Khi phái ông đi hiệu lực sang Tây Dương vua ăn không ngon, ngủ không được khi ông về vua Minh Mệnh đã nói “Ngươi đi ba tháng trẫm cơm không ngon, trẫm thống nhất bốn phương điều động mọi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ ÁNH THI
NGHIÊN CỨU VỀ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA MỘNG DƯƠNG TẬP TRONG TỐN PHỦ THI TẬP
Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS BÙI THỊ THÚY MINH
Cần Thơ, 2011
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 3Cuộc đời của mình cùng với tập thơ đi xứ của ông đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc, và đáng được nghiên cứu để hiểu thêm về con người cũng như tâm tư nguyện vọng của ông về đất nước và con người trong xã hội đương thời
Khi nghiên cứu về Hà Tông Quyền chúng ta sẽ thấy ông là một vị quan thanh liêm, trong cách sống của ông có nhiều điều đáng cho ta học hỏi Trong sự nghiệp sáng tác văn chương ông là bậc anh tài, đã có những sáng tác bất diệt với thời gian
Vì những điểm sáng ấy của Hà Tông Quyền nên người viết chọn đề tài “Nghiên
cứu về nội dung và nghệ thuật của Mộng Dương Tập trong Tốn Phủ thi tập “của ông
để làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề
Đầu thế kỉ XX, khi giới nghiên cứu nhận thấy cần phải tập hợp lại những trước tác của các tác giả ở các thế kỉ trước, để lưu giữ cho người đời sau, thì họ vấp phải những khó khăn do những nguyên nhân sau: Một là các nhà thơ xưa sáng tác không nhằm mục đích lưu danh, họ sáng tác là để giải trí Nguyên nhân thứ hai, với quan niệm văn chương là của chung, nên chuyện “bản quyền” không được các nhà văn quan tâm, nên tác phẩm của họ thường bị thất lạc Nguyên nhân thứ ba là do văn bản bị hư hỏng, bị hủy hoại mất mát quá nhiều, khi thì do chiến tranh sách vở bị cháy, bị cướp, có khi do công tác lưu trữ không tốt
Mặt khác, các tác phẩm chữ Hán thông thường chỉ được lưu hành trong giới trí thức, còn đại bộ phận nhân dân không được tiếp cận nên ít được phổ biến rộng rãi Thơ chữ Hán dù được tôn trọng đề cao, nhưng nó khá xa lạ đới với đông đảo nhân dân
vì thế chúng nhanh chóng đi vào quên lãng Vì những nguyên nhân này mà ta thấy thơ chữ Hán của Hà Tông Quyền ít được người biết đến, nên cũng có không nhiều những bài nghiên cứu về ông Nhưng nếu ai đã từng đọc qua các tác phẩm của ông thì rất khó quên bởi nội dung sâu xa, thể hiện được tâm trạng của một cá nhân trong xã hội đương
Trang 4thời
Khi nói về trách nhiệm của ông với dân, với nước thì sách Từ điển tác gia Việt Nam do Nguyễn Quang Thắng biên soạn có viết “Lúc ở nội các, lúc ở viện cơ mật,
ông hết lòng lo việc dân, việc nước, ông nổi tiếng văn chương đương thời”.Thật vậy,
khi đọc thơ văn của ông ta mới thấy được tài năng nghệ thuật của ông, rất đúng với những gì Nguyễn Quang Thắng đánh giá
Cũng trong sách Từ điển tác gia Việt Nam, Nguyễn Quang Thắng đã khẳng định
“Mộng Dương tập là tập thơ nhưng có ít cho sử học, đáng quý vì có ghi chép nhiều
kiến thức về Nam Dương thời đó”, đây là nhận xét hoàn toàn đúng, khi nghiên cứu thơ
của ông ta mới thấy những ghi nhận ở Giang – lưu – ba là rất đúng với thực tế, và có ích cho những người muốn tìm hiểu về lịch sử
Phan Thanh Giản đã nói:
Khai hoa sự nghiệp suy tiền bối
Tuyệt thế văn chương tất đại gia
Khi đánh giá về những sáng tác của Hà Tông Quyền, Phan Thanh Giản đã khẳng khái mà khẳng định đây là bậc thầy của văn chương Còn trong sự nghiệp thì chúng ta phải học hỏi rất nhiều ở Hà Tông Quyền về sự khôn khéo và tài năng trong con đường làm quan Trong giới văn sĩ thời bấy giờ, hầu hết họ đều ca ngợi tài năng của Hà Tông Quyền
Vua Minh Mệnh rất trong dụng ông vua thường xuyên cho gọi ông vào triều để hỏi ý kiến Khi phái ông đi hiệu lực sang Tây Dương vua ăn không ngon, ngủ không được khi ông về vua Minh Mệnh đã nói “Ngươi đi ba tháng trẫm cơm không ngon, trẫm thống nhất bốn phương điều động mọi người, không có ngươi không được”, Là
vị quan thanh liêm luôn giữ phẩm giá trong sạch, quyết tâm cống hiến cả cuộc đời cho nước nhà, nhưng sống trong thời buổi xã hội có nhiều biến động lúc bấy giờ, Hà Tông Quyền cũng như những công thần thời ấy không tránh khỏi tấn bi kịch Trải qua những bước thăng trầm, sóng gió của cuộc đời đã giúp cho ông có cái nhìn khách quan về xã hội Khi đi vào nghiên cứu những tác phẩm của ông ta mới thấy lời nhận xét của Phan Thanh Giản thật chính xác Từ câu tứ, cách gieo vần, niêm luật mà ông vận dụng trong thơ đều chính xác và độc đáo
Vua Minh Mệnh khen ông là “Kiện tiệp tài tử” Với lời khen này đã khẳng định tài hoa của Hà Tông Quyền trên thi đàn văn học Việt Nam
Trang 5Bước đầu trong sự nghiệp văn chương của mình, Hà Tông Quyền đã được những bậc anh tài đưa ra những lời nhận xét, và họ đều ca ngợi ông ở cả hai lĩnh vực văn chương và sự nghiệp, điều đó cho thấy ông đã gặt hái được những thành công vang dội, đáng để ta học hỏi
Vì đây là lần đầu tiên người viết nghiên cứu tác giả cũng như tác phẩm này nên không tránh khỏi những thiếu sót
3 Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu hay tìm hiểu một vấn đề nào đó thì trước tiên người ta phải đặt mục đích lên hàng đầu, vì chỉ khi có mục đích thì người ta mới thành công Chọn đề tài này người viết mong muốn mọi người có thể hiểu rõ hơn về nội dung, nghệ thuật tập thơ và những giá trị vốn có của nó, người viết hy vọng với việc nghiên cứu đề tài này mọi người sẽ biết thêm về một danh nhân văn hóa của dân tộc cũng như những tâm tư, tình cảm ông về nhân dân, về đất nước
Mặc khác, người viết thấy nhu cầu tìm hiểu về văn hóa thời trung đại không ngừng được mở rộng, nên người viết rất mong tìm hiểu kỉ về tác giả, tác phẩm còn ít người biết này, để góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn học trung đại nước nhà
4 Phạm vi nghiên cứu
Hà Tông Quyền một vị quan sống dưới triều Nguyễn, đồng thời cũng là một nhà thơ có những đóng góp mang nhiều ý nghĩa trên thi đàn văn học Việt Nam Nhưng tiếc thay những vần thơ của ông chưa được các nhà nghiên cứu đi sâu vào phân tích đánh giá, có chăng chỉ là những bài viết mang tính chất chủ quan, chưa có cái nhìn khách quan chi tiết về nội dung thơ văn của ông, vì vậy mà không ích độc giả có cái nhìn sai
lệch về về tác giả Với đề tài “Tìm hiểu về nội dung và nghệ thuật tập thơ Mộng Dương Tập” chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn nữa về nội dung tập thơ, để thấy được cái
nhìn của ông về xã hội đương thời, bên cạnh đó sẽ tìm hiểu kĩ hơn về nghệ thuật để thấy được tài năng sáng tác thơ văn của ông
Với tên của đề tài là “Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật tập thơ Mộng Dương Tập” tự bản thân nó đã giới hạn cho người viết đối tượng và phạm vi nghiên cứu, vì
vậy trong quá trình khảo sát người viết chỉ xoáy sâu vào tìm hiểu về nội dung và nghệ thuật của tập thơ để từ đó có thể thấy được tầm quan trọng của tác giả trên thi đàn văn học nước nhà
Trang 65 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này được hoàn chỉnh và có hiệu quả, trước tiên chúng tôi tiến hành thu thập tài liệu có liên quan để phục vụ cho việc nghiên cứu Sau đó vận dụng phượng pháp phân tích và tổng hợp tài liệu đã thu thập được, để đánh giá và so sánh tài liệu đó với tác phẩm để rút ra những ý nghĩa về nội dung và đặc sắc về nghệ thuật Trên phương diện nghiên cứu về nội dung chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu nội dung
đề thấy được tâm tư của ông về xã hội đương thời Về nghệ thuật vì ông là một nhà nho thời kì trung đại nên chúng tôi tìm hiểu thật kĩ những đặc trưng riêng đã làm nên một phong cách văn chương đặc sắc
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
1.Tác giả Hà Tông Quyền
1.1 Tiểu sử
Hà Tông Quyền vì tránh tên húy của Thiệu trị tức Nguyễn Phúc Miên Tông
(làm vua từ năm 1841 đến 1847) nên có sách gọi là Hà Tôn Quyền hoặc Hà Quyền, ông sinh năm 1798 mất năm 1839, tự là Tốn Phủ, hiệu Phương Trạch, biệt hiệu Hải
Ôn, về gốc tích của ông ta có thể tìm hiểu như sau
Đời Lê Sơ họ Hà vốn là ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tỉnh Tới đời Lê Trung Hưng thì di cư ra ở huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Về sau lại di cư ra ở làng Cát Động, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây đến đời Hà Tông Quyền thì họ Hà này đã định
Trang 7cư ở đây khoảng ba bốn thế hệ
Cha của Hà Tông Quyền là Hà Tông Đồng, đỗ Hương cống thời Lê, nhưng không ra làm quan mà chỉ mở trường dạy học trong làng Ông Đồng mất sớm, bà vợ là con gái họ Trịnh phải tần tảo nuôi con khôn lớn, Hà Tông Quyền được học hành đến nơi đến chốn cũng là nhờ công lao của mẹ Ngay từ khi còn nhỏ ông đã nổi tiếng là thần đồng Câu chuyện lưu truyền ở địa phương còn kể rằng “Ông đọc sách rất nhanh, một thoáng có thể đọc tới chục hàng chữ, đã thế ông lại rất chăm đọc sách, có lần quan huyện ra một vế câu đối “Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư” (Ba người cùng đi, tất
có thầy ta), ông đối ngay “Thiên lý nhĩ lai, tương lợi ngô quốc”( nghìn dặm mà tới, đem lợi cho nước tôi), rõ ràng vế đối không những là rất chuẩn mà còn hợp cách Năm ông 12 tuổi, do chăm học, sáng dạ nên chẳng bao lâu thầy đồ ở trường làng
“hết chữ” Hà Tông Quyền phải khăn gói lên Thăng Long xin theo học tại trường của
cụ Lập Trai Phạm Quy Thích, chính ở ngôi trường này mà ông đã kết bạn với những người rất nổi tiếng ở đất cố đô như: Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Văn Lý, Vũ Tông Phan Năm Gia Long Tân Mùi (1811) mới 14 tuổi ông đã đỗ Hương Cống tại trường thi Thăng Long, lúc bấy giờ nhà Nguyễn chưa có tổ chức thi Hội nên khi đỗ Hương cống là được bổ dụng ra làm quan ngay nhưng ông còn nhỏ tuổi quá nên triều đình lưu lại đợi đến tuổi thành niên sễ bổ nhiệm, bản thân ông cũng dâng sớ xin được ở lại quê nhà để phụng dưỡng mẹ và trau dồi học vấn thêm
Tới năm Minh Mệnh thứ ba (1822), nhà Nguyễn bắt đầu mở khoa thi hội, ông lên đường vào kinh đô Huế ứng thí và đỗ hội nguyên, như vậy ông chính là ông nghè khai hoa cho triều Nguyễn, sau khi thi đỗ ông được bổ nhiệm làm tri phủ Tân Bình (nay là tỉnh Gia Định- Nam Bộ), rồi sau đó về làm Tham biện dinh Quảng Trị Khoảng năm 1827 ông về Huế làm Kiểm sự bộ công và sống tại núi Ngự sông Hương đến cuối đời tức năm 1839 thọ 42 tuổi
Trong 12 năm làm quan ở Huế Hà Tông Quyền cũng chịu lắm phen lận đận, là một vị quan được Minh Mệnh trọng dụng nhưng ông cũng không tránh khỏi những lần
bị phạt, bị đưa đi hiệu lực vì những lỗi rất nhẹ Năm 1829 ông làm Hữu Thị lang Bộ
Lễ, năm 1831 làm Hữu Thị lang Bộ Hộ nhưng chủ yếu là coi việc nôị các, nhưng cuối năm này vì một sơ xuất nhỏ mà ông bị đày đi Nam Dương quần đảo của In-đô-nê-xi-a,
về nguyên nhân của việc đi hiệu lực này sách Đại Nam Thực Lục chép: “Tháng 11 năm Tân Mão (1831) Bộ Hộ thị lang sung Nội các là Hà Quyền bị tội, mất chức trước
Trang 8kia được giao bài thơ Thu thành phân số của nhà vua làm dưới chỗ chú thích có chữ
Thanh Xuyên huyện, người ở Nội các viết nhầm là Thanh Châu, vua hỏi Quyền, ông hoảng sợ nên tâu: trót theo tờ sớ của trấn, sau biết là lầm bèn lén đem sửa lai tờ sớ cho đúng với lời tâu, thuộc quan của Nội các quy cho ông về tội đó Vua sai định thần luận tội, đáng xử tội đồ nhưng vua đặc cách chỉ ra lệnh cách chức, cho làm lính, phát
đi đương biển để gắng sức làm việc chuộc tội” Chỉ vì sữa một chữ trong phần chú
thích mà phải bị cách chức, thì quả là quá nghiêm khắc Nhưng khi ông đi hiệu lực khoảng sáu tháng, vua Minh Mệnh thiếu ông như thiếu đi một cánh tay trợ thủ đắc lực, nên vua sai sứ thần đi triệu về cho phục chức cũ coi việc nội các
Sang tháng giêng năm 1833, ông được thăng hàm từ Hàn lâm thừa chỉ lên Thị độc học sĩ Năm tháng sau lại thăng lên hàm Hữu Thị lang Bộ Công Năm sau chỉ vì là bạn thân của Phan Huy Thực nên khi Phan Huy Thực bị tội thì ông cũng bị tội lây phạt
ba tháng lương, số là năm này có khoa thi Hương các quan chấm trường Hà Nội lấy đỗ
36 cử nhân, nhưng khi bài vở chuyển về kinh duyệt thì bốn người bị truất xuống bậc tú tài vì văn tầm thường và một người bị hỏng do bài phú trùng vần Hai viên chánh phó
bị giáng xuống ba cấp, Lễ Bộ Thượng thư Phan Huy Thực - là người có trách nhiệm tổ chức kì thi - cũng bị giáng chức với lí do là thiếu sáng suốt trong khi lựa chọ quan trường
Năm 1835, ông được thăng lương nhị phẩm và thăng hàm Tham Tri Bộ Lễ vẫn coi việc nội các Năm 1837 ông lại bị vua “quở” vì quên một điển tích Năm 1839, trước khi chết ông được thăng làm Tham Tri Bộ Lại và sau khi chết được thăng hàm Lại Bộ Thượng Thư
Hà Tông Quyền bình sinh liêm khiết, khi mất chẳng có ruộng đất gì để lại cho con cháu, ở làng Cát Động còn một ngôi miếu thờ ông do hai người chắt ngoại góp tiền dựng nên, ngoài những tập thơ chép tay, ông đẫ nhìn thấy được triều Nguyễn đang trên con đường suy sụp nhưng ông chưa nói thẳng vào vấn đề này, nhưng ông vẫn là một nhà Nho có nhâ phẩm và là một nhà thơ xuất sắc, xứng đáng có một chỗ đứng vững chắc trong lịch sử nước nhà
1.2 Sự nghiệp sáng tác
Đời làm quan của Hà Tông Quyền chỉ trên dưới 15 năm nhưng đã trải qua lắm thăng trầm, hầu như nhiều kẻ sĩ đương thời đều trải qua con đường gồng gềnh ấy, thời gian đầu ông được tin dùng nên thơ của ông cũng tràn đầy niềm vui lạc quan Nhưng
Trang 9bước đường công danh phải “lận, đận” là chuyện không tránh khỏi, ông đã nhận ra
điều này ngay lúc sinh lực còn sung mãn, khi viết nên bài Hữu Cảm hẳn ông đã nhục
chí, bởi trong triều ngoài nội đâu đâu cũng là cảnh đáng ghét, đáng buồn, đáng chán và rất đáng lo ngại:
Bất quan quy hứng tựu thuần lô,
Văn đạo phong quang bất tự sơ
Tương loát đại đô duyên khí thế,
Tự ti thùy khẳng có thi thư
(Nghĩa là:Chẳng liên quan gì đến hứng thú lui về vui thú ruộng vườn thưởng thức món
cá rỏi canh ra.Chỉ vì nghe nói quang cảnh ngày nay chẳng còn được như thưở ban ban đầu Khuynh đảo lẫn nhau cũng là do tranh giành quyền Tự hạ thấp mình còn ai ngó ngàng đến lời dạy của thi thư) Thời Minh Mệnh là thế, nhưng tiếc rằng những bài thơ phản ánh hiện thực không nhiều
Năm Nhâm Thìn 1832, HàTông Quyền đi công cán ở nước ngoài Khi trở về bao nhiêu thơ sáng tác trong lúc xa nước, xa quê ông gom thành một tập thơ đề là Mộng Dương tập, các thơ văn khác gom vào bộ Tốn Phủ Thi văn tập Ngoài ra ông cùng với
các triều thần nhà Nguyễn phụ họa với Thánh Tổ Hoàng Đế, vịnh Truyện Kiều của
Nguyễn Du, Minh Mệnh đã hếtt lòng ca ngợi Thúy Kiều “nêu danh giáo” bằng tấm gương trung, hiếu, trinh tiết 30 bài thơ vịnh Kiều của ông cũng chỉ đón ý vua mà phụng vịnh
Ông để lại các tác phẩm :
-Tốn Phủ văn tập, hai quyển, chưa tìm thấy, hiện còn lại ít nhiều
trong Liễu Đường văn tập
- Nam du tập, tập thơ du hành phương Nam đã thất lạc
-Liễu Đường văn tập, cuốn sách do ông soạn, đây là tập văn của
ông trao đổi với các bạn, trong đó có một số bài tựa bạt viết cho sách của Lý Văn Phúc
và Phan Huy Chú
-Tốn Phủ thi tập, có ba quyển, trong đó có tập thơ Mộng Dương tập
-Thăng Long tam thập vịnh
-Nguyễn triều tấu biểu
-Minh Mệnh chính yếu, do ông chủ biên, sáng tác năm 1837
Trang 10-Vịnh Kiều tam thập thư, gồm 30 bài, mỗi bài bốn câu lục bát,
đây là bài thơ hưởng cuộc thi vịnh Kiều do vua Minh Mệnh khởi xướng năm 1830, được viết bằng chữ Nôm
2 Tác phẩm Mộng Dương tập
2.1 Giới thiệu sơ lược về Tốn Phủ thi tập
Tốn Phủ thi tập gồm một cuốn được ông sáng tác lúc làm quan Sách chép
tay, giấy bản thường gồm 136 tờ, tờ 2 trang, trang 9 dòng, dòng 20 chữ
Bản sách Tốn Phủ Thi Tập nói trên có ghi là sao chép vào năm Khải Định
thứ 5 (1920) Đầu sách có bài tựa của Bùi Phổ đề năm Minh Mệnh thứ 5 (1824), ở tờ thứ 3 có ghi: Quyển tam, quyển nhất quyển nhị kiến hạ, như thế quyển đầu sách là quyển 3, quyển 1 và quyển 2 ở sau Ở cả 3 quyển đều có thấy ghi là Ngô Phương Đình
(tức Ngô Thế Vinh) bình Trong Tốn Phủ Thi Tập đáng nói nhất là tập thơ Mộng Dương tập đã ghi lại những điều mắt thấy tai nghe ở Giang- lưu-ba
2.2 Giới thiệu sơ lược về Mộng Dương tập
Trong tập thơ Tốn Phủ Thi tập đáng nhớ nhất là quyển 2 Quyển này có tên riêng là Mộng Dương Tập (từ tờ 87 đến hết) Tập thơ này được ông sáng tác lúc ông
đi hiệu lực sang Tây dương
Năm nhâm thìn 1832 có lần ông trái ý vua nên bị cắt chức buộc phải tháp tùng phái bộ Phan Thanh Giản đi Nam Dương quần đảo để chuộc tội Khi về bao nhiêu
sáng tác trong lúc xa quê ông gom thành một tập thơ đề là Mộng Dương Tập
Sau bài thơ có một số bài bạt của Phan Huy Đức hiệu Chuyết Trai, của Dương Đình Ngô Thế Vinh, của Doãn Ửng, của Phan Thanh Giản Bốn bài bạt ấy điều
đề niên hiệu là Minh Mạng nhâm thìn.Tập thơ là những trăn trở của ông về con đường làm quan đầy khúc khuỷu lúc bấy giờ, đây là một xã hội mà đạo đức xuống cất trầm trọng
Bất quan quy hứng tựu thuần lô
Văn đạo phong quang bất tự sơ
Tương loát đại đô dương khí thế
Tự ti thùy khẳng cố thi, thư
Hữu cảm
Bên cạnh đó còn là những bân khuâng, thao thức của ông về nhân dân, về số
Trang 11phận bấp bên của họ trong xã hội rối ren này
Đặc biệt tập thơ được tác giả nói nhiều và nói mạnh mẽ về tấm long cố hương của mình, khi phải sống nơi đất khách
3 Vài nét về thơ Đường luật một thể thơ được dùng trong Mộng
Dương tập
Thơ Đường luật còn được gọi là thơ cận thể Luật thơ được áp dụng ở các thể thất ngôn và ngũ ngôn, được đặt ra từ thời nhà Đường nên được gọi là thơ Đường luật Thơ Đường luật có 3 dạng chính: thơ bát cú, thơ tuyệt cú và thơ bài luật, trong đó thơ bát cú được coi là dạng cơ bản, vì từ đó ta có thể suy ra các dạng khác của thơ Đường luật Vì vậy cấu tạo chung của thơ bát cú được xem là quy tắc chung cho các thể thơ Đường luật
Thơ Đường luật có thể chia ra làm 3 cách :
Cách thứ nhất: chia bài thất ngôn ra làm 4 liên đề, thực, luận, kết Trong cặp câu đề câu thứ nhất là câu phá đề,câu thư hai là câu thừa đề Phá đề là mở ý của bài thơ, thừa đề là tiếp ý của bài phá đề để chuyển vào thân bài Thực là cặp câu thứ ba và thứ tư còn gọi là thích thực, dùng để giải thích rõ ý đề bài Kết gồm hai câu cuối kết thúc ý toàn bài
Trang 12Cách thứ hai: Theo Kim Thánh Thán, bài thất ngôn bát cú được chia ra làm
hai phần tiền giải và hậu giải Tiền giải gồm bốn câu đầu nặng cảnh nhẹ tình Hậu giải
gồm bốn câu cuối nặng tình nhẹ cảnh
Cách thứ ba: Theo Franscois, bát cú được chia làm ba phần, có cấu trúc như
một bài nghị luận chặt chẽ Phần một gồm hai câu đầu giống như phần mở bài của một
bài văn, mang tính chất giới thiệu để vào đề Phần hai gồm bốn câu tiếp theo giống
nhau về cách gieo vần, về đối, từng cặp câu kết chặt chẽ với nhau theo liên kết không
gian Phần ba gồm hai câu cuối giống như phần kết bài nhấn mạnh ý muốn nói
- Về đối :
Trong thơ văn cổ của Việt Nam cũng như Trung Quốc, đối là một yếu tố quan
trọng, đối nghĩa là thanh đối tuơng xứng với nhau Phép đối có đối thanh, đối ý và đối từ Cả ba phép đối trên đều theo một nguyên
tắc chung, có số từ ngang nhau, thanh và ý phải đối nhau
Đối thanh :bằng đối bằng, trắc đối trắc.Ví dụ:Thiên địa (B-T), trời cao - trời thấp
(B-T) Thật ra trong một từ thanh và ý đối nhau, thường khi người sáng tác chọn thanh
thì phải chọn ý Thanh và ý đều đối ngược nhau, gọi là đối cân, nếu thanh cân mà ý
không cân hoặc ý cân mà thanh không cân thì gọi là đối lệch
Đối ý: ý của hai từ phải ngang nhau Đối ý có hai loại đối tương đồng và đối tương
phản Đối tương đồng nhằm bổ sung ý cho nhau, nhân mạnh ý Đối tương phản, ý của
hai câu thơ đối lập nhau, những cặp hình ảnh phạm trù đối lập nhau Ngoài ra đối ý có
hai cách đối: tiểu đối và bình đối Tiểu đối là trong từng ý đối nhau, đối ở mỗi từ hay
chỉ đối ở từ cuối mỗi vế ví dụ :
“Người quốc sắc – kẻ thiên tài”(sắc đối với tài)
Hoặc
“Buâng khuâng duyên mới –ngậm ngùi duyên xưa”(mới đối với xưa)
Truyện Kiều – Nguyễn Du
Bình đối: Là toàn bộ ý câu trên đối với toàn bộ ý câu dưới (từ đối từ, ý đối ý, câu
đối câu, vế đối vế) Phép đối mà chủ yếu dựa vào luật thơ, có những từ trong câu bắt
buộc phải đối lại, cũng có những từ linh động đối ý mà không đối thanh
Trong thể thơ Đường luật, hai cặp thực và luận bắt buộc phải đối nhau, ví dụ :
“ Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Trang 13Đền cũ lâu đài bong tịch dương”
Thăng Long thành hoài cổ -Bà Huyện Thanh Quan
Cặp câu này nói chung là đối về mặt ngữ nghĩa, nhưng hai từ “xe ngựa” đối với “lâu đài” chưa cân Ví dụ :
“ Đã mang chí ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi song”
Chí Nam Nhi – Nguyễn Công Trứ
Hai câu thơ đối với nhau thật chuẩn Bốn câu thơ sau vừa đạt về thanh vừa đạt về ý :
“ Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Nhớ nước thương nhà con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”
Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan
Đối từ: Là đối từ loại (danh từ đối với danh từ, động từ đối với động từ, tính từ đối với tính)
- Về niêm – luật :
Thơ Đường buộc phải tuân theo qui định về thanh bằng, thanh trắc trong từng câu và trong cả bài thơ Hệ thống thanh bằng, thanh trắc, được tính từ chữ thứ hai của câu thứ nhất Nếu chữ thứ hai thuộc thanh bằng thì bài thơ thuộc luật bằng, nếu chữ thứ hai thuộc thanh trắc thì bài thơ thuộc luật trắc, nó gồm ba điều sau :
Điều thứ nhất: Trong mỗi câu xu hướng các cặp bằng trắc lần lượt thay nhau
Điều thứ hai: Trong mỗi cặp câu các chữ tương ứng của câu số chẵn, số lẽ phải có thanh ngược nhau (trừ chữ thứ năm và chữ thứ bảy trong liên đầu)
Điều thứ ba: Trong hai cặp câu kề nhau, nhịp đi của liên trên phải khác nhịp đi của liên dưới Muốn vậy chữ thứ hai của câu chẵn thuộc liên trên phải cùng thanh với câu lẽ thuộc liên dưới Sự giống nhau đó gọi là niêm vì đã làm cho hai câu thơ, thuộc hai liên dính vào nhau theo hệ thống dọc Bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc, theo các cặp câu sau: 1 - 8, 2 - 3, 4 - 5, 6 - 7 xét theo chữ thứ hai
Điều thứ nhất quy định hệ thống hàng ngang, hai điều sau quy định hệ thống hang dọc, của luật bằng trắc trong một bài thơ Đường luật
Trang 14CÔNG THỨC CỦA MỘT BÀI THƠ BÁT CÚ
Trang 15Trong thực tế ít người sáng tác rập khuôn Luận “nhất, tam, ngũ, bất, luận, nhị, tứ, lục, phân, minh” nghĩa là chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm trong câu không theo bằng trắc, chữ thứ hai, thứ tư và thứ sáu trong câu phải xét theo luật bằng trắc Cách sáng tác này vẫn không xem là bất luận
-Ưu thế hiện thể hiện của thể thất ngôn bát cú Đường luật
Đây là một thể thơ đặc biệt hoàn chỉnh, hài hoài cân đối về cấu trúc, âm điệu Thường được sử dụng trong các kì thi thời trung đại, nhằm kiểm tra năng lực trí thức và hoài bảo chính trị của Nho sỉ Dung lượng ngôn ngữ hạn chế, đòi hỏi cao về tính hàm súc và tính uyên bác, phù hợp với nhu cầu vịnh cảnh, theo quy luật chấm phá của thơ cổ điển Bố cục thường thể hiện rõ nhu cầu vịnh cảnh để tả tình thể hiện hoài bão chính trị hay những suy nghiệm sâu xa, của nhà thơ về thế giới và con người
3.2 Thơ tứ tuyệt
- Đăc điểm thơ tứ tuyệt
Thơ tứ tuyệt còn gọi là thơ tuyệt cú Đây là dạng thức phổ biến của thơ Đường luật là những bài có bốn câu, mỗi câu năm chữ hoặc bảy chữ Loại câu năm chữ còn gọi là ngũ ngôn tứ tuyệt, hay ngũ ngôn tuyệt cú hoặc ngũ tuyệt Loại bảy chữ còn gọi
Trang 16là thất ngôn tứ tuyệt, hay thất ngôn tứ tuyệt hoặc thất tuyệt Thơ tứ tuyệt là dạng hẹp của thơ Đường luật có quy định về niêm, luật, vần, nhịp, thanh và đối như bài bát cú
Nó còn được gọi là luật tuyệt để phân biệt với cổ tuyệt
Thơ tứ tuyệt còn gọi là tuyệt ngôn, luật thi do luật của bài bát cú Đường luật quy định, giống như được cắt từ bài bát cú mà ra, để đảm bảo nêm luật chỉ có bốn cách cắt sau:
Cắt bốn câu đầu thành bài thơ ba vần, hai câu đầu không đối, hai câu sau đối
Cắt bốn câu giữa thành bài thơ hai vần, hai cặp đều có đối
Cắt bốn câu cuối thành bài thơ hai vần, hai câu đầu đối, hai câu sau không đối
Cắt hai câu đầu và hai câu cuối thành bài thơ ba vần không đối
Bài thơ tứ tuyệt chia thành bốn phần: khai, thừa, chuyển, hợp Khai mở đầu giới thiệu bài thơ, thừa phát triển ý của bài thơ, chuyển phát triển ý của câu một và câu hai,hợp gói gém ý tình kết ý cả bài thơ
-Ưu thế thể hiện của bài thơ tứ tuyệt
Thơ tứ tuyệt với dụng lượng đặc biệt ngắn gọn, nên tính hàm xúc của ngôn từ được đề cao, như một phẩm chất cần có của thơ tứ tuyệt Thơ tứ tuyệt thích hợp với nhu cầu ghi nhanh những phát hiện bất ngờ về đời sống, những suy tư trải nghiệm sâu sắc hay những xúc cảm mãnh liệt trong một khoảnh khắc của đời sống Bố cục phóng khoáng nên tứ tuyệt không đòi hỏi phép đối nghiêm ngặt, vì thế thơ tứ tuyệt có khả năng dung chứa những yếu tố cách tân, sáng tạo (trong văn học hiện đại)
3.3 Thơ bài luật
Thơ bài luật là dạng kéo dài của thơ Đường luật, trong đó sự đối ngẫu có từ sáu
câu trở lên, theo tập quán thường lấy có vần chẳng chục (cả bài 20 câu), chẵn 20 (cả bài có 40 câu) Và do đó trên bài thơ thường được chia rõ bằng các chữ thập vận, nhị vận Đây là một loại thơ mang nặng màu sắc phô trương, ít ảnh hưởng đến Việt Nam Suốt thời gian mười thế kỉ, từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XIX cha ông ta đã tiếp thu văn học Trung Quốc trong quá trình xây dựng nền văn học nước nhà Từ thể loại du nhập từ nước ngoài, Đường luật đã được Việt hóa, trở thành một thể thơ quan trọng trong sáng tác của người Việt suốt thời cận - trung đại, vì thế việc tìm hiểu đôi nét về thơ Đường luật, cũng là một cách để chúng ta hiểu sâu hơn về thế giới nghệ thuật của các nhà thơ cổ Việt Nam Đây là tiền đề quan trọng giúp chúng ta hiểu sâu hơn về phong cách nghệ thuật trong thơ của Hà Tông Quyền, và cũng là điều kiện cần để có
Trang 17thể hiểu về nội dung thơ của ông
CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG
MỘNG DƯƠNG TẬP CỦA HÀ TÔNG QUYỀN
1. Nội dung tập thơ Mộng dương tập
1.1 Nỗi trăn trở của Hà Tông Quyền về con đường làm quan
Cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX đây là thời kì nước nhà có nhiều biến động, dưới sự thống trị của nhà Nguyễn, khởi nghĩa nông dân liên tiếp diễn ra Sống trong thời buổi ấy, nhiều vị quan đã chọn cho mình con đường lui về sống ẩn dật để hưởng thú điền viên, nhưng cũng không ích người tiếp tục làm quan để phụng sự nước nhà Giữa thời buổi loạn lạc ấy, để làm một vị quan thanh liêm thì thật khó, đâu đâu cũng vậy lúc nào cũng có những người nịnh hót tham lam, vơ vét của dân về làm của riêng, chính điều này đã làm cuộc sống của người dân càng thêm cùng quẫn.Vì vậy, mà có rất nhiều cuộc khởi nghĩa của người dân diễn ra mạnh mẽ và quyết liệt Đây được coi
là thời kì nông dân khởi nghĩa Ngoài xã hội là vậy, trong triều thì mọi người tranh giành quyền lực chém, giết lẫn nhau Sống trong thời buổi này Hà Tông Quyền còn phải giật mình :
Sấu cốt thiên năng khi chướng lệ
Trang 18Tuy là vậy, nhưng tiếp theo thái độ khẳng khái đó Hà Tông Quyền đã phải thốt lên
Lạc tình cửu dĩ khiếp phong trần
ấy Một người như ông vốn lạc quan, luôn sống vui vẻ và tin tưởng vào tương lai, đến lúc này phải thốt lên những lời bi thương như vậy, thì cũng đủ cho chúng ta thấy thực tại xã hội lúc bấy giờ như thế nào
Giai thời mỗi hướng mang trung quá
Xuân nhật bệnh khởi
Dịch nghĩa :
Ngày tháng tươi đẹp thường qua đi trong cơn lọan lạc
Trang 19
Mọi thú vui niềm hạnh phúc trong cuộc sống dường như cũng trôi qua trong lặng lẽ, tới khi nhận thấy nó qua đi thì lại ngỡ ngàng hối tiếc, vì mãi sống trong vòng xoáy của xã hội mà mọi người không còn là mình nữa Có một câu nói nổi tiếng
“Hạnh phúc không phải là con đường mà con đường chính là hạnh phúc” Mọi người
dù trong thời buổi này hay xa xưa ai cũng đi tìm hạnh phúc ở tận đâu đâu, nhưng không ai hay rằng hạnh phúc đang ở xung quanh mình, đó là từng chuyện, từng việc
mà mình đã trải qua Theo như Hồ Biểu Chánh thì trên đời này có hai thứ hạnh phúc:
Đó là “Một thứ hạnh phúc thiên nhiên của trời sắp đặt sẵn cho mình hưởng và một thứ hạnh phúc nhân tạo của con người tự gây lấy mà hưởng Hạnh phúc thiên nhiên khỏi
bị giành giựt mà lại được bền vững đời đời, còn hạnh phúc nhân tạo không được thì phải cạnh tranh chen lấn, có khi phải nát thân xử tiết mà gây ra cũng không được, mà dầu có được, cũng không hưởng được mấy ngày rồi tan rã” Nếu ai cũng biết hưởng
cái hạnh phúc thiên nhiên, thì xã hội này thật yên lành, cuộc sống của người dân thật
sự no ấm Nhưng tiếc thay danh vọng luôn làm người ta hóa mắt, mọi người cứ chạy theo đồng tiền mà đánh mất đi bản thân lúc nào không biết
Xã hội là như vậy nếu mọi người cứ mãi chạy theo kim tiền thì chuyện tranh giành đoạt lợi là việc tất yếu, vì vậy Hà Tông Quyền đã nói :
Quan xá bất tiêu sầu thử vũ
trường chẳng còn vẻ của quan trường nữa Qua bài thơ Xuân nhật bệnh khởi ông đã
cho chúng ta thấy căn bệnh của thời đại, đối với ông căn bệnh này là tất yếu trong thời buổi loạn lạc lúc bấy giờ Qua từng ý, từng lời ta thấy ông có cái nhìn thật bao quát, khách quan Nhưng qua đó ta thấy được tiếng lòng thầm kín của ông, tuy là khách quan nhưng lại đau đớn chua xót trước hiện thực nước nhà Nhân tài đất nước rồi chẳng còn ai, và ai sẽ giữ được tâm hồn thanh liêm giữa thời buổi loạn lạc này Sâu xa trong nỗi lòng của ông cũng chỉ là tâm hồn khắc khoải của một nhân cách lớn
Đọc bài thơ Hữu cảm ta càng hiểu rõ Hà Tông Quyền hơn và thêm trân trọng
Trang 20bậc nhân tài này Ngay hai câu đề ông đã khẳng định :
Bất quan quy hứng tựu thuần lô
Vă đạo phong quang bất tự sơ
Hữu cảm
Dịch nghĩa :
Chẳng liên quan gì đến hứng thú lui về vui thú ruộng vườn thưởng
món cá rỏi canh rau
Chỉ vì nghe nói quang cảnh ngày nay chẳng còn được như thưở
ban đầu Theo Tấn Thư Trương Hàn là người đất Ngô quân đời làm quan ở Lạc Dương
nhân khi gió thu về, thấy nhớ món cá vược làm gỏi và rau rút nấu canh ở quê nhà bèn
than rằng “người ta ở đời cốt được thỏa thích ý chí, cớ sau lại chịu để cho tước lộc
ràng buộc mà phải xa quê hương Sau đó bèn từ quan về quê nhà” Qua câu thơ ta nhận
thấy Hà Tông Quyền cũng đã suy nghĩ đến chuyện lui về ở ẩn xa lánh chốn thị phi,
nhưng không phải giống như Trương Hàn muốn về quê để được hưởng thú điền viên,
Hà Tông Quyền nghĩ đến chuyện này cũng chỉ vì thấy hiện thực xã hội này thật đáng
buồn chẳng như ngày xưa nữa, bây giờ con người đối xử với nhau bằng lừa lọc, dối trá
vì danh lợi mà dám làm mọi chuyện để đạt được mục đích
Ông cảm thấy tiếc nuối những gì đã qua, buồn cho đạo nho không còn được như
trước, có lẽ vì sự xuống cấp của nho gia mà con người ngày càng đánh mất đi phẩm
giá của mình.Từ lúc đạo nho du nhập vào nước ta nó chẳng những ảnh hưởng đến đời
sống của người dân, mà còn tác động mạnh vào tư tưởng tầng lớp trí thức Hà Tông
Quyền sống theo tiêu chuẩn của nho gia nên ông càng đau đớn khi thấy đạo nho không
còn được thịnh hành như trước
Cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX xã hội Việt Nam rơi vào tình trạng suy vong trầm
trọng, dưới sự cai trị của triều đình phong kiến cuộc sống của nhân dân ngày càng
khốn khổ, vì vậy khởi nghĩa của quần chúng nổ ra liên tiếp và rộng khắp Trong triều
thì mọi người tranh giành quyền lực, chém giết lẫn nhau bất chấp mọi chuyện Qua
những gì mà Hà Tông Quyền gửi gắm trong lời thơ ta nhận ra rằng sở dĩ xã hội nước ta
lâm vào tình trạng này là tại vì, đồng tiền đã làm tha hóa bản chất của con người, bên
cạnh đó sự xuống cấp của đạo nho đã đẩy con người lâm vào tình trạng tha hóa
nghiêm trọng
Trang 21Trước khi đi hiệu lực Hà Tông Quyền rất yêu đời, ông luôn tin tưởng vào cuộc sống tươi đẹp này, nhưng khi đi hiệu lực ông mới dần dần nhận ra bộ mặt thật của nhà Nguyễn, và chính lúc này đây những sáng tác của ông mới thật sự hay và có ý nghĩa
Qua bài Hữu cảm ta càng nhận thấy xã hội dưới triều đại nhà Nguyễn, một xã
hội:
Tương loát đại đô duyên khí thế,
Tự ti thùy khẳng có thi thư
Điêu côn kết khỡi binh qua hậu
Y thực nhật cùng hoang lạo dư
Thanh thế dudu nhất chuyết hoan,
Khan vân bộ nguyệt dục hà như
Dịch nghĩa :
Khuynh đảo lẫn nhau cũng là do tranh giành quyền thế
Tự hạ thấp mình còn ai ngó ngàng đến lời dạy của thi thư
Lưu manh trộm cướp nối đuôi nhau nổi lên sau cơn binh loạn
Cái ăn cái mặt ngày càng cùng quẩn sau trận lũ lụt mất mùa
Thời thanh bình này,có một viên quan vụng về cứ đủng đỉnh
Ngắm mây dạo bước dưới trắng, chẳng hiểu, là thế nào
Nếu trước khi đi hiệu lực ông nhìn đời bằng đôi mắt màu hồng, thì giờ đây đối với ông cuộc sống này có quá nhiều đám mây đen đang trôi lững lờ trên cao, chúng sẵn sàng tuôn xuống những trận mưa hối hả trên đầu những người dân vô tội Chốn quan trường giờ đây chẳng khác nào bãi chiến trường, tại đó người ta đối xử với nhau bằng mưu kế, họ sẵn sàng chém giết lẫn nhau để tranh giành quyền lợi Hà Tông Quyền đã phải thốt lên:
Tự ti thùy khẳng có thi, thư
Hửu cảm
Thi, thư là hai quyển Kinh thi và Kinh thư, sách kinh điển của nho gia Hà Tông Quyền đau đớn khi thấy đạo nho xuống cấp trầm trọng, mọi người không ai quan tâm đến lời dạy của Thi, Thư
Chỉ với mấy dòng thơ dường như Hà Tông Quyền đã vẽ lên bộ mặt của xã hội dưới thời Nguyễn.Từ vua quan đến người dân ai cũng đánh mất đi vẻ đẹp truyền thống của dân tộc mình, vua quan thì tranh giành quyền lợ,i địa vị chém giết lẫn nhau, người
Trang 22dân thì nổi dậy khởi nghĩa chống lại triều đình, một xã hội mà từ trong ra ngoài loạn
lạc như vậy thì :
Y thực nhật cùng hoang lạo dự
Hửu cảm
Câu thơ là tiếng lòng cay xé của Hà Tông Quyền khi thấy cuộc sống của người
dân ngày càng cùng quẫn điêu linh, cái khổ do thiên nhiên đem lại họ chịu còn không
nổi thì thử hỏi sau cuộc binh chiến thì cuộc sống của họ còn khó khăn như thế nào
nữa? Bao giờ cũng vậy người dân luôn là nạn nhân của mọi cái bất hạnh,họ phải hứng
chịu những trận mưa của tạo hóa mà không một lời oán than
Trên con đường công danh Hà Tông Quyền luôn luôn găp may mắn, nên ông thấy
cuộc đời luôn tươi đẹp, nhưng đến khi đi hiệu lực ông mới nhận ra phía sau vẻ tươi
sáng ấy là cả một màu đen u ám Cả một đời phấn đấu, tranh giành thì cuối cùng cũng
chẳng còn được gì ngoài :
Hư danh vô thực nại vô hà
Phụng phái dương trình hiệu lực
Dịch nghĩa:
Chuốc lấy cái danh hảo trống rỗng ta biết tính sao đây
Quan niệm phật giáo thời Lý cho rằng: Thiên địa vạn vật cùng một bản thể, mọi
thứ trên đời này điều từ “không” mà “có” rồi từ “có” lại trở về với “không” Con
người lúc nào cũng muốn tranh giành để có tất cả để rồi cuối cùng họ cũng chẳng được
gì ngoài cái “hư danh vô thực” Đọc những vần thơ của Hà Tông Quyền ta mới nhận
thấy ông rất lạc quan, mặc dù :
Thân sự duy ưng oán ngải đa
Phụng phài dương trình hiệu lực
Dịch nghĩa :
Việc của bản thân thì nhiều oán hận
Nhưng ông vẫn tin:
Thiên hữu đông xuân khan vãn phục
Phụng mệnh đi dương trình hiệu lực
Dịch nghĩa:
Trời có mùa đông mùa xuân xem các mùa chuyển vần qua lại
Sống trong xã hội đầy rẫy những bất công thì việc đặt niềm tin vào một điều gì đó,
Trang 23sẽ khiến con người ngày càng yêu cuộc sống này hơn, và mặt dù biết bản thân đang
gặp khó khăn nhưng ông vẫn tin vào ngày mai tươi sáng hơn, mọi chuyện rồi cũng qua
đi, bình yên minh sẽ về sau màn đem u ám
Nhưng Hà Tông Quyền lại đau đớn khi chợt nhận ra rằng:
Địa chi giang hải diệt phong ba
Phụng mệnh đi hiệu lực đường biển
Dịch nghĩa:
Đất bằng phẳng chẳng phải song biển cũng nổi phong ba
Sống giữa trận cuồng phong của cuộc đời thì cho dù ngay thẳng thanh liêm thế
nào cũng sớm triều, ít nhiều sẽ gặp phải phong ba Câu thơ là lời oán than của Hà
Tông Quyền về xã hội này sao quá nhiều oan trái Trong thời buổi này nếu sống gian
dối thì có lỗi với nhân dân, sống ngay thẳng thì chỉ “chướng tai gai mắt” bọn tham
quan, bởi vậy Hà Tông Quyền đã dặn lòng:
Tâm đà đáu nguyện thao trì định
Phụng mệnh đi hiệu lực đường biển
Dịch nghĩa:
Chữ tâm như bánh láy hãy nắm cho vững
Với những gì đã trải qua ông khuyên mọi người phải biết sống cho ngay thẳng,
trong thời buổi này con người rất dễ bị cái hư danh cám dỗ, kết thúc bài thơ ông lại
khẳng định niềm tin lạc quan của mình:
Vạn khoảnh thương mang nhất hạo ca
Phụng mệnh đi hiệu lực đường biển
Dịch nghĩa:
Biển xanh mênh mang muôn trùng, cứ cất cao tiếng ca
Hà Tông Quyền luôn đặt niềm tin vào cuộc sống, mặc dù bản thân đang gặp hoạn
nạn nhưng niềm tin ấy vẫn không hề tắt Rất nhiều lần ông nhắc đến danh từ hư danh
vô thực và oán trách:
Thập niên quan dữu đáo như kim
Ngẫu ngâm
Dịch nghĩa:
Mười năm khốn khổ cho đến tận bây giờ
Sau mười năm bước trên con đường công danh ông mới nhận ra:
Trang 24Hồi thủ phong trần cảnh ngộ thân
Ngẫu ngâm
Dịch nghĩa:
Nhìn lại quãng đường gió bụi sự tỉnh ngộ càng thêm sâu
Có thể khẳng định những vần thơ của ông thật sự có ý nghĩa đối với văn học giai đoạn này, chúng có giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc.Tuy văn học chữ Hán giai đoạn này không phát triển bằng chữ Nôm, nhưng nó có bước phát triển hơn các giai đoạn trước,
và Hà Tông Quyền với những vần thơ chữ Hán của mình đã góp phần làm phong phú thêm cho kho tàng văn học chữ Hán của nước nhà Thơ của ông cô động súc tích nhưng đã phơi bày đầy đủ thực trạng lúc bấy giờ Và bản thân cũng chính là nạn nhân của thời đại nhưng ông không lâm vào bế tắt mà ngược lại, ông rất tin tưởng vào
“ngày mai”tươi sáng sẽ đến, tuy nhìn thấy bộ mặt của xã hội lúc bấy giờ nhưng ông quyết tâm phụng sự nước nhà, bởi lẽ ông đã hiểu rõ lời dạy của nho gia về luật “hành tàng”:
Hành tang kinh tuế nguyệt
ở lại làm quan chỉ vì nghĩa vụ với nước nhà chứ không phải ông tham địa vị
Đọc thơ Hà Tông Quyền ta thấy cả một xã hội náo loạn đang tồn tại, mà trước kia ông không ngờ rằng mình lại sống trong hiện thực này Giờ ông đã ngộ ra một sự thật phủ phàng chính vì vậy mà ông luôn đặt niềm tin vào tương lai và hướng mọi người vào niềm tin đó Bởi vậy đọc thơ ông ta không thấy bi quan trước hiện thực xã hội mà ta thêm tin vào ngày mai sẽ tốt đẹp hơn
1.2 Tấm lòng của ông đối với nhân dân
Cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, khi mà đạo nho xuống cấp trầm trọng thì tư
Trang 25tưởng nhân văn cũng được hình thành Ý thức hệ nho giáo không còn khả năng trói buộc đời sống tinh thần của con người và không còn khả năng che lấp con người như các giai đoạn trước Vì vậy đến giai đoạn này con người bừng tỉnh nhận thức về chính mình, về số phận bất hạnh đau khổ của bản thân từ đây họ nói to nói nhiều về số phận
và quyền lợi của mình Vì Hà Tông Quyền là một nhà nho chân chính nên ông không khỏi đau lòng khi thấy đạo nho mất đi sức ảnh hưởng của nó như trước, nhưng là một
cá nhân nhỏ bé trong một xã hội rộng lớn, ông đã hòa cùng dòng chảy của tư tưởng ấy
để cất cao tiếng nói về số phận của con người đặc biệt là những người thấp cổ bé họng Bao giờ cũng vậy kết quả của một cuộc binh chiến thì người dân lúc nào cũng là người phải gánh chịu mọi tổn thất, cuộc sống của họ ngày càng khó khăn, nhưng tiếng than của họ bao giờ cũng vọng vào vách núi rồi vang ra càng thêm não nề Đây là giai đoạn mà đây là mà cuộc sống của người dân lâm vào hoàn cảnh khó khăn hơn hết Một mặt do chính sách cai trị của triều Nguyễn, mặt khác do nhân dân bất bình với triều đình nên đã dựng cờ khởi nghĩa vì vậy mà cuộc sống của người dân bị đẩy đến bước đường cùng
Hà Tông Quyền đã từng nói:
Quan xá bất tiêu sầu thử vũ
Tuấn hà nhân hứng cánh gian tân
Xuân nhật bệnh khởi
Dịch nghĩa:
Nơi nhà quan cẳng nên buồn vì chuyện nắng mưa
Những người đi đào kênh ngoài kia còn cực khổ hơn nhiều
Như ta biết triều đình là nơi mọi người tranh giành quyền lực chém giết lẫn nhau
Vì vậy mà nơi này chẳng khác gì một bãi chiến trường đầy rẫy những mưu kế, con người sống và đối xử với nhau bằng âm mưu thủ đoạn Chốn quan trường là vậy, nhưng nó chỉ thoáng qua như chuyện nắng mưa, còn nhân dân mới là nạn nhân của cuộc tranh giành đó, từ xa xưa đến nay bao giờ nhân dân cũng là người chịu nhiều đau khổ nhất
Tuấn hà nhân khứ cánh gian tân
Xuân nhật bệnh khởi
Dịch nghĩa:
Trang 26Những người đi đào kênh ngoài kia còn cực khổ hơn nhiều
Vì hạn hán diễn ra liên miên nên người dân phải đi đào kênh lấy nước tưới tiêu vô cùng cực khổ Hà Tông Quyền sống không thờ ơ với mọi người, qua những vần thơ ta nhận ra ông là một người sống rất tinh tế và sâu sắc
Độc vị điền phu hạnh
Phong vi bất yển hòa
Thu vũ
Dịch nghĩa:
Riêng mừngcho người làm ruộng còn mai mắn,
Gió thổi nhẹ nên lú không bị đổ
Nếu là một người thờ ơ thì không thể nào ông phát hiện ra điều này Làm nông không ai không biết khi lúa đổ thì năng suất sẽ thấp, như vây cuộc sống sẽ thêm phần khó khăn Hà Tông Quyền đã hòa nhịp với niềm vui của người dân Mặc dù phải lo việc triều chính nhưng ở một phần trong trái tim mình ông vẫn lo cho dân, nghĩ về họ nhiều hơn, trong Mộng Dương Tập ta thấy ông không nói về người dân ở chọn cả bài thơ, nhưng ở nhiều bài ông đều chen vào đó vài dòng tâm sự nói với người dân, tuy ít nói nhưng những điều ông nói lại rất thiết thực.Chẳng hạn:
Y thực nhật cung hoang lạo dự
Hữu cảm
Dịch nghĩa:
Cái ăn cái mặt ngày càng cùng quẩn sau trận lũ lụt mất mùa
Đây chẳng những là tai họa của thiên nhiên mà còn là hậu quả của xã hội Từ xưa đến nay con người nếu bị đẩy đến bước đường cùng bao giờ họ cũng quật dậy khởi nghĩa để giành quyền lợi về cho dân tộc mình, nhưng nếu cứ đứng lên khởi nghĩa mà không có tổ chức, thiếu sự lãnh đạo thì cuộc khởi nghĩa bao giờ cũng thất bại, và kết quả của trận binh chiến đó hiếm khi tốt đẹp, và quần chúng nhân dân phải gánh chịu hậu quả, ta thấy có cuộc khởi nghĩa nào thật sự đem lại hạnh phúc cho nhân dân không? Ta chỉ thấy khởi nghĩa diễn ra rồi nhanh chóng thất bại dưới sự chinh phạt của triều đình
Trong triều lúc nào cũng diễn ra những trận chiến ngầm giữa bọn quan lại, họ tranh giành quyền lực chém giết lẫn nhau, sống dưới xã hội lúc này thì số phận của
Trang 27người dân sẽ ra sao khi mà:
Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng
Nỡ để dân đen mắc nợ này
Chạy tây – Nguyễn Đình Chiểu
Người dân vừa là nạn nhân của con người, vừa là nạn nhân của thiên nhiên thì cuộc sống của họ càng tùng quẫn:
Điêu côn kết khởi binh qua hậu
Y thực nhật cùng hoang lạo dự
Hữu cảm
Dịch nghĩa:
Lưu manh trộm cướp nối đuôi nhau nổi lên sau cơn binh lửa
Cái ăn cái mặc ngày càng cùng quẫn sau trận lũ lụt mất mùa
Ngay từ lúc nhỏ cho tới khi trưởng thành Hà Tông Quyền luôn luôn gặp may và trong cuộc sống bao giờ cũng được hạnh phúc no đủ, ta tưởng chừng như ông không hiểu về người dân sâu sắc đến thế, ông đã suy nghĩ cùng người dân ông còn thấy rõ hậu quả của mọi cuộc biến động Đến đây ta thấy những vần thơ của ông thêm buồn, giờ đây ông không buồn vì thân phận mình nữa mà ông đã buồn cho người dân, họ phải chịu nhiều khổ nhục nhưng không một lời oán trách Cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX nền kinh tế các nước đang phát triển, cuộc sống của người dân được nâng cao Trong khi đó nước ta vẫn là một nước nông nghiệp trồng lúa nước lạc hậu, kĩ thuật canh tác thô sơ, năng suất thấp cùng với thiên tai lũ lụt, hạn hán đã làm cho cuộc sống của người dân vốn đã khó khăn nay càng khốn đốn hơn Dù là thực tế như vậy nhưng ông luôn đặt niềm tin vào nhân dân, hy vọng ngày mai tươi sáng hơn
Thiên hữu đông xuân khan vãng phu
Phụng mệnh đi hiệu lực đường biển
Dịch nghĩa:
Trời có mùa đông, mùa xuân hãy xem các mùa chuyển vần qua lại
Giữ vững niềm tin cho bản thân cũng chính là đặt niềm tin vào nhân dân, họ sẽ có tương lai tươi sáng hơn nhờ vào khả năng vươn lên của chính bản thân Bản chất của
Hà Tông Quyền là luôn luôn lạc quan, ông nhìn đời bằng đôi mắt sáng sủa và biết nhanh chóng phát hiện ra cái đẹp của cuộc sống, vì thế thơ của ông phản ánh rõ tâm trạng phấn chấn vui tươi đó Vì vậy khi đọc những vần thơ viết về người dân bao giờ
Trang 28ta cũng thấy con đường họ đi lúc nào cũng có ánh sáng của niềm tin Như ta biết các nhà nho thời kì trung đại trong những sáng tác của họ bao giờ cũng đề cao chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, nhưng đến cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX thì chủ nghĩa nhân văn do nhiều nguyên nhân đã được hình thành, từ đây tiếng nói của người dân đã được viết lên bởi các nhà văn nhà thơ Hà Tông Quyền đã hòa vào dòng chảy
ấy để nói thay người dân đôi điều uất ức, nếu không thông cảm và yêu mến nhân dân thì ông đâu thể viết ra những dòng thơ chứa chan tình cảm và tinh tế như thế
1.3 Tình yêu của ông đối với quê hương
Hà Tông Quyền có những sáng tác được mọi người ca tụng, những vần thơ của ông mới thực sự hay và có ý nghĩa được sáng tác trong lúc ông đang đi hiệu lực ở Tây dương Trước khi đi hiệu lực ông không thấy bộ mặt thật của chốn quan quyền, nhưng sau khi:
Hồi thủ phong trần cảnh ngộ thâm
Ngẫu ngâm
Dịch nghĩa:
Nhìn lại quãng đường gió bụi sự tỉnh ngộ càng thêm sâu
thì ông mới ngẫm nghĩ và viết lên những dòng thơ bất hủ, đây là những bài thơ ông viết về nhân dân, về những điều bất công trong xã hội
Đi sứ sang Tây dương tuy trong lúc gặp khó khăn nhưng Hà Tông Quyền đã ghi lại những điều mắt thấy tai nghe nơi đất khách, chính những sáng tác này đã làm cho thơ ông thêm sâu sắc khó quên trong lòng người đọc Từ xa xưa nước ta đã sản xuất nông nghiệp nền kinh tế lạc hậu kém phát triển, làm cho cuộc sống của người dân thêm phần khó khăn Đi hiệu lực giúp ông mở mang tầm mắt, thấy được nhiều thứ tốt đẹp mà quê hương mình chưa có được Từ năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, những phải mất một thời gian lâu sau chúng mới đặt được ách cai trị lên đất nước ta, bởi vậy những điều ông ghi lại là cái khai điểm cho nền văn minh nhân loại tiến vào Việt Nam
Nền kinh tế hàng hóa vốn xuất hiện từ lâu, nhưng khi sang đây thì ông mới nhận
Trang 29Nền kinh tế phát triển đời sống của nhân dân cũng được nâng cao
Chuyên ngõa tầng lâu thực hóa thi
Nhà cao tầng bằng gạch ngói xếp đầy hàng hóa
Ký du
Cuộc sống sầm uất, Hà Tông Quyền như rơi vào chốn “nhuyễn trần”
Nhuyễn trần biến đạp trọc thanh tuyền
Ký du
Dịch nghĩa:
Qua chốn nhuyễn trần rồi tắm suối trong
Tô Thức đời Tống đã dùng “nhuyễn trần’ là rút gọn của từ ‘nhuyễn hồng trần” dùng để
nói cảnh phồn hoa đô hội Được sống nơi đây đã làm cho ông thấy:
Hứng đáo bất tri thân thị ngã
Ký du
Dịch nghĩa:
Hứng lên không còn biết thân này là ta nữa
Ông nói như vậy không có nghĩa là ông quên đi nguồn cội, quên đi bản thân mình
là người nước nào Ông ra đi khi thân đang mạng trọng tội với nhiều nổi uất ức giờ
đây lạc vào chốn phồn hoa đô hội, trong phút chốc ông đã quên đi nỗi uất ức của mình
Đến đây ông biết nhiều điều mới
Chu mến kim tình ngọc tóc thoa
Nhưng với lối sống “coi trọng mối lợi, coi thường sự ly biệt
rồi sẽ ra như thế nào
Trung Quốc đô hộ nước ta ngót 1000 năm, trong thời gian này nước ta chịu ảnh
hưởng của văn hóa Phương Bắc rất nhiều, nhưng giữ vững tinh thần hòa nhập nhưng
Trang 30không hòa tan, tiếp thu những gì tinh hoa nhất để làm nên truyền thống nước nhà Bởi vậy, dân tộc ta luôn có một truyền thống lịch sử vẻ vang ảnh hưởng của truyền thống
ấy, nhân dân ta sống rất nghiêm túc, trong sang “nam nữ thụ thụ bất thân”, quen với nếp sống ở quê nhà giờ đây thấy phụ nữ Tây âu đi ra đường mà ôm ấp chồng thì chẳng còn thể thống gì nữa Ở Giang - lưu - ba có tục quý trọng phụ nữ, chồng thường khoác vai vợ đưa lên xe cùng đi du ngoạn, hoặc đến chơi nhà ai chủ nhà cũng tiếp đãi rất trọng hậu, lúc sắp đến chủ nhà ra đón đỡ tay đưa xuống xe người chồng coi là chuyện bình thường.Vợ chồng âu yếm nhau như vậy nhưng thương nhân họ rất coi trọng mối lợi coi thường sự li biệt thì tình nghĩa ấy sẽ ra sao
Văn học cuối thế kỉ XVII đầy thế kỉ XIX ta chẳng thấy có tác giả nào nói về người Tây âu với những nếp sống như vậy, Hà Tông Quyền có thể đã người đầu tiên ghi nhận điều này Đối với người Tây âu đây là chuyện bình thường, tiến bộ nam nữ bình quyền, nhưng đối với chúng ta đây là chuyện “phá gia chi phong”, ông sớm nhận
ra sự tiến bộ này nhưng với cái nhìn của một nhà nho ông đau đớn khi thấy sự xuống cấp của đạo nho Ông tự hỏi “Thị nhĩ hà” một tiếng thở dài rồi bỏ lỡ giữa chừng, ông thấy hụt hẫng với thực tế này Ngay tựa đề bài thơ, ông có ý dùng danh từ “phiên phụ”
để nói về những người phụ nữ Tây âu, mà trong tiếng Hán từ “phiên”(番) dùng để chỉ những sắc tộc nơi biên viễn xa xôi, không văn minh như người đất Trung Nguyên Kinh tế phát triển đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, nhưng khi kinh tế phát triển thì con người chỉ lo chạy theo đồng tiền, Hà Tông Quyền dường như thấy được một tương lai “trọng lại khinh thị”, con người chỉ chỉ lo chạy theo đồng tiền
mà quên đi đạo lí Qua bài thơ “phiên phụ” hình tượng người phụ nữ xưa đã bị đánh mất, nhưng điều mà ông làm được đó là ghi lại nét tiến bộ của người Tây âu
Sống giữa chốn phồn hoa đô hội, được thưởng thức mọi thú vui của cuộc đời, Hà Tông Quyền dường như lạc vào chốn thiên thai, nhưng ẩn đằng sau niềm vui ấy là cả một bầu tâm sự, một nỗi lòng nhớ quê hương da diết:
Tự thị Trọng Tuyên du hứng thiển
Kí cảnh nhị luật 1
Dịch nghĩa:
Tự coi mình là Trọng Tuyên thú du ngoạn chẳng nồng đượm
Trọng Tuyên là tên tự của Vương Xán, người nhà Hán, vì loạn lạc mà phải rời quê hương đến Kim Châu, nhân khi lên lầu trên thành Giang Lăng ngắm cảnh, động lòng