1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị văn học của nam ông mộng lục

56 364 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 358,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1438 Hồ Nguyên Trừng viết xong Nam Ông mộng lục, là tác phẩm văn xuôi nghệ thuật ra đời sớm trong lịch sử văn học Việt Nam trung đại.. Tác phẩm Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng l

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn -

Giá trị văn học của

Nam ông mộng lục

Chuyên ngành: Văn học trung đại

Giảng viên hớng dẫn: TS Phạm Tuấn Vũ

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hoàng

1 Nam ễng mộng lục (Giấc mộng của Nam ễng) là tỏc phẩm của Hồ

Nguyờn Trừng (1374 – 1446) Nhà văn viết tỏc phẩm khi sống lưu vong ởTrung Quốc, làm quan dưới triều Minh Do đặc điểm lịch sử của nước ta làluụn chống giặc ngoại xõm, nờn những tỏc giả cú hoàn cảnh xuất xứ, những tỏcphẩm cú hoàn cảnh ra đời như vậy thường khụng nhận được thiện cảm từ cỏcnhà nghiờn cứu và độc giả Vỡ thế trong một thời gian dài tỏc giả và tỏc phẩm

Trang 2

đã phải chịu sự đánh giá khắt khe (Trần Nghĩa đã đánh một “dấu hỏi to tướng”

đầy nghi hoặc trong bài viết của mình: Hồ Nguyên Trừng mà cũng quyến luyến

quê hương không quên tổ quốc ư?, đăng trên Tạp chí Văn học số 4/ 1974 Ông

cho rằng Hồ Nguyên Trừng chỉ là một đứa con hư của dân tộc, và về mặt vănhọc thì Hồ Nguyên Trừng không có giá trị gì cả Khen hẳn là một sự lầm lạc)

Đi vào nghiên cứu đề tài này chúng tôi muốn góp một phần nhỏ vào việc đánhgiá đúng giá trị của tác phẩm, và đóng góp của tác giả cho văn học dân tộc

2 Nam Ông mộng lục là một tác phẩm hoàn chỉnh, quy mô và được sáng

tác trong hoàn cảnh đặc biệt Nghiên cứu giá trị văn học của Nam Ông mộng

lục, góp phần nhận thức đặc điểm của thể ký ở Việt Nam thời trung đại.

3 Năm 1438 Hồ Nguyên Trừng viết xong Nam Ông mộng lục, là tác

phẩm văn xuôi nghệ thuật ra đời sớm trong lịch sử văn học Việt Nam trung đại

Và có thể xem đó là tác phẩm văn xuôi tự sự “hải ngoại” đầu tiên của ViệtNam Bởi vậy nghiên cứu tác phẩm này còn góp phần nhận thức lịch sử vănxuôi nghệ thuật Việt Nam trong những thế kỷ đầu

II Lịch sử vấn đề

Có rất ít công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu về tác phẩm Nam

Ông mộng lục Có chăng các tư liệu tìm thấy, liên quan đến đề tài là các bài

nghiên cứu và giới thiệu các tác phẩm văn học trung đại của các nhà nghiêncứu Việt Nam, đây đó trong các chuyên luận, các bài báo, tạp chí, giáo trình đạihọc và trên mạng Internet

Do những điều kiện hạn chế nhất định, 31 thiên truyện chưa được các nhànghiên cứu trước đây sưu tầm đủ, nên các bài nghiên cứu, soạn, dịch, chú giảicủa các tác giả trước đây vẫn còn những hạn chế, thiếu khuyết về phương diệntác giả, văn bản, bản dịch, các tài liệu đang còn nhỏ lẻ, tản mạn Tư liệu chưađầy đủ về tác giả tác phẩm là nguyên nhân làm cho người ta có cái nhìn chưa

đầy đủ về tác giả Hồ Nguyên Trừng và tác phẩm Nam Ông mộng lục.

Tác phẩm Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng lần đầu tiên được giới thiệu một cách cặn kẽ nhất ở Việt Nam là vào năm 1962 trên mục ‘‘Nam

Ông mộng lục, tác giả Lê Trừng” Trong sách Lược truyện các tác giả Việt Nam

Trang 3

do Trần Văn Giáp chủ biên (1962),Nxb KHXH, Hà Nội) Đó là tiền đề cho cácnhà nghiên cứu tìm đến văn bản Tài liệu nghiên cứu sát nhất, tập trung nhất,

toàn vẹn nhất về tác giả Hồ Nguyên Trừng và tác phẩm Nam Ông mộng lục là

của nhà nghiên cứu Trần Nghĩa, dịch, chú thích và giới thiệu, Nhà xuất bảnVăn học,(2008) Tài liệu của nhà nghiên cứu này đã khắc phục được những vấn

đề đã nói trên và có giá trị rất lớn đối với bạn đọc Đóng góp của ông trênphương diện sưu tầm, dịch thuật, biên soạn, chú giải giúp người đọc tìm hiểu,

nghiên cứu tác giả, tác phẩm Nam Ông mộng lục một cách chính xác, hoàn

thiện, khoa học hơn Và những bài tựa, bạt, thuyết minh, phê bình về tác giả và

tác phẩm Nam Ông mộng lục trong phần phụ lục của tài liệu, có giá trị rất hữu

ích, thiết thực đối với người đọc, là nguồn tham khảo rất bổ ích cho những ai

quan tâm đến tác giả, tác phẩm Nam Ông mộng lục.

Nam Ông mộng lục được đề cập nhiều trên mạng Internet Các nhà nghiên

cứu khẳng định đó là tập hồi ký bằng chữ Hán đầu tiên của Việt Nam, là tập kýghi chép về các sử thoại và chuyện về các nhân vật nổi tiếng nước Nam thờiLý- Trần Họ khẳng định và ngợi ca Hồ Nguyên Trừng – Một nhà quân sự tài

ba, một tài năng văn chương đặc sắc của nhà Hồ Đó là nguồn tư liệu cần thiếtgiúp chúng ta có được những nhận định đúng về tác giả, tác phẩm

Đã có hai ý kiến trái ngược khi bàn về tư tưởng tác phẩm Nam Ông mộng

lục Trần Nghĩa luận tội Hồ Nguyên Trừng- người đã đem tài năng trí tuệ phục

vụ quân Minh, lũ xâm lược dã man đã “ăn gan uống máu” nhân dân ta Ông cho rằng: Hồ Nguyên Trừng chỉ là một đứa con hư của dân tộc Đời còn nhắc

đến Hồ Nguyên Trừng dứt khoát không phải do Trừng là một người con tốt.

Mà chẳng qua vì còn đấy một tập Nam Ông mộng lục, có chút tài liệu sử họa ít nhiều có thể bổ khuyết cho Việt sử Nguyễn Đức Vân – Tuấn Nghi cũng có ý

kiến không mấy ưu ái, thiện cảm như Trần Nghĩa Còn Trần Văn Giáp, ĐinhGia Khánh, Nguyễn Huệ Chi thì không đồng tình với kết luận đó

Dù sao đi nữa, để hiểu một cách đầy đủ hơn, đúng hơn về tác giả Hồ

Nguyên Trừng và tác phẩm Nam Ông mộng lục, thiết nghĩ chúng ta phải có cái

nhìn toàn diện, sâu sắc và khách quan Riêng về phần chúng tôi, sau khi được

Trang 4

tiếp xúc với văn bản và các tài liệu nghiên cứu về Nam Ông mộng lục, chúng

tôi thấy rằng đây là tác phẩm có giá trị lớn về mặt văn học Vì thế chúng tôi xin

được mạnh dạn đi vào trình bày về sự đa dạng thể loại của Nam Ông mộng lục, nghệ thuật thể hiện nhân vật và nghệ thuật tổ chức tác phẩm của Nam Ông

mộng lục nhằm góp một phần nhỏ giúp bạn đọc thấy được giá trị văn học to lớn

của Nam Ông mộng lục Chúng tôi muốn được đóng góp một phần nhỏ bé của mình trong chặng đường trường kỳ khám phá những giá trị của Nam Ông mộng

lục qua những kết luận được trình bày trong khóa luận.

III Mục đích nghiên cứu

1 Nghiên cứu giá trị của Nam Ông mộng lục ở phương diện thể loại nhằm

giúp chúng ta hình dung được một phần nào về sự phát triển của thể ký trongvăn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại Nắm bắt được những đặc điểm của thể

ký và thấy được tầm quan trọng của thể loại ký trong văn xuôi Việt Nam trungđại

2 Nghiên cứu giá trị của Nam Ông mộng lục ở phương diện xây dựng nhân

vật giúp chúng ta thấy được sự đa dạng, độc đáo, đặc sắc trong sáng tạo nghệthuật của các tác giả trung đại

3 Nghiên cứu giá trị văn học của Nam Ông mộng lục góp phần giúp chúng

ta thấy được sự vận động, phát triển của lịch sử văn xuôi nghệ thuật Việt Namtrong những thế kỷ đầu

IV Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi xin nghiên cứu Nam Ông mộng lục trong tập sách in 3 tác phẩm:

Việt điện u linh tập (Lý Tế Xuyên); Nam Ông mộng lục (Hồ Nguyên

Trừng); Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ) Nhà xuất bản Văn học, 2008 Phần

Nam Ông mộng lục từ trang 57 đến trang 110.

V Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn học phổ biến nhưthống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh Trong đó chúng tôi đặc biệt chú trọngphương pháp lịch sử cụ thể, nghiên cứu tác phẩm trong điều kiện tác giả viếtkhi lưu vong ở nước ngoài

Trang 5

VI Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính của khóa luận có bachương:

- Chương 1: Sự đa dạng thể loại của Nam Ông mộng lục

- Chương 2: Nghệ thuật thể hiện nhân vật của Nam Ông mộng lục

- Chương 3: Nghệ thuật tổ chức tác phẩm của Nam Ông mộng lục

Cuối khóa luận có mục Tài liệu tham khảo

Trang 6

CHƯƠNG 1

SỰ ĐA DẠNG THỂ LOẠI CỦA NAM ÔNG MỘNG LỤC

I Tính chất ký của Nam Ông mộng lục

1 Đặc điểm của thể ký thời trung đại

Văn học trung đại Việt Nam kéo dài gần 10 thế kỷ, bắt đầu từ thế kỷ Xđến thế kỷ XIX Quá trình của văn học trung đại thực chất là quá trình hìnhthành, phát triển các thể loại cũng như các thể tài văn học Ký là một bộ phậnvăn học cùng với truyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi hợp thành văn xuôi tự

sự trung đại Cũng như truyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi, ký chủ yếu được

viết bằng chữ Hán dưới hình thức các văn thể Trung Hoa Đặc điểm và bước đicủa ký sẽ giúp chúng ta hình dung phần nào sự trưởng thành của văn xuôi tự sựnói riêng và nền văn học trung đại Việt Nam nói chung

Thế kỷ X đến thế kỷ XIV là thời kỳ vừa đặt nền móng cho loại hình

truyện ngắn, vừa đặt nền móng cho dòng tự sự viết dưới dạng ký Nhìn chung

kinh nghiệm viết ký ở giai đoạn này còn có phần khiêm nhường Cuộc sống xãhội không đặt ra nhu cầu về ký, hơn nữa phương tiện in khắc bấy giờ khó khăn

nên các loại ký viết thành tập, thành quyển hay viết tự do chưa có điều kiện ra

đời Đề tài của ký hạn chế trong khuôn khổ viết về những điều mắt thấy tai

nghe, viết về hiện tại Ký không được viết về quá khứ, nếu có chẳng qua chỉ là

quá khứ gần xoay quanh nhân vật hiện tại Hơn nữa thời trung đại ký khôngđược dùng các thủ pháp nghệ thuật của thần thoại, truyền kỳ, sử thi, khôngđược hư cấu Về cơ bản ký giai đoạn thế kỷ X – XIV vẫn thuộc văn học chứcnăng, nằm trong khuôn khổ văn học chức năng gồm hai loại chính là văn khắc

và tự bạt Văn khắc là chỉ các tác phẩm ký được viết bằng dao hay đục trên chấtliệu rắn như kim loại hoặc đá Chúng gồm văn bia và văn chuông khánh Vănbia là loại hình văn học khắc trên đá (vách đá, cột đá, trụ đá) Ngày xưa bia vốn

là trụ đá, cột đá đặt trước nhà tông miếu để xem thời gian qua bóng mặt trời đổxuống Sau đó người ta khắc chữ, ghi việc và lâu dần thành văn bia – bi văn.Văn bia gồm hai phần: Phần thứ nhất viết bằng văn xuôi trình bày lý do dựngbia, kể lể công việc, con người, sự tích gọi là phần kể; Phần thứ hai viết bằng

Trang 7

văn vần, tóm lược lại nội dung ở trên để người đọc người nghe ghi nhớ, vì thếphần này gọi là ghi nhớ Văn chuông khánh ở thế kỷ này không nhiều, có nộidung cũng không phong phú như văn bia nhưng văn phong của văn khắc và vănchuông khánh lại khá đa dạng Bên cạnh văn khắc, thế kỷ X – XIV còn có tư(Tựa); bạt Tự thì đặt ở đầu tác phẩm còn bạt thì đặt ở cuối tác phẩm Tự và bạtviết ra nhằm bình thuật, giới thiệu các trước tác của tác giả hay của người khác

để bày tỏ quan điểm của mình với văn chương nghệ thuật

Sang thế kỷ XV – XVII ký có sự đột phá mạnh mẽ Và điểm nổi bật củavăn xuôi tự sự giai đoạn này là ký chưa thành một thể riêng, nó là một thànhphần nhỏ trong tác phẩm tự sự nhiều thiên Ký nghệ thuật bắt đầu nảy mầm và

có mặt nhỏ lẻ trong một số tập truyện ngắn và chưa có một quyển sách nàođứng riêng lẻ với tư cách là một tập ký Ranh giới giữa truyện và ký rất mờmỏng, khó mà phân biệt giữa truyện, ký và lục Đặc điểm này đeo đẳng lịchtrình văn xuôi tự sự Việt Nam suốt thời trung đại Việc tách truyện ra khỏi vănhọc chức năng ở giai đoạn thế kỷ X- XIV khó như thế nào thì tách ký ra khỏitruyện ở thế kỷ XV – XVII khó đến như vậy Tính chất ký trong văn xuôi tự sựthế kỷ này rất yếu và chúng ta có thể phân biệt ký với truyện qua chức năng vàkết cấu bản chất tác phẩm (chính là thái độ người cầm bút) Nếu người cầm búttách mình khỏi các sự kiện, các nhân vật đang được miêu tả như người ngoàicuộc thì đấy là truyện, còn các tác giả hòa mình vào các sự kiện, vào nhân vậtvới tư cách là người trong cuộc thì đấy là ký Và người mở đầu cho lối viết tự

sự nhiều thiên thế kỷ XV – XVII là Hồ Nguyên Trừng tác giả Nam Ông mộng

lục với nhiều thiên trong 31 thiên của tác phẩm đậm tính chất ký Song thế kỷ

này cái tôi cá nhân chưa được lột vỏ giữa cái ta cộng đồng Bởi thế có thể nói

ký chưa thực sự ra đời Và ký chỉ thực sự ra đời khi người cầm bút trực diệntrình bày đối tượng mình đang phản ánh bằng cảm quan của chính mình

Chỉ có đến thế kỷ XVIII – XIX mới có đủ điều kiện và độ chín muồi chophép ký nở rộ và đạt đến độ viên mãn Mở đầu cho thể ký giai đoạn này là

Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề Tác phẩm có quy mô lớn tới 43 thiên được

tác giả hoàn thành vào năm 1755 Giá trị nổi bật của Công dư tiệp ký là mở ra

Trang 8

lối viết ký nhiều thiên Tác phẩm còn nặng về tính truyện nhiều hơn ký, songông xứng đáng là người có công lớn trong việc dấy lên trào lưu viết ký Theobước ông là hàng loạt tác phẩm ký sự, tùng ký, ngẫu lục, tùy bút nối tiếp nhau

xuất hiện Trần Tiến với hai tác phẩm ký: Tiên tướng công niên phả lục và

Trần Khiêm Đường niên phả lục thì ông đã đưa thể ký phát triển thêm một

bước mới Tác giả đã bám sát hiện thực, phản ánh trực tiếp những sự kiện, conngười quanh ông hay của chính bản thân Song hạn chế lớn nhất của Trần Tiến

là chưa cắt đứt được mối dây ràng buộc của văn học chức năng Hạn chế đó

được Lê Hữu Trác khắc phục trong Thượng kinh ký sự Thượng kinh ký sự

(1783) là tác phẩm ký nghệ thuật đích thực đầu tiên của Việt Nam Nó là đỉnhcao là sự hoàn thiện của ký Việt Nam thời trung đại và là mẫu mực cho lối viết

ký sau này Đến Lê Hữu Trác, thể ký văn học đích thực đã thực sự ra đời, làm

đòn bẩy cho hàng loạt tác phẩm ký khác như Bắc hành tùng ký, Vũ trung tùy

bút viết Bắc hành tùng ký, Lê Quýnh một mặt đã tiếp nối thành tựu của các

tác giả đi trước, một mặt làm tăng thêm dung lượng cho dòng văn học hải ngoại

mà Hồ Nguyên Trừng đã đặt nền móng Nếu như Trần Tiến, Lê Hữu Trác, LêQuýnh mở ra lối viết ký dài hơi, toàn tác phẩm là một thiên thì Phạm Đình

Hổ mở ra lối ký đa dạng về bút pháp Phạm Đình Hổ viết ít nhất ba tác phẩm

liên quan đến ký với ba thể tài khác nhau: (Ngũ lục, tùy bút, tạp thảo) Tang

thương ngẫu lục, Vũ trung tùy bút, Châu phong tạp thảo Tác phẩm của ông là

sự minh chứng cho tính phong phú đa dạng của ký Đến đây ký đã đạt tới độviên mãn Nhưng một biến cố lịch sử đã đẩy ký đi theo một hướng mới đó làviết bằng chữ quốc ngữ hiện đại Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX ký có bướcchuyển mới về nội dung

Nửa cuối thế kỷ XIX là điểm dừng chân cuối cùng của thể loại ký ViệtNam trung đại trong cuộc hành trình dài gần 10 thế kỷ của mình Cũng như thểtruyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi, ký sau khi đạt tới đỉnh cao thì đều rơivào bế tắc Nếu không có biến cố lịch sử - xâm lăng cướp nước của thực dânPháp thì văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại hẳn sẽ tìm được cho mình conđường sáng, thoát khỏi bế tắc để chuyển sang một giai đoạn mới: Cận – hiện

Trang 9

đại Ở giai đoạn này các tác phẩm của Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ,Nguyễn Lộ Trạch là những cố gắng cuối cùng của tác giả ký thế kỷ XIX songvẫn không thể cứu vãn được sự bế tắc của ký trung đại Như truyện ngắn vàtiểu thuyết, đến đây ký kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình Văn xuôi tự sự ViệtNam trung đại nhường chỗ cho văn xuôi tự sự hiện đại Việt Nam.

Suốt 10 thế kỷ trung đại, ký luôn bám sát hiện thực cuộc sống, phản ánhnhững vấn đề thẩm mỹ do thời đại đạt ra Trong suốt quá trình phát triển, ký đãtừng bước hoàn thiện và khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của mìnhtrong văn xuôi Việt Nam trung đại

2 Tính chất ký trong Nam Ông mộng lục

Nam Ông mộng lục là tác phẩm văn xuôi tự sự “hải ngoại” đầu tiên của

Việt Nam, giữ vị trí quan trọng trong văn xuôi tự sự Việt Nam thời Trung Đại.Tác giả là Hồ Nguyên Trừng (1374 – 1446), tự Mạnh Nguyên, là con cả của HồQuý Ly bị giặc Minh bắt làm tù binh trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt

Nam đầu thế kỷ XV, phải sống lưu vong ở nước ngoài Nam Ông mộng lục

gồm 31 thiên Trong những nét đặc sắc của tác phẩm là tính chất thể loại của

nó Có thể xem Nam Ông mộng lục là một tập thiên văn xuôi đa thể loại Người

đọc có thể bắt gặp một thiên văn xuôi theo kết cấu của truyện ký, hay bắt gặpcác thiên tự sự như truyện truyền kỳ, quái dị và cả những thi thoại văn học rấtđặc sắc Nguyễn Đăng Na đã đánh giá về tính chất thể loại của tác phẩm này:

Nam Ông mộng lục mang ý nghĩa như một tác phẩm bản lề, với cánh bên này khép lại văn xuôi tự sự thế kỷ X – XIV và cánh bên kia mở ra phương thức sáng tác mới cho văn xuôi tự sự thế kỷ XV – XIX [9; 164].

Hồ Nguyên Trừng là người đặt nền móng cho thể ký Việt Nam thời trungđại, vừa là đại diện cho những tác giả ký thế kỷ XV – XVII Với phương pháp

“ghép” những đoạn suy tư và bình giá đối tượng mình đang phản ánh vào cuốimỗi thiên tự sự, Hồ Nguyên Trừng đã thực sự bước chân vào lãnh địa thể ký.Ông là người mở đầu cho lối viết tự sự nhiều thiên thế kỷ XV –XVII Tính chất

ký thể hiện khá rõ qua một số thiên trong Nam Ông mộng lục “Trong lời nói

việc làm, trong tài năng của người xưa có nhiều điều khả thủ, chỉ vì qua cơn

Trang 10

binh lửa, sách vở bị cháy sạch thành ra những điều đó đều bị mất mát cả, không còn ai được nghe, há chẳng đáng tiếc lắm sao? Nghĩ tới điều này, tôi thường tìm ghi những việc cũ, nhưng thấy mất mát gần hết, trong năm phần chỉ còn được một hai; bèn góp lại thành một tập sách, đặt tên là Nam Ông mộng lục, phòng khi có người đọc tới; một là để biểu dương các mẫu việc thiện của người xưa, hai là để cung cấp điều mới lạ cho người quân tử” [6; 61-62] Và

người đọc dễ dàng nhận ra một đặc điểm nổi bật của Nam Ông mộng lục là tác

giả hầu hết viết về những chuyện xưa, chuyện của người khác Những câuchuyện đó có thật, sự việc có thật ông nhớ được và ghi chép lại Tác phẩmđược viết, in và lưu hành ở Trung Quốc Song qua 31 thiên truyện chúng takhông hề thấy một dụng ý đen tối nào như chứng minh nước Nam là quậnhuyện của phương Bắc hay biểu dương công ơn “khai hóa” của “thiên triều”đối với người Nam Trái lại, tác phẩm là bức tranh toàn cảnh về nước Nam, vớinhững con người tốt đẹp, tiêu biểu cho đạo đức, phầm chất và tài năng, có thểđem ra làm gương cho độc giả phương Bắc cùng soi Đó là những người thuộctầng lớp khác nhau dưới triều đại nhà Lý, nhà Trần, và nhà Hồ, từ vua TrầnNghệ Tông hiếu thảo, cần kiệm hay Trần Minh Tông không tham tước vị, đếnnhững nhà Nho cương trực như Chu Văn An, những thầy thuốc coi lương tâmhơn tính mạng như Phạm Công, cho đến những nhân vật tôn giáo đầy uy tín vàtài năng như pháp sư Không Lộ hay đôi bạn cả sư lẫn đạo Giác Hải và ThôngHuyền

Nam Ông mộng lục ca ngợi những ông vua hiền đức đời Trần như vua

Trần Nhân Tông (làm vua những năm 1279 - 1293); Trần Minh Tông (làm vuanhững năm 1314 -1329); Trần Nghệ Tông (làm vua những năm 1370 – 1372) Truyện Nghệ Vương kể về vua Nghệ Vương hiệu là Cung Định, tính tình thuầnhậu, hiếu thảo, cung kính, cần kiệm, sáng suốt, học rộng kinh sử, không thích

xa hoa “Cung Định Vương là người trung hậu, thành thực, thờ vua thờ cha

chu đáo, từng chân tơ sợi tóc không ai chê trách điều gì Giao thiệp với người thì không thân lắm, cũng không sơ lắm; Trước việc chính sự thì không có điều

gì quá chê, cũng không quá khen Hồi Minh vương qua đời, Cung Định Vương

Trang 11

để tang ba năm, mắt không lúc nào rơi lệ Đoạn tang, quần áo không sắm các thứ tơ lụa màu mè; ăn không cần ngon; ; quả muỗn, cá hồng là những thức ăn quý ở phương Nam từ đấy tuyệt nhiên không tới miệng Thờ Dụ vương hơn 10 năm” [6; 64 - 65]; “Sau khi lên ngôi, Nghệ Vương đã nhặt hết những đứa trẻ côi cút trong đám con cháu của anh chị em mình đưa vào cung nuôi nấng, coi hệt như con cái mình đẻ ra Người trong dòng họ xa gần đều được yêu thương đùm bọc Sau cơn loạn lạc, người nào nghèo khổ không thể cưới xin được thì lấy vợ gả chồng cho họ; người nào chưa được chôn cất thì chôn cất cho họ; đến cả những điều vặt vãnh chi tiết, không có cái gì là không thu nhặt chép sao Xóm giềng hòa hợp, đầm ấm như tiết mùa xuân Người trong nhà được cảm hóa, phong tục dần dần trở nên thuần hậu Vua ở đất này cũng có người tốt đến thế ư” [6; 70 – 71] Nếu như trước đây người đọc tiếp nhận vẻ

đẹp của các triều vua nhà Trần trên phương diện lịch sử với các chiến công lẫylừng chống giặc ngoại xâm, những trận đánh làm nên hào khí Đông A, và quacác tác phẩm văn học bằng những lời nhận xét chung về tài, đức, tư tưởng tiến

bộ của các ông vua hiền, thì đến Nam Ông mộng lục, người đọc mới thực sự

chiêm ngưỡng, khám phá, phát hiện thêm những vẻ đẹp về chân dung của mộtcon người như vua Trần Nghệ Tông Con người ấy, vị vua ấy luôn lấy đức làmtrọng, thay trời hành đạo, ban phát phúc đức cho muôn dân Ông còn là người

có tài trên lĩnh vực chính trị, tài văn chương, giỏi ngoại giao Câu chuyện đãđem đến cho người đọc những nhận thức thật bổ ích đầy giá trị

Phụ đức minh trinh [6; 76], Văn tang khí tuyệt [6; 77], Phu thê tử tiết [6;

83], là những câu chuyện kể về những bà phi, những công chúa thật đẹp,sángđức sáng tâm,họ hội tụ ở chử hiếu,chữ tình,chữ hạnh,chữ đức cao cả của con

ngươi Phụ đức minh trinh kể về Chính phi họ Lê của vua Trần Duệ Vương,mẹ

của Linh Đức.Bà đã gọt tóc đi tu khi Duệ Vương tử trận trong một lần đemquân đi đánh Chiêm Thành năm 1377.Khi Nghệ Vương đem Linh Đức lên

ngôi,bà đã từ chối thay cho con nhưng không được,bà than rằng: “Con ta phúc

mỏng, khó đương nổi ngôi to, chỉ có mắc vạ thôi Cố Chúa lìa đời,kẻ chưa mất này chỉ muốn chết cho chóng,không muốn thấy việc đời,huống chi là nhìn con

Trang 12

ta sắp nguy khốn ư ?Bà đã dốc chí tu hành,ngày ngày tụng niệm để báo đền ơn chúa.Người đời ai cũng phục phi là người sáng suốt đến thế” [6;77] Văn tang khí tuyệt lại kể về nàng công chúa Thiều Dương,con gái thứ của vua Trần

Thái Tông Khi nàng ở cữ thì Thái Vương ốm nặng, nhưng hầu cận đã dấunàng rằng nhà vua đã bình phục và khỏe mạnh Ngày Thái Vương mất, nàngkhông được báo tin nhưng nghe tiếng chuông đánh liên hồi thì nàng biết cóchuyện chẳng lành đến với cha.Thương cha, nàng đã khóc lóc, kêu gào cho đến

khi tắt thở.Phu thê tử tiết thì kể về Nguyễn Thị,một người phụ nữ coi trọng

điều nghĩa, xem nhẹ cái sống, nhìn cái chết như sự trở về.Nàng là vợ NgôMiễn, làm quan dưới triều Hồ Khi chồng nhảy xuống nước tự tử vì Chúa, vìđiều nghĩa thì nàng đã thỏa nguyện trong lòng bởi nàng cho đó là cái chết đángchỗ, không phải oán hận gì Chồng chết vì đạo vua tôi và nàng cũng đã chết vì

nghĩa vợ chồng “Trong số đàn bà ngu dại trên đời, những kẻ vì bực tức mà

nhảy xuống nước chết nhiều lần.Đến như vì nghĩa bỏ mình, thì rất không dễ được!Hạnh như Nguyễn Thị thật đáng ca ngợi thay” [6; 83 - 84]

Đọc Nam Ông mộng lục ta còn bắt gặp tài đức của những con người lừng danh một thời, để lại tiếng thơm muôn thuở Với thiên thứ bảy Văn trinh ngạnh

trực [6;78] chúng ta được chiêm ngưỡng sự thanh cao của một thầy giáo, một

con người liêm khiết, cương trực, điềm đạm, ít ham muốn, ham sách vở, họcvấn tinh thông Chu Văn An thanh cao, nghiêm chính, nổi tiếng trong nghề dạyhọc, học trò theo học rất đông và ông đã đào tạo nên những người tài giỏi, đỗđạt làm quan to Nghệ Vương ban cho ông hiệu “Văn Trinh tiên sinh”.Thiên

thứ tám Y thiện dụng tâm [6;79] cho chúng ta biết thêm một thông tin nữa về

Hồ Nguyên Trừng.Tổ tiên của Hồ Nguyên Trừng vốn dòng dõi làm thuốc chữabệnh Nổi tiếng là Phạm Công, được vua cho giử chức thái y Ông thường véttiền của để tích trữ thuốc tốt và lúa gạo để giúp dân.Với những người côi cút thìcung cấp cơm gạo,với những người khổ sở bệnh tật thì chăm sóc chữa trị chuđáo Những năm đói khát dịch bệnh lan tràn, ông đã dựng nhà cho kẻ nghèokhổ ở bởi thế mà hơn một nghìn người đói khát bệnh tật được cứu sống PhạmCông vừa tài giỏi lại có lòng nhân đức cao cả vô bờ, đúng như danh hiệu mà

Trang 13

người đời đã ban tặng cho ông: “lương y như từ mẫu” Bên cạnh nhân cáchsống cao đẹp như Chu Văn An, Phạm Công thì còn có Lê Phụng Hiếu.Conngười luôn vì nước vì dân mà đem sức mạnh thần kỳ của mình để trừ tàn bạo,giết giặc ngoại xâm đem yên bình hạnh phúc cho dân Một con người chínhtrực, không màng chức tước, danh lợi, chỉ thích làm một thảo dân sống ở chốn

thôn dã Nam Ông mông lục còn ghi chép kể lại những con người thật đẹp như

hai anh em họ Chúc có công lớn trong việc chỉnh đốn lại triều cương Ngợi catài thơ của Trần Nguyên Đán Ông ngoại của Nguyễn Trãi, đã làm bài thơ trung

để can gián nhà vua Ngợi ca Mạc Ký, một thi sĩ tài hoa quý khách.Rồi HồTông Thốc người Diễn Châu, trẻ tuổi đã đỗ đạt cao, nổi tiếng là người có tài.Trong một đêm ông làm được một trăm bài thơ, uống trăm chén rượu, không aiđịch nổi, tên ông chấn động khắp cả đô thành

Có người hỏi Hồ Nguyên Trừng rằng: “Những người ông ghi chép đều là

người thiện, vậy thì trong các chuyện bình sinh ông nghe thấy lại chẳng có chuyện nào bất thiện ư? Ông trả lời họ rằng: Chuyện thiện tôi rất mê nghe, nên có thể nhớ được; còn chuyện bất thiện thì không phải không có, chẳng qua tôi không nhớ đấy thô Họ lại hỏi: Sách lấy tên là“mộng” ý nghĩa ở chỗ nào?

Ông trả lời :Nhân vật trong sách, xưa kia rất phong phú, chỉ vì đời thay việc

đổi, dấu tích hầu như không để lại, thành ra còn mỗi một mình tôi biết chuyện

và kể lại mà thôi, thế không phải“mộng” là gì? Các bậc đạt nhân quân tử có thấu cho chăng? Còn“Nam Ông” là tiếng Trừng tôi gọi mình vậy!”[6;62].

Nội dung trong tác phẩm Nam Ông mộng lục thật phong phú Tác giả kể

về đạo quân thần để làm sáng tỏ cái đức đẹp của luân thường đạo lý, ghi lại lẽhưng phế của quốc gia, dòng họ để ngợi ca tiết nghĩa tu dưỡng tâm tính, hunđúc phúc lành, khơi nguồn phong tục, những câu chuyện ấy đã đi vào lòngngười đọc bao thế hệ như những bài học đạo đức quý báu và người đời soi vào

để tự hoàn thiện mình hơn.Hồ Nguyên Trừng viết Nam Ông mộng lục nhằm

một mục đích duy nhất là “ khuyến thiện”.Bởi thế con người Việt Nam trong

Nam Ông mộng lục ngời lên phẩm chất cao đẹp mà thời gian hay bất cứ thứ gì

cũng không thể làm vẩn đục hay bào mòn đi

Trang 14

II.Tính chất truyện của Nam Ông mộng lục

1 Đặc điểm của truyện thời trung đại

Văn học trung đại Việt Nam phát triển liền mạch từ thế kỷ X đến hết thế

kỷ XIX với hàng ngàn tác giả và tác phẩm Văn học trung đại gồm hai bộ phận:văn học chức năng và văn học nghệ thuật Giai đoạn đầu văn học chức năngchiếm ưu thế, giữ vị trí trung tâm Nhưng sau đó văn học nghệ thuật đã có sựchuyển biến mạnh mẽ vượt lên văn học chức năng để dành vị trí trung tâm.Dựa vào cấu trúc hình thức câu văn và cấu trúc giữa các câu văn với nhau thìvăn học trung đại được chia thành hai loại lớn là văn xuôi và văn vần Hai loạinày tương ứng với hai phương thức phản ánh cuộc sống mà Arixtôle đã chỉ ra:

tự sự và trữ tình Và trong văn học Việt Nam thời trung đại thì có hai loại hình

tự sự, đó là tự sự và bằng thơ và tự sự bằng văn xuôi

Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại là một bộ phận cấu thành văn họcdân tộc, phản ánh trình độ tư duy nghệ thuật của người Việt Nam thời trungđại Văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam hầu hết được viết bằng chữ Hán nhưngchúng phản ánh khá chân thật, sinh động đời sống và những ước mơ, nguyệnvọng, tâm tư tình cảm của người Việt Có những trang thấm đẫm nước mắt vớinững số phận bi thương, có những trang lại hoành tráng với khí thế vũ bão đánhtan mọi thế lực bạo tàn, xâm lược Cùng với ký và tiểu thuyết chương hồi,truyện ngắn cũng nằm trong sự phát triển chung của văn xuôi tự sự Việt Namthời trung đại nhưng mang những đặc thù riêng Và riêng phần này chúng tôitrình bày phần khảo sát về đặc điểm của truyện ngắn trung đại qua bốn giaiđoạn phát triển

Thế kỷ X- XIV là giai đoạn truyện ngắn lấy văn học dân gian và văn họcchức năng làm cơ sở Đặc điểm của giai đoạn này là truyện ngắn chưa táchkhỏi văn học dân gian và văn học chức năng Tác phẩm giai đoạn này gồm hailoại chính: loại thứ nhất là truyện dân gian (ghi chép, sưu tầm truyện dân gian)

và truyện lịch sử dân tộc, truyện lịch sử tôn giáo (gồm các phong tục tập quán,

lễ nghi, tín ngưỡng )

Trang 15

Tác phẩm tiêu biểu: Ngoại sử ký của Đỗ Thiên Thiện, Đại Việt sử ký của

Lê Văn Hưu; truyện lịch sử tôn giáo (ghi chép truyện dân gian), gồm Báo cực

truyện (khuyết danh), Việt điện u linh tập (Lý Tế Xuyên) Trên thực tế hai loại

này có sự đan xen vào nhau, khó tách bạch rạch ròi, vì thế sự phân loại đómang tính tương đối Về nội dung nổi bật, truyện ngắn thế kỉ X- XIV chủ yếutập trung vào việc khẳng định nước Việt là một quốc gia độc lập, có lịch sử lâuđời, có lãnh thổ và có tương lai trường tồn Về nghệ thuật thì truyện ngắn giaiđoạn này thường sử dụng các mô-típ dân gian như “thụ thai thần kỳ” ( có thai

do ướm vết chân trong truyện Đổng Thiên Vương hay do mặt trời rọi vào bụng,

hay hoa sen mọc từ bụng ); “chết kỳ lạ” (chết rồi hóa đá, hóa cây hay ngồi

thành thần hoặc ngồi kiết già như trong truyện Tân lang, Man nương ); “lên

trời” (Đổng Thiên Vương) Mô-típ nghệ thuật đó là cơ sở cho sự ra đời loạihình truyện ngắn ở giai đoạn tiếp theo, nhất là loại truyện ngắn truyền kỳ Thế

kỉ X- XIV còn mở đầu cho hai dòng tự sự viết về nhân vật lịch sử và viết vềchuyện “quái”, “dị”, “u linh” Hai dòng tự sự đó đã xuyên suốt hành trình vănxuôi Việt Nam Mặc dù chưa bứt ra khỏi văn học dân gian và văn học chứcnăng nhưng truyện ngắn thế kỉ X- XIV lại giữ vị trí rất quan trọng trong việcđặt nền móng về nội dung và phương thức tư duy nghệ thuật cho văn xuôi tự sựViệt Nam trung đại nói riêng và cho truyện văn xuôi cận- hiện đại nói chung.Bước sang giai đoạn thứ hai, thế kỉ XV- XVII, truyện ngắn có nhữngbước đột khởi mới mẻ Đặc điểm của giai đoạn này là văn xuôi tự sự đã thoát limối ràng buộc của văn học dân gian và văn học chức năng, tự sáng tạo ra loạihình truyện ngắn văn học Loại truyện ngắn đó vừa mang sắc thái của dân tộc,vừa phản ánh rất sinh động cuộc sống đời thường Tiêu biểu cho thành tựu

truyện ngắn giai đoạn này là Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông) và Truyền

kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Ngoài hai tác phẩm kể trên, trong loại hình truyện

ngắn giai đoạn này còn có Thiên Nam vân lục liệt truyện của Nguyễn Hãng,

Nam Xửng tử quái truyện (Khuyết danh), Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên

Trừng Có thể nói thế kỉ XV- XVII là thế kỉ của truyện ngắn truyền kỳ Với

Thánh Tông di thảo, đặc biệt là Truyền kỳ mạn lục thì văn xuôi tự sự đã thực sự

Trang 16

đi vào quỹ đạo nghệ thuật- văn học lấy con người làm đối tượng trung tâmphản ánh Khi lấy con người làm đối tượng trung tâm phản ánh của nghệ thuật.

Lê Thánh Tông cũng như Nguyễn Dữ đã phát hiện ra sức mạnh của con người

Và không chỉ phát hiện ra con người có sức mạnh vô biên mà Lê Thánh Tông

và Nguyễn Dữ còn dành nhiều tâm huyết viết về những kiếp lầm than, đặc biệt

là những người phụ nữ sống trong xã hội bây giờ Truyện ngắn thế kỉ XVII là bức tranh muôn màu của cuộc sống, có khi là một màu bi thương, cókhi là một gam màu huyền diệu của tình yêu với đủ mùi hương vị, ngọt ngào,dắng cay, nồng nàn Và sẽ là thiếu khuyết nếu bỏ qua một đặc điểm nổi bậtcủa truyện ngắn ở giai đoạn này, đó là sự đan xen giữa văn xuôi và thơ Hầunhư truyện nào của Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ cũng đều có một vài bài thơ,

XV-từ, ca, hành Đó là hình thức dung hòa giữa phương thức tự sự và trữ tình

Và đến giai đoạn thứ ba, từ thế kỉ XVIII- giữa thế kỉ XIX là giai đoạn màtruyện ngắn có nhiều cách tân Giai đoạn này không chỉ truyện ngắn mà ký vàtiểu thuyết chương hồi đều được hoàn thiện Thế kỉ XVIII- giữa XIX là giaiđoạn lịch sử đầy biến cố và bão táp Cùng với văn học trung đại, văn xuôi tự sự

có những biến đổi lớn để thục hiện sứ mệnh của mình là đáp ứng nhu cầu củathời đại, phục vụ thời đại Văn xuôi tự sự giai đoạn này có bước chuyển mới,

nó như ống kính vạn năng phản chiếu tất cả những điều xảy ra trong cuộc sống,phản ánh tức thời, trực tiếp, chân thực những gì chụp được Quan điểm “văn dĩtải đạo” hay “thi ngôn chí” bị đẩy lùi để nhường chỗ cho quan điểm viết vềnhững “sở văn”, “sở kiến” Đó là lí do vì sao các tác giả như Đoàn Thị Điểm,Phạm Quý Thích muốn “cách tân” loại truyện ngắn truyền kỳ Sự “cách tân”truyện ngắn truyền kỳ của các tác gia thế kỉ XVIII- giữa XIX là một tiến bộsong đối với nghệ thuật truyện kí lại là một “thảm họa” Bởi đặc trưng củatruyện kí là đưa người đọc bay vào thế giới huyền ảo trong khi đó sự “cách tân”lại đòi hỏi sự trung thành với người thực, việc thực, đời thực Vì thế mà VũTrinh không gọi tác phẩm của mình bằng cái tên “truyền kỳ” nữa mà ông gọi

thẳng là “kiến văn”: Lan Trì kiến văn lục (Truyện về những điều mắt thấy tai

nghe của Lan Trì) Như vậy truyện truyền kỳ có nguy cơ rơi vào bế tắc, khủng

Trang 17

hoảng và để khắc phục tình trạng đó, các tác giả Vũ Trinh, Phạm Quý Thích,Cao Bá Quát, Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn đã chuyển sang sáng tác cáctruyện “người thật việc thật” hay truyện “truyền kỳ về người thật việc thật” vàtruyện ngụ ngôn để thay thế truyện ngắn truyền kỳ Truyện ngắn thế kỉ XVIII-giữa XIX vừa được các tác giả kéo ra khỏi ngõ cụt thì lịch sử dân tộc lại vấpphải một biến cố mới Văn xuôi tự sự nói chung, truyện ngắn nói riêng vì thếcũng bị cuốn theo hướng khác.

Nửa cuối thế kỉ XIX là giai đoạn chuyển giao giữa truyện ngắn trung đạivới truyện ngắn cận- hiện đại Thực dân Pháp đổ bộ vào xâm lược nước ta.Trong bối cảnh lịch sử đó thì chữ Nôm và chữ Hán không còn đáp ứng kịp thờicho sáng tác văn học mới Trong khi đó văn học viết chữ Quốc ngữ xuất hiệntrên văn đàn

Bốn chặng đường với 10 thế kỉ, truyện ngắn Việt Nam thời trung đại đãtiến gần đến chủ nghĩa hiện thực Văn xuôi tự sự cũng như truyện ngắn nóiriêng, văn học trung đại Việt Nam nói chung đến đây kết thúc vai trò lịch sửcủa mình

2 Tính chất truyện trong Nam Ông mộng lục

Nam Ông mộng lục gồm 31 thiên Đó là tác phẩm có nhiều đoản thiên, có

thiên có tính chất truyền kỳ, chí dị, chí quái, giai thoại; có thiên lại là những thithoại Đặc biệt có thiên mang dáng dấp của những truyện ngắn

Viết truyện ngắn đã là một thử thách lớn đối với các tác giả Thực sự nókhông dễ dàng gì, bởi truyện ngắn không cho phép có một hệ thống nhân vật

đồ sộ, một không gian rộng lớn, thời gian dài như trong truyện vừa và tiểuthuyết Vì vậy, viết truyện thật ngắn lại càng khó hơn Cái khó của loại hìnhnày không phải chỉ ở chỗ người viết phải biết “gò nén” ngôn từ, “ép chặt” sựkiện, “sàng lọc” hiện thực mà ở chỗ người cầm bút phải biết chọn khoảnh khắcđời người nhân vật sao cho vào thời điểm ấy, tính cách của họ hiện lên sinhđộng, rõ ràng và mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, nhưng đặc biệt người đọckhông cảm thấy có một sự dàn dựng chủ ý nào của tác giả Đúng như Bùi Hiển

đã nói: Truyện ngắn có khi lấy một khoảnh khắc trong đời một con người mà

Trang 18

dựng lên Có khi nhân vật đặt trước một vấn đề phải băn khoăn, suy nghĩ, lựa chọn, quyết định Có khi chỉ là một cảnh sống, làm việc bình thường trong đó nhân vật biểu lộ ý chí tình cảm của mình Có khi có những hành động mãnh liệt, những tình tiết éo le Có khi chỉ là một tâm trạng, một nỗi vui buồn, một ý tình chớm nở. [9; 292] Và cái đặc tài của những cây bút truyện ngắn, đặc biệt

là truyện rất ngắn là họ luôn chớp lấy được những khoảnh khắc ấy- những giâyphút điển hình nhất, những giây phút nhân vật thể hiện đầy đủ nhất tư tưởng,tính cách của mình Song chỉ riêng chừng ấy thôi thì chưa đủ để làm nên giá trịtrường tồn cho một tác phẩm Một tác phẩm có giá trị phải là một tác phẩm màtrong lòng nó luôn đặt ra những vấn đề triết ký nhân sinh về cuộc sống conngười Hồ Nguyên Trừng đã làm được điều đó Ông đã thành công khi thổi hồnvào tác phẩm của mình để tạo nên một giá trị bất hủ Đó là lí do vì sao mà tác

phẩm Nam Ông mộng lục- một tác phẩm ra đời cách chúng ta gần sáu thế kỉ

(571 năm) trở về trước đến giờ vẫn được độc giả dành cho sự ưu ái đặc biệt

Tính chất truyện của Nam Ông mộng lục là viết về nhân vật có thật Một

trong những thiên tiêu biểu cho tính chất đó là: Văn tang khí tuyệt (Nghe tang tắt thở): Con gái Trần Thái Vương hiệu Thiều Dương Khi bà đang ở cữ, Thái

Vương không được khỏe đã một tháng Nhiều lần bà sai người đến thăm hỏi nhưng những người hầu cận nói dối rằng:

- Vua đã bình phục rồi, không việc gì nữa.

Đến ngày Thái Vương lìa đời, bà bỗng nghe tiếng chuông đánh liên hối, bèn hỏi:

- Có phải là việc chẳng lành chăng?

Những người hầu cận lại nói dối nhưng bà không nghe, cứ khóc lóc kêu gào cho đến khi tắt thở, nhắm mắt mà mất.[ 6; 77] Truyện có nội dung giản dị, tình

tiết không phức tạp nhưng chân dung công chúa Thiều Dương (con thứ TrầnThái Tông) hiện ra rất rõ nét: một người con có hiếu, yêu thương cha hết lòng.Nàng là một điển hình mẫu mực cho tình yêu thương và lòng hiếu thảo Tác giảchỉ chọn một khoảnh khắc cuộc đời nhân vật: cha ốm trong lúc con đang ở cữ

Lo lắng cho cha, nhiều lần con sai người đến hỏi thăm sức khỏe của cha nhưng

Trang 19

họ đều nói dối rằng cha đã khỏe Nghe tiếng chuông biết tin cha mất, con khócgào đến tắt thở Như vậy sự kiện chỉ là cái cớ để nhân vật tự bộc lộ lời nói, cử

chỉ, hành động Đó chính là mục đích, là ý nghĩa nhân sinh trong truyện Văn

tang khí tuyệt của Hồ Nguyên Trừng Tuy nhiên so với truyện ngắn “mi-ni”

ngày nay thì truyện của Hồ Nguyên Trừng có khác biệt Truyện ngắn ngày nayviết theo phương thức hiện đại, còn truyện của Hồ Nguyên Trừng nằm trongphạm trù tư duy trung đại Tác giả cũng đã ghi chép những sự việc có thật củanhững con người con người có thật trong lịch sử và những chân dung ấy lạiđược kí họa trong nhiều hình thức một truyện ngắn, rất ngắn Những truyệnngắn ấy có khi lại được biểu hiện như là những giai thoại xoay quanh những

nhân vật nổi tiếng như giai thoại thầy thuốc với nhân vật Phạm Công trong Y

thiện dụng tâm ( thầy thuốc có lòng nhân từ); giai thoại về nhà giáo với nhân

vật Chu Văn An trong Văn trinh ngạnh trực (Văn trinh cứng cỏi và ngay thẳng); giai thoại nhà sư với nhân vật Giác Hải, Thông Huyền trong Tăng đạo

thần thông ( Phếp thần thông của tăng đạo), hay giai thoại văn học Rõ ràng,

ranh giới giữa ký và truyện trong sáng tác của Hồ Nguyên Trừng chưa rạch ròi.Biên giới mờ mỏng ấy không phải là một hiện tượng cá biệt trong sáng tác của

Hồ Nguyên Trừng mà chính là sự hỗn dung phổ biến trong tất cả các tác phẩmvăn học trung đại giai đoạn này Đó cũng chính là điểm khác biệt của truyệnngắn Hồ Nguyên Trừng với truyện ngắn “mi-ni” hiện đại ngày nay Nhưng dùkhác nhau như vậy nhưng Hồ Nguyên Trừng vẫn là người mở đầu cho lối viếttruyện rất ngắn ở Việt Nam

III Tính chất thi thoại của Nam Ông mộng lục

1 Khái niệm thi thoại

Thể loại thi thoại xuất hiện sớm ở Trung Quốc Người ta bắt đầu biết đến

thể loại này khi Lục Nhất thi thoại của Âu Dương Tu (1007- 1072) ra đời Thể loại đó phát triển cho đến thời cận đại Trung Quốc, với Ẩm Băng Thất thi thoại

của Lương Khải Siêu (1873- 1929) Thể loại thi thoại đã thực sự nở rộ ở đấtnước này, tạo thành một truyền thống thẩm bình thi ca hùng hậu Chỉ riêng ởđời Tống thôi mà đã có trên 142 tập thi thoại khác nhau Điều đó cho thấy

Trang 20

Trung Quốc là một đất nước có bề dày lịch sử về văn hóa văn học, thể loại vănhọc đa dạng phong phú Ở Việt Nam cũng có một số người viết theo thể loạinày, song nhìn chung không nhiều, chỉ là con số khiêm tốn Chúng ta có thể bắt

gặp thể loại này ở Thương Sơn thi thoại của Tùng Thiện Vương, Chương Dân

thi thoại của Phan Khôi, Úc Viên thi thoại của Đông Hồ, Trường Xuyên thi thoại của Quách Tấn hay Chuyện thơ của Hoài Thanh Mục Sổ tay người yêu thơ trên báo thực chất cũng là một thứ thi thoại Nói đến thể loại này thì không

thể không nhắc đến Hồ Nguyên Trừng, một nhà quân sự tài ba, một tài năng

văn chương đặc sắc của nhà Hồ, tác giả của Nam Ông mộng lục Có thể nói,

người đầu tiên viết thi thoại ở Việt Nam là Hồ Nguyên Trừng Và cũng có thểthấy rằng thể loại thi thoại của nước ta chịu ảnh hưởng sâu sắc của truyền thốngthi thoại Trung Hoa

Thi thoại là thể loại phê bình thơ mang tính chất tùy bút, “nhàn đàm”

về thơ Chu Ngạn thi thoại (Nam Tống) viết: “ Thi thoại là thể loại chuyên

phân định cách viết câu thơ, tập hợp tài liệu cổ kim, ghi nhận đức độ, chéplại chuyện lạ, đính chính những chỗ sai lầm” Thể loại này cho phép nhàbình thơ có thể bình luận tự do, không gò bó vào một khuôn khổ nào, từthẩm bình một câu, một chữ, đến bàn luận một vấn đề hệ trọng của văn học,dài ngắn tùy ý

2 Những thi thoại trong Nam Ông mộng lục

Trong Nam Ông mộng lục, người đọc không chỉ bắt gặp những thiên văn

xuôi theo kết cấu của truyện kí, những thiên tự sự như là những truyện truyền

kỳ, quái, dị, những giai thoại về cuộc sống, về nhà vua, nhà sư, thầy thuốc, đạosĩ mà chúng ta còn bắt gặp những thiên mang tính chất như là những thi thoạivăn học Thể loại thi thoại trước Hồ Nguyên Trừng chưa hề xuất hiện và sauông cũng không có nhiều người quan tâm Có thể nói người mở đầu cho thể tài

thi thoại Việt Nam là Hồ Nguyên Trừng Trong Nam Ông mộng lục, ông đã

dành cho thể này 13/31 thiên, chiếm tỉ lệ gần 42%, một con số không nhỏ chútnào Nhân vật của các thi thoại của Hồ Nguyên Trừng đủ mọi tầng lớp, cóngười làm vua (như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông), có người làm quan

Trang 21

(như Trần Nguyên Đán), có người thuần túy là Nho sĩ (như Ái Sơn, Sầm Lâu).

Và đặc biệt trong số đó có người xuất thân trong quân ngũ (như Phạm NgũLão, Mạc Kí) Có thể nói hơn 10 thiên ở cuối tác phẩm có tính chất là những thithoại, những đoạn bình luận thơ ca là nội dung thứ hai bên cạnh nội dung viết

về người thật việc thật của Nam Ông mộng lục Những thi thoại của Nam Ông

mộng lục ít nhiều có phong vị đặc sắc và những lời bình luận thi ca của ông tuy

ít ỏi nhưng cũng không kém phần đặc sắc

Trong Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng có những thi thoại ghi

chép, kể về sự ra đời của một bài thơ, những câu thơ hay, những tài hoa của thi

nhân thời Lý- Trần Bài thơ của Trần Thánh Tông trong thiên 18 Thơ Điệp tự:

Cảnh thanh u, vật cũng thanh u,

Một chục tiên châu, đây một châu

Trăm bộ sênh ca, chim trăm giọng,

Nghìn hàng tôi tớ, quất nghìn cây

Trăng vô sự chiếu người vô sự,

Nước đượm thu lồng trời đượm thu.

Bốn biển đã trong, bụi đã sạch

Cuộc đi chơi năm nay hơn cuộc đi chơi năm xưa.[6, 95].

được tác giả sáng tác trong dịp về thăm quê cũ ở Thiên Trường Còn bài thơ

trong Thơ xứng chức Tể tướng được Trần Nghệ Tông sáng tác khi ông mới

nhận chức Tể tướng:

Lão Tể tướng nước An Nam không thạo làm thơ,

Ngồi suông trước chén vàng tiễn khách ra về.

Núi Tản Viên cao, dòng Lô Thủy biếc,

Vời trông theo cò sứ bay vào năm thức mây.[6; 107]

Thiên 19 Ý thơ tươi mới là câu chuyện về bài thơ vịnh mai của Trần Nhân Tông Còn bài thơ của Giới Hiên (trong thiên 22 Thơ dùng câu hay của người

xưa) thì lại ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt Trong tông thất nhà Trần có người

hiệu Sầm Lâu, 17 tuổi đã nổi tiếng là người làm thơ hay, nhưng không may mất

sớm khi tuổi tròn 27 Ông để lại cho đời tác phẩm Sầm Lâu tập Giới Hiên cũng

Trang 22

là người có tiếng về thơ, rất ái mộ Sầm Lâu, và khi đi qua mộ Sầm Lâu bên bờsông Ô Diên, ông đã làm thơ truy điếu Sầm Lâu:

Bình sinh ân hận không được biết Sầm Lâu

Nay mỗi lần đọc thơ còn lưu lại là một lần gật đầu thán phục

Tơi nón Ngũ Hồ vinh hơn mang ấn tín,

Dâu gai mấy mẫu thắng cả được phong hầu

Lời ấy thế gian ai nói nổi,

Văn này muôn thuở qua rồi thôi

Muốn rót chén rượu tế hồn thơ, nhưng biết là đâu tá?

Khói sóng muôn khoảnh làm cho người nhớ sầu [6, 103]

Những câu thơ đẹp của những người nổi tiếng như Ái Sơn, Giới Hiêncũng được Hồ Nguyên Trừng lưu giữ và trải ra trên trang sách Những thi thoại

trong Nam Ông mộng lục đều mang tính chất tùy bút, nhàn đàm về thơ để ghi

nhận đức độ của người làm thơ, tập hợp tài liệu kim cổ, thẩm bình câu chữ…

Những lời thẩm bình của Hồ Nguyên Trừng trong Nam Ông mộng lục khá đặc

sắc, tự do, không bị gò bó bởi một khuôn khổ nào Hồ Nguyên Trừng rất tâmđắc với cách sử dụng từ ngữ tinh tế, cách sắp xếp câu tứ bài thơ chặt chẽ củaTrần Thánh Tông Và không quên ghi nhận đức độ thanh cao của Thánh Tông.Với những bài thơ của Trần Nhân Tông thì Hồ Nguyên Trừng lại đưa vào lời

bình của mình một loạt tính từ tao nhã: “Cái tươi mới, chắc khỏe ở đây vượt xa

khuôn khổ người thường Vì quốc quân nghìn xe mà hứng cảm như vậy, ai bảo người ta khi cùng khổ thì thơ mới hay? Ở đây có cái trong trẻo tuyệt vời, một màu bát ngát, tình thơ thanh thoát, ý thú siêu thuần”.[6; 96 - 97] Những bài

thơ của các vua quan thời nhà Trần được Hồ Nguyên Trừng ghi chép lại theotrí nhớ quả là những áng thơ hay, đặc sắc, giàu giá trị Những thi thoại trong

Nam Ông mộng lục không đơn thuần chỉ là sự bảo lưu hay kể vè những câu

thơ, bài thơ tuyệt tác, nêu lên những quan niệm chính kiến về chân, thiện, mĩ

mà còn bộc lộ được cảm quan nghệ thuật một cách khái quát và chân thực của

Hồ Nguyên Trừng, cho thấy các vị vua và quan đại thần của nhà Trần vừa kinhbang tế thế vừa là những thi bút điểm tô cho làng văn đất Việt

Trang 23

Nam Ông mộng lục đã lưu giữ cho chúng ta ít nhất 20 bài thơ, trong đó có

19 bài thơ thuộc về thời nhà Trần, 1 bào thơ thuộc về thời nhà Lý và hai tập thơ

(tập thứ nhất Đại hương hải ấn của Trần Nhân Tông và Sầm Lâu tập của Sầm

Lâu) thuộc thời nhà Trần Trong số 20 bài thì có 8 bài thơ là sáng tác củanhững vị vua: Vua Trần Thánh Tông 1 bài, Trần Minh Tông 1 bài , Lý TháiTông 1 bài, Trần Nghệ Tông 2 bài, Trần Nhân Tông 3 bài Còn lại 12 bài thơthì đều là sáng tác của các quan và Nho sĩ đời Trần: Trần Nguyên Đán 2 bài,Nguyễn Trung Ngạn 2 bài, Ái Sơn 2 bài, còn lại mỗi người một bài là PhạmMại, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Công, Hồ Tông Thốc, Mạc Ký, Lê Quát Thơ ca

đời Trần còn lại tới ngày nay không nhiều, bởi thế 20 bài thơ trong Nam Ông

mộng lục mà Hồ Nguyên Trừng thu thập, lưu giữ, ghi chép kể lại là một tài sản

vô cùng quý giá 20 bài thơ được viết với nhiều thể thơ như tứ ngôn (1 bài),ngũ ngôn (3 bài), lục ngôn (1 bài), thất ngôn (15 bài) Trong đó thể thơ lụcngôn là thể thơ rất hiếm ở Việt Nam Chúng ta ít gặp bài thơ nào như bài thơcủa Mạc Ký, một bài thơ viết theo lối thơ lục ngôn, loại tứ tuyệt:

Ven sông hoa mai nở trắng,

Đầu thuyền mưa bụi lây rây.

Cuối đông khách về phương Bắc,

Một chèo ngài trở lại Nam [6; 110] Đúng là một sáng tác độc đáo đầy

giá trị

Những câu chuyện thi thoại là một mảng hiện thực rất đẹp của cuộc sống

Nó có giá trị góp nhặt cho rừng hoa văn học dân tộc thêm nhiều màu sắc Vềphương diện này đã giúp cho người đọc nhận diện trong thể ký có sử dụng cáchình thức như ký cự, ký người và ký thơ, góp phần làm rõ hình thức nghệ thuật

của Nam Ông mộng lục.

Trang 24

CHƯƠNG 2

NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN NHÂN VẬT CỦA

NAM ÔNG MỘNG LỤC

I Kiểu nhân vật sử truyện

1 Khái niệm sử truyện, nhân vật sử truyện

Ngày xưa khái niệm văn học còn rộng nên đã có tình trạng văn sử “bấtphân” Các tác giả viết sử ít nhiều đều chú ý tới nghệ thuật viết văn và vì vậyvăn chép sử vẫn đậm màu sắc văn học,có giá trị văn học rất cao.Dùng văn chép

sử là hiện tượng phổ biến trong thời trung đại Các tác giả đã sử dụng nhiều thể

loại khác nhau để viết sử, chép sử, ghi sử nếu như Đại Nam quốc sử diễn ca

viết bằng thể thơ lục bát.Cả lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc được gói gọn

trong hơn hai nghìn câu thơ, thì Nam triều công nghiệp diễn chí được Nguyễn

Khoa Chiêm viết bằng thể tiểu thuyết chương hồi Đó là cuốn tiểu thuyếtchương hồi đầu tiên của Việt Nam, tác phẩm phản ánh quá trình hình thànhNam Triều gắn với công lao sự nghiệp của các chúa Nguyễn từ Nguyễn Hoàng

đến Nguyễn Phúc Tần.Còn Thượng kinh kí sự , Nam Ông mộng lục lại là chép

sử dưới hình thức truyện

Thông thường thì có 2 cách chép sử Nếu như biên niên là cách chép

sử theo trình tự thời gian các sự kiện , nhân vật thì sử truyện lại viết về từngnhân vật không theo trình tự thời gian Chép sử dưới hình thức truyện nên càngđậm tính văn học Vẻ đẹp quá khứ, hình ảnh của mỗi dân tộc đều được chạmkhắc trong những trang sử.Và chúng ta có quyền tự hào về dân tộc mình vớilịch sử nghìn năm dựng nước và giữ nước, với những chiến công oanh liệtchống giặc ngoại xâm, những vị vua sáng tôi hiền, những con người đẹp đức tàigiỏi , những truyền thống và phong tục đẹp Lịch sử luôn để lại dấu ấn tronglòng thời gian và trong tâm thức con người Việt Nam.Phải chăng có được điều

đó là nhờ một phần nào vào sự góp phần của các nhà chép sử qua những “sảnphẩm ” của họ Ghi chép lịch sử là những ghi chép những sự kiện, nhân vật cóthật đã diễn ra ở quá khứ Có thể ghi chép theo trình tự thời gian như cách chép

Trang 25

sử biên niên hay không theo trình tự thời gian như sử truyện Bộ chính sử lớncủa nước Đại Việt thời cổ, do Ngô Sỹ Liên nhà sử học thế kỷ XV biên soạn là

bộ Đại Việt sử kí toàn thư Đây là một bộ sử biên niên, soạn sử nước nhà theo

quan điểm chính thống, đánh giá người và việc theo tiêu chuẩn đạo đức Nhogia nhằm mục đích giáo huấn.Tinh thần dân tộc thể hiện ở ý thức cao về quyềnquốc gia độc lập, về chủ quyền, lãnh thổ, cương vực thống nhất, toàn vẹn, ởquan niệm rạch ròi về nòi giống, niềm tự hào về quá khứ mạnh mẽ của dân

tộc Còn một số tác phẩm khác như Tang thương ngẫu lục, Vũ trung tùy bút,

Nam Ông mộng lục thì các tác giả đều sử dụng phương pháp sử truyện.Với

những gì đã chứng kiến và nhớ được, các tác giả đã ghi chép lại Những sựkiện, nhân vật được đề cập đến đều được ghi lại một cách ngẫu nhiên không

theo trình tự thời gian.Tang thương ngẫu lục gồm 90 mẫu chuyện nhỏ, hầu hết

là những chuyện xảy ra dưới đời Lê Mạt Một số lớn truyện ghi chép nhữnggiai thoại về các nhân vật lịch sử, sĩ phu (Nguyễn Đăng Cảo, Nguyến CôngHãng ); danh nhân văn hóa (Đặng Trần Côn, Bà vợ thứ ông Nguyễn Kiều ).Ngoài ra một số truyện miêu tả cảnh sinh hoạt trong phủ Chúa Qua đó thựctrạng xã hội Việt Nam dưới thời Lê Mạt được lộ rõ, sự bạc nhược sa sút của

một tập đoàn phong kiến được phơi bày Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ

gồm 80 mẩu chuyện nhỏ ghi lại nhiều sự việc xảy ra vào cuối đời Lê và đời

Tây Sơn Một mảng trong Vũ trung tùy bút viết về phong tục và sự biến thiên

của nó qua thời đại Qua việc ghi chép các đồi phong bại tục của xã hội ViệtNam thời Lê Mạt, và cảnh xa hoa của phủ Chúa, tác phẩm đã nói lên được thựctrạng xã hội đương thời Như vậy dấu ấn lịch sử xã hội các triều đại in đậm rất

rõ trong các tác phẩm văn học trung đại Nó được phản ánh rất rõ qua nhữngghi chép cụ thể sát thực của các tác giả Nhân vật sử truyện là những con người

đã được ghi tạc vào lịch sử Nhân vật sử truyện khá phong phú, thuộc nhiềutầng lớp khác nhau

Khi viết truyện về lịch sử thì hẳn các tác giả đã luôn mang trong mìnhnỗi ưu tư về chút ít dấu vết cũ không còn, họ tự thấy rằng mình phải có tráchnhiệm viết ra và kể lại những gì chứng kiến được, những gì biết được Các tác

Trang 26

giả đã ghi chép các sự kiện, nhân vật thành sách, làm cho những gì bị chôn vùivào dĩ vãng đã thực sự trở lại với đời Dụng tâm của các tác giả đã giúp chohậu thế hiểu biết hơn về lịch sử dân tộc, đặc biệt là các triểu đại phong kiến

2 Nhân vật sử truyện trong Nam Ông mộng lục

Nhớ quê cha đất tổ, tri ân về chôn nhau cắt rốn, nơi đã từng trưởng thànhluôn là nỗi đau đáu tận miền sâu thẳm cõi lòng Nam Ông.Những việc thiện củacác bậc tiền nhân ông thích nghe, ghi tạc vào tâm thức nên nhớ được Hay đócũng là một phương diện của tấm lòng yêu nước ấm trầm luôn canh cánh củangười con xa xứ tha hương? Sự tiếc nuối, dằn vặt suy tư của Hồ Nguyên Trừng

về một nền văn hóa dân tộc đã thành đống tro tàn trong cơn binh lửa thật đángtrân trọng Nếu Hồ Nguyên Trừng thật lòng không có tâm với nước Việt và conngười Việt, không còn chút gì vấn vương nơi chôn nhau cắt rốn ở quê cha đất

tổ thì chắc sẽ không có tác phẩm Nam Ông mộng lục là một điều hiển nhiên và nếu thiếu Nam Ông mộng lục hậu thế sẽ không được tường tận một hai trong số

trăm phần sự thật lịch sử, thơ văn bị mất mát vì binh lửa thời Lý- Trần

Hồ Nguyên Trừng sáng tác Nam Ông mộng lục trong điều kiện là một

người làm quan hiển đạt trên con đường công danh, hơn nữa quan điểm và tưtưởng sáng tác của ông có phần nào thiên về sở thích, hoài niệm vẻ đẹp của quákhứ dân tộc Những nhân vật, sự kiện, được kể trong tác phẩm là người thật,

việc thật có trong sử sách Vì thế hầu hết trong Nam Ồng mộng lục tác giả đã

sử dụng bút pháp sử truyện là chính, chép sử qua truyện Đọc Nam Ông mộng

lục ta có cảm giác như đọc chuyện lịch sử Điểm khác biệt trong cách viết

truyện của Nam Ông là chép sử nhưng không ghi chép theo thời gian thuận

chiều như một tác phẩm lịch sử như Đại Việt sử kí tiền biên, Đại Việt sử kí

toàn thư Tác phẩm Nam Ông mộng lục chép sử theo lối ngẫu lục Cách viết

ngẫu nhiên theo trí nhớ của tác giả không sắp xếp về thời gian, đề tài, sự kiện,nhân vật, các triều đại Tuy nhiên với bút pháp sử truyện kết hợp với ngẫu lục

không phải 31 thiên truyện trong Nam Ông mộng lục đều có giá trị như nhau.

Mặc dù chép sử song có những câu chuyện tác giả kể lại không khô khan màvẫn có những ý vị sắc màu riêng đầy ấn tượng Lời văn ngắn gọn súc tích

nhưng rất linh hoạt, miêu tả nhân vật một cách sinh động Truyện Nghệ vương,

Trang 27

Thầy thuốc giỏi ở tấm lòng là minh chứng Kể chuyện về nhân vật lịch sử song

tác giả đã kể bằng nhiều chi tiết khác nhau rất phong phú từ tính nết, nhân cách

đạo đức, sự hiếu thảo, nề nếp sinh hoạt cho đến chuyện chính sự, thơ ca: “Văn

của ông giản dị kiệm lời mà cẩn thận khắt khe , phong phú nội dung mà bao la trí tuệ Theo tình người để kể chuyện , dựa vào nghĩa để đặt lời, rất thú vị và thiết thực” [6;193] Chép sử, nhưng qua tác phẩm những nhân vật có tiếng như

vua Nghệ Tông, Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông hay các

vị tướng, nhà sư , nhà nho hiện dần qua các trang viết như là những hình tượngnghệ thuật sống mãi trong kí ức bạn đọc Lối viết giản dị, ngắn gọn, cô đọng,

sự kết hợp sử truyện và ngẫu lục trong các hình thức của truyện ngắn, hình thứccủa giai thoại văn học, câu chuyện thi thoại, chuyện kì dị Trong những bàithơ của Nam Ông , Hồ Nguyên Trừng vừa góp một tiếng nói của tâm hồnngười yêu thơ, vừa góp vào phong trào bình thơ một lối thẩm bình thơ, trongmột giai đoạn lịch sử nhất định

Tác phẩm Nam Ông mộng lục không làm cho độc giả bị chi phối vào

những quy tắc của sử bút, trái lại tính truyện và lối viết ngẫu lục phần nào gópphần làm nên tính hấp dẫn của tác phẩm, điều đó đã được thời gian kiểmchứng, công chúng bạn đọc người Trung Hoa đón nhận.Tác phẩm từ khi được

ra mắt đến nay, với sự hiện diện trong thư tịch Trung Quốc hơn 500 năm, đặcbiệt gần một trăm năm trở lại đây, người Trung Hoa đã tái bản 6 lần một tácphẩm do người Việt Nam sáng tác là điểu không thể phủ nhận có sự đóng gópvăn phong của Hồ Nguyên Trừng Bằng cách ghép những đoạn suy tư, nhậnxét, đánh giá vào cuối mỗi thiên truyện, Hồ Nguyên Trừng đã trực diện trìnhbày đối tượng mình đang phản ánh bằng cảm quan của người cầm bút- mộttrong những tiêu chuẩn làm nên đặc điểm của thể ký văn học

II.Kiểu nhân vật của thể ký

1 Khái niệm ký, nhân vật thể ký

Ký ra đời rất sớm trong lịch sử văn học của nhân loại.Có những tác phẩm

ra đời cách đây mấy nghìn năm như: Sử ký của Tư Mã Thiên ở Trung Quốc.

Song phải đến thế kỉ XVII, đặc biệt là thế kỉ XIX, khi đời sống lịch sử của cácdân tộc phát triển ngày càng tăng tốc, kỹ nghệ in ấn và báo chí phát triển, văn

Trang 28

học thâm nhập vào các lĩnh vực hoạt động tinh thần khác, còn nhà văn thì trực

tiếp tham gia vào những cuộc đấu tranh xã hội, ký mới thực sự phát triển mạnh

mẽ Ở Việt Nam tác phẩm ký nổi tiếng cũng đã xuất hiện rất sớm như Thượng

kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút của Phạm đình Hổ Ký là một

loại hình trung gian, nằm giữa báo chí và văn học gồm nhiều thể nhưng chủyếu là văn xuối tự sự như bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật ký, tùy

bút Ký có đặc trưng riêng, không giống với truyện ngắn hay tiểu thuyết Ký

không chú trọng vào việc miêu tả quá trình hình thành tính cách của các nhânvật trong tương quan với hoàn cảnh và những câu chuyện đời tư khi chưa nổilên thành các vấn đề xã hội cũng không phải là đối tượng quan tâm của ký Đốitượng nhận thức thẩm mĩ của ký thường là một trạng thái đạo đức- phong hóa

xã hội (thể hiện qua những cá nhân riêng lẻ), một trạng thái tồn tại của conngười hoặc những vấn đề xã hội nóng bỏng Điều đó lý giải vì sao có nhiều tác

phẩm ký rất gần gũi với truyện ngắn Nhưng khác với truyện ngắn, truyện vừa,

đặc biệt là tiểu thuyết, ký có đặc điểm riêng, đó là tôn trọng sự thật khách quancủa cuộc sống, không hư cấu Ký là dựng lại những sự thật đời sống cá biệt mộtcách sinh động chứ không xây dựng các hình tượng mang tính khái quát Nhàvăn viết ký phải đảm được tính các thực của hiện thực đời sống được phản ánhtrong tác phẩm Cốt truyện của không có tính hư cấu, sự việc và con ngườitrong ký phải xác thực có địa chỉ cụ thể Đó là quan điểm lí luận của văn học

hiện đại về thể loại ký và ký trung đại khác với các tác phẩm văn xuôi theo

cách gọi ước lệ là tác phẩm ký văn học trung đại

Văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam được hợp thành bởi 3 bộ phận, đó là

ký, truyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi Trong 3 bộ phận đó thì ký là loạihình văn học phức tạp nhất bởi bản thân khái niệm ký hàm chứa một nội diên

có biên độ hết sức co dãn Quá trình của văn học trung đại thực chất là quátrình hình thành, phát triển các thể loại cũng như các thể tài văn học Đặc điểmnổi bật của văn học trung đại là sự phân hóa chức năng rõ rệt để hình thành cácthể loại Ký trong văn xuôi tự sự là một bộ phận của văn học, vì thế nó cũngchịu sự tác động của các quy luật chung.Tuy nhiên, với tư cách là một thể văn,

Ngày đăng: 15/12/2015, 13:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Bá Hán , Trần Đình Sử , Nguyễn Khắc Phi ( Đồng chủ biên)(2007), Từ điển thuật ngữ văn học ,Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán , Trần Đình Sử , Nguyễn Khắc Phi ( Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
3. Dương Quảng Hàm ( 1993), Việt Nam văn học sử yếu ,Nxb Tổng hợp Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Nhà XB: Nxb Tổng hợp ĐồngTháp
4. Đỗ Đức Hiểu ( Chủ biên)., Nguyễn Huệ Chi , Phùng Văn Tửu , Trần Hữu Tá (2004),Từ điển văn học (Bộ mới ) , Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu ( Chủ biên)., Nguyễn Huệ Chi , Phùng Văn Tửu , Trần Hữu Tá
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
5. Đinh Gia Khánh (Chủ biên ), Bùi Duy Tân , Mai Cao Chương (2005), Văn học Việt Nam ( Thế kỷ X – Nửa đầu thế kỷ XVIII) , Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vănhọc Việt Nam ( Thế kỷ X – Nửa đầu thế kỷ XVIII
Tác giả: Đinh Gia Khánh (Chủ biên ), Bùi Duy Tân , Mai Cao Chương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
7. Nguyễn Lộc (2007) , Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thếkỷ XIX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Phương Lựu (2006) , Lý luận văn học , Nxb Giáo dục http://.qdnd.vn/qdnd/baongay.vanhoa.vanhoc.27987.qdnd Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dụchttp://.qdnd.vn/qdnd/baongay.vanhoa.vanhoc.27987.qdnd
10. Nguyễn Đăng Na (2007) Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11. Nguyễn Đăng Na (1997) , Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại , Tập 1 Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
12. Nguyễn Đăng Na (2001), Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại , Tập 2 , Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
13. Trần Nghĩa (1974) “Hồ Nguyên Trừng mà cũng “quyến luyến quê hương”,“ Không quên Tổ quốc”, ư?” , Tạp chí Văn học số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hồ Nguyên Trừng mà cũng “quyến luyến quê hương”,"“ Không quên Tổ quốc”, ư?”
14. Trần Đình Sử (2005) , Thi pháp văn học trung đại Việt Nam , Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp văn học trung đại Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại họcQuốc gia Hà Nội
15. Nguyễn Khắc Thuần (2003), Thế thứ các triều vua Việt Nam , Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế thứ các triều vua Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khắc Thuần
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 2003
16. Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức (2003), Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam , Nxb Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2003
17. Hồ Nguyên Trừng “Ông tổ nghề đúc súng thần công Việt Nam”, http://www.vntruyen.com/tm.asp?m=7378&mpage=1&key=&#7378 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ông tổ nghề đúc súng thần công Việt Nam”
1. Anh Chi , Nhà xuất bản kỹ nghệ, nhà văn Hồ Nguyên Trừng,http://www.nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/29/ConntentID/19521/Default.aspx Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w