Ông được xem là “bậc thầy củanghệ thuật ngôn từ”, “là một nghệ sĩ ngôn từ đưa cái đẹp thăng hoa” [1, tr.369]… Đã có nhiều người nghiên cứu về ngôn ngữ Nguyên Tuân ở các cấp độ, trong các
Trang 1TR¦¥NG THÞ H»NG
NG¤N NG÷ phª b×nh CñA NGUYÔN TU¢N
TRONG C¸C BµI VIÕT BµN VÒ V¡N HäC NGHÖ THUËT
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn: TS ĐẶNG LƯU
Vinh - 2011
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu 5
4 Mục đích nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 PHÊ BÌNH VĂN HỌC, NGÔN NGỮ PHÊ BÌNH VĂN HỌC, MẢNG BÀI VIẾT VỀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN TUÂN 6
1.1 Phê bình văn học và vấn đề ngôn ngữ phê bình văn học 6
1.1.1 Tính khoa học và tính nghệ thuật của phê bình văn học 6
1.1.2 Phê bình văn học ở Việt Nam qua các giai đoạn 9
1.1.3 Ngôn ngữ phê bình văn học 17
1.2 Mảng bài viết về văn học nghệ thuật của Nguyễn Tuân 24
1.2.1 Vị trí của mảng bài viết về văn học nghệ thuật trong sự nghiệp trước tác của Nguyễn Tuân 24
1.2.2 Các đối tượng được đề cập trong mảng bài của Nguyễn Tuân viết về văn học nghệ thuật 26
1.2.3 Lối tiếp cận của Nguyễn Tuân về các hiện tượng văn học nghệ thuật được đề cập 30
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2 TỪ NGỮ TRONG CÁC BÀI VIẾT VỀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN TUÂN 36
2.1 Yêu cầu về sử dụng từ ngữ trong văn bản phê bình văn học và nhận thức của Nguyễn Tuân về vấn đề sử dụng từ ngữ 36
Trang 32.1.2 Nhận thức của Nguyễn Tuân về việc sử dụng từ ngữ 38
2.2 Những đặc điểm nổi bật về từ ngữ trong các bài viết về văn học nghệ thuật của Nguyễn Tuân 40
2.2.1 Sự phong phú của vốn từ và sự phóng khoáng trong sử dụng 40
2.2.2 Cách dùng thuật ngữ khoa học của Nguyễn Tuân 43
2.2.3 Từ ngữ Hán - Việt trong văn phê bình của Nguyễn Tuân 49
2.2.4 Lớp từ ngữ hội thoại trong văn phê bình của Nguyễn Tuân 53
2.2.5 Tính nghệ thuật trong việc sử dụng từ ngữ của Nguyễn Tuân 57
2.2.6 Dấu ấn phong cách Nguyễn Tuân qua sử dụng từ ngữ 59
Tiểu kết chương 2 62
Chương 3 CÂU VĂN TRONG CÁC BÀI VIẾT VỀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN TUÂN 64
3.1 Ý thức của Nguyễn Tuân về vấn đề câu văn 64
3.2 Những đặc điểm nổi bật của câu văn trong các bài viết về văn học nghệ thuật của Nguyễn Tuân 65
3.2.1 Sự linh hoạt, đa dạng về cấu tạo câu 65
3.2.2 Tu từ cú pháp trong câu văn Nguyễn Tuân 74
3.2.3 Gia tăng tính nghệ thuật của câu văn 81
3.2.4 Dấu ấn phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Tuân thể hiện qua cú pháp 98
Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất hiện trên văn đàn vào đầu thế kỷ 20, Nguyễn Tuân là một têntuổi lớn của văn học Việt Nam hiện đại, một nhà văn bậc thầy, một nhân cáchvăn hoá mẫu mực, một cây bút có sức viết dồi dào Ông đã để lại cho đời một
di sản quý báu với hàng trăm tác phẩm văn học, khẳng định được tên tuổi, vịtrí danh dự trong lòng công chúng độc giả Ông được xem là “bậc thầy củanghệ thuật ngôn từ”, “là một nghệ sĩ ngôn từ đưa cái đẹp thăng hoa” [1, tr.369]… Đã có nhiều người nghiên cứu về ngôn ngữ Nguyên Tuân ở các cấp
độ, trong các thể loại văn học khác nhau như: truyện ngắn, tuỳ bút, bút ký,kịch, thơ, phê bình văn học Các công trình nghiên cứu đã có những nhậnđịnh về đặc điểm ngôn ngữ Nguyễn Tuân: vốn từ vựng phong phú, cách dùng
từ mới lạ, táo bạo, lối nói sáng tạo, nghệ thuật so sánh tài hoa, câu văn biến
hoá linh hoạt, sự liên tưởng bất ngờ Không chỉ sáng tác thơ, tiểu thuyết,
truyện ngắn, kí, Nguyễn Tuân còn viết phê bình văn học nghệ thuật, dựngchân dung văn học Đây cũng là một mảng đặc sắc, không chỉ bộc lộ vốn trithức, quan điểm thẩm mĩ của nhà văn, mà còn cho thấy sự thống nhất của mộtphong cách ngôn ngữ Nói cách khác, phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Tuân
sẽ được hình dung rõ nét hơn nếu ta tìm hiểu một cách đầy đủ cả mảng nàytrong sự nghiệp của ông
1.2 Hiện nay, việc nghiên cứu ngôn ngữ trong các loại văn bản đang làhướng đi có nhiều triển vọng Nhiều công trình khảo sát diễn ngôn dưới góc
độ ngôn ngữ đã có những khám phá sâu sắc, qua đó, các giá trị của văn bảnđược khẳng định Với một nhà văn như Nguyễn Tuân, việc áp dụng các thaotác ngữ học đề nghiên cứu các trước tác của ông tỏ ra rất phù hợp Bằngchứng là đã có không ít công trình với những qui mô khác nhau lần lượt ra
Trang 5đời Trong bối cảnh đó, các bài viết của Nguyễn Tuân về văn học nghệ thuậtcũng rất đáng được tìm hiểu không chỉ ở phương diện nội dung, mà còn ởphương diện ngôn ngữ Kết quả nghiên cứu ở mảng này sẽ cho ta những cứliệu rất cần thiết để khẳng định một phong cách ngôn ngữ.
1.3 Trong chương trình Ngữ văn THCS và THPT hiện hành, một sốtác phẩm của Nguyễn Tuân đã có mặt Không thể cảm thụ tốt giá trị các tácphẩm của nhà văn độc đáo và phức tạp này nếu thiếu sự hiểu biết sâu sắc hìnhthức ngôn từ mà ông sử dụng Nhiều nhà nghiên cứu phê bình, các nhà giáovới những bài viết tâm đắc của của họ về tác phẩm của Nguyễn Tuân trongnhà trường đã chứng minh điều đó
Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề Ngôn ngữ phê bình
của Nguyễn Tuân trong các bài viết bàn về văn học nghệ thuật làm đề tài
luận văn thạc sĩ ngành Ngôn ngữ học, với mong muốn được hiểu thêm mộtkhía cạnh trong sự nghiệp của nhà văn, đồng thời góp thêm những tư liệu choviệc dạy học tác phẩm của Nguyễn Tuân trong nhà trường
2 Lịch sử vấn đề
Đề tài về Nguyễn Tuân luôn gây được sự chú ý và hấp dẫn đối vớingười đọc, nhất là giới nghiên cứu văn học
Với một đời cầm bút, Nguyễn Tuân đã để lại cho đời những áng văn
chương đặc sắc: Vang bóng một thời, Chùa Đàn, Chiếc lư đồng mắt cua,
Thiếu quê hương, Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi Bên cạnh đó, ông còn
có các bài tiểu luận đặc sắc về Tú Xương, Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Sê-khốp,
Đốt-tôi-epxki, về tranh Bùi Xuân Phái, về kịch bản phim Vợ chồng A Phủ, về
tiếng ta… được viết với bút pháp của một nhà văn bậc thầy đồng thời là nhàkhảo cứu đam mê, uyên bác Tuy nhiên, từ trước đến nay, giới nghiên cứu chủyếu tập trung vào mảng sáng tác của Nguyễn Tuân, chưa có nhiều bài viếtđánh giá những mảng phê bình nghệ thuật của ông
Trang 6Nguyễn Đăng Mạnh có lẽ là nhà nghiên cứu đã tìm hiểu cách toàn diện
và đầy đủ nhất về con người và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân Ông đãcung cấp cho người đọc một cái nhìn bao quát về Nguyễn Tuân từ thân thế, sựnghiệp đến quan điểm nghệ thuật Về ngôn từ của Nguyễn Tuân, NguyễnĐăng Mạnh nhận định: “Câu văn Nguyễn Tuân cũng có nhiều kiểu kiến trúc
đa dạng Ông là một nghệ sĩ ngôn từ biết chú trọng tới âm điệu, nhịp điệu củacâu văn xuôi… Nguyễn Tuân có một kho từ vựng hết sức phong phú mà ông
đã cần cù tích luỹ với lòng yêu say mê tiếng mẹ đẻ, mà không phải chỉ tíchluỹ những từ sẵn có Ông luôn luôn có ý thức sáng tạo từ mới với tư cáchdùng từ mới Vốn từ vựng đối với người viết văn như nước đối với cá Từcàng giàu có người viết càng thả sức tung hoành Đọc Nguyễn Tuân, thấy ôngnhư con cá vùng vẫy thoải mái giữa hồ sâu nước cả là vì thế [39, tr.143]
Họa sĩ Tạ Tỵ cũng dành cho Nguyễn Tuân những lời đánh giá trântrọng: “Mỗi tác phẩm của Nguyễn Tuân đều súc tích và chứa đựng sự buôngbắt, vượt thoát của ngôn ngữ đi vào thế giới riêng biệt mà chỉ có NguyễnTuân mới đủ sức phung phí và sử dụng để hình thành một kiến trúc vĩ đại.Mỗi chữ Nguyễn Tuân dùng đều trở nên quý giá Nguyễn Tuân viết mà nhưđiêu khắc, cầu kì chạm chỗ vào mặt đá quý những nét trác tuyệt… Nói đếnNguyễn Tuân là nói đến một giá trị hiển nhiên, là khơi sáng lại dòng thời gian
đã chìm khuất, là nhớ đến vùng trời xôn xao của thanh âm ngôn ngữ Hànhtrình đi vào tác phẩm của Nguyễn Tuân như hành trình vào một cung điệntráng lệ đầy màu sắc diễm ảo” [70, tr.36]
Nhìn tác phẩm của Nguyễn Tuân từ phương diện nghệ thuật, NguyễnLai cho rằng “Nguyễn Tuân là một nhà văn luôn có ý thức trân trọng, nângniu và giữ gìn sự phong phú giàu có của tiếng Việt Ông đã tích luỹ cho mìnhmột vốn từ hết sức phong phú Câu văn của Nguyễn Tuân giàu hình ảnh, giàusắc thái biểu cảm cùng với nhịp điệu không bị gò bó Câu văn Nguyễn Tuân
Trang 7rất khó bắt mạch quy luật ngữ pháp Câu dài trong văn Nguyễn Tuân khôngchỉ khắc phục được lối văn biền ngẫu mà nó còn gợi mở cách dùng từ tiếngViệt với những câu dài phóng khoáng nhất… Văn Nguyễn Tuân chấm câukhá tự do, cực đoan trong việc dùng dấu phẩy, mạnh dạn dùng dấu nối để tạo
tổ hợp định danh mới…” [29, tr.86]
Từ góc độ ngôn ngữ, đã có hàng loạt bài viết, nhiều luận văn thạc sĩ,luận án tiến sĩ chọn tác phẩm Nguyễn Tuân làm đề tài nghiên cứu Với đề tài
Ngôn từ nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Tuân, luận án tiến sĩ của
Nguyễn Thị Ninh đã xem xét các cấp độ ngôn từ nghệ thuật trong sáng táccủa Nguyễn Tuân dưới ánh sáng thi pháp học Trần Thị Phương Thuỷ với đề
tài Hình tượng tác giả trong ký của Nguyễn Tuân đã xem xét cái nhìn và nghệ
thuật tự sự, các sắc thái giọng điệu trong ký của Nguyễn Tuân Luận án tiến sĩ
của tác giả Đặng Lưu với đề tài: Ngôn ngữ tác giả trong truyện Nguyễn Tuân
là công trình nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm thuộc thể loại truyện củaNguyễn Tuân dưới góc nhìn phong cách học Sau luận án tiến sĩ nêu trên, tácgiả tiếp tục nghiên cứu ngôn ngữ của Nguyễn Tuân một cách toàn diện, sâu
sắc hơn, thể hiện ở công trình đề tài khoa học cấp Bộ đã nghiệm thu: Phong
cách ngôn ngữ Nguyễn Tuân (2009).
Nhìn một cách bao quát, các công trình nêu trên đã đi sâu vào ngôn ngữcác thể tài mà Nguyễn Tuân sáng tạo, nhất là truyện và tùy bút Với đề tàinày, chúng tôi muốn đề cập đến nét độc đáo trong phong cách ngôn ngữNguyễn Tuân ở một mảng chưa được giới nghiên cứu khai thác nhiều để cócái nhìn toàn diện hơn về phong cách ngôn ngữ của nhà văn, đó là các bài tiểu
luận về văn học nghệ thuật của Nguyễn Tuân Đề tài tuy khá mới mẻ, nhưng
những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thuộc các thể tài khác của NguyễnTuân mà những người đi trước đã thực hiện là những tài liệu tham khảo rất bổích, giúp chúng tôi xác lập được cách tiếp cận và hướng nghiên cứu của mình
Trang 83 Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát tất cả
các bài viết của Nguyễn Tuân in trong cuốn Nguyễn Tuân bàn về văn học
nghệ thuật, Nxb Hội Nhà văn, 1999.
4 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát một cách toàn diện các cấp độ ngôn ngữ trong các bài viết viết
về văn học nghệ thuật của Nguyễn Tuân; nhận diện những nét riêng về ngônngữ của tác giả ở mảng bài viết này; so sánh, đối chiếu với cách dùng ngônngữ trong các sáng tác của ông để nhận ra sự thống nhất của một phong cáchngôn ngữ
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại;
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ;
- Phương pháp so sánh và đối chiếu
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Phê bình văn học, ngôn ngữ phê bình văn học, mảng bài
viết về văn học nghệ thuật của Nguyễn Tuân
Chương 2: Từ ngữ trong các bài viết về văn học nghệ thuật của
Trang 9Chương 1 PHÊ BÌNH VĂN HỌC, NGÔN NGỮ PHÊ BÌNH VĂN HỌC, MẢNG BÀI VIẾT VỀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT
CỦA NGUYỄN TUÂN
1.1 Phê bình văn học và vấn đề ngôn ngữ phê bình văn học
1.1.1 Tính khoa học và tính nghệ thuật của phê bình văn học
Về khái niệm phê bình văn học, nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy nêu câuhỏi: phê bình văn học là gì? Và theo ông, đây là câu hỏi thuộc loại bàn thểluận Loại câu hỏi này, lời hỏi chỉ là một, nhưng lời đáp thì có thể là nhiều,thậm chí rất nhiều Nhận thức về bản chất của phê bình văn học là một quátrình, và quan niệm về phê bình văn học cũng đã từng có những chỗ rất khácnhau Nhưng dù chưa phải đã có sự nhất quán trong các quan niệm, thì cũngkhông thể phủ nhận rằng, phê bình văn học là một hoạt động tất yếu của mọinền văn học Sản phẩm nghệ thuật ra đời, đồng thời cũng phải chịu sự phánxét của công chúng tiếp nhận: hoặc khen hoặc chê Thái độ đó không chỉ củabạn đọc nói chung, mà quan trọng hơn, ở một lớp "độc giả đặc biệt", có sự amhiểu sâu sắc về văn học, có quan điểm lí thuyết, có vốn văn hóa sâu rộng: cácnhà phê bình văn học
Theo Đỗ Lai Thúy, phê bình có thể hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa thôngtục của ngôn ngữ thường nhật, hay nghĩa hẹp, nghĩa chuyên môn của khoahọc văn học Theo nghĩa rộng, phê bình chỉ bất cứ sự khen chê, đánh giá nào
về một tác phẩm, một sự kiện văn học, từ một câu thơ câu văn cho đến một sựnghiệp sáng tạo, một nền văn học Nhưng phê bình văn học theo nghĩa là mộthoạt động chuyên môn thì chỉ xuất hiện khi nhân loại bước vào thời đại mới,trước hết là ở châu Âu (đầu thế kỉ XIX) [60, tr.18-19] Và cũng chỉ phê bìnhhiểu theo nghĩa hẹp như vậy mới là một hoạt động vừa mang tính khoa học,vừa mang tính nghệ thuật
Trang 10Phê bình văn học có có đối tượng riêng, có phương pháp riêng, vàchính điều này qui định tính khoa học của nó Đối tượng của phê bình vănhọc là trước hết là tác phẩm - yếu tố trung tâm của hệ thống văn học "Người
ta có thể phê bình một một tác giả, một hiện tượng văn học, thậm chí mộtthời đại văn học, nhưng cơ sở của tất cả các phê bình trên vẫn là phê bình tácphẩm" [60, tr.25]
Theo nhận thức chung, tác phẩm văn học đã là đối tượng nghiên cứucủa một số khoa học xã hội và nhân văn Tùy theo mục đích của mình, mỗikhoa học có hướng tiếp cận riêng đối vôi tác phẩm văn học
Xem tác phẩm là đối tượng, nhưng phê bình văn học của thế giới trướcthế kỉ XX coi tác phẩm như là sự mô phỏng cuộc sống, như là bản sao củathiên nhiên Chỉ từ thế kỉ XX, tác phẩm mới thực sự là một tồn tại tự thân, và
do vậy, mới là đối tượng nghiên cứu thực sự của khoa học văn học, trong đó
có phê bình văn học Và cũng từ đây, phê bình văn học phải có quan niệm đầy
đủ về tác phẩm văn học, trên cơ sở đó mới có thể xác định các phương phápphù hợp
Nói đến tác phẩm văn học là nói đến một sáng tạo ngôn từ Từ chất liệu
có sẵn là ngôn ngữ tự nhiên, nhà văn tạo nên tác phẩm Một tác phẩm văn họcchỉ thực sự có sức sống tự thân khi nó là sản phẩm độc đáo, mang tính đơnnhất, không lặp lại
Văn học là một loại hình nghệ thuật, do vậy, tác phẩm văn học phải là mộtnghệ thuật Nghĩa là nó có những thuộc tính chung với những loại hình nghệthuật mà con người đã tạo ra như âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, múa,sân khấu, điện ảnh Đặc trưng chung của nghệ thuật là tính thẩm mĩ, tính gợicảm Không tạo ra cái đẹp, không được xem là nghệ thuật Mặt khác, không cókhả năng đánh thức cảm xúc của con người cũng chưa phải là nghệ thuật
Tính khoa học của phê bình văn học thể hiện ở các phương pháp mà nóvận dụng Trên tiến trình phát triển của mình, phê bình văn học đã từng được
Trang 11biết đến với các phương pháp: phê bình ấn tượng chủ nghĩa, phê bình tiểu sử
học, phê bình văn hóa - lịch sử, phê bình xã hội học mác xít, phê bình phong cách học, phê bình thi pháp học, phê bình phân tâm học, phê bình văn học từ
hệ thống văn hóa Mỗi phương pháp phê bình ra đời đều gắn với hệ tư tưởng,
với những quan niệm triết mĩ, với lí thuyết Thiếu lí thuyết, nhà phê bình - nói
theo cách Nguyễn Hưng Quốc - không khác gì người mù Trong tiểu luận Ba
chức năng chính của phê bình, Nguyễn Hưng Quốc viết: "Các lý thuyết văn
học vừa tồn tại như một sự phê bình đối với bản thân ý niệm văn học vừa tồntại như một cương lĩnh để các nhà phê bình cũng như người đọc nói chungtheo đó tiến hành công tác phê bình các tác phẩm văn học Trong cách nhìnnày, phê bình văn học và lý thuyết văn học có quan hệ mật thiết với nhau:không có một lý thuyết văn học nào không được hình thành trước hết như mộtcách phê bình đối với một lý thuyết, hoặc ít nhất, đối với một cách nhìn nào
đó về văn học; và không có một hành động phê bình nghiêm chỉnh nào lạikhông dựa trên một cơ sở lý thuyết nhất định Khi tính chất đa nguyên về vănhoá và thẩm mỹ càng phát triển, các nhà phê bình càng đối diện với nhu cầu
tự chứng minh và bênh vực cho các luận điểm của mình, do đó, càng phải lúnsâu vào lý thuyết: ngay cả khi họ thực lòng không thích lý thuyết thì họ cũng
bị buộc phải lý thuyết hoá thái độ phản - lý thuyết của họ" [52]
Hiện nay, người ta chia phê bình thành phê bình báo chí và phê bìnhhọc thuật Dĩ nhiên, phê bình học thuật có tính khoa học cao hơn, có đóng gópnhiều hơn cho sự phát triển của bản thân nền phê bình cũng như sự tác độngtích cực đến hoạt động sáng tạo của người nghệ sĩ
Không chỉ có tính khoa học, phê bình văn học còn mang tinh nghệthuật Điều này bị qui định trước hết ở đối tượng của phê bình: tác phẩm vănhọc là một hiện tượng thẩm mĩ Hành trình "thám mã", khám phá những giátrị của tác phẩm văn học của nhà phê bình không chỉ trông cậy ở sự "thôngminh", sự sắc sảo của lí trí, ở hiệu năng của lí thuyết được vận dụng, mà còn ở
Trang 12sự rung động của tâm hồn Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy quan niệm: "Nhà văn
và nhà phê bình đều đi trên một lộ trình, nhưng ngược chiều nhau: sáng tác đi
từ ý tưởng đến ngôn ngữ bằng con đường trực giác nghệ thuật, còn phê bình
đi ngược lại từ ngôn ngữ đến ý tưởng bằng con đường ý thức khoa học" [60,tr.55] Ông cũng "định lượng hóa" thao tác của nhà văn và của nhà phê bình:
"Nói một cách định lượng thô thiển thì, khi sáng tác, nhà văn sử dụng 70%trực giác, xuất thần, cảm hứng và 30% ý thức, còn khi phê bình tác phẩm, nhàphê bình lại sử dụng 70% ý thức và 30% trực giác" [60, tr.55] Một "liềulượng trực giác" mà nhà phê bình cần đến trong hoạt động của mình như vậy
là điều có ý nghĩa quyết định để anh ta có thể chỉ ra chỗ ẩn giấu của cái đẹpcũng như giải thích về cái đẹp được khám phá
Nhà phê bình có vị thế độc lập với người sáng tạo Bởi thế, văn bản phêbình tồn tại song song với văn bản nghệ thuật mà nó tìm hiểu, đánh giá Ở chỗnày, nhà phê bình cũng được xem là người sáng tạo Nếu sáng tạo của nhàvăn dựa trên chất liệu đời sống, thì nhà phê bình sáng tạo trên vật liệu đặc thù:tác phẩm của nhà văn Nhà phê bình là một nhà văn Tác phẩm phê bình làmột tác phẩm văn chương Người ta gọi đây là phê bình nghệ sĩ Phê bình làmột tác phẩm nghệ thuật, là sự tái kiến tạo một phong cách từ một phong cáchkhác, là sự biến đổi ngôn ngữ thành một ngôn ngữ khác Trong lịch sử phê
bình của chúng ta, Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân là ví dụ
điển hình của phê bình nghệ sĩ, và chính tác phẩm này đã đem đến cho độcgiả nhã hứng đặc biệt như đọc những vần Thơ mới vậy
1.1.2 Phê bình văn học ở Việt Nam qua các giai đoạn
1.1.2.1 Giai đoạn 1930 - 1945
Giai đoạn 1930 - 1945, nền văn học Việt Nam có bước phát triển vượtbậc Bên cạnh thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, phê bình văn họccũng khởi sắc và gặt hái những thành tựu quan trọng
Trang 13Sự ra đời của phê bình ở Việt Nam phải kể đến những bài đầu tiên có
tính chất đặt nền móng như Văn minh tân học sách của Đông Kinh nghĩa
thục Sau đó, trong vòng một thập kỉ, đã xuất hiện một loại bài, hoặc các cuốn
sách mang tính chất phê bình, khảo cứu rõ rệt hơn như Nghề hát bội của ta và
nghề diễn kịch của người châu Âu của Nguyễn Văn Vĩnh; Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính; Tâm lí Thúy Kiều, Thế nào gọi là kịch, Văn học Pháp, bàn về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh; Lời khuyên học trò của Nguyễn Bá Học; Văn tiêu khiển và văn biện thuyết của Hoàng Tích Chu; Nam thi hợp tuyển và Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc, các bài bàn về quốc văn của Ngô
Đức Kế [67, tr.650]
Tuy nhiên, phê bình văn học chỉ thực sự đột khởi và có những thànhtựu đáng kể để trở thành một thể loại độc lập ở những năm 1930 - 1940 củathế kỉ trước với những tác giả, tác phẩm đi vào lịch sử văn học văn học nói
chung, lịch sử phê bình nói riêng Phải kể đến Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh; Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn; Dưới mắt tôi của Trương Chính; Việt Nam văn học cổ sử của Nguyễn Đổng Chi; Nhà văn hiện
đại của Vũ Ngọc Phan; Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh; Văn học khái luận của Đặng Thai Mai, và một số bài của Lê Tràng Kiều, Trương Tửu Ở
những bước đi ban đầu này, phê bình văn học tuy không tránh khỏi nhữngnon nớt, thô vụng với những nhận xét mang tính chủ quan, cảm tính, nhưngnhìn chung, nó đã nỗ lực hướng tới một ý thức khoa học cao trong nghềnghiệp, "Biết mượn các phương pháp khoa học của Tây phương mà nghiêncứu những vấn đề có liên quan đến văn hóa nước mình" (Dương QuảngHàm)
Hơn nửa thế kỉ trôi qua, đến nay, có những quan điểm của các nhà phêbình tiền bối đã trở thảnh lỗi thời, nhưng không ít quan điểm đã vượt qua thờigian, vẫn giữ được giá trị khoa học Các tác giả có khi bộc lộ thái độ khắt khe
Trang 14đối với tác phẩm của mình, nhưng thực tế của khoa học đã xác nhận chân giátrị của chúng Chính Hoài Thanh vào cuối đời đã tự nghiệm rằng, nếu không
có cuốn Thi nhân Việt Nam, mọi người chưa hẳn đã coi ông là một nhà văn Quả thật, với Thi nhân Việt Nam, người đọc không chỉ được thưởng thức cái
hay, cái đẹp đích thực của văn chương, mà còn cảm nhận được cái duyêndáng, đặc sắc, tài hoa của người viết phê bình Bằng vốn hiểu biết sâu rộng vàmột năng lực cảm thụ văn chương tinh tế, nhà phê bình đã cho ta thấy đượcThơ mới - một thể loại văn học xuất hiện đã có một vị trí thế nào trong đờisống văn học
Song hành với Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn, Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh là Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm Tác
phẩm này được coi là công trình văn học sử đầu tiên viết bằng quốc ngữ.Công lao của Dương Quảng Hàm không chỉ phân chia được các giai đoạn vănhọc Việt Nam từ thời Lý - Trần (thế kỉ X - XIV), thời kì - Lê Mạc (thế kỉ XV
- XVIII), thời kì cận đại (thế kỉ XIX), mà còn đánh giá được một cách kháiquát sự hình thành một nền quốc văn mới đầu thế kỉ XX với những tác gia vàtác phẩm hiện đại
Bên cạnh những công trình nghiên cứu đáng ghi nhớ, đời sống phê bìnhgiai đoạn 1930 - 1945 còn được ghi nhận bởi các cuộc tranh luận về những
vấn đề văn học trên các tạp chí Tri tân, Tao đàn mà nổi bật là cuộc tranh luận
"nghệ thuật vị nghệ thuật" và "nghệ thuật vị nhân sinh" (1935 - 1939) thu hút
sự tham gia giữa một bên là Hải Triều, Hải Thanh, Hải Vân, Hồ Xanh, BùiCông Trừng, Lâm Mộng Quang đại diện cho phái "vị nhân sinh" và bên kia
là Hoài Thanh, Thiếu Sơn, Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều, Thiều Quang đạidiện cho phái "vị nghệ thuật" Cuộc tranh luận không chỉ phản ánh không khívăn học một thời với những quan điểm học thuật khác nhau, mà còn đề cậpđến các vấn đề lí luận quan trọng như: chức năng phản ánh của văn học, tính
Trang 15giai cấp và tính dân tộc trong văn học, mối quan hệ giữa phản ánh và tiếpnhận, trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ và vấn đề tự do trong sáng tácvăn học, Có những vấn đề cuộc tranh luận nêu ra và đã ngã ngũ, nhưng cónhững vấn đề chỉ dừng lại ở mức gợi mở và cho đến nay vẫn đòi hỏi đời sống
lí luận phải tiếp tục giải quyết
Về không khí học thuật và những thành tựu của phê bình văn họcgiai đoạn 1930 - 1945, nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ rút ra mấy điểm cơbản sau đây:
- Thứ nhất, đây là một phong trào rộng lớn từ Bắc chí Nam, thu hút
hoạt động của một đội ngũ đông đảo Trước kia, trên tờ Nam Phong đơnchiếc, Phạm Quỳnh phải chèo chống mọi mặt, lúc viết về triết học, lúc viết vềkhoa học, lúc khảo cứu về văn chương, lúc viết sử kí Bây giờ người trí thức
có khả năng và thiện chí làm việc biên khảo nhiều hơn và chia nhau mỗingười một địa hạt Nhất là có những phần tử thanh niên tân học, hăng hái tìmtòi, suy nghĩ, có khi bước sang cả mảnh đất cố học, Hán học mà trước đây họcvẫn thường thờ ơ, lạnh nhạt
- Thứ hai, trong việc làm, hiển nhiên ta thấy sự du nhập gia tăng của
tinh thần khoa học cũng như của kiến thức học thuật Tây phương Phươngpháp khoa học, óc lí luận tỏ rõ từ trong việc tìm kiếm và sử dụng tài liệu đếncách trình bày lí luận và lối viết Ngay ở địa hạt văn học và phê bình, người takhông dừng lại ở lối bình tán chủ quan, thay vào đó, người ta kê cứu hoàncảnh, tìm ra các yếu tố cắt nghĩa thiên tài, phân tích "chất thơ", bình giải chi lítừng vần, từng chữ [46, tr.675]
Tuy nhiên, bên cạnh đó, Phạm Thế Ngũ cũng chỉ ra những bất cập, nonyếu của nền phê bình trên bước đường hiện đại hóa Đó là biên khảo nhữngcông trình Hán học chủ yếu dựa vào những nhà nho "cuối mùa", cho nênkhông tránh khỏi sơ sót, sai lầm (các bài phê bình đương thời đã kịp thời chỉ
Trang 16ra) Đó là về Tân học, Tây học, sự đóng góp của lớp trẻ thoạt xem có vẻ dồidào, mới mẻ, song xét kĩ, chỉ mới có bề mặt, chưa có bề sâu Mặt khác, vì cầndựng lấy một lí thuyết để hướng dẫn sự hành động, nên người ta vội vàng để
có chủ kiến, dễ rơi vào những thiên kiến, mắc những sai lệch (chẳng hạn sự
vận dụng phân tâm học của Freud vào nghiên cứu Truyện Kiều theo cách làm
của Nguyễn Bách Khoa) [46, tr.678] Ý kiến trên đây của Phạm Thế Ngũ có
sự gặp gỡ với nhận định của Dương Quảng Hàm: "Thể phê bình mới nhậptịch vào làng văn học của nước ta, nên các tác phẩm hãy còn thưa thớt vànhiều khi chưa xác đáng hoặc vì sự tây vị về cá nhân hay về đảng phái, hoặc
vì thiếu trí phê bình và phương pháp khoa học" [16, tr.557] Tình trạng nàytrong phê bình văn học Việt Nam thời tiền chiến, Nguyễn Hưng Quốc gọi đó
là sản phẩm của thế hệ "tiền lí thuyết" [53]
1.1.2.2 Giai đoạn 1945 - 1985
Đây là giai đoạn phê bình văn học của 40 năm dân tộc ta chiến đấudành độc lập, tự do dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Chiếnthắng Điện Biên Phủ đem lại hòa bình, độc lập cho miền Bắc, nhưng cả nướclại bước tiếp vào cuộc chiến đấu chống Mĩ, và sau 30 năm chiến tranh máulửa, đã giành được thắng lợi vào năm 1975, thống nhất Tổ quốc Về mặt kinh
tế, đây là giai đoạn đất nước sống trong cơ chế bao cấp, thích hợp với thờichiến, nhưng đã trở nên trì trệ, kìm hãm sự phát triển trong thời bình, dẫn đếncơn khủng hoảng toàn diện trong đời sống xã hội, thúc đẩy chủ trương đổimới năm 1986
Đặc điểm nổi bật nhất của giai đoạn này là sự xác lập quyền lãnh đạotoàn diện, triệt để của Đảng cộng sản đối với văn hóa, văn nghệ, là sự truyền
bá lí luận văn học mác xít và lí luận hiện thực xã hội chủ nghĩa, là xây dựngnền văn nghệ mới và nền lí luận phê bình văn học mới theo định hướng xã hội
Trang 17chủ nghĩa Đây cũng là thời kì đất nước chia cắt hai miền, ở miền Nam, hoạtđộng lí luận phê bình có những nét khác biệt so với miền Bắc.
Tuy tư tưởng văn nghệ mác xít đã đã được truyền bá vào Việt Nam từtrước, đặc biệt là trong cuộc tranh luận với quan điểm "nghệ thuật vị nghệ
thuật" các năm 1936 - 1939 và trên các báo của Đảng, nhưng phải từ Đề
cương văn hóa Việt Nam của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1943, người
ta mới thấy rõ bước đầu Đảng nắm quyền lãnh đạo
Sau Đề cương là là việc thành lập Hội Văn hóa Cứu quốc (4 - 1943).
Để cụ thể hóa nội dung bản Đề cương, Trường Chinh đã viết bài Mấy nguyên
tắc lớn của cuộc vận động văn hóa mới Việt Nam lúc này (Tạp chí Tiên phong, số 2, 1945) Sau cách mạng tháng Tám thành công, Đại Hội của Hội
Văn hóa Cứu quốc họp lần thứ nhất vào tháng 9 - 1945 Đại hội lần thứ haihọp vào tháng 10 - 1946, thu thập được 86 chữ kí của các nhà văn hóa Tại
đại hội lần thứ hai, Trường Chinh đọc báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa
Việt Nam, lần đầu tiên trình bày có hệ thống tư tưởng mác xít và đường lối
văn hóa của Đảng Cộng sản
Sau Hội nghị văn hóa toàn quốc, là sự thành lập Hội văn nghệ ViệtNam vào tháng 7 năm 1948, Nguyễn Tuân được bầu làm Tổng thư kí Tháng
4 - 1949 có Hội nghị văn nghệ bộ đội, tháng 9 - 1949 có Hội nghị tranh luận
văn nghệ Việt Bắc, tại đây, Tố Hữu thuyết trình báo cáo Văn nghệ dân chủ
mới; cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt, Nguyễn Đình Thi
báo cáo về Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa Các vấn đề văn nghệ và
tuyên truyền, thơ không vần của Nguyễn Đình Thi, hình thức văn nghệ cảilương, độc tấu của Thanh Tịnh đều được đem ra bàn bạc Một bầu khôngkhí phê bình và tự phê bình được dấy lên trong giới hoạt động văn nghệ
Năm 1951, Tố Hữu đọc báo cáo Xây dựng văn nghệ nhân dân Việt
Nam tại Đại hội Đảng lần thứ hai ở Việt Bắc Sau khi đánh giá lại tương đối
Trang 18toàn diện văn học truyền thống, ông đánh giá cao thành tựu văn chương cáchmạng và kháng chiến, trước hết là văn chương chính trị như của Chủ tichh HồChí Minh, Trường Chinh Tuy nhiên, ông cũng cho rằng, riêng văn chươngsáng tác còn nghèo nàn Ông phê bình lí luận văn nghệ còn thiếu sót, chưalàm sáng tỏ ba nguyên tắc lớn, của nền văn nghệ mới Lần đầu tiên ông chínhthức nêu vấn đề "Sự lãnh đạo của Đảng về văn nghệ", nhận định "phần đôngcác đồng chí văn nghệ sĩ của Đảng chưa được cải tạo tư tưởng" Ông đề ra cácnhiệm vụ của nghệ sĩ: một là phải đi vào cuộc sống để sống và viết về côngnông binh; hai là phải cải tạo tư tưởng, học tập chủ nghĩa Macx - Lênin Vềnghệ thuật, phải ra sức phát huy vốn văn nghệ cũ của dân tộc, nhất là vănnghệ bình dân, mọi tìm tòi hình thức mới, kĩ thuật mới trái với tính cách quầnchúng đều là phiêu lưu, không thể đem lại kết quả tốt đẹp Ông cũng khôngquên nhắc nhở học tập văn nghệ tiến bộ thế giới.
Sau năm 1954, tổng kết Đại hội văn công, Tố Hữu nêu mấy vấn đề văn
nghệ Thứ nhất, đi sâu vào chủ nghĩa hiện thực, phản đối chủ nghĩa tự nhiên
và chủ nghĩa công thức, đề cao vai trò nhận thức, tuyên truyền và giáo dụccủa văn nghệ đối với chính sách và khẩu hiệu của Đảng, nhưng văn nghệ
không được ra mặt dạy đời Thứ hai, tiếp nhận di sản văn nghệ dân tộc để làm giàu bản sắc dân tộc Thứ ba, nhiệm vụ của văn nghệ là biểu dương những
con người mới, những anh hùng của thời đại chúng ta, nêu thành những tấmgương sáng để động viên, giáo dục nhân dân Nhà văn phải nâng cao hiểu biết
và không nên lí tưởng hóa Thứ tư, về hình thức nghệ thuật, ông cho rằng, mỗi
hình thức nghệ thuật là một hình thái sinh hoạt của tâm hồn, nó thể hiện một
bộ phận bản chất con người, ở trong máu thịt con người và thường nó chuyểnbiến chậm hơn nội dung Cho nên, đối với những hình thức cũ, không nên vộivàng, hấp tấp sửa chữa theo ý muốn chủ quan
Trang 19Từ đầu 1956 đến 1958, ở miền Bắc xảy ra vụ Nhân văn - Giai phẩm.Sau khi xử lí vụ này, Bộ Chính trị có nghị quyết, các ông Trường Chinh, TốHữu có báo cáo Tố Hữu tổng kết, cho rằng, Nhân văn - Giai phẩm là sự kiệnchính trị chống Đảng, chống chế độ Từ đó, ông rút ra bài học về con ngườitiểu tư sản bấp bênh của nghệ sĩ, đề ra yêu cầu đấu tranh tư tưởng phải kiênquyết, triệt để, phê bình và tự phê bình thường xuyên, yêu cầu văn nghệ sĩkiên quyết cải tạo mình lâu dài, triệt để theo lập trường của giai cấp côngnhân, tư tưởng xã hội chủ nghĩa.
Tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lấn thứ ba, tháng 12 - 1962, Trường
Chinh đọc báo cáo Tăng cường tính đảng, đi sâu vào cuộc sống mới để phục
vụ nhân dân, phục vụ cách mạng tốt hơn nữa Trước đại hội, Tố Hữu cũng
nói chuyện với các nhà văn, chỉ ra cái hiện thực cách mạng mà văn nghệ sĩcần phản ánh, nhấn mạnh tính dân tộc của văn nghệ Năm 1964, tại Hội nghịBan chấp hành Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Tố Hữu lại đọc
báo cáo Đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản, nâng cao nhiệt tình cách
mạng và tính chiến đấu trong văn nghệ, nhắc lại nhiệm vụ phản ánh hiện thực
của văn học, chỉ ra hiện thực cần phản ánh, chức năng giải quyết vấn đề chínhtrị của văn học Tố Hữu cũng chú ý phê phán chủ nghĩa xét lại hiện đại trênthế giới
Năm 1968, tại Đại hội văn nghệ toàn quốc, Trường Chinh đọc báo cáo
nhan đề Văn nghệ phải góp phần giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã
hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến tới thống nhất nước nhà Ông
tóm tắt đường lối xây dựng nền "văn nghệ dân tộc dân chủ" với "nội dung xãhội chủ nghĩa và tính dân tộc", 'sử dụng phương pháp sáng tác hiện thực xãhội chủ nghĩa"
Góp phần xác lập quan điểm của nền văn nghệ mới phải kể đến các bứcthư và lời phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với văn hóa - nghệ thuật,
Trang 20các bài phát biểu của Phạm Văn Đồng cũng như của một số nhà lãnh đạo caocấp của Đảng Điều này càng thể hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ
là triệt để, nhất quán
Tuy nhiên, ngày hôm nay, khi nước nhà đã thống nhất và chúng ta đang
ở vào thế kỉ XXI, khi cuộc sống đã có nhiều thay đổi, những bức xúc của thờichiến không còn, khi các thành trì lí luận mac xít một thời cũng hoàn toànthay đổi, khi chúng ta đã tiếp xúc với nhiều nguồn lí luận văn học tiến bộ trênthế giới, nhìn lại hệ thống quan điểm văn nghệ 40 năm ấy, ta không thể khôngnhận thấy, bên cạnh những mặt đúng đắn, cần thiết trong hoàn cảnh bấy giờ,vẫn không tránh khỏi hạn chế, sơ lược, một chiều Đó là lí do dẫn đến côngcuộc đối mới tất yếu nền văn nghệ ở giai đoạn sau, trong đó có đổi mới líluận, phê bình [55, tr.718-730]
Qua một số phác thảo trên đây, có thể thấy rằng, những nhà văn nhưNguyễn Tuân khi bước vào giai đoạn mới trong cuộc đời sáng tác của mình,
dù viết bất cứ thể loại gì đều không thể thoát li không khí chính trị xã hội.Điều này phản ánh rõ trong các bài tiểu luận về văn học nghệ thuật củaNguyễn Tuân
1.1.3 Ngôn ngữ phê bình văn học
1.1.3.1 Ngôn ngữ phê bình văn học - một dạng thức của ngôn ngữ văn học
Ngôn ngữ phê bình văn học là một bộ phận, một biểu hiện của ngônngữ văn học (còn gọi là ngôn ngữ văn hóa, ngôn ngữ chuẩn, ngôn ngữ vănchương [14, tr.311-312]
Theo Lại Nguyên Ân, ngôn ngữ văn học là dạng thức đã được chỉnh lícủa ngôn ngữ toàn dân, được những người dùng ngôn ngữ này coi là chuấnmực Theo nghĩa rộng, ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ được dùng trong cácphương tiên thông tin đại chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình, xuất bản
Trang 21phẩm), nhà trường, sân khấu, khoa học, văn học (nghệ thuật ngôn từ, giấy tờquan phương, sự vụ [2, tr.232].
Như vậy, ngôn ngữ văn học đối lập với ngôn ngữ thông tục, cácphương ngữ khu vực (của từng lãnh thổ), các phương ngữ xã hội (của từnggiới hẹp) Các chuẩn mực của ngôn ngữ văn học là chuẩn mực toàn dân,nhằm mục đích chính là để toàn dân hiều được
Ngôn ngữ văn học là là kết quả sự sáng tạo tập thể, là một trong nhữngthành tựu văn hóa chung của dân tộc sử dụng ngôn ngữ ấy Phạm vi ứng dụngquan trọng của nó chính là văn học (nghệ thuật ngôn từ) Tuy nhiên, khôngnên nhầm lẫn giữa các khái niệm "ngôn ngữ văn học" (với nội hàm đã lí giảitrên đây) với "ngôn ngữ của văn học" (tức là ngôn từ nghệ thuật)
Ngôn ngữ văn học dưới dạng viết không chỉ được dùng trong văn học,
mà còn được dùng trong tác phẩm khoa học, báo chí, giấy tờ sự vụ; nó cònđược dùng dưới dạng nói, tức là lời hội thoại, nhất là ở các giao tiếp công cộng
và chính thống (quan phương) Ngôn ngữ được dùng ở các sáng tác văn họckhông chỉ đóng khung trong phạm vi các chuẩn mực ngôn ngữ văn học; cácnhà văn còn sử dụng các thành phần ngôn ngữ thông tục, phương ngữ, biệt ngữ(tiếng lóng) - từ là các thành phần không được coi là "ngôn ngữ văn học"
Mỗi ngôn ngữ văn học phát triển phục vụ những phạm vi hoạt độngchính của tập thể nói bằng ngôn ngữ ấy Tùy thuộc phạm vi hoạt động mà nó
có những dạng thức sau: Thứ nhất, ngôn từ hội thoại - dùng trong giao tiếp bình thường, không gắn liền với đề tài chuyên biệt Thứ hai, ngôn từ chuyên môn - dùng trong khuôn khổ các đề tài có ranh giới chặt chẽ Thứ ba, ngôn từ
nghệ thuật - dùng trong các sáng tác văn học; việc sử dụng ngôn ngữ ở đâychủ yếu hướng tới chức năng thẩm mĩ Ở các dạng thức hoạt động chức năng
cụ thể nêu trên, việc tổ chức văn bản được thực hiện theo những nguyên tắckhác nhau
Trang 22Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ văn học gắn bó ở mức đáng
kể với sự phát triển của văn tự (chữ viết) Chính việc được ghi lại bằng văn
tự đã làm định hình các chuẩn mực chung của ngôn ngữ văn học, làm hìnhthành tính bắt buộc và tính cố định tương đối của các chuẩn mực ấy Tuynhiên, phần lớn các ngôn ngữ văn học hiện đại đều gồm cả dạng nói và dạngviết; hơn thế, những đặc điểm khác biệt căn bản bên trong một ngôn ngữ lạigắn không phải với dạng nói hay dạng viết mà là với dạng sách vở và dạnghội thoại của ngôn ngữ văn học (ví dụ, các phát biểu trước công chúngthường hướng tới ngôn từ sách vở, dù được bộc lộ ở dạng nói; trong khi đó,
ở các văn bản nghệ thuật lại có sự mô phỏng nhiều đặc điểm của ngôn ngữhội thoại, dù được ghi bằng văn tự Người ta gọi đây ngôn ngữ sinh hoạtđược tái hiện
Ngôn ngữ văn học luôn luôn được phát triển và làm giàu, với điều kiệnthiết yếu cho hoạt động chức năng của ngôn ngữ là các chuẩn mực của nóphải ổn định Là thành tựu và sự phản ánh của văn hóa dân tộc, ngôn ngữ vănhọc phải là nơi gìn giữ tất cả những gì có giá trị được biểu hiện bằng ngôn từ
đã được tạo ra bởi các thế hệ từng sử dụng ngôn ngữ ấy [2, tr.233]
Như vậy, ngôn ngữ văn học là khái niệm có sự bao hàm khá rộng cácloại diễn ngôn, mà phê bình văn học cũng chỉ là một dạng diễn ngôn trong đó.Nói cách khác, ngôn ngữ phê bình văn học là một dạng thức của ngôn ngữvăn học Trong ngôn ngữ của nền quốc văn mới, lần đầu tiên, tiếng Việt cómột dạng thức ngôn ngữ mới, trước đó chưa từng biết đến Với các ngôn ngữchâu Âu, lối viết khảo luận phê bình đã có từ sớm, mà nguồn gốc là từ các tácphẩm triết học, luận lí học, và sau đó là báo chí Ở Việt Nam, báo chí chính làcái nôi đầu tiên của ngôn ngữ phê bình Từ báo chí, chúng mới dần dần thànhnhững chuyên khảo ở thập kỉ 30 của thế kỉ XX "Sự có mặt của ngôn ngữ líluận phê bình đã có tác dụng rất tích cực trong việc làm thay đổi diện mạo
Trang 23ngôn ngữ văn học ở nước ta Nó cũng là một cái nền để ngôn ngữ văn họcmới có thêm nguồn lực mà phát triển" [55, tr.823-824].
1.1.3.2 Một số tính chất của ngôn ngữ phê bình văn học
Do đặc thù của thể loại và đối tượng tiếp cận, văn bản phê bình văn học
có sự kết hợp hài hoà giữa tính khoa học và tính nghệ thuật Chính điều nàygóp phần qui định những đặc điểm riêng của ngôn ngữ phê bình văn học
a) Ngôn ngữ phê bình văn học trước hết phải có tính chính xác Là một
bộ phận của khoa học xã hội và nhân văn, tính chính xác của phê bình vănhọc dĩ nhiên có những sự khác biệt so với ngôn ngữ của khoa học tự nhiên,nói cách khác, sự chính xác ở đây là có tính tương đối Tính chính xác củangôn ngữ phê bình thể hiện ở các tri thức lí thuyết được trình bày hoặc vậndụng; ở hệ thống thuật ngữ mà nó sử dụng để diễn đạt các nội dung khoa học;
ở sự trung thực trong trích dẫn ý kiến của người khác hoặc các dẫn từ các tácphẩm Chẳng hạn:
- "Nhà phê bình có thể có biệt nhãn đối với hiện tượng văn học này và
vô cảm đối với hiện tượng kia, ấy là chưa nói đến những bất công, thiên vịxuất phát từ những động cơ phi văn học cá nhân hay phe nhóm Belinski đãphát hiện ra khá sớm Gogol, nhưng lại hờ hững đi qua Tiutchev, Baratynski
và nhiều văn tài kiệt xuất khác Nhà phê bình nào ở Nga những năm 60 - 70thế kỷ XIX ý thức được hết giá trị của những tiểu thuyết vĩ đại củaDostoievski và Tolstoi? Cũng như thế, ở Pháp Baudelaire, Rimbaud,Lautréamont, Mallarmé phải chịu đựng những lời chỉ trích chua cay của cácnhà phê bình nổi tiếng Brunetière, Mauras, Faguet, Gourmont Ở ta HoàiThanh đã tỏ ra mẫn cảm với các nhà thơ lãng mạn, nhưng bối rối hay bàngquan trước thơ siêu thực" [10]
- "Những nẻo đường lý luận văn học dẫu vòng vèo thế nào, thì rồi tất cảcác nhà tiểu thuyết, tất cả các nhà thơ đều nói về sự vật và hiện tượng (bao
Trang 24gồm cả những sự vật và hiện tượng hư cấu) tồn tại trước ngôn ngữ và ngoàingôn ngữ: thế giới thì tồn tại, còn nhà văn thì viết - đó chính là văn học Đốitượng của phê bình hoàn toàn khác - không phải là “thế giới”, mà là một diễnngôn, diễn ngôn của một diễn ngôn khác; phê bình là diễn ngôn về một diễn
ngôn, đó là ngôn ngữ thứ sinh, hoặc một siêu ngữ (như cách diễn đạt của các nhà lô gíc học), nó hành nghề trên ngôn ngữ thứ nhất (hay ngôn ngữ - đối
tượng) Cho nên, trong hoạt động của mình, phê bình cần tính đến hai loại
quan hệ - quan hệ giữa ngôn ngữ của nhà phê bình với ngôn ngữ của tác giảđược nghiên cứu và quan hệ của ngôn ngữ - đối tượng ấy với thế giới Sự “cọxát” lẫn nhau giữa hai ngôn ngữ này làm nên định nghĩa của phê bình, rõràng, nó khiến cho phê bình trở nên rất gần với một hình thức hoạt động trítuệ khác, ấy là lô gíc học, một khoa học cũng hoàn toàn dựa trên sự khác biệtgiữa ngôn ngữ - đối tượng và siêu ngữ" [6]
b) Ngôn ngữ phê bình văn học phải có tính chặt chẽ Nếu sáng tác văn
học là sản phẩm của kiểu tư duy hình tượng, thì phê bình văn học lại là sảnphẩm của tư duy thiên về lô gic Sức thuyết phục của văn bản phê bình phụthuộc vào "hàm lượng khoa học", ở những luận thuyết, ở các dẫn chứng minhhọa Điều này được phản ánh rõ nét trong hình thức ngôn ngữ của văn bảnphê bình, ở đó, tính chặt chẽ thể hiện ở các kiểu lập luận, ở các thao tác phântích, giải thích, chứng minh Ví dụ:
- "Khi nói đến việc xây dựng một lý thuyết văn học cho Việt Nam, điềungười ta thường làm đầu tiên là nhìn quanh để vay mượn Có thời người tanhìn sang Trung Hoa Có thời người ta nhìn sang Pháp Có thời người ta nhìnsang Nga Có thời người ta nhìn sang Anh và Mỹ Nhưng lý thuyết là cái gìngười ta không thể vay mượn một cách dễ dãi như vậy được: với cung cáchnhư thế, cái được vay mượn không phải là một lý thuyết mà chỉ là một giáođiều: nó không mở rộng mà thậm chí còn thu hẹp tầm nhìn của chúng ta; nó
Trang 25không những không giải phóng mà thậm chí còn biến chúng ta thành nô lệ.Theo tôi, lý thuyết không được sáng tạo mà chỉ có thể được phát triển; nó chỉđược phát triển sau khi đã được tiếp nhận một cách nghiêm túc và đặc biệt,với một tinh thần phê phán cực cao Nói cách khác, người ta không thể tiếpcận lý thuyết như kẻ vô học; cũng không thể tiếp cận lý thuyết như một tênhọc trò: người ta chỉ có thể tiếp cận lý thuyết như một tên học-trò-quật-khởi:chăm chỉ nhưng không sùng tín Nói cách khác, người ta chỉ có thể đến lýthuyết qua con đường phê bình" [52].
c) Tính biểu cảm là một đặc điểm khá nổi bật của ngôn ngữ phê bình.
Do đối tượng của phê bình văn học là tác phẩm văn học - biểu hiện của cáiđẹp, có sức lây lan cảm xúc, tạo mối đồng cảm ở người đọc, cho nên, nhà phêbình hoàn toàn có thể bộc lộ những rung cảm của mình ở từng trang viết.Người ta đã nói đến kiểu phê bình nghệ sĩ (nhà phê bình đồng thời là nhà văn,tác phẩm phê bình đồng thời là tác phẩm văn chương, nghĩa là nó tác độngđến người đọc bằng tính biểu cảm) Ngay cả những nhà phê bình thuần túy,chưa hề sáng tác văn thơ, cũng có thể viết nên những trang phê bình khiến
người đọc phải rung động Hoài Thanh với Thi nhân Việt Nam là một trong
những trường hợp tiêu biểu Lối viết phê bình kiểu ấn tượng của Hoài Thanh
đã tạo nên những trang viết giàu chất văn, đưa đến cho độc giả những khoáithú, không khác gì được đọc những áng thơ văn giàu cảm xúc Ví dụ:
- "Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống rạt rào chưa từng thấy ở chốnnước non lặng lẽ này Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sốngvội vàng cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình Khi vuicũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết" [58, tr.106]
- "Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu.nhưng càng đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưutrong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, ChếLan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu
Trang 26không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn trở buồn trở
về hồn ta cùng Huy Cận" [58, tr.46-47]
Nguyễn Hưng Quốc lúc mới bắt đầu viết phê bình, cũng rất thích lốivăn giàu cảm xúc này, và từng làm say mê nhiều độc giả bởi thứ văn phê bìnhrất "điệu", chẳng hạn:
- "Làm thơ là một cách tỏ tình Nói lớn hay nhỏ, dài hay ngắn, bổnghay trầm, nào có quan trọng gì Quan trọng là ở chỗ người mình yêu có chớpmắt xúc động hay không Nhà thơ lớn nào cũng đều là những tâm hồn lớn cókhả năng thu nhận và rung cảm trước những làn sóng vỗ từ xa, rất xa, ngoàibản thân họ Nhà thơ lớn là những hạt muối Hạt muối nhỏ nhưng chất chứadồn nén trong mình tất cả những vị mặn chát của đại dương Nhà thơ lớn lànhững chiếc lá ngô đồng Chiếc lá nhỏ hanh hao, bay bay trong gió thoi thópbiết mấy nhưng lại mang trong mình tất cả tín hiệu của một mùa trời đất đangđi" [50]
- "Nhà thơ là người sáng tạo ư? Không, tôi ngờ lắm Từ xưa đến nay,nhà thơ có mang lại điều gì mới mẻ đâu Hắn là người, bằng sự nhạy bénriêng của mình, phát hiện sâu sắc hơn ai hết những chất thơ đã vốn có, đãbàng bạc, ẩn tàng, giấu khuất đâu đó trong vũ trụ, ở thiên nhiên, ở cuộc đời, ởlòng người Gió vẫn có đấy chứ, quen thuộc lắm mà, từ bao nhiêu đời rồi,nhưng phải đợi đến lúc nhà thơ ra đời, nghiêng mình làm lá, gió mới cất thànhtiếng reo Trăng vẫn có đấy chứ, từ xưa, trên cao, nhưng phải đợi đến lúc nhàthơ xuất hiện, lặng mình làm một mặt nước hồ im, trăng mới lại hiện về, longlanh hơn, huyền ảo hơn, ngay trên mặt đất, rất vừa tầm nhìn Nhà thơ có sángtạo được gì đâu? Hắn chỉ là lá reo để đón gió, là hồ im để đón trăng, là cỏngửa mặt để chờ sương Hắn nắm bắt và giữ lại cho đời những chất thơ kínđáo nhất, mong manh nhất, thoáng qua nhất" [50]
Trang 27Thị hiếu người đọc ngày nay rất đa dạng Không phải ai cũng thích lốivăn phê bình du dương, trầm bổng, ít tiết chế cảm xúc Tuy nhiên, không phải
vì thế mà ngôn ngữ phê bình có thể khước từ tính biểu cảm Vấn đề là ở "liềulượng", ở cách sử dụng của người viết Sự lạm dụng bao giờ cũng gây phảncảm Nhưng, nếu thể hiện cảm xúc đúng chỗ, bài phê bình dễ dàng chinh phụcngười đọc không chỉ bởi "thấu lí" mà còn "đạt tình"
d) Ngôn ngữ phê bình văn học cũng biểu hiện tính cá thể của người
viết Văn phê bình chưa bao giờ là "trung tính" Ngược lại, nó có thể giúpngười viết bộc lộ quan điểm, tư tưởng, vốn văn hóa, sở trường, tâm hồn củamình - những yếu tố hình thành "khuôn mặt tinh thần của chủ thể" Ở văn bảnphê bình văn học, người ta không để cập đến "phong cách nghệ thuật" - vấn
đề thuộc địa hạt của văn sáng tác -, nhưng hoàn toàn có thể nói đến phongcách phê bình, phong cách ngôn ngữ, chẳng hạn, kiểu phê bình "lấy hồn ta đểhiểu hồn người của Hoài Thanh, phê bình mà như viết tùy bút của NguyễnTuân, phê bình bắt bẻ chữ nghĩa kiểu Vũ Ngọc Phan, giọng phê bình hănghái, hùng biện của Hải Triều Như vậy, một khi đã gắn đời mình với nghiệpcầm bút, không chỉ người sáng tác mà cả nhà phê bình cũng không thể giấumình Dù đậm nhạt khác nhau, nhưng những nhân tố cá nhân sẽ lộ diện trêntừng trạng viết
1.2 Mảng bài viết về văn học nghệ thuật của Nguyễn Tuân
1.2.1 Vị trí của mảng bài viết về văn học nghệ thuật trong sự nghiệp trước tác của Nguyễn Tuân
Trước tiên phải khẳng định rằng Nguyễn Tuân không phải là ngườichuyên viết phê bình, sống chết với phê bình, coi phê bình như một mục đíchđeo đuổi, một cái nghiệp dĩ của cuộc đời Phần lớn thời gian ông dành chocông việc sáng tác, tìm kiếm cái đẹp ngay trong bản thân cuộc sống Vì vậy,khi nói đến Nguyễn Tuân, người ta thường nghĩ ngay đến một cái “tôi” đặc
Trang 28biệt tài hoa nhưng cũng hết sức tài tử uyên bác Nghĩa là ông chỉ viết những
gì mình thích chứ không trói buộc vào một yêu cầu xã hội nào
Cũng như một số nhà văn, danh tiếng Nguyễn Tuân luôn đi kèm vớimột thể loại, một sở trường Nếu như Nam Cao với truyện ngắn, Vũ TrọngPhụng với phóng sự, thì Nguyễn Tuân được xem là bậc thầy về tuỳ bút vớinhững trang viết khá độc đáo, phóng túng và rất đỗi ngang tàng Đóng góptrội nhất của Nguyễn Tuân trong hoạt động phê bình văn học tập trung ở hai
kiểu bài: chân dung văn học và phê bình tác phẩm như: Truyện Kiều của Nguyễn Du, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Thuốc của Lỗ Tấn, hoặc thâm nhập vào
toàn bộ thế giới nghệ thuật của một nhà văn như các bài viết về Tônxtôi,Sêkhốp, Đôxtôiépxki, Tú Xương, Thạch Lam Thực ra, với Nguyễn Tuân,viết phê bình cũng là một sự tiếp nối cuộc hành trình tìm kiếm cái đẹp, khácchăng trong những “chuyến đi” này là những tác phẩm, những tài năng vănhọc trong và ngoài nước rất được người đọc hâm mộ Đọc những bài chândung văn học, người ta háo hức muốn tìm xem mặt mũi của cái tài nó như thếnào Thú vị nhất là được thấy cái tài trong sinh hoạt đời thường, cái tài đượctiếp xúc cụ thể, được quan sát cận cảnh Con người ta xưa nay thường cónhững sở thích như thế Nhưng viết chân dung không phải là dễ Phải quan sátgiỏi để tóm được những chi tiết tiêu biểu Lại phải từ ngoại hình, từ cái ngoạihiện mà bắt lấy tinh thần của đối tượng Người viết chân dung có tài còn phảilàm sao thấy được sự thống nhất giữa văn và người mà thấy được văn
Mảng bài viết về văn học nghệ thuật chiếm một vị trí khá quan trọngtrong sự nghiệp trước tác của Nguyễn Tuân Trong mảng bài viết này,Nguyễn Tuân thường viết về những nhà văn có cá tính, với một lối viết kháthoải mái tự do, đầy chất ngẫu hứng mà cũng uyên bác, khoa học NguyễnĐăng Mạnh gọi ông là nhà phê bình tài tử “nhân đọc mà thấy thích và cóhứng thì viết”, và “chỉ viết theo sở thích riêng và tuỳ hứng, hoàn toàn không
Trang 29chịu ràng buộc vào một trách nhiệm nào - với tư cách là nhà phê bình - đốivới nền văn học của đất nước” [41, tr.7].
Đọc văn phê bình của Nguyễn Tuân, chúng ta rất dễ nhận ra “chất tuỳbút” tự do, phóng túng đôi khi tứ tán đến lạc đề của người dẫn chuyện hómhỉnh, sắc sảo và uyên bác Sự gặp gỡ giữa các nghệ sĩ bậc thầy và cuộc hànhtrình qua thế giới nghệ thuật đã mang lại cho Nguyễn Tuân những trang viếtgiàu giá trị thẩm mĩ và đậm chất văn chương “Cái duyên” của Nguyễn Tuânvới phê bình có lẽ cũng được khơi nguồn từ những trang viết này Số lượngcác trang viết tương đối nhiều, đối tượng được đề cập tương đối rộng, và nhất
là qua những bài viết này, người đọc thấy được một Nguyễn Tuân với vốnhiểu biết sâu sắc về nhiều lĩnh vực, nhờ vậy, nhà văn mới có thể tung hoànhthoải mái trên những trang truyện, kí, tùy bút của mình Cũng vậy, nhờ tiếpxúc với các bài viết về văn học của Nguyễn Tuân, ta mới hiểu thêm sự thâmhậu về văn hóa, về mĩ cảm, về vốn sống và nhất là vốn ngôn từ mà nhà văn đãthâu góp trong suốt cả cuộc đời cầm bút, xứng đáng với danh xưng "bậc thầy
Chân dung nghệ sĩ trong văn Nguyễn Tuân hầu hết là những tài năng
mà ông cảm phục, những cá tính mà ông ưa thích, những nhân cách mà ôngquý trọng Vì thế, mỗi chân dung hiện lên trong trang viết của ông là hiệnthân cho một lĩnh vực, một thời đại khác nhau Từ Tú Xương, Tản Đà, VũTrọng Phụng, Ngô Tất Tố, Thạch Lam của văn học Việt Nam… đến Sê-khôp,Đôx-tôi-ep-xki bên Tây, Lỗ Tấn bên Tàu… Mỗi bức chân dung là một cuộc
Trang 30đời, một số phận, một cá tính độc đáo Nguyễn Tuân đã khám phá ra nhữngnét chân thực, riêng nhất, đời nhất của các nghệ sĩ, từ đó giúp người đọc hiểuthêm tâm tư, nỗi lòng u uẩn của người nghệ sĩ trước nhân tình thế thái vàtrước cái nghiệp dĩ mà họ đã lựa chọn.
Viết về Tản Đà, ông ngẫm ra cái nghề văn cũng thật bạc bẽo, nghèohèn Nghèo nên cái di sản cuối cùng của bậc thi nhân chỉ còn “Ở đầu giườngbệnh, vẫn bên chồng sách bừa bãi đây đó mấy trang bản thảo Tập di cảo!Trời! Và lẻ loi ở góc bàn vẫn cái hũ rượu cáp - giới ngày nọ Tất cả chỉ thế
thôi, với một đoàn thê tử yếu và đuối” (Nguyễn Tuân bàn về văn học nghệ
thuật, 69, tr.50 Từ đây về sau, các trích dẫn về bài phê bình của Nguyễn
Tuân đều từ cuốn này, do vậy, chúng tôi chỉ ghi trang mà thôi) Ở cả ba
bài viết về Tản Đà, Nguyễn Tuân đã cho người đọc thấy rõ chân dung mộtTản Đà trong cuộc sống đời thường với những tính cách lập dị, ngôngnghênh kiêu bạc
Viết về Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân lại ngậm ngùi thương xót chokiếp mỏng manh bạc mệnh của người nghệ sĩ “Thấy người cùng tuổi, cùngnghề phải chết một cách sớm sủa mau mắn như thế, chúng tôi thấy đời làngắn lắm mà chúng càng phải gần sát mãi nhau lại cho đỡ lạnh” (tr.74-75)
Tuy không phải là phần chính trong sự nghiệp, nhưng Nguyễn Tuânvẫn tỏ ra hăng hái, xông xáo trong lĩnh vực phê bình nghệ thuật Những trangviết phê bình nghệ thuật của Nguyễn Tuân đã làm đa dạng hóa các sáng táccủa mình, đồng thời đem đến những thực đơn mới cho bạn đọc yêu thích vănchương của ông Nhưng nhà văn vẫn rất tự biết mình Viết về hội họa,Nguyễn Tuân chỉ bình một số chi tiết đặc sắc của đối tượng chứ không baoquát chung chung, và đụng vào đâu thì nói cho đến ngành đến ngọn mới thôi
Những trang viết của Nguyễn Tuân bề bộn sắc màu trong cuộc tìmkiếm tư tưởng nghệ thuật Nguyễn Du: “Cái lý thú của tiếng nói Nguyễn Du
Trang 31lại còn ở chỗ đa sắc, nó ngồn ngộn đủ các mầu cầu vồng, chữ cứ óng ánh cảlên như múa bằng hồi quang của hào quang Thật là “cỏ lợt màu sương”,
“thưa hồng rậm lục”, “một gian nước biếc ”, “mặt phấn tươi son”, “bạc phaucầu giá, đen rầm ngàn mây”, “non phơi bóng vàng”, “thành xây khói biếc” và
“xơ xác vàng” cho liễu cùng là “trôi giạt thắm” cho hoa, vân vân Cứ bảo tưtưởng Nguyễn Du nhiễm màu đạo và thuyết luân hồi phật, tức là chiền già sắcsắc không không Tư tưởng không sắc sắc không nhưng lời nói câu thơ thìphản hẳn lại và sự mâu thuẫn hiện lên thành đủ màu Màu chữ của Kiều thỏathuê mà tươi chói như màu các họa sĩ vị sắc phái Coloriste” (tr.620)
Màu sắc của hội họa được Nguyễn Tuân cảm nhận và phân tích từnhiều góc độ Nếu tiếp xúc với một bức tranh nào đó, người xem tranh chỉ cóthể nhận thấy ở đó những gam màu sáng - tối, đậm - nhạt Còn đối vớiNguyễn Tuân thì cái màu sắc ấy không phải chỉ là màu sắc chung chung, màunổi mà là những màu tươi sáng, nhẹ nhõm, nặng nề cho đến cái màu nghiêmnghị “Nhưng khác với lần trước, bây giờ những tác phẩm mới đều nhuộmnhững màu tươi sáng, nhẹ nhõm Cái nặng nề của màu thuốc trong các tácphẩm đầu tiên đã nhường chỗ cho cái tươi tỉnh ngày nay trong sự ghép màu
và dàn đề Những bức họa ngày trước, nhiều người không ưa thích vì màuthuốc nghiêm nghị Nghiêm nghị ở chỗ tối” (tr.34) Có lẽ chỉ Nguyễn Tuânmới cảm nhận được “Trong bức tranh của Bùi Xuân Phái có những màu nóng
ấm, nâu đậm, nâu nhạt Màu gạch tường kinh niên, màu ngói già trăm nămmưa nắng Gần đây tranh Bùi Xuân Phái nhẹ nhõm Nó chắc nịch cái màu đá,xanh xanh cái màu cựu thạch khí, lờn lợt cái màu tân thạch khí và thanh thoát
vô cùng” (tr.710)
Bên cạnh sự cảm nhận về màu sắc của bức tranh, Nguyễn Tuân cònlột tả được cái hồn, cái thần mà họa sĩ thể hiện trên tranh vẽ Đó là nhữngcảm giác êm dịu, có tính cách quê mùa… Đối với Nguyễn Tuân, bất cứ nghề
Trang 32gì mà làm với sự tinh xảo, tài hoa thì đều là nghệ thuật Vì thế hội họa đốivới Nguyễn Tuân cũng là nghệ thuật Nguyễn Tuân có cái nhìn đa chiều đốivới hội họa, thể hiện sự am hiểu của ông về nghệ thuật Ông có cách nhìn,cách đánh giá sâu sắc, xác đáng với những nhân cách mà ông ngưỡng mộ.
Là nghệ sĩ phê bình ông có cái nhìn của người trong cuộc, thấu suốt từ bêntrong quá trình sáng tác bởi ông cũng từng trăn trở trước trang viết, nhọcnhằn với lao động viết văn Nhà văn cũng như họa sĩ đều phải khắt khe trongsáng tác
Cũng như hội họa, sân khấu điện ảnh là những môn nghệ thuật màNguyễn Tuân am hiểu rất sâu sắc Đây cũng được xem là đối tượng khá mới
mẽ trong nền văn học Việt Nam lúc bấy giờ Viết về điện ảnh, Nguyễn Tuânthể hiện sự am hiểu của mình về nghệ thuật “Sân khấu đã in ấn tượng sâu vàonếp nghĩ nếp cảm của mình Trong lúc chờ đợi một ngày thuận tiện được trởlại với đời sống nhân đạo cô đúc lại trên sân khấu khỏe mạnh rực rỡ tương lai,tôi tự kiểm thảo, mong được gián tiếp góp mặt mình vào cái phần rất sinhđộng của nghệ thuật diễn tả ở sân khấu hiện đại” (tr.172)
Viết về điện ảnh, hội họa với tư cách là môn nghệ thuật có những nétđặc thù, Nguyễn Tuân đã tung ra vốn từ vô cùng phong phú, linh hoạt, tạo ranhững bước đột phá Có thể nói, bất cứ ở lĩnh vực nào, dù văn chương haysân khấu, điện ảnh, hội họa, ông đều huy động tối đa vốn từ ngữ của mình.Trước một đối tượng nghệ thuật, nhà văn đã đưa ra hàng loạt các từ ngữ đểnói về nhân vật kịch như: nhân vật, vai kịch, vai chính, vai chạy hiệu, diễnviên, người xem…
Vốn hiểu biết phong phú về các ngành nghệ thuật có liên quan đó đãđưa lại cho nhà phê bình một khả năng cảm thụ và khả năng diễn đạt đặc biệt.Phê bình văn học của Nguyễn Tuân vì thế cũng đậm nhạt những sắc màu của
Trang 33hội họa, cân xứng những đường nét, hình khối của kiến trúc và điêu khắc,nhịp nhàng uyển chuyển của âm nhạc trong từng câu chữ.
1.2.3 Lối tiếp cận của Nguyễn Tuân về các hiện tượng văn học nghệ thuật được đề cập
Nguyễn Tuân tiếp cận đối tượng của mình từ những chi tiết nhỏ nhấttrong đời sống thường nhật, dường như ông hiểu về đối tượng hơn chính bảnthân mình Mỗi bức chân dung là một cá tính, một cuộc đời độc đáo Với Tản
Đà, ông hiểu tâm tính, thói quen, nết ăn ở của người thi sĩ “khó ưa” ấy trởthành thân thiết như người bạn điếu đóm của nhau, “nhưng giữa ông Tản Đà
và tôi, thanh đóm đã là một cái gạch liên lạc nối một trẻ vào một già” (tr.39)
Ấn tượng nhất ở Tản Đà vẫn là cái “ngông” Ngông là tính lập dị chẳng giống
ai và chẳng ai có thể giống, nhưng hơn ai hết đó vẫn là cốt cách của ngườinghệ sĩ đáng trân trọng Chính cái ngông ấy tạo nên nét độc đáo trong văn vàđời Làm khách nhà người mà tự tiện đào nền nhà để lấy đất trồng rau húnguống rượu; ngông nên người ta cất công từ lục tỉnh Nam Kỳ ra để hỏi chuyệnthơ thì chỉ toàn nói chuyện ăn chuyện uống Cái tôi con người lập dị ấy cònlàm nhiều chuyện động trời: “Gánh văn lên bán chợ giời, gửi thư lên ThiênĐình cầu hôn, xuống bể Sầm Sơn bơi đứng và ăn hải sản sống, lên rừng tịchcốc, uống rượu sâm banh với nem chua trên toa xe lửa tốc hành, đi xem mảvua Tây Sơn với cái lối khấn ngang tàng”… Nhưng cái điều Nguyễn Tuânmuốn nói không phải là bản thân những hành vi ngông cuồng quái đản ấy, mànhư Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét, đó chẳng qua chỉ “là biểu hiện gai góc củamột đấng tài hoa bất đắc chí, của một cái thiên lương lạc lõng giữa đời phàmtục” (tr.10)
Trong bữa rượu cuối cùng với Tản Đà ở Ngã Tư Sở, Nguyễn Tuân cóđược thi sĩ nói cho nghe về đặc tính của con cá diếc: “Nội trong loài cá, chỉ cócon cá diếc là sạch nhất và khó câu nhất Giống nó chỉ hay ở chỗ nước trong
Trang 34và ăn toàn bọt nước Thả cái gì nó cũng chê cả Định lấy một cái mồi thơm
mà dử nó như là người ta dử con rô hay một con chuối, thực cái anh đi câu đãlàm một việc tối vụng về” (tr.46) Viết những dòng này, trong con mắtNguyễn Tuân, Tản Đà chính là con cá diếc ấy, còn giữ được cái cốt cách caođẹp, đáng trọng của lớp nho sĩ tài tử phong kiến cuối cùng
Cũng trong năm 1939, trong làng văn vắng đi hai gương mặt xuất sắc:Tản Đà và Vũ Trọng Phụng “Đầu năm nay Tản Đà mất, chiếc lá vàng ấychưa kịp mục, thì rừng mùa thu lại hái thêm một chiếc lá xanh ném xuống đất.Người ta tiếc thi nhân chưa nguôi, thì giờ người ta lại khóc một văn nhân nữa.Cái làng văn An Nam vốn đã thưa thớt lại càng quạnh quẽ muôn phần”
(tr.73) Bài viết Một đêm họp đưa ma Phụng cũng là một bài viết độc đáo,
một cách đưa ma kì quái của những người trong làng văn “Một người nói,một người hút Một người không làm gì cả Hai người úp mặt vào tường, cười
và thở dài với cái bóng in trên tường đầy máu rệp và xác muỗi khô Tôi đánhtrống, gãi hai chiếc hai chầu Cố đánh cho tử tế, mà tôi nhận thấy tiếng trốngcủa tôi chỉ là trống bản Và tiếng phách của Tỳ bà đủ là những tiếng sênhchấp hiệu cho một nỗi đòn đám khởi hành xuống huyệt” (tr.76) Nguyễn Tuânhiểu rõ về đức tính thẳng thắn, phân minh của bạn Đời Phụng thiết thực quá,chỉ hành động theo suy nghĩ, chưa có một phút giây nào hắn dám điên cuồnglấy một tị
Sau cách mạng tháng Tám, bức vẽ Nguyên Hồng là một thành công củaNguyễn Tuân thời kì sau này Tác giả đã tìm được những thói quen trong sángtạo của Nguyên Hồng Nguyên Hồng là người đam mê viết, kiên trì, cặm cụitrong công việc “Nguyên Hồng vẫn cặm cụi viết, tự coi mình như người thợcủa ngôn ngữ phải hàng ngày đứng máy cho đủ giờ” (tr.663-664) NguyễnTuân đã phát hiện ra cái “tạng” của Nguyên Hồng trong thế giới nghệ thuậtcũng như con người thực ngoài trang viết Mặc dù giữa ông và Nguyên Hồng
Trang 35về phong cách sống rất xa nhau, nhưng về tư tưởng và nhân cách lại gầnnhau: “Tôi là thằng thích phá chùa, mà anh đúng là người thích chuyện tôtượng đúc chuông” (tr.665).
Nguyễn Tuân không chỉ có lối tiếp cận nghệ sĩ qua đời tư, mà ông cònthông qua tác phẩm để cảm thụ về các hiện tượng văn học được đề cập.Nguyễn Tuân cũng thường xuyên dựng chân dung nghệ sĩ qua những bài phêbình, tuy không nhiều nhưng đều là những bài phê bình đáng chú ý và đượcđánh giá cao Bởi ông chỉ viết về những gì mình thích, chỉ bình chứ khôngphê Quan điểm “văn học là nhân học” (Gorki) được thể hiện rất rõ ở nhữngtrang viết này Cần phải có sự cảm thụ sâu sắc và một cái nhìn tinh tế mới cóđược những trang viết như thế
Từ góc độ ngôn ngữ, bài viết Tản mạn xung quanh một áng Kiều lưu
giữ lại những suy nghĩ, cảm xúc của ông với những nhận xét ngắn gọn, sắc
sảo với một lối văn giàu hình ảnh Nguyễn Tuân đọc Truyện Kiều cũng như
bao người Việt Nam khác tìm thấy ở đó những giá trị văn hóa, phong tục và
ngôn ngữ dân tộc Nguyễn Tuân đọc Truyện Kiều bằng cả những trải nghiệm
cuộc đời, vì thế mới thấm thía, thấu hiểu nội tâm nhân vật đến như vậy ĐọcKiều, ông lẩy ra những chi tiết mà nhiều người vẫn bỏ qua vì cho đó là “vụnvặt” Đối với ông, những chi tiết được xem là “vụn vặt” ấy lại hàm chứa dụng
ý nghệ thuật của tác giả và cái tài của Nguyễn Du là ở chỗ đó "Ví không cóthứ nhịp sáu tám lỗi lạc lâng lâng ấy của Nguyễn Du thì cũng khó truyền mãicho hậu sinh cái tiếng đồng vọng của Thúy Kiều, dù cái tiếng ấy có là gì gì đinữa” (tr.616) Từ một chi tiết nhỏ, Nguyễn Tuân đã nêu lên thành một vấn đề
có ý nghĩa lớn đối với văn học Chỉ có thể là nhịp sáu tám hồi hoàn, nhịpnhàng mới truyền tải được số phận và nỗi lòng của Kiều trong suốt mười lămnăm lưu lạc đọa đày Và chỉ có thứ nhịp sáu tám ấy mới kéo dài sức sống tiềm
tàng của Truyện Kiều đến như vậy
Trang 36Viết Thời và thơ Tú Xương, Nguyễn Tuân tỏ ra là một nhà phê bình có
phương pháp khoa học và có quan điểm riêng trong việc khai thác, tìm hiểu
và đánh giá thơ Tú Xương Tú Xương thực sự là một hiện tượng văn học, một
cá tính độc đáo, giàu bản sắc và không dễ lẫn với bất cứ hiện tượng văn họcnào “Đọc thơ Tú xương, thấy bật lên một địa phương Về địa lý nước ta đượcphản ánh vào phú và thơ Tú Xương, hình như cũng chỉ thấy mỗi một địaphương đó mà thôi Ấy là vùng Nam Định Trong thơ Tú Xương, trong phú
Tú Xương, sự Nam Định, lời Nam Định, người Nam Định, nhất là cái đámquan to lại bé, tiểu thương tiểu chủ Nói chung là cái đám giai cấp tiểu tư sảnvào lúc dở giăng dở đèn Tây về mở rộng tỉnh” (tr.469-470) Nguyễn Tuân đãgiành phần lớn bài viết tái hiện lại không khí lịch sử vùng đất Nam Định -hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX Từ gócnhìn của người trong cuộc, Nguyễn Tuân đi sâu vào thế giới nghệ thuật củanhà thơ để cảm và hiểu một cách thấu đáo Đây cũng là lợi thế của người sángtác viết phê bình như Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân không chỉ dựng chân dung các nhà văn trong nước màcòn mở rộng phạm vi nghiên cứu của mình và viết về các nhà văn nước ngoài.Qua những tác phẩm của những nhà văn ấy, ông đã cảm nhận sâu sắc, và hiểukhá đầy đủ về họ
Đối với phê bình văn học, công việc khó khăn nhất vẫn là phân tích
đánh giá chính văn bản của tác phẩm Bài viết Đọc Sê-khốp, Nguyễn Tuân
luôn sử dụng khái niệm “tư tưởng nghệ thuật” và khái niệm này được ôngnhắc tới ba lần trong bài viết
“Nađia đây là cái hậu thân tất nhiên của những tiền kiếp đau khổ kiatrong thế giới chúng sinh Sê-khốp Nói một cách khác nữa, Nađia đây là cáihóa thân cuối cùng của tư tưởng nghệ thuật của Sê-khốp”
Trang 37“Để hiểu rõ tư tưởng nghệ thuật của Sê-khốp và thái độ của Sê-khốpđối với cái thiên chức nhà văn, đối với cuộc sống”.
“Tư tưởng nghệ thuật Sê-khốp, có lúc đã là một chú bé đi học trọphương xa, qua vùng thảo nguyên, nhìn anh đào thành ra “mùa anh đào chínquả” (tr.248)
Nguyễn Tuân có quan niệm về tác phẩm nghệ thuật rất chính xác và cóphương pháp tiếp cận tác phẩm rất đúng đắn Tư tưởng nghệ thuật không phải
là một thứ tư tưởng khô khan, trừu tượng, một ý niệm lý trí Đó là tư tưởngthấm nhuần tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ Tư tưởng ấy chỉ có cách diễn đạt duynhất là hình tượng nghệ thuật Nó là thế giới chúng sinh Sêkhốp, là một chú
bé đi trọ học phương xa, là mùa anh đào chín quả… Tư tưởng này toát ra từtoàn bộ thế giới hình tượng của tác phẩm, tác động đến người đọc như mộtchỉnh thể, một hệ thống sống động
Nguyễn Tuân vốn là người đầy cá tính, nên khi viết về các nhà văn, nhàthơ, ông thường chú ý đến nét cá tính của đối tượng mà mình yêu thích Ôngcòn thể hiện sự quý trọng đối với những tài năng, chẳng hạn những lời đánhgiá như thế nảy về Đô-xtôi-ep-xki: “có những nhà văn diễn tả chủ yếu bằngmắt” thì “Đốt diễn tả bằng tai, đôi tai rất lạ của Đốt” (tr.204)
Về nghệ thuật của L.Tôn-xtôi, Nguyễn Tuân có sự so sánh độc đáo:
“Tônxtôi viết văn (cho truyện ngắn cũng vậy, cho tiểu thuyết trường giangcũng vậy) cứ đều đều bước như Mèo leo núi leo dốc, thong thả đều đặn vàliền bước, đi ra đi nghỉ ra nghỉ, không bị mỏi, không tỏ vẻ mệt, hơi thở và timđập đều đều cho tới đỉnh; và khi tới đỉnh thì mới thấy cái bao quát vĩ đại chưathấy được lúc bắt đầu leo” Đô-xtôi-ép-xki thì hoàn toàn khác “Vào truyệncủa Đốt là thấy tối mặt xẩm mày lại ngay Thấy nhân vật vất vả, thấy tác giả
nó cũng khốn khổ vì đám người mình đẻ ra kia, và ngay cả người đọc cũng ùtai nước mắt nước mũi giàn giụa theo với hành trình vào đêm tối của nhân vậtĐốt” (349)
Trang 38Nguyễn Tuân cho chúng ta thấy giữa hai nhà văn, hai phong cách, tâmtính và tài năng khác nhau Song cả hai đều là những bậc tư tưởng tận tụy cảđời vì chân lý, tha thiết với cuộc sống con người.
Trên đây, chúng tôi đã khảo sát lối tiếp cận đối tượng trong việc dựngchân dung nghệ sĩ của Nguyễn Tuân Ông không chỉ dựng chân dung qua đời
tư mà còn thông qua tác phẩm Nguyễn Tuân thể hiện cách cảm thụ của mình
về các hiện tượng văn học nghệ thuật, mỗi hiện tượng văn học được thể hiệnqua nét vẽ thật phong phú đa dạng khó trộn lẫn
Tiểu kết chương 1
Trong chương này, chúng tôi đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về phêbình văn học - một bộ phận không thể thiếu trong bất cứ nền văn học nào.Tính khoa học và tính nghệ thuật là hai đặc điểm nổi bật của phê bình vănhọc, và chính điều này đã chi phối cách sử dụng ngôn ngữ của nhà phê bình.Ngôn ngữ phê bình văn học dĩ nhiên thuộc phong cách khoa học, dù nhà phêbình lựa chọn phương pháp tiếp cận nào Tuy nhiên, do đối tượng đặc thù làcác hiện tượng nghệ thuật (người nghệ sĩ, các sự kiện văn học, các tác phẩmvăn học), ngôn ngữ phê bình văn học chấp nhận rộng rãi các phương tiện biểuđạt có tính nghệ thuật
Cũng trong chương 1, luận văn đã trình bày những nét đại lược về cácbài viết của Nguyễn Tuân thuộc mảng phê bình nghệ thuật và xem xét chúngtrong tương quan với toàn bộ sự nghiệp trước tác của ông Một trong nhữngtiêu điểm của phần này là các đối tượng được Nguyễn Tuân quan tâm, cáchtiếp cận và lối viết phê bình mang đậm cá tính của nhà văn Đây là nhữngtiền đề cần thiết cho việc khảo sát cụ thể các bình diện ngôn ngữ trong cácbài phê bình nghệ thuật của Nguyễn Tuân mà luận văn sẽ thực hiện ở nhữngchương sau
Trang 39Chương 2
TỪ NGỮ TRONG CÁC BÀI VIẾT VỀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT
CỦA NGUYỄN TUÂN
2.1 Yêu cầu về sử dụng từ ngữ trong văn bản phê bình văn học và nhận thức của Nguyễn Tuân về vấn đề sử dụng từ ngữ
2.1.1 Yêu cầu về sử dụng từ ngữ trong văn bản phê bình văn học
Mỗi loại văn bản thuộc các phong cách chức năng cụ thể sẽ có nhữngyêu cầu cụ thể về sử dụng từ ngữ Nếu như văn bản hành chính đòi hỏi phải
sử dụng với mật độ cao lớp từ ngữ hành chính công vụ, văn bản báo chí thiên
về lớp từ ngữ mang tính thông tấn, văn bản chính luận ưa dùng từ ngữ có nộidung chính trị - xã hội, thì văn bản khoa học lại đề cao tính chính xác, khoahọc của các lớp từ ngữ Tuy nhiên, về mặt này, giữa khoa học tự nhiên vàkhoa học xã hội vẫn có những khoảng cách đáng kể do sự khác nhau về đốitượng nghiên cứu của chúng
Như đã trình bày ở chương 1, phê bình văn học là một ngành vừa mangtính khoa học lại vừa mang tính nghệ thuật Điều này chi phối cách sử dụngngôn từ ở mọi cấp độ, trong đó có từ ngữ
Là văn bản thuộc phong cách khoa học, các bài phê bình nghệ thuậttrước hết phải sử dụng thuật ngữ khoa học chuyên ngành Trong kho từ vựngcủa bất cứ ngôn ngữ nào, thuật ngữ là bộ phận từ ngữ quan trọng Nó đánhdấu trình độ phát triển khoa học của một quốc gia Muốn diễn đạt các tưtưởng khoa học, không có lớp từ ngữ nào đắc dụng hơn thuật ngữ khoa học.Trong nghiên cứu, phê bình văn học hiện nay, hệ thống thuật ngữ đã tươngđối phong phú, đủ để các nhà nghiên cứu có thể trình bày các kết quả nghiêncứu của mình mà không phải vay mượn từ bất cứ ngôn ngữ nào khác nhưtrước đây (chẳng hạn như ở thời Pháp thuộc) Nhìn qua một số cuốn từ điển,
Trang 40chẳng hạn Từ điển thuật ngữ văn học (nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình
Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên), 150 thuật ngữ văn học (Lại Nguyên Ân), Từ
điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (Nguyễn Như Ý chủ biên), Từ điển Tu
từ - Phong cách - Thi pháp học (Nguyễn Thái Hòa), Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (Diệp Quang Ban) cũng đủ thấy thuật ngữ khoa học ngành Ngữ văn
trong tiếng Việt đã khá hoàn chỉnh, đáp ứng được yêu cầu phát triển của cácchuyên ngành Các thuật ngữ của nghiên cứu phê bình văn học cũng nằmtrong bối cảnh ấy
Bên cạnh thuật ngữ khoa học, các bài phê bình văn học cũng sử dụngkhá rộng rãi một lớp từ ngữ vẫn thường sử dụng phổ biến trong các loại vănbản khác Thực tế, trong vốn từ của một ngôn ngữ, ngoài lớp từ chuyên biệt,còn tồn tại các lớp từ đa chức năng, nghĩa là chúng được sử dụng trong vănbản thuộc mọi phong cách khác nhau Nhìn từ góc độ nguồn gốc, đó có thể là
từ vay mượn (chủ yếu là từ Hán Việt); nhìn từ góc độ phong cách, đó có thể
là từ nghề nghiệp, từ thi ca, từ thông dụng; nhìn từ góc độ cấu tạo, đó có thể
là từ đơn hoặc từ phức Tùy yêu cầu biểu đạt đối tượng, các lớp từ nêu trênđược sử dụng với những mức độ khác nhau Chẳng hạn, ở các bài viết củaNguyễn Tuân, lớp từ Hán Việt xuất hiện với mật độ cao hơn hẳn so với nhiềunhà phê bình cùng thời kì Điều này chỉ có thể cắt nghĩa bằng phong cáchngôn ngữ Đúng vậy, phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Tuân có tính xuyênthể loại, nghĩa là một yếu tố nổi bật nào đó trong phong cách ngôn ngữ củaông không biểu hiện một cách đơn lẻ ở một thể loại nào, ngược lại, có mặtkhá đồng đều ở mọi thể loại Nét đặc sắc này chỉ thấy ở Nguyễn Tuân, khôngthấy biểu hiện ở các nhà văn khác Trong nền văn học hiện đại, không hiếmtác giả sáng tác nhiều thể loại, và bản thân họ cũng để lại phong cách ngônngữ riêng, nhưng dường như điều đó chỉ biểu hiện ở "thể loại chủ công" trong
sự nghiệp sáng tác của họ mà thôi