Văn học chữ Hán cũng đã có ảnh hưởng lớn thơ ca thời kì trung đại nước ta, một mặt là do thơ đường luật của người Trung Quốc xưa mặt khác là chữ Hán được dùng trong sáng tác nên có nhiều
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
Trang 2ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 3 Chữ Hán trong Mộng Dương tập của Hà Tông Quyền
1 Âm đọc Hán Việt trong Mộng Dương tập
2 Những từ loại được tác giả sử dụng trong Mộng Dương tập
2.1 Thực từ
2.1.1 Danh từ
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, chữ quốc ngữ là chữ được chúng ta sử dụng làm văn tự chính thức của dân tộc Việt Nam Nhìn lại những chặng đường lịch sử đã qua, đất nước ta không ít lần đã trải qua bao thăng trầm biến cố, và cũng không ít lần chữ viết của chúng ta đã phải vay mượn từ các nước để sử dụng Đã có một thời gian dài dân tộc ta sử dụng chữ Hán như một thứ văn tự chính thống, đó là do sức ảnh hưởng của nền văn hóa phương Bắc, thêm vào đó là sự thống trị hơn một ngàn năm Bắc thuộc làm cho đất nước ta phải lệ thuộc vào người Hán trong đó có chữ viết của người Hán (Trung Quốc)
Trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc của dân tộc ta, chính quyền đô hộ phương Bắc
đã tích cực mở rộng sự ảnh hưởng nền văn hoá Hán tộc của mình Và chữ viết cũng không nằm ngoài quy luật này, chữ Hán dần có được chỗ đứng chắc chắn tại Việt Nam
Sự ảnh hưởng của việc dạy chữ Hán, học chữ Hán đã ăn sâu và bén rễ vào đời sống văn học cũng như đời sống của người Việt lúc bấy giờ Văn học chữ Hán cũng đã có ảnh hưởng lớn thơ ca thời kì trung đại nước ta, một mặt là do thơ đường luật của người Trung Quốc xưa mặt khác là chữ Hán được dùng trong sáng tác nên có nhiều phương diện mà chúng ta cần phải lưu tâm để ý
Trong văn học, việc sử dụng chữ Hán để sáng tác và lưu truyền đã trở thành điều tất yếu, các tác phẩm chữ Hán được chúng ta tiếp nhận, tìm hiểu, phân tích ngày nay đều dựa trên nguyên tác chữ Hán xưa Như vậy, để tiện cho việc tìm hiểu tác phẩm thơ văn chữ Hán chúng ta cần có những hiểu biết về chữ Hán, luật thơ, âm đọc Hán Việt,… Từ đó mới có thể tiếp cận với văn chương nghệ thuật một cách thuần thục và nhanh chóng Chữ Hán từ xưa đến nay bao giờ cũng có những điều bí ẩn mà ta chưa biết đến, nó lôi cuốn người học không chỉ bởi những đường nét của chữ mà còn được vận dụng nhuần nhuyễn
có chọn lọc điển hình nhất là qua các tác phẩm thơ văn chữ Hán trung đại của dân tộc ta, chính vì thế việc học và tìm hiểu chữ Hán cũng là cả một quá trình nổ lực phấn đấu của người học Cùng với xu hướng tìm hiểu tầm quan trọng của thơ văn chữ Hán và giúp mọi người có nhận thức sâu hơn đối với những thành tựu văn chương mà ông cha ta để lại
chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Chữ Hán Trong Mộng Dương Tập In Trong Tốn Phủ Thi
Tập Của Hà Tông Quyền” để thấy được cái tài của nhà thơ trong sáng tác thơ ca xưa, lối
vận dụng chữ Hán của các thi nhân xưa cũng không những thông thạo và tinh tế mà còn lưu loát trong cách sử dụng chữ Hán
Trang 5Với cách nhìn về chữ Hán và vận dụng chữ Hán để sáng tác trong tập thơ Mộng
Dương tập của Hà Tông Quyền chúng tôi tin rằng sẽ giúp cho việc giữ gìn và tìm hiểu
văn chương thời xưa bổ ích và lý thú hơn trong học tập, nghiên cứu đặc biệt đối với
những người yêu thơ ca văn chương trung đại
2 Lịch sử vấn đề
Chữ Hán có một bề dày lịch sử về nguồn gốc và quá trình phát triển Nói đến chữ Hán đã có một thời gian dài các nước chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của nó, trong đó có các nước như: Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam,…Đi sâu vào nghiên cứu chữ Hán đã có nhiều công trình nói về nguồn gốc và quá trình hình thành của chữ Hán cả Việt Nam ta và các nước
Chữ Hán gắn liền với nền văn học thời kì trung đại ở nước ta Việc vận dụng chữ Hán trong sáng tác văn chương là điều không ai có thể phủ nhận Ở Việt Nam trong suốt thời kỳ phong kiến Trung Quốc đô hộ, tất cả những công văn hành chính, giấy tờ đều được viết bằng chữ Hán, và cho đến sau này khi nước ta giành được độc lập, xây dựng nhà nước phong kiến tự chủ thì vẫn dùng chữ Hán làm văn tự chính thống dùng trong sáng tác thơ ca, văn bản hành chính, sử liệu,
Văn học chữ Hán tiếp tục chiếm ưu thế qua các triều đại phong kiến Lý, Trần, Lê, Nguyễn và hàng loạt tập văn thơ nổi tiếng bằng chữ Hán ra đời Văn thơ chữ Hán có
những tác phẩm nổi tiếng như: Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo,
Nhà Nguyễn thời kì Minh Mệnh trị vì đã có nhiều thành tựu sáng tác văn chương bằng chữ Hán với các danh sĩ như: Hà Tông Quyền, Phan Thanh giản, Nguyễn Văn Siêu, Trương Quốc Dụng,… Tất cả họ đều làm nên bộ mặt văn học vẻ vang cho thời kì này Trong sáng tác văn học về thơ ca giai đoạn này đều tập chung chủ yếu đều ở hai mảng là
thơ chế ngự của nhà vua và các tập thơ của nho sĩ trong đó có thơ đi sứ Tập thơ Mộng
Dương tập của Hà Tông Quyền là một tập thơ được sáng tác trong thời gian ông đi sứ
cũng được ra đời trong giai đoạn này
Hiện nay, tình hình nghiên cứu chữ Hán có những bước phát triển mạnh mẽ đáng
kể đến là việc thành lập viện nghiên cứu Hán Nôm, các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, các sách sở tài liệu biên soạn về chữ Hán cũng được đầu tư kỹ lưỡng điển hình một số tài liệu như:
Trang 6 Giáo trình Hán Nôm Cơ sở ngữ văn Hán Nôm Lê Trí Viễn chủ biên, Nxb Giáo
dục, 1986
GS Trần Nghĩa, Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đê yếu, nxb Khoa học Xã
Hội, Hà Nội, năm 1993
Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, nxb khoa học Xã Hội, năm 1990
Ngoài ra, thơ văn chữ Hán cũng được dịch thuật vừa mang tính sưu tầm, vừa mang
tính biên soạn khảo cứu,…như: Thơ chữ Hán Cao Bá Quát (1970), Thơ chữ Hán Lê
Thánh Tông (1994), Thơ chữ Hán Nguyễn Du (1959), Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi (1962), Thơ văn Ngô Thì Nhậm (1978), Tuyển tập thơ Hán Việt (1975), Tuyển tập thơ các vua Trần (1996), Một số vấn đề văn bản học Hán Nôm (1983), Nam âm thi văn khảo biện
(1929), Nam thi hợp tuyển (1927), Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt (1979), Nguồn gốc văn học nước nhà (1933), Quốc văn cụ thể (1932), Sưu tầm và khảo
luận tác phẩm chữ Hán của người Việt Nam trước thế kỷ (2000), Thi văn bình chú (1941), Thơ mới và thơ cũ (1934), Thơ văn Lý Trần (1977), Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (1997), Tổng tập văn học Việt Nam (1979), Từ trong di sản (1979), Văn học Việt Nam thời Bắc thuộc (1956), Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (1998), Việt Hán văn khảo
(1930), Việt Nam văn học sử yếu (1941),…
Ngày nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu Hán Nôm đạt thành tựu về cả số lượng lẫn chất lượng đánh dấu bước chuyển mình cho ngành Hán Nôm nước nhà Về phía biên khảo lĩnh vực Hán Nôm ngay từ những thập niên đầu thế kỷ XX mà ta có thể kể
như: Việt Nam phong tục (1915) của Phan Kế Bính, Việt Nam sử lược (1915) của Trần Trọng Kim, Trần Nguyên chiến kỷ (1931) của Thiện Đình, Hán Việt từ điển (1932, 1936) của Đào Duy Anh, Việt Nam văn học sử yếu (1941) của Dương Quảng Hàm, Lược khảo
về khoa cử Việt Nam (1941) của Trần Văn Giáp, Việt Nam cổ văn học sử (1942) của
Nguyễn Đổng Chi,…
Như vậy, đối với chữ Hán công việc nghiên cứu đã và đang diễn ra từng ngày Với
chúng tôi việc tìm hiểu nghệ thuật sử dụng chữ Hán trong tập thơ Mộng Dương tập của
Hà Tông Quyền chỉ là một phần đóng góp nhỏ trong vô vàn những kiến thức chưa biết về chữ Hán đang từng ngày được bàn luận và nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu
Khi đi vào nghiên cứu đề tài này chúng tôi đặt ra mục đích là giải quyết các vấn đề
về chữ Hán trong tập thơ Mộng Dương tập cụ thể là âm đọc Hán Việt, các từ loại được sử
dụng trong tập thơ và nghệ thuật sử dụng chữ Hán kèm theo đó là những phần thuộc về lí
Trang 7thuyết chữ Hán nhằm góp phần làm sáng tỏ các vấn đề trọng tâm được đặt ra ở chương ba như đã nói ở trên
Mộng Dương tập của Hà Tông Quyền
Xoay quanh đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu một phần chữ Hán cụ thể ở đây là
nghệ thuật sử dụng chữ Hán trong tập thơ Mộng Dương tập của tác giả Hà Tông Quyền,
liên quan đến vấn đề về âm đọc Hán Việt, từ Hán Việt trong tập thơ, đánh giá mức độ xuất hiện của các nhóm từ loại thực từ và hư từ được xét và nghệ thuật dùng chữ Hán ở thơ qua việc sử dụng điển cố, điển tích, ý nghĩa của câu hỏi tu từ được tác giả vận dụng trong xuyên suốt tập thơ
5 Phương pháp nghiên cứu
Đối với đề tài này, chúng tôi khi đi vào nghiên cứu đã vận dụng một số phương pháp trên văn bản như sau:
Phương pháp khảo sát thống kê, đánh giá số lượng thực từ có trong tập thơ cụ thể
là các từ loại danh từ, động từ, tính từ, số từ và hư từ nhằm xác định mức lượng số lượng
từ loại nào được tác giả ưa dùng, mức độ chuộng từ ngữ, thông qua đó biết được thói quen và phong cách của tác giả trong sáng tác thơ ca
Phương pháp diễn giải, so sánh, đối chiếu, phân tích, nhận xét là phương pháp được sử dụng ngay sau khi phương pháp thống kê các từ loại thực từ và hư từ được hoàn tất Phương pháp này nhằm phục vụ cho việc làm nổi bật và sáng tỏ ý nghĩa của từng số lượng từ loại có trong bảng thống kê
Ngoài ra, chúng tôi còn còn sử dụng thêm phương pháp tập hợp các số lượng âm tiết vần điệu trong cách đọc Hán Việt để thấy được sự giống và khác trong cách gieo vần, đối giữa các câu trong một bài thơ So sánh giữa các bài thơ về cách gieo vần chữ Hán theo âm đọc Hán Việt của người Việt có khác gì trong cách gieo vần nghiêm ngặt của thơ đường luật hay không, để thấy được sự hài hòa trong tập thơ chữ Hán mà cụ thể ở đây là
tập thơ Mộng Dương tập của Hà Tông Quyền
Trang 8PHẦN NỘI DUNG Chương 1
đã từng là thứ chữ được dùng phổ biến như chữ quốc ngữ của chúng ta đang sử dụng ngày hôm nay Đi vào việc đặt vấn đề tìm hiểu chữ Hán trước tiên chúng ta sẽ đi sâu vào phần tìm hiểu nguồn gốc của chữ Hán
Chữ Hán là một loại văn tự hình thành từ nhiều thế kỷ trước, có nguồn gốc từ Trung Quốc Thời điểm xuất hiện của chữ Hán rất xa xưa có đến vài ngàn năm, song lịch
sử có thể chứng thực được chữ Hán có cách đây khoảng trên 3500 năm Chữ Hán có nguồn gốc xuất phát từ Trung Quốc, sau đó du nhập vào các nước khác trong vùng lân cận bao gồm các nước: Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam Ở Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam chữ Hán được vay mượn và cải biến sao cho phù hợp để tạo nên chữ viết cho ngôn ngữ từng nước
Chữ Hán là một trong các loại văn tự có thời gian sử dụng lâu đời nhất, không gian rộng nhất và số người đông nhất trên thế giới Việc sáng chế và ứng dụng của Chữ Hán không những đã thúc đẩy nền văn hóa Trung Hoa phát triển mà còn có ảnh hưởng sâu xa tới sự phát triển của nền văn hóa thế giới Tại các di chỉ Bán Pha cách đây 6 nghìn năm
đã phát hiện các phù hiệu khắc và gạch, cả thảy có hơn 50 loại Chúng xếp thành thứ tự và
có qui luật nhất định, mang đặc trưng chữ viết đơn giản Các học giả đưa ra nhiều ý kiến cho rằng đây có thể là mầm mống của chữ Hán
Trang 9Chữ Hán được hình thành một cách có hệ thống là vào đời Nhà Thương thế kỷ 16 trước công nguyên Khảo cổ đã chứng thực trong thời kỳ đầu nhà Thương, nền văn minh Trung Quốc đã phát triển tới trình độ khá cao, một trong những đặc trưng chủ yếu là sự xuất hiện của chữ Giáp cốt Chữ Giáp cốt là một loại chữ cổ xưa được khắc trên các mai rùa và xương thú Trong thời nhà Thương, nhà vua trước khi làm bất cứ việc gì đều phải bói quẻ, Giáp cốt là công cụ dùng trong khi bói quẻ Giáp Cốt trước khi sử dụng phải trải qua gia công Trước hết lọc sạch miếng xương, mài cho bằng, sau đó dùng dao khắc các phù hiệu lồi lõm bên phía trong mai rùa hoặc mặt trái của xương thú Những phù hiệu lồi lõm này được xếp theo tuần tự
Hiện nay các nhà khảo cổ đã phát hiện hơn 160 nghìn mảnh giáp cốt Và thông qua
số lượng thu thập được đem đi phân tích chúng ta đã có thể hiểu được tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa của nhà Thương Chữ Giáp cốt là một loại văn tự chín muồi và hệ thống, đặt nền tảng cho sự phát triển của chữ Hán sau này Từ đó về sau chữ Hán lại trải qua các hình thức như Đồng Minh Văn, Tiểu Triện, Lệ, Khải và sử dụng cho đến ngày nay Quá trình diễn biến của chữ Hán là quá trình từng bước qui phạm và ổn định về hình chữ và thể chữ
Chữ Hán là chữ có nguồn gốc từ lâu đời chưa ai có thể khẳng định một cách chính xác chữ Hán được hình thành như thế nào? Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đã dựa trên nhiều văn bản cổ xưa, viết bằng chữ Hán trên nhiều chất liệu khác nhau, kiểu dáng và hình thể cũng khác nhau ta có thể khảo sát mấy loại chính sau:
Chữ trên mai rùa, trên xương thú
Vào những năm cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, người ta đã phát hiện ra ở vùng Âu Khư, tỉnh Hà Nam Trung Quốc hàng vạn mảnh mai rùa và xương thú có khắc những hình
vẽ, các nhà khảo cổ học, các nhà văn tự học khẳng định rằng những mảnh mai rùa và xương thú có khắc những hình vẽ đó chính là những văn bản của triều Thương để lại Những “hình vẽ” trên xương chính là tiền thân của chữ Hán hiện đại Loại hình vẽ ấy gọi
là “giáp cốt văn”, tức văn tự giáp cốt (chữ viết trên mai rùa, trên xương) Nếu căn cứ vào niên đại ghi trên các văn bản giáp cốt ấy, và lấy đó làm mốc thời gian thì tuổi của chữ Hán tính đến nay cũng đã trên 3000 năm
Trang 10vẫn là hình vẽ kiểu giáp cốt, song về hình thể có phần vuông vắn hơn, ngay ngắn hơn giáp cốt văn một chút
Chữ Hán là hệ thống văn tự biểu đạt ý lấy chữ tượng hình làm nền tảng, lấy chữ tượng thanh làm chủ thể, tổng cộng có hơn 10 nghìn chữ, trong đó có khoảng 3 nghìn chữ thường dùng nhất Hơn 3 nghìn chữ này có thể cấu thành vô số các cụm từ, qua đó cấu thành câu nói các loại Sau khi Chữ Hán sản sinh đã ảnh hưởng sâu sắc tới các nước xung quanh Chữ viết của các nước Việt Nam, Nhật, Triều Tiên đều được sáng tạo trên nền tảng của chữ Hán Như vậy, theo quy luật phát triển của nền văn minh nhân loại chữ Hán
đã hình thành và phát triển mạnh, trải qua một thời gian dài chữ Hán đã được định hình rõ ràng và ngày càng đi vào chiều sâu của sự phát triển
Tự là chữ có kết cấu đơn giản, thuần nhất, từ là những chữ có lời văn kết cấu phức tạp Tự được dùng để chỉ chung mọi thứ chữ trong tổng kho chữ Hán Như vậy, tự (chữ)
là đơn vị của chữ viết còn từ là đơn vị của ngôn ngữ
Đối với các văn bản Hán Nôm thuộc đủ mọi thể loại, khi tính đơn vị từ ngữ thường dùng tiếng “ chữ”, lấy số chữ chứ không dùng từ trong câu thơ, từng đơn vị văn bản để làm chuẩn Ví dụ: thơ 5 chữ, thơ 7 chữ,…
Trang 11Hán ngữ cổ là ngôn ngữ đơn lập Văn tự Hán thuộc loại chữ biểu ý, ghi âm tiết Do
đó, mỗi chữ Hán cũng thường là một từ Ví dụ: nhân (人) người, thủ (手) tay, sơn (山) núi,…Mỗi chữ đều biểu thị sự thống nhất gắn bó về mặt hình thể, âm đọc, ý nghĩa
Mối tương quan giữa chữ và từ không phải lúc nào cũng là một Có những chữ chỉ ghi một bộ phận mà thôi Ví dụ: Quân hoặc tử trong quân tử, tiểu hoặc nhân trong từ tiểu nhân Mỗi chữ chỉ đóng vai trò biểu thị một âm tiết trong một từ đa âm, từng chữ vẫn có nghĩa rỏ ràng, biểu hiện có sự tương quan nhất định với những thành tố khác để tạo nên một từ Về mặt kết cấu có thể chia chữ Hán thành hai loại lớn:
Loại có kết cấu đơn giản gọi là văn
Từ đơn âm và từ đa âm
Từ đơn âm là từ được được biểu thị bằng một đơn vị âm tiết
Ví dụ:
(足) túc: chân
(江) giang: sông
…
Trang 12Từ đa âm là từ được biểu thị bằng hai đơn vị văn tự, âm tiết trở lên
Trong hán văn cổ từ đơn âm chiếm tuyệt đối về mặt số lượng, tiếp đến là từ song âm Còn
từ nhiều hơn hai âm tiết rất ít ỏi
(家 家) gia gia: mọi nhà
(男女) nam nữ: trai và gái
(年 年) niên niên: năm này sang năm khác
Từ đồng nghĩa nhưng dị âm, dị chữ
Trong chữ Hán cũng có những từ cùng nghĩa khác âm khác chữ
Ví dụ:
Trang 13khốc (哭) và khấp (泣) đều có nghĩa là khóc
Tóm lại, với những đặc điểm về chữ Hán như đã kể trên cho ta thấy được rằng chữ Hán cũng như tiếng Việt ta đa dạng và phong phú về mặt cấu tạo chữ, nét nghĩa chính điều này đã tạo nên nét riêng biệt cho chữ Hán nói chung và thơ văn chữ Hán nói riêng
2 Chữ Hán ở các nước
2.1 Chữ Hán ở Trung Quốc
Trung Quốc là một nước có nền văn minh phát triển từ lâu đời, nhiều nước trong khu vực đều bị ảnh hưởng bởi sự lớn mạnh của đất nước này trong đó có chữ Hán Xã hội Trung Quốc trước khi chế ra chữ, trải qua ba giai đoạn khá lâu dài:
1 Hữu thanh vô ngôn: 佑 聲 無 言 Có tiếng nhưng chưa có ngôn ngữ
2 Hữu ngôn vô tự: 佑言 無 垿 có ngôn ngữ nhưng chưa có văn tự
Những mảnh giáp cốt nói trên đào được tại kinh đô cũ nhà Ân và theo những triều vua ghi trong đó cho biết rằng thời đại của Giáp cốt văn phỏng chừng từ Bàn canh đến Đế
Ất (khoảng từ 1.401 - 1.155 trước Công nguyên) Căn cứ vào đó có thể cho rằng xã hội Trung Hoa đến đời Ân mới có chữ
Sau giáp cốt văn là khoa đẩu văn 科 斗 文, Chữ Triện, Chữ Lệ, Chữ Chân và Chữ Bạch Thoại
Chữ Khoa đẩu 科 蚪 vẽ hình như con nòng nọc, rất phức tạp
Chữ Triện 篆 chia làm Đại Triện và Tiểu Triện
Chữ Đại Triện 大 篆 đặt ra từ đời Tây Chu đã có một cuộc hoạt động thống nhất văn tự
Trang 14Chữ Tiểu Triện: 小 篆 trải qua thời Chiến Quốc, thất hùng phân lập, văn tự và ngôn ngữ không được đồng nhất Sau khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng (246 – 210 trước Công nguyên) đã nghĩ đến việc thống nhất văn tự Bọn Lý Tư, Triệu Cao mới
do Đại triện mà tạo ra một thứ chữ tương đối ít phức tạp hơn là Tiểu triện Chữ khắc trên Dịch Sơn bi (núi Dịch sơn, Sơn Đông) ghi công đức Tần Thủy Hoàng viết theo lối Tiểu triện
Đời Trần còn có lối chữ Điểu Trùng Thư 鳥 虫 書 (viết giống hình chim và sâu bọ) Chữ Lệ: 儷 書 Chữ Lệ tương truyền do Trình Mạc đời Trần tạo ra Chữ Triện khó viết, khó đọc cho nên phải đặt ra một thứ chữ giản dị hơn để viết Chữ Lệ cũng do chữ Cốt (tức Giáp cốt văn), Chung đỉnh văn, Khoa đẩu văn và chữ triện biến hóa thành Lúc đầu, hình chữ Lệ còn hơi tròn, gần như chữ triện Dần dần mới biến thành hình vuông
Chữ Thảo: 草 書 trong thời chữ triện thịnh hành, đã có chữ thảo Theo Tưởng Bá Tiềm, chữ thảo đã có từ thời Chiến Quốc Chữ thảo phân ra nhiều loại:
Triện thảo: 篆 草 là chữ triện mà viết nhanh
Lệ thảo 儷 草 hoặc Chương thảo: 彰草 là chữ thảo viết mỗi chữ riêng biệt không dính liền nhau
Kim thảo: 今 草 là chữ thảo mới, cách viết có khác Chương thảo Kim thảo viết liền nhau Theo sách Thư đoán, Trương Chi đời Đông Hán đã biến Chương thảo thành Kim thảo
Cuồng thảo: 狂 草 là lối viết chữ thảo theo ý riêng của từng người, khiến cho kẻ khác không đọc nổi
Chữ Chân: 真 書 tương truyền do Vương Thứ Trọng đời Hán châm chước lối chữ
lệ mà đặt ra Chân Thư cũng gọi là Khải thư hay Chính thư Chữ Khải là thứ chữ chân viết ngay ngắn rõ rang và phát thai từ chữ Lệ là một thứ chữ vuông vức
Ngoài ra, còn có chữ Bát phân 八 分書 và chữ Hành 行 書
Trang 15Chữ Bát Phân: 八 分 書 có người cho rằng chữ Bát phân và chữ Khải là một Vương Thứ Trọng đã dùng chữ Lệ và chữ Thảo tạo ra chữ Khải, vuông vức tám phân Trương Hoài Quán cho rằng Chữ Bát phân và Chữ Lệ là một Cố Thực cho rằng Chữ Bát phân là chữ khắc nơi cái ngọc tỷ của nhà vua, có 4 góc chính và 4 góc phụ chia làm 8 phương Thái Diễm con Thái Ung lại nói: “Cha tôi chế ra Chữ Bát phân, cắt ở Chữ Lệ 8 phần lấy 2 phần Lại cắt ở Chữ Tiểu triện 2 phần lấy 8 phần” Diêu Nại cũng nói Chữ Bát phân của Thái Ung là châm chước cách viết của Chữ Triện và Chữ Lệ Như vậy, có thể kết luận: Chữ Bát phân là thứ chữ phát thai Chữ Triện và Chữ Lệ
Chữ Hành: 行 書 là thứ chữ pha lẫn cả chân và thảo Sách Thư đoán và Lục thể thư luận cho rằng Hành thư là do Lưu Đức Thăng đời Hậu Hán tạo ra Gọi Hành thư là vì chữ ấy được lưu hành nhiều do không khó đọc như chữ Lệ và chữ chân
Ngày nay, cũng như việt Nam ta Trung Quốc luôn muốn vận dụng chữ La-tinh để làm ngôn ngữ chính thức cho thuận tiện trong việc ghi chép, học tập, giao tiếp,… tuy nhiên còn nhiều vấn đề phức tạp chưa giải quyết được nên người Trung Quốc chỉ chọn giải pháp giản lược bớt số nét, đơn giản hóa chữ viết, số nét lược đi nhiều và gọi là chữ giản thể tự
2.2 Chữ Hán ở Việt Nam
Trung Quốc là nước láng giềng của Việt Nam, có quan hệ lịch sử lâu đời và giao lưu ảnh hưởng với Việt Nam sâu sắc về nhiều mặt, đặc biệt là về văn hóa Sức ảnh hưởng của chữ Hán du nhập từ Trung Quốc vào các nước phương Đông và lưu lại một ảnh hưởng hết sức sâu đậm trong đó có Việt Nam ta đã tạo một vòng quay văn hóa hết sức đặc trưng của khu vực này
Việt Nam ta đã trải qua hơn một ngàn năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ, suốt chiều dài lịch sử, đất nước ta không ít lần bị đồng hóa bởi ngôn ngữ chữ Hán Nếu tính đến cả hai mặt là ta đã vay mượn chữ Hán khi ta chưa có chữ viết chính thức và một phần khác là do sự xâm lược của các nước phương Bắc thì chữ Hán đã du nhập vào nước ta từ rất sớm và đã trở thành một thứ ngôn ngữ được sử dụng rộng rải từ việc ghi chép lịch sử, làm văn thơ, thi cử, dạy hoc,…đều mang tính nhất quán, phổ biến
Theo nhiều nguồn tư liệu thì trước khi chữ Hán du nhập vào Việt Nam, người Việt chúng ta chưa có chữ viết, mà chỉ có tiếng nói, tiếng Việt cổ đại, là thứ ngôn ngữ thuộc họ Mường-Khmer, khác hẳn họ ngôn ngữ với tiếng Hán
Trang 16Nhiều tác giả cho rằng chữ Hán du nhập vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ 1 trước Công nguyên, ngay sau khi Trung Quốc chiếm xong Việt Nam Trong suốt một nghìn năm, từ thế kỷ 1 trước Công nguyên tới năm 938, tiếng Việt bị ảnh hưởng mạnh mẽ của chữ Hán (hay còn gọi là chữ Nho) Trong suốt thời gian Bắc thuộc đó, với chính sách Hán hóa của nhà Hán, tiếng Hán đã được giảng dạy ở Việt Nam và người Việt Nam đã chấp nhận ngôn ngữ mới đó song song với tiếng Việt, tiếng nói truyền miệng Tuy người Việt Nam tiếp thu tiếng Hán và chữ Hán nhưng cũng đã Việt hóa nhiều từ của tiếng Hán thành
từ Hán Việt Từ đó đã có rất nhiều từ Hán Việt đi vào trong từ vựng của tiếng Việt
Sự phát triển của tiếng Hán ở Việt Nam trong thời kỳ Bắc thuộc song song với sự phát triển của tiếng Hán ở chính Trung Quốc thời đó Tuy nhiên, năm 938, sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, Việt Nam đã độc lập và không còn lệ thuộc vào phương Bắc nữa, nhưng ngôn ngữ vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề của tiếng Hán Sau ngày giành được độc lập, mặc dù tiếng Hán là ngôn ngữ được sử dụng chính thức nhưng đã phát triển theo hướng khác với sự phát triển của tiếng Hán ở Trung Quốc Chữ Hán lúc này đã được dân tộc ta tiếp thu với một góc độ cải biến về mặt ngữ nghĩa, âm đọc và cách đọc sao cho phù hợp với dân tộc ta cụ thể là chữ Hán đã được Hán Việt, Hán Việt Việt hóa Khảo sát trong thời kỳ trung đại, chúng ta nhận thấy rằng chữ Hán là ngôn ngữ được dùng rộng rãi trong sáng tác văn chương, việc ghi chép lịch sử ở các triều đại, việc học hành thi cử trong trường học, … Như vậy chữ Hán đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu văn chương nước nhà thời kì trung đại, chữ Hán đã trở thành phương tiện trợ giúp đắc lực để chúng ta tìm hiểu những thành tựu văn hóa của dân tộc có từ hàng ngàn năm trước
3 Vấn đề về âm đọc Hán Việt
Theo đà phát triển của ngôn ngữ, chữ Hán dần dần có sức ảnh hưởng lan rộng ra nhiều nước trong khu vực như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam Lúc này, chữ Hán dần dần không còn là văn tự riêng của dân tộc Hán nữa nó đã trở thành văn tự dùng chung cho toàn vùng Ở Việt Nam trong nhiều thế kỷ chữ Hán đã được coi như văn tự chính thống, được giảng dạy trong nhà trường có quy mô nề nếp, dùng vào thi cử, công tác hành chính, ngoại giao và được dùng vào cả lĩnh vực văn hóa, sáng tác văn học
Nhưng với thời gian, cách đọc chữ Hán ở Trung Quốc cũng như những vùng khác ngoài Trung Quốc đều dần dần thay đổi Địa bàn mở rộng củng cố thêm cho sự xa cách nhau vốn có trong cách đọc, mỗi vùng vay mượn mỗi thời kì khác nhau, diễn biến theo chiều hướng khác nhau làm cho sự xa cách nhau ngày càng thêm sâu sắc
Trang 17Tiếng Việt đã trải qua quá trình tiếp xúc với tiếng Hán từ rất lâu đời, thông qua
nhiều con đường và bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau Có thể chia quá trình tiếp xúc
Hán Việt thành hai giai đoạn lớn: một là, giai đoạn từ đầu công nguyên đến đầu đời
Đường (đầu thế kỉ 8); hai là, giai đoạn từ đời Đường (thế kỉ 8 – thế kỉ 10) trở về sau Hai
lần tiếp xúc lớn này cung cấp cho từ vựng tiếng Việt hai nguồn gốc từ Hán mà như trước
nay vẫn quen gọi là từ Hán cổ và từ Hán Việt Trải qua hai lần tiếp xúc này, cách đọc chữ
Hán người Việt ta cũng dần biến đổi mà ta quen gọi là cách đọc Hán Việt
Hiểu theo một cách đơn giản, chúng ta có thể định nghĩa cách đọc Hán Việt là cách
đọc chữ Hán của người Việt theo âm đọc riêng của người Việt
Cách đọc Hán Việt là một cách đọc vốn bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán
đời Đường, mà cụ thể là Đường âm dạy ở Giao Châu vào giai đoạn khoảng bao gồm hai
thế kỷ VIII, IX; Nhưng cách đọc theo Đường âm đó, sau khi Việt Nam giành được độc
lập, đã dần dần biến dạng đi, dưới tác động của quy luật ngữ âm và lịch sử tiếng Việt, tách
xa hẳn cách đọc của người Hán để trở thành một cách đọc riêng biệt của người Việt và
những người thuộc khu vực văn hóa Việt Đây là một cách đọc tạo thành hệ thống, nghĩa
là trên lý thuyết có thể dùng cách đọc toàn bộ kho tàng các ký hiệu văn tự Hán, với khả
năng gần như cách đọc của bản thân người Hán; nhưng đây lại là một cách đọc độc lập,
có đặc trưng riêng, chức năng riêng và có cả một lịch sử diễn biến của riêng mình
Như một quy luật tất yếu, cách đọc Hán Việt cũng trải qua quá trình biến đổi cho
phù hợp với âm đọc của người Việt, ở đây chúng tôi đang muốn nói đến cách đọc tiền
Hán Việt và cách đọc Hán Việt Việt hóa Giữa hai cách đọc này, đều có sự tác động qua
lại lẫn nhau, trước cách đọc Hán Việt ta có cách đọc tiền Hán Việt và sau đó sâu hơn là
cách đọc Hán Việt Việt hóa của người Việt
Cách đọc Tiền Hán Việt
Âm tiền Hán Việt là cách gọi trước khi có âm Hán Việt Chúng là những âm đọc
của những từ Hán đã du nhập vào tiếng việt trước khi hình thành ra âm Hán Việt
Âm tiền Hán Việt ở Việt Nam phần lớn là cách đọc mô phỏng âm Hán Thượng cổ,
chính vì vậy mà dựa vào thành quả nghiên cứu về âm Hán Thượng cổ chúng ta mới có thể
phân định được những từ nào thuộc về lớp từ tiền Hán Việt Một số từ khác bắt nguồn từ
âm Hán Trung cổ nhưng trước khi hình thành ra âm Hán Việt đã tạo ra một âm Việt hóa,
âm này được dùng đọc chữ Hán trước khi có âm Hán Việt và cũng tạm gọi là âm Tiền
Hán Việt
Trang 18Âm Hán Trung cổ là xuất phát điểm của âm Hán Việt vì vậy sự khác nhau giữa âm Hán Thượng cổ và âm Hán Trung cổ cũng là cơ sở để phân định sự khác nhau giữa âm Tiền Hán Việt và âm Hán Việt
Quá trình biến đổi từ âm Hán Thượng cổ sang âm Tiền Hán Việt như sau: trước thế kỷ X trong hệ thống âm đầu tiếng Việt còn chưa có âm hữu thanh vì vậy âm Tiền Hán Việt cũng mang âm đầu vô thanh, về sau chúng mới hữu thanh hóa Ví dụ:
Âm tiền Hán Việt Âm Hán Việt
là một sinh ngữ nên tuân theo những quy luật ngữ âm tiếng Việt và phụ thuộc vào bộ máy cấu âm của người Việt
Âm Hán Việt phản ánh được khá đều đặn của âm Hán Trung cổ, vì vậy khi dùng
nó đọc thơ văn các đời Đường, Tống của người Hán ta vẫn cảm thấy rất thuận tai, đúng niêm luật, nghĩa là nó theo sát khá trung thực các vận bộ của âm Hán Trung cổ
Như vậy, cách đọc theo âm Hán Việt đã trở nên quen thuộc và phổ biến đối với người Việt kể từ khi tiếng Hán phụ thuộc vào bộ máy phát âm của người Việt Cũng chính vì đều này mà hầu như toàn bộ sáng tác văn học bằng chữ Hán thời kì trung đại đều được chúng ta tiếp cận, tiếp thu trên cơ sơ cách đọc âm Hán Việt Điều này một lần nữa
đã khẳng đinh được việc cách đọc chữ Hán từ xưa cho đến ngày nay vẫn luôn được tiến hành thông qua cách đọc Hán Việt
Trang 19 Cách đọc Hán Việt Việt hóa
Sau khi âm Hán Việt hình thành và trở nên một hệ thống ngữ âm tương đối ổn định
thì trong tiếng Việt vẫn tiếp tục xảy ra sự biến đổi ngữ âm Những biến đổi này không tác
động đồng loạt vào tất cả những bộ phận của âm Hán Việt vì, như đã biết, Hán Việt là
một hệ thống liên tục được sử dụng để đọc và sáng tác văn thơ bằng chữ Hán nên giữ tính
ổn định – nó chỉ ảnh hưởng vào những đơn vị lẻ tẻ, nhất là những từ Hán Việt thường
dùng hằng ngày Những từ Hán Việt này trước sự biến đổi của ngữ âm trên sẽ tách ra làm
hai, một là giữ nguyên âm Hán Việt cũ, hai là phát sinh ra âm mới Vì âm mới này có xuất
phát điểm là âm Hán Việt nên ta gọi chúng là âm Hán Việt hóa Ví dụ:
can kính
can kính
gan gương đình
đình
dừng
Vai trò của cách đọc Hán Việt đối với việc tiếp cận văn học bằng chữ Hán
Âm Hán Việt là âm đọc là âm đọc của tất cả các từ Hán được Việt hóa theo một
con đường như nhau, xuất phát điểm của nó là âm Hán Trung cổ ở các thế Kỷ VIII, IX
trước thời tự chủ ít lâu Âm này được Việt hóa từ đầu thời tự chủ (thế Kỷ X) khi tiếng
Hán mất tính cách là một sinh ngữ nên tuân theo những quy luật ngữ âm tiếng việt và phụ
thuộc vào bộ máy cấu âm của người Việt Quá trình này được khơi mào từ trước thế kỷ X
nhưng chắc chắn phải kéo dài hàng mấy thế kỷ mới hình thành ra âm Hán Việt ngày nay
và được thực hiện cho tất cả các từ Hán nằm trong thư tịch của người Hán, kể cả các thư
tịch có trước đời Đường và các thư tịch xuất hiện thời sau này (Nguyên, Minh, Thanh)
Cho nên nó vừa là một sự kiện lịch sử xảy ra ở một thời điểm, vừa là cách đọc chung và
phổ biến cho mọi thời kì, do đó, có tính chất ổn định Trước khi học âm bạch thoại, bất kì
người Việt nào đọc sách chữ Hán hay sáng tác văn chương bằng chữ Hán đều phải dùng
cách đọc âm Hán Việt là âm đọc duy nhất (theo Nguyễn Ngọc San Tìm hiểu tiếng Việt
lịch sử)
Trang 20Xuất phát từ thực tiễn trong nước nhìn nhận chúng ta ai cũng thấy rằng, trong quá trình phát triển, nền văn hóa dân tộc của chúng ta đã có mối quan hệ mật thiết với nền văn ngôn và với chữ Hán Người Việt Nam trước đây, từ thế hệ này sang thế hệ khác, đã liên tục trong nhiều thế kỷ, sử dụng chữ Hán và lối văn ngôn như một công cụ văn hóa của dân tộc, dùng nó để ghi chép, viết lách, lưu lại đến ngày nay một kho tàng không nhỏ những công trình lịch sử học, về luật học, về y học,… Trong đó có cả nền văn học nước nhà, đó là một gia tài quý báu mà chúng ta phải đọc, phải tìm hiểu, phải dịch để giới thiệu lại cho các thế hệ mai sau Mà rõ ràng là những việc làm này đối với chúng ta không thể nào tiến hành tốt được nếu không thông qua cách đọc Hán Việt
Ngày nay, đối với việc tiếp cận văn học sáng tác thơ bằng chữ Hán thì cách đọc Hán Việt đóng một vai trò hết sức quan trọng cả ở Trung Quốc và Việt Nam ta vì những thể loại thơ chữ Hán được viết theo thi pháp Hán, chủ yếu là dựa theo thi pháp đời Đường, Tống một khi các thi nhân xưa làm thơ thì cách đọc Hán Việt có ảnh hưởng sâu rộng đến việc dịch, đọc và tìm hiểu văn thơ
Như chúng ta đã biết, vì đặc điểm của lịch sử dân tộc, tiếng Việt tiếp xúc với tiếng Hán trong một thời gian dài Và hệ quả là cho đến ngày nay lượng từ Hán Việt tồn tại trong kho từ vựng của chúng ta là khoảng hơn 70 % Theo thống kê của Lê Xuân Thại thì:
"Trong tiếng Việt có khoảng 3000 yếu tố Hán Việt Số lượng này xấp xỉ với số lượng yếu
tố Hán trong tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên" Với số lượng từ lớn như vậy nên việc tìm
hiểu và giải thích nghĩa đều phải dựa trên cơ sở cách đọc của người Việt ta, điều này một lần nữa đã khẳng định được tầm quan trọng của cách đọc Hán Việt trong việc tìm hiểu hệ thống ngôn ngữ dân tộc
Như vậy, sự chuyển từ cách đọc Hán âm sang cách đọc Hán Việt là một quá trình lâu dài và có hệ thống Cách đọc Hán Việt của ta hiện nay vốn bắt nguồn từ tiếng Hán mà
ta học được ở Giao Châu trước khi giành độc lập cho đến khi âm đọc Hán Việt được dùng chính thức Trong thời gian này, việc chuyển đổi cách đọc từ âm Hán của người Trung Quốc sang âm Hán Việt của người Việt cũng dần được ta thích nghi và biến đổi, thay vì người Việt ta đọc âm Hán theo bộ máy phát âm của người Trung Quốc thì nay dựa trên cơ
sở âm của người Hán, người Việt ta đã thay đổi cách đọc chữ Hán theo phát âm của người Việt Quá trình này diễn ra dần dần một cách có khoa học chứ không phải vỏ đoán tùy tiện và chỉ có thay đổi cả hệ thống thì người Việt mới đọc được toàn bộ thư tịch và dùng chữ Hán để sáng tác trên cơ sở cách đọc Hán Việt
Trang 21Nhìn chung, chữ Hán về mặt lí thuyết cho ta khái quát được nhận thức chung về định nghĩa, nguồn gốc, đặc điểm chữ Hán ở các nước Trung Quốc và Viêt Nam như chúng tôi đã trình bày ở trên, tất cả những điều này làm cũng cố và xây dựng cho nền tảng kiến thức ban đầu về chữ Hán góp phần giúp chúng ta đi sâu và tìm hiểu kỹ hơn về chữ Hán trong một tập thơ cụ thể
Trang 22Đời Lê Sơ, họ Hà này vốn là ở Hà Tĩnh, huyện Can Lộc Tới đời Lê Trung Hưng thì di cư ra ở tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Thời kỳ này, có Hà Tông Huân đỗ tiến
sĩ Về sau, lại di cư ra ở làng Cát Động huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây Và đến đời Tông
Quyền thì họ Hà này đã định cư ở Cát Động khoảng ba, bốn thế hệ Theo Đại Nam liệt truyện thì cha của ông tên là Hà Tông Đồng, đỗ hương cống đời Lê, nhưng không ra làm
quan, mà chỉ mở trường dạy học trong làng Ông Đồng mất sớm, bà vợ là con gái họ Trịnh, tần tảo nuôi con khôn lớn, Hà Tông Quyền được học hành đến nơi đến chốn chính
là nhờ có bà mẹ đảm đang này
Hà Tông Quyền, tự là Tốn Phủ, hiệu là Phương Trạch và Hải Ông, quê gốc ở Nghệ
An, sau ra định cư tại làng Cát Động, huyện Thanh Oai, Hà Tây Ông sinh năm 1798 Ngay từ khi còn nhỏ, đã nổi tiếng là thần đồng Câu chuyện lưu truyền ở địa phương còn
kể rằng, ông đọc sách rất nhanh, một thoáng nhìn có thể đọc được tới chục hàng chữ (nhất
độc thập hàng) Đã thế ông lại rất chăm đọc sách Quyển Phương Trạch Hà Tốn Phủ truyện còn ghi rằng: “Dạ tĩnh thường văn độc thư thanh” tức là đêm thanh vắng thường
nghe tiếng (ông) đọc sách Và có lần quan huyện Doãn ra cho ông một vế câu đối:
Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư
Ba người cùng đi, tất có thầy ta
Ông đối ngay:
Thiên lý nhỉ lai, tương lợi ngô quốc
Nghìn dặm mà tới, đem lợi cho nước tôi
Rõ ràng vế đối không những là rất chỉnh mà còn hợp cách, vì vế ra lấy chữ có sẵn trong
sách “Mạnh Tử”, vế đối cũng lấy chữ có sẵn trong sách “Luận ngữ”
Một điều đáng chú ý là lúc đó ông mới 12 tuổi Chăm học, sáng dạ, chịu khó đọc, nên chẳng bao lâu mà thầy đồ ở trường làng “hết chữ” Hà Tông Quyền khăn gói lên Thăng Long xin theo học tại trường của cụ Lập Trai Phạm Qui Thích Chính ở trường này, ông kết bạn với các danh sĩ sau này rất nổi tiếng ở đất cố như Nguyễn Văn Siêu,
Trang 23Nguyễn Văn Lỳ, Vũ Tông Phan… Năm Gia Long Tân Mùi (1811), mới 14 tuổi, ông dự thi hương tại trường thi Thăng Long và đỗ hương cống Đỗ như vậy là có thể đi làm quan, nhất là hồi đó nhà Nguyễn chưa tổ chức thi hội nên cứ đỗ hương cống là được bổ dụng ngay Nhưng Hà Tông Quyền còn nhỏ tuổi quá nên triều đình lưu lại, đợi đến tuổi thanh niên Về phía Hà Tông Quyền, ông cũng dâng sớ xin ở lại quê để phụng dưỡng mẹ già và đọc thêm sách Cho tới năm Minh Mạng thứ ba (1822), nhà Nguyễn bắt đầu mở khoa thi hội, ông lên đường vào kinh đô Huế ứng thi và đỗ hội nguyên Như vậy ông là ông nghè khai hoa cho triều Nguyễn Ông được bổ làm tri phủ Tân Bình (nay là tỉnh Gia Định – Nam Bộ) rồi về làm Tham biện dinh Quảng Trị Khoảng năm 1827 ông về Huế làm Kiểm
sự Bộ Công, và ở với núi Ngự sông Hương cho tới khi chết tức là năm 1839, thọ 42 tuổi
Trong 12 năm làm quan ở Huế Hà Tông Quyền cũng lắm phen lận đận Là một quan chức chóng được thăng, hay được thưởng, nhưng ông cũng có những lần bị cách, bị phạt, bị đi hiệu lực vì những lỗi rất nhẹ Dưới đây, là điểm qua thời gian ông cung chức tại Kinh:
Năm 1829 làm Hữu Thị lang Bộ Lễ Năm 1831 làm Hữu Thị lang Bộ Hộ nhưng chủ yếu là coi việc nội các Cuối năm này, vì một sơ xuất nhỏ trong việc duyệt tài liệu mà
bị cách tuột bậc mọi chức tước, bị đi hiệu lực sang In-đô-nê-si-a Nhưng sáu tháng sau, khoảng giữa năm 1832, Minh Mạng gọi về, cho phục chức cũ
Sang năm 1833, tháng giêng, được thăng hàm từ Hàn lâm thừa chỉ lên Thị độc học
sĩ Năm tháng sau lại thăng hàm Hữu Thị lang Bộ Công Năm sau, 1834, chỉ vì là bạn thân của Phan Huy Thực nên khi ông này có tội, bị cách chức thì Hà Tông Quyền cũng bị phạt 3 tháng lương
Năm 1835, lại được thăng lương nhị phẩm và thăng làm Tham tri Bộ Lễ, vẫn coi việc nội các Năm 1837 ông lại bị vua “quở” vì quên một điển tích
Năm 1839, trước khi chết, ông được thăng làm Tham tri Bộ Lại và sau khi chết thì được phong hàm Lại Bộ Thượng thư
Hà Tông Quyền cuộc đời cũng lắm những biến cố thăng trầm, con đường hoạn lộ của ông không phải là hoàn toàn thông suốt, cứ vài ba năm lại bị một lần quở trách hoặc giáng phạt như việc phải đi hiệu lực năm 1831 sang Nam Dương quần đảo của In-đô-nê-
xia Về nguyên nhân của việc đi hiệu lực này, sách Đại Nam thực lục chép: “Mùa đông,
tháng 11, năm Tân Mão (1831), Hộ Bộ Thị lang sung Nội các là Hà Quyền bị tội, mất
chức, trước kia được giao bài thơ “Thu thành phân số” của nhà vua làm, dưới chỗ chú
thích có chữ Thanh Xuyên huyện, người thuộc viên ở Nội các viết lầm là Thanh Châu
Trang 24Vua hỏi Quyền, Quyền hoảng sợ, tâu: Trót theo tờ sớ của trấn Sau biết là lầm, bèn lén đem chữa lại tờ sớ để cho đúng với lời tâu Thuộc viên ở Nội các là Trần Lý Đạo quy cho ông về tội đó Vua sai đình thần luận tội Đáng xử tội đồ, nhưng vua đặc cách ra lệnh cách chức, cho làm lính, phát đi đường biển để gắng sức làm việc chuộc tội” Chỉ vì chữa một chữ, trong phần chú thích của một bài thơ mà Hà Tông Quyền bị cách chức, bị đi hiệu lực! Hình phạt quả là nặng nề Hoặc như năm 1834, Tông Quyền bị phạt 3 tháng lương cũng chỉ vì một lẽ rất kỳ hoặc Số là năm đó có khoa thi hương, các quan chấm trường Hà Nội lấy đỗ 37 cử nhân Nhưng khi bài vở chuyển về kinh duyệt thì 4 người bị truất xuống bậc tú tài vì văn tầm thường và một người bị hỏng tuột do bài phú trùng vần Hai viên chánh phó chủ khảo bị giáng 3 cấp Lễ Bộ Thượng thư Phan Huy Thực – là người có trách nhiệm tổ chức các kỳ thi cũng bị giáng chức với lý do là thiếu sáng suốt trong khi lựa chọn quan trường Và Hà Tông Quyền thì bị phạt 3 tháng lượng vì là bạn của Phan Huy Thực
Khi Hà Tông Quyền đi hiệu lực, vua Minh Mạng thiếu Hà Tông Quyền bên cạnh như thiếu đi cánh tay trợ giúp đắc lực Cho nên năm 1831, ông đi hiệu lực sang In-đô-nê-si-a mới có sáu tháng mà Minh Mạng đã phải sai sứ đi triệu về cho phục chức cũ coi việc nội các
Hà Tông Quyền bình sinh liêm khiết Khi chết đi, chẳng có ruộng đất gì để lại cho con cháu Ở làng quê Cát Động còn một ngôi miếu thờ ông thì chính là do hai người chắt ngoại góp tiền dựng nên Ông chỉ để lại có vài tập sách hoặc chép tay và sau này có khắc
in: Tốn Phủ thi tập, Liễu dương văn tập, Thăng Long tam thập vịnh, Vịnh Kiều v.v… Qua
các tác phẩm này, ta thấy ông là một nhà thơ đặc sắc, thơ ông hồn hậu, tinh tế và nhã nhặn, đề tài cũng khá phong phú Có điều ông chưa nhìn thấy rõ những yêu cầu cơ bản của thời đại, cũng chưa có cái dũng khí lên án toàn bộ cái chế độ đang suy sụp dần mòn của nhà Nguyễn lúc bấy giờ Chất liệu hiện thực trong thơ ông cũng rất hạn chế Cũng bị
đi hiệu lực, cũng sang Giang – lưu – ba, nhưng cái nhìn của ông cũng còn hạn chế so với cái nhìn của Cao Bá Quát Song so với những sĩ phu đương thời thì Hà Tông Quyền là một nhà nho có nhân phẩm và là một nhà thơ đặc sắc, xứng đáng có một chỗ đứng nhất định trong lịch sử văn học nước nhà
2 Mộng Dương tập của Hà Tông Quyền
2.1 Giới thiệu tác phẩm
Hà Tông Quyền là một danh sĩ làm quan dưới triều Nguyễn từ năm 1822 tức năm Minh Mệnh thứ ba Ông nổi tiếng là người học giỏi, đỗ Tiến sĩ và giữ nhiều chức vụ lớn
Trang 25trong triều Nguyễn Vua Minh Mệnh rất tin dùng ông nhưng bản thân ông cũng bao phen lận đận trong lúc làm quan Ông viết văn làm thơ khá nhiều, ông đã để lại các tác phẩm
tiêu biểu của ông như: Tốn Phủ Văn Tập, Liễu Dương văn tập, Mộng Dương tập là một phần trong Tốn Phủ thi tập.
Mộng Dương tập là tập thơ được Hà Tông Quyền sáng tác trong những ngày tháng
ông phụng mệnh vua Minh Mệnh đi “dương trình hiệu lực” (một hình thức đi công cán phải ra sức làm việc để chuộc lỗi lầm) đến quần đảo Nam Dương (In-đô-nê-xia) Trong tập thơ này tác giả đã gữi gắm những tâm tư tình cảm của mình với nhiều tâm trạng khác nhau, nhìn cảnh vật, con người nơi đất khách khiến ông không khỏi bùi ngùi chạnh lòng trước cảnh ngộ bản thân ông và nghĩ về con đường hoạn lộ làm quan của mình
Về tên của tập thơ này, sách (Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đê yếu) do nhà xuất bản, Hà Nội 1993, ghi là Dương Mộng tập, nhưng trong một số cuốn sách lại ghi là
Mộng Dương tập do vậy việc gọi tên tập thơ này có phần khác đôi chút nhưng vẫn chấp
nhận ở những quyển sách khác nhau Hiện tại, đi vào khảo sát và phân tích chữ Hán trong tập thơ này, chúng tôi căn cứ vào văn bản chữ Hán tìm đọc được đúng thứ tự và tên của
tập thơ là Mộng Dương tập
2.2 Nội dung và nghệ thuật
2.2.1 Nội dung
Trong tập thơ Mộng Dương tập có mười tám bài thơ Toàn bộ tập thơ như một lịch
trình kể lại quá trình ông đi “dương trình hiệu lực” theo đó là những nỗi niềm tâm sự, tâm trạng u hoài nỗi lòng của người làm quan lâm vào hoàn cảnh không may
Với một tâm trạng buồn trước thời cuộc của chính bản thân mình, Hà Tông Quyền trong chuyến đi này đã thể hiện cảm xúc đó trên từng chặng đường ông đến, từng thời khắc mà ông qua Hầu hết những bài thơ của ông đều thể hiện tâm tình, miêu tả cảnh vật con người, tự bộc bạch tâm sự của mình bằng sự tự vấn với tự đặt câu hỏi, khóc thương người xưa có cùng cảnh ngộ để rồi tự nhìn lại mình mà thấy xót xa bàng hoàng cho cảnh tình đang gặp phải Với tâm thế là một người làm quan vì mắc lỗi lầm nhỏ nên phải đi sang Nam dương quần đảo để chuộc lại lỗi lầm, và bằng những trải nghiệm của cuộc đời ông bùi ngùi nhìn lại những gì đã qua, các bài thơ của ông đều cho ta thấy được đều này
Sống trong thời thịnh trị của nhà Nguyễn nhưng với một chế độ dần đi xuống và mất đi niềm tin của nhân dân, ông cảm nhận bằng một cách nhìn ở chính bản thân mình con đường rong ruỗi làm quan chưa đạt thành sở nguyện mà lại phải trãi qua nhiều lận
Trang 26đận trên bước đường giúp dân giúp nước Qua các tác phẩm này, ta thấy ông là một nhà thơ có tâm hồn nhạy cảm, thơ ông hồn hậu, tinh tế và nhã nhặn, đề tài cũng khá phong phú Có điều ông chưa nhìn thấy rõ những yêu cầu cơ bản của thời đại, cũng chưa có cái dũng khí lên án toàn bộ cái chế độ đang suy sụp dần mòn của nhà Nguyễn lúc bấy giờ
Bài thơ ông viết để khóc cho người xưa (Đặng Thuận Xuyên) nhưng cũng là để tự khóc thương chính mình nói lên nỗi niềm hoài cảm, sự xúc động xót thương sâu sắc đối với người đi trước :
Trang 27thì vẫn ở lại đang phải chịu cảnh phải đi “dương trình hiệu lực” không biết rồi đây sẽ ra sao? Một cách hỏi nghi vấn tự đặt ra cho mình với nỗi buồn suy ngẫm về lẽ thường tình của cuộc sống làm quan
Hay những tâm tình sâu lắng được tác giả bộc lộ qua những bài thơ miêu tả cảnh
vật ngụ tình trong đó như: Thu vũ, Ngẫu ngâm, Ký cảnh nhị luật, Ký du, Tạp hứng, Hiểu khởi Mỗi bài thơ tuy ở mỗi thời điểm khác nhau nhưng gộp chung lại tạo thành vòng cảm
xúc của người làm quan gặp thời vận không may và nhìn lại những gì đã qua, cuộc đời, công danh, chức quyền, bậc làm vua tôi và cách hành sử của người xưa
Hoàng quyển thanh đăng thiên cổ sự,
Sơ chung tàn nguyệt ngũ canh tâm
Phóng hoài vũ trụ văn tri quảng, Hồi thủ phong trần cảnh ngộ thâm
Diệp lộ hy vi kê xướng vãn, Khiên liêm tễ sắc chính lai lâm
Trang 28Nhìn lại quãng đời gió bụi, sự tỉnh ngộ trong lòng tác giả càng thêm sâu rộng, bằng những khốn khó đã từng có trong cuộc đời mình Hà Tông Quyền càng trở nên thấu đáu nhìn nhận cuộc đời trong gió bụi phong trần đã qua
Hư chu bất liệu hữu thăng trầm,
Sự biến vô cùng cảm tích kim
Vạn khoảnh ba đào do hạo hãn, Mãn thành phong vũ chính tiêu sâm
Thê noa bầu bệnh tinh vi lụy, Thiên địa thần nhân tri thử tâm
Huy thủ xuất môn từ cố hữu, Tòng lai thản lộ tự lâm thâm Bậc làm quan đầy quyền chức cũng có lúc phải rơi vào hoàn cảnh không thể lườn trước, niềm thương cảm với sự biến thiên cuộc đời đầy u sầu gia cảnh trở nên sa sút, bản thân mang tội không giúp gì được cho dân cho nước làm cho nỗi lòng càng trĩu nặng mối sầu tư
Ở nơi đất khách quê người, Hà Tông Quyền thấy được cuộc sống nhộn nhịp sôi động đầy vật chất nhưng thiếu vắng sự ấm cúng tình người khi ông dừng bước, mọi sự nao lòng lắng dịu nơi tâm hồn cô đọng lại, nỗi nhớ quê hương đất nước trải dài qua từng câu thơ:
Trang 29記遊 舟船千里通天地
磚 層樓殖 天
美 非佯造物 繽紛半屬北來船 無窮宇宙開新眼 處江山認宿緣 興到不知身是我 軟塵遍踏濯清泉
Ký du
Chu thuyền thiên lý thông thiên địa,
Chuyên ngõa tầng lâu thực hóa thiên
Ủy mỹ thùy phi dương tạo vật, Tân phân bán thuộc bắc lai thuyền
Vô cùng vũ trụ khai tân nhãn, Tùy xứ giang sơn nhận túc duyên
Hứng đáo bất tri thân thị ngã,
Nhuyễn trần biến đạp trọc thanh tuyền
Ghi lại những gì mắt thấy tai nghe, những cảnh tượng huyên náo, ồn ào, tấp nập nơi xứ người đất khách đầy cám dỗ, những cảnh tượng phố chợ nhộn nhịp cũng không đủ làm dịu lòng khách tha hương, nhưng với cuộc sống nơi quê người mà tác giả chứng kiến
đủ để con người mở mang tầm mắt với thế giới rộng lớn bên ngoài Hay :
Trang 30Qua tất cả các bài thơ dù miêu tả cảnh vật con người dù ở phương diện nào đi nữa thì cái tình ẩn chứa thơ vẫn thể hiện rỏ rệt đủ mọi góc độ từ cái buồn cho con đường công danh, nỗi nhớ quê hương, người thân, suy nghĩ về cuộc đời nhìn cuộc sống với sự thấu đáo nhìn nhận sự việc ở chính bản thân mình, có một tâm hồn nhạy cảm, tấm lòng đôn hậu của bậc danh sĩ nhà nho thời xưa
2.2.2 Nghệ thuật
Với 18 bài thơ được tập hợp trong tập thơ Mộng Dương tập, Hà Tông Quyền sáng
tác chủ yếu theo lối thơ đường luật ở các thể thơ như:
Thất ngôn bát cú gồm 12 bài thơ: Ninh Công cố lũy, Xuân nhật bệnh khởi, Hữu
cảm, Phụng phái dương trình hiệu lực, Lưu biệt nhất nhị tri kỷ, Ngẫu ngâm, Xuất môn, Ký du, Ký cảnh nhị Luật, Tạp hứng, Bệnh trung ngẫu đắc và Khốc Đặng Thuận Xuyên
Ngũ ngôn bát cú có 4 bài thơ: Thu vũ, Trừ tịch, Để kinh và Vọng vũ
Thất ngôn tứ tuyệt 1 bài Phiên phụ
Ngũ ngôn tứ tuyệt 1 bài Hiểu khởi
Trong thơ của Hà Tông Quyền ta bắt gặp sự giao cảm giữa con người và thiên nhiên, trên mỗi bước hành trình tác giả đều ghi lại những hình ảnh thu vào tầm mắt của mình, kể cả những ngày đau ốm Tác giả nhìn cảnh vật bằng một sự quan sát tinh tế, nhạy bén, sự giao cảm ấy được đặt trong trạng thái ông là một vị quan mắc lỗi phải đi chuộc lại lỗi lầm nên toàn bộ bức tranh tả cảnh đều ẩn chứa ngụ tình trong đó, đó cũng là điều luôn được tác giả để tâm nhằm gửi gắm tâm sự, bộc lộ những trãi nghiệm trong chốn quan trường, trong thơ đường điều này cũng thường phổ biến
Về cấu trúc, bài thơ thường gọn nhẹ, cô đúc, ngôn ngữ gợi nhiều hơn tả hình ảnh nên vừa chân thực vừa cô đọng súc tích, ý tại ngôn ngoại như: thụ thạch, phù vân, xuân, phong vũ, phong trần, nhật, nguyệt, …
Trang 31Vận dụng lối thơ đường luật, tác giả đã tuân thủ một cách nghiêm ngặt, chặt chẽ luật trong thơ đường về: luật bằng trắc, về cách phối âm gieo vần, đối thanh trong thơ và niêm luật kết dính lại với nhau liền mạch Lấy một bài thơ điển hình làm ví dụ ta thấy ở
bài thơ Phụng phái dương trình hiệu lực ta thấy rỏ được điều này:
Thập tải trì khu bất cố gia,
Câu 1 niêm với câu 8 theo trật tự (T-B-T)
Câu 2 niêm với câu 3 theo trật tự (B-T-B)
Câu 4 niêm với câu 5 theo trật tự (T-B-T)
Câu 6 niêm với câu 7 theo trật tự (B-T-B)
Cách gieo vần các tiếng ở cuối câu 3,5,7 đều mang thanh trắc (báo, phục, định), cách gieo vần “a” cùng một khuôn vần trong các tiếng “gia, hà, đa, ba, ca” ở cuối câu và đều mang thanh bằng
Một nét nghệ thuật khác trong thơ đó chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ thơ luôn là nền tảng để tác giả phơi bày nhận thức sâu sắc về cuộc đời Ở tập thơ này, ngôn ngữ trong thơ được tác giả vận dụng toát lên tính triết lý và sự giao cảm giữa cuộc đời với con người làm nên nét thơ mang tính trầm buồn sâu lắng, đầy vẻ ưu tư và phẫn uất trước thời cuộc
Trang 32nhưng không thể bộc lộ trực diện đành phải gửi tâm sự vào thơ mà bày tỏ nỗi lòng thầm kín Điển hình như ở mỗi bài thơ ta đều bắt gặp ngôn ngữ của một vị quan đầy trải nghiệm chốn quan trường, thái độ buồn sầu thương cho cuộc đời làm quan như ở bài thơ
Phụng phái dương trình hiệu lực, Khốc Đặng Thuận Xuyên, Để kinh hay Hữu cảm Lời
thơ như nỗi lòng ai oán có lúc bi thương vì sóng gió, bụi trần, có lúc xót xa đọng lại trong tâm tưởng khi nhìn cảnh vật trong khoảng không gian bao la rộng lớn
Các thi nhân xưa thường mượn hình ảnh để tả cảnh nhưng cũng là để ngụ ẩn tình trong cảnh Ở Hà Tông Quyền cũng vậy, như chúng tôi đã tóm lược về cuộc đời sớm đạt thành tựu về con đường danh vọng nhưng lại gặp nhiều trắc trở, bao phen lận đận trong nghiệp làm quan của mình nên ông luôn trĩu nặng tâm sự ưu tư về thời thế, về con người
Vì thế, qua tập thơ Mộng Dương tập cho ta cảm nhận được về một con người tràn đầy u
uẩn, giọng thơ có khi chua xót, có khi là cô đơn lạc lõng ngôn ngữ đậm nét buồn, nhìn vào quá khứ, khoảng mênh mông của không gian, vũ trụ,… hình ảnh mà tác giả sử dụng luôn là những khoảng không rộng lớn lớn, cái bé nhỏ, cá thể đứng trước cái rộng lớn bao
la của mây, trời, sông, núi,… hình ảnh của thời gian xoay vần qua lại giữa các mùa trong năm: xuân, thu, đông, hình ảnh của cuộc sống nhộn nhịp phồn hoa nơi xứ người đối lập với một con người cô độc hay hình ảnh của khung cảnh trong những lần dạo chơi cũng được tác giả ghi chép lại với những vần điệu trầm buồn và sâu lắng, cảnh tuy được tác giả khắc họa miêu tả thiên nhiên đẹp hài hòa, phố chợ đông đúc tấp nập khách qua lại nhưng tất cả những điều đó dường như làm cho tâm tình của khách xa quê hương càng thêm nhớ
về đất nước
Tóm lại, nghệ thuật trong thơ ca luôn biến hóa một các mạnh mẽ nhờ vào từ ngữ, hình ảnh, ngôn ngữ, nhịp điệu thơ, Với tất cả mười tám bài trong tập thơ Hà Tông Quyền đã vận dụng một cách lưu loát lối thơ đường luật ở nhiều dạng: thất ngôn bát cú, ngũ ngôn bát cú hay thơ tứ tuyệt Xuyên suốt các bài thơ lối diễn tả vận dụng hình ảnh không gian thời gian đan xen với giọng điệu trầm buồn sâu lắng đã tạo cho thơ giàu cảm xúc, tính triết lí sâu sắc chính điều này đã làm cho thơ mang âm hưởng vang vọng trong lòng người đọc và có giá trị nghệ thuật tồn tại lâu dài cho đến ngày nay
Trang 33Chương 3
CHỮ HÁN TRONG MỘNG DƯƠNG TẬP CỦA HÀ TÔNG QUYỀN
1 Âm đọc Hán Việt trong Mộng Dương tập
Đối với âm đọc Hán Việt nếu xét theo các tác phẩm thuộc về văn xuôi mà cách đọc vẫn không đổi tức là đọc theo Hán âm thì vẫn không ảnh hưởng gì đến tác phẩm Nhưng đối với biền văn và vận văn thì khác, bởi ở thể loại này tuân theo một quy luật về niêm vần bằng trắc rất nghiêm ngặt nên đọc theo cách đọc Hán Việt mới xét được
Trong thơ đường, việc tuân thủ vào luật niêm luật là rất chặt chẽ và thông suốt Về cách gieo vần trong thơ:
Vần trong thơ là những tiếng đọc giống nhau hay những tiếng đọc gần giống nhau như cùng một vần, hay là vần gần giống nhau như duyên-tuyền, tà-hoa, liễu-chiều, Các vần giống nhau trong thơ Đường luật mang thanh bằng, và được đặt ở cuối mỗi câu thơ
Có thể gieo vần vào các tiếng cuối của các câu 1-2-4-6-8, hay có thể là 2-4-6-8, và các vần phải vần với nhau rõ ràng,các tiếng cuối câu 3-5-7 còn lại phải mang thanh trắc, các thi nhân thời xưa thường hay gieo vần vào các tiếng cuối các câu 1-2-4-6-8
Thơ được mệnh danh là tiếng lòng của thi nhân Trong thơ phải có nhạc mới dễ truyền cảm, mà vần là yếu tố quan trọng để tạo nhạc Các vần được gieo một cách cận thận hài hòa, thuận tai người đọc, hợp với cấu tứ bài thơ không những vậy mà còn hài hòa
về mặt thanh điệu dù đọc theo âm đọc Hán Việt vì những lí nguyên nhân sau:
Vì qua cách đọc Hán Việt, chúng ta vẫn giữ được đúng luật chuyển đổi bằng trắc trong từng câu thơ, khi so tiếng thư tư với tiếng thứ hai, thứ sáu cũng như khi so với tiếng thứ năm và thứ bảy
Bằng cách đọc Hán Việt chúng ta vẫn giữ được thế đối lập về thanh giữa câu ba và câu tư, giữa câu năm và câu sáu, tức là trong bốn câu thực và luận
Và cũng vì cách đọc Hán Việt không làm chúng ta rơi vào lỗi thất niêm khi chuyển
từ câu này từ câu khác trong toàn bài thơ
Tuy nhiên, cũng giống như chữ Hán khi du nhập vào nước ta, thơ chữ Hán cũng có những biến đổi âm theo âm đọc của người Việt nên trong cách gieo vần có những vần gieo không giống nhau tuyệt đối nhưng vẫn được xem là thông nhau, là đúng luật Xét trong toàn bộ tập thơ ta nhận thấy có những bài có cách gieo vần giống nhau vì vậy ta sẽ xét theo hệ thống bài thơ có những vần gieo giống nhau, còn lại các bài thơ khác có những vần không giống nhau ta sẽ xét sau
Trang 34Trước hết xét trong tập thơ ta thấy có vần ân/uân được gieo vần ở bốn bài thơ sau:
Để kinh
Tân – quân – trần – chân – nhân
Trừ tịch
Dạ – tần tân – thân – xuân
Lưu biệt nhất nhị tri kỷ
Thân – nhân – nhân – xuân – trần
Xuân nhật bệnh khởi
Tuần – xuân – trần – tân – tân
Cách gieo vần “ân/uân” cho ta cảm nhận vừa hài hòa vừa thuận tai người nghe, bộ vần này thông nhau bởi nó thuộc cùng một khuôn vần, nguồn gốc chủ yếu của bộ vần
này theo “Nguyễn Tài Cẩn Nguồn gốc và quá trình hình thành âm đọc Hán Việt” viết: nó
thuộc 4 vận bộ chân, chuân, ăn, văn Bộ vận này cho chúng ta 170 trường hợp, chuân trên
60 trường hợp, văn cũng gần 70 trường hợp, còn ân thì chỉ trên 20 trường hợp
Trang 35Riêng ở bài thơ “Trừ tịch” có thêm vần “a” có thể xem là cách gieo vận với lối dùng lạc vận trong thơ nhưng vẫn được chấp nhận do tính phối âm với vần uân/ân cao Còn ở trường hợp vần a/oa cũng vậy hợp vận này có trong các bài thơ sau:
Thu vũ: chỉ - đa – nga – hà – hòa
Kí cảnh nhị luật (I): viễn – tà – xa – gia – hoa
Phiên phụ: thoa – xa – hà
Xét thấy trong ba bài thơ Thu vũ, Kí cảnh nhị luật (I), Phiên phụ có vần a/oa là
giống nhau bởi nó theo một khuôn vần a(oa) Nguồn gốc chủ yếu của vần a(oa) là hai vận
bộ ca, qua ở trong nhiếp quả và vận bộ ma trong nhiếp giả Ca cho ta trên 50 trường hợp
a, qua cho khoảng 15 trường hợp a và trên 50 trường hợp oa
Vần “i”“iên” trong bài thơ Thu vũ và Ký cảnh nhị luật (I) thì vần “iê” Hán Việt vần
IÊN bắt nguồn từ một tổ hợp có âm -i- lướt đứng trước a như: iam, ian, iaw Âm -i- lướt này phía Việt Mường không có nên về sau ia chuyển thành nguyên âm đôi iê
Với tất cả 18 bài thơ trong tập thơ Mộng Dương tập cách gieo vần niêm luật, vần
bằng trắc đều được tác giả sử dụng một cách chặt chẽ và có hệ thống Xét về vần trong các bài thơ được cụ thể như sau:
Về mặt vần các vần được gieo ở đây ta thấy có sự thuận tai khi phát âm:
Trang 36Quá Ninh Công cố lũy
Ngoan – gian – san – hoàn – nan
Tuy cách gieo vần không được chuẩn xác tuyệt đối nhưng vẫn giữ được tính hài hòa
về mặt phối vần (an/oan) và thanh điệu.Vần an/(oan) thuộc cùng một khuôn vần xuất phát
Lô – sơ – thư – dư – như vần ô/ơ/ư
Vần ư bắt nguồn chủ yếu từ vận bộ ngư Ngoài ra, các vận bộ trong nhiếp chỉ cũng
là một nguồn phụ, cung cấp cho khoảng 1/3 trong tổng số những chữ cho chúng ta đọc với vần này
Vần ơ bao gồm cả thảy trên 20 trường hợp Có thể cho đây là một vần phụ của ư: ơ cũng bắt nguồn từ vận bộ ngư và các vận bộ trong nhiếp chỉ Ngư cung cấp cho ta khoảng trên 10 chữ ; ba vận bộ chi, vi, trong nhiếp chỉ cung cấp cho ta một số lượng tương tự
Trang 37Theo (Tiếng Việt lịch sử của Nguyễn Ngọc San) thì nguyên âm ‘‘ơ,ư’’ trong lịch
sử các nguyên âm này thường liên quan đến nhau nên ta phải xét chúng đồng thời với nhau
Ngẫu ngâm và Xuất môn
Trầm – kim – sâm – tâm – thâm vần âm/im
Ở hai bài “Ngẫu ngâm và Xuất môn” đều có hai vần khác nhau trong bài và cả hai bài đều có vần “âm/im” Xét thấy hai vần này khác nhau nhưng trong bài nó vẫn thông được với nhau là do: Vần “âm” chủ yếu là do vận bộ xâm mà ra, theo thông kê được trên
100 trường hợp
Ví dụ:
Tâm 心 (khai tam, bình)
Thâm 深 (khai tam, bình)
Lâm 林 (khai tam, bình)
Vận bộ xâm từ thời thiết vận cho đến cuối Đường đều có âm trị là “im” Chính cách đọc im này đã sản sinh ra một lối vay mượn dân gian như: tim (= tâm), tìm (= tầm), chìm (= trầm), thím (= thẩm),…Cách đọc Hán Việt kim của các chữ 今,金 cũng là một cách đọc chắc còn sót lại từ thời kỳ này
Nhưng nhìn chung ở cách đọc Hán Việt hiện nay, im nhất luật chuyển thành âm Quá trình im > âm này xảy ra song song với quá trình in > ân ở các vận bộ ân, chân, chuân,…/i/ Tiền Việt Mường cũng đưa đến âm “â”, nhưng phải là nguyên âm ngắn: in >
ân, im > âm; không rỏ I vào gốc Hán vào Việt Nam có rút ngắn lại không Nếu xét trong trường hợp này ta có thể nói vần im/âm là hai vần có cùng khuôn vần chính vì vậy tuy
không giống nhau về vần nhưng vẫn thông nhau theo (Nguồn gốc và quá trình hình thành
cách đọc Hán Việt) mà Nguyễn Tài Cẩn đã đưa ra
Ký du
Địa – thiên – thuyền – duyên – tuyền vần ia/iên/uyên
Vần iên/uyên do các vận bộ tứ đẳng trong cùng nhiếp mà ra Vận bộ TIÊN, nguyên thuộc tam đẳng cho ta trên 300 trường hợp (TIÊN: trên 220, nguyên trên 80), vận bộ tiên
thuộc tứ đẳng lại cho thêm trên 140 trường hợp, và “iê” Hán Việt trong các vần IÊM, IÊN, IÊU bắt nguồn từ một tổ hợp có âm -i- lướt đứng trước a như: iam, ian, iaw Âm -i- lướt này phía Việt Mường không có nên về sau ia chuyển thành nguyên âm đôi iê.(theo
Trang 38Tiếng Việt lịch sử của Nguyễn Ngọc San) chính điều này đồng nghĩa với việc vần “ia” có
mối liên hệ trong cách gieo vần với “iên/uyên” Như vậy cách gieo vần trong bài thơ này được chấp nhận và được xem là đúng luật
Ký cảnh nhị luật (II)
Tình – sinh – danh – thanh –tình vần inh/anh
Cả hai vần anh/inh đều bắt nguồn chủ yếu từ 4 vận bộ trong nhiếp ngạnh Nhưng giữa chúng có sự phân phối như sau:
Vần anh thì gắn liền với nhị đẳng, nó xuất phát chủ yếu từ vận bộ Canh và nhị đẳng của vận bộ Canh
Vần inh thì gắn liền với tam, tứ đẳng, nó xuất phát từ vận bộ thanh (tứ đẳng), vận
bộ Thanh (tam đẳng) và tam đẳng của vận bộ canh
Trong khoảng 270 trường hợp có inh (uynh): hơn 120 xuất phát từ thanh, hơn 100 xuất phát từ Thanh và khoảng trên 30 xuất phát từ tam đẳng của canh
Vần “anh/ach, inh/ich” là trường hợp duy nhất toàn nhiếp thay đổi hẳn âm cuối, khi chuyển từ Đường âm sang cách đọc Hán Việt Và đây cũng là trường hợp duy nhất trong nhiếp có những vận bộ thuộc khai khẩu nhị đẳng mà sang Hán Việt không chuyển K thành GI
Vần “anh/ach, inh/ich” vốn bắt nguồn từ nhiếp nghạnh là một nhiếp có âm cuối n/-k ở tiếng Hán
-Như vậy, cả hai vần “inh/anh” đều bắt nguồn từ nhiếp nghạnh, có chung một khuôn vần và thông nhau trong cách gieo vần
Tạp hứng
Quốc – gia – sà – tà – nha vần uôc/a
Vần “uôc” có nguyên âm đôi “uô” là nguyên âm không phổ biến trong cách đọc Hán Việt, vần “uôc” trong từ quốc là một trong số từ ngoại lệ diễn biến không theo quy luật chung ví dụ như các từ: huống, uông, uổng, thuộc, muội
Ngược lên quá khứ xa hơn nữa thì lịch sử tiếng Hán cho thấy về phía Tiền Hán Việt thời thượng cổ “uô” vốn có hai nguồn gốc là “ô” và “a” Sau thời Đông Hán ô và a đồng qui thành wô trên đường tiến tời u Sở dĩ tiếng Việt có cặp Tiền Hán Việt uô-Hán Việt u là vì vay mượn ở hai giai đoạn khác nhau này, ví dụ: bùa-phù, chúa-chủ, múa-vũ,
…Cũng có trường hợp không có –w- mà ô Hán vẫn đưa đến uô Tiền Hán Việt, ví dụ: chuộng (Hán Việt trọng), đuốc (Hán Việt chúc),…Có lẽ ở Hán không có sự đối lập giữa ô
và o nên ô có thể biến o, nhất là khi có sự tác động của sự diễn biến song song; trong một
Trang 39số từ, từ a đến ô theo quá trình a > o > ô, dấu vết của quá trình này có thể thấy ở: ná > nỏ
> nỗ, khó > khổ, đò > độ,…dĩ nhiên phải chú ý là “a” thượng cổ là “a” tròn môi
Với cứ liệu đã dẫn như trên cho ta thấy giữa hai vần “uôc/a” trong bài có mối liên
hệ trong quá trình diễn biến chuyển hóa, nói như thế có nghĩa là việc gieo vần như vậy là hợp lệ và được chấp nhận
Bệnh trung ngẫu đắc
Kỳ - si – thì – ti – trì vần y/i
Khốc Đặng Thuận Xuyên
Địa – thì – bi – bi – thùy vần ia/i/uy
Vần i(uy) bắt nguồn chủ yếu từ 4 vận bộ CHI, chi “chi”, vi trong nhiếp chỉ:
CHI cho ta trên 110 I và 30UY
Chi cho ta trên 90 I và khoảng 50 UY
“chi” cho ta trên 100 I và một vài trường hợp UY
Vi cho ta khoảng trên 50 trường hợp I và gần 20 trường hợp UY
Chỉ có khoảng 10 lệ ngoại xuất thân từ 4 vận bọ Tề, Tế, Chưng, Khôi
Ví dụ:
Chi > I
Bi 悲 (khai tam, bình)
Nhị 二 (khai tam, khứ)
Thi 尸 (khai tam, bình)
Vào khoảng trước sau thiết vận, bốn vận bộ CHI, chi, « chi », vi có âm trị là i, iI,
iә, iәi Cách đọc này hiện đang lưu lại một số vết tích trong trường hợp ta cổ Hán - Việt,
ví dụ: bia (= bi), lìa (= li), đìa (= trì), Hơn nữa, nó cũng đang lưu lại một đôi vết tích cả ở trong cách đọc Hán Việt, ví dụ : 地 đọc là địa, 義 đọc là nghĩa,
Như vậy, chính cách đọc lưu lại một số vết tích cổ Hán Việt nên cho ta các vần
khác nhau như ở bài thơ Khốc Đặng Thuận Xuyên đã gieo và được xem như là cách gieo
vần thông nhau
Hiểu khởi
Liễu – hiểu – chiếu vần “iêu”
Trang 40Với bài “Hiểu khởi” ta không còn bàn luận về vấn đề khác vần nữa mà thay vào đó
ta suốt toàn bài thơ được gieo cùng một vần “iêu”
Vọng vũ
Thiết – lai – lôi - hồi – cai vần iêt/ai/ôi
Xét về mặt vần điệu âm tiết trong bài thơ “Vọng Vũ” ta thấy đều không trôi chảy mấy tuy nhiên cách gieo vần như vậy vẫn được chấp nhận bởi:
Nguồn gốc chính của vần ai(oai) là 5 vận bộ thái, giai, GIAI, thai, và khoái ở trong nhiếp giải Vận bộ khoái là một vận bộ nhỏ cung cấp cho ta chưa đầy 10 chữ Có khoảng hơn 20 ngoại lệ, bắt nguồn từ các vận bộ khác và vần ơi cũng có thể ghép chung vào ai để nghiên cứu
mà ra (vận bộ thái cũng là nguồn gốc chính của vần ai) ở đây ta đã xác định được vần ai
và ôi có chung một nguồn gốc từ vận bộ thái và liên quan với nhau
Nhìn chung vấn đề về âm đọc Hán Việt trong Mộng Dương tập đã được chúng tôi
hoàn tất, tuy có những trường hợp vần không trùng khớp hoàn toàn với nhau nhưng vẫn được xem là thông nhau như chúng tôi đã giải thích ở trên Còn về vấn đề niêm luật vần đối chúng tôi xét thấy trong toàn bộ tập thơ ở tất cả các bài đều được niêm với nhau đúng luật và rất chặt chẽ chính vì lý do này mà chúng tôi không đi phân tích từng bài mà gộp chung lại để khẳng định và khái quát chung về niêm cho toàn tập thơ
Từ có hai âm đọc
Trong toàn bộ tập thơ “Mộng Dương tập” vấn đề về âm đọc Hán Việt ở từ có đến hai âm đọc khác nhau trong một bài thơ mà ta bắt gặp ở hai bài thơ đó là: Tạp hứng và
Bệnh trung ngẫu đắc Cùng một từ nhưng có đến hai âm đọc khác nhau, vậy việc lựa
chọn âm đọc nào cho phù hợp và cách đọc ở âm nào sẽ làm cho bài thơ thông nhau về vần