Vận dụng những cơ sở lí luận và thao tác củahớng nghiên cứu ngôn ngữ thơ, trong luận văn này chúng tôi đi sâu khảo sát,phân tích, miêu tả một cách hệ thống diện mạo ngôn ngữ các bài thơ
Trang 3tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Trần Văn Minh
- ngời đã tận tình hớng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài
tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo, các
GS, PGS, TS Khoa Ngữ Văn, khoa Đào tạo Sau Đại học - Trờng Đại họcVinh; Ban giám hiệu, các đồng nghiệp tổ Ngữ văn trờng THPT Thanh ChơngIII - Nghệ An đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập vànghiên cứu
xin cảm ơn gia đình và ngời thân, cảm ơn sự động viên, khích lệ củabạn bè đồng nghiệp
Vinh, tháng 12 năm 2010
tác giả
Trang 4Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề liên quan đến đề tài 2
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng nghiên cứu 6
4 Phơng pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của đề tài 7
6 Bố cục luận văn 7
Chơng 1 giới thuyết liên quan đến đề tài 8
1.1 Thơ và ngôn ngữ thơ 8
1.1.1 Khái niệm thơ 8
1.1.2 Đặc trng của ngôn ngữ thơ 11
1.2 Hớng tiếp cận thơ từ góc độ ngôn ngữ 13
1.2.1 Về ngữ âm 13
1.2.2 Về ngữ nghĩa 18
1.2.3 Về ngữ pháp 19
1.3 Hoàng Cầm và tập thơ “99 tình khúc” 20
1.3.1 Hoàng Cầm - cuộc đời 20
1.3.2 Những đặc điểm chính trong sáng tác của Hoàng Cầm 21
1.3.3 Tập thơ “99 tình khúc” 31
1.4 Tiểu kết chơng 1 32
Chơng 2 vần điệu, nhịp điệu và từ ngữ Trong tập thơ “99 tình khúc” 33
2.1 Vần điệu và nhịp điệu trong “99 tình khúc” 33
2.1.1 Vần điệu 33
2.1.2 Nhịp điệu trong 99 tình khúc 41
Trang 52.2.3 Từ chỉ thế giới h vô siêu hình 58
2.3 Tiểu kết chơng 2 65
Chơng 3 một số biện pháp tu từ nổi bật và cấu trúc bài thơ trong tập “99 tình khúc” 66
3.1 Một số biện pháp tu từ nổi bật trong tập “99 tình khúc” 66
3.1.1 Biện pháp tu từ ẩn dụ 66
3.1.2 Biện pháp tu từ nhân hoá 71
3.2 Thể thơ và nhan đề bài thơ trong “99 tình khúc” 74
3.2.1 Thể thơ 74
3.2.2 Nhan đề bài thơ 89
3.3 Câu thơ trong “99 tình khúc” 91
3.3.1 Câu thơ là câu hỏi tu từ 91
3.3.2 Câu thơ có hiện tợng tách biệt, vắt dòng 98
3.3.3 Câu thơ có sự kết hợp bất thờng về nghĩa 102
3.4 Tiểu kết chơng 3 106
Kết luận 107
tài liệu tham khảo 109
Trang 6Mở đầu
1 lý do chọn đề tài
1.1 Trên văn đàn Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua, đặc biệt trong lĩnh vựcsáng tác thơ ca, xuất hiện ngày càng nhiều những cây bút với nhiều kiểu thơ,nhiều cách tân thơ Dù vậy, để có một vị trí xứng đáng, tác giả phải là ng ời cóbản lĩnh thơ vững vàng, có một phong cách thơ rõ rệt, đặc biệt phải tạo dựng
đợc cho mình một thế giới thơ riêng biệt, hấp dẫn Hoàng Cầm là một trongkhông nhiều cây bút nh thế Ông là một trong những tác giả tiêu biểu cho nềnthi ca hiện đại Việt Nam Trải qua mấy thập kỷ sáng tác với một sức sáng tạodồi dào và một niềm đam mê nghệ thuật kỳ lạ, Hoàng Cầm đã để lại nhiều tácphẩm thuộc những thể loại khác nhau Trong đó, thơ ca là thành tựu nổi bật
nhất của Hoàng Cầm Năm tập thơ của ông đã đợc xuất bản: Ma Thuận Thành, Lá diêu bông, Về Kinh Bắc, Bên kia sông Đuống, 99 tình khúc Bài thơ
“Bên kia sông Đuống” từng đợc dạy - học nhiều năm ở môn Văn lớp 12 trờng
trung học phổ thông Qua các sáng tác của mình, ông đã hoàn thiện đợc phongcách thơ với một giọng điệu riêng, bản sắc riêng Thơ Hoàng Cầm độc đáo vàgây không ít băn khoăn trăn trở cho ngời đọc bởi cấu tứ ngôn ngữ mới mẻ tàihoa Từ cách chọn chữ đặt câu đến xe kết âm thanh, màu sắc, hình ảnh, tấtcả đều độc đáo, vừa mới lạ vừa thân quen Đóng góp của Hoàng Cầm đợc ghi
nhận xứng đáng: năm 2007, ông đợc tặng Giải thởng Nhà nớc về Văn học Nghệ thuật lần thứ V (Báo Văn nghệ số 11, ngày 17/3/2007) Vì thế, việc
-nghiên cứu thơ Hoàng Cầm là một nhu cầu chính đáng và thiết thực nhằmkhẳng định những đóng góp của ông đối với thơ ca Việt Nam hiện đại, nhất là
về phơng diện ngôn ngữ thơ
1.2 Trong đời sống văn học đơng đại ở nớc ta, Hoàng Cầm vẫn luôn làmột hiện tợng văn học và văn hoá có sức hấp dẫn, cuốn hút đối với khá nhiềunhà lý luận, phê bình văn học và cả một số nhà văn, nhà thơ Chúng ta có thểnhận thấy: phần lớn các nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm (với phạm vi từ mộtbài thơ nhỏ lẻ đến các tập thơ) đều thờng nghiêng theo hớng phân tích, phẩmbình, đánh giá, Mỗi bài viết, mỗi công trình nghiên cứu nh thế đều chỉ ra đểkhẳng định những điểm nổi bật, những đóng góp nào đó của thi sĩ Hoàng Cầmcho nền thơ Việt Nam hiện đại
“99 tình khúc” là một tập thơ đặc biệt trên con đờng thơ của Hoàng
Cầm Tập thơ là tuyển tập tất cả các bài thơ tình trong phần lớn cuộc đời làm
Trang 7thơ của ông; đó là những cảm xúc, rung động từ khi tác giả còn là một cậu bécho đến khi đã có nhiều trải nghiệm trong cuộc sống
Tuy vậy, đến nay vẫn cha có ai tập trung nghiên cứu một cách hệ thống
phơng diện ngôn ngữ trong tập thơ 99 tình khúc“ ” của ông để qua đó có mộtcái nhìn sâu sắc, toàn diện về đóng của Hoàng Cầm cho ngôn ngữ thơ ViệtNam
1.3 Trong sáng tác, mỗi nhà văn, nhà thơ đều cố gắng tạo ra cách thểhiện riêng, phong cách riêng của mình thông qua việc xử lý chất liệu ngônngữ Gần đây, nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nớc
về ngôn ngữ thơ đã cung cấp những lí luận và thao tác cần thiết cho việc khámphá thơ ca từ góc độ ngôn ngữ Vận dụng những cơ sở lí luận và thao tác củahớng nghiên cứu ngôn ngữ thơ, trong luận văn này chúng tôi đi sâu khảo sát,phân tích, miêu tả một cách hệ thống diện mạo ngôn ngữ các bài thơ trong tập
“99 tình khúc” của Hoàng Cầm Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần minh
chứng sự đúng đắn của hớng tiếp cận thơ ca từ góc độ ngôn ngữ, đồng thời cócái nhìn toàn diện hơn vẻ đẹp và sự độc đáo của thơ Hoàng Cầm cũng nh đónggóp của ông đối với thơ ca hiện đại Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề liên quan đến đề tài
Trong những thập niên gần đây, thơ Hoàng Cầm đợc nhiều nhà phêbình văn học, nhiều nhà văn, nhà thơ nghiên cứu, bình phẩm, đánh giá Tuyvậy, vẫn còn nhiều ý kiến trái ngợc nhau trong việc đánh giá thơ ông Trongnhững năm 1948 - 1954, d luận cơ bản nghiêng về phía khẳng định, ngợi ca.Trong những năm 1955 - 1985, đặc biệt sau vụ “Nhân văn - Giai phẩm”, ngời
ta hầu nh không nhắc đến thơ Hoàng Cầm Cùng với Lê Đạt, Trần Dần, Đặng
Đình Hng và một số ngời khác, Hoàng Cầm bị xem là “có vấn đề” về chínhtrị Từ sau khi đất nớc bớc vào công cuộc đổi mới toàn diện, nhất là trongnhững năm gần đây, thơ ông đã đợc nhìn nhận khá cởi mở, đợc tìm hiểu kỹhơn, do đó có nhiều nhận định thấu đáo hơn
Điểm lại các công trình có nhận định thấu đáo về thơ Hoàng Cầmchúng tôi nhận thấy có hai hớng tiếp cận, nghiên cứu nh sau:
Hớng thứ nhất đi vào phân tích, bình giảng những bài thơ cụ thể (“Bên kia sông Đuống”, “Cây tam cúc”, “Lá diêu bông” )
Trang 8Chẳng hạn, các bài viết: “Hoàng Cầm và các bài thơ Bên kia sông
Đuống, Lá diêu bông” (Hà Minh Đức); “Ai tìm thấy lá diêu bông” (Phạm
Xuân Nguyên, “Cây tam cúc - khát vọng yêu thơng và trò chơi con trẻ”(Nguyễn Nguyên Tản), đều đã khám phá đợc chiều sâu giá trị nội dung vànghệ thuật mỗi bài thơ Hoàng Cầm nói trên Đó là những bài thơ đặc sắc, tiêubiểu cho phong cách thơ Hoàng Cầm - một phong cách thơ hiện đại, tân kì củamột hồn thơ cháy bỏng yêu thơng, một hồn thơ luôn đi về miền kí ức và tìmthấy ở đó những nỗi buồn, những nét đẹp vĩnh cửu Đặc biệt các bài viết đềucông nhận tài năng sử dụng ngôn từ, nhịp điệu âm thanh, hình ảnh trong việcbộc lộ cảm xúc của nhà thơ Các tác giả này đều công nhận chất thơ bồngbềnh, h ảo nh cõi vô thức hiện về của bài thơ, đồng thời đánh giá cao sự sáng
tạo trong hình ảnh chiếc lá diêu bông “Tác giả Lá diêu bông đã tạo nên một
chiếc lá và thả nó trôi trên dòng thơ để trôi về đôi nẻo của cuộc đời”(Hà Minh
Đức - Nhà văn nói về tác phẩm).
“Bên kia sông Đuống” vẫn là bài thơ đợc nhiều tác giả chú ý hơn cả.
Có thể kể đến, chẳng hạn: “Bên kia sông Đuống - niềm xót xa, tiếc nhớ gửi về quê hơng trong cảnh điêu tàn” (Phan Huy Dũng), “Bên kia sông Đuống - thế giới đầy ánh sáng” (Nguyễn Minh Thơng) và nhiều bài viết khác của Trần
Đăng Xuyền, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Các bài viết này có điểmchung là đều cho rằng bài thơ đậm chất Kinh Bắc và thể hiện đợc một nét nổibật trong phong cách thơ Hoàng Cầm: thấp thoáng nét tợng trng, thậm chí siêuthực với sự xuất hiện của những câu thơ đột xuất, thần tình
Còn rất nhiều bài thơ khác nữa đợc phân tích, thẩm bình nhng nhìnchung các bài viết này đều thấy đợc vẻ đẹp về phong cách nghệ thuật của thơHoàng Cầm Thông qua việc phân tích các từ ngữ, câu văn, hình ảnh, nhạc
điệu, các tác giả đã chỉ ra: thơ Hoàng Cầm giàu chất dân gian, có sự tham giacủa yếu tố siêu thực, đồng thời rất độc đáo trong ngôn ngữ thơ Qua các bài viếtnày, một hớng cảm nhận thơ ông cũng bắt đầu hình thành trong độc giả
Trong hớng tiếp cận thứ hai, các nhà nghiên cứu bớc vào thế giới thơHoàng Cầm từ những tập thơ cụ thể Trớc hết phải kể đến các bài viết về tập
thơ “Ma Thuận Thành”, “Bên kia sông Đuống”, “Về Kinh Bắc” Quang Huy viết lời vào sách cho tập “Ma Thuận Thành” Khi đọc tập thơ này, Nguyễn
Đăng Mạnh có bài viết “Mấy ý nghĩ nhỏ về thơ Hoàng Cầm” Ngoài ra, còn
có “Đọc Ma Thuận Thành của Hoàng Cầm” (Nguyễn Thị Hoài); “Hoàng
Trang 9Cầm - Gã phù du Kinh Bắc”, “ấn tợng thơ Hoàng Cầm” (Chu Văn Sơn);
“Hoàng Cầm, Nguyễn Bính và ” (Đỗ Lai Thuý); “75 tuổi Hoàng Cầm”(Lê Đạt); v.v Tuy mỗi ngời có những nhận xét khác nhau về thơ HoàngCầm, nhng với cái nhìn nghiêm túc và khoa học, họ đã tìm ra những cái đợc
và cha đợc trong thơ ông Tất cả đều thừa nhận thơ Hoàng Cầm đậm chất h
ảo, siêu thực; ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ là một cuộc bứt phá đa đến nhiềubất ngờ cho ngời đọc Họ cho rằng Hoàng Cầm đã tạo đợc cho thơ mình mộtthế giới riêng, một hơi thở riêng với những cảm xúc nghẹn ngào, những nỗibuồn dịu lắng của kí ức với những khát khao và một niềm hồi cố miên man
Để đánh giá cao tài năng của Hoàng Cầm, Lê Đạt đã không ngần ngại đặtHoàng Cầm bên cạnh Nguyễn Bính: “Hoàng Cầm và Nguyễn Bính là hai tàinăng thơ bẩm sinh, đặc sản của hai vùng đất nớc, một vùng chiêm khê mùathối cơ cực đất Sơn Nam và một vùng tài hoa thanh lịch đất Kinh Bắc” [52;240]
Bên cạnh đó, các tập thơ của Hoàng Cầm còn là đề tài nghiên cứucủa nhiều luận văn thạc sĩ hoặc khoá luận tốt nghiệp cử nhân Ngữ Văn Chẳng
hạn: “Ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm” (Nguyễn Thị Thuý Anh - Luận văn thạc sĩ,
Đại học Vinh, 2001) đã chỉ ra đợc những nét đặc trng nhất về thơ Hoàng Cầm:
“Thơ Hoàng Cầm có một diện mạo riêng, hơi thở riêng: đó là những tiếng thìthầm vọng về từ vô thức, là những nỗi niềm lắng đọng sâu thẳm, là những ảovọng, những kiếm tìm khắc khoải khôn nguôi Từ cách sử dụng thể thơ, từngữ, cấu trúc, âm thanh vừa gần gũi vừa xa lạ, vừa nh là tiếng nói hàng ngày,lại vừa là những sáng tạo nghệ thuật tinh vi, ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm, có thểnói, là sự cộng hởng những âm vang da diết dân ca Quan họ” [1; 106 - 107]
“Thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cầm” (Lơng Minh Chung - Luận văn thạc sĩ,
Đại học Vinh, 2006) khẳng định thế giới hình tợng cũng nh các giá trị văn hoá
đợc thể hiện trong thơ Hoàng Cầm: “Hoàng Cầm là một “Ngời thơ” suốt đờichỉ biết sống và chỉ biết say sa về quê hơng, về qúa khứ, và cả những bộn bềcủa cuộc sống hôm nay”[10, 117]
Sự kết hợp giữa yếu tố thực và h trong thơ Hoàng Cầm (Trần Thị Huyền
Phơng - Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh, 2001) đã lí giải hai phạm trù đối lập
“thực” - “h” và xem đó là bản chất của cấu trúc hình tợng và t duy nghệ thuật.Trần Thị Huyền Phơng xem sự kết hợp giữa hai yếu tố thực và h là nét đặc sắctrong việc xây dựng hình tợng và thể hiện đợc một số nét tiêu biểu của phong
Trang 10cách nghệ thuật thơ Hoàng Cầm Điều này đợc thể hiện trên ba luận điểm cơbản Một là, sự huyền thoại hoá lịch sử - văn hoá quê hơng Kinh Bắc Hai là,tâm linh hoá thế giới tinh thần con ngời Ba là, không gian, thời gian tâm linh.Trong luận điểm thứ ba, tác giả luận văn đã có một lí giải thú vị, đó là “Khônggian tâm linh siêu hình - một cõi miền rất sâu, rất xa xôi và bí ẩn nhằm khámphá đời sống nội tâm, thế giới tinh thần của con ngời” [36, 52].
Nh vậy, thơ Hoàng Cầm đã có nhiều vấn đề đợc nghiên cứu: t tởngnghệ thuật, thế giới hình tợng và văn hoá Kinh Bắc, chất siêu thực, ngôn ngữthơ ; đã có nhiều công trình lớn, nhỏ khác nhau từ phân tích, thẩm bình mộttác phẩm cụ thể đến những bài viết, những luận văn thạc sĩ Điều dễ nhậnthấy là các công trình này chủ yếu thiên về góc độ lí luận văn học, rất ít côngtrình dành hẳn để nghiên cứu ngôn ngữ một tập thơ cụ thể Hơn thế nữa, tập
thơ tình “99 tình khúc” cũng chỉ mới đợc nghiên cứu ở những bài thơ lẻ, cha
có công trình nào đi sâu khám phá vẻ đẹp ngôn ngữ của tập thơ
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Chỉ ra các đặc điểm ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm trong tập “99 tình khúc”,
qua đó thấy đợc đóng góp của ông cho thơ trữ tình hiện đại Việt Nam về mặtngôn ngữ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1 Giới thuyết khái niệm về ngôn ngữ thơ, giới thiệu nhà thơ Hoàng
3.3 Đối tợng nghiên cứu
Toàn bộ các bài thơ trong tập thơ “99 tình khúc” của Hoàng Cầm (Nxb
Văn học, Hà Nội, 1995)
Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát một số tập thơ của các tác giả khác để
có cái nhìn so sánh, đối chiếu với tập “99 tình khúc”.
4 Phơng pháp nghiên cứu
Trang 114.1 Phơng pháp thống kê - phân loại: dùng trong công đoạn su tập và
xử lý ngữ liệu về mặt định lợng
4.2 Phơng pháp phân tích, miêu tả đợc dùng để khảo sát định tính
nhằm khám phá những biểu hiện đặc thù trong cách sử dụng ngữ âm, từ ngữ,câu thơ của Hoàng Cầm
4.3 Phơng pháp so sánh, đối chiếu: đợc dùng để làm nổi bật những nét
đặc sắc, riêng biệt trong ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm so với một số tác giả khác
4.4 Phơng pháp qui nạp: dùng để viết các tiểu kết chơng và phần kết
luận của luận văn
5 Đóng góp của đề tài
Tìm hiểu ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm qua tập “99 tình khúc”, luận văn hy
vọng sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện hơn về sự độc đáo trong sử dụngngôn ngữ thơ tình của ông Từ đó, hình thành một hớng tiếp cận thơ HoàngCầm nói chung và thơ tình Hoàng Cầm nói riêng trong độc giả
6 Bố cục luận văn
Ngoài các phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính của luận văngồm 3 chơng:
Chơng 1. Giới thuyết liên quan đến đề tài
Chơng 2. vần điệu, nhịp điệu và từ ngữ trong tập thơ “99 tình khúc”
Chơng 3. một số biện pháp tu từ nổi bật và cấu trúc bài thơ trong tập
“99 tình khúc”.
Trang 12
Chơng 1giới thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Thơ và ngôn ngữ thơ
1.1.1 Khái niệm thơ
Trong sự phát triển của văn học nhân loại, thơ là thể loại ra đời sớmnhất và phát triển đến ngày nay Thậm chí trong một thời gian dài thuật ngữthơ đợc dùng để gọi tên văn học nói chung Xung quanh thể loại văn học này
đã có rất nhiều định nghĩa đợc đa ra, trong đó không phải quan điểm nào cũngthống nhất với nhau Ngợc lại, có nhiều quan điểm, cách nhìn đối lập nhaugay gắt Điều này thể hiện rõ cả văn học nớc ngoài cũng nh văn học trong n-ớc,văn học cổ lẫn văn học trung đại và hiện đại
Nói đến các định nghĩa về thơ của của các tác giả nớc ngoài, trớc hết taphải nói tới quan điểm của các tác giả thuộc nền lí luận văn học cổ điển Trung
Hoa Lu Hiệp trong cuốn “Văn tâm điêu long” đã từng nói đến ba phựơng diện cơ bản cấu thành một bài thơ, đó là: tình cảm, ý nghĩa (tình văn), ngôn ngữ (linh văn) và âm thanh (thanh văn) đến đời Đờng, Bạch C Dị cũng nêu lên các yếu tố then chốt tạo thành điều kiện tồn tại của thơ: “thi giả: căn tình, miệu ngôn, hoa thanh, thực nghĩa” (thơ: tình là gốc, lời là cảnh, thanh là hoa,
nghĩa là quả) Có thể nói đây là quan niệm toàn diện và sâu sắc nhất về thơtrong nền lí luận văn học cổ điển Trung Hoa
ở châu Âu, các nhà nghiên cứu qua những định nghĩa của mình đã chothấy sự đặc biệt trong trong cách thể hiện cuộc sống và ý nghĩa của thơ: “Thơ
trớc hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật” (biêlinxki); “Trên đời có
những vấn đề chỉ có thể giải quyết bằng thơ” (maiacôpxki); “Tôi coi thơkhông phải là phòng khách quý tộc, nơi chỉ có những ngời bôi dầu thơm và điủng bóng lộn bớc vào Thơ là những ngôi đền mà những ngời áo rách và đichân đất có thể vào đợc” (s petpi); “Cuộc sống sẽ tối sầm nếu không có thơca và con ngời sống nghèo nàn, hoang dã.” (raxun Gamzatốp)
đáng chú ý nhất vẫn là quan điểm của Jakovson, ông cho rằng làm thơ
là tạo ra một cấu trúc ngôn ngữ lập dị, trái khoáy, khác thờng, và chính sựkhác thờng đó mới gây bất ngờ “Mỗi chữ trong thơ đều đã bị biến tính, biếndạng, tức là bị “bóp méo” đi, so với ngôn ngữ hàng ngày” quan điểm này đãnói lên đợc đặc trung cũng nh sự khác biệt của thơ so với các thể loại khác
Trang 13ở Việt Nam, khái niệm thơ cũng đã đợc nhiều nhà nghiên cứu đề cập
đến với nhiều khuynh hớng, quan niệm khác nhau Các tác giả thời Trung đại
cho rằng thơ là để nói chí (thi dĩ ngôn chí) và xem đây là đặc trng lớn nhất của thể loại này phan Phu Tiên trong “việt âm thi tập tân san” đã viết: “trong
lòng có điều gì, tất hình thành lời; cho nên thơ là để nói chí vậy” Nguyễn Bỉnh
Khiêm khi viết tựa tập thơ “Bạch vân am” của mình đã nói rõ hơn nội dung
của chí: “Có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở sự ẩndật” Có thể nói thi dĩ ngôn chí là nguyên tắc mĩ học đã đợc các nhà thơ trung
đại vận dụng mãi đến cuối thế kỷ XIX Bên cạnh đó, tác giả Ngô Thì Nhậm quanhững phát biểu của mình cũng đã cho thấy quan niệm về thơ:
“Mây gió, cỏ hoa xanh tơi, kì diệu đến đâu hết thảy đều từ trong lòngnảy ra hãy xúc động hồn thơ để ngòi bút có thần”
“Thơ mà quá cầu kì thì rơi vào giả dối, quá trau chuốt thì rơi vào xảotrá, hoàn lơng hắt hiu thì rơi vào buồn bã, chỉ có thuần hậu, giản dị, thẳngthắn, không rơi vào buồn bã, không xảo trá mà lại chú trọng ngăn chặn điềuxấu, bảo tồn điều hay mới là những đặc sắc chính của thơ”
Ta thấy Ngô Thì Nhậm đã rất coi trọng cảm xúc, sự thuần hậu, giản dị,thẳng thắn trong thơ Có thể nói, đây cũng chính là đặc trng cơ bản, là cái
“thần” của thơ
Bớc sang thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi lớn, trong đó
có sự xuất hiện của một tầng lớp ngời có cuộc sống, tình cảm, thị hiếu mới.Theo đó văn học, đặc biệt là thơ có sự biến chuyển sâu sắc mới mẻ và khátoàn diện Đầu tiên là tản Đà, sau đến các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới(1932 - 1945) đã đem đến một luồng sinh khí với những cách tân táo bạo làmthay đổi diện mạo thơ đồng thời với những thành tựu rực rỡ của thơ là sựxuất hiện của hàng loạt định nghĩa mới về thơ Mỗi định nghĩa xuất phát từmỗi điểm nhìn khác nhau đã làm cho quan niệm về thơ rất phong phú và đadạng Hàn Mặc Tử cho rằng “Làm thơ tức là điên”; Chế Lan Viên khẳng định:
“Làm thơ tức là làm sự phi thờng Thi sĩ không phải là ngời Nó là ngời mơ,ngời say, ngời điên nó là tiên, là ma, là quỷ, là tinh, là yêu Nó thoát hiện tại,
nó xáo trộn dĩ vãng, nó ôm trùm tơng lai Ngời ta không thể hiểu đợc nó vì nónói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lí” Trong khi Thế Lữnhẹ nhàng phát biểu: “Thơ, riêng nó phải có sức gợi cảm ở bất kì trờng hợpnào” thì Lu Trọng L lại cho rằng: “Thơ sở dĩ là thơ, bởi vì nó súc tích, gọngàng, ít lời mà nhiều ý và nếu cần, phi tối nghĩa, mà tối nghĩa chỉ vì thi nhân
Trang 14không xuất hiện một cách trực tiếp, lời nói của thi nhân không phải là hình
ảnh”
Sau Cách mạng tháng 8/1945, nhiều phát biểu mới ra đời làm phongphú thêm khái niệm về thơ: “Thơ là chuyện đồng điệu, thơ là tiếng nói đồng ý,
đồng tình, đồng chí” (Tố Hữu); “Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh
vi, ngời làm thơ phải có tình cảm cao quý, thể hiện sự nồng cháy trong lòng.Thơ là tình cảm, lí trí, kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tìnhcảm và lí trí ấy đợc diễn đạt bằng ngôn ngữ hình tợng đẹp đẽ qua những lờithơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thờng” (Sóng Hồng); “Thơ hay là thơgiản dị, xúc động và ám ảnh để đạt đợc một lúc ba điều ấy đối với các thi sĩvẫn là điều bí mật” (Trần Đăng Khoa) Có thể nói rằng, trong giai doạn này
định nghĩa về thơ tiêu biểu nhất phải nhắc đến định nghĩa của Phan Ngọc.Trong bài viết “Thơ là gì” tác giả đã nêu lên “Thơ là một cách tổ chức ngônngữ hết sức quái đản để bắt ngời tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc do hìnhthức ngôn ngữ này” 29; 23 đây là một cách định nghĩa thơ theo hớng cấutrúc ngôn ngữ Định nghĩa này đã đối lập đợc thơ với văn xuôi dới góc nhìnloại hình
Trên đây là một số quan niệm và định nghĩa về thơ của các tác giả trongnớc và nớc ngoài, xa và nay Thiết nghĩ, khái niệm về thơ phong phú, ngời viếtkhông thể khái quát hết nội dung t tởng của các quan niệm đó Khi nghiên cứu
thơ Hoàng Cầm, chúng tôi dùng định nghĩa về thơ trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên;
Nxb Giáo dục, 1994): Thơ là “Hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộcsống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàmsúc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” định nghĩa này đã khái quát đợcnhững đặc trng cơ bản của thơ: thiên về thể hiện cảm xúc, hàm súc, cô đọng,ngôn ngữ có nhịp điệu
1.1.2 Đặc trng của ngôn ngữ thơ
Thơ là một thể loại của văn hoc, vì thế trớc hết thơ mang những đặc trngcủa lĩnh vực này Với t cách là một loại hình nghệ thuật văn học khác các loạihình nghệ thuật khác ở cả phơng thức tạo hình lẫn phơng thức biểu hiện Hội
họa, điêu khắc, hoạt cảnh tạo hình bằng cách “Trực tiếp miêu tả các hiện ợng của hiện thực, vẽ nên bức tranh về cuộc sống, mở ra trớc mắt ngời xem những tác phẩm giống với các đối tợng trong thực tế.” [5;33]; kiến trúc, âm
Trang 15t-nhạc, nhảy múa qua chất liệu của mình biểu hiện những cảm nghĩ nhất địnhcủa con ngời, thể hiện cách nhận thức và đánh giá của con ngời đối với cuộcsống.
Khi lấy ngôn từ làm chất liệu để tạo hình và biểu hiện tác giả tất yếuthực hiện hai thao tác cơ bản của hoạt động ngôn ngữ, đó là thao tác lựa chọn
và thao tác kết hợp Thao tác lựa chọn dựa trên khả năng của ngôn ngữ là:
“Các đơn vị có thể luân phiên cho nhau nhờ vào tính tơng đồng giữa chúng”[5; 10] Thao tác kết hợp lại dựa trên khả năng khác của hoạt động ngôn ngữ:
“Các yếu tố ngôn ngữ có thể đặt bên cạnh nhau nhờ vào mối quan hệ tơng cậngiữa chúng.” [5; 24]
Bên cạnh mang những đặc trng chung của văn học (so với các loại hìnhnghệ thuật khác) thì ngôn ngữ thơ còn có những đặc trng riêng biệt của mình.Theo Nguyễn Phan Cảnh, nếu nh văn xuôi làm việc trớc hết bằng thao tác kếthợp và trong văn xuôi lặp lại là một điều tối kị thì ngợc lại “Chính cái điều vănxuôi rất tối kị ấy lại là thủ pháp làm việc của thơ, tính tơng đồng của các đơn vịngôn ngữ lại đợc dùng để xây dựng các thông báo” thao tác kết hợp cho phépngời nghệ sĩ, sau khi lựa chọn có thể tạo ra những kết hợp bất ngờ, sáng tạo dựatrên những tiền đề vật chất mà ngôn ngữ dân tộc cho phép Ngời sáng tác phảibiết chọn lấy một đơn vị nào đó thất phù hợp, có khả năng diển tả đợc cảm xúc,
sự đánh giá của mình trớc đối tợng
Cũng thuộc lĩnh vực của văn học nhng cơ chế vận hành bộ máy ngônngữ của thơ khác văn xuôi văn xuôi có thể sử dụng số lợng ngôn ngữ khônghạn chế Ngợc lại, thơ là thể loại chỉ dùng một lợng hữu hạn các đơn vị ngônngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống bao gồm các sự kiện tự nhiên và xãhội cũng nh tâm lí, tình cảm của cá nhân con ngời
Phan Ngọc đã từng khẳng định: ngôn ngữ thơ có “cách tổ chức hết sứcquái đản” nhắc đến điều này tức là ông muốn nhấn mạnh đến đặc thù riêngbiệt của loại hình ngôn ngữ này trong giao tiếp hàng ngày có hàng vạn cách
tổ chức câu, nhng chúng ta chỉ chú ý đến nội dung còn hình thức của nó hầu
nh không mấy ai quan tâm đến Còn trong thơ, có những câu thơ bền vữnghàng nghìn năm do cách tổ chức ngôn ngữ một cách đặc biệt, “quái đản” của
nó Ngôn ngữ thơ khác với lời nói thông thờng và khác cả ở ngôn ngữ vănxuôiở cấu trúc, lời thơ ít nhng cảm xúc và ý nghĩa rất phong phú và có sức gợicảm lớn
Trang 16Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
Mà ma xối xả trắng trời Thừa Thiên
(Tố Hữu)Hai câu trích trên ta gọi là thơ bởi nó có vần, có nhịp điệu, có hình
ảnh Đặc biệt cách ngắt nhịp 2/2/2/2 đã gợi lên đợc hình ảnh những cơn ma
nh trút, dờng nh không nghỉ
Từ những điều đã phân tích ở trên ta có thể kết luận: xét ở phạm vi thểloại, ngôn ngữ thơ là một chùm đặc trng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằmbiểu trng hóa, khái quát hóa hiện thực khách quan theo một tổ chức riêng củathi ca
1.2 hớng tiếp cận thơ từ góc độ ngôn ngữ
Nh đã nói, ngôn ngữ thơ có những đặc trng riêng so với văn xuôi và cácthể loại khác đặc trng đó chủ yếu đợc thể hiện trên ba phơng diện: ngữ âm,nghữ nghĩa và ngữ pháp làm rõ ba đặc trng này ta sẽ hình thành đợc con đ-ờng để tiếp cận ngôn ngữ thi ca
1.2.1 về ngữ âm
đặc trng của thơ xét về mặt ngữ âm thể hiện rõ nét nhất là ở tính nhạc.văn xuôi cũng có nhịp điệu nhng không rõ nét, không có âm hởng rõ rệt chonên văn xuôi tính nhạc ít đợc nhắc đến Vì vậy đúng nghĩa bản chất của tínhnhạc thì chỉ thơ mới có tính nhạc là đặc điểm có tính phổ biến trong hầu hếtcác ngôn ngữ trên thế giới Tuy nhiên mỗi ngôn ngữ có cách thể hiện tính nhạckhác nhau tùy vào cơ cấu, cách cấu tạo, cách tổ chức “Mỗi dân tộc, mỗi ngônngữ đều có cách hòa âm của riêng mình Cách thức đó dựa trên truyền thốngtừng dân tộc và hình thức của từng ngôn ngữ cụ thể” (Tomusepxki) [11; 202]
Tiếng Việt nói chung và ngôn ngữ thơ Việt Nam nói riêng phong phú vềthanh điệu, số lợng, nguyên âm, phụ âm điều đó góp một phần lớn vào việctạo nên tính nhạc cho thơ: khi trầm bổng, du dơng, khi ngân nga bay bổng, khidồn dập thiết tha Vì thế khi khai thác tính nhạc trong thơ chúng không thểkhông tập trung vào những mặt đối lập sau:
- Sự đối lập về trầm - bổng, khép - mở của các nguyên âm
- Sự đối lập về vang - tắc giữa các dãy phụ âm mũi và âm tắc - vôthanh trong các phụ âm cuối
- Sự đối lập cao - thấp, bằng - trắc của các thanh điệu
Trang 17Cùng với những đối lập trên, vần điệu và nhịp điệu cũng góp phần quantrọng trong việc tạo nên tính nhạc cho thơ ca những yếu tố này vừa là cơ sởvừa là chất liệu cho sự hòa âm, tạo nên âm hởng trầm bổng, diệu kì trong thơ.Phải chăng, chính vì ngôn ngữ thơ giàu tính nhạc mà từ xa xa nhiều hình thức
ca hát dân gian đã lấy thơ dân gian làm chất liệu sáng tác âm nhạc trong âmnhạc hiện đại nhiều bài thơ đợc lấy làm chất liệu để các nhạc sĩ sáng tác cho
bài hát của mình: Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải), Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân), Lá Diêu bông (Hoàng Cầm)
Nh vậy, có thể khẳng định âm điệu, nhịp điệu, vần điệu là ba yếu tốchính tạo nên tình nhạc cho thơ Tuy nhiên, tùy vào từng tác phẩm, từng thểloại mà các yếu tố này có vai trò khác nhau ở tác phẩm này, thể loại này vần
điệu nổi bật hơn nhịp điệu so với tác phẩm, thể loại khác và ngợc lại
1.2.1.1 âm điệu
Khái niệm âm điệu chỉ đợc xác lập trong thế tơng quan với vần điệu,nhịp điệu Hiểu một cách đơn giản, âm điệu là sự hòa âm đợc tạo ra từ sự luânphiên xuất hiện của các đơn vị âm thanh (tiếng) có những phẩm chất ngữ âmtơng đồng và dị biệt trong trục tuyến tính
Tiếng việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập cho nên tính đối lập của âmtiết tiếng Việt đã quy định âm tiết tiếng Việt chứ không phải một đơn vị nàokhác đã tạo ra âm điệu trong thơ cách luật tiếng Việt Sự tổng hòa của các mặtnh: cờng độ, trờng độ, cao độ, âm sắc đã tạo nên phẩm chất ngữ âm của tiếngViệt chính vì thế sự khác nhau giữa âm tiết này với âm tiết khác về trờng độsuy cho cùng là do sự chi phối của hoàn cảnh phát ngôn hoặc do âm lợng củanguyên âm mà có Theo đó ta có những âm tiết kết thúc bằng nguyên âm haybán nguyên âm thì có độ vang và khả năng kéo dài trờng độ lớn hơn âm tiếtkết thúc bằng phụ âm tắc vô thanh
Trong tiếng Việt, thanh điệu là yếu tố cơ bản chi phối phần vần của âmtiết Vì rằng thanh điệu là yếu tố thứ hai thể hiện tập trung nhất phẩm chất củathi phẩm chính vì thế, nói đến cách hòa âm tronh thơ Việt Nam thực chất là nói
đến sự hòa phối các thanh điệu, các cách kết hợp âm thanh theo một kiểu nhất
định nào đó Thanh điệu là sự nâng cao hay hạ thấp giọng nói trong mỗi âmtiết, có tác dụng cấu tạo và khu biệt vỏ âm thanh của từ và hình vị Vì thế thanh
điệu là đặc trng của âm tiết trong khi ngữ điệu là đặc trng của âm, trọng âm là
đặc trng của từ Trong tiếng Việt thanh điệu là yếu tố siêu đoạn bao trùm toàn
Trang 18bộ âm tiết và là yếu tố cơ bản để tạo ra sự khác biệt về phẩm chất ngữ âm giữa
âm tiết này với âm tiết khác, cho nên nó là đối tợng chính của âm điệu và đợctìm hiểu trên hai bình diện là âm vực và đờng nét vận động
- theo âm vực ta có: những thanh có âm vực cao bao gồm thanh khôngdấu, thanh sắc, thanh hỏi và các thanh có âm vực thấp bao gồm thanh huyền,thanh ngã và thanh nặng
- Theo đờng nét vận động ta có: những thanh có đờng nét bằng phẳngbao gồm thanh không dấu, thanh huyền và những thanh có đờng nét khôngbằng phẳng, bao gồm thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã, thanh nặng
Nh vậy sự khác nhau về âm vực và đờng nét các thanh điệu sẽ tạo nên
sự khác nhau ở các cao độ của nốt nhạc hay nói cách khác, sẽ tạo nên tínhnhạc trong thơ
1.2.1.2 vần điệu
Chúng ta có thể khẳng định vần trong thơ có một vị trí rất quan trọng cảtrong sáng tác và cả trong nghiên cứu lí luận: “Vần là sự hòa âm, sự cộng h-ởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ởtrong hay cuối dòng thơ, gợi tả sự nhấn mạnh, sự ngừng nhịp.” [9; 12] Hayvần nh sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau giúp ngời đọc thuậnmiệng, nghe đợc thuận tai và làm cho ngời đọc, ngời nghe dễ thuộc, dễ nhớ”[9; 21 - 22]
Vần là yếu tố quan trọng tạo nên sự hòa âm giữa các câu thơ Sự hòa âmvần trớc hết có chức năng tổ chức, cấu tạo trong thơ, vần là chiếc cầu bắc quacác dòng thơ, gắn kết các dòng thơ lại tong đoạn, khổ và tong bài hoàn chỉnh
Vần thơ Việt Nam khác với vần thơ của các ngôn ngữ khác không cùngloại hình là ở đơn vị hiệp vần Trong tiếng Việt đơn vị hiệp vần là các âm tiết.Trong thơ ca Việt Nam, với ý thức của ngời Việt không bao giờ chấp nhận một
từ đa tiết có thể hiệp vần với một từ đơn tiết hay một từ đa tiết khác mà chỉ chấpnhận sự hiệp vần giữa âm tiết này với âm tiết khác mà thôi trong các vần thơbao giờ cũng có sự cộng hởng, sự hòa xớng với nhau của hai âm tiết có vần đểtạo đợc sự hòa âm cho các cặp vần đồng thời có tác dụng hòa phối, kết hợp, t-
ơng hỗ của các yếu tố tơng ứng giữa hai âm tiết hiệp vần Đó là sự hòa âm giữathanh điệu của âm tiết này với thanh điệu của âm tiết kia Tất cả yếu tố cấu tạo
âm tiếng Việt đều tham gia vào việc tạo nên sự khác biệt của vần thơ Việt Nam
để tránh lặp vần Trong đó có thanh điệu và âm chính, âm cuối là những yếu tốchính tham gia vào việc tạo nên sự hòa âm cho các vần thơ
Trang 19Vần trong thơ là một kiểu lặp lại theo một quy định ngữ âm bất định.Hình thức lặp lại này là dấu hiệu của sự hô ứng, liên kết gọi nhau của nhữngyếu tố từ ngữ, tạo nên kết cấu đặc biệt trong thơ Tính nhạc của thơ cũng bắt
đầu từ đó đã tạo nên khả năng mĩ cảm đặc biệt
1.2.1.3 nhịp điệu
nhịp điệu thực chất là điệu tính đợc tạo ra từ sự xuất hiện luân phiêncác ngữ đoạn trong ngữ lu f de Saussure cho rằng: “Dòng âm thanh chỉ làmột đờng dài, một dải liên tục, trong đó thính giả không thấy sự phân chia nào
đầy đủ và chính xác, muốn có sự phân chia nh vậy phải viện đến ý nghĩa ngngkhi đã biết cần phải gắn mỗi bộ phận của chuỗi âm thanh một ý nghĩa gì vàmột vai trò gì thì ta sẽ thấy những bộ phận đó tách ra, và cái giải vô hình kia
nhịp trong câu thơ khác nhịp trong văn xuôi Nếu nhịp trong văn xuôiluôn luôn trùng với nhịp cú pháp thì nhịp trong thơ không phải bao giờ cũngtrùng với nhịp cú pháp sở dĩ nh vậy là bởi lẽ việc ngắt nhịp trong thơ chịu sựchi phối của yếu tố tâm lí và cấu trúc âm điệu Do đó cách ngắt nhịp, tạo nhịptrong thơ hết sức đa dạng và mang bản sắc của từng nhà thơ
để khảo sát hình thức nhịp điệu của một bài thơ chúng ta có thể dựavào nhiều đơn vị tổ chức văn bản nh câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ trong đócâu thơ (hoặc dòng thơ) là đơn vị tổ chức cơ bản nhất, vì trong câu thơ tậptrung mật độ dày đặc về cú pháp, âm điệu, sự hòa âm
Từ sự phân tích trên ta có thể coi nhịp điệu là xơng sống của bài thơ, làtiền đề cho sự gieo vần nhịp điệu là sự hòa phối âm thanh để tạo ra từ ngắt
Trang 20nhịp và nhịp điệu liên kết các yếu tố ngữ âm lại với nhau để tạo ra nhạc tính,tạo ra sự trầm bổng.
Nh vậy âm điệu, vần điệu và nhịp điệu tuy ở trong bài thơ nó đều cónhững vai trò khác nhau nhng không thể thiếu trong ngôn ngữ thơ Vần vànhịp tuy khác nhau nhng giữa chúng lại có mối quan hệ hữu cơ và tơng hỗ lẫnnhau, cái này là tiền đề của cái kia và luôn luôn bổ sung cho nhau tạo nên sựhoàn chỉnh của những yếu tố hình thức thơ ca Chính chúng đã tạo nên đợctính nhạc quyễn rũ cho hồn thơ, tạo đợc cảm xúc, ý tởng cho thơ
1.2.2 Về ngữ nghĩa
Thơ là một loại hình nghệ thuật ngôn ngữ cô đọng, súc tích về từ ngữ vàhình ảnh Mỗi từ ngữ khi đi vào thơ đều trải qua sự lựa chọn của tác giả Từ sựphân tích trên chúng ta đã thấy vai trò của nhạc trong thơ biểu hiện trên nhiềuphơng diện tính nhạc là tính đặc thù đầu tiên, quan trọng với thơ, nếu thiếu
nó thì thơ không tồn tại nhng nếu chỉ có mình tính nhạc thôi thì cha đủ, chathể làm nên thơ Bên cạch mặt ngữ âm thì ngữ nghĩa cũng là một yếu tố làmnên tác phẩm thơ ca ngữ nghĩa trong thơ khác ngữ nghĩa trong văn xuôI vàtrong đời sống hàng ngày nghĩa trong văn xuôi chủ yếu là nghĩa miêu tả,nghĩa tờng thuật, kể chuyện Còn ở trong thơ mỗi từ ngữ khi đa vào sử dụng
đều rất linh hoạt, phong phú và đa dạng mỗi từ ngữ trong câu thơ chứa đựngsức mạnh tiềm tàng, chúa đựng cái đẹp đẽ, tinh tế và sâu sắc
Ngữ nghĩa trong thơ ngoài giá trị biểu hiện nó còn mang nhiều giá trịkhác Khi vào thơ do đặc trng của tính chất thơ mà nghĩa của từ không nằm lại
ở nghĩa gốc, nghĩa đen, nghĩa ban đầu, mà nó còn mang trong mình nghĩa mớitinh tế hơn, đa dạng hơn Chính đặc tính này tạo cho thơ có hiện tợng đanghĩa Đó là tính chất nói bóng và sự chuyển nghĩa bằng những hình thức ẩn
dụ, so sánh, hoán dụ, nói lái, chơi chữ làm cho ngữ nghĩa của thơ trở nênmơ hồ mà nhiều khi phải có sự tởng tợng, liên tởng mới có sự giải mã và cảm
thụ hết vẻ đẹp tối đa của nó Chính tính nhoè đi về nghĩa (chữ dùng của
Nguyễn Phan Cảnh) trong thơ cho phép ngôn ngữ thơ dung nạp những kiểucấu trúc đặc biệt, có khi bất thờng Đó là sự tỉnh lợc các thành phần ngữ pháp,
kể cả các thành phần chính trong câu Chính và thế ta lại cảm thụ khác nhau
làm nên tính đa nghĩa, hàm súc “ý tại ngôn ngoại” trong thơ Đó còn là những
hình thức sử dụng các trờng hợp dùng từ phiếm chỉ, đảo ngữ, đảo cú pháp,không tuân thủ theo một quy luật thông thờng Và đó còn tạo ra sự ngắt câukhác lạ mà trong cấu trúc văn xuôi không cho phép Ngoài ra còn có các hình
Trang 21thức lấy động tả tĩnh, dùng cái này để nói cái kia Chính vì thế mà trong thơ
mới đợc xem là “lời ít ý nhiều” tạo nên ý nghĩa bóng bẩy, lung linh diệu kì
của ngôn ngữ thơ ca Điều này làm cho khi tìm hiểu một tác phẩm thi cakhông nhất thiết chỉ đi tìm cái nội dung loghic của nghĩa đen với một nộidung rã ràng, minh bạch Đó không phải là đặc trng của thể loại này
Đặc trng ngữ nghĩa này tạo cho thơ có sức cuốn hút kỳ lạ đối với ngời
đọc, ngời nghe Bởi đến với thơ chúng ta không chỉ tiếp nhận bằng mắt, bằngtai mà bằng cả xúc động tình cảm, cả sự liên tởng và trí tởng tợng Để thởngthức cái duyên ngầm, cái âm hởng và tứ thơ toả ra từ những lớp ngữ nghĩa củangôn ngữ ở những dòng chữ, những khoảng trống, giữa những từ, sự im lặng,
ở những dấu chấm hỏi, chấm lửng và chấm than
Cách sắp xếp các từ ngữ trong thơ cũng khác so với văn xuôi ở chỗ khicác thành phần trong dòng, trong câu hay bị đảo lộn trật tự Có nhiều khikhông theo một logic thông thờng, rõ nhất là những câu thơ vắt dòng
Về mặt cấu trúc của câu thơ trong tác phẩm thơ cũng khác so với câutrong văn xuôi vì nó không hoàn toàn tuân theo một quy tắc bắt buộc nào Nhàthơ có thể sáng tạo và sử dụng những kiểu câu “bất bình thờng”, những kiểucâu “quái đản” nh đảo cấu trúc, vắt dòng, câu tách biệt, câu trùng điệp vàkhông ảnh hởng đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản Chính điềunày đợc coi là bất thờng đó đã tạo ra cho thơ những giá trị mới, diễn tả đợc sựvô cùng của sự vật trong hữu hạn của câu chữ, tạo nên phong cách riêng củamỗi nhà thơ
1.3 Hoàng Cầm và tập thơ “99 tình khúc”
1.3.1 hoàng cầm - cuộc đời
Trang 22thi sĩ Hoàng Cầm có tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 02năm 1922, tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; quê gốc xãSong Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
ông xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời Thân sinh ông thi không
đỗ, về dạy chữ Hán và về làm thuốc bắc ở Bắc Giang Tên ông dợc đặt ghép từ
địa danh quê hơng: Phúc Tằng và Việt Yên thuở nhỏ ông học tiểu học, trunghọc đều ở Bắc Giang và Bắc Ninh; đến năm 1938 ra Hà Nội học trờng ThăngLong Năm 1940 ông đỗ tú tài toàn phần và bớc vào nghề văn, dịch sách choTân dân xã của Vũ Đình Long Từ đó, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc
đắng trong thuốc Bắc: Hoàng Cầm
Năm 1944, do thế chiến thứ hai xảy ra quyết liệt, ông đa gia đình vềquê gốc ở Thuận Thành Cũng tại nơi này, Hoàng Cầm bắt đầu tham gia hoạt
động Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông
về Hà Nội, thành lập đoàn kịch Đông Phơng khi chiến tranh Đông Dơngbùng nổ, theo đoàn kịch rút ra khỏi Hà Nội, biểu diễn lu động ở vùng BắcNinh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình một thời gian rồi giải thể
Tháng tám năm 1947, Hoàng Cầm tham gia Vệ quốc quân ở chiến khu
12 cuối năm đó, ông thành lập đội tuyên truyền văn nghệ, đội văn côngquân đội đầu tiên năm 1952 ông đợc cử làm trởng đoàn văn công Tổng cụcchính trị, hoạt động biểu diễn cho quân dân vùng tự do và phục vụ các chiếndịch
Tháng 10 năm 1954 đoàn văn công về Hà Nội đầu năm 1955, do đoànvăn công mở rộng thêm nhiều bộ môn, Hoàng Cầm đợc giao nhiệm vụ trởng
đoàn kịch nói Cuối năm 1955, ông về công tác ở Hội văn nghệ Việt Nam, làmcông tác xuất bản tháng 4 năm 1957 ông tham gia thành lập Hội nhà vănViệt Nam và đợc bầu vào ban chấp hành Tuy nhiên, không lâu sau, do vụ án
“Nhân văn giai phẩm” Hoàng Cầm phải rút khỏi Hội nhà văn vào năm 1958 và
về hu non năm 1970 lúc 48 tuổi
Năm 1988 trong cao trào đổi mới, Hoàng Cầm và một số nhà văn khác
đợc khôi phục t cách hội viên Hội nhà văn Việt Nam, đợc khôi phục quyềncông bố, đăng tải tác phẩm Từ đó đến nay ông sống ở Hà Nội và tiếp tụcsáng tác
Hoàng Cầm đã vĩnh viễn ra đi ngày 06/ 05/ 2010 để lại niềm tiếc thơngvô hạn cho những ngời yêu thích thơ ông
Trang 231.3.2 Những đặc điểm chính trong sáng tác của Hoàng Cầm
Là một nghệ sĩ có sức sáng tạo dồi dào, Hoàng Cầm sáng tác và thànhcông ở cả lĩnh vực thơ lẫn kịch nói, văn xuôi, có một số tác phẩm đã trở nênnổi tiếng các vở kịch Hận Nam Quan, Kiều Loan nhng có thể nói tiêu biểunhất vẫn là sự nghiệp thơ ca hoàng Cầm cũng coi đây là lĩnh vực sáng tácchính của mình ông đã có nhiều bài viết thể hiện tâm sự của mình về thơ:
“Thơ, từ những khát vọng ngời, từ vùng u huyền bí ẩn nhất, bật ra nh một điệu
đàn, nh một hình bóng, bất chợt, nh tiếng nói các thần linh không biết tự thuởnào thơ nối yêu thơng vào khát vọng, lại nhân lên đến hệ số vô cùng Thơcho ta đợc yêu, biết yêu, biết đau và chịu đau Thơ cho ta cái thật trong cuộc
đời, cho ta cái sáng láng trong lành của bầu trời tịnh khí, cho ta màu sắc và âmthanh đẹp nhất
Thơ cho ta cả một bầu trởi sống giàu có và sang trọng, cho ta bao nhiêubức tranh diễm ảo, bao nhiêu bản nhạc huyền diệu, dẫn dắt ta đi trên mảnh đấtnày, dẫu qua đá nhọn gai sắc, vẫn là ta đang bay nhè nhẹ, dìu dặt trong mộtcõi nh không phải của ta mà chính thực là ta, là ngời đang khao khát sống,yêu, say mê và hy vọng Thơ nuôi ngọn lửa trong lòng ta nh bếp than rực hồngsuốt đêm cực bắc và cực nam, đại hàn và đại tuyết Thơ san sẻ niềm vui, chia
sẻ đau buồn, xóa dần vùng u mê, ám khí vẫn thờng lẩn quất đâu đây thơ bẻgẫy vụn lỡi mã tấu của hung thần ác quỷ, thơ nung chảy thành nớc những đạibác, chiến sa, thơ xới đất lên cho mùa gieo hạt” [52; Tr 149,150] Những lờibộc bạch trên cũng chính là quan niệm về thơ của Hoàng Cầm - một quanniệm luôn đề cao yếu tố cảm xúc và sức cảm hóa vô biên của thơ ở lĩnh vựcnày đã có ít nhất năm tập thơ lớn:
Trang 24Hình tợng cái tôi trữ tình là một sản phẩm văn hóa tinh thần của loàingời, nó chỉ xuất hiện khi nhân loại bớc vào giai đoạn văn minh Nghiên cứuhình tợng cái tôi trữ tình là đi vào tìm hiểu một phạm trù mĩ học của thế giớitinh thần đây là một hiện tợng có tính quy luật của cảm xúc, đồng thời phản
ánh một trình độ giao tiếp của con ngời với hiện thực Từ đó, giúp ngời đọcnhận thức đợc các mối quan hệ giữa con ngời và thế giới, cũng nh lẽ tồn tạicủa cá nhân trớc cộng đồng Ta có thể hiểu hình tợng cái tôi trữ tình là mộtcấu trúc mang bản chất xã hội bao gồm: các giá trị của nhân cách với nhu cầu
tự khẳng định mình, là sự tự ý thức về cá tính, cá nhân, chủ thể của nhà thơ vàkết tinh hàng loạt quan hệ với đời sống Mặt khác, cái tôi trữ tình còn là mộtcấu trúc mang bản chất nghệ thuật với: vai trò tổ chức hình tợng thành mộtchỉnh thể thống nhất nhờ cá phơng tiện gnôn ngữ, khả năng nội cảm hóa toàn
bộ thế giới vật chất thanh fhtế giới tinh thần bền vững, thống nhất và độc đáo.mục đích cuối cùng là giúp ngời đọc nhận ra những t tởng thẩm mĩ nhất định
Cái tôi trữ tình trong thơ Hoàng Cầm mang đậm dấu ấn truyền thống
Sở dĩ nói nh vậy bởi trớc hết cái tôi trong thơ ông luôn thể hiện “tố chấtvùng”, “chất ngời của một vùng lãnh thổ” Vùng quê Kinh Bắc là cái nôi lugiữ một thế giới của dân ca huyền thoại, những phong tục tập quán, cảnh sắcthiên nhiên và chủ yếu là lu giữ hồn cốt con ngời xứ Bắc ở đó, vẫn còn vinhquang một thuở những gơng mặt ông cống, ông nghè của một vùng khoa cử,hay thấp thoáng đâu đây bóng dáng của những liền chị quan họ thôn quê lúngliếng đa tình Họ “có phải là linh hồn của đồng quê ta cất lên thành tiếng đókhông? có phải là linh hồn của những thôn nữ ngày xa, của những cô Tấm,Ngọc Hoa, Cúc Hoa, những Xúy Vân đến chết vẫn còn vơng vấn hồn ta đóhòa cùng linh hồn đất nớc ” [27; 52]
đọc thơ Hoàng Cầm ta thấy hiện lên một vùng quê Kinh Bắc thật đẹp,thật nên thơ với những “đồng chiều, cuống rạ”, với những “rặng tre”, “sân đất
trắng”, “giàn thiên lí”, tiếng cuốc gọi những đêm hè: “Mõ đêm hè cuốc lội /
Ao ma dằng dịt lá trờng sinh” Hoàng Cầm kể: Những đêm hè nằm nghe tiếng
cuốc vọng vào đêm cuốc cuốc cuốc sao mà giống tiếng mõ cầu kinh cốc cốc cốc , và ao sau nhà qua một đêm ma bỗng thấy đầy dây rau dút (trờngsinh) Những câu thơ huyền diệu ấy cũng bắt nguồn từ cảm nhận máu thịt củanhà thơ về quê hơng
Trang 25Hình ảnh quê Kinh Bắc đi vào thơ Hoàng Cầm gần gũi, thân thơng nh
bao làng quê Việt Nam khác, nhng cũng thật kì lạ với “sông Đuống nghiêng nghiêng”, con sông Cầu khói sơng “Thôi hẹn chiều sang sơng rủ khói / Lơ thơ che mặt thẹn sông Cầu”, và làng quê đó thật trù phú nên thơ:
xanh xanh bãi mía bờ dâu ngô khoai biêng biếc quê hơng ta lúa nếp thơm nồng tranh Đông Hồ gà lợn nét tơi trong màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
(Bên kia sông Đuống)quê hơng Kinh Bắc luôn luôn vang vọng tiếng chuông chùa “ơi chiều
Kinh Bắc chuông chùa nhuộm son” với ngõ làng xa đầy kỉ niệm:
sao không thể khép cửa buồng thơng nhớ còn phong phanh manh áo
dắt về những ngõ làng xa sao không quên chiều đổ ma con rô rạch ngợc
nớng cong mùa thơ
cơm nghèo thuở trớc
(ngõ)xóm làng Kinh Bắc hiện lên qua kí ức nhà thơ chỉ là những nét nhạtnhòa nhng hết sức thân thơng nó gợi về một dĩ vãng xa vời, gợi lên cái tìnhsâu, nghĩa nặng của nhà thơ đối với nơi chôn nhau cắt rốn, với cội nguồn.làng quê Kinh Bắc man mác cả hành trình thơ Hoàng Cầm là cái nền, làkhông gian cho những hình tợng thơ, cảm xúc thơ nảy nở
thơ Hoàng Cầm hay nhắc đến địa danh vùng Kinh Bắc nào núi Thiênthai, chùa bút tháp, huyện lang tài, chợ hồ, chợ sủi, đồng tỉnh, huê cầu,bãi trầm chỉ những địa danh nôm na nh bao tên làng tên sông khác trên đấtViệt Nam nhng trong thơ Hoàng cầm lại gợi lên nhiều cảm xúc Những địadanh ấy không phải là những tên gọi thông thờng, đó là những địa chỉ cảmxúc của nhà thơ
ai về bên kia sông đuống cho ta gửi tấm the đen mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Trang 26những hội hè đình đám trên núi thiên thai trong chùa bút tháp giữa huyện lang tài
(bên kia sông đuống)cái tôi Hoàng Cầm còn luôn mang trong mình chất kẻ sĩ, bác học củangời cha và chất dân dã, thôn ca đẫm chất huê tình của ngời mẹ Những lời tựbạch của ông trong “Hoàng Cầm, cuộc đời và thơ văn” đã dành những trangviết hết sức cảm động về ngời cha - một ngời cha cuối mùa mang trong mình tốchất của dòng máu giang hồ xê dịch và ngời mẹ - một cô gái quê Kinh Bắc sắc
nớc hơng trời với cái giọng quan họ mợt mà “làm say cả gỗ đá”.
Bên cạnh mang đậm dấu ấn trữ tình, cái tôi trữ tình trong thơ HoàngCầm còn pha lẫn tinh thần hiện đại điều đó thể hiện sự kết hợp giữa yếu tốthực - h trong thơ ông đặc điểm này giống với các nhà thơ trong phong tràothơ mới nh Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân có lẽ Hoàng Cầm cũng nhnhiều nhà thơ mới đều bị ảnh hởng của chủ nghĩa siêu thực trong Văn học Ph-
ơng Tây đầu thế kỷ XX Nhiều bài thơ của Hoàng Cầm đợc kết cấu theo sự chiphối của thế giới vô thức, nhiều câu thơ “bùa chúa”, những biểu tợng “ám ảnh”,
“thần tình” rất khó giải thích, cắt nghĩa cho thật rõ ràng và sắp xếp theo một trật
tự nhất định; nhiều hình ảnh mới lạ, khó hiểu đợc đặt bên nhau nh một “mê hồntrận” và không tuân theo một lôgic thông thờng Kiểu sắp xếp không đồng đẳngnày làm cho ngời đọc có cảm giác nh vừa trải qua một giấc mơ đẹp, mà sau khibừng tỉnh ta càng cố gắng lục lọi, sắp xếp trật tự giấc mơ theo lí tính thông th-ờng thì càng rơi vào tình trạng rối rắm, hỗn loạn và tiếc nuối vô cùng “Trong
tập Về Kinh bắc Hoàng Cầm đã tri nhận thế giới từ niềm vô thức nên hình tợng cái tôi cũng siêu cảm giác, siêu không gian, siêu thời gian và có thể ví nh phạm trù siêu thơ” (Lơng Minh Chung).
Trong thơ Hoàng Cầm ta bắt gặp những từ ngữ không ngờ có thể đặtcạnh nhau, những hình ảnh không ngờ có thể nối tiếp nhau kêu nên nhữngnhững tri thức không ngờ, nhạc điệu không ngờ
Nh vậy, từ việc tìm hiểu một số điều kiện của nền văn hóa truyềnthống chi phối đến thơ Hoàng Cầm, đặt Hoàng Cầm bên cạnh các nhà thơmới trong mối quan hệ đối sánh chúng tôi có thể khẳng định: cái tôi trữ tình
Trang 27trong thơ Hoàng Cầm vừa mang đậm dấu ấn truyền thống vừa mang tinh thầnhiện đại.
1.3.2.2 thơ Hoàng Cầm mang đậm dấu ấn văn hóa kinh Bắc
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Kinh Bắc - nơi nổi tiếng với những
đình chùa miếu mạo, những lễ hội và cả những âm hởng dân ca nên hồn thơHoàng Cầm in đậm những dấu ấn văn hóa này đọc thơ Hoàng Cầm ta dễdàng nhận thấy “hình bóng” một Kinh Bắc cổ kính, nơi có những dòng sônghuyền sử, những tranh làng Hồ và đặc biệt là tiếng hát quan họ
Sống trong không khí của những canh hát quan họ đầu xuân, HoàngCầm đã thâu nhận đơc từ cái kho vật liệu vô tận của ca từ quan họ những câu
hát ngân nga chen lẫn vào trong thơ mình “gà con nhớ mẹ / cỏ vàng rung chân/ ới thơng là thơng” (Đếm nắng), hay những câu thơ ngọt ngào luyến láy
“Lý lý ơi khát khô cháy họng / tình tình ơi chớ động mành tha” (Theo duổi).
Cũng có khi, Hoàng Cầm lại sử dụng lối nói nửa vời của ngời quan họ “hay
là ” nh: “Lý cây Đa lý huê tình / Nguyệt cầm ngại gẩy dỗ dành ai ca / Ngời ơi ngời ở hay là ”(Thể phách tinh anh), hoặc “Tuổi già mợn tấm lòng con / hát lại tình yêu xa lắm / yêu nhau cởi áo cho nhau /về nhà dối mẹ qua cầu gió bay” (Khi mùa xuân trở về).
âm hởng dân ca quan họ trong thơ Hoàng Cầm còn bàng bạc từ thuở ấuthơ, mỗi khúc nhạc nh một “thứ dung môi kì diệu hòa tan mọi tâm hồn” (Chữdùng của Nguyễn thị Bích Hải), nó bay xa và tỏa rộng trong không gian sinhtồn của ngời dân xứ Bắc Lời ca quan họ còn đọng lại qua lời ru của mẹ, góp
phần chắp cánh, ơm mầm cho ớc mơ “Tôi lớn lên / mang giọng mẹ tròn, trong
đôi mắt sáng / thịt xơng quá nặng / lê đi những nẻo đời cong” (Tôi ngời làng
Quan họ) Tiếng hát quan họ có ma lực làm say lòng ngời; nó nh thứ mật ngọtrót vào tai Bởi ngoài nội dung của lời ca là tình sâu nghĩa nặng, là những ứng
xử có văn hóa của cộng đồng ngời Việt trong làng, trong nớc Chẳng hạn ở cáctục lệ “kết chạ”, “rủ bọn”, “ngủ bọn” đều đặt câu, bẻ giọng, rèn đờng ăn, ý ở tất cả đều mặn nồng tình nghĩa
Trong thuật giao tiếp ngời quan họ chuộng “lời nói hữu tình”, “nhời ânnhời nghĩa”, “giọng thanh nhời lịch” Cử chỉ của liền anh quan họ thì mangcốt cách hiên ngang “Anh hai nh trúc mọc ngoài trời”, của liền chị quan họ về
lề lối “Chị Hai nh tấm vóc nhuộm hồng” Tiếng hát quan họ là tiêu biểu cho
Trang 28một thứ nghệ thuật hát thơ mà nội dung của lời thơ phản ánh chân thực nhữnghoài bão, những ớc mơ về một cuộc sống tự do, an lành “cầu may, cầu vui, cầuphúc,cầu thịnh” và khát vọng về một tình yêu thủy chung của con ngời.Những đề tài này rất phổ biến trong thơ Hoàng Cầm đó là những giây phút
mà cái tôi - con tìm lại mình qua thế giới tâm linh “cúi lạy mẹ con trở vềkinh bắc”, hay đắm say cùng tiếng ca quan họ mà thả hồn mình bay qua đầungọn gió, ngập ngừng nơi ruộng lúa bờ nơng
Nói đến văn hóa Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm không thể không nhắc
đến hình bóng của lễ hội Kinh Bắc có thể nói hội hè Kinh Bắc trong thơHoàng cầm là một thế giới của tinh thần, thế giới của t tởng thẩm mĩ Trong
48 bài thơ trong tập “Về Kinh Bắc” đã có tới 12 bài viết về hội hè Trong đóHoàng Cầm dờng nh đã su tầm hết các lễ hội của xứ Kinh Bắc: lễ hội tợng tr-
ng cho văn hóa ẩm thực: Thi làm bún, thi ăn mía, thổi cơm, Hội Vân Hà với
“cỗ ba tầng / giò lụa nổi / giò mỡ chìm / nem bối rố i/ lá sung bay rụng đầy nong”; Lễ hội mang đậm dấu ấn của văn hóa phồn thực: hội vật, Thi đánh đu,
Hội chọn Ngọc Hoàng; Lễ hội thể hiện truyền thống văn hóa uống nớc nhớnguồn của ngời Việt: hội Gióng, Hội Long Khám, Hội đền tám vua triều Lý Hoàng Cầm không chỉ tái hiện lại các hội hè Kinh Bắc với những đề tài quenthuộc từ chuyện xa, tích cũ mà cha ông còn thổi vào hội hè một luồng sinh khímới Hội hè Kinh bắc hầu nh không bị ràng buộc hay bị gò bó bởi những luật
lệ của các cuộc chơi mà qua những lễ hội ấy, Hoàng Cầm đã phát hiện ranhững phẩm chất của một lớp ngời tài hoa, nghệ sĩ Tác giả đã đa ta về mộtmiền đất của những con ngời mang tinh thần thợng võ trong âm vang của:
“Trống lớn Giảng võ đờng / đội bổng vòm trời cao vút / gió thợng du dội lại /
ma trung du thốc sang / bão hạ du dồn vang” (Hội vật); đã tái hiện những liền chị quan họ thôn quê “Lòng em trắng phau/ tìm dâu mấy sợi” (Thi dệt vải); đã
thổi vào lòng ngời đọc biết bao dịu ngọt của đời sống tinh thần cũng nh vật
chất qua: Bãi mía sông Cầu reo đóng bát / ngửa mặt hứng ma đồi cỏ ngát / nguôi dần cơn sốt bỏng môi hoa”(Thi ăn mía thổi cơm)
Những dấu ấn văn hóa Kinh Bắc trớc hết thể hiện một Hoàng Cầm luôntrân trọng và gắn bó với những giá trị tinh thần của quê hơng cũng nh của dântộc đồng thời những dấu ấn đó đã làm nên một Hoàng Cầm rất riêng, khótrộn lẫn với các nhà thơ khác
1.3.2.3 Thơ Hoàng Cầm có sự ảnh hởng của tín ngỡng phồn thực
Trang 29tín ngỡng phồn thực là một hiện tợng tôn giáo phổ biến của loài ngời,
nó ra đời từ thuở xa xa và phát triển mạnh mẽ trong các nền văn minh nôngnghiệp Hạt nhân của tín ngỡng phồn thực là thờ sinh thực khí với mục đích là
đề cao giống nòi, mong muốn cho ma thuận gió hòa, mùa màng tơi tốt, vạnvật sinh thành, phát triển, đời sống no đủ, sung túc
Sắc thái tín ngỡng phồn thực trong thơ Hoàng Cầm thể hiện khá đậmnét qua sức sống sùng sục của không gian chùa chiền, qua vẻ đẹp thể chất vàtrang phục lả lơi “khép mở” của ngời phụ nữ quan họ đẫm chất huê tình, trongcác hội hè Kinh Bắc Tất cả cộng sinh trong một thế giới Kinh Bắc và phầnnào đã khẳng định rõ nét một phong cách sáng tạo của ngời nghệ sĩ
Nếu trong văn học Việt Nam thời Trung đại, Hồ Xuân Hơng rất ghét lốisống tu hành khổ hạnh, triết lí diệt dục trái với tự nhiên của nhà chùa thì trongvăn học hiện đại Hoàng Cầm đã nhìn chùa chiền với một con mắt tơi non,biếc rờn Trong bài thơ “Đêm thủy” Hoàng Cầm nh reo vui khi đợc hít thở thứhơng trời nồng nàn của giàn thiên lí, đợc ngắm trời sao đầy trong trẻo Từ đónhà thơ gửi gắm những khát khao thầm kín của hoài niệm phồn thực từ thuởhang hoang Thuở ấy, mẹ Man Nơng ngủ quên bị những “bớc chân” của s Cha
Khâu - đà - la bớc qua mình Vì thế “Chùa Phật Tích ruỗi trong màu lụa bạch”; trinh nguyên, thanh khiết cũng bị nhìn ra: “Tợng Quan Âm má ửng bồ quân” hay “Chuông chiền cởi yếm / Chuông sớm đội khăn / Câu kinh tê tê m-
ời ngón tay măng” đó là một cõi riêng cho con ong hút mật đời thanh sạch, rũ
bỏ bụi trần “Ong bay vai áo tiểu thon mình” hoặc một thời khắc của “Tra hè gãy rắc cành hoa đại / Mái hậu cung bồ các tha rơm” để xây tổ ấm chuẩn bị
cho một cuộc sống vợ chồng
Một điều dễ thấy là khi đọc thơ Hoàng Cầm, ta hay bắt gặp cái đẹpthanh tân và hồn nhiên của hình thể ngời phụ nữ Các đờng nét, hình khốicăng tròn, mang tính nhục cảm của cơ thể cứ phập phồng sau những yếm, áo,
váy trong các lễ hội mùa xuân nh “Gái Tam Sơn đờ đẫn môi trầu / Ngực yếm phập phồng bởi ngọt” (Hội vật), “Tuột hàng khuy lơi yếm tóc buông mành /
đùi chảy búp dài thon nhúm vội / bàng hoàng tia chớp liêng nghiêng xanh” (Thi đánh đu), “Đung đa gác long nghênh xuân ấy/ Đôi núm hồng em nở hết mình”(Hội yếm bay), “Hàm răng nuột nà xít xa dóng mía / Vú xuân đờng phèn căng bởi Nga My / Môi hè thạch non hé đa hạ tía / Cấm sen cuối cành gói lá đài bi” (Vợ liệt sĩ) Cái đẹp thể chất của con ngời trong không gian hội
Trang 30hè Kinh Bắc đã đợc Hoàng Cầm chiếu chụp qua lăng kính của nghệ thuậtngôn từ nên lại càng thêm quyến rũ vẻ đẹp mặn mà của ngời phụ nữ KinhBắc nhiều khi đợc nhà thơ ví von và gắn với không gian thanh sạch, thánhthiện của tự nhiên với thời gian tuần hoàn vĩnh viễn nh: vú xuân, môi hè, hay
“Môi tê hé gọi mời phơng ngọt ngào”, “Cổ tay ngày mùa nhỏ quá”, “Cô gái láng giềng trái đào vắt vẻo”, “Ngày tháng đắp cao bụng mẹ”, “Ngực trần vỗ yếm gọi về tuổi hoa” Một điều thú vị nữa là những tín ngỡng phồn thực đã đ-
ợc Hoàng Cầm phô bày bằng những từ ngữ chỉ hoạt động “tinh giao” nh: xoanắn đôi bầu vú lửa, ngủ chung giờng, sờ sẫm, vuốt bụng, ôm cột, cởi yếm, lòa
lõa thân trăng, tồng ngồng, hai gò tịch mịch, hay “Động phòng cỡi gió ôm hôn”, “Nuột nà răng cắn tím môi đòi tình”, “Trốn sang vờn ôm tròn lng ấy”
Bằng ngòi bút tài tình của mình Hoàng Cầm đã làm sống dậy một thếgiới phồn sinh, phồn thực trong thơ mình đã đa những hình ảnh tĩnh giao vàotrong thơ ông đã dám bày tỏ một cách nhìn về tình yêu, tình dục khác vớicách nhìn khô cứng của một số nghệ sĩ cùng thời ở đó con ngời tồn tại khôngchỉ đơn thuần là các hoạt động bản năng, của khát khao da thịt mà là một cáigì đó cao thợng hơn vì vậy, con ngời đợc sống ngời hơn, cái đẹp cũng tựnhiên và toàn bích hơn
1.3.3 Tập thơ 99 tình khúc“ ”
Năm 1995 Hoàng Cầm cho ra mắt tập thơ “99 tình khúc” và đã đợc sựhởng ứng nồng nhiệt của độc giả Tập thơ gồm 99 bài thơ tình, đợc chia làmbốn thời khúc: Chị và em - Em và anh - Xa và nay - Có và không đó đều lànhững cảm xúc, rung động của nhà thơ trớc cuộc sống, tình yêu mà nhà thơ
dành để dâng lên những hồn con ngời đã “gợi ra nhịp điệu, âm thanh và đờng
nét màu sắc trong 99 tình khúc”[6; 5]
Hoàng Cầm sáng tác nhiều thể loại nhng nổi bật và thành công nhất vẫn
là thơ, mà thơ Hoàng Cầm đặc sắc nhất vẫn là thơ tình” phải chăng điều đóxuất phát từ một hồn thơ của một thi sĩ đa tình, nh nhà thơ đã có lần bộc bạch
“Tôi là thi sĩ đa tình thực sự”
Gợi cảm hứng từ những mối tình Hoàng Cầm đã cho ra đời nhiều thi
phẩm đặc sắc, đi sâu trong lòng ngời đọc: Cây tam cúc, Ma Thuận Thành, Lá diêu bông đã có nhiều bài viết, nhiều nhà nghiên cứu đi sâu khám phá
cái hay, sức hấp dẫn của những thi phẩm này: tác giả Đặng Tiến, Nguyễn
Nguyên Tản đánh giá cao sự sáng tạo của Hoàng Cầm trong bài Cây tam
Trang 31cúc Từ một trò chơi con trẻ nhà thơ đã thể hiện khát vọng yêu thơng đồng
thời các tác giả đều khẳng định sự độc đáo trong nghệ thuật thể hiện: “ tácgiả đã sử dụng ngôn ngữ mới, tài hoa và tinh tế, từ cách chọn chữ, đặt câu
đến cách xe kết âm thanh, nhịp điệu, màu sắc, hình ảnh, tạo cho ng ời đọc
nhiều cảm giác, cảm xúc, t duy và mơ mộng” [52; 271 - 272] Riêng Lá diêu bông - bài thơ xuất phát từ mối tình của tác giả với ngời con gái tên Vinh vẫn
thu đợc sự nhiều sự chú ý hơn cả, trong đó ta phải kể tới “ lá diêu bông chuyện tình của Hoàng Cầm và ngời con gái quê Kinh Bắc” (Nguyễn LinhTrúc), “lá diêu bông - tiếng vọng của một tình yêu đã mất” (Mai Thục) có
-lẽ vì giàu âm thanh, nhạc điệu nên bài thơ đã đợc nhiều nhạc sĩ phổ nhạc:Phạm Duy, Trần Tiến
Không phải là tầp thơ duy nhất nhng có thể nói 99 tình khúc là tập thơ
tiêu biểu nhất cho hồn thơ Hoàng Cầm - hồn thơ của một thi sĩ đa tình đặcbiệt vì là tuyển tập những bài thơ tình đặc sắc nên qua đây ta có thể thấy đợc
đóng góp của ông cho thơ Việt Nam hiện đại trên cả phơng diện ngôn ngữ thơlẫn nội dung t tởng
1.4 tiểu kết chơng 1
Trong toàn bộ chơng 1, chúng tôi đã điểm qua một số khái niệm liênquan đến đề tài nh thơ, ngôn ngữ thơ (xét trong sự đối lập với ngôn ngữ vănxuôi), cách tiếp cận thơ từ góc độ ngôn ngữ học Chúng tôi cũng đã trình bàynhững nét cơ bản về cuộc đời, sự nghiệp và những đặc điểm nổi bật của thơHoàng Cầm Ngoài ra, chúng tôi cũng đa ra những nhận định, đánh giá ban
đầu về tập thơ “99 tình khúc" Tất cả những nội dung đã nói ở trên sẽ là những
tiền đề cần thiết tạo cơ sở thuận lợi cho chúng toi triển khai phần trọng tâmcủa luận văn ở những chơng sau
Trang 32Chơng 2vần điệu, nhịp điệu và từ ngữ Trong tập thơ
“99 tình khúc”
2.1 vần điệu và nhịp điệu trong “99 tình khúc”
Thơ Hoàng cầm rất giàu nhạc điệu, đây cũng là yếu tố ông trăn trởnhiều khi làm thơ Hoàng Cầm từng nói: “nhạc điệu là cái xe chở cái hồn
của bài thơ” Phải chăng vì thế khi đọc “99 tình khúc,” ngời đọc luôn bị thu
hút bởi những bài thơ giàu nhạc tính, trong đó vần điệu và nhịp điệu đóng vaitrò quan trọng
2.1.1 vần điệu
Việc phân loại vần điệu có nhiều tiêu chí khác nhau xét trên tổng thểvần điệu có ba cách để phân loại nh sau: dựa vào mức độ hòa âm giữa cáctiếng hiệp vần; dựa vào vị trí các tiêng hiệp vần và dựa vào đờng nét thanh
điệu trong các tiếng hiệp vần Theo vị trí các tiếng hiệp vần, thơ Việt Nam cóvần lng và vần chân; theo mức độ hòa âm giữa các tiếng hiệp vần ta có vầnchính và vần thông; theo đờng nét thanh điệu trong các tiếng hiệp vần ta cóvần bằng và vần trắc
2.1.1.1 vần chân và vần lng trong 99 tình khúc“ ”
Xét ở vị trí của 860 cặp vần trong tập thơ, kết quả thu đợc nh sau:
Bảng 2.1: Số lợng và tỉ lệ các loại cặp vần trong tập 99 tình khúc - xét theo vị trí tiếng hiệp vần
Loại vần Số lợng Tỉ lệ
a) vần chân (còn gọi là cớc vận) là tên gọi cặp vần mà tiếng gieo vần và
tiếng hiệp vần đều đứng ở cuối dòng thơ Vần chân có tác dụng đánh dấu sựkết thúc dòng thơ và tạo nên mối liên kết giữa các dòng thơ
Qua bảng 2.1, ta thấy: vần chân chiếm số lợng lớn, chiếm tỉ lệ cao sovới vần lng trong vần chân cách tổ chức cũng khá phong phú, đa dạng và linhhoạt
* vần chân liên tiếp, là loại vần mà các âm tiết hiệp vần nằm cuối haidòng thơ liên tiếp nhau Qua khảo sát 573 cặp vần chân, chúng tôi thấy có 537
Trang 33cặp vần liền Vần liền đợc sử dụng với nhiều trờng hợp, trong nhiều thể thơkhác nhau:
anh hái mơ chùa cả chín xanh.
chua bừng men nhớ đắng đôi cành.
Anh nói mai sau em đau đứt ruột.
Anh nhìn em lâu càng tê ngực buốt.
Anh bảo xa kia em cha lấy chồng.
Tự dng tơ xe rét hè nực đông.
(Vào đờng mê)Việc sử dụng nhiều vần liền đã phát huy tác dụng và hiệu quả caocho việc gắn kết bài thơ, khiến cho câu thơ, khổ thơ, bài thơ của HoàngCầm vốn có cấu trúc độc đáo, khác thờng cũng có thể gắn kết, liền mạchvới nhau đọc lên ngời đọc vẫn có cảm giác chúng là một khối không thểnào chia tách
* vần chân gián cách:
Tập thơ 99 tình khúc có 197 cặp gieo vần gián cách trong tổng số 537
cặp vần chân (chiếm 36.7%) đây là loại vần mà hai âm tiết hiệp vần nămcuối các dòng thơ gián cách nhau ví dụ:
Trang 34Gió hẹn ma chờ xao xác thềm rêu
Em muốn đậu bến nào? sao thế vậy?
đã em nằm đâu thật cánh tay yêu
(Em cứ về bên ấy)Cũng có nhiều trờng hợp, mõi khổ thơ, bài thơ chỉ có hai âm tiết ở haidòng bắt vần với nhau:
Cả Thái Bình Dơng là giọt lệ Một ngời đi biệt một hành tinh Cả dãy Trờng Sơn là dấu phẩy Ngắt dòng thơ quằn quại u minh
Trong 99 tình khúc, số lợng vần chân phối hợp hai kiểu này không
nhiều, 19 cặp, chiếm 3.5% dù vậy, vần chân phối hợp hai kiểu liên tiếp vàgián cách chứng minh cho sự phong phú, linh hoạt trong việc sử dụng vần điệucủa Hoàng Cầm
b) vần lng (còn gọi yêu vận) là vần mà tiếng hiệp vần nằm giữa dòng thơ Vần lng chiếm tỉ lệ cao trong 99 tình khúc: 287 cặp vần, chiếm 33,4%.
điều này lại càng rõ hơn nếu ta so sánh với một số tập thơ của tác giả khác:
Trang 35Qua bảng 2.2., ta thấy Hoàng Cầm đã sử dụng một tỉ lệ vần lng lớn hơnrất nhiều các tác giả khác trong phong trào thơ mới Việc sử dụng nhiều vần l-
ng là một hiện tợng đặc sắc trong sáng tác của Hoàng Cầm, nó tạo nên tínhchất giàu nhạc điệu cho thơ ông theo một cách nhìn khác, việc sử dụng nhiều
vần lng còn có nguyên nhân ở sự lựa chọn thể thơ Thể lục bát trong 99 tình khúc có số lợng 26/99 bài, đây là thể thơ có mật độ cặp vần lng cao nhất đối
với thể thơ này, tiếng gieo vần (tiếng cuối của dòng lục) thờng hiệp vần vớitiếng thứ 6 của dòng bát (đôi khi hiệp vần với tiếng thứ 4) Cả 26 bài thơ theo
thể lục bát trong 99 tình khúc thì không có cặp vần nào đợc Hoàng Cầm hiệp ở
tiếng thứ 4 của câu bát, tất cả đều hiệp ở tiếng thứ 6
Dới kia sông chẳng quay đi Mời hai tuổi cũ biết gì chị ơi
Một con bớm lửa đậu môi
Hai nhành hoa lửa chia đôi tay cầm
Ba tầng mây lửa trầm ngâm
Bốn con chim lửa đậu nhầm cỏ hoang Trời quê em vẫn thênh thang chiều mê bến lịm bàng hoàng chớp đông
(Gọi đôi)
Có thể nói rằng, nhờ những vần lng níu nhau trực tiếp trong từng câuthơ mà các bài thơ lục bát có sự nhịp nhàng, uyển chuyển, linh hoạt đồngthời nó cũng gợi lên những âm điệu đặc biệt và góp phần làm tăng sức gợicảm cho bài thơ
ở các thể thơ khác, Hoàng Cầm hiệp vần lng rất linh hoạt
Có khi tiếng hiệp vần ở ngay đầu câu:
Khô cong thuyền bến cát Khát dòng sông em Sóng sánh bờ mi cong
(phía sau th cầu hôn)
Có khi tiếng hiệp vần ở vị trí thứ ba:
đứa thua đáo gỡ ngoài thềm
Em đi đêm tớng điều sĩ đỏ
đổi xe hồng đa chị đến quê em
Trang 36(Cây tam cúc)
Có khi Hoàng Cầm còn tạo cặp vần lng ngay trên cùng một dòng thơ:
Phơng ấy em ơi nhớ tê lên môi Cơn sóng cuối đời cứ ngồi mà thơng
(phía sau th cầu hôn)
2.1.1.2 vần chính và vần thông trong 99 tình khúc“ ”
Nếu nh vần xét ở vị trí gieo vần vị trí các tiếng là cơ sở để chúng ta xác
định thì vần xét ở mức độ hòa âm chúng ta không thể không nói đến các yếu
tố trong âm tiết: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu Nh đãnói, vần trong thơ xét ở mức độ hòa âm ta có vần chính và vần thông
a) vần chính
trong vần chính hai tiếng hiệp vần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- âm chính phải giống nhau
- Âm đệm có thể có hoặc vắng
- âm cuối (nếu có) phải giống nhau
- Phụ âm đầu(nếu có) phải khác nhau (trừ hai trờng hợp: hai tiếng hiệpvần có thanh điệu khác nhau hoặc phải thuộc hai từ khác nghĩa nhau)
Theo tiêu chí trên chúng tôi khảo sát 840 cặp vần trong 99 tình khúc,
kết quả thu đợc nh sau:
Trang 37Bảng 2.3: số lợng các loại vần - xét theo mức độ hòa âm
Có khi trùng âm nhng lại khác nhau về thanh điệu:
đi vào nẻo xuân Gặp đờng lụa đỏ
b) Vần thông
trong vần thông, hai tiếng hiệp vần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Âm chính: cùng dòng hoặc cùng độ mở
Trang 38- âm cuối: hoặc giống nhau hoặc cùng một nhóm(cùng nhóm phụ âmmũi: m, n, ng/nh hay cùng nhóm phụ âm tắc - vô thanh: p, t, c/ch).
Bên cạnh vần chính, vần thông trong 99 tình khúc có số lợng khá nhiều(290 cặp) và chiếm tỉ lệ khá cao 34,5% Vần thông đợc sử dụng trong nhiềuthể thơ khác nhau:
Thể lục bát:
giả vờ hỏi phố không tên
để không ai biết chờ em phố nào
(Giả vờ)Thể bảy chữ:
Em mất quê rồi Anh mất em Vừa khi tóc trắng rụng bên thềm Chiều qua chợt thấy hình rêu lạ
In đẫm hình em vách láng giềng
(Gửi ngời vợ xa quê hơng)Thể năm chữ:
tuổi đi cùng bê nghé Gọi xuân tròn khăn vuông Men theo dòng mẫu hệ Gửi cô hàng xóm thơng
và hơi hẹp Cả hai cặp vần đan xen hiệp vần với nhau đã có tác dụng gợi lạinhững năm tháng tuổi xuân tơi trẻ và đầy yêu thơng
2.1.2 Nhịp điệu trong 99 tình khúc
Theo Bùi Công Hùng (Tiếp cận nghệ thuật thi ca), “cách ngắt nhịp,
tạo nhịp là rất đa dạng, có nhiều kiểu, tùy câu, tùy đoạn trong từng câu thơhai chữ, ba chữ, sáu chữ ,lại có nhiều kiểu ngắt nhịp khác nhau” Trong
99 tình khúc, Hoàng Cầm sử dụng nhiều thể thơ khác nhau, theo đó cách
ngắt nhịp mỗi thể thơ cũng có sự khác nhau Trong luận văn này chúng tôi
Trang 39chỉ đi vào khảo sát nhịp điệu trong một số thể thơ chủ yếu đợc ông sử dụngtrong tập thơ.
2.1.2.1 nhịp trong thể thơ 5 chữ
Thơ năm chữ của Hoàng Cầm vừa có nhịp 2/3, vừa có nhịp 3/2 xen kẽnhau tạo nên sự nhịp nhàng, đều đặn cho khổ thơ, bài thơ Trong số 163 dòngthơ 5 chữ có 85 dòng nhịp 2/3 và 78 dòng nhịp 3/2 đây là một số lợng thểhiện sự hài hòa, linh hoạt trong cách ngắt nhịp đối với thể thơ 5 chữ củaHoàng Cầm Hầu hết các bài thơ đợc viết bằng thể thơ này đều thể hiện mộtthoáng cảm xúc tình yêu của nhân vật trữ tình Tùy vào mỗi kỷ niệm, mỗinguồn cảm xúc khác nhau mà tác giả lựa chọn một cách ngắt nhịp phù hợp
Có những bài thơ tác giả chỉ sử dụng một cách ngắt nhịp hoặc 2/3, hoặc 3/2song hầu hết có sự luân phiên phối hợp giữa hai loại nhịp trên điều đó tạo rahiệu quả bất ngờ trong việc diễn tả cảm xúc của nhân vật trữ tình:
Trong bài “tiễn đa” Hoàng Cầm chỉ sử dụng một nhịp 2/3 duy nhất:
Tiễn em / sang sân bay
đa em / về nhà chồng
đa em /xuống nghĩa trang
đa em / vào h không Giờ này / em bay rồi Kiếp này / bao giờ xong.
Bài thơ có sáu dòng thơ, mỗi dòng diễn tả một lần đa tiễn, gắn với mộtkhoảng thời gian kỷ niệm khác nhau tuy vậy, tất cả đều có một nhịp điệu nhnhau Phải chăng đó cũng là nhịp của cảm xúc, của tâm trạng mỗi một lần đatiễn là một lần nhân vật trữ tình lại phải thổn thức, nghẹn ngào với biết baonhiêu là nỗi niềm mà không phải lúc nào cũng nói ra đợc thành lời
đến với bài thơ “anh đứng đây là đâu” ta lại thấy tên của nhan đề đợclấy làm cấu trúc bền vững lặp lại đầu mỗi khổ thơ nhịp thơ là nhịp 3/2.những câu thơ còn lại đợc ngắt nhịp 2/3 sự luân phiên trong việc sử dụngnhịp điệu nh trên đã làm tăng hiệu quả diễn đạt cho bài thơ: nó vừa làm cho
âm điệu bài thơ thêm nhịp nhàng, cân đối vừa thể hiện đợc những cảm xúctình yêu ở nhiều cung bậc khác nhau đồng thời những lời bộc bạch của nhânvật trữ tình trở nên trở nên duyên dáng và có sức d vang hơn
điều độc đáo hơn nữa là có những bài thơ Hoàng Cầm chọn cách khôngngắt nhịp trên mỗi dòng thơ, tạo cho hơi thơ nh dài ra, vang vọng hơn:
Trang 40“ngày tôi mới biết em
Em đã già trớc tuổi Những loài hoa nở đêm thờng biết chờ biết đợi
Biết tìm em ở đâu Trong chiều dâng vời vợi
Ai biết chờ biết đợi Bằng nắng pha cạn màu”
(Tìm)Cách ngắt nhịp này mở rộng câu thơ về mọi phía, và nh thế âm hởng thơkhông chỉ gói gọn trong năm chữ Cảm xúc thơ cũng đợc trải rộng ra
Việc sử dụng nhịp 2,3 và 3/2 đan hòa, lồng chéo vào nhau cùng với việc
sử dụng các cặp thanh trắc xen kẽ thanh bằng đã tạo nên sự nhịp nhàng, cân
đối cho các câu thơ Bằng cách đó Hoàng Cầm đã thể hiện những cảm xúctình yêu phong phú của mình chính điều đó còn góp phần làm nên một nộidung nổi bật trong sáng tác của Hoàng Cầm: những lời thơ thờng là lời tâmtình của một thi sĩ đa cảm, đa tình
2.1.2.2 Nhịp trong thể thơ lục bát
Thơ lục bát của Hoàng Cầm sử dụng nhiều kiểu ngắt nhịp nh: 2/2/2,4/2, 2/4, /4/4, /3/3 Ngoài ý thức làm thơ dựa trên những nhịp điệu cơ bản đểduy trì cái nền của thể loại, hoàng cầm còn sử dụng nhiều cách ngắt nhịpkhác xen lẫn nhau cho câu thơ, dòng thơ Cách ngắt nhịp đó một mặt nhằmthể hiệ cái phong phú của hiện thực cuộc sống, mặt khác nhằm đảm bảo cái
âm hởng, giai điệu mợt mà, duyên dáng vốn có của thể thơ này
a) Nhịp trong câu lục
Câu lục trong thể thơ lục bát trong 99 tình khúc Hoàng Cầm sử dụngcác nhịp 2/2/2, 2/4, 4/2, 3/3 tuy nhiên nhịp có tần số xuất hiện cao nhất vẫn
là 2/4 và 4/2 sử dụng nhịp chẵn trong thể thơ lục bát là một quy luật tất yếusong điều đáng nói là trong 99 tình khúc Hoàng Cầm đã sử dung với một mật
độ nhiều cha từng thấy qua khảo sát 217 dòng lục chúng tôi nhận thấy trongtập thơ có 147 dòng nhịp 2/4 và 4/2, chiếm 67.7%
nhịp 2/4: