1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngôn ngữ văn xuôi hoàng cầm

56 261 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 199 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn xuôi của ông không cắm rễ vào một thể loại, đề tài nào cụ thể, mà đó thờng là những ghi chép, những nhận định, bình luận về những vấn đề mà ông tâm đắc, trăn trở, những ngời bạn mà ô

Trang 1

Trờng đại học vinh KHoa ngữ văn -

ngôn ngữ văn xuôi hoàng cầm

Khoá luận tốt nghiệp Đại học

Ngành Cử nhân S phạm Ngữ văn

Giáo viên hớng dẫn: TS Đặng Lu Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hơng

Lớp : 44A2 - Ngữ văn

Vinh -2007

Trang 2

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

Hoàng Cầm là một trong những cây bút xuất sắc của Văn học Việt Nam

hiện đại, một trong ít ngời mà sự nghiệp trải dài từ những ngày đầu hiện đạihóa văn học đến nay Trên các chặng đờng sáng tác, ông đã thử bút ở nhiều thểloại:Truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng tác (trớc cách mạng), kịch, thơ, vănxuôi…Ngời đời biết đến ông nh là một nhà thơ tài hoa của vùng Kinh Bắc với

Bên kia sông Đuống, Đêm liên hoan, Lá diêu bông…, một nhà viết kịch (trớc

và sau cách mạng) với những vở kịch thơ nổi tiếng một thời: Lên đờng, Kiều Loan, Hận Nam Quan…Song, Hoàng Cầm còn là một cây bút văn xuôi.

Văn xuôi của ông không cắm rễ vào một thể loại, đề tài nào cụ thể, mà

đó thờng là những ghi chép, những nhận định, bình luận về những vấn đề mà

ông tâm đắc, trăn trở, những ngời bạn mà ông yêu quý, có khi là những kỷniệm sâu sắc trên hành trình làm văn nghệ, công tác phục vụ kháng chiến,phục vụ nền văn nghệ dân tộc…Qua những trang viết đó, ta thấy một HoàngCầm không những độc đáo, hào hoa, tình tứ trong thơ, kịch, mà còn duyêndáng, độc đáo tài hoa trong văn xuôi

Thơ Hoàng Cầm đã trở thành đề tài nghiên cứu cho nhiều công trìnhkhoa học, là đối tợng nghiên cứu của nhiều nhà phê bình, của sinh viên,nghiên cứu sinh qua nhiều thế hệ Đặc biệt bài Bên kia sông Đuống đã đợc đa

vào trờng Trung học và đợc nhiều ngời yêu thích Kịch thơ của ông cũng đã

đ-ợc nghiên cứu ở một mức độ nhất định Nhng ở mảng văn xuôi, Hoàng Cầmvẫn cha đợc quan tâm nghiên cứu đúng mức

Yêu mến nhà thơ Hoàng Cầm, chúng tôi muốn đợc tìm hiểu một cáchtoàn diện hơn về sự nghiệp, về con đờng nghệ thuật, về những đóng góp củaHoàng Cầm cho nền văn học nớc nhà trên các lĩnh vực khác nhau Đề tài nàymong muốn qua việc khảo sát ngôn ngữ văn xuôi của Hoàng Cầm, sẽ đónggóp một phần nhỏ bé vào việc chiếm lĩnh, tìm hiểu cái hay cái đẹp của cây bútvăn xuôi Hoàng Cầm, đặt trong mối tơng quan với thơ ca – mảng sáng tác đã

đa Hoàng Cầm lên hàng những nhà thơ tên tuổi của dân tộc, dù những đónggóp của chúng tôi chỉ là ở dạng sơ đẳng nhất, có tính chất gợi mở

2 Lịch sử vấn đề

Trang 3

Trớc nay, văn xuôi Hoàng Cầm chủ yếu đợc đăng rải rác trên các tạpchí, các báo văn nghệ…, và hầu nh ít đợc giới nghiên cứu biết đến và quan tâm

nh là những sáng tác bằng ngôn từ mang tính nghệ thuật – những sáng tácvăn chơng mang tính độc lập của tác giả

Năm 1999, Nhà xuất bản văn học đã cho in cuốn Hoàng Cầm văn xuôi

với khoảng 1000 cuốn, tập hợp trong đó 25 tác phẩm Song ở đây các tác giảchỉ chọn lọc, cha phải là tất cả văn xuôi của Hoàng Cầm

Năm 2003, tuyển tập Hoàng Cầm lần lợt ra đời với ba quyển (Quyển 1:Thơ; Quyển 2: Kịch; Quyển 3: Văn xuôi) Lần này các tác giả cho in cả một

số sáng tác của Hoàng Cầm trớc cách mạng Đây là bộ sách đầu tiên tập hợp

t-ơng đối đầy đủ và bớc đầu có hệ thống các sáng tác của Hoàng Cầm, có sựtham gia của chính tác giả, với sự sửa chữa, nhuận sắc nhất định Tuy nhiên,phần văn xuôi vẫn cha đợc tập hợp đầy đủ và toàn diện, cha phải là tất cả vănxuôi Hoàng Cầm, mà chủ yếu là những bài viết vốn là những đoạn hồi ức củatác giả

Các tác phẩm văn xuôi Hoàng Cầm vẫn cha ra mắt bạn đọc một cách

đầy đủ

Các công trình nghiên cứu khoa học về văn xuôi Hoàng Cầm còn rất ít

và sơ lợc Mảng văn xuôi của ông hầu nh cha đợc quan tâm một cách thấu đáo

và toàn diện Qua tìm hiểu bớc đầu, chúng tôi mới chỉ biết đợc đôi dòng củaHoài Việt in trong bài Đến với Hoàng Cầm (trích trong cuốn Hoàng Cầm – Thơ văn và cuộc đời) và đợc chính Hoài Việt bổ sung, hoàn chỉnh (dựa trên

bài viết đó) trong lần in Hoàng Cầm văn xuôi Trong bài viết đó, Hoài Việt đã

nhận xét văn xuôi Hoàng Cầm trên những nét khái quát nhất, theo lối cảmnhận ấn tợng Và ấn tợng đầu tiên của ông về văn Hoàng Cầm là chữ “Tâm”

Đó là cái tâm đối với quê hơng, với ngời mẹ, với những “ngời trai ngời gái”Kinh Bắc, chữ tâm đối với bạn bè đồng nghiệp, đối với nghề viết văn, chữ tâm

đối với cuộc đời “Nhng ở đâu thì cũng với cái Tâm ấy, một cái Tâm mà những

ai quen biết anh nhiều, gần gũi anh lâu đều nhận thấy nó không gợn lên mộtchút gì ai oán dù đoạn đờng anh đi qua đầy sóng gió, chông gai” [16,tr 21]

Ngoài ra, cha thấy có bài nói thêm gì về văn xuôi Hoàng Cầm, đặc biệt

ở khía cạnh ngôn ngữ

ở đề tài này, chúng tôi mạnh dạn nêu ra một số nhận xét về đặc điểmngôn ngữ văn xuôi Hoàng Cầm qua khảo sát một số bài viết của ông (sau cáchmạng tháng Tám), dựa trên những t liệu mà chúng tôi có đợc (Hoàng Cầm

Trang 4

văn xuôi và khi cần, chúng tôi có tham khảo Hoàng Cầm tác phẩm Quyển

3) Mong muốn của chúng tôi là có thể đóng góp một số ý kiến nhằm hoàn

thiện hơn kiến thức về tác giả Hoàng Cầm trên nhiều phơng diện khác nhau,phục vụ cho việc giảng dạy tác giả Hoàng Cầm ở trờng Phổ thông cũng nhviệc nghiên cứu sự nghiệp sáng tác, những đóng góp của Hoàng Cầm trongnền văn học hiện đại và đơng đại nớc nhà

4.2 Đối tợng nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của khóa luận là đặc điểm ngôn ngữ trong vănxuôi của Hoàng Cầm

5 Nhiệm vụ của đề tài

- Tìm hiểu về ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ văn xuôi Hoàng Cầm

- Khảo sát, phân tích các tác phẩm văn xuôi Hoàng Cầm trên nhiều

ph-ơng diện để thấy đợc những đặc điểm về ngôn ngữ nghệ thuật nói chung vàngôn ngữ văn xuôi Hoàng Cầm nói riêng, trên các cấp độ ngôn ngữ

- Chỉ ra những nét riêng trong việc sử dụng ngôn ngữ của Hoàng Cầmtrong văn xuôi

6 Bố cục của khoá luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận đợc triển khai trong 3

ch-ơng

- Chơng 1: Một số vấn đề chung có liên quan đến đề tài.

Trang 5

- Ch¬ng 3: §Æc ®iÓm ng«n ng÷ nghÖ thuËt trong v¨n xu«i Hoµng CÇm.

Sau cïng lµ Tµi liÖu tham kh¶o.

Trang 6

Chơng 1

Một số vấn đề chung có liên quan đến đề tài

1.1 Văn xuôi và ngôn ngữ văn xuôi

1.1.1 Khái niệm văn xuôi

Trớc khi đi vào khái niệm, phải nói rằng sự phân loại văn học hiện tồntại nhiều hớng ý kiến khác nhau Sớm nhất nh Arixtốt cho là có ba loại: tự sự,trữ tình, kịch Đây cũng là chính kiến của nhiều học giả từ cổ đến kim TàoPhi (Trung Quốc) chỉ chia làm hai loại: thơ, văn xuôi Giáo trình Lý luận văn học do Phơng Lựu chủ biên chủ trơng văn học có 5 loại: tự sự, trữ tình, kịch,

ký, chính luận Tác giả Đinh Trọng Lạc lại chia văn bản nghệ thuật ra thànhthơ và văn xuôi Trớc thời kỳ cận đại, văn xuôi (thuật ngữ “prosa” gốc La tinh

đợc dùng ở châu Âu, các thuật ngữ “văn” trong sự phân biệt với “thơ”, “tảnvăn”… ở Trung Hoa và Đông á.v.v ) “thờng đợc dùng để gọi chung những tácphẩm chữ viết không mang tính nghệ thuật nh sử, triết, chính luận, thông tin,hành chính” [2, tr.314].Quan niệm đó đã quá xạ lạ

Các cách quan niệm nói trên tuy có những u điểm khác nhau, và đều dựavào tiêu chí phơng thức phản ánh đời sống, nhng chỉ mang tính chất tơng đối.Vì, văn học, trên thực tế, vô cùng phong phú về kiểu dạng

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đi theo hớng phân chia truyền thốngcủa các nhà lý luận văn học Trung Quốc Theo đó văn học có bốn kiểu loại:thơ, văn xuôi, tiểu thuyết và kịch Nh vậy, văn xuôi đợc nhìn nhận trong sựphân biệt với thơ, kịch và tiểu thuyết Theo cách phân chia này, ngoại diên củakhái niệm văn xuôi tơng đối rộng: bao gồm văn xuôi trữ tình, văn xuôi có cốttruyện nh du ký, tạp ký, phóng sự, truyện ký kết hợp trần thuật và bình luận

nh tạp văn, tiểu phẩm… Chúng đều ở dạng văn xuôi, có chất văn học, mang

đặc trng của ngôn ngữ nghệ thuật, khác với văn thông tấn, hành chính, thựcdụng thông thờng

Cách quan niệm văn xuôi nh vậy có nhợc điểm là phạm vi bao quátrộng, và tách tiểu thuyết ra thành một loại riêng biệt (trái với quan niệm thôngthờng tiểu thuyết là một thể loại, đặt trong loại tự sự) Nhng cũng chính vì vậy

mà nó nhấn mạnh đợc vai trò của tiểu thuyết - một trình độ cao của văn học,

và khẳng định vị trí của loại văn xuôi

Chúng tôi lựa chọn hớng quan niệm này vì nó phù hợp với phạm vi đềtài Đồng thời để thấy đợc sự phong phú về kiểu dạng của văn xuôi Hoàng

Trang 7

Cầm Cũng theo đó, nh đã nói ở phần mở đầu, những tiểu thuyết của HoàngCầm không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Nh vậy văn xuôi là một loại văn học “bao gồm toàn bộ các thể loại vănhọc không phải thơ ca, tiểu thuyết, kịch” [12, tr 350]

1.1.2 Đặc trng của ngôn ngữ văn xuôi

1.1.2.1 Khái niệm ngôn ngữ văn xuôi

Ngôn ngữ văn xuôi trớc hết là ngôn ngữ nghệ thuật, nên nó mang đầy đủ

đặc trng của ngôn ngữ nghệ thuật Đó là một thứ ngôn ngữ có tính cấu trúc, tính hình tợng, tính cá thể hóa, tính cụ thể hóa Tuy nhiên, với đặc trng thể

loại, ngôn ngữ văn xuôi có những điểm riêng Ngôn ngữ văn xuôi là ngôn ngữ

đa âm, đa thanh, đa giọng điệu Nó là một tổng thể phức hợp ngôn từ củanhiều vai, nhiều ngời khác nhau trong tác phẩm ở đó, tiếng nói của tác giả,của ngời kể chuyện, của nhân vật đan xen lẫn nhau với những hình thức phatrộn phức tạp Đó còn cha tính đến mỗi nhà văn có giọng điệu riêng không thể

có những mẫu số chung

Bàn về vấn đề này, M Bakhtin đã trình bày khá rõ trong cuốn Lý luận

và thi pháp tiểu thuyết Tuy ở đây M Bakhtin chuyên chú vào tiểu thuyết,

nh-ng với giá trị bao quát của cônh-ng trình lý luận này, ta có thể trừu xuất ra khánhiều luận điểm về ngôn ngữ văn xuôi

Theo ông, lời văn xuôi mang tính song điệu (song nghĩa) Lời thơ ca(theo nghĩa hẹp) tuy cũng mang tính chất song nghĩa nhng ở từng thể loại lạikhác Bởi từ ngữ thơ ca là từ chuyển nghĩa, nó đòi hỏi phải cảm thụ rõ ràng ởtrong nó hai nghĩa Tính song nghĩa (hay đa nghĩa) ở biểu tợng thơ ca khôngbao giờ dẫn đến tính song điệu của nó, mà luôn thoả mãn với một tiếng nói,một điệu thức, đó là tiếng nói của hình tợng tác giả Còn lời song điệu ở vănxuôi bao giờ cũng đợc đối thoại hoá từ bên trong ở chúng tiềm ẩn một cuộc

đối thoại dồn nén, tập trung của hai tiếng nói, hai thế giới quan, hai ngôn ngữ[3; tr.138-139]

Đào Thản trong sách Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật cũng

bàn đến vấn đề Đặc trng của ngôn ngữ nghệ thuật trong văn xuôi ở đó, ông

đã chỉ rõ ngôn ngữ văn xuôi trong sự phân biệt với thơ và sự phát triển đi lêncủa nó, đồng thời khẳng định: “Ngôn ngữ tiểu thuyết hiện đại thể hiện tậptrung nhất, đầy đủ nhất mọi biện pháp nghệ thuật của văn xuôi” [14, tr 197]

Trong tiến trình văn học nhân loại nói chung, văn xuôi bao giờ cũng ra

đời muộn hơn thơ ca Khi mà loài ngời đã đạt đợc trình độ văn minh nhất

Trang 8

định, và khi có đợc sự phát triển đầy đủ của ngôn ngữ, tạo điều kiện cho việchoàn thiện các phong cách chức năng, thì lúc bấy giờ, văn xuôi mới ra đờihoàn thiện hoá diện mạo văn học và bổ khuyết cho thơ ca trong việc phản ánhhiện thực khách quan, đời sống tâm hồn vô cùng rộng lớn, phức tạp.

Văn xuôi thời kì đầu là lối văn xuôi có tiết tấu, nhịp điệu, vần điệu và

có đối ngẫu chặt chẽ, có sự gọt giũa, trau chuốt văn chơng, xa lạ với lối nóihằng ngày (ví dụ: một câu của Tơng Phố trong Giọt lệ thu viết năm 1923 “…

Xuân qua hạ lại, cảnh tình đà chẳng khác chi đông, thu sang tâm sự lại dạtdào, thơng tâm gió đuổi mây chiều, lòng em man mác biết bao sầu tình!”) Lốivăn biền ngẫu nh vậy dần dần lỗi thời so với thị hiếu của công chúng Cùngvới xu hớng cách tân, hiện đại văn xuôi, câu văn xuôi hiện đại gần gũi với đờisống, hình thức cú pháp chặt chẽ hơn, thiên về chia nhỏ thành nhiều câu ngắn.Song câu văn dài vẫn xuất hiện nhiều, với kết cấu đa dạng Câu văn đợc pháttriển bằng các hình thức thành phần chêm xem, mở rộng đến mức tối đa cácthành phần phụ, nhịp điệu cũng phóng khoáng hơn, thể hiện dụng ý nghệ thuậtcủa nhà văn

Văn xuôi và thơ đều là ngôn ngữ nghệ thuật nên chúng mang chức năngthông báo thẩm mỹ và có những đặc trng chung Song ngôn ngữ thơ chủ yếumang tính chất trữ tình: thể hiện thái độ, tình cảm của tác giả đối với đối tợng

đợc phản ánh Trong khi đó, ở văn xuôi, ngôn ngữ mang tính chất tạo hình, cónhiệm vụ miêu tả một cách sống động, chân thực đối tợng phản ánh Ngônngữ văn xuôi không chỉ là phơng tiện miêu tả mà còn là đối tợng đợc miêu tả(vì bản thân nó có tính tạo hình) Văn xuôi hiện đại có xu hớng khắc hoạ đối t-ợng một cách chi tiết, đi vào khai thác chiều sâu của nó Nó có thể “đạt tới độchính xác lý tởng về mặt miêu tả” [14,tr 201] Làm nên điều đó là nhờ nănglực ngôn ngữ của ngời viết trong việc sử dụng “đội quân con chữ”, biến chúngthành những phơng tiện diễn đạt hữu dụng

Về cấu trúc hình thức, thơ chịu sự hạn chế nhất định về số lợng câu chữ,

về niêm luật, vần điệu, đòi hỏi phải cô đúc, hàm súc, gợi nhiều hơn tả Do vậy,trong thơ có sử dụng với mức độ cao các phơng tiện và biện pháp tu từ Còntrong văn xuôi, do không bị hạn chế về số lợng âm tiết, không bị khuôn vàonhững luật lệ, quy phạm hình thức, gò ép nên ngôn ngữ văn xuôi đa dạng hơn(về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp)

+ Ngữ âm: tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, có sự giàu có

và tự do về ngữ âm tạo cho tiếng Việt có nhịp điệu, tính nhạc Tính nhạc vốn

Trang 9

là đặc thù của thơ, song ở một số tác giả, nó còn thể hiện ở văn xuôi, khi mà

họ biết sử dụng, kết hợp các yếu tố ngữ âm cho câu văn, làm cho văn có âm ởng nhịp nhàng (các yếu tố tạo tính nhạc cho văn xuôi: sự đối lập giữa các yếu

h-tố ngữ âm trầm - bổng, khép - mở của nguyên âm; vang - tắc của phụ âm cuối;cao - thấp, bằng - trắc của thanh điệu, sự đan xen câu dài - câu ngắn, cáchngắt nhịp uyển chuyển, phù hợp với giọng điệu, sử dụng các dấu câu…)

+ Về từ vựng - ngữ nghĩa: sử dụng tất cả các lớp từ, các lớp ngữ nghĩakhác nhau (nghĩa tờng thuật, miêu tả…)

+ Về ngữ pháp: sử dụng đa dạng, linh hoạt các kiểu câu

Văn xuôi hiện đại có xu hớng xích gần lại với ngôn ngữ hàng ngày, đachất thơ vào trong văn xuôi, tiếp nhận nhiều yếu tố của ngôn ngữ thơ, làm nênnhững bài văn xuôi đậm chất thơ, những hiện tợng xuyên thấm lẫn nhau (nhvăn xuôi trữ tình) hoặc chứa đựng trong nhau những mảng văn “dị loại”

1.1.2.2 Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong ngôn ngữ văn xuôi

Là mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái đợc biểu đạt, do vậy, nó khônghoàn toàn là quan hệ 1 : 1 (có khi một nội dung tơng ứng nhiều hình thức vàngợc lại)

Cũng nh nhiều sự vật hiện tợng khác, trong ngôn ngữ văn xuôi, hìnhthức ngôn ngữ biểu thị nội dung, nội dung đặt trong một hình thức nhất định,

đó là mối quan hệ hoà hợp, hữu cơ và biện chứng “Nội dung chẳng phải là cáigì khác mà chính là chuyển hoá của hình thức vào nội dung, và hình thức cũngchẳng gì hơn là sự chuyển hoá của nội dung vào hình thức” (Hegel) Đókhông phải là quan hệ giữa cái bên trong và cái bên ngoài “Hình thức nghệthuật đợc hiểu đúng nghĩa không trình bày cái nội dung có sẵn, đã tìm thấy

mà lần đầu tiên cho phép tìm thấy, trông thấy cái nội dung ấy” (M.Bakhtin)

Nh vậy, ngôn ngữ nghệ thuật biểu đạt nội dung phải luôn đợc tìm tòi đổi mớisáng tạo

Trong văn xuôi của mình, Hoàng Cầm đã thể hiện rất linh hoạt mốiquan hệ này Những cảm xúc, suy nghĩ, cả những hồi tởng của ông đợc thểhiện bằng một hình thức giản dị nhng luôn luôn mới mẻ, bất ngờ Nội dungcũng không bao giờ là sự lặp lại tẻ nhạt, mà ở mỗi bài, ta đều thấy mangphong vị riêng, với một sức hấp dẫn riêng Có thể nói, ông luôn có ý thức tìmtòi thử nghiệm cho những thể hiện mới, là ngời luôn ý thức đợc sự vận động,

đắp đổi, phối kết hài hoà giữa nội dung và nghệ thuật

Trang 10

1.2 Vài nét về Hoàng Cầm và văn xuôi Hoàng Cầm

1.2.1 Tiểu sử và sự nghiệp của Hoàng Cầm

1.2.1.1 Tiểu sử

Hoàng Cầm (còn có những bút danh khác là: Lê Thái, Lê Kỳ Anh, BằngPhi), tên khai sinh là Bùi Tằng Việt (ghép chữ Tằng (tên làng Phúc Tằng) vàchữ Việt (tên huyện Việt Yên), tỉnh Bắc Giang) Ông sinh tháng 2 năm 1922(trong đêm 12 tháng Giêng, đêm trớc của hội Lim) Quê gốc ở thôn Lạc Thổ,xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh Đó là những cái tên gắn với mộtvùng Kinh Bắc giàu truyền thống văn hoá Và những cái tên ấy sẽ đợc nhắc

đến nhiều trong những tác phẩm của Hoàng Cầm, suốt hành trình làm vănnghệ Bởi tâm hồn thơ văn của Hoàng Cầm đã cắm rễ sâu bền vào trong truyềnthống quê hơng, chắt lọc lấy những mạch nguồn tinh tuý nhất, mà kết nụ đơmhoa

Bố của Hoàng Cầm là Bùi Văn Nguyên, một nhà nho nghèo có tinhthần chống Pháp, ông cũng theo đuổi con đờng khoa cử nhng không đỗ, ônglàm nghề dạy học và tham gia phong trào yêu nớc theo khuynh hớng dân chủ

Hoàng Cầm thừa hởng cái “gen” bác học của cha, và “gen” dân dã của

mẹ ở ông có cả chất kẻ sĩ lẫn chất huê tình

Từ 5 đến 12 tuổi ông sống với bố mẹ tại phố ga Nh Thiết ở đây mốitình Cây tam cúc, Lá diêu bông với ngời con gái tên “chị Vinh” ở cậu học trò

8 tuổi đã nảy nở

Từ 13 đến 16 tuổi Hoàng Cầm theo học cấp Thành chung ở trờng Cao

đẳng Tiểu học thị xã Bắc Ninh Thời gian này, Hoàng Cầm lại phát sinh mốitình với “chị Nghĩa” Kết quả của mối tình này là có 3 bài thơ đợc đăng báo.Còn hai chị Nghĩa, Vinh trở thành kỉ niệm đẹp, vẫn thờng đi về trong nhữngsáng tác sau này của Hoàng Cầm

Học xong bậc Thành chung, ông ra Hà Nội học hết bậc trung học (1938

- 1940), đỗ tú tài phần 1 Từ cuối 1939 ông say mê viết văn Theo Hoàng Cầm

Trang 11

tâm tự: từ đầu 1940 thì chính thức “ăn lơng” của nhà xuất bản Tân Dân của

Vũ Đình Long Ông gắn bó với nghiệp văn từ đó

Sau cách mạng tháng Tám, Hoàng Cầm tham gia thành lập ban kịch

Đông Phơng, và từ sau kháng chiến toàn quốc bùng nổ, đoàn kịch rút khỏi HàNội lu diễn ở các tỉnh phía Bắc Năm 1947, Hoàng Cầm và vợ là diễn viênTuyết Khanh tham gia Vệ quốc quân và thành lập Đội văn nghệ tuyên truyềnthuộc chiến khu Việt Bắc Từ 1952 ông làm đoàn trởng đoàn văn công Tổngcục chính trị quân đội, phục vụ bộ đội và nhân dân vùng kháng chiến

Đầu 1955, Hoàng Cầm đợc cử làm Trởng đoàn kịch nói quân đội.Tháng 4/1947 ông tham gia Đại hội thành lập Hội nhà văn Việt Nam, đợc bầuvào BCH (khoá I) của Hội, làm trong Ban giám đốc của Nhà xuất bản Hội nhàvăn

Nhng từ 1958, sau đợt học tập đấu tranh chống “Nhân văn giai phẩm”,Hoàng Cầm rút khỏi BCH Hội nhà văn, sống nh một ngời dân thờng

Từ 1988, cũng nh nhiều nhà văn khác, Hoàng Cầm đợc khôi phục t cáchhội viên Hội nhà văn Việt Nam, ông lại tiếp tục sáng tác, công bố, đăng tải tácphẩm Hoàng Cầm vinh dự đợc nhận giải thởng Nhà nớc của Hội nhà văn năm

2006 vừa qua

1.2.1.2 Sự nghiệp văn học

Trên hành trình sáng tạo miệt mài không nghỉ của mình, tuy có lúcthăng, lúc trầm do thời thế thay đổi (nhất là ảnh hởng của vụ “Nhân văn giaiphẩm” kéo dài hơn 30 năm), Hoàng Cầm đã thử sức trên nhiều thể loại, và ởthể tài nào ông cũng gây đợc những tiếng vang nhất định Song, Hoàng Cầm

đợc biết đến trớc hết và trên hết là một nhà thơ, bởi đây là lĩnh vực nổi bậtnhất của ông Ông đợc gọi là “Con chim có bộ lông vàng quen nhả giọng véovon”, “Tiếng tơ đồng giọt giọt rơi từ một cây đàn vàng”, hay “Chàng hoàng tử

đã nắm đợc bờm tóc Nàng Thơ mà băm nớc kiệu” Cách gọi nào cũng là sự u

ái cho một giọng thơ “oanh vàng đất Bắc”, một hồn thơ đằm thắm của vùngKinh Bắc huyền thoại cổ kính

Các tác phẩm chính (đã xuất bản):

Thơ: - Tiếng hát quan họ (in chung trong tập Cửa biển, 1956).

- Những niềm tin (dịch thơ Boualem Khanfa, Algérie, 1965).

- Men đá vàng (truyện thơ, 1989).

- Ma Thuận Thành (tập thơ 1991).

- Lá diêu bông (tập thơ 1993).

Trang 12

- Ông cụ Liêu (kịch nói, 1950, in 1951).

- Đêm Lào Cai (kịch nói 3 hồi, in 1957).

Văn: - Hận ngày xanh (phóng tác theo Lamartine, 1940).

-

Bông sen trắng (phóng tác theo Anderxen, 1940)

- Cây đèn thần (phóng tác theo Nghìn lẻ một đêm, 1941).

- Tỉnh giấc mơ vừa (phóng tác theo Nghìn lẻ một đêm, 1942).

- Mang xuống tuyền đài (phóng tác theo Nghìn lẻ một đêm, 1943).

- Thoi mộng (truyện vừa, 1941).

- Văn xuôi Hoàng Cầm (1999).

- Hoàng Cầm - tác phẩm (3 quyển, 2002).

Song đó cha phải là toàn bộ trớc tác của Hoàng Cầm Và cho đến nay,

ông vẫn tiếp tục sáng tác, cống hiến hết mình Những sáng tác về sau này củaHoàng Cầm có xu hớng thiên về văn xuôi Ông dự định sẽ cho ra mắt bạn đọcmột cuối hồi kí Độc giả chờ đợi những tác phẩm mới của Hoàng Cầm

1.2.2 Văn xuôi Hoàng Cầm

Nhìn chung, Hoàng Cầm viết văn xuôi không nhiều và cũng không có

đợc những thành công lớn nh ở thơ, kịch Song, cũng có thể khái quát văn xuôiHoàng Cầm trên một số nét sau đây:

1.2.2.1 Trớc cách mạng tháng Tám

Những tác phẩm đầu tay của Hoàng Cầm khi chập chững bớc vào chiếulàng văn thờng là những truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng tác theo hơi hớnglãng mạn chủ nghĩa nh: Khi lòng đã tắt (truyện ngắn), Thoi mộng (1941), Hận ngày xanh, Bông sen trắng (phóng tác) và một số vở kịch thơ (kịch: Hận Nam Quan, 1942; kịch thơ Kiều Loan, 1942…) Những tác phẩm này thể hiện niềm

tâm sự yêu nớc thầm kín của tác giả nên cũng chịu sự kiểm duyệt gắt gao củaThực dân Trừ một số vở kịch thơ, nhìn chung các tác phẩm văn xuôi của

Trang 13

Hoàng Cầm trớc cách mạng cha ghi đợc dấu ấn đậm nét Nh phần trên đã nói,

do khuôn khổ và thời lợng có hạn, chúng tôi không đi vào khảo sát các tácphẩm này

- 1988), Hoàng Cầm hầu nh không viết văn (chỉ có một “Lời dẫn cho Men đá vàng”, viết năm 1973) Còn thì mãi về sau này, nhất là từ đầu thập niên 90 của

thế kỷ XX, Hoàng Cầm mới viết trở lại và viết khá đều tay

Tổng hợp những bài viết trong Văn xuôi Hoàng Cầm thấy nổi lên những

vấn đề chính yếu qua các sáng tác văn xuôi của ông:

- Cảm hứng ngợi ca quê hơng Kinh Bắc với truyền thống văn hoá đậm

đà bản sắc (Nghĩ lan man về cái đình, sông Đuống bắt đầu từ đâu, Mở lối về cõi xa Kinh Bắc, Tám nhịp tuần du…).

- Những hồi ức về cuộc đời, về hành trình làm thơ, công tác, làm vănnghệ kháng chiến của Hoàng Cầm, về những con ngời mà ông đã gặp, nhữngnẻo đờng ông đã đi qua, những công việc mà ông đã làm cùng đồng đội (Lận

đận Kiều Loan, Sau giờ viễn khách đi, Thép gang hoà quyện tình ca, Ngày trở

về Hà Nội…) Những tác phẩm này thờng mang tính tự truyện, tự thuật về ngời

thật việc thật

- Những ghi chép, tâm sự về những ngời bạn nghệ sĩ mà ông tâm đắc(Hoàng Hng đi tìm mặt, Cuộc chơi tìm vô vọng, Núi xanh biển vắng…).

- Sự ngẫm suy, chiêm nghiệm, trăn trở của nhà văn về sự nghiệp, vềcuộc đời, về sự đổi thay của nhân tình thế thái (Đứa trẻ khóc nửa đêm, Hoả tốc- Thuỷ tốc, Ba lá th gầy, Th cuối năm gửi con gái ở Mỹ…).

- Sự hình tợng hoá, huyền thoại hoá thơ ca, nghệ thuật (Con gái Thi

V-ơng, Men đá vàng …) Đó là suy tởng về thơ, kịch, … địa hạt mà ông đau đáu

Trang 14

Nhận xét về văn xuôi Hoàng Cầm, có thể thấy trớc hết là nghĩa tình sâunặng đối với quê hơng, với cảnh và ngời Kinh Bắc; là tình cảm chân thành đốivới bạn bè, anh em, đồng chí, và đôi khi có cả một thế giới tâm linh Văn xuôicủa ông, dù viết dới dạng nào, ở đề tài gì, cũng đều đợc tuôn chảy ra từ mộttrái tim nóng bỏng yêu thơng, từ một tâm hồn đa cảm đa tình, nói nh HoàiViệt đó là “Những trái ngang cuộc tình xen lẫn trái ngang cuộc đời” Và đóchính là cái hấp dẫn chúng ta khi đọc văn xuôi của ông.

Văn xuôi Hoàng Cầm cũng là một thứ văn xuôi đẫm chất thơ Đó làdòng văn xuôi trữ tình mà mạch nguồn sẵn có từ trong văn Hoàng Cầm trớccách mạng, cùng dòng với văn xuôi Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh… Về điểm này,Hoài Việt có nhận xét: “Đọc rồi chợt hỏi: đây là văn xuôi hay thơ? vì đa phầnvăn xuôi Hoàng Cầm không phải loại “thơ văn xuôi” nhng bởi nghiệp dĩ màlại thành “văn xuôi - thơ” Không chỉ nó ngọt ngào mà còn có cái gì đó nh h

Trang 15

Chơng 2

Một số nét nổi bật trong thi pháp văn xuôi Hoàng Cầm

Về sự nghiệp thơ Hoàng Cầm, giáo s Hoàng Nh Mai nhận xét: “ThơHoàng Cầm hầu nh không bao giờ tìm tòi những kỹ xảo nghệ thuật cầu kỳ về

tu từ hoặc về cấu trúc Đọc thơ Hoàng Cầm, ta có cảm tởng nh nhà thơ đang đithẳng một mạch, một hơi, những lời thơ từ trái tim anh rót thẳng vào lòng ngời

đọc, không sắp xếp, không điểm trang, giống nh nớc suối khe đá tuôn ra, nhhoa mọc tự nhiên ngoài đồng nội Thơ anh mang sự nguyên trinh của tìnhcảm, không trải qua một sự chế biến nào, không thêm một chất phụ gia nào”

Cũng có thể nói nh vậy về Hoàng Cầm ở mảng văn xuôi

Nếu nh “Phong cách là con ngời” (Buffon), “Phong cách là sự lệchchuẩn”, “Phong cách cũng là chỗ đặc dị, nơi chứa đựng mật số của tác phẩmvăn chơng” (Đỗ Lai Thuý), thì cũng có thể khẳng định rằng, Hoàng Cầm đãxây dựng đợc cho mình một phong cách, một dấu ấn riêng trong văn xuôi, “đó

là chỗ cá nhân phân biệt mình với ngời khác, khẳng định mình nh một thựcthể duy nhất không lặp lại “ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất”” [15,tr 22]

Dấu ấn cá nhân của Hoàng Cầm đợc thể hiện trên nhiều phơng diệnkhác nhau, mà trớc hết phải nói tới vấn đề thời gian, không gian nghệ thuật –những yếu tố rất nổi bật trong thi pháp văn xuôi của nhà thơ xứ Kinh Bắc

Thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật là những dạng tồn tại đặctrng của tác phẩm, là phơng thức tồn tại của tác phẩm văn học mà thiếu nó,hình tợng nghệ thuật không thể nổi rõ Nói cách khác, đó là những phẩm chất

định tính quan trọng của hình tợng nghệ thuật, đảm bảo cho việc tiếp nhậntoàn vẹn thực tại nghệ thuật và tổ chức nên kết cấu của tác phẩm Thời gian,không gian nghệ thuật đợc tổ chức một cách dụng công sẽ trở thành điểm sángnghệ thuật cho tác phẩm, một hình tợng nghệ thuật độc đáo của tác phẩm vănhọc Nhng thời gian, không gian nghệ thuật không phải là thời gian khônggian địa lý, vật chất cụ thể mà đó là những yếu tố nghệ thuật mang tính chủquan và tính tợng trng cao Hoàng Cầm trong tác phẩm của mình đã xây dựng

đợc thời gian, không gian nghệ thuật đặc sắc

ở đây, chúng tôi không làm công việc tìm hiểu tất cả thời gian, khônggian mà các hình tợng thể hiện Chúng tôi chỉ muốn khám phá cách cảm nhận

Trang 16

thời gian, không gian nh là một đối tợng thẩm mỹ với những nét đặc trng riêng

có của Hoàng Cầm

2.1 Thời gian nghệ thuật

2.1.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật

Thời gian - theo triết học là hình thức (phơng thức) tồn tại của vật chất.Không một vật chất nào có thể tồn tại ngoài thời gian Mọi dạng của vật chất

đều có thời gian của mình Đó là thời gian vật chất, thời gian lịch sử - cụ thể,

có thể đo, đếm đợc, nó không phải là thời gian nghệ thuật

Thời gian nghệ thuật, không nh vậy, chỉ tồn tại trong tác phẩm văn học

Đó là “thời gian mà ta có thể thể nghiệm đợc trong tác phẩm nghệ thuật với độdài ngắn của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều thời gian là hiện tại,quá khứ hay tơng lai Thời gian nghệ thuật là hình tợng nghệ thuật, sản phẩmsáng tạo của tác giả bằng các phơng tiện nghệ thuật nhằm làm cho ngời thởngthức cảm nhận đợc: hoặc hồi hộp chờ đợi, hoặc thanh thản vô t, hoặc đắmchìm vào quá khứ Thiếu sự thụ cảm tởng của ngời đọc thì thời gian nghệthuật không xuất hiện” [13,tr 63]

Nh vậy, thời gian nghệ thuật không đơn thuần một chiều nh thời gianvật chất mà là thời gian đa chiều, đa hớng, nó cũng không có tính “một đikhông trở lại” mà tồn tại một cách cố định, do vậy có thể lật đi lật lại trongquá trình thụ cảm, có thể ngợc về quá khứ, có thể dồn nén một khoảng thờigian dài trong chốc lát, có thể kéo dài một khoảnh khắc để nó trở thành vô tận,cũng có thể hớng tới tơng lai xa xôi Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa:

thời gian nghệ thuật là “hình thức nội tại của hình tợng nghệ thuật thể hiệntính chỉnh thể của nó (…), một hình tợng ớc lệ, chỉ có trong thế giới nghệthuật” [6,tr 264]

N.Gây cho rằng: “Thời gian trong văn học không giản đơn là cái dungchứa các quá trình đời sống mà là một nội dung tích cực, một kẻ tham gia độclập vào hành động nghệ thuật, là một trong những phơng tiện hữu hiệu nhất để

tổ chức nội dung tác phẩm” (dẫn theo Trần Đình Sử) [13,tr 63]

Thời gian nghệ thuật phụ thuộc vào ý đồ chủ qua của nhà văn và gắnliền với tổ chức bên trong của hình tợng nghệ thuật, thể hiện ý thức sáng tạocủa nghệ thuật, của tác giả Do vậy, nó trở thành một trong những phạm trùquan trọng nhất của thi pháp học

2.1.2 Thời gian nghệ thuật trong văn xuôi Hoàng Cầm

Trang 17

Văn xuôi Hoàng Cầm cho thấy tác giả đã rất chú tâm xây dựng nhữnglớp thời gian khác nhau xuất phát từ những điểm nhìn nghệ thuật, lăng kínhkhác nhau, tạo thành hình tợng thời gian sống động đầy mê hoặc Khảo sátcác tác phẩm văn xuôi của ông, ta thấy có hai lớp thời gian chính, bao chứamọi hình tợng nghệ thuật khác, mọi bình diện thẩm mỹ khác.

2.1.2.1 Thời gian huyền thoại, thời gian lịch sử

Đây là lớp thời gian đợc xây dựng, h cấu nghệ thuật nhằm làm phông nềncho những câu chuyện diễm lệ trong quá khứ, đã lùi sâu vào dĩ vãng xa xămhoặc không có thật, thể hiện sự thụ cảm độc đáo của Hoàng Cầm về phơng thứctồn tại của tạo vật trong thế giới, một sự thụ cảm giàu màu sắc thần thoại, sử thi

ở Men đá vàng, đó là thời gian phi lịch sử, thời gian “vợt thời gian”,

không có thật “Bát Tràng Một tra hè không năm tháng”, “Đông Triều khôngnăm tháng, chỉ một màu xanh, nhiều cung bậc xanh, nhiều dáng vẻ xanh”,

“thôn Bát Tràng vẫn đi xuyên qua năm tháng”… Cụm từ “không năm tháng”lặp lại 8 lần trong bài nhấn mạnh ý nghĩa đó Các hình tợng nghệ thuật, cáctình tiết, sự kiện diễn ra trong thời gian cụ thể (ví dụ: “Ngời trai trẻ tìm đếnnơi Mặt trời đã xế chiều”, “Hôm qua tôi có sai con dâu sang nâng giấc cụ”,

“Ngủ lại đây đêm nay, nội ngày mai thế nào cô ấy cũng về”…) Nhng đó chỉ làlớp thời gian bên trong, thời gian sự kiện Còn tất cả đều đợc đặt trong thờigian phiếm định, h ảo “Không năm tháng”, “Xuyên qua năm tháng”, “Thuởấy”, “Rồi một sớm mai nào”… đó là hình tợng thời gian của tác phẩm Một

điều đặc biệt ở Men đá vàng là có nhiều tầng, lớp thời gian khác nhau cho một

chuỗi sự kiện Cứ bóc một lớp sự kiện thì có một thời gian, có vẻ bất hợp lý,nhng đó là thời gian huyền thoại, ớc lệ, thời gian trong tâm tởng nghệ thuật,phù hợp với cảm hứng ứng tác của tác giả

Ví dụ: Lớp thứ nhất: Chàng trai vào thôn, hỏi thăm một ông lão chống

gậy về cô Phong Kiều (thời gian cụ thể, xác định)

Lớp thứ hai: Ông lão trả lời: “ờ, ờ … cô Phong Kiều, hình nh lâu rồi, cụ

tứ đại nhà tôi có biết mặt”, một bà cụ tóc trắng nh cớc, ngồi bế đứa bé (con côPhong Kiều): “Cô Phong Kiều ? Hồi bà ngoại tôi đâu nh mới 18 tuổi, có làmphù dâu đa cô ấy về nhà chồng” (thời gian quá khứ xa)

Lớp thứ ba: “Hôm nọ cô ấy cũng đã nặn một cái vò” (thời gian quá khứgần)

Lớp thứ t: “Thuở ấy, Phong Kiều đi tìm chồng”, “Rồi một sớm mai nào,hai anh gặp…” (thời gian không xác định)

Trang 18

Rõ ràng, đó là những lớp thời gian phi lôgic, không tuần tự hợp lý Vàcàng đi sâu vào sự kiện, thời gian càng có vẻ mờ ảo, theo đó, tên nhân vậtcũng có vẻ h huyền h ảo: Phong Kiều, cụ Hồng Châu, anh Phù Du, cô Thơng

Lệ, … Thời gian h ảo, nhân vật h ảo, sự kiện h ảo Bởi tất cả rồi sẽ tan biến sauphút mơ màng rung động của ngời nghệ sĩ trớc màu men lý đắp nổi rồng ph-ợng: “Còn lại chỉ là cô tố nữ mơ màng, tay ôm cây đàn tranh, tạo những nétnổi chìm mê say và bí ẩn trên nền trời xanh thiên lý, màu thiên lý xa xa”

Thời gian h ảo ở Men đá vàng đã trở thành một phơng tiện đắc dụng

chuyên chở những ý đồ nghệ thuật của tác giả

ở Mở lối về cõi xa Kinh Bắc, ta bắt gặp cả thời gian huyền thoại và thời

gian lịch sử Nh ta đã biết ở cả thơ và văn xuôi, Hoàng Cầm đều thể hiện niềm

tự hào của mình về một quê hơng giàu truyền thống “Có đất trăm nghề có củatrăm vùng”, đó là vùng Kinh Bắc, mảnh đất địa linh nhân kiệt, mảnh đất củadân ca, văn thơ nhạc hoạ Cõi xa Kinh Bắc mở ra một lối về thời huyền sử:

Thời của Thánh Gióng đuổi giặc Ân, thời có chàng Trơng Chi bên dòng TiêuTơng “ngời thì thậm xấu hát thì thậm hay”, và thời nàng Mỵ Châu “trái timnhầm chỗ” với bài học cảnh giác cho cả dân tộc Và một lối khác về với lịch

sử ngàn xa với bao kỳ tích chiến công, cả những nỗi oan khiên lệch trời xô đất

mà sách sử hoặc còn ghi lại hoặc đã lãng quên, mà ngời lu giữ vững bền nhất

là dân gian Từ câu chuyện về một chú bé bị bỏ rơi trên chùa đến ông vua mở

đầu triều đại Lý Từ nàng công chúa Ngọc Hân tài sắc đến chuyện một goáphụ son trẻ làm thơ khóc chồng Từ chuyện một cô gái hai mơi tuổi đứng tựacây Lan bên cổng chùa Dâu đến chuyện một Thái hậu trị vì, đa đất nớc ra khỏinguy kịch, để tên tuổi trở thành huyền thoại Đến cả “nỗi oan ngất trời” củamột đại thần thời Lý là Lê Văn Thịnh Từ một thiền s đa đạo Phật vào chùacho đến khi nó hoà hợp với đạo Nho và đạo Lão thành tam giáo đồng nguyên

Đó là thời gian có thật, thời gian đợc lịch sử ghi nhận hoà quyện với thời gianhuyền sử của những câu chuyện, những truyền thuyết dân gian tạo thành lớpthời gian lung linh nửa thực nửa h đầy mê hoặc trong tác phẩm Hoàng Cầm

Thời gian nghệ thuật trong Nhớ lan man về cái đình cũng là thời gian

lịch sử, thời gian còn tồn tại trong các truyền thuyết, các phong tục, lễ hội Cókhi là thời gian không xác định: “Ngời Việt thời xa không thờ thần Mặt Trời

mà thờ Nớc và Trăng”, “Từ xa, ngời Việt vốn lấy âm dơng làm nguồn suy t về

lẽ sống”… Có khi là thời gian đợc xác định cụ thể “Từ thời nhà Lý, cái đìnhlàng đã trụ vững ở cả ba ngôi”, “Ví dụ nh thời chúa Trịnh, lệnh triều đình cho

Trang 19

quan về bắt lính”… Với thời gian đó, ngời đọc nh đợc sống trong những lễ hộisôi động thời xa xa của tổ tiên mình, mà lễ hội “đó là sự vi phạm cấm kỵ mộtcách trang nghiêm” (S Freud) ở đó ta đợc ăn trái cấm mà không bị trừngphạt

Thời gian huyền thoại, ảo thực còn thể hiện rõ nét trong Con gái Thi

V-ơng Bởi thực ra đó là một giấc mơ, là một “huyền thoại sau thơ Đ.N.A” nh tác

giả đã giải thích ngay từ đầu Mà câu chuyện về một giấc mơ có bao giờ cóthời gian, không gian xác định Do vậy mà “Xa, xa lắm, từ thủa hành tinh nàycòn hồng hoang”, “ấy vậy, Thi Vơng dìu con đi khắp không gian, đi suốt thờigian” Thời gian ảo giác ấy cũng chính là phơng tiện truyền tải những quanniệm, tâm t của tác giả về thơ ca, về nghiệp của mình

Thời gian lịch sử, huyền thoại đã góp phần tạo nên một không khí rấtriêng trong văn xuôi Hoàng Cầm Song chừng đó cha phải là tất cả, mà vănxuôi Hoàng Cầm còn có một lớp thời gian khác, không do h cấu mà là thờigian có thật, thời gian hồi tởng

2.1.2.2 Thời gian quá khứ đợc khúc xạ qua hoài niệm, trí nhớ và cảm quan của nhà văn

So với lớp thời gian đợc nói ở (2.1.2.1), thì lớp thời gian này chứa đựng

yếu tố đời thờng, thực tế hơn, bởi đó thờng là những dòng hồi tởng, hoài niệmcủa nhà văn về những con ngời, những sự việc, kỷ niệm về quãng đời đã qua

Có một bớc phát triển vợt bậc của văn học hiện đại là dùng ký ức củanhân vật nh là phơng thức để triển khai cốt truyện Điều này có ảnh hởng tớinhiều phơng diện trong đó có kết cấu tác phẩm (không theo trật tự tuyến tínhthông thờng mà theo diễn biến tâm lý, theo ý đồ chủ quan của ngời kểchuyện) Theo đó, tiến trình của thời gian cốt truyện đợc tổ chức bởi cơ chếtâm sinh lý của sự hồi tởng Nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa của tahiện nay đi theo hớng này và văn xuôi Hoàng Cầm cũng vậy Đó cũng chính làcơ sở tâm lý cho cách viết của thể loại hồi ký

Nói điều đó để thấy rằng, văn xuôi Hoàng Cầm, nhiều bài đợc kết cấutheo cơ chế của sự hồi tởng (của chính tác giả), mang tính tự thuật cao, và thờigian nghệ thuật ở đó cũng là thời gian quá khứ có thật, ngời đọc có thể dễ hìnhdung, dễ chiếm lĩnh hơn lớp thời gian trên Các bài Sau giờ viễn khách đi, Lận

đận Kiều Loan, Thép gang hoà quyện tình ca… ghi lại “Những năm tháng

không thể nào quên”, thời kỳ làm văn nghệ phục vụ kháng chiến bên các đồngchí, đồng nghiệp của mình, những vui buồn trăn trở giữa cuộc sống đời th-

Trang 20

ờng… Tất cả đúc kết lại thành những dòng hồi tởng Sông Đuống bắt nguồn từ

đâu, Cái gì thúc đẩy thơ nặng trĩu suy t.

Bài Cái gì thúc đẩy thơ kể chuyện Văn Cao và quá trình viết trờng ca Những ngời trên cửa biển hồi tháng 5/1956, hay Thép gang hoà quyện tình ca

kể chuyện đoàn văn công quân đội của ông với màn biểu diễn mừng côngchiến thắng Điện Biên Phủ xen chuyện về ngời anh hùng Nguyễn Chí Thanh.Ngay đến mẩu chuyện nhỏ Hoả tốc - Thuỷ tốc kể chuyện một em giao liên

đến gặp Bác Hồ, cũng là chuyện trong quá khứ, tác giả viết theo lời kể củachiến sĩ liên lạc viên Nguyễn Dũng Đó là những sự kiện của qúa khứ đợckhúc xạ qua cảm quan thời đại của tác giả

Trong 25 bài khảo sát trong cuốn Hoàng Cầm văn xuôi, có 18 bài thuộc

lớp thời gian này, chiếm 72%; 4 bài thời gian huyền thoại lịch sử, chiếm 16%;

3 bài thuộc thời gian hiện tại, chiếm 12% Tuy nhiên, trong 3 bài đợc nói đến

ở hàng ba trên đây đã có 2 bài mang hình thức viết th Do vậy, có thể khẳng

định rằng, thời gian hiện tại không phải là lớp thời gian nổi nét trong văn xuôiHoàng Cầm, ngợc lại, thời gian quá khứ, hồi tởng vẫn là lớp thời gian chủ đạo,

nó tạo nên giọng điệu hồi ký, âm hởng hoài niệm xuyên suốt mảng văn xuôiHoàng Cầm

2.2 Không gian nghệ thuật

2.2.1 Khái niệm không gian nghệ thuật

Cũng nh thời gian nghệ thuât, không gian nghệ thuật là một trong haihình thức (phơng thức) tồn tại của thế giới nghệ thuật, là “ hình thức bên trongcủa hình tợng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó” [6, tr.134] Các hìnhtợng trong tác phẩm không thể bóc tách, trừu xuất khỏi không gian nghệ thuật,ngợc lại, phải đợc diễn đạt, miêu tả dới một góc nhìn, một nhãn quan, mộtphông nền nào đó, đó chính là không gian trong tác phẩm Không gian nàycũng không trùng với không gian vật chất, địa lý, mà thông qua lăng kính chủquan của nhà văn, là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, nên nó mang tính độc lậptơng đối: có thể đợc kéo dãn ra hay co lại, có thể rộng - hẹp, dài - ngắn, xa -gần, cao - thấp tuỳ theo nhãn quan của ngời viết, có ảnh hởng tới sự thụ cảmcủa ngời đọc Cũng bởi nó thể hiện quá trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn,nên nó là một trong những phạm trù của thi pháp học

Trần Đình Sử trong Dẫn luận thi pháp học khẳng định: “Nhờ có điểm

nhìn của chủ thể mà không gian có chiều cao - thấp, xa - gần, rộng - hẹp…

Trang 21

Không gian nghệ thuật là hình tợng không gian có tính chủ quan và tợng trng(…) Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của ngời nghệ sĩ nhằm biểuhiện con ngời và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống, do đó khôngthể quy nó về không gian vật lí, vật chất” [13 ,tr 89] Một không gian chỉ cóthể trở thành không gian nghệ thuật khi nó biểu hiện “mô hình thế giới củacon ngời”, nghĩa là nó thể hiện thái độ, quan điểm, cách nhìn của con ngời vềthế giới khách quan “Không gian nghệ thuật chẳng những cho ta thấy cấutrúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tợng trng, mà còn cho thấyquan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn vănhọc” [13, tr 135]

Cùng với thời gian, không gian nghệ thuật làm thành những hình tợngsống động trong tác phẩm văn học Đó có thể là một góc sân, một bến sông,một khu phố, một cảnh “chiều hôm”, một buổi bình minh, hay một chiến tr-ờng, một làng quê, cả xã hội

2.2.2 Không gian nghệ thuật trong văn xuôi Hoàng Cầm

Không gian nghệ thuật trong văn xuôi Hoàng Cầm cũng không nhấtquán ở một điểm nhìn, một vùng cụ thể nào, mà do tính đa dạng của chủ đề,loại hình loại thể, không gian nghệ thuật văn xuôi Hoàng Cầm có thể tạm chiathành 3 “vùng” khác nhau

2.2.2.1 Không gian Kinh Bắc

Trong mỗi con ngời đều có một quê hơng để đi về Với Hoàng Cầm, đóchính là chốn Kinh Bắc Kinh Bắc, vùng đất ngàn năm văn vật, nơi phát nguồncủa những làn điệu dân ca mợt mà đằm thắm, những truyền thuyết diễm lệ,những ông Trạng, bà Chúa, những tháp, những chùa Hoàng Cầm là ngời có ântình sâu nặng với quê hơng Ông từng đợc biết đến là nhà thơ của quê hơngKinh Bắc: “Cúi lạy mẹ, con trở về Kinh Bắc” Kinh Bắc hiện lên trong thơ ôngvới “Xanh xanh bãi mía bờ dâu / Ngô khoai biêng biếc”, với Cỏ Bồng Thi, Cây tam cúc, Lá diêu bông Trong văn xuôi, không gian Kinh Bắc cũng trở đi

trở lại nhiều lần nh một ám ảnh nghệ thuật của nhà văn Đó là một vùngkhông gian cổ kính trang nghiêm với những đền đài, miếu mạo, sông hồ, gò

đồi, những lễ hội, phong tục, những cảnh, những ngời Đọc những bài nh Nhớ lan man về cái đình, Mở lối về cõi xa Kinh Bắc, Sông Đuống bắt nguồn từ

đâu, Tám nhịp tuần du sẽ thấy tâm hồn ông gắn liền với quê hơng nh thế

nào Có khi Kinh Bắc xuất hiện trong hồi tởng về câu chuyện làm thơ: “Tôi

đang lan man nhớ nhà, nhớ cái làng Lạc Thổ cổ kính của tôi, cả cái xóm Đông

Trang 22

Hồ với những cô gái quết từng lớp điệp trắng ngà lên giấy làng Bởi để in tranh

gà lợn” và “Một lúc lâu thì những hình ảnh rõ nét nhất hiện lên bức vách, cứ

nh quay vòng nhờng chỗ cho nhau Quanh khuôn mặt dầu dãi của mẹ tôi, cócái bộ mặt khác nh đậu chênh vênh vào đấy: vợ tôi, các con tôi Rồi thời gian

nh đẩy lùi các hình ảnh, âm thanh về một quá khứ xa rất xa, có lẽ về thờiLuy Lâu, về thời Lý, Trần” (Sông Đuống bắt nguồn từ đâu) Có khi nó gắn liền

với cái đình - biểu tợng đầy đủ nhất cho văn hoá truyền thống làng quê “Qua

đình cách chừng mơi mặt ruộng, hé chếch cái nón, nhìn nghiêng lên mái đình,lim dim mắt một chút sẽ thấy mặt biển lăn tăn sóng nâu hồng và đờng chântrời cong cong có hai con rồng chầu mặt nguyệt” (Nhớ lan man về cái đình).

Có khi nó thu hẹp trong không gian lễ hội, mà lễ hội là “khoảnh khắc hội ngộcủa con ngời với thời xa xa của tổ tiên” (Đỗ Lai Thuý) Nhắc đến lễ hội nhàvăn không quên hình ảnh chiếc váy lụa Đình Bảng: “Khi mẹ tôi mặc chiếc váylụa kiểu Đình Bảng, mép váy buông chùng cửa võng xuống đến mu bàn chân,

ai trông thấy phía trớc mặt đều tởng nh ngời con gái này đang đi trên sóng rậprờn” (Tám nhịp tuần du).

Về không gian Kinh Bắc trong văn xuôi Hoàng Cầm, Hoài Việt có nhậnxét: “Tôi đã bắt gặp để theo dấu những giọt máu hồng nhỏ từ trái tim yêumến đến mê đắm quê hơng của Hoàng Cầm mà ôm ghì lấy những cảnh, nhữngngời của Kinh Bắc cổ kính” [16, tr 17] Lang thang qua những trang văn củaHoàng Cầm, ta bắt gặp những sông Cầu, sông Đuống “nằm nghiêng nghiêng”,những chùa Dâu, chùa Bút Tháp, làng tranh Đông Hồ những hội hè, nhữngphong tục Địa linh tất phải sinh ra nhân kiệt, “trai Cầu Vồng Yên Thế, gáiNội Duệ, cầu Lim”, trong Mở lối về cõi xa Kinh Bắc, Hoàng Cầm say sa kể về

những trai thanh, gái lịch quê mình: Thái s Lê Văn Thịnh, vị vua đầu triều LýCông Uẩn, cô gái hái chè Đặng Thị Huệ với tiếng hát làm nghiêng nớcnghiêng thành, sụp đổ cơ đồ chúa Trịnh, cô gái tựa cây Lan bên cổng chùaDâu quyến rũ một Lý Thánh Tông tài trí, và cả nàng công chúa Mỵ Châu “tráitim nhầm chỗ” với nỗi oan lệch trời xô đất Bao nhiêu cảnh, bao nhiêu ngời,nhng hình ảnh đọng lại trọn vẹn nhất, sâu nặng nhất là hình ảnh ngời mẹ, hiệnthân đầy đủ nhất của quê hơng: “Nói đến quê hơng phải bắt đầu từ ngời mẹ

Mẹ là hiện thân trọn vẹn nhất, sinh động nhất của quê hơng” (Tám nhịp tuần du) Ân tình sâu nặng đó chính là ngọn nguồn cho không gian Kinh Bắc trở

thành một hình tợng nghệ thuật trong văn xuôi Hoàng Cầm

2.2.2.2 Không gian hoài niệm

Trang 23

Nh đã nói ở phần trên, trong văn xuôi Hoàng Cầm có tới hơn 70% bàiviết về thời gian quá khứ, giọng điệu hồi kí đóng vai trò chủ đạo Cho nên,không gian bao trùm trong các tác phẩm của ông là không gian hoài niệm Đó

là không gian hữu hình, có thật, ít h cấu, với những địa danh, những vùng đấtnơi tác giả sinh sống, đi qua, hầu hết đã lùi xa vào quá khứ, đợc hồi tởng vàkhúc xạ qua cảm quan của nhà văn

Theo đó, vùng không gian này không thuần nhất ở một địa điểm, mộtnơi cố định, cũng không phải là không gian tĩnh, mà không gian nghệ thuật đóluôn luôn đợc mở ra, luôn luôn vận động, ở nhiều nơi, nhiều thời điểm khácnhau Đó có thể là không gian sống động đèn nến sân khấu trong Lận đận Kiều Loan những ngày chịu sự cấm đoán, kiểm soát của giặc Pháp Cũng là

không gian sâu khấu nhng từng bừng chiến thắng và thoải mái tranh luận về ýnghĩa của màn dân ca quan họ trong Thép gang hoà quyện tình ca để lại d âm

trong lòng tác giả: ‘Gió chiều, nồm nam thổi mạnh hơn Trời xanh, mây trắngbay tới tấp Lá cờ Hội Đình càng gặp gió, càng lay động, nhịp nhàng vớinhững niềm rung cảm mới mẻ trong lòng tôi lúc bấy giờ” Qua những trangvăn của Hoàng Cầm, ta gặp không gian núi rừng khi tác giả cùng đoàn vănnghệ theo chân bộ đội, phục vụ kháng chiến: “Một chiều hè rất đẹp trời Rừngthì rất xanh, trời rất trong và mây rất trắng”, “Ngồi uống trà, hút thuốc lào vặttrong cái nhà thoáng mát vào một đêm trăng bàng bạc trên núi rừng Việt Bắc,tôi bắt đầu có cảm tình với Tử Phác” (Múa sạp thấu lòng Tử Phác) Không

gian một vùng quê nơi chôn rau cắt rốn: “Nhà tôi ở vào một phố nhỏ lại lùi títvào phía trong, nên tiếng xe cộ tha thớt ngoài đờng cũng không lọt vào tai”(Tám nhịp tuần du) Không gian đồng quê một chiều đông chỉ còn trơ cuống

rạ, chị em chơi trò đố lá “Em hoàn toàn vẫn là em 12 tuổi đang theo chị và chịvẫn đang tuổi 20 ngoài cánh đồng chiều làng Nh Thiết ấy, chị vẫn trẻ đẹp diệukì chị ơi!” (Tám nhịp tuần du) -

Không gian quá khứ, hoài niệm trở về trong tâm t Hoàng Cầm bao giờcũng gắn với những tâm sự, những băn khoăn trăn trở về cuộc đời, về tình ng-

ời, về nghiệp văn thơ, về những ngời bạn, anh em mà ông tâm đắc, trăn trở.Những bài viết này của Hoàng Cầm mang nhiều tính chất hồi ký, tác giả dừnglại ở việc xây dựng những sự thật đời sống cá biệt một cách sinh động, chứkhông nhằm xây dựng các hình tợng văn học mang tính khái quát Do vậy,không gian nghệ thuật cũng là không gian có thật, rất ít h cấu Cái làm nên

Trang 24

hấp dẫn của tác phẩm chính là việc tôn trọng sự thật khách quan và những suytởng mang tầm khái quát của tác giả

2.2.2.3 Không gian huyền thoại, h ảo

Ngời ta từng nói tới không gian h ảo, nghiêng lệch, vĩnh hằng trong thơHoàng Cầm Trong văn xuôi, ở nhiều bài nh Men đá vàng, Con gái Thi Vơng

chúng ta cũng gặp một hình tợng không gian huyền thoại h ảo, phân giới ở

đó ôm chứa, nuôi dỡng những cảnh, những ngời nh h nh thực Chúng tôi tạmgọi đó là “khí quyển văn Hoàng Cầm”, bởi có những biểu tợng chỉ có ý nghĩakhi đặt trong bầu khí quyển ấy

Ví dụ: bài Men đá vàng dẫn ta bay chập chờn trong một thế giới khác,

một thế giới ảo huyền, phiêu bồng, h thực Có khi đó là một địa danh cụ thể,xác định: “Thôn Bát Tràng, tả ngạn Hồng Hà, từ kinh kỳ sang phía Đông,chừng mời dặm” Không gian thu hẹp trong một cổng nhà: “Ngời trai trẻ tìm

đến nơi Mặt trời đã xế chiều Trớc cổng đá xanh, đúng cái cổng đá xanh đội

trên đầu bốn cô tố nữ ấy, có một bà cụ tóc trắng nh cớc, ngồi bế trong lòng

một cháu bé đang ngủ” Xen lẫn không gian cụ thể xác định ấy, có khi khônggian lại đợc mở đến vô tận: “Nhiều hớng lắm Bắt đầu từ phía kinh kì, rồi lênhớng Bắc, rẽ sang hớng Tây rừng sâu núi thẳm, rồi Tây Nam, Đông Nam, rồibiển Đông bát ngát Cũng gần thôi, cứ cho là vào khoảng vài ba trăm hay haymột nghìn năm, cụ sẽ tìm thấy con, mời anh ở lại đây với tôi, chờ cụ”

ở Men đá vàng ranh giới giữa không gian thực và không gian ảo nhiều

khi nhập nhoà, hoà trộn: “Tất cả vẫn thực, kia vẫn cụ Hồng Châu tay vuốtdáng bình, vẫn anh Phù Du làm bột gây men, vẫn bà cụ bế cháu cùng anhchuyện trò chiều ấy (…) Nắng Bát Tràng đang vàng sẫm da cam bỗng ngả vềcõi xanh huyền diệu của những đêm trăng thu Kinh Bắc (…) Còn lại chỉ làmột cô tố nữ mơ màng, tay ôm cây đàn tranh, tạo những nét nổi chìm mê say

và bí ẩn trên nền trời xanh thiên lý, màu thiên lý xa xa”

Nhận vật trong Men đá vàng sống trong một không gian và một thời

gian không xác định Vì vậy mà nàng Phong Kiều trẻ mãi không già, cụ HồngChâu muôn đời vẫn là nghệ nhân tạo dáng bình gốm bằng những thứ men quý,làm giàu làm đẹp cho quê hơng

ở Con gái Thi Vơng tác giả xây dựng thành một huyền thoại diễm lệ,

một huyền thoại về thơ, hay nói đúng hơn là sự hình tợng hoá quan điểm củaHoàng Cầm về thơ và bản chất của thơ Không gian ở đó bao gồm cả cõi ngời,cõi trời, cõi thứ ba là cõi nghệ thuật

Trang 25

“Xa, xa lắm, từ thuở hành tinh này còn hồng hoang, sau cơn đại hồngthuỷ có đôi ba thi vơng ăn ở với đôi ba thi vơng nữ vô danh, sinh đợc mộtmảnh con gái - Thâu góp hết những gì là Tình yêu ở cõi ngời đúc thành trái

tim cô gái, hái lợm hết những gì là Xót thơng ở cõi ngời nhào quyện thành đôi

mắt cô gái Dệt may cho cô bô xiêm áo tên là Khổ cực Cắt khâu cho cô đôi

yếm uốn lợn vân đen tên là Cay đắng Xót xa…” Thần Kama trong thần thoại

ấn Độ cũng ra đời từ sự góp nhặt những thanh sắc của cuộc đời nh vậy Đóchính là “Nàng công chúa sầu bạc tóc trong cõi Chân Nh vô thuỷ vô chung”,

là con gái rất nhỏ dại rất thơng yêu của Chòm Thi Vơng vô ảnh vô cùng

Sáng tạo ra một “khí quyển văn” ảo mờ nh vậy là nét riêng trong thipháp văn xuôi Hoàng Cầm Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn họcbao giờ cũng xuất phát từ điểm nhìn nghệ thuật của nhà văn Điểm nhìn nghệthuật của Hoàng Cầm ở bài này là điểm nhìn huyền thoại, tâm linh Trongnhiều bài viết, Hoàng Cầm đã kể chuyện mình với thế giới tâm linh, “tôi cảmthấy rành rọt một hình ảnh Hoàng Cầm trong góc riêng tâm t trôi dạt về phía

đó, vì vậy mà anh có đợc những bài viết hấp dẫn” [16, tr 22] Chính trong Con gái Thi Vơng Hoàng Cầm cũng khẳng định không gian h huyền ấy: “Lại bởi vì

huyền thoại vốn dĩ đã là ảo giác mà lại rất có thật, cầm đợc tận tay, lay đợc tậnmắt trong đời sống tâm linh của mỗi ngời”

Nh vậy, về thời gian và không gian nghệ thuật, bên cạnh lớp thời gianlịch sử cụ thể, và không gian xác định, có thật, Hoàng Cầm đã sáng tạo ra lớpthời gian và vùng không gian riêng trong văn xuôi của mình, đó là thời gian vàkhông gian huyền thoại, h ảo, một bầu khí quyển đặc biệt bao bọc những hìnhtợng nghệ thuật đầy cám dỗ mê hoặc, làm nên sự “lạ hoá” trong thi pháp vănxuôi Hoàng Cầm, và Hoài Việt đã có lí khi nhận xét: “ít có bài hay nh thếtrong loại văn này ở nớc ta” [16, tr 22]

2.3 Giọng điệu

2.3.1 Khái niệm giọng điệu

Đọc một tác phẩm văn học, điều dễ nhận ra nhất là giọng điệu tácphẩm Đó cũng chính là cái phân biệt tác giả này với tác giả khác, là mộttrong những yếu tố quan trọng khu biệt phong cách tác giả Vậy giọng điệu là

“thái độ, tình cảm, lập trờng t tởng, đạo đức của nhà văn đối với những hiện ợng miêu tả, thể hiện trong lời văn quy định cách xng hô, gọi tên, dùng từ, sắc

Trang 26

t-điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi cahay châm biếm” [6, tr 111].

Trong Dẫn luận thi pháp học, khái niệm này đợc Trần Đình Sử định

nghĩa: “Giọng điệu là yếu tố đặc trng của hình tợng tác giả trong tác phẩm.Nếu nh trong đời sống ta thờng chỉ nghe giọng nói là nhận ra con ngời, thìtrong văn học cũng vậy Giọng điệu giúp ta nhận ra tác giả Có điều giọng

điệu ở đây không đơn giản là một tín hiệu âm thanh có âm sắc đặc thù để nhận

ra ngời nói, mà là một giọng điệu mang nội dung tình cảm, thái độ ứng xử trớccác hiện tợng đời sống” [13, tr 111]

Giọng điệu là một hình thái hoạt động ngôn ngữ mang ý nghĩa thẩm

mỹ, giúp nhà văn xây dựng những hình tợng văn học, tái hiện những lời nói vàthế giới tinh thần của con ngời Giọng điệu ở mỗi tác giả thờng khác nhau vàtrong các tác phẩm khác nhau của cùng một tác giả cũng không giống nhau,bởi vậy giọng điệu thờng gắn liền với cảm hứng sáng tác Giọng điệu ngợi ca

sẽ gắn với cảm hứng ngợi ca Cảm hứng phê phán giễu nhại sẽ cho một giọng

điệu phê phán giễu nhại Đồng thời nhà văn cũng sẽ sử dụng một hệ thống cácphơng tiện tu từ nghệ thuật để thể hiện giọng điệu đó một cách phù hợp, hữuhiệu nhất “Nếu tác giả không tạo ra đợc một tiếng nói riêng thì ngời ấy sẽkhông bao giờ là nhà văn cả” (Chêkhốp) Điều đó cho thấy ý nghĩa quan trọngcủa giọng điệu trong toàn bộ kết cấu tác phẩm, trong phong cách nghệ thuậtcủa từng nhà văn Nó làm nên cái “tôi” riêng của tác giả trong sáng tạo nghệthuật

2.3.2 Giọng điệu văn xuôi Hoàng Cầm

M Khrápchencô có nói: “Hệ số tình cảm của lời văn… đợc biểu hiện

tr-ớc hết ở giọng điệu cơ bản” (dẫn theo Trần Đình Sử) [13, tr 111] Song “giọng

điệu cơ bản” trong những tác phẩm văn học có giá trị không có nghĩa là mộtgiọng điệu, mà là một thể thống nhất của nhiều giọng điệu đa dạng, nhiều sắcthái, trên cơ sở một giọng điệu cơ bản, chủ đạo là thứ giọng “chủ âm” Giọng

điệu trong tác phẩm gắn liền với giọng “trời phú” của mỗi tác giả, nhng có sứckhái quát nghệ thuật, và phù hợp với đối tợng nghệ thuật Thi pháp văn xuôiHoàng Cầm xét từ góc độ giọng điệu trên tinh thần cơ bản ấy, có thể thấygiọng điệu văn xuôi Hoàng Cầm nổi bật ở những nét sau:

2.3.2.1 Giọng kể chuyện, tâm sự, tự thuật

Đa số văn xuôi Hoàng Cầm là những trang hồi ký cuộc đời với nhữngthăng trầm, chiến tranh, hoà bình, vinh quang, oan nghiệt, trớ trêu, những cảm

Trang 27

nghĩ về bạn bè anh em nghệ sĩ đã đi qua cuộc đời ông, ngời còn, ngời mất.Giọng văn theo đó mà gần gũi, nhẹ nhàng, đằm thắm, lắng sâu, dễ đi vào lòngngời nh lời tâm tình thủ thỉ của một ngời bạn quen lâu.

Hãy nghe ông nói về cái “nỗi niềm thơ” của Hoàng Hng: “Khổ! Conngời ấy rời ghế nhà trờng, bớc vào đời đã tự nguyện chấp nhận sóng gió cơ

mà ừ, thì đấy, cứ tung lên quật xuống đi! Chấp nhận rồi mà nào đợc yên thânlàm một chiếc lá rách! (…) Khốn khổ! Lại đeo đẳng cái nghiệp thơ quái ác…”(Hoàng Hng đi tìm mặt) mà nh nói gan ruột của mình Có lẽ đó là tâm sự của

những ngời cùng nghiệp dĩ, đồng bệnh tơng liên, đồng thanh tơng khí Haykhi tác giả kể về tâm trạng lo âu thấp thỏm của mình khi nghe tin quê hơng bịgiặc dày xéo: “Tôi càng nghe bụng dạ càng cồn cào xáo động Có lúc hình nhtôi muốn bật khóc, có lúc ngồi nghe mà cứ run lên vì căm giận và thơng cảm,

có lúc ngời tôi choáng váng suýt ngã” (Sông Đuống bắt nguồn từ đâu).

Giọng văn khi viết về tình cảm đối với quê hơng cũng ngọt ngào, vang

và sang nh giọng ngâm của ông Bởi chảy trong huyết quản Hoàng Cầm làdòng máu Kinh Bắc, là giọng đầy chất huê tinh của những bà Chúa ngày xa,

“pha chút đoạn trờng của một đời lận đận cộng với những thăng trầm cuộc đời

và dạn dày ý nghĩa” của Hoàng Cầm mà thành quả đúng là “họ đã truyềngiọng điệu của mình cho con tập nói”, làm nên giọng điệu văn xuôi HoàngCầm

2.3.2.2 Giọng nửa trực tiếp, giọng trần thuật kết hợp giọng trích dẫn

Đây là giọng điệu khá phổ biến trong văn xuôi Hoàng Cầm ở nhiều bàiviết, ông đã phối hợp nhịp nhàng giọng kể chuyện, trần thuật, tự sự với lờitrích dẫn, có khi là trích dẫn nửa trực tiếp, làm nên sự nhịp nhàng, duyên dángcho lời văn

Ví dụ: Giọng kể đang bình thờng Hoàng Cầm xen lẫn dân ca: “Cô gái

vắng chồng trằn trọc thâu đêm với nửa chăn, nửa chiếu, nửa giờng để đó chờ ai”, nghe mềm mại uyển chuyển nh những làn điệu quan họ quê hơng.

Trong Hoàng Hng đi tìm mặt và một số bài giới thiệu thơ của các nhà

thơ, Hoàng Cầm sử dụng khá dày đặc giọng nửa trực tiếp này: “…nh con chó

đen trong đêm gừ gừ, âm ẩm sùng sục cái:

Nỗi ngứa ngáy tiền kiếp Phát điên vì không nói đợc”

Trang 28

Hoặc: “Em bé tuy lo nhng cũng hơi yên tầm vì “Bác đã bảo thế, chắccông việc này cũng không đến nỗi gấp lắm nh anh trởng ban tổ chức dặn em

tối qua” (Hoả tốc - Thuỷ tốc).

Giọng điệu kết hợp ấy tạo cho lời văn Hoàng Cầm có đợc sự tự nhiêntrong sáng, thuần hậu, gần lại với khẩu ngữ, với lời ăn tiếng nói hàng ngày

Đấy cũng chính là một trong những phẩm chất, thớc đo của văn xuôi hiện đại

2.3.2.3 Văn xuôi Hoàng Cầm giàu chất thơ

Về chất thơ trong văn xuôi, Pautôpxki có nói đại ý: Văn xuôi đẫm chấtthơ nh nớc ngọt ngào thấm trong trái táo, văn là sợi cốt, thơ là sợi ngang Điều

đó có nghĩa là, sự hoà điệu giữa thơ và văn xuôi, sự thâm nhập của nhữngphẩm chất thơ vào trong văn xuôi làm cho chỉnh thể tác phẩm văn xuôi đợchoàn thiện thêm những phẩm chất của mình Tác phẩm văn xuôi giàu chất thơ

sẽ thêm trong sáng, dung dị, khả năng chuyên chở tình cảm, cảm xúc tác giảcao, dễ đi vào lòng ngời

Nh đã nói ở chơng 1, văn xuôi nghệ thuật có xu hớng xích lại gần vớingôn ngữ hàng ngày, đa chất thơ vào trong văn xuôi, tiếp nhận nhiều yếu tốcủa ngôn ngữ thơ, làm cho những bài văn xuôi đậm chất thơ Văn xuôi HoàngCầm cũng có xu hớng chung này Đó là dòng văn xuôi trữ tình mà mạchnguồn sẵn có từ văn xuôi của ông trớc cách mạng, cùng dòng với văn xuôiThanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Xuân Diệu…, tiếp nối và từng bớc hoàn thiện

Đọc văn Hoàng Cầm, những câu nh thế này ta đều thấy chất thơ chanchứa thấm đẫm: “Chịu khó đọc mà học để rồi trăn trở với châu ngọc bọc trongchắt lọc tinh hoa cời khóc, niềm yêu thơng đùm bọc từ ngàn hơng hoa ngát

đến chân tơ kẽ tóc của thi ca mới ân cần quyến rũ làm sao! Không thể sau mỗilần vấp ngã, mỗi trận đòn đau mà dứt đợc nghiệp dĩ! Phải viết để phơi gan,giãi óc trớc cuộc đời mà anh yêu, lắm phen yêu đến cuồng nộ khi chẳng maycái mình yêu lại trở mặt phũ phàng với mình” (Hoàng Hng đi tìm mặt).

“Bát Tràng… bến về những con đò lá trúc, chiều nào ngời trẻ tuổi cũnglàm thay tấm lòng cô gái đá, lững thững xuống bến đò chờ đón anh Phù Du

Và chiều ấy ngàn năm mong đợi, đã nhuộm hồng bến cát” (Men đá vàng).

“Thơ lại sống trên môi hồng thiếu nữ, trong mắt ngời mẹ cho con bú,trong cuộc biệt ly của hai ngời đang yêu, trong tiếng khóc than của ngời hànhkhất, trong mơ màng hạnh phúc của nhân sinh và cuối cùng trong cái chết tấtyếu sẽ đến với mọi ngời Thơ vẫn còn trong màu xanh huyền bí của các đại l-ợng êm ả, các dòng sông yên bình, các cánh đồng màu mỡ, thơ vẫn còn trong

Ngày đăng: 15/12/2015, 10:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Thúy Anh (2001), Ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm, luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Anh
Năm: 2001
2. Lại Nguyên Ân (chủ biên) (1997), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đạihọc Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
3. M.Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Bộ văn hóa thông tin, Trờng viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Năm: 1992
4. Hoàng Cầm (2004), Hoàng Cầm tác phẩm – Quyển 3: Văn xuôi, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Cầm tác phẩm" – "Quyển 3: Văn xuôi
Tác giả: Hoàng Cầm
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2004
5. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1999
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (1998), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điểnthuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 1998
7. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000
8. Đinh Trọng Lạc (1999), 300 bài tập phong cách học, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: 300 bài tập phong cách học
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1999
9. Đinh Trọng Lạc (1998), 99 phơng tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt , Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phơng tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
10. Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1999
11. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1999
12. Phơng Lựu (chủ biên) (2000), Lý luận văn học, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phơng Lựu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2000
13. Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận thi pháp học, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận thi pháp học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
14. Đào Thản (1998), Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật
Tác giả: Đào Thản
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 1998
15. Đỗ Lai Thúy (2000), Mắt thơ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mắt thơ
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
16. Hoài Việt (1997), Hoàng Cầm thơ văn và cuộc đời, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Cầm thơ văn và cuộc đời
Tác giả: Hoài Việt
Nhà XB: Nxb Văn hóathông tin
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Danh từ riêng trong một số  tác phẩm văn xuôi Hoàng Cầm - Ngôn ngữ văn xuôi hoàng cầm
Bảng 2 Danh từ riêng trong một số tác phẩm văn xuôi Hoàng Cầm (Trang 35)
Bảng 3: Từ ngữ mang tính biểu tợng trong văn xuôi Hoàng Cầm - Ngôn ngữ văn xuôi hoàng cầm
Bảng 3 Từ ngữ mang tính biểu tợng trong văn xuôi Hoàng Cầm (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w