1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu hiệu quả của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật với việc phát triển một số năng lực cơ bản cho trẻ mẫu giáo lớn

59 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 691,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HIỆU QUẢ CỦA NGÔN NGỮ VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT ĐỐI VỚI VIỆC BỒI DƯỠNG CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN CÁC NĂNG LỰC: NGÔN NGỮ, TƯ DUY, GIAO TIẾP, HỢP TÁC XÃ HỘI VÀ THẨM MĨ .... Cho nên để đạt được các mụ

Trang 1

CƠ BẢN CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học

ThS.GVC PHAN THỊ THẠCH

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục mầm non và các thầy cô giáo trong

tổ bộ môn chuyên ngành Tiếng việt đã giúp em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo – ThS Phan Thị Thạch – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình học tập, nghiên cứu và giúp em hoàn thành khóa luận này

Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2017

Sinh viên

Hoàng Thị Huệ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo ThS GVC Phan Thị Thạch Đề tài chưa được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác

Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2017

Sinh viên

Hoàng Thị Huệ

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Mục đích nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc của khóa luận 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 7

1.1 Những hiểu biết chung về năng lực 7

1.1.1 Khái niệm Năng lực và Năng lực hành động 7

1.1.2 Quá trình hình thành năng lực 8

1.1.3 Năng lực cốt lõi của trẻ mầm non 9

1.1.4 Năng lực ngôn ngữ và Năng lực giao tiếp 10

1.2 Cơ sở ngôn ngữ học 11

1.2.1 Khái quát về ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 11

1.2.2 Những hiểu biết chung về văn VB xuôi nghệ thuật 14

1.3 Cơ sở tâm lý học 16

1.3.1 Đặc điểm tri giác 16

1.3.2 Đặc điểm chú ý 17

1.3.3 Đặc điểm trí nhớ 17

1.3.4 Đặc điểm tư duy 17

1.3.5 Đặc điểm ngôn ngữ 18

1.3.6 Đặc điểm tưởng tượng 18

Trang 6

1.3.7 Đặc điểm xúc cảm - tình cảm 18

1.4 Tiểu kết chương 19

Chương 2 HIỆU QUẢ CỦA NGÔN NGỮ VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT ĐỐI

VỚI VIỆC BỒI DƯỠNG CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN CÁC NĂNG LỰC:

NGÔN NGỮ, TƯ DUY, GIAO TIẾP, HỢP TÁC XÃ HỘI

VÀ THẨM MĨ 20

2.1 Kết quả thống kê phân loại phương tiện ngôn ngữ trong các VB văn

xuôi nghệ thuật thuộc chương trình giáo dục trẻ MGL 20

2.1.1 Tiêu chí thống kê phân loại các phương tiện ngôn ngữ nghệ thuật

trong VB văn xuôi 20

2.1.2 Kết quả thống kê phân loại các phương tiện ngôn ngữ trong VB

văn xuôi nghệ thuật 20

2.2 Hiệu quả của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật đối với việc bồi dưỡng

một số năng lực cơ bản cho trẻ MGL 34

2.2.1 Hiệu quả của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật đối với việc bồi dưỡng

năng lực ngôn ngữ cho trẻ MGL 35

2.2.2 Hiệu quả của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật đối với việc bồi dưỡng

cho trẻ MGL năng lực giao tiếp 43

2.2.3 Hiệu quả của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật đối với việc giúp trẻ

MGL nâng cao năng lực tư duy 44

2.2.4 Hiệu quả của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật đối với việc giúp trẻ

MGL phát triển năng lực hợp tác xã hội 47

2.2.5 Hiệu quả của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật đối với việc giúp trẻ

MGL hình thành và phát triển năng lực thẩm mĩ 49

KẾT LUẬN 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Công cuộc CNH – HĐH đất nước và xu thế hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ đã tác động sâu sắc làm thay đổi tất cả các lĩnh vực trong đó có GD – ĐT ở Việt Nam Chính sự thay đổi đó giúp các nhà khoa học giáo dục nhận thức sâu sắc rằng phải đổi mới nội dung, phương pháp dạy học nhằm bồi dưỡng những năng lực cần thiết cho người học để họ có thể trở thành những chủ nhân đáng tin cậy của quốc gia dân tộc trong tương lai Nhận thức của các nhà khoa học sư phạm về việc đổi mới nội dung, phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục ở bậc Mầm non không nằm ngoài quỹ đạo trên

PH.ĂNGGHEN đã từng nói: “Ngôn ngữ là một trong hai yếu tố đã làm cho con vật trở thành con người” khi xem xét vai trò của ngôn ngữ đối với nhận thức Câu nói đó quả chí lí vì lẽ ngôn ngữ quan hệ mật thiết đến nhận thức cũng như đời sống tình cảm của con người

Ngôn ngữ phục vụ cho tất cả mọi thành viên trong xã hội, từ việc lao động, học tập đến giải trí, vui chơi Có thể thấy rằng, trong bất kỳ lĩnh vực nào con người cũng cần đến ngôn ngữ Nó không thể tồn tại bên ngoài xã hội loài người và không thể bị tiêu diệt khi xã hội loài người còn tồn tại Vì vậy với mỗi người từ thời thơ ấu, việc phát triển ngôn ngữ là vô cùng quan trọng

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ MG để trang bị cho trẻ những nhận thức về thế giới xung quanh và mở rộng quan hệ với mọi người, hơn thế phát triển ngôn ngữ cho trẻ còn có vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách trẻ Như vậy, ngôn ngữ là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự phát triển về đạo đức, tư duy và chuẩn mực hành vi văn hóa Vai trò của ngôn ngữ đặc biệt quan trọng đối với trẻ lứa tuổi Mầm non, đặc biệt trẻ lứa tuổi MGL

Trang 8

Mặt khác, ngôn ngữ là phương tiện quan trọng để trẻ giao lưu với những người xung quanh, để tư duy, bồi dưỡng tâm hồn Nhờ có ngôn ngữ trẻ hình thành được những năng lực cần thiết để phát triển bản thân như năng lực

tư duy, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác… từ đó trẻ có thể tiếp thu kiến thức và giải quyết các vấn đề trong cuộc sống một cách hiệu quả nhất Vì đây

là giai đoạn trẻ học hỏi và tiếp thu kiến thức từ thế giới xung quanh rất nhanh, cho nên việc bồi dưỡng những năng lực cơ bản cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ sẽ mang lại hiệu quả rất cao tạo nền tảng và xây dựng cơ sơ vững chắc của tương lai sau này của trẻ

Có rất nhiều những phương pháp cũng như các cách thức khác nhau đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng như các năng lực của trẻ Nhưng do đặc thù đối tượng giáo dục ở bậc mầm non có sắc thái riêng: trẻ lứa tuổi mẫu giáo nói chung và lứa tuổi 5-6 tuổi nói riêng rất giàu cảm xúc và tình cảm, với trí tưởng tượng phong phú, một tư duy trực quan hình tượng và thường xuyên được tiếp xúc với các những câu chuyện Cho nên để đạt được các mục tiêu giáo dục đã đề ra, việc chú trọng hiệu quả của ngôn ngữ nghệ thuật trong đó

có ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật vào việc bồi dưỡng một số năng lực cơ bản cho trẻ mẫu giáo là việc làm cần thiết

Nhận thức rõ về tính cấp thiết của việc bồi dưỡng năng lực cho trẻ thông qua loại phương tiện ngôn ngữ nghệ thuật ở một thể loại cụ thể, chúng

tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Tìm hiểu hiệu quả của ngôn ngữ văn xuôi nghệ

thuật với việc phát triển một số năng lực cơ bản cho trẻ mẫu giáo lớn”

2 Lịch sử vấn đề

Tìm hiểu về ngôn ngữ nghệ thuật không phải là vấn đề mới, vì trước đây đã có những nhà khoa học và một số SV khoa Giáo dục Mầm non trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 nghiên cứu

Trong cuốn giáo trình “Phong cách học Tiếng Việt”, NXB Giáo dục,

1999, Đinh Trọng Lạc đã trình bày khái niệm, các đặc trưng của các phong

Trang 9

cách, chức năng nghệ thuật Những lí thuyết đó giúp người đọc có thể nhận ra được rằng, ngoài những đặc trưng chung của ngôn ngữ văn hóa, ngôn ngữ nghệ thuật có những đặc trưng riêng

Trong cuốn “Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non”, NXB Đại học Sư

phạm, Đinh Hồng Thái đã đề cập đến việc phát triển ngôn ngữ nghệ thuật cho trẻ mẫu giáo thông qua các tác phẩm truyện Bên cạnh đó, tác giả cũng đã nêu được vai trò của các tác phẩm văn chương đối với việc phát triển ngôn ngữ nghệ thuật cho trẻ ở các độ tuổi

Ở cuốn “Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học”, NXB

Giáo dục, 2004, tác giả PGS.TS Lã Thị Bắc Lý - PGS.TS Lê Thị Ánh Tuyết

đã đi nghiên cứu đặc điểm của các tác phẩm truyện lứa tuổi mầm non và nói đến vai trò của nó đối với sự phát triển của trẻ Từ đó họ đã đưa ra các biện pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học hay các hoạt động tích hợp ở trường mầm non

Đứng trên phương diện một nhà giáo dục học, một nhà tâm lí học, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã nghiên cứu ý nghĩa của truyện cố tích trong việc bồi dưỡng những cảm xúc lành mạnh và trong sáng, góp phần giáo dục đạo

đức cho trẻ trong cuốn “Giáo dục mầm non, những vấn đề lí luận và thực

tiễn”, NXB Đại học Sư phạm, 2007

Các tác giả SGK Ngữ văn 10, tập Hai, NXB Giáo dục, 2015 đã chọn

phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là một nội dung dạy học cho học sinh lớp 10

Ở bài học này, các tác giả giúp HS nhận thức được khái niệm và các đặc trưng

cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật

Gần đây (năm 2016), một số sinh viên khoa Giáo dục Mầm non trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 trong khóa luận tốt nghiệp đã tìm hiểu hiệu quả của một biện pháp tu từ trong các bài thơ thuộc chương trình Giáo dục Mầm non Tiêu biểu là:

- Hoàng Kim Dung, 2016, Hiệu quả của biện pháp tu từ nhân hóa trong

Trang 10

các bài thơ thuộc Chương trình Giáo dục Mầm non

- Lê Thị Lanh, 2016, Hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các bài thơ thuộc Chương trình Giáo dục Mầm non

Đối tượng và mục đích nghiên cứu của hai SV trên thể hiện rõ ở tên đề tài nghiên cứu của họ

Thông qua việc tổng thuật tình hình nghiên cứu đã được trình bày ở trên, chúng ta thấy tìm hiểu về ngôn ngữ nghệ thuật không phải đề tài mới,

nhưng “Tìm hiểu hiệu quả của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật với việc phát

triển một số năng lực cơ bản cho trẻ mẫu giáo lớn” lại là một vấn đề không

cũ, không trùng lặp với ai

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận: Là tìm hiểu hiệu quả của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật đối với việc bồi dưỡng một số năng lực cơ bản cho trẻ MGL

- Khách thể nghiên cứu của khóa luận: Quá trình giáo dục hình thành

và bồi dưỡng năng lực cơ bản cho trẻ mầm non

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Lựa chọn những lí thuyết chuyên ngành xác thực làm cơ sở lí luận cho khóa luận

4.2 Khảo sát, thống kê, phân loại các phương tiện ngôn ngữ, từ, các biện pháp tu từ (từ vựng - ngữ pháp, cú pháp), các loại câu sử dụng trong VB văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình MGL ở trường Mầm non

4.3 Sử dụng các phương pháp nghiên cứu để chỉ ra hiệu quả của ngôn ngữ trong các VB văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình giáo dục trẻ MGL đối với việc bồi dưỡng các năng lực cơ bản cho trẻ

5 Mục đích nghiên cứu

5.1 Tổng hợp những vấn đề lí luận về ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật, về

Trang 11

những hiểu biết chung về năng lực

5.2 Phân tích, làm rõ chỉ ra được hiệu quả của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật đối với việc bồi dưỡng các năng lực cơ bản: năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, năng lực tư duy, năng lực hợp tác và năng lực thẩm mĩ cho trẻ MGL

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Tập trung tìm hiểu hiệu quả của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật trong việc bồi dưỡng một số năng lực cơ bản, đó là: năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy, năng lực giao tiếp, năng lực thẩm mĩ và hợp tác xã hội cho trẻ MGL

6.2 Giới hạn ngữ liệu thống kê

Khảo sát thống kê 17 VB văn xuôi nghệ thuật trong chương trình giáo dục trẻ MGL ở trường mầm non

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để thu thập thông tin khoa học mang tính lí luận về VB truyện, về chức năng và đặc trung của ngôn ngữ nghệ thuật

7.2 Phương pháp thống kê

Phương pháp này được chúng tôi vận dụng để thống kê số lượng VB văn xuôi nghệ thuật trong chương trình giáo dục trẻ MGL ở trường mầm non, đồng thời thống kê việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong các VB đó

Trang 12

vấn đề lí luận có liên quan đến các VB văn xuôi nghệ thuật, đến ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học

Phương pháp này còn được chúng tôi vận dụng để rút ra các nhận xét các kết luận từ kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật trong các VB văn xuôi thuộc chương trình giáo dục trẻ MGL ở trường mầm non

7.5 Ngoài những phương pháp trên, trong khóa luận này chúng tôi còn sử

dụng một số phương pháp khác như so sánh, miêu tả… trong quá trình nghiên cứu vấn đề

8 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung của khóa luận gồm hai chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Hiệu quả của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật đối với việc bồi dưỡng cho trẻ MGL các năng lực: ngôn ngữ, giao tiếp, tư duy, hợp tác xã hội

và thẩm mĩ

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Những hiểu biết chung về năng lực

1.1.1 Khái niệm năng lực và năng lực hành động

1.1.1.1 Khái niệm năng lực

Đã có rất nhiều những quan niệm khác nhau của các nhà khoa học về

khái niệm năng lực Trong cuốn “Dạy học tích hợp phát triển năng lực học

sinh - Quyển 2” của Trần Thị Thanh Thủy (chủ biên), Nxb Đại học Sư phạm

Hà Nội, các nhà khoa học đã đưa ra các khái niệm về năng lực như sau:

- “Năng lực hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định Chẳng hạn như khả năng giải toán, khả năng nói tiếng Anh…”

- “Năng lực là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ hay một hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động” Đây là khái niệm được mọi người sử

dụng nhiều nhất khi nói đến năng lực?

Nhưng đối với trẻ lứa tuổi mầm non, theo chúng tôi khái niệm năng lực

có thể được hiểu là khả năng mà cá nhân trẻ thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định (khả năng giao tiếp, khả năng tư duy, khả năng hợp tác, khả năng thẩm mĩ)

1.1.1.2 Năng lực hành động

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng, người học có năng lực hành động về một lĩnh vực hoạt động nào đó cần hội đủ các dấu hiệu cơ bản sau:

- Có kiến thức hay hiểu biết hệ thống/chuyên sâu về lĩnh vực hoạt động đó

Trang 14

- Biết cách tiến hành hoạt động hiệu quả và đạt kết quả phù hợp với mục đích (bao gồm xác định mục tiêu cụ thể, cách thức/phương pháp thực hiện hành động/lựa chọn được các giải pháp phù hợp… và cả các điều kiện, phương tiện để đạt mục đích)

- Hành động có kết quả, ứng phó hoạt động linh hoạt, hiệu quả trong những điều kiện mới, không quen thuộc

Từ đó, năng lực hành động được định nghĩa như sau:

“Năng lực hành động là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như: hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện thành công một loại công việc trong bối cảnh nhất định”

(Trần Thị Thanh Thủy (Chủ biên), “Dạy học tích hợp phát triển năng lực học

sinh - Quyển 2”, Nxb ĐHSPHN)

1.1.2 Quá trình hình thành năng lực

Trong “Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh - Quyển 2”, Trần

Thị Thanh Thủy (Chủ biên), Nxb ĐHSPHN, các nhà khoa học đã phân chia quá trình hình thành năng lực thành 7 bước theo thứ tự quan trọng như sau:

1 Tiếp nhận thông tin

2 Xử lí thông tin (thể hiện hiểu biết/kiến thức)

3 Áp dụng/vận dụng kiến thức (thể hiện khả năng)

4 Thái độ và hành động

5 Sự kết hợp đầy đủ các yếu tố trên để tạo thành năng lực

Sự kết hợp 5 yếu tố trên tạo thành năng lực ở người học Tuy nhiên cần kết hợp nhiều năng lực mới tạo ra sự chuyên nghiệp, kết hợp với học hỏi kinh nghiệm mới có thể tạo thành năng lực nghề nghiệp

6 Tính trách nhiệm thể hiện sự chuyên nghiệp/thành thạo

7 Kết hợp với kinh nghiệm/trải nghiệm thể hiện năng lực nghề nghiệp Như vậy năng lực không chỉ là kiến thức, khả năng thực hiện nhiệm vụ

mà còn bao gồm trách nhiệm và kinh nghiệm nghề nghiệp

Trang 15

Theo chúng tôi, quá trình hình thành năng lực cho trẻ mầm non bao gồm: trẻ tiếp nhận thông tin và xử xứ thông tin đó bằng hiểu biết của mình, tiếp đó là khả năng áp dụng những kiến thức đó vào những tình huống cụ thể

mà trẻ gặp thông qua những hành động và thái độ của bản thân, tính trách nhiệm đối với hoạt động mình làm

1.1.3 Năng lực cốt lõi của trẻ mầm non

1.1.3.1 Khái niệm năng lực cốt lõi

“Năng lực cốt lõi (thường gọi là năng lực chung) là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc”

(“Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh – Quyển 2”, Trần Thị Thanh

Thủy (Chủ biên), Nxb ĐHSPHN)

1.1.3.2 Những năng lực cốt lõi của trẻ mầm non trong thế kỉ XXI

Tất cả các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và các hoạt động trải nghiệm sáng tạo) với khả năng khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực cốt lõi của người học Có nhiều hệ thống năng lực cốt lõi khác nhau, tuy nhiên đối với trẻ mầm non của thế kỉ XXI thì các hệ thống này thường gồm có:

- Khả năng tự phục vụ

- Khả năng lao động

- Khả năng thao tác với đồ vật

- Khả năng chơi các trò chơi

- Năng lực làm chủ kiến thức, trò chơi

Trang 16

1.1.4 Năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp

được chúng một cách tự nhiên, còn gọi là ngữ năng [Sđd, tr.142]

Các nhà ngữ pháp tạo sinh cho rằng : “Con người sinh ra đã có hiểu biết về tiếng mẹ đẻ” Mức độ hiểu biết đó ở mỗi cá nhân có sự khác biệt nhau

do : đặc điểm lứa tuổi, giới tính, môi trường sống, khả năng nhận thức, đặc điểm cá tính của mỗi người Khả năng đó phản ánh năng lực ngôn ngữ của mỗi cá nhân

Giải thích về hiện tượng trẻ em trước khi được tiếp thu giáo dục chính quy đã có thể nói được những câu hoàn chỉnh, các nhà ngữ pháp tạo sinh đã cho rằng : vì đứa trẻ sinh ra trong môi trường tiếng mẹ đẻ thì trong “tâm linh” của chúng đã dần hình thành một số quy tắc cơ bản Vì thế DellHymes đề nghị nên gọi năng lực ngôn ngữ là năng lực ngữ pháp [ , tr.180]

Theo chúng tôi năng lực ngôn ngữ của trẻ biểu hiện ở việc trẻ có vốn từ phong phú, hình thành nên những câu nói đúng

1.1.4.2 Năng lực giao tiếp

Trong “Ngôn ngữ học xã hội”, 1999, Nguyễn Văn Khang định nghĩa: Năng lực giao tiếp là “khả năng lựa chọn, vận dụng ngôn ngữ vào giao tiếp xã hội của mỗi cá nhân” Để có năng lực giao tiếp mỗi người trước hết phải có năng lực ngôn ngữ Tuy vậy năng lực giao tiếp của mỗi cá nhân còn tùy thuộc vào nhiều nhân tố như khả năng nhận thức, hoàn cảnh sống, đặc điểm tính cách, trình độ văn hóa của mỗi người [Sđd, tr.183]

Theo chúng tôi, trường mầm non khi tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ phải dành sự quan tâm thích hợp đến sự phát triển năng lực ngôn ngữ

Trang 17

và năng lực giao tiếp Nhờ có năng lực ngôn ngữ trẻ MGL sẽ giải mã được các phương tiện ngôn ngữ dùng trong văn bản văn xuôi nghệ thuật từ đó nhận thức sâu sắc được nội dung của văn bản đồng thời khám phá vẻ đẹp của các đối tượng được phản ánh cũng như vẻ đẹp của những cách dùng ngôn ngữ mang tính nghệ thuật

1.2 Cơ sở ngôn ngữ học

1.2.1 Khái quát về ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

1.2.1.1 Khái quát về ngôn ngữ nghệ thuật

a Khái niệm

Tác giả SGK Ngữ văn 10, tập Hai, đã đưa ra khái niệm ngôn ngữ nghệ

thuật như sau:

“Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm

văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Nó là ngôn ngữ được tổ chức, xếp đặt, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được những giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ”

Ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ văn học) là ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm, được dùng trong VB văn chương Ngôn ngữ nghệ thuật được chia thành:

- Ngôn ngữ tự sự (ngôn ngữ trong truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, bút kí, kí sự, phóng sự, tùy bút )

- Ngôn ngữ thơ (ngôn ngữ được dùng trong các thể loại trữ tình như ca dao, thơ )

- Ngôn ngữ sân khấu dùng trong văn bản kịch, chèo, tuồng…

b Chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật

Các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng ngôn ngữ nghệ thuật là loại ngôn ngữ có thể đảm nhiệm nhiều chức năng

Giống như ngôn ngữ nói chung, ngôn ngữ nghệ thuật có hai chức năng

Trang 18

cơ bản: là phương tiện giao tiếp và là công cụ để con người tiến hành tư duy Tuy vậy, sự biểu hiện hai chức năng trên của ngôn ngữ nghệ thuật lại mang tính đặc thù

- Ngôn ngữ nghệ thuật là phương tiện giao tiếp giữa tác giả văn chương với độc giả

- Ngôn ngữ nghệ thuật là công cụ tư duy – đó là công cụ để tác giả văn chương nhận thức và phản ánh nhận thức về hiện thực theo lăng kính riêng của họ Đó cũng là công cụ để độc giả hiểu biết sâu xa về hiện thực cuộc sống thông qua những hình tượng được xây dựng bằng ngôn ngữ

Ngoài hai chức năng trên ngôn ngữ nghệ thuật còn có những chức năng khác như: tạo hình – biểu cảm, thẩm mĩ, liên nhân…

1.2.1.2 Khái quát về phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

a Khái niệm

Tác giả SGK Tiếng Việt 11, Nxb Giáo dục, 2000 giúp chúng ta hiểu:

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là những kiểu diễn đạt bằng ngôn ngữ được dùng trong các tác phẩm văn chương thuộc thể loại văn xuôi, thơ, kịch

b Các đặc trưng của Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Đinh Trọng Lạc, trong “Phong cách học Tiếng Việt”, Nxb Giáo dục

cho rằng:

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có các đặc trưng tiêu biểu như: tính hình tượng, tính truyền cảm, tính cá thể hóa

- Tính hình tượng:

Tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật

Trong Ngôn ngữ học, đặc biệt trong Phong cách học, tính hình tượng

theo nghĩa rộng nhất có thể xác định là thuộc tính của lời nói truyền đạt không chỉ thông tin logic mà còn cả thông tin được tác giả văn chương phản ánh bằng hình tượng ngôn từ

Trang 19

VD từ “vũng” trong câu thơ của Nguyễn Đình Thi:

Buổi chiều ứa máu Ngổn ngang những vũng bom

Từ “vũng” ở đây là “vũng bom” chứ không phải “hố bom” Trong

“vũng” có nét nghĩa thường trực “có nước” mà từ “hố” không nhất thiết phải

có Chính nét nghĩa “có nước” này tạo nên sự cộng hưởng giữa từ “vũng” và

từ “máu” trong câu đi trước để tạo nên hình ảnh sống động về sự tàn khốc của chiến tranh

Ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ đơn thuần có chức năng nhận thức mà điều quan trọng là nó có chức năng thẩm mĩ: phản ánh cái đẹp và khơi dạy cảm xúc thẩm mĩ ở người nghe, người đọc bằng những hình tượng văn học giàu khả năng gợi hình, gợi cảm

Hình tượng trong trong văn chương thường chứa đựng nhiều ý nghĩa

VD như để bày tỏ quan niệm sống trong sạch, thanh cao của người lao động xưa kia, các tác giả dân gian dân gian đã mượn hình ảnh bông sen:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hơi tanh mùi bùn

Ngôn ngữ của bài ca dao này không đơn thuần miêu tả cây sen và môi trường sống của nó, mà chủ yếu là khẳng định vẻ đẹp và phẩm chất cao quý của nó Dù sống giữa bùn lầy, sen vẫn tươi xanh, ngạo nghễ vươn cao và tỏa hương thơm ngát Giữa bông sen với con người Việt Nam có những nét tương đồng về bản chất, rất đáng yêu quý và trân trọng Hình tượng bông sen thật ngoài đời đã chuyển hóa thành bông sen tinh thần nở tưng bừng trong tâm tưởng, nhắc nhở mọi người hãy ghi nhớ rằng: cái đẹp có thể hiện hữu và tồn tại ngay trong những môi trường có nhiều cái xấu Vì vậy, mọi người hãy cố gắng giữ gìn phẩm giá và nếp sống trong sạch, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào

Trang 20

Để tạo ra hình tượng ngôn ngữ, tác giả văn chương thường dùng rất nhiều phép tu từ: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nói quá, nói giảm nói tránh… Những phép tu từ này được dùng sáng tạo, hoặc đơn lẻ hoặc phối hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo để mang lại hiệu quả nghệ thuật và thẩm mĩ cao nhất Chính điều đó làm nên tính hàm súc (tính đa nghĩa) của ngôn ngữ nghệ thuật

- Tính truyền cảm:

Tính truyền cảm trong ngôn ngữ nghệ thật được thể hiện ở chỗ nó có khả năng làm cho người nghe (đọc) cùng vui, buồn, yêu thích… như chính người nói (viết) Sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật là tạo ra sự hòa đồng, giao cảm, cuốn hút, gợi cảm xúc trong người đọc về vẻ đẹp vô hình Nó khiến người ta tưởng như mọi vật đang hiển hiện trước mắt người đọc

Năng lực gợi cảm xúc của ngôn ngữ nghệ thuật có được là nhờ sự lựa chọn ngôn ngữ để miêu tả, bình giá đối tượng khách quan (truyện và kịch) và tâm trạng chủ quan (thơ trữ tình)

1.2.2 Những hiểu biết chung về văn VB xuôi nghệ thuật

1.2.2.1 Khái niệm

Văn bản văn xuôi nghệ thuật là những văn bản tái hiện hiện thực đời sống xã hội thông qua các hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng các phương tiện ngôn ngữ theo phương thức tự sự là chủ yếu

Trang 21

1.2.2.2 Sự phân loại VB văn xuôi nghệ thuật

Dựa vào đặc trưng của VB người ta phân chia các văn bản văn xuôi nghệ thuật thành các tiểu loại sau: truyện (truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài), tùy bút, bút kí, phóng sự, tản văn…

Trong số những tiểu loại trên, truyện là thể loại chiếm tỉ lệ lớn nhất

1.2.2.3 Đặc trưng của VB truyện

a Cốt truyện

Văn bản truyện thường có cốt truyện Cốt truyện là những sự việc tiêu biểu được sắp xếp theo trình tự nhất định nhằm thể hiện theo một chủ đề nhất định

b Nhân vật

Truyện bao giờ cũng có nhân vật Nhân vật trong truyện thường là người, nhưng có khi nhân vật là động vật, thực vật, đồ vật hoặc các hiện tượng tự nhiên được hóa thân như con người

Nhân vật của truyện có thể được phân chia thành:

Phương thức kể chuyện là cách kể chuyện mà tác giả lựa chọn trong

VB Phương thức kể chuyện liên quan đến ngôi của người kể chuyện trong một VB cụ thể Nhà văn có thể để nhân vật trong truyện kể lại câu chuyện của cuộc đời theo ngôi thứ nhất Nhà văn cũng có thể đóng vai người thứ ba – người chứng kiến câu chuyện để kể lại cho mọi người (về điều mình được chứng kiến) Nhà văn cũng có thể lựa chọn phương thức kể chuyện nửa trực

Trang 22

tiếp - phương thức kể chuyện mà ở đó lời của nhà văn và lời của nhân vật có

sự hòa quyện

d Ngôn ngữ trong VB truyện

Ngôn ngữ trong truyện thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Vì thế các phương tiện ngôn ngữ trong thể loại này giàu tính tạo hình - biểu cảm, có tính hàm súc, tính thẩm mĩ và tính cá thể hóa cao

Ngôn ngữ trong truyện được nhà văn sử dụng chủ yếu theo phương thức tự sự Ngoài ra, tùy vào từng văn cảnh, tác giả có thể kết hợp phương thức tự sự với phương thức miêu tả, phương thức thuyết minh hoặc phương thức nghị luận…

1.3 Cơ sở tâm lý học

Những trẻ lứa tuổi mẫu giáo ở Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia khác trên Thế giới đều có độ tuổi từ 3–6 tuổi Ở giai đoạn này, trẻ có nhiều biến đổi quan trọng về tâm, sinh lí cũng như đặc điểm tư duy nhận thức của trẻ Ở độ tuổi này, hoạt động chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ, nên trẻ thường học, lấy kiến thức thông qua các trò chơi do trẻ được tham gia chơi Lứa tuổi càng nhỏ thì hoạt động học của trẻ càng ngắn Đến độ tuổi 5–6 tuổi hoạt động học của trẻ được chú trọng hơn do ý thức của trẻ đã tốt hơn, khả năng tiếp thu, khả năng tập trung của trẻ đã cao hơn trước Tuy nhiên, do đặc điểm lứa tuổi, trẻ luôn thích những điều mới lạ, thích những gì nổi bật, gây ấn tượng mạnh, thích khám phá, tìm hiểu, hay tò mò về mọi thứ xung quanh mình dẫn đến sự biến đổi mạnh mẽ về tâm lí Sau đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu rõ hơn về một

số đặc điểm tâm lí của các trẻ lứa tuổi mầm non

1.3.1 Đặc điểm tri giác

Trẻ mẫu giáo thường tri giác những gì phù hợp với nhu cầu của mình, những gì thường gặp hoặc được GV chỉ dẫn Tính xúc cảm thể hiện rõ khi các

em tri giác Đặc điểm tri giác của trẻ mẫu giáo mang đậm tính trực quan sinh

Trang 23

động, trẻ sẽ tri giác những gì trực quan rực rỡ, sinh động hấp dẫn đối với trẻ hơn Điều này cho thấy tính cần thiết phải đảm bảo tính trực quan trong dạy học nói chung và kể chuyện nói riêng Mỗi câu chuyện cụ thể sẽ đem lại cho trẻ những bài học đạo đức, hơn nữa là cung cấp vốn từ vựng mới cho trẻ Và việc sử dụng hình ảnh trực quan sinh động sẽ giúp cho mỗi câu chuyện hấp dẫn hơn với trẻ Đồng thời, nó giải quyết nhiệm vụ giải thích từ mới cho trẻ mẫu giáo

1.3.2 Đặc điểm chú ý

Trẻ 5-6 thì chú ý không chủ định phát triển mạnh, chú ý có chủ định đã xuất hiện nhưng còn hạn chế Trẻ chỉ tập trung chú ý vào những gì mới mẻ, rực rỡ, các em chỉ thực sự chú ý khi có động cơ cần được thúc đẩy như: được

cô khen, được các bạn biểu dương, thán phục Vì vậy khen thưởng có ý nghĩa lớn đối với trẻ

1.3.3 Đặc điểm trí nhớ

Đặc điểm trí nhớ của trẻ mẫu giáo là tính trực quan hình tượng, tính không chủ định nhờ tác động một cách tự nhiên của những ấn tượng hấp dẫn bên ngoài Với trẻ MGL trí nhớ trực quan phát triển mạnh hơn trí nhớ từ ngữ - logic Trẻ ghi nhớ những sự vật hiện tượng cụ thể dễ dàng hơn nhiều so với lời giải thích dài dòng Ghi nhớ máy móc là đặc điểm nổi bật và cần được phát huy trong những câu chuyện kể cho trẻ

1.3.4 Đặc điểm tư duy

Tư duy trực quan hình tượng của trẻ mẫu giáo phát triển mạnh mẽ và chủ yếu Tuy nhiên ở cuối độ tuổi mẫu giáo thì kiểu tư duy này không đáp ứng được nhu cầu nhận thức đang phát triển mạnh mẽ ở trẻ MGL, vì vậy ở trẻ xuất hiện thêm kiểu tư duy trực quan - sơ đồ, kiểu tư duy này vẫn giữ mãi tính chất hình tượng, song bản thân hình tượng cũng có sắc thái: hình tượng bị mất

đi những chi tiết rườm rà mà chỉ còn giữ lại những yếu tố chủ yếu giúp trẻ

Trang 24

phản ánh một cách khái quát sự vật chứ không phải là từng sự vật riêng lẻ Điều này cho thấy khả năng giao tiếp của trẻ đang mở rộng, giáo viên cần nắm bắt rõ đặc điểm tư duy của trẻ để thúc đẩy quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ MGL

1.3.6 Đặc điểm tưởng tượng

Tuổi mẫu giáo là tuổi thần tiên, lứa tuổi có nhiều trí tưởng tượng phong phú nhất, trẻ có thể tưởng tượng mình gặp được hoàng tử, công chúa, đi chơi cùng Lọ Lem Đó là tưởng tượng hết sức hôn nhiên, đáng yêu của trẻ, song tưởng tưởng của trẻ còn tản mạn Những đồ dùng trực quan sinh động những

cử chỉ điệu bộ, ngôn ngữ giàu sức biểu hiện của GV là điều kiện tốt nhất để trẻ hình thành tưởng tượng khi tiếp cận với VB nghệ thuật

1.3.7 Đặc điểm xúc cảm - tình cảm

Trẻ mẫu giáo rất giàu cảm xúc - tình cảm Mọi hoạt động và tư duy của trẻ đều chi phối bởi tình cảm Trẻ mẫu giáo luôn có nhu cầu đòi hỏi mọi người xung quanh thể hiện tình cảm tốt đẹp đối với mình Ngược lại, trẻ cũng muốn thể hiện tình cảm tốt đẹp của mình với mọi người xung quanh Trẻ rất xúc cảm với những cái mới của những sự vật hiện tượng xung quanh, nhất là những nhân vật trong truyện Trẻ rất yêu thương anh nông dân hiền lành tốt

Trang 25

bụng thật thà trong câu chuyện “Cây tre trăm đốt”… Trẻ còn có tình cảm tốt đẹp và chân thành đối với các sự vật hiện tượng mà trẻ tiếp xúc hàng ngày

Hơn thế nữa, trẻ dễ rung động trước cái đẹp trong cuộc sống xung quanh Được trực tiếp tiếp xúc với những cái đẹp, trẻ thấy gắn bó, thiết tha với con người và cảnh vật xung quanh Việc đó kích thích trẻ làm những điều tốt lành để mang lại hạnh phúc cho mọi người Ngôn ngữ văn học, nhất là ngôn ngữ văn xuôi gần gũi trẻ, nó có một sức mạnh lôi cuốn trẻ, tạo cho trẻ những cảm xúc mãnh liệt trước những nhân vật trong truyện Đây là thời điểm thuận lợi nhất để giáo dục thẩm mĩ và tình cảm đạo đức cho trẻ Sự phát triển mạnh những xúc cảm thẩm mĩ kết hợp với sự ghi nhớ máy móc vốn có khiến cho đứa trẻ lứa tuổi này rất dễ nhạy cảm trước những tác phẩm văn học nghệ thuật Trẻ mẫu giáo tiếp nhận và học thuộc rất nhanh những lời của các nhân vật trong truyện Trẻ hòa nhập nhanh chóng với tình cảm của nhân vật trong câu chuyện Đó là sự hòa đồng giữa trẻ với thế giới nghệ thuật và hiện thực cuộc sống

1.4 Tiểu kết chương

Trong chương này, chúng tôi đã tìm hiểu về năng lực, năng lực của lứa tuổi mầm non và đặc điểm tâm lí của trẻ để đưa ra những nội dung dạy học phù hợp với lứa tuổi Đồng thời, ở đây chúng tôi đã tìm hiểu đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật cũng như những tác dụng của nó trong việc phát triển các năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy, năng lực giao tiếp, hợp tác xã hội và năng lực thẩm mĩ của trẻ Những lí luận đó là nền tảng định hướng cho chúng tôi trong việc đề xuất những biện pháp khai thác hiệu quả của ngôn ngữ văn xuôi nhằm bồi dưỡng các năng lực cơ bản cho trẻ MGL

Trang 26

Chương 2

HIỆU QUẢ CỦA NGÔN NGỮ VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT ĐỐI VỚI VIỆC BỒI DƯỠNG CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN CÁC NĂNG LỰC: NGÔN NGỮ, TƯ DUY, GIAO TIẾP, HỢP TÁC XÃ HỘI VÀ THẨM MĨ

2.1 Kết quả thống kê phân loại phương tiện ngôn ngữ trong các VB văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình giáo dục trẻ MGL

2.1.1 Tiêu chí thống kê phân loại các phương tiện ngôn ngữ nghệ thuật trong VB văn xuôi

Căn cứ vào chức năng của các phương tiện ngôn ngữ, căn cứ vào các khái niệm từng loại phương tiện ngôn ngữ mà các nhà ngôn ngữ học đã trình bày trong giáo trình của họ, chúng tôi tiến hành thống kê hai loại phương tiện ngôn ngữ cơ bản, đó là từ và câu Ở hai loại đơn vị này chúng tôi phân chia chúng thành những tiểu loại nhỏ hơn

2.1.2 Kết quả thống kê phân loại các phương tiện ngôn ngữ trong VB văn xuôi nghệ thuật

Chúng tôi đã thống kê 17 VB văn xuôi nghệ thuật trong Chương trình Giáo dục trẻ MGL ở trường Mầm non Đó là:

1 Ba cô gái

2 Chú dê đen

3 Sơn Tinh, Thủy Tinh

4 Quả bầu tiên

Trang 27

10 Ai đáng khen nhiều hơn

16 Hai anh em gà con

17 Chuyện của dê con

2.1.2.1 Kết quả thống kê phân loại từ, biện pháp tu từ về từ trong VB văn xuôi nghệ thuật

Trong 17 VB chúng tôi đã thống kê đƣợc 8991 từ và 914 biện pháp tu từ Kết quả thống kê từ, biện pháp tu từ đƣợc chúng tôi phản ánh ở bảng 1:

tu từ

Từ đơn

Từ phức

So sánh

Nhân hóa

Điệp

từ

3 Sơn Tinh, Thủy Tinh 220 132 352 1 0 29 30

Trang 28

9 Sự tích Hồ Gươm 354 110 464 2 2 28 32 10.Ai đáng khen nhiều

17.Chuyện của dê con 302 80 382 1 36 41 78

a Tỉ lệ các từ được phân loại theo đặc điểm cấu tạo

a.1 Tỉ lệ từ đơn chiếm 6934/8991  77,12%

VD 1:

“Được mẹ yêu thương chăm sóc, ba cô gái lớn nhanh như thổi Cả ba đều đẹp như trăng rằm Thế rối lần lượt hết cô này đên cô khác đi lấy chồng,

bà mẹ ở nhà một mình”

(Ba cô gái)

Đoạn trích VB trên có những từ đơn sau: được, mẹ, ba, lớn, nhanh, như, thổi, cả, đều, đẹp, như, thế, rồi, hết, này, đến, cô, khác, đi, ở, nhà, một, mình VD2:

“Vua Hùng chọn hai thứ bánh của Lang Liêu để tế trời đất rồi chia bánh cho các hoàng tử và các quần thần nếm thử Ai cũng phải khen bánh có vị ngon, hương lạ mà lại có ý nghĩa sâu xa, đúng là của quý nhất trong ngày hội đầu năm”

(Sự tích bánh chưng bánh giầy)

Trang 29

Đoạn trích VB trên có những từ đơn sau: chọn, hai, thứ, bánh,của, để,

tế, rồi, chia, bánh, cho, các, và, ai, cũng, phải, khen, có, vị, ngon, hương, lạ,

mà, lại, có, đúng, là, nhất, trong

a.2 Tỉ lệ từ phức chiếm 2057/8991  22,88%

VD3:

Đoạn trích: “Ở một nhà kia có hai anh em Thỏ xám sống cùng mẹ Bố

đi làm việc xa nên cậu nào cũng tỏ ra là đứa con biết thương mẹ nhất và đáng khen nhiều nhất Thỏ anh biết mình lớn hơn nên lúc nào cũng nhường nhịn

em Song Thỏ em thì ngược lại, Thỏ em cứ thích mình ngoan hơn anh, được

mẹ khen nhiều hơn anh”

(Ai đáng khen nhiều hơn)

Đoạn trích có sử dụng những từ phức, cụ thể bao gồm những từ ghép: anh

em, Thỏ xám, làm việc, đứa con, đáng khen, thỏ anh, thỏ em, ngược lại, nhường nhịn

Cả ba đều đẹp như trăng rằm

(Ba cô gái)

Ngày đăng: 14/09/2017, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w