Với mục đích tìm hiểu “Mộng và thực trong thơ văn Tản Đà” chúng tôi mong muốn đóng góp thêm một khía cạnh để hiểu hơn về Tản Đà, để thấy thêm phẩm chất đáng quý của ông: “cho đến những
Trang 1Trờng Đại học vinh Khoa ngữ văn
trong thơ văn tản đà
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Giáo viên hớng dẫn: GVC Lê Văn Tùng
Sinh viên thực hiện : Lu Mai
Tâm
Lớp : 44 A 1 Ngữ văn
Trang 3Khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Trang 4Chơng 2: Từ thực đến mộng 21
2.2 Thế giới mộng trong thơ văn Tản Đà 24 2.2.1 Thế giới mộng trong các “Giấc mộng” 24 2.2.2 Thế giới mộng ngoài các “Giấc mộng” 34
3.1 Thế giới mộng và sự bế tắc của Tản Đà 51 3.2 Thế giới thực trong thơ văn Tản Đà 54 3.2.1 Hiện thực xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX 54 3.2.2 Hiện thực đời sống tầng lớp văn nghệ sĩ 64 3.3.“Mộng thế còn bằng thực mấy mơi” 73
Lời nói đầu
Tản Đà là một đại diện tiêu biểu của giai đoạn văn học giao thời Việt Nam 1900 - 1930 Tản Đà là dấu nối giữa văn học trung đại và văn học hiện đại Đây là hiện tợng phức tạp bậc nhất trong lịch sử văn học dân tộc Sự phức tạp ở Tản Đà thể hiện trên nhiều ph ơng diện, đa đến cho ngời tìm hiểu, nghiên cứu những nhận thức phong phú với nhiều tranh luận
Là ngời yêu quý Tản Đà, mong muốn đ ợc tìm hiểu về Tản Đà, đặc biệt là về thế giới nghệ thuật trong sáng tác của ông, chúng tôi xin đ a ra một ý kiến, một lối nhỏ góp vào những con đ ờng tiếp cận hiện tợng này
Vì điều kiện về thời gian, về nguồn t liệu, về khả năng nghiên cứu khoa học, chắc chắn khoá luận không tránh khỏi những sai sót, chúng tôi mong đợc sự góp ý chân thành của ngời đọc
Trang 5Để hoàn thành khoá luận này, chúng tôi nhận đ ợc sự hớng dẫn tận tình chu đáo của thầy giáo Lê Văn Tùng cùng sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn trờng Đại học Vinh.
Nhân dịp khóa luận đợc bảo vệ, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với tập thể thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là thầy giáo
Lê Văn Tùng - ngời đã trực tiếp hớng dẫn động viên chúng tôi hoàn thành tốt đẹp khoá luận này
1 Mục đích nghiên cứu
1 1 Ba mơi năm đầu thế kỷ XX là chặng đờng đầu tiên văn học Việt Nam
chuyển từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại Đó là quá trình vận động từ kiểu văn học này sang kiểu văn học khác Giai đoạn văn học giao thời này chứa
đựng rất nhiều sự mâu thuẫn, nhiều cuộc đấu tranh giữa cái cũ - cái mới, giữa cái ngoại nhập - sức sống nội sinh của nền văn học dân tộc Tính chất phức tạp của giai
đoạn văn học này đã đợc các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm
Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu ( 1889 - 1939) nằm trong cái nền phức tạp chung của cả giai đoạn văn học 1900 - 1930 Hơn nữa, Tản Đà còn đợc xem là hiện tợng văn học phức tạp nhất trong lịch sử văn học Việt Nam Sự phức tạp ở Tản Đà
do chính những mâu thuẫn, xung đột trong t tởng và nghệ thuật của ông Điều này
đã đợc trình bày một cách có hệ thống trong công trình “Tản Đà khối mâu thuẫn lớn” (1964) của Tầm Dơng [3].
Trang 6Về mặt t tởng nghệ thuật, lâu nay chúng ta vẫn coi Tản Đà là một nhà thơ lãng mạn, thậm chí có ngời coi Tản Đà là nhà thơ lãng mạn thoát li Tản Đà đợc xem là ngời anh, bậc tiên phát của phong trào Thơ Mới: “Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kỳ đơng sắp sửa” (Hoài Thanh – Hoài
Chân,Cung chiêu hồn anh Tản Đà,[18,12]) Bản thân Tản Đà cũng nhiều lần khẳng
định t tởng thoát li của mình trong tác phẩm Ông đợc xem là “đấng trích tiên”, là
“môn đệ” của thi tiên Lý Bạch trong văn học Việt Nam Thế nhng, trong tác phẩm của ông, ở thơ và nhiều hơn là ở trong văn xuôi lại chứa đầy tinh thần hiện thực Do vậy, nếu chỉ hiểu Tản Đà nh một nhà thơ, nhà văn lãng mạn thôi thì cha hoàn chỉnh Có một điểm rất thống nhất, đó là xét cho đến cùng, chủ nghĩa lãng mạn Tản
Đà bao giờ cũng quay về hiện thực của đất nớc Chẳng hạn, trong “Giấc mộng lớn”,
“Giấc mộng con” ngay tiêu đề đã là mộng, là lãng mạn nhng toàn bộ nội dung lại là
sự đối sánh mộng và thực, ở đó chất hiện thực ngồn ngộn và đặt ra nhiều vấn đề của
đất nớc ta cần đợc giải quyết trong thời điểm tác phẩm ra đời
Có thể thấy rằng, mọi nhận xét, đánh giá về nghệ thuật của Tản Đà không thể dừng lại trên những giới hạn, những nhận định mang tính máy móc, cực đoan
về một phía nào Tản Đà thể hiện rõ ràng nhất sự vận động từ biên giới của văn học trung đại sang văn học hiện đại Xét trong tiến trình vận động toàn cục, Tản Đà là nhà nho tài tử thực sự cuối cùng có ý nghĩa kết thúc một loại hình tác giả sau 10thế
kỷ văn học sử; là dấu nối giữa các nhà thơ Mới với những nhà thơ lớn trớc đó Theo cách của ông, Tản Đà đã góp phần vào sự có mặt của xu hớng hiện thực trong văn học Việt Nam hiện đại kể từ những năm, mời thế kỉ trớc đến những thời kì sau này Tản Đà chuẩn bị cho sự xuất hiện của cả chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực trong văn học hiện đại Việt Nam
Thế giới mộng và thực bao trùm trong hầu hết sáng tác của Tản Đà Nếu nh chỉ nhìn vào tên những tập sách của Tản Đà thì sẽ thấy một Tản Đà đầy mộng bởi sáng tác của ông đầy những “Khối tình” và những “Giấc mộng” Bản thân ông quan
niệm "đời ngời cũng là mộng, mộng là cái mộng con, đời là cái mộng lớn chỉ khác nhau vì dài ngắn lớn nhỏ mà thôi” Tuy nhiên, nếu đi sâu vào những giấc mộng ấy,
Trang 7chúng ta lại nhận thấy không phải Tản Đà chỉ mộng để mà mộng Ông không thoát
li hoàn toàn khỏi hiện thực mà bao giờ cũng vậy, luôn có một sợi dây ràng buộc
ông với thực tại Cho nên, dù có ở trong cõi tiên sung sớng, ở trong “Cõi đời mới” hạnh phúc thì “ngời mộng” ấy vẫn đau đáu một tấm lòng trần gian, một lòng nặng
nợ với giang sơn, với dân tộc An Nam Thơ văn Tản Đà còn có một lợng tác phẩm
đề cập trực tiếp đến hiện thực, thậm chí còn bày tỏ thái độ tố cáo hiện thực Điều
đáng quantâm là Tản Đà đã thể hiện những nội dung ấy dới một cái Tôi trữ tình đầy bản sắc cho nên ấn tợng đọng lại nơi độc giả là cái tài và cái tình Tản Đà Con ngời
đầy cá tính và bản ngã ngoài đời đã đi vào trong tác phẩm, Tản Đà chính là một
điển hình cho kiểu tác giả mà con ngời - cuộc đời thống nhất với con ngời - văn
ch-ơng Điều này đặc biệt thấy rõ trong văn xuôi Tản Đà “Giấc mộng lớn” là tự truyện
Tản Đà viết về cuộc đời mình; “Giấc mộng con” là sự tởng tợng về những cuộc gặp
gỡ của mình, “Thề non nớc” là một câu chuyện trong quá trình “xê dịch” của mình;
những bài tản văn cũng là những trích đoạn trong tâm trạng của chính mình Tản
Đà đã bộc lộ hết mình trên trang giấy - đó là điều chúng ta có thể khẳng định Sự nhiệt thành, hết mình ấy cộng với cái tài, cái tình và cái duyên riêng, Tản Đà đã để lại biết bao sự yêu quý, kính phục cho ngời cùng thời và cho hậu thế Cho đến bây giờ và có lẽ cả mai sau nữa, Tản Đà vẫn là một hiện tợng hấp dẫn của văn học Việt Nam Vấn đề Tản Đà còn rất nhiều khía cạnh cần đợc nghiên cứu kĩ và làm sáng rõ hơn Tìm hiểu mộng và thực qua thơ văn Tản Đà, chúng ta sẽ có cái nhìn khách
quan, khoa học và hợp lí hơn về khuynh hớng nghệ thuật của ông, về giá trị đích thực trong tác phẩm của ông
1 2 Tản Đà là một gơng mặt khá quen thuộc đối với giáo viên và học sinh phổ
thông ở cả bậc Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Tản Đà đều có tác phẩm
đợc đa và chơng trình Đó là hai bài thơ: “Muốn làm thằng Cuội” (Ngữ văn 8, tập
1) và “Thề non nớc” (Văn học 11, tập 1) Với vị trí văn học sử quan trọng nh thế,
Tản Đà xứng đáng đợc đa vào nghiên cứu, học tập ở các cấp học Và ít nhất đối với mỗi học sinh, Tản Đà đều đã để lại một ấn tợng đặc biệt sâu sắc Đó là ấn tợng về một Tản Đà rất ngông, muốn làm thằng Cuội để đợc cùng chị Hằng “Tựa nhau
Trang 8trông xuống thế gian, cời”; đó là sự hứng thú khi đợc nghe những giai thoại về con
ngời Nguyễn Khắc Hiếu, về một câu chuyện liên quan đến tác phẩm Cái cảm giác
về Tản Đà vừa rất xa mà rất gần, vừa cổ điển mà lại rất hiện đại, vừa thích thú vừa cảm phục “Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ suý, trong Hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngồi ngôi chủ mà làng văn làng báo xứ này, ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà” (Nguyễn Tuân).
Đối với giáo viên nhiều thế hệ, Tản Đà vẫn là một tác giả “khó dạy”, nhất là khi đối tợng dạy học là một tác phẩm đa nghĩa, phức tạp nh “Thề non nớc” Sự
“khó” trong thực tiễn dạy học này có thể lí giải xuất phát từ việc ngời giáo viên cha nắm bắt đợc hết những phức tạp, mâu thuẫn trong Tản Đà và cha có một cách lí giải chúng một cách hợp lí, rõ ràng Có thể ví “khối mâu thuẫn lớn” - Tản Đà nhmột viên kim cơng, nhìn ở mỗi góc độ sẽ phát lộ một thứ ánh sáng; sự đa diện, đa sắc màu càng làm cho hiện tợng này lung linh hấp dẫn hơn
Trong phạm vi một khoá luận, chúng tôi không thể tìm hiểu tất cả về Tản Đà
mà chỉ tập trung khai thác một khía cạnh: Mộng và thực trong thơ văn Tản Đà Với
mục đích tìm hiểu, lí giải thế giới nghệ thuật thơ văn Tản Đà, chúng tôi hi vọng có thể đa đến một cái nhìn toàn diện hơn về tác giả đầy phức tạp này
1.3 Lịch sử văn học dân tộc là một dòng chảy liên tục Sự phát triển của giai
đoạn sau có sự kế thừa, phát huy những thành tựu của giai đoạn trớc, và ở mỗi giai
đoạn lại nổi lên một số vấn đề trung tâm, những đặc trng mà ở những giai đoạn khác không có hoặc không nổi rõ Trong lịch sử văn học Việt Nam 1900 - 1945, Tản Đà đóng vai trò là chiếc cầu nối, “trên hội Tao Đàn, chỉ tiên sinh là ngời của hai thế kỉ Tiên sinh sẽ là đại biểu cho một lớp ngời để chứng giám công việc lớp ngời kế tiếp” [18,11] Tản Đà vinh dự đợc mời “khai hội” cho phong trào Thơ Mới
Giấc mộng thoát li khỏi mọi cái tù túng, khô khan, giả dối của Tản Đà đợc các thế
hệ sau tiếp tục Cách đi vào thế giới “phi hiện thực” ấy có thể giúp ngời ta gửi gắm rất nhiều thông điệp về cuộc sống thực tại Xuất phát từ nhu cầu phản ánh, lí giải và cải tạo hiện thực nhà văn mợn đến những con đờng thoát li, giải thoát Nếu nh có
đi vào thế giới mộng thì cũng bởi tấm lòng sâu sắc với hiện thực, ớc mơ cải tạo, ớc
Trang 9mơ đợc sống trong một hiện thực đẹp đẽ hơn Hơn nữa, hiện thực chính là dẫn chứng sinh động và có lí nhất lí giải vì sao nhà văn lại đi vào thế giới mộng ảo, siêu thực Siêu thực không bao giờ là thoát li hoàn toàn khỏi hiện thực cuộc đời, ngay cả khi thế giới siêu thực ấy là vô cùng phi lí ngoài sự tởng tợng của chúng ta Cuộc sống không bao giờ chấp nhận một sự thừa thãi, vô nghĩa, cho nên, một tác phẩm
sẽ không có lí do gì để tồn tại nếu nó không đem đến một giá trị gì cho hiện thực cuộc sống, con ngời
Cách nay khoảng 7 thập kỉ, Tản Đà đã tạo đợc mối liên lạc độc đáo giữa thực
và mộng Thế giới nghệ thuật của ông mộng nhiều hơn thực Thế nhng, những giấc mộng của Tản Đà bao giờ cũng rất đời, rất thực, nó chứa đựng những tâm t, ớc vọng của Tản Đà muốn dâng hiến và thể nghiệm để cải tạo hiện thực xã hội Ta đọc
đợc trong đó tấm lòng nặng nợ với trần gian của một tâm hồn rất Việt Nam
Với mục đích tìm hiểu “Mộng và thực trong thơ văn Tản Đà” chúng tôi mong
muốn đóng góp thêm một khía cạnh để hiểu hơn về Tản Đà, để thấy thêm phẩm chất
đáng quý của ông: “cho đến những năm cuối, những ngày tháng cuối của đời ông, ông vẫn tỏ ra ham sống, thích làm việc và vẫn ấp ủ trong lòng những hứa hẹn, những hi vọng phấn đấu cho đời.”(Xuân Diệu [14, 9])
2 Lịch sử vấn đề
Với tài năng và cá tính sáng tạo độc đáo cùng với vị trí văn học sử quan trọng, Tản Đà gây đợc sự chú ý cho giới phê bình, nghiên cứu văn học ngay từ khi tác phẩm của ông bắt đầu xuất hiện trên văn đàn: “Lịch sử nghiên cứu Tản Đà là lịch sử của sự tiếp cận, lý giải tính giao thời, tính chuyển tiếp trong thơ ca ông, những đóng góp và cả sự dừng lại của ông trong bớc chuyển giao thời đại”
(Nguyễn Đức Mậu, [5,10])
Khi cuộc tranh luận thơ Mới - thơ Cũ diễn ra, Tản Đà bị đa ra làm đối tợng
để phê phán, đại diện của phái thơ Cũ Sau khi qua đời (1939), Tản Đà lại đợc chú
ý ca ngợi Các nhà thơ Mới lúc này khẳng định “Công của thi sĩ
Trang 10Tản Đà” (Xuân Diệu), gọi Tản Đà là “Tiên sinh”, coi ông là ngời khởi xớng “dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kì đơng sắp sửa” (Hoài Thanh
Hoài Chân)
Ngời ta cũng chú ý nhiều đến cá tính ngông, đến sự tài hoa, phóng túng cũng
nh cái tâm trong sáng của Tản Đà, quan tâm đến những đóng góp của Tản Đà ở mảng thơ dịch từ Đờng thi
Những năm 50, 60 của thế kỉ XX về sau, giới nghiên cứu tập trung đi sâu tìm hiểu về t tởng giai cấp, thái độ yêu nớc, lập trờng chính trị của Tản Đà Tính chất giao thời, chuyển tiếp ở Tản Đà đợc đặc biệt nhấn mạnh
Các cuộc tranh luận về Tản Đà dừng lại trên báo chí vào đầu những năm 80 Năm 1982, trong lời giới thiệu “Thơ Tản Đà” [14], Xuân Diệu tiếp tục khẳng định
công lao của Tản Đà trong việc đa cái Tôi cá nhân vào văn học Năm 1984, Nguyễn Huệ Chi khẳng định Tản Đà là một hiện tợng vừa đột xuất, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tạo, nhấn mạnh tính chất cầu nối, vai trò mở ra một nhu cầu th-ởng thức khác trớc của độc giả ở tác giả này
Cuối những năm 80, nhiều cuộc hội thảo về Tản Đà đợc tổ chức Cái nhìn về Tản Đà dần đi tới sự hoàn chỉnh, thống nhất; tất nhiên là cha thể giải quyết triệt để mọi vấn đề về Tản Đà nhng nhiều vấn đề cốt yếu đã đợc mở ra để cho quá trình nghiên cứu về hiện tợng này còn tiếp tục với những khám phá mới mẻ, sâu sắc
Nh vậy, trong suốt quãng thời gian từ khi tác phẩm của Tản Đà xuất hiện cho
đến ngày hôm nay, Tản Đà đã đợc nghiên cứu trên nhiều góc độ dới nhiều cách tiếp cận khác nhau Có thể thấy một điều, phần lớn những nghiên cứu về Tản Đà đều là những bài báo đăng trên các tạp chí nhằm giải quyết một khía cạnh nào đấy theo ý
đồ ngời viết Công trình nghiên cứu tập trung, có quy mô đầu tiên về Tản Đà có thể
kể đến “Tản Đà, khối mâu thuẫn lớn” của Tầm Dơng (Văn Tâm), Nhà xuất bản
Khoa học, H, 1964 [3]
Vậy vấn đề mộng và thực trong sáng tác của Tản Đà đã đợc đề ra và giải
quyết nh thế nào?
Trang 11Ngay khi “Giấc mộng con” xuất hiện (1916) ngời ta đã đặt ra vấn đề mộng
trong tác phẩm của Tản Đà Phạm Quỳnh viết bài “Mộng hay mị?” đăng trên Nam
Phong tạp chí số 7/1918 cho rằng giấc mộng của Tản Đà chỉ là “mị”, và nhờ đọc
“Giấc mộng con” của Nguyễn Khắc Hiếu “mà biện bạch đợc rõ mộng mị là thế”
“Giấc mộng con” không có cái đẹp của mộng mà chỉ là “những chuyện đầu Ngô mình Sở, khi đứt, khi nối, không đầu không đuôi” Vì là giấc “mị” cho nên “không những không có ích mà còn có hại”, “là đánh thuốc độc cho cả nớc” Họ Phạm
không đồng tình với việc Tản Đà đem cái Tôi, cái ngông của mình thể hiện vào văn chơng, cho rằng Tản Đà đã khởi ra cái mộng kì quặc, trách Tản Đà có tài mà dùng nhầm tài Phạm Quỳnh phủ nhận tính chất văn chơng của “Giấc mộng con”,
xem đó là sự “mạo xng là văn chơng”.
Sau này Hồ Sĩ Hiệp lí giải sở dĩ Phạm Quỳnh không hiểu đợc Tản Đà do ở Tản Đà mộng gắn với ngông (xem [7]) Cái Tôi sừng sững của Tản Đà đã khiến t t-ởng bảo thủ của Phạm Quỳnh không thể dung nạp nổi
Lê Thanh trên tạp chí Tao Đàn số đặc biệt về Tản Đà - 1939 có bài “Mộng
và mộng” Tác giả chỉ ra rằng Tản Đà là một nhà “nguỵ thuyết” khi một mặt cho
rằng đời là giấc mộng, mặt khác lại “còn nhìn thấy mảnh giấy, cán bút, (…) còn
đang nghĩ một cách sáng suốt” Tản Đà “chỉ sống vì mộng mà thôi” bởi vì mộng
chính là cái mà ngời ta cần khi đã chán cái đời hiện tại “Những cái động lực nó bắt ông mộng mị luôn có lẽ là tính ngông của ông” Lê Thanh khuyên “Ta không nên tin ở các đầu đề mà ông đã chọn Ông nói cuốn “Ba mơi bảy năm Nguyễn
Khắc Hiếu” của ông là “Giấc mộng lớn”, nhng ta không thấy gì là mộng cả Nó không khác gì những tập kí ức, những pho tự thuật của các văn sỹ Âu Tây”.
Phạm Văn Diêu (1970) cho rằng “cái mộng của Tản Đà vẫn khác lạ, và còn mang một sắc thái đặc biệt” “Bằng mộng, nhà thơ chúng ta muốn đứng ra ngoài cuộc đời bẩn chật, để gìn giữ khí tiết trong sạch, vẹn toàn ý thức thanh cao Và bằng thuyết thiên lơng, Tản Đà vẫn canh cánh bên lòng một giấc mơ đẹp về cõi thế ngời đời (….) Suốt trong thơ văn Tản Đà, đâu cũng đều nói đến mộng Tản Đà
Trang 12yêu mộng, ngây ngất trong mộng, chìm đắm trong mộng” (“Tản Đà - một văn nho tài tử và lãng mạn, một nhà thơ giữa hai thế kỉ” - Việt Nam văn học giảng bình - ấn
bản lần III của nhà Hoành Sơn, Sài Gòn, 1970, in lại trong [5,336-337]
Các tác giả trên đã đề cập trực tiếp đến mộng và phần nào đã nhìn thấy mối dây liên hệ thực và mộng nhng cha rõ ràng Các nhà nghiên cứu đã phê bình cách nhìn của Phạm Quỳnh và đa vấn đề mộng của Tản Đà ra nhìn nhận khách quan,
công bằng hơn Lê Thanh nhìn mộng ở khía cạnh là động lực, là cái hứng để Tản
Đà tìm ra đợc những thi tứ lạ và đáng yêu Phạm Văn Diêu cùng với một số tác giả khác nói đến mộng kèm trong bài viết về một vấn đề khác Từ trớc đến nay, Tản Đà
vẫn đựơc nhìn nhận với ba đặc trng: ngông - mộng- say Cho nên, hầu hết những bài
nghiên cứu về Tản Đà vẫn có đề cập đến thế giới mộng trong sáng tác của ông, dù
là rất ít, có khi chỉ nhắc đến Hơn nữa, lâu nay chúng ta thờng xem xét Tản Đà ở vị trí nổi bật nhất - nhà thơ mà cha chú ý đúng mức đến văn xuôi - cũng là đóng góp
có giá trị của Tản Đà vào nền văn học dân tộc Nh Xuân Diệu có nói: “Ngời hiện nay muốn đi tìm Tản Đà một cách có lơng tâm, tận tâm, phải đọc kĩ lại văn xuôi của ông, mới hiểu hết bản lĩnh ông Văn tài của Tản Đà phát tiết nhiều nhất trong thơ ông; nhng bản lĩnh Tản Đà thì văn xuôi của ông mới nói đợc hết” [14,16], ở
khoá luận này chúng tôi sẽ tìm hiểu trực tiếp mộng và thực trong sáng tác của Tản
Đà - bao gồm cả thơ và văn xuôi - một cách hệ thống để từ đó rút ra kết luận khái quát về mối quan hệ giữa mộng và thực, vai trò của mộng và thực trong nhãn quan
sáng tạo, trong sự nghiệp sáng tác của Tản Đà Đây là một hớng khai thác khá rộng
và bao quát phạm vi tác phẩm rộng lớn của Tản Đà Chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu con ngời, văn nghiệp Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu - một nhà văn đầy cá tính, “thi sĩ đầu tiên trong thơ Việt Nam hiện đại”, “nhà thi sĩ đeo hồ lô” (chữ dùng của Xuân Diệu) Đồng thời, qua việc tìm hiểu Tản Đà
cũng giúp chúng ta nhìn nhận sâu sắc, đúng đắn hơn về giai đoạn văn học những năm đầu thế kỉ XX (1900 - 1930) - giai đoạn văn học có tính chất giao thời, có sự vận động mạnh mẽ để đi lên hiện đại hoá, ở đó chứa đựng đồng thời nhiều mâu
Trang 13thuẫn, hạt nhân của sự phát triển, giai đoạn phức tạp nhất trong lịch sử văn học dân tộc
3 Phơng pháp nghiên cứu
Đây là đề tài bớc đầu đi theo hớng thi pháp học để nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tản Đà
3.1 Căn cứ chủ yếu để chúng tôi xác định, tiếp cận đối tợng là văn bản tác phẩm
của Tản Đà trong “Tuyển tập Tản Đà” [22] Ngoài ra, chúng tôi tham khảo cuốn
“Thơ Tản Đà” [14] Tác phẩm chính là căn cứ quan trọng nhất để nghiên cứu, đánh
giá về một tác giả bởi chúng là sự mã hoá đời sống bằng kí hiệu ngôn từ, toàn bộ con ngời văn hoá nhà văn hiện hình trong đó
Yếu tố ngoài văn bản cũng là một căn cứ quan trọng để nghiên cứu về Tản
Đà ở Tản Đà, con ngời đời thực và con ngời văn chơng gần nh có một sự liên hệ máu thịt Chúng tác động, bổ sung cho nhau tạo nên một cái Tôi Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu đầy bản sắc Sự phức tạp trong t tởng, những bi kịch, mâu thuẫn ở Nguyễn Khắc Hiếu đợc thể hiện đầy đủ và rõ nét trong tác phẩm của Tản Đà Do
đó, những yếu tố ngoài văn bản góp phần không nhỏ giúp ta lí giải tờng tận, chính xác hơn về tác phẩm của nhà văn
3.2 Tản Đà là một nhà văn điển hình của buổi giao thời Tính chất giao thời thể
hiện ở sự lu luyến cái cũ và sự hấp dẫn bởi cái mới Do vậy, cần phải xét hiện tợng này trong cái nhìn vận động để tránh khuynh hớng áp đặt cực đoan nh một số quan
điểm trớc đây
Từ quan điểm thi pháp phải gắn với đặc trng thể loại, ta thấy thi pháp văn xuôi không cùng loại với thi pháp thơ Trong trờng hợp Tản Đà cũng vậy, chúng ta không so sánh thi pháp văn xuôi và thi pháp thơ của ông nhng lại có thể thấy sự liên hệ mật thiết giữa văn xuôi và thơ Tản Đà qua việc thể hiện mộng và thực Vì
vậy, hai loại sáng tác này có thể soi chiếu lẫn nhau, hỗ trợ nhau giúp chúng ta tìm
ra sự độc đáo ở mỗi loại sáng tác
3.3 Sáng tác theo phơng pháp nào tuỳ thuộc vào cái “tạng” riêng của ngời cầm
bút Cả khuynh hớng lãng mạn và hiện thực phê phán đều xuất phát từ chỗ bất đồng
Trang 14với thực tại, phủ nhận hiện thực cuộc sống Tản Đà là cầu nối, sáng tác của ông chuẩn bị cho trào lu lãng mạn và hiện thực phê phán xuất hiện, nở rộ trong thời kì
1930 - 1945 Sự khác biệt giữa hai khuynh hớng này ở chỗ một bên lột trần lớp xiêm áo bên ngoài của hiện thực để phơi bày toàn bộ sự đáng ghê tởm của hiện thực trớc mắt ngời đọc, tạo một ý thức đối lập, một khát vọng thanh toán hiện thực xấu xa (hiện thực); một bên phủ nhận bằng cách quay lng với thực tại, tự tạo cho mình một thế giới khác có phẩm chất đối lập với thế giới mình đang sống (lãng mạn) Trên thực tế, lãng mạn không phải bao giờ cũng là thoát li “Những ngời khốn khổ”, “Nhà thờ Đức bà Pari” của V.Huygo đậm chất hiện thực nhng vẫn
thuộc khuynh hớng lãng mạn “Đỏ và đen” của Standan, “Bà Bôvary” của Flobe,
“Ơgiêni Grăngđê” của Banzac….cũng viết về tình yêu đợm chất lãng mạn, mơ
mộng song vẫn là những kiệt tác của chủ nghĩa hiện thực Lãng mạn của Tản Đà không bao giờ xa rời hiện thực đất nớc Trong sáng tác của ông luôn có sự chuyển hoá giữa mộng và thực , thực và mộng Tản Đà luôn đau đáu một tấm lòng trần gian ở Cõi đời mới, ăn một miếng ngon nhìn một sự việc luôn chạnh lòng cố quốc;
lên thiên đình gặp những ngời lu danh thiên cổ cũng toàn nói chuyện tình cảnh nớc Nam đơng thời Tản Đà vì “tiếc mộng”, “nhớ mộng”, vừa “ngán đời” lại vừa “nhớ
đời” Trớc sau ông vẫn giữ đợc cái tâm trong sáng, luôn luôn tin tởng:
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Trong phạm vi đề tài, chúng tôi khảo sát các văn bản tác phẩm của Tản Đà
đợc in trong “Tuyển tập Tản Đà” [22] Về phần văn bản thơ chúng tôi tham khảo
thêm cuốn “Thơ Tản Đà” do Xuân Diệu giới thiệu, Nguyễn Nghiệp su tầm, tuyển
Trang 15- Giới hạn vấn đề:
Đề tài nghiên cứu thế giới mộng và thực trong sáng tác của Tản Đà; làm rõ
sự chuyển hoá, tác động hai chiều giữa mộng và thực để thấy đợc trong thơ văn Tản
Đà có một hiện thực đợc biểu hiện bằng thi pháp lãng mạn
5 Nhiệm vụ của đề tài
- Nêu ra những vấn đề của lí luận văn học: Thế nào là chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực; chỉ ra đợc mối quan hệ giữa lãng mạn và hiện thực trong văn học nói chung và riêng ở trờng hợp Tản Đà; thấy đợc mộng là thế giới cơ bản của
Tản Đà và thực là điểm xuất phát để đi đến mộng, cũng là điểm từ mộng trở về.
- Khảo sát và miêu tả các yếu tố mộng và thực trong thơ văn Tản Đà
- Hệ thống hoá những ý kiến đã trình bày về vấn đề có liên quan đợc đăng tản mạn, rải rác trên nhiều nguồn tài liệu khác nhau để có một cái nhìn cụ thể, rõ ràng hơn về vấn đề “Mộng và thực trong thơ văn Tản Đà”
6.Cái mới của đề tài
- Phân tích tính quan niệm của hình thức miêu tả và khái quát giá trị đối tợng mình miêu tả Thực và mộng đều là sự hoá thân của đời sống, là sự mã hoá đời sống
qua lăng kính chủ quan của ngời nghệ sĩ Thực hay mộng, hiện thực hay lãng mạn
chính là cách thức nhà văn lựa chọn để tái tạo, biểu hiện thế giới Bản chất, giá trị của hiện tợng không nằm ở hiện thực hay lãng mạn mà quan trọng hơn là nhà văn
đã làm đợc gì trong tác phẩm và tác phẩm đã để lại dấu ấn ra sao trong lịch sử văn học dân tộc và trong lòng độc giả
- Tản Đà không phải là nhà thơ lãng mạn thoát li nh quan niệm trớc đây Thơ văn Tản Đà trình diễn hiện thực bằng thi pháp lãng mạn
7 Cấu trúc khoá luận
Ngoài Mở đầu, Kết luận và th mục tài liệu tham khảo, nội dung khoá luận
đợc triển khai trong ba chơng:
Chơng 1: Mộng và thực từ cuộc sống vào nghệ thuật.
Chơng 2: Từ thực đến mộng.
Chơng 3: Từ mộng đến thực.
Trang 16động, nhiều trờng hợp mà nếu dùng lí trí bình thờng chúng ta sẽ không thể lí giải nổi.
Mộng trong đời sống thể hiện trong giấc mơ khi ngủ hoặc là những tởng tợng của con ngời khi thức ở trờng hợp thứ nhất, mộng hình thành trong cõi vô thức, tiềm thức, vợt ra khỏi ý thức của con ngời, không do một ý thức nào chi phối trực tiếp Do đó, những yếu tố phi lí rất thờng thấy trong mỗi giấc mơ Dù ý thức không chi phối trực tiếp nhng các hình ảnh trong giấc mơ xét đến cùng chính là những hình ảnh gián đoạn của những ý thức nào đó ám ảnh con ngời lúc thức ở trờng hợp
Trang 17thứ hai, mộng đợc hiểu là những ớc mơ, khát vọng của con ngời vợt ra ngoài giới hạn thực tại của cuộc sống Các giấc mơ này đều có sự chi phối của ý thức.
Trong sáng tạo văn học, mộng là một phơng thức cơ bản của ngời nghệ sĩ sáng tác theo chủ nghĩa lãng mạn Trong nghệ thuật, mộng không chỉ là việc ghi lại
những giấc mơ khi ngủ của nhà văn, mộng còn là giấc mơ, tởng tợng của tác giả
trong cuộc sống thực tại Dù trong trờng hợp nào, khi đã là một sáng tạo hiện hữu trong văn bản ngôn từ nghệ thuật, mộng đều đã đi qua sự khúc xạ đặc biệt của ý
thức nhà văn để diễn tả một quan niệm của nhà văn về đời sống, về thế giới… Mặc
dù những giấc mơ đến từ thế giới tiềm thức, vô thức nhng khi nhà văn viết lại những giấc mơ ấy thành mộng trong tác phẩm thì ý thức của ông đã làm việc, đã in
dấu vào giấc mộng trong nghệ thuật kia rồi
Mộng trong thơ văn Tản Đà theo nghĩa hẹp có thể hiểu là những tác phẩm
viết về những giấc mộng, cơn mơ của ông; nghĩa rộng là toàn bộ tởng tợng lãng
mạn của Tản Đà trong sáng tác ở đây, chúng tôi tìm hiều mộng trong thơ văn Tản
Đà theo nghĩa rộng - là toàn bộ tởng tợng lãng mạn của ông trong sáng tác Thế giới lãng mạn trong sáng tác của Tản Đà thể hiện cụ thể ở không gian, thời gian, nhân vật ở một thế giới mộng tởng nh hoàn toàn xa vời với cuộc sống trần tục của con ngời
Mộng chính là một cách ứng xử của con ngời đối với hiện thực cuộc đời Không phải đến Tản Đà con ngời mới biết mộng Từ khi có ý thức con ngời đã biết mơ mộng Ngày nay chúng ta vẫn vô cùng khâm phục trí tởng tợng của ngời xa qua
hệ thống thần thoại, sử thi…Câu chuyện về những vị thần chính là những mảnh,
đoạn trong giấc mơ khám phá, tìm hiểu, trong khát vọng hoà nhập, chế ngự thiên nhiên; là những ớc mơ mong muốn cuộc sống hiện tại vơn lên đến tột đỉnh của hạnh phúc….Đến văn học trung đại, không ít nhà nho băn khoăn giữa xuất và xử, cuối cùng chọn cuộc sống ẩn dật, tiêu du Quan niệm “Xử thế đại nhợc mộng”
(Sống ở đời nh giấc mộng lớn) của Lý Bạch từ thế kỉ VIII đã ảnh hởng không nhỏ
đến nhiều lớp nhà nho Việt Nam, đến cả những ngời nghệ sĩ thời hiện đại
Trang 18Chủ nghĩa lãng mạn với t cách là một trào lu t tởng và nghệ thuật đợc hình thành và phát triển mạnh mẽ ở các nớc Châu Âu cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX Các nhà lãng mạn chủ nghĩa xuất phát từ thái độ bất hoà với thực tại khách quan, đi tìm nguồn cảm xúc thẩm mĩ từ quá khứ vàng son hoặc từ một thế giới tơng lai tơi đẹp Họ thâm thù vĩnh viễn với thực tại khách quan, từ chối “đơn đặt hàng” của xã hội, sáng tác theo “đơn đặt hàng” của trái tim Trờng thẩm mĩ của chủ nghĩa lãng mạn là vùng của cái Tôi nội cảm ở đó các nhà văn thoả sức thể hiện xúc cảm, trí tởng tợng của mình để tạo ra một thế giới lung linh đầy mộng ảo cho riêng mình Chủ nghĩa lãng mạn thờng thích những cái kì vĩ, cao siêu, vợt thoát khỏi hiện thực tầm thờng Soi sáng tác phẩm của Tản Đà bằng những đặc điểm cốt yếu nhất của chủ nghĩa lãng mạn, chúng ta sẽ thấy Tản Đà có khuynh hớng sáng tác theo ph-
ơng pháp lãng mạn Kết quả của khuynh hớng sáng tác này là việc ông tạo nên một thế giới đầy mộng ảo, đầy những sự phi lí theo dòng tởng tợng không hề bị giới hạn bởi bất kì biên giới nào Đó là những khát vọng “bay bổng tuyệt vời” nh con chim hạc, nh cánh chim bằng; là những giấc mộng lớn, nhỏ; là những ớc mơ về cuộc sống đồng chu, về Cõi đời mới, về những lần “Hầu Trời”, về chốn cung nguyệt với
biết bao tiên nữ, về sự gặp gỡ với bao giai nhân, vĩ nhân trong quá khứ…
1.2 Khái niệm thực
Tinh thần hiện thực trong tác phẩm văn chơng đợc hiểu là toàn bộ sự phản
ánh trung thực cuộc sống ở đó, tác giả không né tránh việc phản ánh xã hội ở những góc khuất, ở những mặt tiêu cực Sự vật, hiện tợng tồn tại trong thế giới khách quan luôn luôn chứa đựng những mặt đối lập Mâu thuẫn giữa những mặt đối lập luôn đòi hỏi đợc giải quyết và đó chính là động lực của sự phát triển Sự tồn tại của xã hội cũng vậy, luôn bao hàm những mâu thuẫn, đối lập Sự có mặt đồng thời giữa những yếu tố tích cực và tiêu cực trong xã hội là một tất yếu khách quan Hiện thực luôn luôn có hai mặt nh tấm huân chơng kia - một bên lấp lánh hào quang và một bên là gỉ sét Văn học là sự phản ánh thế giới bằng hình tợng thông qua công
cụ là ngôn từ nghệ thuật Lựa chọn cái để phản ánh là do ngời nghệ sĩ Lãng mạn
và hiện thực là hai khuynh hớng phản ánh phổ biến Trong văn học Việt Nam, chất
Trang 19hiện thực thờng đợc nhìn ở khía cạnh hiện thực phê phán, thờng gắn với thái độ tố cáo hiện thực bằng cách phơi bày, lột trần hiện thực xã hội với những ung nhọt, những tật bệnh xấu xa Tinh thần hiện thực còn đợc biểu hiện ra ở những tác phẩm chứa đựng cách nhìn nhận, đánh giá về hiện thực cuộc đời, có thể đó cha phải là thái độ phản kháng, chống đối lại xã hội mà mới chỉ dừng lại ở niềm tâm sự u uất trớc sự thực tại bất công, đem đến bao đau xót cho con ngời.
Phải phát triển đến một trình độ t duy nào đấy thì con ngời mới ý thức đợc sự chi phối, tác động bởi hoàn cảnh xã hội lên cuộc đời, số phận con ngời, mới lí giải
đợc nguyên nhân dẫn đến số phận, cuộc đời mình Sự xuất hiện của các thể loại văn học dân gian theo trục tuyến tính phần nào thể hiện điều đó Khi truyện cổ tích xuất hiện cũng là lúc con ngời đã ý thức đợc tình trạng ngời bóc lột ngời trong xã hội, xã hội đã có sự phân chia giai cấp và mâu thuẫn giai cấp xuất hiện, mức độ gay gắt của mâu thuẫn đó có sự thay đổi phụ thuộc vào tình hình hiện thực xã hội Nhu cầu tái hiện hiện thực cuộc sống cho dù hiện thực ấy là nghiệt ngã, đau xót, đắng cay…luôn tồn tại trong văn học mọi thời kì Chỉ nhìn thẳng vào sự thật con ngời mới có thể tìm ra “phơng thuốc” hữu hiệu chữa trị những “căn bệnh” của cuộc sống
Vào nửa sau những năm 20 của thế kỉ XIX, chủ nghĩa hiện thực mới xuất hiện thành một khuynh hớng văn học Khi đó chủ nghĩa lãng mạn đã phát triển rực
rỡ Vì thế giữa chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực có quan hệ mật thiết với nhau Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện thực phê phán thế kỉ XIX đạt đến mức cổ điển về nội dung phê phán toàn diện xã hội t sản
và những chuẩn mực của nghệ thuật điển hình hoá ở Việt Nam, trong giai đoạn
1930 - 1945, văn học hiện thực phê phán phát triển khá mạnh mẽ với nhiều cây bút tài năng nh: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao… Nếu
nh chủ nghĩa lãng mạn quay lng lại với thực tế thì chủ nghĩa hiện thực phải nhìn thẳng vào bộ mặt của thực tế Xuất phát từ chủ quan, các nhà hiện thực cố gắng nhận thức, nghiên cứu thực tế để phản ánh trong sáng tác Trong khi quan sát thực
tế, họ đi sâu vào bản chất, phát hiện những mâu thuẫn trong hiện thực
Trang 20Tính chất hiện thực trong văn học Việt Nam trung đại thờng gắn với mảng văn học trào phúng cùng với một số tác phẩm chứa chan tinh thần nhân đạo phản
ánh những số phận đầy bi kịch, đau khổ do hoàn cảnh mang lại Thực trong tác
phẩm của Tản Đà đợc hiểu là thế giới hiện thực đợc ông phản ánh trong tác phẩm,
là thái độ của nhà văn hiện lên trong sự phản ánh ấy “Tuy là thi sĩ đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam nặng lòng yêu dấu những nhân vật nơi tiên cảnh, nhng Tản Đà vẫn thờng nghĩ rằng: Chỉ chuyện thế gian là có thú hơn nhất Ông muốn văn học ghi lại đợc cảnh thế sự thăng trầm, cảnh lòng ngời đen bạc trong xã hội đ-
ơng thời” (Tầm Dơng [3,178]) Tản Đà bằng khối lợng không nhỏ các tác phẩm
chứa đựng tinh thần hiện thực đã thể hiện vai trò cầu nối trong dòng chảy hiện thực của văn học Việt Nam Tản Đà đã kéo Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến, Tú Xơng, Nguyễn Đình Chiểu …về gần với văn học hiện đại Khuynh h-ớng hiện thực phê phán cũng đã có những biểu hiện ban đầu trong tác phẩm của Tản Đà “Cả thơ, cả văn xuôi của Tản Đà đều cố gắng đề cập đến cuộc sống bình thờng, cụ thể; quan tâm đến sự đau khổ và nghèo khó của con ngời Làm nh vậy
ông góp phần chuẩn bị cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực”[4-206].
1.3 Mối quan hệ giữa mộng và thực trong cuộc sống, nghệ thuật và thơ văn
Tản Đà
Cuộc sống bao giờ cũng cần có sự cân bằng giữa thực và mộng Lãng mạn và thực tế luôn luôn đi song song với nhau để làm nên mọi điều của cuộc sống, “hạnh phúc đâu chỉ có cơm ngon và áo đẹp, tình yêu đâu chỉ có hoa thơm và trái ngọt, cuộc đời còn có cả những nụ hôn” Chúng ta không nên nhìn cuộc sống chỉ ở một
góc nhìn nhiều khi cứng nhắc mà làm mất đi sự đa dạng vốn có của nó Vốn dĩ cuộc sống tơi đẹp bởi sự phức tạp, đa diện, sự sinh động thú vị, sự tổng hoà của tất cả những gì tồn tại trong nó Một cái nhìn quá tô hồng hay quá bôi đen đều là thiên kiến, cần để cho mọi thứ đợc nhìn nhận trong sự tồn tại khách quan với những mối liên hệ riêng của nó Cuộc sống là hiện thực, con ngời nối tiếp nhau trong hành trình tạo lập nên bài văn xuôi cuộc đời Để tồn tại, thích nghi với hoàn cảnh sống, con ngời phải có óc thực tế Song để cuộc sống thực sự có ý nghĩa thì cần có một
Trang 21khoảng tâm hồn dành cho sự lãng mạn Bài văn xuôi cuộc đời kia cần một chút chất thơ để trở nên mềm mại hơn, tơi mới hơn Những khát vọng, ớc mơ con ngời đặt ra, mong đạt tới đều xuất phát từ việc mong muốn thực tại tốt đẹp, có ý nghĩa hơn Phần mơ mộng đó không thể thiếu trong bất kì lĩnh vực nào của cuộc sống Nó tạo nên động lực, làm cho cuộc sống “mềm” hơn, dễ chịu hơn, giảm áp lực căng thẳng thờng thấy ở mỗi con ngời.
Nghệ thuật lại là lĩnh vực dành sự u ái đặc biệt cho trí tởng tợng Với sứ mệnh làm đẹp cuộc đời, kiến tạo thế giới tâm hồn, bề dày văn hoá, nghệ thuật chấp nhận mọi sự sáng tạo, thể nghiệm Lãng mạn và hiện thực là hai phơng pháp phản
ánh cuộc sống của nghệ thuật, trong đó có văn học Sự phân chia này chỉ mang tính chất tơng đối Trên thực tế rất nhiều trờng hợp khó để khẳng định là lãng mạn hay hiện thực V.Huygo viết “Những ngời khốn khổ” đậm chất hiện thực song xét đến
cùng ở đấy vẫn là những đặc trng thủ pháp của phơng pháp lãng mạn Flobe, Standan, Banzac…đã rất nổi tiếng với những tác phẩm viết về tình yêu nh: Bà Bôvary, Đỏ và đen, ơgiêni Grăngđê… nhng cái đọng lại sau những câu chuyện
tình lãng mạn lại là tất cả d vị đắng cay, đau xót, thối nát của hiện thực; cho nên họ lại là những tác gia kiệt xuất của chủ nghĩa hiện thực phê phán ở Việt Nam, trờng hợp Thạch Lam là một ví dụ cho sự tơng đối trong phân định khuynh hớng lãng mạn hay hiện thực Hơn nữa, có những tác giả sáng tác cả ở hai khuynh hớng nh Nguyễn Công Hoan, hoặc ban đầu sáng tác ở khuynh hớng này sau đó chuyển sang khuynh hớng khác nh Nguyễn Tuân, Nam Cao Thực ra, viết theo khuynh hớng nào
là cái “tạng” riêng của ngời cầm bút (chữ của Nguyễn Đăng Mạnh) Giá trị của tác
phẩm, tài năng của ngời cầm bút thể hiện ở sức sống và chất lợng nghệ thuật của tác phẩm Thời gian và công chúng sẽ là thứ thuốc thử nhận ra chân giá trị của các hiện tợng văn học
Mộng trong văn học là một hình thức của cái nhìn lãng mạn chủ nghĩa; sự
phê phán thực trong văn học là thế giới của cái nhìn hiện thực chủ nghĩa Cả hai
đều có chung một xuất phát điểm là thái độ, ý thức bất đồng với thực tại xã hội của nhà văn Sự khác nhau là ở phơng thức, phơng pháp thể hiện mối bất đồng đó
Trang 22Bản thân thế giới mộng trong văn học lãng mạn xét đến cùng là một hình thái của hiện thực cuộc sống Đó là hiện thực trong tâm hồn một con ngời (cụ thể là một nhà văn), rộng hơn là hiện thực tâm hồn của một thế hệ, một thời đại, một
đẳng cấp
ở trờng hợp Tản Đà, mộng và thực trong thơ văn ông có sự tác động qua lại
và có thể nhận rõ mộng là thế giới chủ đạo, cơ bản Thế giới mộng đã xuất hiện
trong văn học trớc Tản Đà Thần thoại, sử thi…là những minh chứng đầu tiên cho thấy sự xuất hiện của thế giới mộng Đó là thế giới của thần, tiên, của những phép màu, những con ngời mang sức mạnh thần linh….Trong văn học trung đại, các nhà nho hành đạo thờng mơ về xã hội bình trị, ấm no thời Nghiêu - Thuấn Đặc biệt, trong thế giới nghệ thuật của các nhà nho ẩn dật và nhà nho tài tử, mộng luôn luôn
hiện hữu Từ thái độ bất hợp tác, bất mãn với hiện thực, họ thờng vẽ ra một thế giới cho riêng mình, thoát ra khỏi vòng danh lợi tầm thờng Thậm chí đó còn là thế giới kì ảo, ma quái, h thực lẫn lộn nh trong “Liêu Trai chí dị” (Bồ Tùng Linh), “Truyền kì mạn lục” (Nguyễn Dữ)… Mộng ở Tản Đà là sự kế tiếp các bậc “tiền bối”và còn
là sự khởi đầu cho cuộc thoát li tìm đến tiên cảnh trong văn học lãng mạn Việt Nam đầu thế kỉ XX Tản Đà mộng rất nhiều, nói ngông nhiều và cũng say triền miên thế nhng cao hơn cả vẫn là một tấm lòng yêu đời, có có ý thức trách nhiệm tr-
ớc cuộc đời Trong sáng tác của ông có sự chuyển hoá giữa mộng và thực, thực và mộng Những giấc mộng của Tản Đà bao giờ cũng rất đời, rất thực, nó chứa đựng những tâm t, ớc vọng ông muốn dâng hiến và thể nghiệm để cải tạo hiện thực xã hội Ta đọc đợc trong đó tấm lòng nặng nợ với trần gian của một tâm hồn rất Việt Nam Tản Đà luôn luôn mâu thuẫn, khi thì ông “tiếc mộng”:
“Nghĩ đời lắm nỗi không bằng mộng Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời”.
(Nhớ mộng)
khi lại “nhớ đời”:
“ Đời đơng gian díu chửa cho thôi
Tớ dám xa xôi để phụ đời
Trang 23Vắng tớ bấy lâu đời nhớ tớ Nhớ đời nên tớ vội ra chơi”.
(Còn chơi)
Đó là hai tâm trạng thờng trực ở Tản Đà Sống trong buổi giao thời, khi mà ý thức hệ nho giáo đã lung lay tận gốc, mọi giá trị không còn đợc bảo lu nữa, Tản Đà dờng nh lạc lõng trớc cái xã hội kim tiền đầy biến động ấy Chán đời, ông tìm đến mộng, nhng rốt cuộc, những giấc mộng lại cứ dẫn ông về với cái xã hội An Nam đ-
ơng thời Hiện thực chính là điểm xuất phát và cũng là điểm kết thúc đa tác giả ra khỏi mộng, mộng thực ra chỉ là một cái cớ để Tản Đà thể hiện khát vọng hành động
cải tạo hiện thực
Chơng 2
Từ thực đến mộng
2.1 Nguyên nhân tìm đến mộng
Theo chúng tôi, việc tìm đến mộng của Tản Đà là do hai nguyên nhân chính -
nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan Nguyên nhân khách quan thuộc về đặc điểm thời đại, hoàn cảnh xã hội, môi trờng sống của Tản Đà; nguyên nhân chủ quan thuộc về thiên tính nghệ sĩ ở Tản Đà
Trang 24Khi tìm hiểu Tản Đà, chúng ta cần chú ý đặc biệt đến tính chất giao thời của hiện tợng này Xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX đầy biến động, phức tạp “Sự gặp gỡ phơng Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mơi thế kỉ”
[18,15] Cuộc tiếp xúc với văn minh phơng Tây đã làm biến đổi toàn diện xã hội Việt Nam mà vài thập niên đầu thế kỉ XX chứng kiến những bớc chuyển đầu tiên Những giá trị truyền thống của Nho giáo đã không còn hợp thời nữa trong khi các giá trị mới đang ở thời kì sơ khai, cha định hình rõ nét Tản Đà sinh ra trong một gia đình thuộc dòng dõi khoa bảng từ đời Lê, bản thân ông thuở nhỏ đợc học Hán học, ông tự coi mình là “ngời chân tâm với Nho học”, cho nên, khi những giá trị
vốn đợc coi trọng, vốn là khuôn vàng, thớc ngọc bị bẻ gãy, những cái mới cha xác lập đợc nấc thang giá trị thì Tản Đà cũng nh rất nhiều những nhà nho khác đổ vỡ mọi niềm tin Từ đó, ông luôn có thái độ hoài nghi, với cả những cái mới và cả những giá trị cũ Chứng kiến cảnh nhân tình thế thái đảo điên, đạo đức cũ bại vong cùng với những bi kịch của cá nhân mình, Tản Đà luôn mang nơi mình nỗi buồn nhân sinh, buồn thế hệ: “Từ độ sầu đến nay, ngày cũng có lúc sầu, đêm cũng có lúc sầu…Sầu không có mối, chém sao cho đứt; sầu không có khối, đập sao cho tan; muốn kiếm thuốc tiêu sầu, mà tìm đâu cho thấu!” Nỗi niềm thời thế xui Tản Đà
tìm đến mộng - đó là cách để thoát ra ngoài, để quên lãng thực tại, để đợc sống
trong một hoàn cảnh “có nhân đạo”, tự do, đợc là chính mình Tản Đà mộng rất
nhiều và luôn Nhớ mộng:
“Giấc mộng mời năm đã tỉnh rồi Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi Nghĩ đời lắm nỗi không bằng mộng Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời”
Những giấc mộng của Tản Đà đều đợc sinh ra từ tâm sự:
“Đêm thu buồn lắm, chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nữa rồi”
(Muốn làm thằng Cuội)
Trang 25ở vị thế của một trí thức học trờng Tây, Tản Đà chứng kiến sự xoay vần của xã hội t bản Đồng tiền với những sức mạnh vô hình có thể làm thay đổi mọi thứ Cách ứng xử với đồng tiền của Tản Đà là cách ứng xử của một nhà Nho Tản Đà nghèo nhng lại tiêu tiền một cách hoang phí, không hề quí trọng bởi vì theo ông,
đồng tiền có tác hại còn hơn cả thuỷ, hoả, đạo, tặc Ông làm báo - cũng là một hoạt
động kinh doanh - với cách làm việc khá luộm thuộm, tuỳ tiện Cuối cùng các tạp chí do ông tạo lập cứ chết dần rồi chết hẳn Tản Đà còn là ngời “khai sinh” ra nghề
“Bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu” Ông ý thức rõ ràng về nghề nghiệp mình theo
đuổi Rồi buồn cái cảnh “Văn chơng hạ giới rẻ nh bèo”, Tản Đà lại mơ “Hầu Trời”, mơ
đọc Văn mình cho thiên đình nghe, mơ gánh văn lên bán chợ Trời Giấc mơ ấy mới đau xót làm sao!
Nguyên nhân lớn thứ hai lí giải vì sao Tản Đà tìm đến mộng là ở thiên tính nghệ sĩ của ông Tản Đà tiếp tục giấc “đại mộng” của thi tiên Lý Bạch từ xa, tiếp tục cái sự nghiệp “chơi”, sự nghiệp “say” của rất nhiều bậc tài tử:
“Ôi nhân sinh là thế ấy
Nh bóng đèn, nh mây nổi, nh gió thổi, nh chiêm bao”
(Nguyễn Công Trứ – “Chơi là lãi”)
“Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cời Thôi công đâu chuốc lấy sự đời Tiêu khiển một vài chung lếu láo”
(Cao Bá Quát – “Chén rợu tiêu sầu”)
Tản Đà lôi cả vũ trụ vào cuộc say với mình Ông ca tụng thú ăn chơi một cách say mê và tỉ mỉ đến nỗi có ngời khẳng định ông theo “chủ nghĩa khoái lạc”,
“chủ nghĩa vật chất” Xuân Diệu trong bài viết “Công của thi sĩ Tản Đà” đã khẳng
định đóng góp của Tản Đà ở vai trò THI Sĩ cho nền văn học dân tộc “Lần đầu tiên ngời ta đợc nghe một giọng nói dịu dàng trong trẻo, nhẹ nhõm, có duyên, ngời ta thấy một tấm lòng thực thà hé phơi và ngời ta đợc cảm động Lễ nghi đạo đức trói
Trang 26không dám đập, cuộc sống thu chật lại giữa khuôn phép bất nhân, lần đầu tiên, Tản Đà dám vẩn vơ, dám mơ mộng, dám cho trái tim và linh hồn đợc có quyền sống cái đời riêng của chúng, cái đời phóng khoáng nh gió, mây, trăng, nớc, chứ không phải chỉ có cuộc sống vật chất mà thôi.”[5,180].
Tản Đà đợc trời ban cho một trái tim đa cảm, khao khát yêu mến cuộc đời
nh tình cảm của tình yêu Ông tự nhận mình thuộc nòi “tình chủng” Cái đa tình của Tản Đà chính là do trời ban cũng là do cha mẹ ông truyền cho
Cho đến cuối cuộc đời, vị trích tiên Tản Đà vẫn giữ đợc cái trong sáng, cao khiết của ngời nghệ sĩ chân chính Có thể con ngời cuộc đời Nguyễn Khắc Hiếu gây sự ức chế, không thiện cảm với những ngời đã từng tiếp xúc Nhng, cái tài và cái tình Tản Đà thì ai cũng yêu mến Chẳng thế mà Nguyễn Tuân - cái định nghĩa
về ngời nghệ sĩ - luôn quí mến Tản Đà, yêu Tản Đà nh một ngời bạn tâm giao, tri
kỉ, hiểu Tản Đà ở những sắc độ tỉ mỉ nhất (Nguyễn Tuân từng gửi nem, gửi đóm cho Tản Đà)…Thiếu Sơn đã dành cho Tản Đà những lời nhận định sâu sắc mà ý nghĩa: “Đời đục, tiên sinh trong Đời tối, tiên sinh sáng Đời quay cuồng trong nhân dục t lợi, tiên sinh sống ở thế giới tinh thần (…) Tản Đà tiên sinh là một thi
sĩ vậy Ông đã có cái khí tiết thanh cao, lại có tâm hồn lãng mạn (…) Lamartine ngời ta đã từng gọi là thơ sống, thì nay ông Tản Đà cũng có thể gọi là ng ời thơ ”
(“Ông Nguyễn Khắc Hiếu”[5,156]) Hầu nh tất cả các nhà nghiên cứu đều xem cái
mệnh thi sĩ ở Tản Đà là do trời sinh Đó cũng chính là cái duyên nghiệp của Tản
Đà Đến khi ông làm báo - tức là một hình thức kinh doanh, thì cái thiên tính nghệ
sĩ vẫn vơng vấn mãi Cho nên những tờ báo do Tản Đà làm chủ bút không bao giờ
ra đều đặn nh ý định ban đầu, cách làm báo cũng không chuyên môn hóa nh các toà soạn khác … “Những nỗi chật vật của đời sống hàng ngày, những cảnh éo le thờng phô bày ra trớc mắt không từng làm bợn đợc linh hồn cao khiết của Tiên sinh” [18,12] Vậy nên, cái vòng danh lợi vật chất của cuộc đời, cái hiện thực thù
địch với những ngành sáng tạo nghệ thuật của xã hội t bản đơng thời không thể dung chứa nổi tâm hồn Tản Đà Ngời nghệ sĩ tài hoa này đi vào một thế giới khác,
Trang 27thế giới của những bay bổng, mộng mơ, thế giới của những ngời tiên, có tất cả những gì ông ao ớc mà trần giới đơng thời không bao giờ có.
2.2 Thế giới mộng trong thơ văn Tản Đà
2.2.1 Thế giới mộng trong các “Giấc mộng ”
Tản Đà có hẳn mấy tác phẩm lấy nhan đề “Giấc mộng”, đó là “Giấc mộng con I” (1917), “Giấc mộng lớn” (1932), “Giấc mộng con II” (1932) Nhan đề đã
khái quát nội dung chủ đề của tác phẩm Có thể thấy những “Giấc mộng” đã thể
hiện một cách khá rõ nét thế giới mộng của Tản Đà
Tiểu thuyết “Giấc mộng con I” thể hiện những giấc mơ nối tiếp giấc mơ của
Tản Đà Ông mơ mình đi vào Sài Gòn, sang Pari, sang NiuOóc, qua Oasinhtơn, qua Canađa, đến Alaska, rồi tiến lên Bắc Cực – “theo mấy nhà thám hiểm lên bể Bắc Băng Dơng” Hình ảnh lữ khách thích giang hồ, xê dịch - nhân vật đợc yêu thích,
lựa chọn phổ biến trong văn học lãng mạn 1930 - 1945 đợc khởi đầu từ Tản Đà Tản Đà tự khắc hoạ chân dung mình: “Đờng ngoài ga Hàng Cỏ, tờ mờ sáng, có một ngời khách sắp bộ đi đờng xa, đồ hành trang một valy…”.Đây cũng là nhân vật
chính trong các tiểu thuyết của Tản Đà Tính chất tự thuật, du kí, nhật kí đậm nét trong từng tác phẩm ở “Giấc mộng con I”, Tản Đà tạo dựng một xã hội theo kiểu
chủ nghĩa xã hội không tởng - xã hội Cõi đời mới Cõi đời mới hoàn toàn khác với
“các phơng đất khác trong thế gian gọi là Cõi đời cũ” Con ngời trong Cõi đời mới
có tổ tiên từ Cõi đời cũ, vì giận Nhà nớc xử đãi hà khắc đã rủ nhau lên Bắc Cực
này; “ngời giống trắng” (ngời da trắng), “ngời giống đỏ” (ngời da đỏ), đàn ông, đàn
bà, ngời già, ngời trẻ… sống bình đẳng, ấm no, hạnh phúc Cơ cấu hành chính của xã hội Cõi đời mới cũng tơng tự Cõi đời cũ, chia làm các thôn có thôn trởng coi
sóc, Thống trởng coi sóc cả trong cù lao - đợc bầu lên từ đội ngũ thôn trởng Điểm khác biệt đó là “mỗi thôn 15 nóc (nhà), chỉ là chỗ đoàn tụ riêng của bố mẹ, vợ chồng, con cái mà không nhà nào có của riêng” ở Cõi đời mới không có sự mua
bán, không chợ búa, không biết đến vật gì là tiền dùng để mua bán “Cái tự do trong sạch, cái độc lập thanh nhàn là cái phúc riêng cho ngời ở Cõi đời mới” Đó
Trang 28là nơi “không có sự thiên tai, không có sự địa biến, không có sự trộm cớp, không
có sự án từ, không có sự kiện cáo, không có sự buôn danh bán lợi, không có câu thế thái nhân tình Ngoài sự lo ăn dùng, chỉ chuyên ý suy cầu lẽ tiến hoá” (Tiêu diêu
du [22,348])
Nh vậy, cái xã hội lí tởng mà Tản Đà mơ ớc chứa đựng hầu hết các giá trị tốt
đẹp của tất cả các xã hội Nó hoàn toàn là một thế giới tởng tợng, bịa đặt theo dòng suy nghĩ của tác giả Xã hội không tởng đó là giấc mơ của Tản Đà về tơng lai đất n-
ớc, là khát vọng chân thành của ngời nghệ sĩ về một xã hội mai sau cho đồng bào mình - một xã hội hoà bình, thân ái, giữa ngời và ngời tràn ngập tình thơng yêu, hạnh phúc…
“Giấc mộng con II” là một thiên tiểu thuyết du kí đúng nghĩa Giấc mộng lên
trời của Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu đợc cụ thể hoá, chi tiết hoá bằng từng cuộc tiêu du, gặp gỡ ở “Giấc mộng con II”, cái Tôi Tản Đà bộc lộ rất rõ nét, đầy cá
tính Vị trích tiên về trời, về chốn Bồng lai nh cá về nớc, tha hồ quẫy sóng, tha hồ bộc lộ mình, thoả sức thể hiện tài năng và sức sáng tạo độc đáo của mình Nếu nh ở
“Giấc mộng con I”, Tản Đà đóng vai ngời kể chuyện, rất ít khi xng danh, chỉ đứng
sau câu chuyện thì ở “Giấc mộng con II”, cái Tôi Tản Đà tự xng danh, đợc nhà trời
hỏi danh, gọi danh Cái Tôi ấy sừng sững hiện diện trong tác phẩm rất mới lạ và
đầy thú vị
Không gian nghệ thuật trong “Giấc mộng con II” là chốn Thiên giới Đây
cũng là không gian trong khát vọng của Tản Đà, nó mang tính chất biểu trng Trong giới hạn, phạm vi không gian ấy, Tản Đà đã bộc lộ những suy nghĩ, ớc mơ, khát vọng và những niềm trăn trở, dằn vặt trong tâm hồn mình ở đó, Tản Đà đã gặp những “ngời quen”, những chỗ “thân thuộc” nhất của mình Từ chỗ là những
kẻ tri âm, tri kỉ, Tản Đà mới có dịp bộc bạch hết tâm t mà dờng nh hạ giới, cõi trần
ai không có ngời nào đủ tin cậy để ông thổ lộ “Cái thân luân lạc ở hạ giới bao năm nay mà bao nhiêu tri kỉ ở cả chốn thiên đình” Từ Khổng Tử, Tử Cống, Tử Lộ,
Mạnh Tử, L Thoa, Hàn Thuyên, Nguyễn Trãi rồi Đông Phơng Sóc, Tây Thi, Chiêu
Trang 29lắm” với Tản Đà Ch tiên đón Tản Đà nh chờ đợi một đứa con đi xa về để rút những nỗi niềm gan ruột ra mà thổ lộ.
Khiên Ngu dẫn Nguyễn Khắc Hiếu đến nhà Đông Phơng Sóc ở đó, Nguyễn Khắc Hiếu gặp hai vị tiên nữ ăn mặc lộng lẫy, nhờ ông Đông giới thiệu Tản Đà mới biết đó là Dơng Quý Phi và Tây Thi Cuộc trò chuyện giữa bốn ngời xoay quanh những tích tuồng Tản Đà đã viết về hai giai nhân này Lần này, Tản Đà đợc chính nhân vật của mình bày tỏ sự khâm phục cái tài của mình Giai nhân cũng chính là
sự phân thân của Tản Đà mà thôi! Đây đích thị là giọng Nguyễn Khắc Hiếu:
“Quái, sao ông không là chúng tôi mà ông tả đợc cái tâm sự của chúng tôi đúng
đến nh thế” Tản Đà ngông là thế và cũng đáng yêu vì thế!
Cái thú say sa của Tản Đà đợc thoả mãn khi vừa uống rợu cùng mĩ nhân mình yêu mến vừa xem tiên múa hát Đông Phơng Sóc trong vai trò “hớng dẫn viên
du lịch” dẫn Tản Đà đi chơi, thăm thú khắp nơi trên thiên đình
Cuộc hội ngộ giữa Tản Đà và chú Cuội thật thú vị “Cùng ngồi cả ở gốc đa nói chuyện”, Cuội hỏi Tản Đà “Ông bây giờ đã bớt ngông cha?”, lập tức vị trích
tiên đáp lại “Tôi ngông đã bằng anh nói dối đâu?” - hiểu nhau đến thế là cùng!
Qua cung Quảng Hàn chỗ Hằng Nga ở, Khắc Hiếu đòi vào coi, nhờ sự kiện này chúng ta mới đợc nghe Đông Phơng Sóc thuật chuyện vì sao Nguyễn Khắc Hiếu bị
đày xuống hạ giới: “Nguyên xa ông ở trên này là một vị Khuê tinh, Thợng đế có lòng yêu lắm Một khi ông dám làm thơ liệng sang cung Quảng Hàn, bị thằng Cuội bắt đợc đem trình Thợng đế Ngài giận mới đày ông xuống hạ giới Ông đã bị xuống hạ giới mà lại còn làm thơ, làm bài hát nói láo, nh vẫn có ý bờm xơm với Hằng Nga, làm cho Thợng đế càng giận, tăng thêm cái hạn đày ông hai mơi năm nữa Nếu bây giờ ông lại vào coi cung Quảng Hàn thì không biết tới bao giờ mới đ-
ợc thoát hạ giới mà trở về cõi tiên” Nguyễn Khắc Hiếu không hề lạc lõng giữa cõi
thần tiên bởi vì ông “tuy cốt tục cũng hồn tiên”.
Nhân phiên chợ Trời, Đông Phơng Sóc dẫn Nguyễn Khắc Hiếu đi ra chợ chơi Chợ Trời thực là một cõi mơ “Chợ Trời không phải là chỗ để buôn bán, mà ở
Trang 30chung cho khắp cả ai ai Rợu, ai muốn uống, tha hồ uống; hoa, ai muốn lấy, tha hồ lấy; quả, ai muốn ăn, tha hồ ăn; sách, ai muốn coi, tha hồ coi Những các cô tiên
mà mình thấy là bán rợu, bán hoa, bán sách, bán quả đó đều là ngời giữ về các chức việc ấy Phiên chợ thờng hàng ngày thời chỉ có hoa quả; đến phiên chính thời mới có sách với rợu Cho nên mỗi phiên chợ chính, ch tiên đến thật đông Chợ rộng không biết là bao nhiêu, mà các vật bày ra đó thời chỉ có ba thứ: nhiều nhất
là hoa quả, thứ hai đến sách, thứ ba đến rợu (…) Chợ nh thế mới là chợ! Trời nh thế mới là trời! Thật là Thủ chi bất cấm, dụng chi bất kiệt (tha hồ lấy, không ai cấm; tha hồ dùng, không bao giờ hết - Tản Đà chú)” Điều thú vị nữa là sách của
An Nam ta bày ở chợ Trời “thời lơ thơ ít lắm, chỉ có mơi thứ” Mà mơi thứ đó chỉ
toàn là của …Tản Đà: Khối tình con, Giấc mộng con, Đài gơng kinh, Đài gơng truyện, Lên sáu, Lên tám….
Thiên đình cũng làm báo giống hạ giới “Báo ở trên này gọi là Thiên triều
nhật báo, mỗi ngày ra một kì; trong có đủ các chữ và các việc của vạn quốc ở hạ giới” Cụ Hàn Thuyên làm chủ bút, Nguyễn Sĩ Cố giúp về phần hài đàm, Chu Kiều
Oanh giúp việc dịch báo Pháp, Hồ Xuân Hơng và Đàm Thị Điểm chịu trách nhiệm phát hành, thỉnh thoảng viết văn uyển cho báo Biết Nguyễn Khắc Hiếu chuyên nghề viết văn, làm báo, cụ Hàn Thuyên nhờ ở lại giúp đỡ cụ phần bài vở ít lâu Sự giúp đỡ của Tản Đà làm cho phần báo An Nam trong tờ nhật báo tấn tới hẳn Thiên
đình biết thêm tài của Tản Đà Tản Đà đợc Trời truyền vào hầu, nhắc nhở việc
“thiên lơng” đã giao cho ông phụ trách.
Tản Đà đến hầu đức Khổng Tử đúng lúc Ngài đang giảng nghĩa hai chữ “tuỳ thời” trong Kinh dịch Khổng Tử đang trong tâm trạng buồn lo về tình hình Nho
học ở á Đông Trong cuộc trò chuyện với đức Khổng, ta thấy đợc ý nguyện muốn chấn hng Nho giáo cũng nh sự “chân tâm với Nho học” của Tản Đà - Nguyễn Khắc
Hiếu
Từ biệt đức Khổng cùng các học trò của Ngài, Nguyễn Khắc Hiếu đến thăm hầu cụ Nguyễn Trãi Chỗ cụ ở đợc tả là rất thâm nghiêm, khuôn mặt cụ đợc chú ý
Trang 31khắc hoạ ở nét trầm t Tản Đà đợc cụ coi “là anh em trong một nhà”, sai ngời lấy bàn ghế, rợu, quả ra cùng uống, cùng say, cùng tâm sự.
Khắc Hiếu đem niềm tâm sự “Việc lớn trong đời không thể làm đợc, ngời đời
xa lấy làm một sự đáng khóc thứ nhất Không làm đợc mà lại có ngời trông cậy vào mình thời đáng khóc lại biết là bao nhiêu” bày tỏ với Chu Kiều Oanh Việc thiên l-
ơng, việc chấn hng Nho giáo, việc chăm lo cho tơng lai đất nớc đều là những việc lớn Tản Đà muốn làm và Trời cũng nh đức Khổng, cụ Nguyễn Trãi trông đợi ở ông Chu Kiều Oanh với Nguyễn Khắc Hiếu là chỗ tri kỉ từ độ cùng ở trần ai Chu Kiều Oanh là ngời tình nhân lí tởng của Khắc Hiếu Trên cõi tiên này họ lại đợc tơng phùng Họ gọi nhau là cố nhân, cùng chia sẻ, giải nỗi phiền muộn chất chứa trong
sâu thẳm tâm hồn Đợc cùng cố nhân, giai nhân đi thuyền dạo chơi trên sông Ngân
“Một dải nớc trong không đáy, hai con thuyền nhẹ cùng bơi, ra đến giữa dòng sông (…) gác rầm cùng buông thuyền cho trôi xuôi” thì còn giấc mộng nào đẹp hơn?
Trong “Giấc mộng con” lần này, Tản Đà hiện thực hoá nỗi “nhớ ông L Thoa”
(tức Rutxô - ngời mở đờng cho Đại cách mạng Pháp 1789 trên mặt trận t tởng) bằng cuộc gặp gỡ và trò chuyện với cụ Tản Đà vẫn nhận mình là học trò của cụ L Thoa, tán đồng t tởng đại đồng của cụ ở cuộc gặp gỡ chốn thiên đình này, cụ L Thoa bày tỏ lòng yêu quí, muốn nói chuyện với Tản Đà Tản Đà đã để cho Rutxô gặp gỡ Mạnh Tử ở t tởng “dân là quý” Và dù khoảng cách giữa hai cụ là hơn hai
nghìn năm và ở hai thế giới hoàn toàn khác (phơng Đông và phơng Tây) thì họ vẫn
“thờng xuyên hay đi lại” với nhau Cuộc gặp gỡ giữa hai nhà t tởng chỉ diễn ra trong giấc mộng của Tản Đà
Không gian mộng, thế giới mộng… của Tản Đà đợc đẩy lên cao nhất ở cảnh
“Tiệc rợu Bồng lai” Vị trích tiên của chúng ta đắm chìm trong mộng, trong cái mơ
màng huyền diệu của Bồng lai tiên cảnh “Rợu thật không uống mà nh say, trời chẳng biết là tra hay tối Khi đó thời chỉ thấy buồn thời
muốn rằng đi chơi, thực cũng không tính đợc đi chơi đâu cho khỏi buồn Sự nhớ
đến Dơng Quý Phi và Tây Thi có dặn mình đến chơi bèn hỏi thăm đi kiếm các ngời
Trang 32biếc, cỏ lục hoa hồng”, “chỉ toàn là những mĩ nhân ở hạ giới lên” trong đó có
những đại mĩ nhân, những trang tuyệt sắc: Tây Thi, Dơng Quý Phi, Chiêu Quân Tản Đà đợc dự tiệc rợu Bồng Lai với quần tiên Điều đặc biệt là “dự tiệc có hơn trăm ngời mà chỉ có một mình mình không phải là mĩ nhân” Tản Đà đợc một dịp
say rợu tiên, cảnh tiên, ngời tiên Lại còn đợc các mĩ nhân khen ngợi tài văn
ch-ơng, Tản Đà càng thêm hứng khởi Dơng Quý Phi tâm sự: “Chúng tôi ở trên này hiện bây giờ thật buồn, không mấy khi đợc ông là một ngời văn nhân lên tới đây, hôm nay lại đông đủ chúng bạn, vậy xin ông đặt cho một bài hát để chị em hát chơi” Dơng Quý Phi yêu cầu Tản Đà đặt một bài hát về tình cảnh nhà Đờng trong
lúc An Lộc Sơn vào Trờng An và tình hình nớc Ngô trong lúc quân Việt vào Cô Tô
“Mình khi đó đã thừa tửu hứng, lại nghe đề ấy có xúc cảm, lại là mệnh lệnh của mĩ nhân, bèn bảo lấy giấy bút, liền đọc cho một ngời Tần cung đứng chép luôn Chép xong, đa các vị mĩ nhân xem kĩ một lợt Rồi Chiêu Quân đánh tì bà, Dơng Quý Phi say rợu đứng dậy múa, Tây Thi hát” Cha ai “sớng” đợc nh Tản Đà! Đợc dự tiệc rợu
với cả trăm giai nhân tuyệt sắc, đợc cùng lúc thởng thức tài đàn của Chiêu Quân, giọng hát Tây Thi, tài múa của Dơng Quý Phi… thật vợt xa niềm hạnh phúc của bậc đế vơng Hán Nguyên Đế, Ngô Phù Sai, Đờng Minh Hoàng cộng lại! Và giấc mơ này cũng vợt xa những mộng ớc của các nhà văn kim cổ khác về cõi Bồng Lai Tình cảm của Tản Đà cứ vớng vít mãi ở chốn Bồng lai này: “Ai về không dứt, những ai để ai về cũng không dứt! Về không dứt, càng liên miên!”.
Sau này, hồi tởng lại giấc mộng Bồng lai đó, Tản Đà cho rằng bình sinh cha khi nào có đợc khoái cảm nh vậy
Bồng lai chính là hiện thân giấc mơ hạnh phúc của Tản Đà Đó không phải là cảnh ông đợc gặp trong giấc mơ thực nào, càng không phải là sự thật Đó là những hình ảnh h cấu tuyệt vời qua trí tởng tợng độc đáo của Tản Đà Thế giới của những tởng tợng bay bổng chính là sự thể hiện rõ ràng nhất một trong những đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa lãng mạn
Trong hai “Giấc mộng con”, Tản Đà đã tởng tợng mình đi đến những miền
đất xa xôi mới chỉ nghe tên qua tân th Đó là những XanhTêchiên, Niu Oóc,
Trang 33Oasinhtơn, Alasca, Canađa,… là thế giới đại đồng Cõi đời mới ở Bắc Băng Dơng
trong “Giấc mộng con” thứ nhất Đó là chuyến du lịch Thiên đình với những cuộc
gặp gỡ các nhân vật trong thần thoại, truyền thuyết, trong lịch sử, giai thoại: Khiên Ngu, Cuội, Đông Phơng Sóc, Hàn Thuyên, Hồ Xuân Hơng, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Trãi, Tây Thi, Dơng Quý Phi, Chiêu Quân đến Rutxô, Khổng Tử, Mạnh
Tử, Tử Lộ, Nhan Tử, Nhiễm Cầu, Tử Cống … Tiếp nối Tản Đà, các nhà thơ lãng mạn sau đó tiếp tục giấc mơ bay bổng vào thế giới thần tiên để lắng nghe “tiếng sáo Thiên Thai”, “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”…
“Giấc mộng lớn” là cuốn tiểu thuyết tự truyện của Tản Đà Đối tợng miêu tả
của tác phẩm là cuộc đời và thân thế của chính tác giả Cuộc đời đầy chất thơ, chất tiểu thuyết nhng cũng nhiều bất hạnh của mình đã đợc Tản Đà kể lại bằng bút pháp lãng mạn Ông cho rằng: “Đời ngời đã là giấc mộng lớn, trong giấc mộng lớn lại
có giấc mộng con, giấc mộng con thứ nhất lại có giấc mộng con thứ hai …” (Lời sau sách Giấc mộng con thứ hai“ ” ) ở chỗ khác, ông lại viết “Mộng và mộng, đời ngời cũng là mộng, mộng là cái mộng con, đời là cái mộng lớn, chỉ khác nhau vì dài ngắn lớn nhỏ và thôi” (Dẫn theo Lê Thanh [5,187]).
Mở đầu “Giấc mộng lớn” là một câu văn rất Tản Đà: “Giấc mộng lớn, từ năm lên bốn trở về trớc không nhớ, nhớ từ năm lên năm” Tiếp đó là những câu chuyện
về cuộc đời Nguyễn Khắc Hiếu từ năm lên năm đến năm ba mơi sáu tuổi, rất chi tiết, cụ thể, chân thực Tính chất lãng mạn và con ngời thi sĩ Tản Đà hiện lên trong từng chi tiết Nh sự kiện thất tình cô Hàng Bồ cùng với việc thi hỏng khiến “Cái bụng chán đời lên đến cực điểm, sau quyết mong tịnh cốc để từ trần” Tịnh cốc ở
Cổ Đằng ba tháng “Bụng không biết no, không biết đói; ngời không biết vui, không biết buồn; chỉ cứ mỗi ngày một bữa rợu, hoặc uống suông, hoặc ăn bằng một đĩa rau da nhỏ con, song rồi đem chõng ra nằm dới cây ngọc lan nghe những con chim kêu trên cành cây, hoặc là xem những đám mây đi trên trời, con chim bay trên không, xem kết cục đến đâu là hết, ngày thanh đêm vắng, mới sinh ra nhiều những thơ văn quốc văn” Đang ở Cổ Đằng, có lệnh của gia đình bắt phải về quê, Tản Đà
Trang 34chuyển từ ăn rau sang ăn thịt Tản Đà quả là một ngời nghệ sĩ ẩm thực Qua cách
ăn ông miêu tả chúng ta thấy rõ điều này: “Mỗi ngày cũng chỉ một bữa ăn, mỗi bữa
ăn hoặc là cái thủ heo, hoặc con gà con vịt hoặc con cá Tất toàn thể đặt trong mâm với con dao, đĩa muối; rợu thời uống hũ, không uống chai Bữa ăn cũng rất là vô thờng, nếu thuộc về phần đêm thời có khi thắp 28 ngọn nến, gọi là nhị thập bát
tú, thắp 7 ngọn nến gọi là thất tinh đàn Bữa ăn nếu về phần ngày thì sau khi ăn xong, tất phải có con dao thanh quắm, đi chém phạt ít nhiều cành cây, nh không thế thì không thấy thú sớng”.
Hết việc ăn, Tản Đà nói nhiều đến sự đi chơi Kẻ “giang hồ mê chơi quên quê hơng” Nguyễn Khắc Hiếu không chỉ “loanh quanh trong mấy tỉnh ở Bắc” mà
vào chơi khắp Trung Kỳ, rồi ra Bắc vào Nam vì sự chơi và cũng vì việc làm báo Trong một lần đi chuyến tàu Sài Gòn - Hải Phòng ở toa hạng t, Tản Đà đã đi cùng một nhóm “có hai mơi ngời, ốm đau đói rách nh nhau cả” Ông gọi đó là bọn đồng chu và “trong khoảng hai ngày đêm, xã hội đồng chu đối với ai, ý hậu tình thân,
đáng cảm hoài vô hạn Muốn ăn xoài có ngời cho; muốn ăn dứa, có ngời gọt; muốn ăn hà có ngời mở; muốn uống nớc có ngời đi đun Không phải vua, không phải chúa, không phải bà chủ nợ cho vay, mà sự tôn sùng xã hội đợc nh ai, trần ai cha mấy ai ai vậy!” Xã hội đồng chu này cũng chính là một phần giấc mơ của Tản
Đà về thế giới đại đồng theo t tởng của Rutxô
“Giấc mộng lớn” kể lại những sự long đong của Tản Đà với nghề báo Việc
An Nam tạp chí biên tập ở một nơi, in ở một nơi nhng nhất định phải phát hành ở
Hà Nội, phiền phức quá phải đóng cửa; rồi Tản Đà kể lại việc vào Nam nhận làm phụ bút cho Đông Pháp thời báo ngày 1er October 1927 (ngày 1/10/1927) chịu
trách nhiệm về mục văn chơng ở Sài Gòn một thời gian, nỗi nhớ xứ Bắc lại dâng lên, “nhớ những thức ăn ở Huế, nhớ cây rau húng Láng, nhớ quả chanh thơm” Tản
Đà mang theo tâm sự của một ngời con tha hơng, nhớ đến từng hơng vị tinh tế nhất của quê hơng Cũng là quả chanh nhng từ Huế trở vào chanh không có vị Nhớ Bắc, Tản Đà lại tiếp tục hành trình xê dịch ra Bắc, chơi biển Nha Trang, thăm Bình
Trang 35đoạn “đại kết thúc ba mơi sáu năm Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu” là việc về quê
“bán rẻ mấy thứ sách, nhờ miếng đất làm nhà ở Vĩnh Yên Ba gian nhà cỏ, nửa mẫu đồi cây, cá nội chim rừng, đèn trăng quạt gió” Khép lại “Giấc mộng lớn” là
những tâm sự Tản Đà ngời tri âm - ngời trong mộng - cô Chu Kiều Oanh, là những suy nghĩ của Tản Đà về nhân sinh:
“Trăm năm cõi tục còn dài Con đờng vô hạn trên đời còn xa”
2.2.2 Thế giới mộng ngoài các Giấc mộng“ ”
Thế giới mộng, cảm quan lãng mạn của Tản Đà không chỉ đợc thể hiện trong các “Giấc mộng” mà có sự bộc lộ trong phần lớn sáng tác khác của ông ở phần tr-
ớc, chúng tôi đã hiểu khái niệm mộng trong thơ văn Tản Đà là toàn bộ tởng tợng lãng mạn của ông trong sáng tác Do vậy ở mục này, chúng tôi sẽ đi vào những biểu hiện cụ thể của sự tởng tợng lãng mạn ấy trong các tác phẩm
Trong công cuộc hiện đại hoá nền văn học dân tộc, Tản Đà giữ một vị trí không thể thay thế, “là ngời của hai thế kỉ” [18,11] Tản Đà vinh dự đợc mời “khai hội” cho phong trào thơ Mới Các giấc mộng vơn tới những thế giới mới mẻ, tơi
đẹp, thoát khỏi mọi tù túng, khô khan, giả dối của Tản Đà đợc các thế hệ sau tiếp nối Có thể xem “Muốn làm thằng Cuội” là một tuyên ngôn của Tản Đà:
“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần giới em nay chán nữa rồi.
Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.
Có bầu, có bạn, can chi tủi, Cùng gió, cùng mây, thế mới vui.
Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám Tựa nhau trông xuống thế gian, cời”.
Đến Tản Đà, văn học Việt Nam mới có sự hình thành rõ nét cái Tôi cá nhân - một đặc điểm quan trọng chứng tỏ trình độ hiện đại của nền văn học Cái Tôi Tản
Trang 36Đà mang theo cái buồn, cái sầu vạn thuở, nỗi buồn sầu mang tầm vóc nhân thế, vũ trụ:
“Ngời đời thử ngẫm mà hay Trăm năm là ngắn một ngày dài ghê.
Còn ai, ai tỉnh, ai mê Những ai thiên cổ đi về những đâu?
… Đời đáng chán biết thôi là đủ
Sự chán đời xin nh lại tri âm”.
(Đời đáng chán)
Sau này Huy Cận mang theo nỗi buồn từ vạn kỉ, một nỗi buồn lặng lẽ:
“Một chiếc linh hồn nhỏ Mang mang thiên cổ sầu”
Còn Xuân Diệu lại có cái buồn vô cớ:
“Hôm nay trời nhẹ lên cao Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”.
Những nỗi buồn sầu vô cớ, triền miên ấy đã có từ Tản Đà Tản Đà giải thích
lí do mình phải kiếm thuốc “Giải sầu”: “Từ độ sầu đến nay, ngày cũng có lúc sầu,
đêm cũng có lúc sầu Ma dầm lá rụng mà sầu, trăng trong gió mát mà càng sầu; một mình tịch mịch mà sầu,đông ngời cời nói mà càng sầu;nằm vắt tay lên trán mà sầu, đem thơ văn ngâm vịnh mà càng sầu Sầu không có mối, chém sao cho đứt; sầu không có khối, đập sao cho tan…” Rõ ràng đây là nỗi buồn sầu thờng trực của
những ngời nghệ sĩ lãng mạn Tản Đà khơi gợi lại những mối sầu nổi tiếng trong lịch sử, giai thoại, từ việc Đờng Minh Hoàng nằm ở đất Ba Thục thơng tiếc Dơng Quý Phi vì nàng đã tự treo cổ chết dới gốc cây lê, là tâm trạng Napôlêông sau khi thua trận ở Oaterloo bị đày ra đảo Thánh Hy Liên (Saint Héléne)…đến việc Tô Vũ
bị bắt chăn dê trên bãi bể Bắc Hải, mỗi mùa thu đến nhìn chim nhạn bay về nam
mà nhớ quê hơng… Sau đó, Tản Đà rút ra kết luận “Thời từ xa đến nay, đông, tây, nam, bắc, không cứ ông đế vơng, ông hiền thánh, ông anh hùng hào kiệt, chí khí
Trang 37nhau một chữ sầu cả Mình, tài, đức, địa vị, phong lu, phẩm giá, không gì đợc nh bấy nhiêu ngời đời xa Vậy thời cùng là một bạn sầu sau trớc với những bấy nhiêu ngời đời xa” Đáng nói hơn, Tản Đà cho rằng “sầu cũng là một cái thú” Và tuy bài
tản văn lấy “Giải sầu” làm cái đích chính để hớng đến nhng rốt cục tác giả lại đi
đến sự tổng quát: “Đã là một cái thú, lại là một sự hay, thời sầu không cần giải, mà thực không nên giải” Dờng nh các nhà thơ Mới tiếp đó chỉ làm công việc cụ thể
hoá mối sầu mà Tản Đà đã nhận thấy và khơi ra
Chất lãng mạn đậm đặc trong phần lớn sáng tác của Tản Đà Chất lãng mạn
ở đó đã khác rất nhiều so với trong thơ văn xa, ở các nghệ sĩ xa Cái Tôi lãng mạn Tản Đà tự xng danh, tự bộc lộ bản ngã Tản Đà thừa nhận mình đa tình Ông “Nói chuyện với ảnh”:
“Ngời đâu cũng giống đa tình Ngỡ là ai, lại là mình với ta”
Sau khi thất tình cô họ Đỗ ở Hàng Bồ, ấm Hiếu đi chơi qua Việt Trì, lên Hoà Bình, cất lên một tiếng than nh một tiếng gọi đàn để cả một trào lu lãng mạn tiếp tục cái dòng cảm xúc:
“Vì ai cho tớ phải lênh đênh Nặng lắm ai ơi một gánh tình”
(Chơi Hoà Bình)
Khác với những nhà nho trớc đó, Tản Đà quan niệm rất mới mẻ về tình yêu Tình yêu của Tản Đà đã vợt khỏi sự hôn nhân của các cụ xa, yêu chỉ để mà yêu, yêu để tìm chốn tri âm mà dốc bầu tâm sự Đây cũng là khởi điểm cho thứ tình yêu muôn hình vạn trạng trong thơ Mới Những ngời tình của Tản Đà không phải là mĩ nhân nhng đều có một tâm hồn đẹp đủ để làm ngời bạn tâm giao với Tản Đà Ông dựng lên nhân vật Chu Kiều Oanh - một ngời tình lí tởng, ngời tri âm hiểu ông nhất Nhân vật này nhiều lần xuất hiện trong sáng tác của Tản Đà, chứa đựng khát vọng đợc cuộc đời hiểu mình, thông cảm, trân trọng tài năng mình của Tản Đà Trong những lần lên tiên, hầu trời, Tản Đà cũng đem cái đa tình của mình theo Bài
“Hầu Trời” đợc trình bày nh một câu chuyện có thật đã xảy ra, có mở đầu, diễn
Trang 38biến, kết thúc Trời sai hai cô tiên xuống trần gọi Khắc Hiếu lên hầu vì cái tội ngâm thơ làm Trời không ngủ đợc Qua thiên môn (cổng trời) vào chầu, trông thấy Trời, sụp xuống lạy, Trời bèn sai tiên nữ dắt lôi dậy Trời không sai Thiên Lôi hay bất cứ một nhân vật nào mà sai tiên nữ lôi Nguyễn Khắc Hiếu dậy Rõ ràng Trời ở đây cũng là Tản Đà Những gì Trời nói, Trời làm đều hợp ý Tản Đà Và chỉ ở thiên giới, tài năng của Tản Đà mới thực sự đợc trân trọng, thực sự có giá trị Chợ Trời bán toàn sách của Tản Đà Trời sai Tản Đà đọc văn cho Trời cùng quần tiên nghe:
“Đọc hết văn vần, sang văn xuôi, Hết văn thuyết lý, lại văn chơi.
Đơng cơn đắc ý đọc đã thích, Chè trời nhắp giọng càng tốt hơi!
Văn dài, hơi tốt ran cung mây, Trời nghe Trời cũng lấy làm hay Tâm nở nh dạ, Cơ lè lỡi
Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng,
Đọc xong mỗi bài, cùng vỗ tay”.
Trong con mắt Tản Đà, Trời và quần tiên là những độc giả biết thởng thức văn chơng Chính vì thế mà tài năng văn chơng của Tản Đà đợc khẳng định:
“Trời lại phê cho: Văn thật tuyệt!“
Đợc ngời trần khen nh thế đã là tuyệt vời huống hồ đây lại là Trời phê! Cũng
dễ hiểu vì sao Tản Đà thích lên tiên, vì sao Tản Đà viết ở khổ đầu bài thơ là “sớng lạ lùng”