục con mìnhbằng cách nuông chiều, dung túng những sai trái, những hành vi vi phạm củacon mình Khi con cái muốn gì, cần gì họ dáp ứng mà không biết mục đích,không biết, hoặc không cần quan tâm xem chúng làm gì.Thậm chí có nhữnggia đình buôn bán, họ để cả chìa khóa tủ tiền cho con mình, tự do tiêu tiềnthoải mái Hậu quả không có sự kiểm soát của bố mẹ nên chúng đi vào conđường ăn chơi xa đọa, sa lãng việc học hành, bỏ học đi chơi với đám bạn bè

hư hỏng Thế mà bố mẹ chúng đâu có hay biết, đến lúc phát hiện ra tình hìnhhọc tập của con mình thì đã muộn Song đây chỉ là những trường hợp cá biệttrong diện nghiên cứu, tỷ lệ các gia đình nuông chiều con cái ở địa bàn nghiêncứu là không đấng kể

3 Các gia đình sử dụng hành vi bạo lực khi giáo dục con cái:

Khi tiến hành điều tra, nghiên cứu về vấn đề này, người nghiên cứu đã

đặt ra câu hỏi Tại sao lại có bạo lực khi giáo dục con cái? Yếu tố nào đã tác

động tới hành vi bạo lực của cha mẹ với con mình? Đây là một vấn đề nangiải buộc chúng tôi phải đi sâu tìm hiểu địa bàn, tìm hiểu từng gia đình vì đây

là một khía cạnh, một nội dung quan trọng của đề tài mà người nghiên cứumuốn đề cập tới

Trước hết người nghiên cứu đi tìm hiểu về quy mô gia đình Qua khảosát ta thấy các gia đình trong mẫu điều tra phần lớn là có từ 3 con trở lên, tỷ lệgia đình có một con không nhiều, thậm chí là rất ít, tỷ lệ gia đình có 3 con làcao nhất khoảng 40% Do ở nông thôn phong tục tập quán chưa được tiến bộ,trình độ của người dân còn nhiều hạn chế, do vậy mà tỷ lệ gia đình 3 con vẫncòn cao Song phiếu điều tra của chúng tôi cũng cho thấy tỷ lệ các gia đình có

2 con cũng khá cao khoảng 35%, phần lớn các gia đình này là các gia đìnhtrẻ, điều này phản ánh phần nào thành công của công tác tuyên truyền về dân

số kế hoạch hóa gia đình cũng như nhận thức về số con phù hợp trong mỗi gia

Ngày đăng: 13/01/2016, 06:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Chí An, năm 1999, Nhập môn công tác xã hội cá nhân, Nxb Đại Học Mở Bán Công TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn công tác xã hội cá nhân
Tác giả: Lê Chí An
Nhà XB: Nxb Đại Học Mở Bán Công TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1999
2. Ngô Thị Ngọc Anh, Hoàng Thị Tây Ninh, Phòng ngừa hành vi sai lệch ở vị thành niên từ góc độ giáo dục gia đình, Tạp chí khoa học về phụ nữ, số 3 năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng ngừa hành vi sai lệch ở vị thành niên từ góc độ giáo dục gia đình
Tác giả: Ngô Thị Ngọc Anh, Hoàng Thị Tây Ninh
Nhà XB: Tạp chí khoa học về phụ nữ
Năm: 2004
3. Võ Thị Cúc, năm 1997, Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em
Tác giả: Võ Thị Cúc
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1997
5. Tống Văn Chung, năm 2001, Xã hội học nông thôn, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học nông thôn
Tác giả: Tống Văn Chung
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2001
6. GS.TS Phạm Tất Dong, năm 2001, Gia đình và cộng đồng với sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và cộng đồng với sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Nhà XB: Nxb Hà Nội
7. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng, năm 2001, Xã hội học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
8. Lê Tiến Hùng, Quyền uy của cha mẹ trong giáo dục gia đình, Tạp chí gia đình và trẻ em, số 2 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền uy của cha mẹ trong giáo dục gia đình
9. Nguyễn Sĩ Liêm, Suy nghĩ về nội dung và phương pháp giáo dục gia đình ở nước ta hiện nay, Tạp chí khoa học về phụ nữ số 1/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về nội dung và phương pháp giáo dục gia đình ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Sĩ Liêm
Nhà XB: Tạp chí khoa học về phụ nữ
Năm: 2001
11. Mai Quỳnh Nam, năm 2004, Trẻ em gia đình xã hội, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trẻ em gia đình xã hội
Tác giả: Mai Quỳnh Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
12.Vũ Thị Nho, năm 1999, Tâm lý học phát triển, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Tác giả: Vũ Thị Nho
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1999
13.Nguyễn Thị Oanh, năm 1998, Công tác xã hội đại cương, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội đại cương
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1998
14.Nguyễn Linh Khiếu, Vai trò của giáo dục gia đình trong phòng ngừa tệ nạn xã hội, Tạp chí khoa học về phụ nữ, số 3 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của giáo dục gia đình trong phòng ngừa tệ nạn xã hội
15. Lê Văn Phú, năm 2004, Công tác xã hội, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội
Tác giả: Lê Văn Phú
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2004
16. Phạm văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh, năm 2001, Phương pháp nghiên cứu xã hội học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Phạm văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
17. GS Lê Thi, Gia đình và vấn đề xã hội hóa của trẻ em, xây dựng nhân cách con người, Tạp chí khoa học về phụ nữ số 2 năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và vấn đề xã hội hóa của trẻ em, xây dựng nhân cách con người
18. GS Lê Thi, Vai trò của người cha và người mẹ trong việc nuôi dạy con cái, Tạp chí khoa học về phụ nữ, số 1 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của người cha và người mẹ trong việc nuôi dạy con cái
19. GS Lê Thi, năm 1997, Vai trò gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam, Nxb phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam
Tác giả: GS Lê Thi
Nhà XB: Nxb phụ nữ
Năm: 1997
20. Đoàn Việt, Cha mẹ ở nông thôn với việc sử dụng bạo lực trong giáo dục con, Tạp chí khoa học về phụ nữ số 2 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cha mẹ ở nông thôn với việc sử dụng bạo lực trong giáo dục con
Tác giả: Đoàn Việt
Nhà XB: Tạp chí khoa học về phụ nữ
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu thể hiện mức độ xử lý của các bậc cha mẹ khi con cái - CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI GIÁO DỤC CON CÁI TRONG CÁC GIA ĐÌNH NÔNG THÔN HIỆN NAY
Bảng s ố liệu thể hiện mức độ xử lý của các bậc cha mẹ khi con cái (Trang 45)
Bảng số liệu thể hiện các biện pháp giáo dục con cái khi con cái mắc - CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI GIÁO DỤC CON CÁI TRONG CÁC GIA ĐÌNH NÔNG THÔN HIỆN NAY
Bảng s ố liệu thể hiện các biện pháp giáo dục con cái khi con cái mắc (Trang 46)
Bảng số liệu về các tổn thương thể xác do cha mẹ sử dụng giáo dục - CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI GIÁO DỤC CON CÁI TRONG CÁC GIA ĐÌNH NÔNG THÔN HIỆN NAY
Bảng s ố liệu về các tổn thương thể xác do cha mẹ sử dụng giáo dục (Trang 54)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w