1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngôn ngữ ký hoàng phủ ngọc tường luận văn thạc sĩ ngữ văn

153 518 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vốn học vấn uyên thâm cùng với vốn sống rộng lớn mà ông đã cóđược trong những năm tháng lăn lộn trên Trường Sơn, gắn với tuyến lửa VĩnhLinh đã làm cho bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường đặc sắc

Trang 1

lª thÞ h¶i v©n

ng«n ng÷ ký hoµng phñ ngäc têng

Chuyªn ngµnh: ng«n ng÷ häc

M· sè: 60.22.01luËn v¨n th¹c sÜ ng÷ v¨n

Ngêi híng dÉn khoa häc:

PGS TS hoµng träng canhVinh - 2011

Trang 2

Hoàng phủ Ngọc Tường là một nhà văn lớn trong nền văn học Việt

Nam hiện đại Thực hiện đề tài: “Ngôn ngữ ký Hoàng Phủ Ngọc Tường”,

chúng tôi mong muốn tìm hiểu và khám phá nhiều hơn nữa những nét độc đáo trong ngôn ngữ ký của ông, đồng thời góp thêm tư liệu cho cho công việc thẩm định và đánh giá những đóng góp của nhà văn đối với nền văn học nước nhà nói chung và ký Việt Nam hiện đại nói riêng.

Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn,

giúp đỡ tận tình, quý báu của thầy giáo hướng dẫn PGS TS Hoàng Trọng Canh

và các thầy cô trong chuyên ngành Ngôn ngữ - Khoa Văn - Trường Đại học Vinh cũng như các thầy cô, Ban chủ nhiệm khoa và cán bộ khoa Văn, khoa sau Đại học.

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành nhất tới tất cả quý thầy cô, những người thân, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này.

Vinh, tháng 12 năm 2011

Tác giả

Trang 3

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề 6

3 Phạm vi tư liệu khảo sát 10

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 10

5 Nét mới của đề tài 10

6 Bố cục của khóa luận 11

Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT CHUNG LIÊN QUAN ĐỀ ĐỀ TÀI 12

1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 12

1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật 12

1.1.2 Ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ 14

1.2 Ký và ngôn ngữ ký 19

1.2.1 Khái niệm ký 19

1.2.2 Ngôn ngữ ký 26

1.3 Vài nét về Hoàng Phủ Ngọc Tường và ký của ông 29

1.3.1 Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường 29

1.3.2 Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 32

1.4 Tiểu kết 35

Chương 2 TỪ NGỮ VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ NỔI BẬT TRONG KÝ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 36

2.1 Các lớp từ ngữ nổi bật trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 36

2.1.1 Khái niệm về từ và trường từ vựng ngữ nghĩa 36

2.1.2 Các lớp từ ngữ nổi bật trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 38

2.1.2.1 Từ láy 38

2.1.2.2 Từ địa phương 62

2.1.2.3 Trường từ chỉ thiên nhiên 66

2.1.2.4 Trường từ chỉ chiến tranh 70

2.2 Một số biện pháp tu từ nổi bật trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 74

2.2.1 Khái niệm biện pháp tu từ 74

2.2.2 Một số biện pháp tu từ nổi bật trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 75

2.2.2.1 Biện pháp so sánh tu từ 75

2.2.2.2 Biện pháp liệt kê 102

2.3 Tiểu kết 107

Chương 3 CÂU VĂN TRONG KÝ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 109

3.1 Đặc điểm về câu văn trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 109

3.1.1 Khái niệm về câu 109

3.1.2 Đặc điểm về câu văn trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 111

Trang 4

3.1.2.1 Nhận xét chung về câu văn trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 111

3.1.2.2 Các loại câu nổi bật và cách tổ chức câu trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 112

3.2 Tiểu kết 143

KẾT LUẬN 144

TÀI LIỆU THAM KHẢO 146

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ra đời từ rất sớm và ngày càng khẳng định được vị thế của mìnhtrong tiến trình phát triển của lịch sử văn học, ký được xem là một loại hìnhvăn học đặc biệt thể hiện sự vạm vỡ của tư duy và chiều sâu khúc xạ của tâmcảm Ký Việt Nam hiện đại đã gặt hái được những thành quả lớn với nhữngtên tuổi nổi bật như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Thạch Lam, Võ Phiến, Băng Sơn,

Đỗ Chu, Hoàng Phủ Ngọc Tường

1.2 Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những tác giả kinh điển vềthể ký trong văn học Việt Nam hiện đại Vượt qua sự gạn lọc khắc nghiệt củathời gian, ông đã khẳng định được phong cách và dấu ấn của mình bằngnhững trang viết uyên bác trong trí tuệ, tài hoa trong bút pháp và tinh tế trongcảm nhận Vốn học vấn uyên thâm cùng với vốn sống rộng lớn mà ông đã cóđược trong những năm tháng lăn lộn trên Trường Sơn, gắn với tuyến lửa VĩnhLinh đã làm cho bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường đặc sắc, nổi bật ở sự kết hợpnhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén và chất

tư duy thẫm đẫm cùng với tấm lòng nhân văn cao cả của một nhà văn ham mêsống và say mê viết về con người, về quê hương, đất nước

1.3 Năm học 2008 - 2009, chương trình cải cách sách giáo khoa Ngữvăn 12 đã trích dẫn một phần tác phẩm ký “ Ai đã đặt tên cho dòng sông? ”của Hoàng Phủ Ngọc Tường đưa vào giảng dạy Từ đó đã mở ra một cách tiếpcận sâu rộng hơn về thể loại ký nói chung và ký Hoàng Phủ Ngọc Tường nóiriêng Có thể thấy từ trước đến nay, với đặc trưng thể loại của mình, thể ký và

ký Hoàng Phủ Ngọc Tường chưa thật sự được chú ý, được đánh giá cao vàchưa có một công trình nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc cả về nội dunglẫn hình thức, đặc biệt là về mặt ngôn ngữ

Trang 6

Vì vậy, việc tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ ký Hoàng Phủ Ngọc Tườngnhằm góp thêm một cái nhìn toàn diện hơn về những tác phẩm ký của ông, từ

đó góp phần đánh giá, khẳng định vị trí của thể ký nói chung và ký HoàngPhủ Ngọc Tường nói riêng trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại, cũngnhư góp phần vào việc giảng dạy thể loại ký ở trường phổ thông thêm hoànthiện và sâu sắc

2 Lịch sử vấn đề

Không phải đến năm 1972, Hoàng Phủ Ngọc Tường mới bắt đầu sángtác, nhưng ông đã lấy mốc 1972 khi tập bút ký “ Ngôi sao trên đỉnh Phu VănLâu” được xuất bản làm mốc khởi nghiệp văn chương của mình Hơn 30 nămcầm bút, trong đó hơn 12 năm đã phải chống chọi với bệnh tật, nhưng cùngvới các nhà văn khác, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp phần làm nên diện mạođời sống văn học của thời đại mình bằng những sáng tác đều đặn về thơ, nhànđàm và đặc biệt là bút ký

Trước Hoàng Phủ Ngọc Tường, thể ký đã có nhiều cây bút lão luyện,nhưng cho đến ngày nay, Hoàng Phủ Ngọc Tường được đánh giá là một trongnhững cây bút xuất sắc của thể loại này Cuối năm 2006, đầu 2007 ông đượctrao tặng giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật

Đánh giá chung về sự nghiệp văn chương của Hoàng Phủ Ngọc Tường,sách giáo khoa Ngữ văn 12 đã viết: “Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trongnhững nhà văn chuyên về bút ký Nét đặc sắc trong bút ký của ông là sự kếthợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với

tư duy đa chiều tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa,lịch sử, địa lý Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mêđắm và tài hoa” [84]

Cũng đánh giá cao về Hoàng Phủ Ngọc Tường và những sáng tác củaông, nhà văn Nguyên Ngọc cùng đã từng viết: “ Đối với anh Tường tôi nghĩ,

Trang 7

chẳng việc gì phải giới thiệu Tên tuổi anh người đọc cả nước đều biết rõ, độcgiả ngoài nước cũng nhiều người biết và hâm mộ Anh là một trong số mấynhà văn viết ký hay nhất của văn học ta hiện nay” [74, tr.853]; “Ngòi bút củaanh vốn là một ngòi bút trữ tình” [74, tr.848].

Và cũng không phải ngẫu nhiên, trong “Tác giả văn học Việt Nam”Nguyễn Đăng Mạnh đã xếp Hoàng Phủ Ngọc Tường vào một trong nhữngnhà văn tiêu biểu của văn học Việt nam hiện đại với lời giới thiệu đầy trântrọng: “Trong số nhiều nhà văn đã dành gần như toàn bộ lao động nghệ thuậtcủa mình cho thể ký hiện nay, Hoàng Phủ Ngọc Tường là một cây ký đắcsắc” [65]

Tác giả Hoàng Cát cũng đã đưa đến cho bạn đọc một cái nhìn khá sâusắc và toàn diện và sâu sắc về ký Hoàng Phủ Ngọc Tường: “ Không hề có cái

gì gọi là “đao to búa lớn” trong các trang viết của nhà văn Hoàng Phủ NgọcTường, cũng không hề có sự “bài binh bố trận” gì cầu kỳ, giật gân hoặc đánhvào thị hiếu tò mò và tầm thường theo “mốt” thời thượng mấy năn gần đây,nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cứ rỉ rả, cứ lặng lẽ kể ra, viết ra những dòngchữ bình dị nhất, nhưng đồng thời cũng là bình dị nhất trong trái tim của mộtnhà văn tài năng” [10, tr.856]

Cùng với Hoàng Sỹ Nguyên và Huỳnh Như Phương, Hoàng Cát cũngđánh gía rất cao tài năng viết ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường, xem ông là mộtnhà văn có phong cách viết bút ký văn học rất riêng và đặc sắc Đồng thờiHoàng Cát cũng cho rằng, thế mạnh của Hoàng Phủ Ngọc Tường là ở “Trithức văn học, triết học, lịch sử, địa lý sâu và rộng” [10, tr.857]

Trần Thùy Mai cũng cho rằng: “Văn là vẻ đẹp phát tiết ra bên ngoài,chất là sức mạnh tiềm tàng từ bên trong Khi đọc lại những bài nghiên cứu

về văn hóa - lịch sử của anh Tường, tôi lại nhớ đến ý nghĩ ấy Nếu “văn” ởđây là nét tài hoa duyên dáng trong từng câu, từng chữ đem lại cho người

Trang 8

đọc sự hứng thú và rung cảm, thì “chất” chính là sức mạnh của vốn sống,vốn kiên thức rất quảng bác làm giàu thêm rất nhiều cho sự hiểu biết củangười đọc” [61].

Tài năng, sức sáng tạo của Hoàng Phủ Ngọc Tường còn được Hoàng

Sỹ Nguyên nhận thấy ở: “Cái tâm của một con người dào dạt; là tấm lòng yêumến da diết văn hóa dân tộc, yêu quê hương, đất nước; là trái tim luôn cùngnhịp đập với nhân dân, đồng loại” [77, tr.16]

Không chỉ được đánh giá cao về mặt nội dung, mà ký Hoàng Phủ NgọcTường còn được đánh giá, khẳng định về mặt nghệ thuật

Nguyên Ngọc chỉ ra cách viết bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường quanhận xét: “Cũng chính nhà văn gốc Séc Milan Kundera vừa nhắc đến trên mộtlần đã nói: “Cái nền trầm tưởng của một cuốn tiểu thuyết được chống đỡ bởiđôi ba từ trừu tượng (và) dường như đôi khi một cuốn tiểu thuyết chỉ là mộtcuộc đuổi bắt dài đôi ba định nghĩa (mấy từ trừu tượng) cứ lủi trốn đó” Tôinghĩ cách viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường quả đúng là như vậy ” [74, tr.850]

Tác giả Phạm Xuân Nguyên lại khám phá ra chất Huế trong nhữngtrang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường Cái chất Huế đã làm cho ngôn từ củamột thể loại vốn tưởng như chỉ khô khan trong việc chuyển tải sự thật đã trởnên ngọt ngào như những bài thơ trữ tình sâu lắng: “Ngỡ như không khácđược: viết về sông Hương là phải vậy, viết về “văn hóa vườn” ở Huế là phảivậy Đó là những áng văn, tôi phải nói là mình không quá lời đâu, vì câu chữđược chọn lựa cân nhắc kỹ càng, vì hình ảnh được sáng tạo độc đáo, vì cảmxúc phong phú, bất ngờ, mới mẻ” [78, tr.854]

“Chất Huế của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường vượt ra ngoài phạm vi chỉcái cụ thể riêng biệt của Huế thành ra một tính chất văn phong của nhà văn.Anh thiên về nhìn con người, sự vật, sự kiện được phán ánh dưới góc độ lịch

sử - văn hóa như đã nói và qua lăng kính của một sự cảm nhận dịu êm, nhẹnhàng” [78, tr 855]

Trang 9

Trong bài viết: “Xin được nói về Hoàng Phủ Ngọc Tường như một thi

sĩ của thiên nhiên” Lê Thị Hường đã rất sâu sắc khi nhận xét: “ Những trang

ký viết về Huế là những trang thơ văn xuôi, góp phần khẳng định sự thànhcông của anh về thể ký, đồng thời bộc lộ rõ một phong cách riêng” [45]

Còn Hoàng Cát thì lại cho rằng: “Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cóbiệt tài móc xích và xâu chuỗi các hiện tượng và các sự kiện lại trong mốitương quan rất biện chứng, tạo thành cái duyên hấp dẫn riêng trong các trangviết của ông Nó làm cho các con chữ của ông không chỉ sang trọng, chữngchạc mà còn mang đậm tính cập nhật” [10, tr.858]

Sức hấp dẫn của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường còn ở chỗ tác giả đã “Sửdụng thành công các thủ pháp nghệ thuật sinh động, đa dạng Khả năng tunghoành của cái tôi, nghệ thuật sử dụng yếu tố lịch sử, yếu tố dân gian, truyềnthống dân tộc” [104]; ở ngòi bút “Đẫm đầy một chất thơ, chất trữ tình sâulắng”[93]; ở “Những trang viết đẹp, tràn đầy cảm xúc, giàu tính trữ tình cáchmạng” [95]

Nguyễn Đăng Mạnh còn khẳng định: “Những trang văn của ông viết vềHuế đã chứa đựng nhiều đặc sắc của văn phong ông: trầm tính, lắng đọngtrong giọng điệu; phong phú dày dặn trong vốn liếng và kỹ lưỡng mà tự nhiêntrong ngôn từ, cú pháp” [65]

Cùng ý kiến trên, Lê Xuân Việt lại cho rằng: “Với Hoàng Phủ NgọcTường, cảnh sắc thiên nhiên Huế in rõ bản sắc, bút pháp trong sáng tác củaanh Anh viết về Sông Hương, Bạch Mã, về “thành phố vườn” của Huế vớinhững liên tưởng phong phú, đa dạng, mang dấu ấn của một cây bút tài hoatrong hư cấu sáng tạo hình tượng riêng đầy tính nghệ thuật” [104]

Đứng trên những góc độ và khía cạnh khác nhau, nhưng có thể thấyhầu hết các ý kiến đều đánh giá cao tài năng, tâm huyết và phong cách kýHoàng Phủ Ngọc Tường Mặc dù là thể loại không được đánh giá cao về mặt

Trang 10

nghệ thuật, thế nhưng qua những nhận xét, đánh giá ấy có thể thấy được sứcsáng tạo, dấu ấn tài năng, phong cách độc đáo của Hoàng Phủ Ngọc Tườngtrên từng trang ký Và điều đó đã giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn khithực hiện đề tài này.

3 Phạm vi tư liệu khảo sát

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát 66 tác phẩm kýcủa Hoàng Phủ Ngọc Tường đã được xuất bản gồm:

- 30 tác phẩm ký được Trần Thức tuyển chọn và in trong: “Tuyển tậpHoàng Phủ Ngọc Tường”, Tập 2, nhà xuất bản Trẻ xuất bản năm 2002

- 31 tác phẩm ký trong tuyển tập “Miền cỏ thơm” được nhà xuất bảnVăn nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2007

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1.1 Khảo sát, tìm hiểu những đặc điểm nổi bật ngôn ngữ kýHoàng Phủ Ngọc Tường trên một số phương diện: từ ngữ, câu văn, phươngthức tu từ

4.1.2 Khẳng định phong cách ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phươngpháp nghiên cứu sau:

4.2.1 Phương pháp khảo sát - thống kê

4.2.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp

4.2.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu

5 Nét mới của đề tài

Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường chưa thật sự được đi sâu khám phá vềmặt ngôn ngữ Hầu như chưa thấy có một công trình nghiên cứu nào có một

Trang 11

sự đánh giá sâu sắc và toàn diện về phương diện này Vì vây, với đề tài này,chúng tôi mạnh dạn đi sâu vào khảo sát, tìm hiểu những đặc điểm nổi bật vềngôn ngữ ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường Qua đó góp phần khẳng địnhphong cách, tài năng của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng như những đóng góp

to lớn của ông trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại

Do tính chất mới mẻ của đề tài, nên trong quá trình khảo sát, tìm hiểu

sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Vì thế, chúng tôi rất mongnhận được sự góp ý, bổ sung ý kiến của quý thầy cô cùng các bạn đồngnghiệp để khóa luận có thể hoàn chỉnh hơn

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được triểnkhai qua 3 chương:

Chương 1 Những giới thuyết chung liên quan đến đề tài

Chương 2 Từ ngữ và một số biện pháp tu từ nổi bật trong ký Hoàng

Phủ Ngọc Tường Chương 3 Câu văn trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

Trang 12

Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT CHUNG LIÊN QUAN ĐỀ ĐỀ TÀI

1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật

1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật

Mỗi loại hình nghệ thuật đều được xây dựng trên những chất liệu cơbản và văn học nghệ thuật đã lấy ngôn ngữ làm công cụ, làm chất liệu cơ bảncủa mình Vậy, ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ văn học) là gì? Từ điển thuậtngữ văn học định nghĩa: ngôn ngữ nghệ thuật là “Ngôn ngữ mang tính nghệthuật được dùng trong văn học Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ này có ý nghĩarộng hơn, nhằm chỉ một cách bao quát các hiện tượng ngôn ngữ được dùngmột cách chuẩn mực trong các văn bản báo chí, đài phát thanh, trong văn học

và khoa học” [27, tr.185] Còn từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học lạiđịnh nghĩa như sau: “Ngôn ngữ văn học được xem là một trong những hìnhthức tồn tại chủ yếu của ngôn ngữ, một trạng thái ngôn ngữ tiêu biểu vớinhững đặc điểm khác biệt là: tính đa chức năng về mặt biểu đạt; đặc tính tinhluyện và chuẩn mực về cấu trúc và nguồn gốc phương ngữ của ngôn ngữ vănhọc…” [106] Như vậy, ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ mẫu mực đã đượcchuẩn hoá chọn lựa nhằm phục vụ cho hoạt động giao tiếp, sự hình thành,phát triển tư duy, trí tuệ và toàn bộ hoạt động tinh thần của con người

Ngôn ngữ toàn dân là cội nguồn của ngôn ngữ nghệ thuật Hay nói cáchkhác, ngôn ngữ nghệ thuật đã được hình thành từ ngôn ngữ toàn dân Nhưng

đó là sự hình thành trên cơ sở chắt lọc và gọt giũa nhằm diễn tả một nội dung

ý nghĩa nào đó mang tính nghệ thuật Chính vì thế ngôn ngữ nghệ thuật luônmang dấu ấn cá nhân, thể hiện cá tính sáng tạo, tài năng và phong cách củanhà văn Mối quan hệ giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ tự nhiên là quan

hệ nguồn gốc và thứ sinh, là quan hệ giữa bộ phận và toàn thể TS Huỳnh

Trang 13

Như Phương quan niệm: “Ngôn từ trong tác phẩm văn học là kiểu lời nóinghệ thuật do nhà văn sáng tạo trên cơ sở sản phẩm ngôn ngữ của một xã hội

mà ông ta tiếp thu được” [30, tr.170] Ngôn ngữ nghệ thuật vừa là công cụ tưduy, vừa là phương tiện chuyển tải hình tượng nghệ thuật chủ quan của ngườinghệ sỹ, vì thế nó bao giờ cũng là thứ tín hiệu giàu phẩm chất tâm lý xã hội,vừa giàu tính truyền thống, vừa giàu tính hiện đại; là sự biểu hiện đầy đủ nhất,nổi bật nhất của ngôn ngữ văn hoá và rộng hơn nữa là ngôn ngữ toàn dân

Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học Nó là yếu tố đầu tiên và cũng

là yếu tố cuối cùng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách và tài năng củangười nghệ sỹ Nhà văn sử dụng ngôn ngữ để tạo nên tác phẩm của mình làmột quá trình sáng tạo đặc biệt Bởi lẽ trong quá trình ấy, nhà văn đã khôngngừng tìm tòi, phát hiện, làm phong phú thêm chất liệu mình sử dụng, từ đómang đến cho ngôn ngữ những giá trị mới, đồng thời góp phần làm giàu thêmcho ngôn ngữ dân tộc Sở dĩ làm được điều đó vì ngôn ngữ nghệ thuật có haibình diện nghĩa Một mặt nó có khả năng thể hiện nghĩa trong hệ thống ngônngữ văn hoá với ý nghĩa vố có của từ; mặt khác nó lại có khả năng biểu hiện ýnghĩa hình tượng của tác phẩm nghệ thuật Một tác phẩm nghệ thuật ngôn từkhông đơn giản là sự lắp ghép từ ngữ mà thực sự phải ẩn chứa trong đó sựsáng tạo mang tính nghệ thuật

Căn cứ để phân biệt ngôn ngữ nghệ thuật với các hình thái ngôn ngữkhác chính là ở chỗ ngôn ngữ nghệ thuật là thứ ngôn ngữ mang chức năngthẩm mĩ Chức năng đó được thể hiện ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ trở thành yếu

tố tạo nên hình tượng Vì vậy, ngôn ngữ nghệ thuật là cả một kho tàng kiếnthức chứa đựng trong nó truyền thống văn hoá, chiều sâu thẩm mĩ “Đó làngôn từ giàu tính hình tượng và giàu sức biểu cảm nhất được tổ chức mộtcách đặc biệt để phán ánh đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm và tác độngthẩm mĩ tới người đọc” [59, tr.185] Nó có khả năng khơi gợi ở người đọc sự

Trang 14

cảm thụ thẩm mĩ, nhưng để chiếm lĩnh được nó, người đọc sẽ phải tự nângmình lên một cách toàn diện.

Thuộc tính của ngôn ngữ nghệ thuật chính là tính chính xác, tính hàmsúc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và tính biểu cảm Trong đó tính tạo hình haycòn gọi là tính hình tượng là thuộc tính bản chất nhất xuyên suốt và quy địnhmọi thuộc tính khác trong ngôn ngữ nghệ thuật Nói như thế không có nghĩatrong ngôn ngữ giao tiếp thường ngày các thuộc tính ấy không có, mà chỉ làchúng nhất thời, ngẫu nhiên, không bền vững, còn trong văn học nghệ thuật,

do có cấu trúc đặc thù lại được tổ chức đặc biệt nên chúng trở thành nhữngthuộc tính thực tại Vì thế qua năng lực nghệ sĩ, ngôn từ đã tự biểu diễn, tựnói lên cái mà chỉ nghệ thuật ngôn từ mới nói được

1.1.2 Ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ

Mọi tác phẩm văn học đều được xây dựng trên chất liệu cơ bản là ngônngữ, nhưng ở những thể loại khác nhau của mình, văn học lại có cách xâydựng và tổ chức ngôn từ riêng, theo đặc trưng của thể loại Chính vì vậy, ngônngữ văn xuôi khác với ngôn ngữ thơ (ngôn ngữ trữ tình), khác với ngôn ngữkịch Và trong cái nhìn khái quát nhất người ta thường phân biệt ngôn ngữ thơ

và ngôn ngữ văn xuôi Sự phân biệt này không chỉ làm cho chúng ta thấyđược sự đa dạng, phong phú, cũng như những nét độc đáo trong cách tổ chứcngôn ngữ nghệ thuật mà con thấy được sự giao thoa giữa chúng như nhữngtìm tòi, sáng tạo không ngừng nghỉ của người nghệ sĩ và khả năng vô hạn củangôn ngữ nghệ thuật

Là một bộ phận của ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ văn xuôi là “mộtthứ ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ được xây dựng chồng lên trên ngôn ngữ

tự nhiên với tư cách là hệ thống thứ hai” [57] Ngôn ngữ văn xuôi có hìnhthức tổ chức theo lời mô phỏng ngôn ngữ tự nhiên, nghĩa là có một dạng tổchức rất gần với các dạng lời nói trong các chức năng phi nghệ thuật Đó là

Trang 15

thứ ngôn ngữ có sự đan xen, hoà quyện giữa ngôn ngữ trần thuật của người kểchuyện, ngôn ngữ của nhân vật, ngôn ngữ của cái tôi trữ tình; giữa lời nói trựctiếp và lời nói gián tiếp; giữa các hình thức: độc thoại, đối thoại Tất cảchúng đều có vai trò nhất định đồng thời tương tác lẫn nhau trong kết cấu củangôn ngữ tác phẩm Chính vì thế, các yếu tố ngôn ngữ của các phong cáchngôn ngữ khác như: phong cách sinh hoạt, phong cách hành chính, chínhluận, phong cách báo chí…đều có thể có mặt trong ngôn ngữ văn xuôi Tínhchất đa thanh của ngôn ngữ văn xuôi tự sự hiện đại xuất phát từ chính tínhphức tạp và đa diện của đời sống Ngôn ngữ ấy không còn là cuộc đối thoạicủa các cá nhân riêng biệt mà đã là cuộc trò chuyện, tranh luận của cả mộtthời đại, thậm chí là của các thời đại Điều đó đã làm cho ngôn ngữ văn xuôingày càng phong phú, đa dạng và giàu sức biểu hiện hơn.

Khác với văn xuôi - thể loại văn học thuộc phương thức tự sự, thơ làthể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình gắn liền với những rungđộng, cảm xúc tươi mới, trực tiếp của cái tôi trữ tình “Thơ là một cách tổ chứngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc vàphải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này” (Phan Ngọc) Do đó,

có thể thấy, ngôn ngữ thơ luôn được tổ chức một cách độc đáo, trước hết đó làthứ ngôn ngữ được trau chuốt, gọt giũa đến mức tinh luyện từ vô số lời nóihằng ngày để tạo nên tính đa tầng về ý nghĩa, từ đó giúp nhà thơ chuyển tảiđược tối đa sự tinh tế, phức tạp trong đời sống tình cảm của con người Ngônngữ thơ vì thế là sự kết tinh và thăng hoa của nghệ thuật ngôn từ

Trong văn xuôi, các đơn vị ngôn ngữ cùng một loạt giống nhau đượctập hợp nhờ thao tác lựa chọn thông qua mối quan hệ liên tưởng Nhà văn cóthể chọn bất kỳ đơn vị nào trong mỗi loại tương đồng rồi kết hợp với nhau đểtạo nên thông báo Lựa chọn đơn vị nào trong hệ thống là do dụng ý nghệthuật của tác giả Tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ luôn được dùng

Trang 16

để xây dựng các kết hợp trong thơ Do đó thơ khai thác triệt để thủ pháp lặplại của các đơn vị ngôn ngữ từ cấp độ ngữ âm, từ đến cấu trúc để tạo nên giátrị thẩm mĩ Vì vậy, văn xuôi được sáng tạo trên trục kết hợp thì thơ ca lạiđược sáng tạo trên trục lựa chọn và được thể hiện trên trục kết hợp Ngôn ngữthơ thường được lựa chọn rất kỹ càng vì nó chứa nhiều ý nghĩa xuất phát từ ý

đồ nghệ thuật của tác giả Mỗi từ ngữ khi đưa vào thơ đều qua trục lựa chọncủa tác giả và luôn là những kết hợp độc đáo khác với sự liên kết từ ngữthông thường Thơ chỉ dùng một lượng rất hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ đểbiểu hiện cái vô hạn của cuộc sống cũng như cảm xúc con người Ngôn ngữthơ vì thế là thứ ngôn ngữ được trau chuốt gọt giũa một cách đầy công phu và

tỉ mỉ Nói như thế không có nghĩa là ngôn ngữ văn xuôi không có sự trauchuốt, gọt giũa Đã nói đến nghệ thuật là nói đến sự sáng tạo Và dù cho ngônngữ văn xuôi luôn hướng đến sự giản dị, sự dễ hiểu, thiên về sự lột tả rồi sau

đó mới thể hiện tính hàm súc trong chính sự lột tả ấy thì ngôn ngữ văn xuôivẫn luôn không ngừng tìm kiếm cái đẹp của ngôn từ trong chính bản thân thểloại của mình Ngôn ngữ văn xuôi cũng không chấp nhận sự rườm rà, sự thừathãi, sự vụng về trong câu chữ Nhưng vì đặc trưng thể loại nên nó cho phépnhà văn thoái mái hơn, dễ dàng hơn trong việc sử dụng ngôn từ

Nhưng với thơ thì khác, ngôn ngữ thơ thiên về tính hàm súc, cô đọngđến đậm đặc Ngay cả khi cần lột tả thì thơ vẫn dùng thủ pháp “lời ít ý nhiều”,

“ý tại ngôn ngoại” Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ của màu sắc, âm thanh và nhạcđiệu với những cấu trúc đặc biệt Thơ là một văn bản ngôn từ được tổ chứcbằng nhịp điệu Tuy nhiên đây không phải là nhịp điệu thông thường vốn cócủa ngôn ngữ văn xuôi mà là nhịp điệu được cách luật hoá, được quy định.Ngôn ngữ thi ca bị chi phối bởi luật hài thanh, sự phối hợp nhịp nhàng giữahai âm vực cao - thấp, trầm - bổng, bởi cách hiệp vần, khổ thơ, lời thơ…Vìthế câu trong ngôn ngữ thơ có kích thước nội tại, ngôn ngữ thơ bao giờ cũng

Trang 17

chia cắt thành những đơn vị tương ứng với nhau theo những quy luật tuầnhoàn âm thanh Còn ngôn ngữ văn xuôi là liền mạch Câu trong văn xuôikhông theo một kích thước bó buộc nào cả, không bị gò bó bởi bất cứ mộtkhuôn mẫu nào.

Trong văn xuôi, ngôn từ mang tính miêu tả, nó ít tập trung vào chính

nó Nhiều khi ngôn từ còn trở thành đối tượng miêu tả, thiên về tính đối thoại,thu hút vào mình những “giọng nói” không trùng khít nhau, tạo nên tính đa trịcho ngôn ngữ Tuy nhiên, tính đa trị ày không hoàn toàn giống với ngôn ngữthơ Khi đi vào thơ, ngữ nghĩa của ngôn từ không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩagốc, nghĩa trên bề mặt câu chữ mà nó đã đi vào những tầng ý nghĩa mới mẻhơn, tinh tế hơn, sâu sắc hơn tạo nên nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng cho ngônngữ thơ ca Do đó, ngôn ngữ thơ vừa là ngôn ngữ, vừa là sự phủ nhận ngônngữ chính là ở lẽ đó Với một hình thức tổ chức ngôn từ đặc biệt, kết cấu lờinói trong tác phẩm trữ tình là một kết cấu đơn tuyến, loại trừ những điểmnhìn, những quan điểm, những giọng điệu khác nhau Một tác phẩm trữ tình

dù có diễn tả bao nhiêu mâu thuẫn, xung đột đi chăng nữa thì nó vẫn chỉ đượcbiểu hiện bằng một ngôn ngữ thống nhất Nhà thơ không có quyền nói bằnggiọng của người khác, không có quyền giả giọng hay nhại giọng Tất cả đòihỏi một thứ ngôn ngữ thống nhất, mang tính chủ quan, hoàn toàn phụ thuộcvào một giọng điệu trữ tình nhất định

Cả ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi đều là ngôn ngữ giàu sức khơigợi, dù khả năng ấy ở ngôn ngữ thơ mạnh mẽ hơn Ngôn ngữ thơ có một sứchút kỳ lạ, nó không chỉ gợi lên sự vật, hiện tượng mà còn gợi ra nhiều liêntưởng, tưởng tượng trong tư duy, tình cảm của người tiếp nhận Từ đó mở racho người đọc khả năng cảm thụ thẩm mĩ vô hạn từ vẻ đẹp của ngôn từ

Sự khác nhau trong hình thức tổ chức ngôn từ, trong kết cấu lời nói đãlàm cho ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi tưởng chừng như là hai thế giới

Trang 18

đối lập Thế nhưng giữa chúng lại có sự giao thoa, đặc biệt là trong văn họchiện đại, sự giao thoa này ngày càng được thể hiện rõ nét Yếu tố của vănxuôi tự sự đã len lỏi vào trong tác phẩm trữ tình và ngược lại Và từ đó đãxuất hiện một thể thức mới - thể thức thơ văn xuôi Việc xuất hiện thể thứcnày là một nhu cầu tự thân của thời đại, giống như sự xuất hiện những hìnhthái nghệ thuật khác trong dòng chảy của lịch sử phát triển nghệ thuật Thơvăn xuôi xuất hiện như là một thể thức lưỡng tính, có nghĩa trước hết nó phải

là thơ, sau đó mang hình thức của văn xuôi Hai yếu tố này phải là một, hợpnhất, hoà quyện trong một thể thống nhất Xét về mặt thể loại, thơ văn xuôi

là thơ tự do, cận nhánh, không vần Tính chất của câu văn xuôi dần đẩy thơsát với hiện thực, gần hơn với cuộc sống Đổi lại chất lãng mạn, bay bổngcủa ngôn ngữ thơ có phần yếu đi, cảm xúc cũng vì thế mà có phần kém sâusắc Thơ văn xuôi ra đời trên thế giới cách đây đã hơn 3 thể kỷ, nhưng ởnước ta bài thơ văn xuôi đầu tiên được thừa nhận xuất hiện cùng phong tràothơ mới Sinh thời, Xuân Diệu bàn rất nhiều đến thể thức này, ông cho rằngthơ văn xuôi không phải là “hình thức chủ nghĩa” mà là “một nhu cầu hiệntrạng của sáng tác thơ, muốn mở rộng các hình thức, các thể điệu đặng phục

vụ cho sự diễn đạt nội dung hiện nay đắc lực hơn nữa” (Báo Văn nghệ số 86,ngày 16/1/1965)

Ví dụ:

“Ồ, Mẹ ơi, Hoàng tử trẻ đẹp sắp đi qua nhà ta Làm sao con có thể chăm chú vào việc làm sáng nay? Mẹ dạy con vấn tóc đi Mẹ bảo con nên mặc áo màu nào đi Mà sao mẹ lại nhìn con ngỡ ngàng thể hở mẹ?

Con biết chắc chàng sẽ chẳng thèm nhìn lên ô cửa sổ nhà ta Con biết chàng sẽ vượt qua tầm nhìn mắt con trong khoảnh khắc chỉ còn điệu nhạc hư

ảo, chập chờn của tiếng sáo từ xa nức nở sẽ đến với con” (Mẹ ơi, Hoàng tử

trẻ đẹp sắp đi qua nhà ta - Tagore)

Trang 19

Ngay từ những năm đầu thể kỷ XX, Xuân Diệu đã viết những truyệnngắn thẫm đẫm chất thơ Rồi sau đó người ta lại bắt gặp ở Tự Lực Văn Đoàn,

ở Thạch Lam những trang văn nhẹ nhàng, những câu chuyện dường nhưkhông có cốt truyện ngày càng thu hút và lôi cuốn người đọc Ngôn ngữ thơ

đã len lỏi vào văn chương tự sự như một tất yếu của nhu cầu đời sống conngười Trong tác phẩm văn xuôi, người ta đã bắt gặp sự lặp lại ở tất cả các cấp

độ từ ngữ:

“Đôi khi tôi nhớ người đàn bà ở Bàu Sen, nhớ bóng dáng xấp xãi, ngơ ngác chạy theo bóng dáng chiếc ghe sáng ấy…Tôi nhớ Điền, bao gồm nhớ một đồng loại, nhớ một cách trò chuyện, nhớ một người nghe được tiếng tim mình và nhớ một người che chở…Dường như chúng tôi nhớ, nhớ cồn cào”

(Cánh đồng bất tận - Nguyễn Ngọc Tư)

Hình ảnh trong văn xuôi được diễn tả bằng một giọng điệu trữ tình vànhững câu văn xuôi thì mang âm hưởng của cấu trúc thơ rõ rệt Không chỉ cótruyện ngắn hay tiểu thuyết mà với thể loại ký văn học, một thể loại vốn dĩmang tính chất khô khan thì sự đan xen, hoà quyện này càng được khai thácmột cách triệt để

1.2 Ký và ngôn ngữ ký

1.2.1 Khái niệm ký

Trong cuộc sống ngày càng bộn bề, phức tạp, ký đã ra đời và phát triểnnhư một tất yếu của lịch sử phát triển của văn học nghệ thuật Ký là một trongnhững thể loại thuộc hệ thống văn học ngoại nhập Thế nhưng khi du nhậpvào nền văn học Việt Nam nó đã tạo được chỗ đứng quan trọng và ngày càngkhẳng định được vị trí của mình

Ký là loại hình văn học phức tạp nhất trong văn xuôi tự sự Việt Namthời trung đại, bởi khái niệm ký hàm chứa một nội diện có biên độ hết sức codãn Thoạt tiên, ký có nghĩa là ghi chép sự việc gì đó để khỏi quên và thường

Trang 20

được dùng để chỉ công văn giấy tờ mang tính hành chính Cùng với sự ra đờicủa văn học trung đại Việt Nam vào thế kỷ X, dần dần ký cùng với truyệnngắn và tiểu thuyết chương hồi hợp thành văn xuôi tự sự trung đại

Giai đoạn đầu tiên từ thế kỷ X đến thế kỷ XVI là giai đoạn đặt nềnmóng cho dòng tự sự viết dưới dạng ký Ở giai đoạn này ký chưa đạt đượcthành tựu như truyện ngắn vì ký vẫn dựa hoàn toàn vào văn học chức năng,trong đó đa phần là văn học chức năng lễ nghi Mặt khác, nếu truyện đượcphép đi tìm thời gian đã mất, được tưởng tượng thì ký bị hạn chế trong cáikhuôn viết về hiện tại, những điều phi hư cấu Hơn nữa, đời sống lúc đókhông có nhu cầu về ký và phương tiện in khắc cũng chưa nhiều nên loại kýviết thành tập chưa có điều kiện ra đời Giai đoạn này, ký chủ yếu ở dướidạng văn khắc và tự bạt Nội dung của văn khắc không nổi bật nhưng vănphong khá đa dạng Mỗi bài thường kết hợp giữa tả cảnh, tả tình, kể việc, kểngười với việc phát biểu trực tiếp cảm nghĩ cá nhân khiến chúng mang đậmchất ký Tự và bạt viết ra nhằm mục đích giới thiệu, bình tác phẩm của ngườikhác hoặc bản thân tác giả để bày tỏ quan điểm của mình đối với văn chương,học thuật

Giai đoạn thứ hai từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, xảy ra nhiều biến cốlịch sử Sau khi giành được độc lập, vua Lê đặt ngay cho đình thần nhiệm vụsưu tầm, sao chép, khôi phục các thư tịch đã mất hoặc còn sót lại trong dângian Sự bùng nổ về tác phẩm sưu tầm, san định cũng như sáng tác trên nhiềulĩnh vực làm cho thể văn tự bạt bùng nổ theo Tác giả của những tự bạt đãtrình bày trực tiếp và thẳng thắn quan điểm của mình trên nhiều lĩnh vực, bởivậy, vai trò của người sưu tầm, tuyển soạn phải ra sức biện bạch đúng sai Kýdưới dạng tự bạt đến hậu kì trung đại tách dần ra thành phê điểm văn học vàchia tay văn xuôi tự sự Song, nó đã đặt nền móng cho loại ký nghệ thuật: bởi

Tự bạt chính là tiếng nói cá nhân người viết

Trang 21

Ở giai đoạn này, ký chưa thành một thể riêng, nó chỉ là một phần nhỏnằm trong tác phẩm tự sự nhiều thiên Ranh giới giữa truyện và ký hết sức mờnhạt, và phân biệt dựa vào thái độ người viết Nếu người cầm bút tách mìnhkhỏi các sự kiện, các nhân vật đang được miêu tả như người ngoài cuộc thìđấy là truyện, ngược lại, tác giả hòa mình với tư cách là người trong cuộc thìđấy là ký Hồ Nguyên Trừng với tác phẩm “Nam Ông mộng lục”, Lê ThánhTông với “Thánh Tông di thảo” và Nguyễn Dữ với “Truyền kì mạn lục” lànhững người đặt nên móng cho ký trung đại với việc “ghép” đoạn suy tư vàbình giá đối tượng đang phản ánh vào cuối mỗi thiên tự sự.

Ký chỉ thực sự ra đời ở giai đoạn thứ ba từ thế kỷ XVIII đến giữa thế

kỷ XIX với sự ra đời của “Thượng kinh ký sự” (1783) của Lê Hữu Trác Tácphẩm là đỉnh cao, hoàn thiện thể ký trung đại, và là mẫu mực cho lối viết ký.Sau đó hàng loạt tác phẩm khác ra đời như: “Bắc hành tùng ký” của LêQuýnh, “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ và “Tang thương ngẫu lục”của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án Với sự xuất hiện của “Thượng kinh kýsự” có thể thấy chưa bao giờ ký trung đại có một tác phẩm mà cái tôi cá nhân

của tác giả bộc lộ một cách rõ ràng như thế: tôi thấy, tôi nghĩ, tôi chỉnh đốn

hành lý Tác phẩm còn là sự kết hợp tài tình nhiều bút pháp nghệ thuật: du

ký, nhật ký, hồi ký…Vì thế nó được xem là tác phẩm ký nghệ thuật đích thựcđầu tiên của văn học Việt Nam

Giai đoạn cuối cùng của ký trung đại Việt Nam là nửa cuối thế kỷ XIX.Đây là giai đoạn đời sống xã hội và văn học nghệ thuật bị đảo lộn dưới nhữngchiến dịch xâm lược của thực dân Pháp Cũng như truyện ngắn và tiểu thuyếtchương hồi, sau khi đạt đỉnh cao ở giai đoạn thứ ba, ký rơi vào bế tắc Song, ởgiai đoạn này vẫn có một tác phẩm ký đáng chú ý là “Giá Viên biệt lục” củanhóm tác giả Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản và Ngụy Khắc Đản Lúc này,

ký đứng trước sự lựa chọn lịch sử của mình, một là tiếp tục truyền thống viết

Trang 22

ký bằng chữ Hán, hai là viết ký bằng một thứ chữ mới - chữ Quốc ngữ hiệnđại Đứng trước thời cuộc mới, ký đã tìm ra được con đường đi của mình Tácphẩm “Chuyến đi Bắc Kỳ năm ất hợi” (1876) của Trương Vĩnh Ký dã đánhđấu bước chuyển của thể loại ký từ loại hình trung đại sang loại hình hiện đại.

Ký trung đại kết thúc vai trò lịch sử của mình nhường chỗ cho ký Việt Namhiện đại

Trong đời sống hiện đại, khi đời sống xã hội, kỹ nghệ in ấn và báo chíngày càng phát triển thì ký ngày càng phát huy được sức mạnh của mình trongviệc thâm nhập sâu hơn vào các lĩnh vực đời sống, vào những khúc quanh,những bước ngoặt của lịch sử, của thời đại Ký hiện đại đã thực sự trở thànhmột mảng lớn góp phần làm nên diện mạo của nền văn học dân tộc từ nhữngsáng tác của Nguyễn Ái Quốc từ những năm 20 tới “Việc làng” của Ngô Tất

Tố, “Ngõ hẻm ngoại ô” của Nguyễn Đình Lạp, “Vỡ đê” của Vũ Trọng Phụng,

“Ở rừng” của Nam Cao, “Ký sự Cao Lạng” của Nguyễn Huy Tưởng, “Sốngnhư anh” của Trần Đình Vân, “Họ sống và chiến đấu” của Nguyễn Khải,

“Sông Đà” của Nguyễn Tuân, “Rất nhiều ánh lửa” của Hoàng Phủ NgọcTường, “Nổi niềm U Minh hạ”, “Đồng cỏ chát” của Võ Đắc Danh…

Vì thế: “Ký văn học là một thể loại cơ động, linh hoạt, nhạy bén trongviệc phán ánh hiện thực ở cái thế trực tiếp nhất, ở những nét sinh động và tươimới nhất Tác phẩm ký vừa có khả năng đáp ứng được những nhu cầu bứcthiết của thời đại, đồng thời vẫn giữ được tiếng nói vang xa, sâu sắc của nghệthuật [20, tr.210]

“Trong nghiên cứu văn học Việt Nam đương đại, ký là một thuật ngữdùng để gọi tên một thể loại văn học bao trùm nhiều “thể” hoặc “tiểu loại”:bút ký, hồi ký, du ký…” [33]

“Ký là một loại hình trung gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồmnhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký

Trang 23

sự, nhật ký, tuỳ bút…Ký không nhằm vào việc miêu trình hình thành tínhcách cá nhân trong tương quan với hoàn cảnh Những câu chuyện đời tư khichưa nổi lên thành các vấn đề xã hội cũng không phải là đối tượng quan tâmcủa ký Đối tượng nhận thức thẩm mĩ của ký, thường là một trạng thái đạođức - phong hoá xã hội (thể hiện qua những cá nhân riêng lẻ), một trạng tháitồn tại của con người hoặc những vấn đề xã hội nóng bỏng” [27, tr.137].

Ký văn học là những hình thức ghi chép linh hoạt trong văn xuôi vớinhiều dạng khác nhau: tường thuật, miêu tả, bình luận về sự kiện và conngười có thật trong cuộc sống với nguyên tắc tôn trọng tính xác thực và chú ýđến tính thời sự của đối tượng miêu tả

“Khác với truyện ngắn, truyện vừa, đặc biệt là tiểu thuyết, ký có quanđiểm thể loại là tôn trọng sự thật khách quan của đời sống, không hư cấu Nhàvăn viết ký luôn chú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực đời sống đượcphán ánh trong tác phẩm Ký thường không có cốt truyện có tính hư cấu Sựviệc và con người trong ký phải xác thực hoàn toàn, có địa chỉ hẳn hoi” [27,tr.137-138]

Như vậy xét về mặt nội dung, đề tài, chủ đề mà ký phán ánh là cáctrạng thái dân sự như kinh tế, chính trị, xã hội và các trạng thái tinh thần nhưphong hoá, đạo đức…Ký miêu tả trực tiếp hiện thực hoặc đi vào tái hiệnnhững thời đoạn lịch sử đã qua Có những tác phẩm đi vào miêu tả tính cách

xã hội hoặc dân tộc trong cuộc sống, lại có những tác phẩm chú ý miêu tả cácphong tục, tập quán của đất nước vùng miền qua những nét tính cách tiêubiểu…Có những tác phẩm ký mang tính chất trữ tình triết lý, lại có những tácphẩm nghiêng về tính chất báo chí, chính luận biểu thị sự quan tâm mang tínhthời sự đến những trạng thái và xu hướng nhất định của sự phát triển xã hội.Bên cạnh đó là những tác phẩm ký đậm chất tư liệu, hướng vào việc tái hiệnchính xác thực tại với những sự kiện có thực, kèm theo sự lý giải, đánh giá

Trang 24

của người viết Vai trò của chủ thể sáng tạo trong ký văn học là chọn lọc sựviệc, con người tiêu biểu trong dòng thời sự bề bộn, phức tạp; nhận xét, đánhgiá, bình luận có tính chính luận hoặc biểu hiện cảm xúc trữ tình; vận dụng hưcấu trong khuôn khổ người thực, việc thực và sau đó là tạo cho con người và

sự việc có thêm sức sống, sức biểu hiện

Như vậy có thể thấy, một trong những đặc trưng quan trọng của thể ký

là sự có mặt của cái tôi cá nhân người cầm bút Tất cả sự kiện trong tác phẩmđều là những sự kiện mà bản thân người viết hoặc nhân vật trong tác phẩmchứng kiến, tham dự Điều đó đã góp phần đảm bảo, nâng cao tính xác thựccho đối tượng được miêu tả, đồng thời luôn thể hiện được cái tầm của ngườiviết về các vấn đề của đời sống xã hội Để làm được điều đó, đối với ngườiviết ký kiến thức uyên bác, tài liệu tham khảo là không bao giờ thừa Tuynhiên tầm quan trọng bậc nhất đối với người viết ký vẫn là nguồn tri thức trựctiếp từ sự quan sát, trải nghiệm trong cuộc sống thực tại Do đó, người viết kývẫn luôn luôn là những người theo “chủ nghĩa xê dịch”, đi nhiều, tìm hiểunhiều, bước chân rong ruổi trên mọi nẻo đường

Tính chất hư cấu ở ký rất hạn chế, nó phải luôn nằm trong khuôn khổ

sự thực của đời sống Nhà văn có thể hư cấu trong những thành phần khôngxác định như nội tâm nhân vật, cảm xúc, thiên nhiên cũng như việc sắp xếp,

tổ chức các sự kiện, các chi tiết một cách hợp lý và sinh động nhất Thếnhưng cảm xúc của người cầm bút cùng với sự linh hoạt, nhạy bén trong việc

sử dụng từ ngữ và các biện pháp tu từ đã mang lại cho ký một linh hồn và mộtsức sống đặc biệt Như nhà văn - nhà báo Võ Đắc Danh đã từng nói: “Tôi thìcho rằng hiện thực cuộc sống đã quá phong phú rồi, hà tất gì phải hư cấu Khitiếp cận đời sống, tôi đã gặp những chất liệu thật mà dù cho một nhà văn cótài đến đâu cũng không thể tưởng tượng ra nổi” Ký không được hư cấu,nhưng ký là văn học nghệ thuật, trong khi hư cấu là một quá trình tất yếu của

Trang 25

mọi hoạt động sáng tạo nghệ thuật Không phải tất cả những sự kiện của cuộcsống hiện thực cứ đưa vào trang viết là trở thành tác phẩm ký Nó phải đượcđịnh hình qua bàn tay sáng tạo của tác giả, qua sự tự do về tinh thần

Nguyên tắc điển hình hoá của ký văn học là trên cơ sở viết về ngườithực, việc thực và tôn trọng tính xác thực của đối tượng miêu tả để chọn lọcnhững hình tượng tiêu biểu, mang tính thời sự và thể hiện chúng một cách kịpthời, chính xác nhất

Người ta phân chia ký văn học thành 3 thể loại tiêu biểu: tự sự (bút ký,hồi ký, phóng sự, ký chân dung, ký điều tra…), trữ tình (tuỳ bút, nhật ký,thư…), chính luận (bút ký chính luận, bình luận văn chương, tác phẩm chínhluận…) Các thể loại ký luôn luôn mở rộng khả năng phán ánh, sáng tạo củamình để phù hợp với đối tượng miêu tả Nếu như bút ký, tuỳ bút hướng vàophán ánh cuộc sống khách quan đồng thời bộc lộ những suy nghĩ chủ quancủa tác giả, thì nhật ký lại ghi chép những câu chuyện riêng tư của người cầmbút, du ký ghi lại những câu chuyện, những sự việc mà tác giả bắt gặp trênđường đi, thì hồi ký lại ghi lại những diến biến của một câu chuyện, của mộtnhân vật theo thời gian qua sự hồi tưởng…Có thể thấy, mỗi thể loại của kývăn học mang những đặc trưng riêng nhằm tái hiện lại bộ mặt của đời sống xãhội trong sự bộn bề của nó, nhưng ranh giới phân biệt giữa các thể loại nàychỉ mang tính chất tương đối

Có thể nói ký là một loại văn tự sự hay nói như Goulaiep ký là mộtbiến thể của loại tự sự Tính xác thực là đặc trưng quan trọng nhất và có tínhnguyên tắc của ký Vì thế ký không nhằm thông tin thẩm mĩ mà là thông tin

sự thật nhưng không phải vì vậy mà ký thiếu tính nghệ thuật Tính nghệ thuậtcủa ký vốn dĩ đã nằm trong bản thân hiện thực đời sống, hình ảnh về quêhương đất nước, lịch sử vẻ vang của dân tộc, những nét đẹp của văn hoá,phong tục, tập quán, những câu chuyện đời thường, những nhân vật tiêu

Trang 26

biểu…tự bản thân nó đã mang trong mình tính thẩm mĩ; bên cạnh đó, tínhnghệ thuật của ký còn là vẻ đẹp của câu chữ, của ngôn từ, vẻ đẹp của tâm hồnngười nghệ sỹ Tất cả đã làm nên một thể loại: “Phong phú trong tư liệu,chính xác trong hiểu biết và trung thực trong tất cả những gì được rút ra từ thếgiới nội tâm của người viết” [94, tr.172]

1.2.2 Ngôn ngữ ký

Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của mọi thể loại văn học, đồngthời nó cũng là một trong những phương diện đóng vai trò quan trọng trongviệc thể hiện phong cách tác giả Ngôn ngữ là chung cho tất cả mọi người,nhưng mỗi cá nhân sử dụng ngôn ngữ là khác nhau, phụ thuộc vào rất nhiềuyếu tố khách quan và chủ quan Mặt khác đặc trưng về thể loại cũng chi phốiviệc sử dụng ngôn ngữ, nhưng điều đó lại càng thách thức tài năng của ngườinghệ sỹ

Để không trở thành một thể loại văn chương chỉ đơn thuần kể về ngườithực, việc thực, trong khi yếu tố hư cấu lại không được phát huy thế mạnh củamình, nên dường như mọi sức nặng của thể ký đều tập trung ở ngôn ngữ Mặc

dù so với các thể loại khác, ở ký ngòi bút của nhà văn không được phép “tunghoành” trong thế giới của câu từ một cách tư do và thoái mái Trong thế ký,chất liệu ngôn ngữ được sử dụng là những chi tiết hiện thực trực tiếp gắn vớimôi trường xảy ra sự kiện Thế nhưng không vì thế mà ở thế loại này, ngônngữ không phát huy được sức mạnh của mình mà ngược lại, ngôn ngữ đã thểhiện được khả năng tiềm ẩn của nó qua bàn tay tài hoa của người nghệ sỹ.Điều đó được thể hiện rất rõ trong những trang ký của Nguyễn Tuân, của TôHoài, Của Võ Phiến hay Hoàng Phủ Ngọc Tường…

Đọc tuỳ bút của Nguyễn Tuân, Nguyễn Đăng Mạnh đã có những nhậnxét rất xác đáng: “Nói đến tuỳ bút Nguyễn Tuân phải nói đến gí trị của nó vềmặt văn chương chữ nghĩa hiểu theo nghĩa hẹp, nghĩa là những tìm tòi sáng

Trang 27

tạo trong cách diễn ý, tả cảnh, trong cách đặt câu, dùng từ Nguyễn Tuânthuộc vào số những nhà văn tha thiết và hiểu sâu sắc tiếng mẹ đẻ Ông sốngvới từng hình ảnh khắc hoạ, từng câu viết, từng từ đặt trên trang giấy.” [64,tr.78] Hay nhận xét của ông về ký Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Những trangvăn của ông viết về Huế đã chưa đựng những đặc sắc của văn phong ông:trầm tĩnh, lắng đọng trong giọng điệu, phong phú dày dặn trong vốn liếng và

kỹ lưỡng mà tự nhiên trong cú pháp” [65]

Trần Đình Sử trong cái nhìn đối sánh về phong cách ký của NguyễnTuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã có những nhận xét về ngôn ngữ kýcủa hai ông như sau: “Khác với phong cách Nguyễn Tuân đầy chất văn xuôixương xẩu, ghồ ghề với cái nhìn hỏm hỉnh, bút ký của Hoàng Phủ NgọcTường nghiêng hẳn về chất thơ thi vị ngọt ngào”[81, tr 254]

Có thể thấy, trong tác phẩm ký, ngôn ngữ gắn liền với thái độ, lậptrường, quan điểm, vốn sống, vốn hiểu biết cũng như sự nhạy cảm của nhàvăn Nếu như ký Nguyễn Tuân thiên về sử dụng nhiều động từ, kết hợp vớilối ví von, so sánh, ẩn dụ, khiến ngôn ngữ luôn sinh động, nhiều màu sắc,nhiều tầng ý nghĩa thì Hoàng Phủ Ngọc Tường lại thiên về sử dụng những lớp

từ chỉ cảm xúc, chỉ tâm trạng để miêu tả hiện thực cuộc sống cũng như diễn tảđược những trạng thái, những biến đổi tinh tế trong thiên nhiên cũng nhưtrong thế giới nội tâm, tâm linh của con người Trong thế giới của ký, nhà văn

đã luôn tìm tòi và sáng tạo không ngừng trong việc lựa chọn và xử lý ngôn từ.Điều đó lý giải cho việc không phải ngẫu nhiên mà trong tác phẩm ký củamình, các nhà văn luôn khai thác thế mạnh của trường từ, từ láy, từ Hán Việt,các biện pháp tu từ… Nhưng để đảm bảo tính khoa học, tính chính xác và làmtăng hiệu quả thuyết phục cho người đọc, nhà văn cũng phải bổ sung các sốliệu, các dữ liệu, các chi tiết của ngôn ngữ khoa học như một sự tất yếu

Ngoài ra, ngôn ngữ ký còn là sự đan xen có chọn lọc yếu tố ngôn ngữcủa các phong cách ngôn ngữ khác, đặc biệt là phong cách ngôn ngữ chính

Trang 28

luận, báo chí Và không thể thiếu trong ngôn ngữ ký là lớp từ ngữ thông tục:

từ địa phương, tiếng lóng, thành ngữ…Bên cạnh đó, chúng ta còn bắt gặpnhiều trong ký những từ ngữ có tính chất giả định, kiểu như: “Thiết nghĩ”,

“tôi cho rằng”, “có thể nói”, “hình như”, “dường như”, “có lẽ”…Kiểu ngônngữ này một mặt cho thấy bản lĩnh, chủ ý, cũng như lối nói thận trọng trong

tư duy của tác giả, mặt khác thể hiện thái độ tôn trọng độc giả của nhà văn,gợi sự suy ngẫm, tìm tòi nơi bạn đọc

Cùng với việc sử dụng từ ngữ, câu văn trong thể loại ký cũng được khaithác một cách linh loạt, độc đáo Có thể thấy ký sử dụng đa dạng, phong phúcác loại câu Đó là những câu văn rất dài, nhiều thành phần, nhiều bộ phậnnhằm chuyển tải những ý tưởng trùng điệp, hay liệt kê các sự việc, các hìnhảnh Nhưng có khi đó lại là những câu văn rất ngắn, xen kẽ vào đó là nhữngcâu đặc biệt Sự đan xen các loại câu vừa mang cho ngôn ngữ ký vẻ duyêndáng, sang trọng với những chiêm nghiệm, đánh giá sâu sắc, đồng thời vừađem đến độ linh hoạt, nhanh nhạy, sự gắn kết các thành phần làm nên mộtchỉnh thể hài hoà thống nhất

Ví dụ:

“ Hà Nội! Bắc Việt của một ngày xa xưa ơi! Bây giờ liễu ở Hồ Gươm

có còn xanh mươn mướt như hồi ta bước ra đi? Những chồi sơn trúc thạch hương ở Nghi Tàm có còn chứa phong quang như cũ? Níu Nùng ra sao? Hồ Tây thế nào? Con đường Bách Thảo thơm nức mùi lan tây, hàng đêm, ta vẫn cùng đi với người vợ bé nhỏ, bồng con ở trên tay để đi đến thăm người bạn sống cô chích ở trong vườn “Bìm Bịp” bây giờ thế nào?” [5, tr.13]

Ngôn ngữ ký với những đặc trưng riêng biệt của mình đã giúp nhà vănphán ánh một cách sâu sắc nhất bức tranh cuộc sống, khơi gợi ở người đọcnhững giá trị thẩm mĩ, đồng thời góp phần làm cho ngôn ngữ văn hoá dân tộctrở nên trong sáng và giàu có hơn

Trang 29

1.3 Vài nét về Hoàng Phủ Ngọc Tường và ký của ông

1.3.1 Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường

Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937, tại thành phốHuế Quê gốc của ông ở làng Bích Khê, xã Triệu Phong, huyện Triệu Phong,tỉnh Quảng Trị Học hết bậc trung học, Hoàng Phủ Ngọc Tường tiếp tục họclên Năm 1960, ông tốt nghiệp khoá I, ban Việt Hán, Đại học Sư phạm SàiGòn Cũng năm này, ông bắt đầu dạy học tại trường Quốc học Huế cho đếnnăm 1966 Trong thời gian dạy học ông vẫn không ngừng tiếp tục con đườnghọc vấn của mình, năm 1964, ông nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoaHuế Thời gian này ông tham gia phong trào học sinh sinh viên, trí thức Huếvới tư cách là Tổng thư ký hội sinh viên Huế

Đất nước chìm ngập trong khói lửa chiến tranh, Hoàng Phủ Ngọc Tường

từ biệt công việc dạy học của mình, từ năm 1966 - 1975 ông thoát ly lên chiếnkhu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ bằng hoạt động nghệ thuật

Ông từng là Tổng thư ký Hội văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên Huế, Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chíCửa Việt

-Năm 2007, ông được trao tặng Giải thưởng nhà nước về văn họcnghệ thuật

Năm 1998, Hoàng Phủ Ngọc Tường bị bạo bệnh, từ đó đến nay ông thếgiới của ông gói gọn trên chiếc xe lăn trong một ngôi nhà ấm áp ở Huế cùngvới gia đình của mình

Tác phẩm chính của Hoàng Phủ Ngọc Tường:

- Thể loại ký (chủ yếu là bút ký):

Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn lâu (1972)

Rất nhiều ánh lửa (1979, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1980) Bản di chúc của cỏ lau (truyện ký, 1984)

Trang 30

Ai đã đặt tên cho dòng sông? (1984)

Hoa trái quanh tôi (1995)

Huế, di tích và con người (1996)

Ngọn núi ảo ảnh (2000)

Trong mắt tôi (2001)

Rượu Hồng đào chưa nhắm đã say (truyện ký, 2001)

Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé (2005)

Miền cỏ thơm (2007)

Lời tạ từ gửi một dòng sông (2011)

Năm 2002, Nxb Trẻ và Công ty Phương Nam đã xuất bản “Hoàng PhủNgọc Tường tuyển tập” gồm 4 tập, với gần 2000 trang in, chọn lọc toàn bộ tácphẩm xuất sắc nhất của ông

Những dấu chân qua thành phố (1976)

Người hái phù dung (1995)

Trang 31

Giải A về Văn học nghệ thuật Cố Đô 1998 - 2003

Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật - 2007

“Một cây cổ thụ gần 30 năm, anh viết và sống nghiêm túc, nhiều lúc đếnmức khắt khe với chính mình Mỗi bài báo, bài thơ, bài ký thường đào sâu vấn

đề thời sự nóng bỏng, dùng những từ ngữ đầy sức thuyết phục, để độc giả khiđọc các tác phẩm của anh luôn cảm nhận được sự mới lạ, sâu sắc” [83]

Hoàng Phủ Ngọc Tường đến với con đường văn chương đầy duyên nợbắt đầu từ thơ và tiểu thuyết với vốn liếng của một người thầy giáo đầy khátvọng và lý tưởng dẫn thân của một trí thức, một kẻ sĩ Nhưng sau đó cùng vớivốn học vấn uyên thâm, đặc biệt là sự am tường về triết học Đông, Tây vàhành trang quý giá trong những năm tháng lăn lộn trên chiến trường đã giúpông đi vào cuộc sống với những phân tích, mổ xẻ đầy sáng tạo Từ đó ông đãchuyển sang viết ký, gắn chặt thể loại này với cuộc đời, sự nghiệp văn chươngcủa mình Tuy vậy, sau gần mười năm lên rừng, ra Bắc rồi trở về Huế, HoàngPhủ Ngọc Tường cũng mới chỉ có thơ và một tập bút ký đầu tay “Ngôi saotrên đỉnh Phu Văn Lâu”(1972) Vì thế mãi đến năm 1973, Hoàng Phủ NgọcTường mới chọn làm năm khởi nghiệp của mình với sự thành công đầu tiêncủa tác phẩm ký đầu tay này Từ đó, ông đã dành trọn trái tim, nhiệt huyết củamình cho từng trang viết, ngay cả khi nổi bất hạnh lớn nhất đổ ập xuống cuộcđời của mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn không ngừng say mê viết với đôitay run rẩy không cầm nổi bút và đôi chân đã không còn có thể đi như nhữngnăm tháng rong ruổi để tìm, để hiểu và để viết "Lúc đó tôi chỉ lo mình không

đủ thời gian để viết hết những gì đã ấp ủ bấy lâu nay, bao nhiêu công việcdang dở còn chờ mình phải hoàn thành sao dễ dàng gục ngã như vậy được",nhà văn bộc bạch [56] Đã hơn 13 năm kể từ ngày ngã bệnh đến nay, HoàngPhủ Ngọc Tường đã cho xuất bản hàng trăm trang sách Những tác phẩm như

"Huế - di tích và con người", "Rượu hồng đào chưa uống đã say", “Trịnh

Trang 32

Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé”, “Lời tạ từ của một dòng sông”

là thành quả của ông trong suốt thời gian dài lao động trên giường bệnh Ôngnói: "Không thể đi đây, đi đó được nữa nên chỉ còn cách nhớ lại những kỉniệm, kể lại những câu chuyện mà mình từng chứng kiến trong những nămtháng rong ruổi dọc đất nước, dọc những dòng sông" [56] "13 năm nay, nhờ

có những dòng sông trong ký ức, nên dù phải ngồi một chỗ nhưng tâm hồn tôilúc nào cũng hướng ra bên ngoài, vui cùng cuộc sống Bảy cuốn bút ký viếttrên giường bệnh của tôi có đóng góp lớn nhờ hoài niệm về những dòng sông.Mỗi khi mệt mỏi chực gục ngã, tôi lại thúc mình phải vươn lên như những đợtsóng vỗ mãi không mỏi" [56]

“Như một phép lạ, sau cơn đột quỵ năm 1998, anh đã qua được và từ

đó đến nay dù nằm yên một chỗ, anh vẫn sống với tất cả ý nghĩa của sự sống:làm việc, cảm nhận và yêu thương Anh đã sống lâu hơn rất nhiều nhữngngười cùng thời mạnh khỏe Và viết, vẫn giọng văn tinh tế, uyên bác Hãytưởng tượng anh đã lao động vất vả như thế nào khi bàn tay không còn cầmbút được nữa Hãy tưởng tượng anh đã khó khăn thế nào khi không còn được

đi đến nơi này nơi kia để thu thập thêm vốn sống, vậy mà tự rút ruột, anh vẫncòn vốn để viết” [60]

“Lời tạ từ gửi một dòng sông” cũng chính là lời từ biệt của Hoàng PhủNgọc Tường với độc giả, với con đường văn chương đầy đam mê của mình

1.3.2 Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

“Bước ra khỏi cuộc chiến tranh, tôi nghiệm ra một điều là tôi cần phảinói về những gì tôi đã trải nghiệm Tiểu thuyết và truyện ngắn có vẻ nhưkhông giúp tôi làm được điều này Thế là tôi chọn ký, thể loại gần nhất vớihiện thực đời sống Với thể ký, tôi có thể nói tuỳ thích những gì đang diễn ratrong tâm hồn tôi, những trải nghiệm đẹp và cả những đau khổ nữa Thời đạinào cũng cần sự thật Nhà văn càng cần phải nói lên sự thật”

Trang 33

Với quan điểm đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chọn ký làm nơi gửigắm tất cả tâm hồn của mình: những cảm xúc, những trăn trở, những suyngẫm, những tình cảm sâu nặng với quê hương, đất nước…Sau thành côngcủa tập bút ký đầu tay “Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu” (1972), từ năm 1975trở đi Hoàng Phủ Ngọc Tường chuyên tâm sáng tác liên tục và được địnhdanh là một nhà văn chuyên viết ký Hàng loạt tác phẩm ký ra đời đã khẳngđịnh vị trí, tài năng của ông trên diễn đàn văn học nói chung và trong nền kýhiện đại Việt Nam nói riêng như: “Rất nhiều ánh lửa”, “Rượu Hồng Đào chưauống đã say”, “Ngọn núi ảo ảnh”, “Miền cỏ thơm”…

Năm 2002, Công ty Văn hóa Phương Nam cùng nhà xuất bản Trẻ đãxuất bản thành công Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường trọn bộ 4 tập: một tậpnhàn đàm, một tập thơ và hai tập bút ký Trong công trình này, tác giả TrầnThức đã sưu tầm, chọn lọc và sắp xếp lại các tác phẩm tiêu biểu của HoàngPhủ Ngọc Tường đã được in hoặc đã được đăng báo nhằm đưa lại cho bạnđọc một cái nhìn khá đầy đủ và khá toàn diện về sự nghiệp của ông, đặc biệt

là ký Bên cạnh đó tuyển tập còn giới thiệu một số bài viết, một số ý kiếnđánh giá, nhận xét về sự nghiệp cũng như nhân cách, tài năng ông

Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là ký trữ tình chính trị Tiểu loại ông viếtnhiều nhất là bút ký Đây là thể loại: “Ghi lại những con người và sự việc mànhà văn đã tìm hiểu nghiên cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thểhiện một tư tưởng nào đó Sức hấp dẫn và thuyết phục của bút ký tuỳ thuộc vàtài năng trình độ quan sát, nghiên cứu khám phá, diễn đạt của tác giả đối vớicác sự kiện được đề cập đến nhằm khám phá ra những khía cạnh “có vấn đề”,những ý nghĩa mới mẻ, sâu sắc trong va chạm giữa tính cách và hoàn cảnh, cánhân và môi trường Nói cách khác, giá trị hàng đầu của bút ký là giá trị nhậnthức” [27, tr 23-24]

Trong cuộc trả lời phóng vấn Hoàng Hữu Quyết, Hoàng Phủ NgọcTường đã từng nói: “ Để ký sống mãi là rất khó Trước hết, phải có văn, phải

Trang 34

có vốn văn học Văn phong là yếu tố cần nhất của văn chương nói chung, kýnói riêng Nếu ý tưởng hay mà thể hiện trong bài viết không hay thì không thể

đi vào lòng độc giả được Ngoài ra, nó còn đòi hỏi nhiều yếu tố khác, ký làmột cái gì có thật, không hư cấu, hoặc phải có cách viết mà độc giả đọc khôngcho đó là hư cấu Điều tiếp theo là tính lạ Dân gian có nói “khoai đất lạ, mạđất quen”, thì yếu tố “đất lạ” phù hợp với một loại khoai là ký” [83]

Đề tài trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường rộng lớn, đi từ rừng hội LạngSơn đến tận mảnh đất mũi Cà Mau, lại trở về Huế, về đất Quảng, về quêhương Quảng Trị thân thương; từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ - những anhhùng dân tộc, những danh nhân, trí thức, văn nghệ sĩ cho đến những conngười bình dị trong cuộc sống đời thường; từ những đền đài lăng tẩm đếnnhững món ăn, những khu vườn, những bông cỏ dại ven đường…Tất cả đãlàm nên những bài bút ký đặc sắc của ông

Đặc trưng tác phẩm Hoàng Phủ Ngọc Tường là chất trị tuệ, dựa trênvốn kiến thức sâu rộng về địa lý, lịch sử, văn học, kết hợp với lý luận sắc bén,được phô diễn trong hành văn súc tích, say đắm và hào hoa Tình cảm dànhcho đất nước, quê hương, bè bạn, thiên nhiên và nhân đạo vượt ra khỏi khuônsáo văn chương, trở thành sinh lực lay chuyển tâm tư người đọc

Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường cho chúng ta thấy ở nhà văn một bút lựcdồi dào Đó là một lối hành văn uyển chuyển, ngôn từ đa dạng và giàu hìnhảnh Từng từ, từng cụm, từng vế trong câu văn giống như một nét vẽ tàihoa của người nghệ sĩ Có những bài ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường ngườiđọc ngỡ ngàng bởi dường như đó không còn là lối diễn đạt thông thườngcủa văn xuôi nữa mà dường như đó là những kiểu chữ thường thấy trongthơ ca “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, “Miền cỏ thơm”, “Thời thơ ấu xanhbiếc”, “Mái nhà dưới bóng cây xanh”, “Rừng tuổi dại”, “Quê nhà”…lànhững bút ký như thế

Trang 35

Có thể nói Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tạo cho thể loại bút ký mộtphong cách riêng, một hơi thở mới, tiếp nối và khai triển kinh nghiệm các bậcthầy của tùy bút: Nguyễn Tuân, Võ Phiến, Tô Hoài….Hơn 30 năm tận tuỵ vớinghiệp văn, cho đến lúc này có thể nói Hoàng Phủ Ngọc Tường đã dành trọntâm huyết và cuộc đời của mình cho thể ký và trở thành một hiện tượng độcđáo, một gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại.

1.4 Tiểu kết

Tìm hiểu một tác phẩm văn học dù ở bất cứ thể loại nào cũng phải bắtđầu từ ngôn ngữ Và ở mỗi thể loại, ngôn ngữ được thể hiện khác nhau vớinhững đặc trưng riêng biệt Chính vì thế, ngoài mã chung được sử dụng thìngôn ngữ văn xuôi hoàn toàn được phân biệt với ngôn ngữ thơ Nhưng tiềmnăng của ngôn ngữ là vô hạn và người nghệ sĩ trên con đường sáng tạo củamình đã không ngừng tìm tòi, phát hiện để khai thác tiềm năng ấy Sự giaothoa của ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi là một minh chứng cho điều đó

Tất cả những lý thuyết trên đã được vận dụng vào một thể loại văn họcđặc biệt, đó là thể loại ký Thể loại đã góp phần làm nên diện mạo của nềnvăn học dân tộc, đồng thời đã khẳng định tên tuổi của nhiều tác gia lớn, trong

đó có Hoàng Phủ Ngọc Tường Tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp và đặc biệt là

ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là những khám phá có giá trị lớn lao về tài năng,

về niềm đam mê sáng tạo, về khát vọng cống hiến của một nhân cách lớn

Trang 36

Chương 2

TỪ NGỮ VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ NỔI BẬT

TRONG KÝ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

2.1 Các lớp từ ngữ nổi bật trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

2.1.1 Khái niệm về từ và trường từ vựng ngữ nghĩa

a Khái niệm từ

Mặc dù là đơn vị có sẵn, tồn tại tự nhiên trong ngôn ngữ và cũng là đơn

vị trung tâm của ngôn ngữ, nhưng từ trước đến nay, vẫn chưa có một sự thốngnhất, một định nghĩa hoàn chỉnh về từ Đã có rất nhiều định nghĩa về từ đượcđưa ra:

“Từ là một đơn vị định danh của ngôn ngữ, nó cũng là một hình thứcngữ pháp được các thành viên của một tập thể hiểu như nhau trong quá trìnhtrao đổi Từ có âm thanh và hình thức Tuy vậy âm thanh và hình thức chỉ lànhững phương tiện để cấu tạo nên từ, bản thân chúng chưa phải là từ Chỉ khinào gắn liền với một ý nghĩa nào đấy thì chúng mới có khả năng biểu đạt tưtưởng” [12, tr.3]

“Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mangnhững đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định,tất cả ứng với một kiểu cấu tạo nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏnhất để tạo câu” [12, tr.16]

“Từ là đơn vị nhỏ nhất mà có thể vận dụng độc lập được trong lời nói”[11, tr.360]

Dù các định nghĩa về từ đưa ra chưa thật đầy đủ, và càng không dễdàng gì bao quát hết được ngôn ngữ trên toàn thế giới, nhưng về cơ bản có thểthấy từ là một đơn vị có sẵn, tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ, là cơ sở để conngười tiến hành nhận thức và tạo ra các sản phẩm ngôn ngữ phục vụ cho hoạt

Trang 37

động giao tiếp Sự hình thành và tồn tại của từ trong hệ thống ngôn ngữ nhìnmột cách tổng thể là để phục vụ cho toàn thể xã hội, cho mọi hoạt động tưduy và giao tiếp nói chung Ở mỗi cá nhân, từ được tích luỹ dần và tồn tại ởtrạng thái tĩnh, trong tiềm năng ngôn ngữ Chỉ khi nó được mỗi cá nhân sửdụng trong hoạt động giao tiếp của mình thì từ mới thật sự thể hiện vai trò,chức năng của nó.

Khi từ được hiện thực hóa trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể thìcũng là lúc vốn từ được huy động và kết hợp với nhau tạo thành những đơn vịngôn ngữ lớn hơn: cụm từ, câu, ngôn bản Và cũng chính trong quá trình này,

từ mới thực sự bộc lộ rõ và cụ thể hoá các thuộc tính, các đặc điểm của nó, vàthậm chí là biến đổi, chuyển hoá đa dạng, phong phú hơn

Vốn từ vựng của một ngôn ngữ không phải là bất biến Trải qua thờigian, qua sự phát triển của lịch sử, vốn từ này ít nhiều có sự thay đối và pháttriển về số lượng Có những từ sẽ mất đi, sẽ bị đào thải theo thời gian vì nó đãkhông còn phù hợp với thời đại nữa Ngược lại một lượng lớn từ mới sẽ xuấthiện như một tất yếu của sự phát triển xã hội dù nó là vốn từ vay mượn hay

nó là tiếng mẹ đẻ

Bất kỳ một tác phẩm văn học nào cũng đều phán ánh bức tranh cuộcsống thông qua hình thức ngôn ngữ Nhưng ngôn từ trong mỗi tác phẩmkhông giống nhau, điều đó tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có yếu tốnhà văn Vốn từ của một nhà văn tuỳ thuộc nhiều vào xuất thân, trình độ họcvấn, văn hoá, sự am hiểu cuộc sống, khả năng tích luỹ và sử dụng ngôn từ…của từng người Từ đó tạo nên những “bức tranh ngôn ngữ” sinh động, đầymàu sắc cho nền văn học nước nhà

b Trường từ vựng ngữ nghĩa

Đối với bất kỳ ngôn ngữ nào giữa các từ cũng có không ít sự tươngđồng về hình thức và ý nghĩa Căn cứ vào những cái chung giữa các từ, các

Trang 38

nhà nghiên cứu đã tiến hành phân lập hệ thống từ vựng của các ngôn ngữkhác nhau thành những hệ thống nhỏ hơn và phát hiện ra quan hệ giữa các từtrong từ vựng Lý thuyết về trường nghĩa đã ra đời với tư tưởng cơ bản làkhảo sát từ vựng một cách có hệ thống như thế Vậy trường từ là gì?

Trường từ là: “toàn bộ các đơn vị ngôn ngữ (chủ yếu là các đơn vị từvựng) tập hợp lại do sự thống nhất về nội dung (đôi khi cũng có sự đồng nhấtcủa các dấu hiệu hình thức) và phán ánh sự tương đồng về khái niệm, về đốitượng hay về chức năng của những hiện tượng mà các đơn vị ngôn ngữ đóbiểu thị” [106, tr.320]

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu thì “ Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi

là một trường nghĩa Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về nghĩa”[13, tr.170]

Cũng giống như từ, trường từ vựng của mỗi nhà văn là khác nhau cho

dù anh cùng phán ánh một vấn đề, vì điều này cũng tuỳ thuộc vào trình độhọc vấn, vốn sống, sự am hiểu cuộc sống, tư tưởng thẩm mĩ cũng như khảnăng tích luỹ vốn từ của người cầm bút Nội dung phán ánh càng phong phúthì số lượng từ tập hợp càng lớn Thông qua trường từ vựng, chúng ta sẽ cómột cái nhìn cụ thể hơn về vốn từ của mỗi nhà văn cũng như cách nhà văn ấyvận dụng vốn từ của mình để tạo nên những tác phẩm văn học Mặt khác điều

đó cũng góp phần làm giàu đẹp hơn ngôn ngữ của dân tộc

2.1.2 Các lớp từ ngữ nổi bật trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

2.1.2.1 Từ láy

a Khái niệm từ láy

Tiếng Việt có một số lượng từ vựng khá lớn mà các nhà ngôn ngữ họcthường xếp vào loại từ láy với những tên gọi khác nhau như: từ lấp láy, từ láy

âm, từ ngữ kép phân thức… Theo thống kê của các nhà ngôn ngữ học, trongkho tàng từ vựng tiếng Việt, từ láy chiếm một số lượng đáng kể, khoảng hơn

Trang 39

5000 từ và được xem là một trong 5 phương thức cấu tạo từ tiếng Việt gópphần làm nên sự giàu đẹp cho ngôn ngữ dân tộc.

Có 3 hướng quan niệm chính về từ láy (xét về cơ chế cấu tạo): coi láy

là phụ tố, coi láy là ghép và coi láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trưnghóa Hầu hết các nhà ngôn ngữ học đều thống nhất quan niệm xem láy là sựhòa phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hóa Với quan niệm này, giáo sư HoàngVăn Hành đã rút ra quy luật cơ bản của cấu tạo từ láy:

- Láy tuân theo quy tắc điệp và đối một cách triệt để, nhất quán

- Xét ở góc độ sử dụng thì từ láy có tính chất gợi tả, giá trị biểu cảm vàgiá trị phong cách Từ láy thiên về biểu cảm, gợi cảm, gợi hình, gợi tâm trạnghơn là biểu thị sự vật mặc dù nó chứa đựng đầy đủ các nét biểu vật, biểu niệm

Nó giúp con người tư duy hình tượng và xây dựng hình tượng ngôn ngữ

- Từ láy là sự hòa phối ngữ âm, có tính chất biểu trưng hóa Ba cấp độbiểu trưng hóa ngữ âm trong vốn từ láy là:

+ Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm giản đơn

+ Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu

+ Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm, vừa chuyên biệt hóa về nghĩaNhư vậy có thể thấy, chức năng cơ bản của từ láy là chức năng miêu tả,chức năng bộc lộ và chức năng thay thế Đặc điểm chung của loại từ láy làchúng thường diễn tả những sắc thái tình cảm khác nhau của người nói Về ýnghĩa thì từ láy thường khúc xạ khỏi ý nghĩa của các từ phái sinh ra nó Nghĩacủa từ láy thường là nghĩa tổng hợp, khái quát; nghĩa sắc thái hóa hoặc nghĩacủa các khuôn vần láy “Mỗi từ láy chứa đựng trong mình một sự thể hiện rấttinh tế và sinh động về sự cảm thụ chủ quan, về cách đánh giá và thái độ củangười nói trước sự vật và hiện tượng của đời sống xã hội” [23, tr 6] Từ láy

đã tận dụng những phương pháp diễn đạt qua âm thanh để chuyên chở những

ấn tượng, cảm xúc, ý nghĩa chủ quan của người nói Đây là phương thức diễn

Trang 40

tả ý nghĩa của từ bằng những ấn tượng gợi ra từ chính âm thanh của nó Cóthể nói từ láy tiếng Việt là một minh họa cho tính cách điệu âm thanh trongngôn ngữ Không bao giờ ngôn ngữ là sự bắt chước máy móc tiếng động tựnhiên Trong cơ cấu ý nghĩa của từ láy không thể thiếu vai trò của hành độngliên tưởng ngữ âm Biểu trưng hóa ngữ âm trong từ láy là một hành động tâm

lý gần gũi với tâm lý sáng tạo của tác giả khi chắt lọc ý nghĩa của sự vật vào

hệ thống hình tượng, vào ngôn ngữ

Phương thức cấu tạo của từ láy là phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ

sở hòa phối ngữ âm cho ta các từ láy Căn cứ vào mức độ thành phần âmthanh được láy lại, từ láy tiếng Việt được chia làm 2 loại: láy hoàn toàn và láy

bộ phận

Từ láy 3 tiếng và 4 tiếng được cấu tạo thông qua cơ chế cấu tạo từ láy 2tiếng Trên thực tế thì láy 3 tiếng và 4 tiếng không nhiều Mặt khác có thể coichúng là hệ quả, là bước tiếp theo trên cơ chế láy của từ láy 2 tiếng

Ví dụ: Sạch sành sanh, nhấp nha nhấp nhổm, lúng ta lúng túng…

Từ láy không chỉ được sử dụng trong đời sống giao tiếp hàng ngày nhưmột nét truyền thống văn hóa trong việc sử dụng ngôn ngữ của người Việtnhằm tạo ra một cách nói giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu mà từ láy còn được sửdụng trong sáng tác văn học như một công cụ tạo hình đắc lực, hữu hiệu

“Láy là một phương thức tạo từ đặc sắc của tiếng Việt Mỗi từ láy là một “nốtnhạc” về âm thanh, chứa đựng trong mình một “bức tranh” cụ thể của cácgiác quan: thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác…kèm theo những

ấn tượng về sự cảm thụ chủ quan, những cách đánh giá, những thái độ củangười nói trước sự vật, hiện tượng, đủ sức thông qua các giác quan hướngngoại và hướng nội của người nghe mà tác động mạnh mẽ đến họ” [13] Điều

đó láy giải vì sao trong các tác phẩm văn học từ láy lại luôn xuất hiện với tần

số cao với vẻ đẹp muôn màu muôn vẻ của nó

Ngày đăng: 15/12/2015, 10:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Duy Anh chủ biên (2000), Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí
Tác giả: Tạ Duy Anh chủ biên
Nhà XB: NxbThanh niên
Năm: 2000
2. Vũ Tuấn Anh (1999), “Đời sống thể loại trong quá trình văn học đương đại”, Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học, Viện văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống thể loại trong quá trình văn học đươngđại”, "Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1999
3. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 2004
4. Diệp Quang Ban (1997), Ngữ pháp tiếng Việt , tập 2, Nxb,Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 1997
6. Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh, Phan Mậu Cảnh, Nguyễn Hoài Nguyên (1999), Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh, Phan Mậu Cảnh, Nguyễn Hoài Nguyên
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
7. Như Bình (2009), Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường: nhiều khi nước mắt tràn đẫm gối, http://antgct.cand.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường: nhiều khi nướcmắt tràn đẫm gối
Tác giả: Như Bình
Năm: 2009
8. Hoàng Trọng Canh (2009), Từ địa phương Nghệ Tĩnh về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hoá, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ địa phương Nghệ Tĩnh về một khía cạnhngôn ngữ - văn hoá
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2009
9. Phan văn Cảnh (2000), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Phan văn Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2000
10. Hoàng Cát (2000), “Đọc “Ngọn núi ảo ảnh” của Hoàng Phủ Ngọc Tường”, BáoVăn nghệ (12), In lại trong Miền cỏ thơm, Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc “Ngọn núi ảo ảnh” của Hoàng Phủ NgọcTường”, Báo"Văn nghệ "(12), In lại trong "Miền cỏ thơm
Tác giả: Hoàng Cát
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 2000
11. Nguyễn Tài Cẩn (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 1999
12. Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình ngữ pháp Việt ngữ, Tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ pháp Việt ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1962
13. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
14. Hoàng Thị Châu (1989), Tiếng Việt trên các miền đất nước học (Phương ngữ học), Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt trên các miền đất nước học(Phương ngữ học)
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1989
15. Lê Đức Dục (2000), Hoàng Phủ Ngọc Tường, Người lễ độ với thiên nhiên, http://www.hue.vnn.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Người lễ độ với thiênnhiên
Tác giả: Lê Đức Dục
Năm: 2000
16. Thành Duy (1965), “Mấy suy nghĩ về thể ký”, Tạp chí văn học (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về thể ký”, Tạp chí" văn học
Tác giả: Thành Duy
Năm: 1965
17. Phạm Thị Mỹ Dung (2004), Cảnh sắc thiên nhiên và hương vị đất nước trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảnh sắc thiên nhiên và hương vị đất nướctrong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường
Tác giả: Phạm Thị Mỹ Dung
Năm: 2004
18. Đức Dũng (1994), “Thử phân biệt kí văn học và kí báo chí”, Tạp chí Văn học (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử phân biệt kí văn học và kí báo chí”, Tạp chí"Văn học
Tác giả: Đức Dũng
Năm: 1994
19. Phạm Xuân Dũng (2002), “Người ham chơi nói thật”, Kiến thức ngày nay (390) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người ham chơi nói thật”, "Kiến thức ngàynay
Tác giả: Phạm Xuân Dũng
Năm: 2002
20. Hà Minh Đức (chủ biên, 1993), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
21. Hà Văn Đức (2000), “Nguyễn Tuân, một bậc thầy về ngôn từ”, Báo Văn nghệ (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Tuân, một bậc thầy về ngôn từ”, Bá"oVăn nghệ
Tác giả: Hà Văn Đức
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Kết quả khảo sát và thống kê số lượng, tần số từ láy - Ngôn ngữ ký hoàng phủ ngọc tường  luận văn thạc sĩ ngữ văn
Bảng 2.1. Kết quả khảo sát và thống kê số lượng, tần số từ láy (Trang 41)
Bảng 2.2. Thống kê và phân loại từ láy theo cấu tạo trong 66 tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường - Ngôn ngữ ký hoàng phủ ngọc tường  luận văn thạc sĩ ngữ văn
Bảng 2.2. Thống kê và phân loại từ láy theo cấu tạo trong 66 tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường (Trang 44)
Bảng 2.3. Từ địa phương trong một số tác phẩm ký - Ngôn ngữ ký hoàng phủ ngọc tường  luận văn thạc sĩ ngữ văn
Bảng 2.3. Từ địa phương trong một số tác phẩm ký (Trang 63)
Bảng 3.2. Thống kê câu có định ngữ nghệ thuật trong một số tác phẩm ký - Ngôn ngữ ký hoàng phủ ngọc tường  luận văn thạc sĩ ngữ văn
Bảng 3.2. Thống kê câu có định ngữ nghệ thuật trong một số tác phẩm ký (Trang 129)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w