Vậy nên, tìm hiểu “nổi niềm non nớc” trong nghệ thuậtcủa ông là góp phần hiểu rõ hơn cái tôi lãng mạn độc đáo của Tản Đà.Trong phong trào thơ mới có vơi có lúc vẫn còn vài nét mờ nhạt nà
Trang 1Mục lục
Trang
Mục lục……… 2
Chơng 1: Mở đầu……… 3
1.1. Lý do chọn đề tài……… 3
1.2. Lịch sử vấn đề….……….………
1.3. Phơng pháp nghiên cứu……….…
1.4. Nhiệm vụ của khoá luận……….…
1.5. Phạm vi, đối tợng nghiên cứu……….
1.6. Bố cục khoá luận……….…………
Chơng 2: Sơ lợc về nỗi niềm non nơc và hình ảnh “non nớc” trong lịch sử văn học dân tộc …
2.1. “Non nớc“ đối tợng của nghệ thuật, một khách thể thẩm mỹ………….……….
2.2. Sơ lợc về một số hình ảnh “ non nớc“ và nỗi niềm non nớc trong văn học trớc Tản Đà …. 2.2.1. “Non nớc”, “nớc non” trong ca dao…………
2.2.2. “Non nớc” trong một số hiện tợng văn học viết Trung đại………
Chơng 3: Các loại hình ảnh biểu hiện nỗi niềm non nớc của Tản Đà… 3.1. Loại hình ảnh trực tiếp……….
3.1.1. Hình ảnh “ non nớc” ………
3.1.2. Hình ảnh non sông, sông núi, núi sông…………
3.1.3. Hình ảnh giang sơn, sơn hà, sơn hải………
3.2. Loại hình ảnh gián tiếp………
3.2.1. Hình ảnh danh lam thắng cảnh………
3.2.2. Hình ảnh các nhân vật lịch sử………
3.2.3. Hình ảnh bức d đồ………
3.3. Một số loại hình ảnh mang tâm sự “non nớc“ trong một số tác phẩm văn xuôi“…….……….
Trang 23.3.1. “H×nh ¶nh” trong “GiÊc méng lín”………
3.3.2. “H×nh ¶nh” trong “ GiÊc méng con”………
3.3.3. “H×nh ¶nh” trong tiÓu thuyÕt “ThÒ non níc”…
Ch¬ng 4: Nçi niÒm “non níc” qua c¸i nh×n nghÖ thuËt cña T¶n §µ …………
4.1. Nçi niÒm “non níc“ qua thÕ giíi nh©n vËt cña «ng……….
4.2. Nçi niÒm “non níc“ qua c¶m nhËn thêi gian cña T¶n §µ ………
4.3. Nçi niÒm “non níc“ qua c¸i nh×n kh«ng gian cña T¶n §µ………
4.4. Ng«n ng÷ nghÖ thuËt-Mét c¸ch biÓu hiÖn nçi niÒm “ non níc“cña T¶n §µ ………
KÕt luËn………
Tµi liÖu tham kh¶o………
Chó thÝch ………
Trang 3Chơng 1 : mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài:
1.1.1 Tản Đà là một tác giả lớn, một phong cách lớn có ảnh hởng
đến quá trình vận động phát triển của văn học nớc nhà Tản Đà đợc coi
là ngời mở đầu trào lu lãng mạn trong thơ và xu hớng hiện thực trongvăn xuôi trớc 1930 Có vị trí qua trọng nh vậy trong nền văn học nhngbản thân cuộc đời, con ngời đặc biệt là những sáng tác của ông lại hếtsức phức tạp, đem đến những cách hiểu cách tiếp cận khác nhau, nhữnghớng đánh giá khác nhau Vì vậy Tản Đà đợc coi là một hiện tợng phứctạp của văn học Chúng tôi tiến hành tìm hiểu nổi niềm “non nớc” trongtác phẩm của ông là để tìm một cách nhìn nhận đánh giá con ngời, nghệthuật Tản Đà Đây cũng là một vấn đề, một hiện tợng nghệ thuật độc
đáo Nó là vấn đề t tởng trong thời đại ông đang sống và viết văn Tâm
sự “non nớc” cũng là một dạng biểu hiện của lòng yêu nớc Tình cảmyêu nớc kiểu này của ông đợc tể hiện hết sức độc đáo nhng nó có điểmdừng của mức độ Đây là một thứ tình cảm nhẹ nhàng thậm chí yếu
đuối, nó lắng lại nh một nỗi niềm sầu cảm chứ không mạnh mẽ, bộctrực, đột phát thành hành động
1.1.2 Thời Tản Đà sống và sáng tác, các cuộc cách mạng dân chủ tsản bị thất bại, để lại một d âm, một bầu không khí ảm đạm bao trùmxã hội Trong bối cảnh xã hội ấy xuất hiện một kiểu tình cảm mới trongmột lớp ngời tri thức D âm của những phong trào yêu nớc để lại là nỗibàng hoàng, xót xa, bất lực của cả một tầng lớp nh Tản Đà Cũng chínhvì điều này mà ”nỗi niềm non nớc” của Tản Đà nó là một biểu hiện của
sự thoái trào, nó là tiếng nói, là sản phẩm của những phong trào yêu nớc
bị thất bại Và niềm sầu cảm sâu xa, yếu đuối về đất nớc ấy không phảichỉ có ở Tản Đà mà nó là biểu hiện của cả một thế hệ nh ông, trong đó
có á Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Trọng Thuật Cho nên muốn hiểu
đợc t tởng nghệ thuật của Tản Đà thì phải tìm hiểu nỗi niềm “non nớc”của ông Đây là một trong những vấn đề cốt lõi trong quá trình tiếp cậnnội dung tác phẩm của Tản Đà Có một điều chúng ta cần biết đó là tất
Trang 4cả những sáng tác mang tâm sự “non nớc” đều gắn liền với lòng yêu
n-ớc của Tản Đà Chỉ có điều tấm lòng này chỉ dừng lại ở một tâm sự, mộtmối sầu về non nớc, nó là sự day dứt về nớc non chứ cha đạt đến mộtchủ nghĩa yêu nớc tích cực Nó là biểu hiện của những tâm trạng đã trảiqua sự khủng bố, thất bại liên tục của những hành động yêu nớc Tất cảnhững biểu hiện ấy cho thấy nỗi niềm non nớc của Tản Đà là một hiệntợng nghệ thuật độc đáo Nó là phản ứng, là tấc lòng của cả một thế hệnhà nho yêu nớc theo khuynh hớng dân chủ t sản Vì nó là biểu hiện tấclòng của cả một thế hệ nên nó tạo ra một xu hớng văn học yêu nớc khácvới xu hớng yêu nớc cách mạng ở Phan Bội Châu
1.1.3 Trong làng văn Tản Đà là nghệ sĩ đầu tiên sống bằng nghề củamình, coi văn chơng là một thứ hàng hoá để bán, để kiếm sống ông làngời đầu tiên gây dựng nên nghề văn chơng với một cái tôi độc đáothuần Việt, giàu tính dân tộc Cái tôi Tản Đà và cũng là cống hiến đầutiên của ông cho văn học trớc hết là một cái tôi bản ngữ, cái tôi cá nhân,
nó là tiền đề cho cái tôi văn học lãng mạn sau này Cái tôi cá nhân củaTản Đà không tách rời cái tôi lãng mạn nghệ sĩ Nổi niềm non nớc củaTản Đà vừa là một phẩm chất con ngời cá nhân ông, với tơ cach làkhách thể của nghệ thuật nhng “nổi niềm non nớc” ấy cũng tạo cái nhìnnghệ thuật riêng của chủ thể sáng tạo bằng một cá tính nghệ thuật lãngmạn chủ nghĩa Vậy nên, tìm hiểu “nổi niềm non nớc” trong nghệ thuậtcủa ông là góp phần hiểu rõ hơn cái tôi lãng mạn độc đáo của Tản Đà.Trong phong trào thơ mới có vơi có lúc vẫn còn vài nét mờ nhạt nào đócủa tâm trạng yêu nớc của một thế hệ sau Tản Đà Ví dụ nh “TràngGiang” của Huy Cận Tuy nhiên vấn đề trung tâm của tác phẩm lạikhông nằm ở đây, mà mấu chốt của t tởng tác phẩm là giải thoát một cáitôi lãng mạn, một cái tôi đang không biết đi về đâu, một cấi tôi bị gôngcùm cho nên vấn đề trung tâm của tác phẩm là giải phóng một cái tôilãng mạn, chuyện “non nớc” không còn là ám ảnh thờng nhật nh trongthơ Tản Đà Hay “nhớ rừng” của Thế Lữ, hình ảnh chúa sơn lâm bị cùmgợi hình ảnh một “ ông già bến ngự”, gợi về một thời oai linh của dântộc và ít nhiều nó kích thích vào nỗi niềm non nớc của độc giả nhng rõ
Trang 5ràng đó là kết quả khách quan của hình tợng, của cái tôi lãng mạn ấychủ yếu gắn với khát vọng giải phóng bản ngã
1.1.4 Tản Đà là một tác giả lớn vì thế ở hầu hết các cấp học đều cóhọc tác phẩm của ông chi nên việc tìm hiêủ nỗi niềm “ non nớc” của
ông sẽ giúp cho việc tìm hiểu nội dung tác phẩm, t tởng của Tản Đà đợcsâu hơn, rõ nét hơn
Lịch sử nghiên cứu Tản Đà đã nổ ra những cuộc tranh luận Tản Đà
có yêu nớc hay không và cuối cùng đều đi đến kết luận Tản Đà có t ởng yêu nớc Một kiểu yêu nớc của nghệ sỹ Lòng yêu nớc của Tản Đàkhác với lòng yêu nớc của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và tình yêunớc của Tản Đà chỉ dừng lại ở nỗi niềm, tâm sự non nớc, không phải làmột t tởng lớn Có thể nói Tản Đà đã thay mặt cho một bộ phận giai cấp
t-t sản, phát-t ngôn cho t-t t-tởng dân chủ t-t sản bằng nỗi lòng của mình với đất-tnớc
1.2 Lịch sử vấn đề:
Cho đến nay những công trình khảo cứu về Tản Đà không phải là ít,thậm chí Tản Đà còn đợc nghiên cứu “rầm rộ” một thời Song lịch sửnghiên cứu Tản Đà lại không liên tục, đồng đều và có nhiều điều cầnphải bàn
Quan điểm Tản Đà có yêu nớc không đã có từ 1939 Trong “Tao đàn”
số đặc biệt Tản Đà đợc Trơng Tửu xếp vào hàng cùng với Phan BộiChâu, Phan Chu Trinh Đến 1957 nhóm Lê Quý Đôn trong “lợc thảovăn học” Việt Nam cũng xếp Tản Đà vào tốp những nhà nho yêu nớc.Cùng năm này có thêm công trình “ thơ Tản Đà chọn lọc”, Nguyễn Hữu
Đang cũng xếp Tản Đà cùng với Nguyễn Đình Chiểu Cuộc tranh luậnTản Đà có yêu nớc không thật sự bắt đầu vào năm 1965, trên tạp chívăn học với bài “Tản Đà có yêu nớc không” của Nguyễn Đình Chú,
ông này xếp Tản Đà vào tốp những ngời có t tởng yêu nớc qua bài thơ
“Thề non nớc” Nhng quan điểm này bị phản bác trên tạp chí văn học số
2, số 12 năm 1966 của Nguyễn Công Hoan và Tuấn Nghi Đứng đầuquan niệm này là Trần Yên Hng Trần Yên Hng cho rằng “Thề non nớc”chỉ có nghĩa tình yêu trai gái quan điểm của Trần Yên Hng cùng vớinhóm Nguyễn Khắc Xơng, Nguyễn Văn Hạnh và nhóm Triều Dơng,
Trang 6Bùi Văn Nguyên đã tạo nên một cuộc tranh luận về “Thề non nớc” trêntạp chí văn học Nếu Trần Yên Hng cho rằng “Thề non nớc” chỉ có tìnhyêu trai gái, “nớc” là ngời con trai ra đi cha về, “non” là ngời con gáimòn mỏi ở lại Thì nhóm Nguyễn Khắc Xơng lại cho rằng “Thề non n-ớc” có tình yêu nớc của Tản Đà, quan điểm này có ba cách giải thích:
Cách một: “Non” là tác giả, “Nớc” là đất nớc đã mất.
Cách hai : “Non” là một phần vật thể địa lý của đất nớc nh núi sông,
rừng biển “Nớc” là phần hồn của đất nớc là chủ quyền của dân tộc đãmất nớc
Cách ba : “Non” là tác giả “Nớc” là những ngời ra đi tìm đờng cứu
để giải thích cho vấn đề bên trong văn bản chẳng hạn nh tranh luận về
Trang 7“Thề non nớc”, Trần Yên Hng đã “quá coi trọng” vấn đề chính trị mà
bỏ qua yếu tố văn học nên “kết tội” Tản Đà không yêu nớc, còn đối vớichúng tôi, chúng tôi có thể nhận ngay ra nỗi niềm “non nớc” của tác giảqua cấu trúc ngôn từ của bài thơ, cũng có ngời phủ nhận nỗi niềm “nonnớc” của Tản Đà bằng cách coi bài thơ là một thành tố, một tình tiết củatiểu thuyết cùng tên, viết về cuộc tình giữa ngời khách giang hồ và cô
đào Vân Anh để phủ nhận một tâm sự yêu nớc của bài thơ Truyện ngắncùng tên là yếu tố ngoài văn bản, truỵên ngắn không nói đến một tìnhyêu nớc mà nó phảng phất chuyện tình trai gái, ngời ta đã sai lầm khilấy nội dung truyện ngắn áp đặt cho nội dung bài thơ Sự thật thì bài thơ
ra đời từ trớc truyện ngắn, bài thơ đợc viết năm 1920, truỵên ngắn viếtnăm 1922, sau đó hai lần Tản Đà cho in lại bài thơ này vào năm 1925
và 1938 Nh vậy “Thề non nớc” là bài thơ có vận mệnh độc lập, là mộtchỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn, không lệ thuộc gì vào truyện ngắn cùngtên nếu có mối liên hệ nào đó giữa hai tác phẩm thì chỉ có thể nói bàithơ đó gợi ý cho truyện ngắn mà thôi Chúng tôi sẽ tiến hành thống kê
số lần xuất hiện của những hình ảnh mang tâm sự non nớc, những kiểuhình ảnh “non nớc” khác nhau đẻ thấy chúng là những ám ảnh trongtâm trạng nhà thơ
Nghiên cứu Tản Đà là để tìm ra những yếu tố độc đáo của ông, vì vậychúng tôi sẽ tiến hành so sánh Tản Đà trên quan điểm đồng đại và lịch
đại để thấy rõ hiện tợng nghệ thuật Tản Đà
1.4 Nhiệm vụ của đề tài:
Nằm trong giới hạn một luận văn tốt nghiệp nên ngời viết chỉ có thể cốgắng miêu tả các loại hình ảnh mang tâm sự “non nớc” của tác giả,
đông thời đặt nó trong cái nhìn hệ thống với loại hình ảnh đó trong lịch
sử văn học
Khảo sát cái nhìn nghệ thuật của Tản Đà khi biểu hiện nỗi niềm nonnớc qua các phạm trù của thi pháp học nh thế giới nhân vật, không gian,thời gian…
Làm nổi bật rõ nết tính độc đáo , khác lạ của nghệ thuật Tản Đà
1.5 Phạm vi đối t ợng nghiên cứu.
Trang 8Nỗi niềm non nớc không chỉ hạn chế trong loại hình ảnh trực tiếp
mà còn những hình ảnh nghệ thuật khác cũng mang tâm sự non nớc củatác giả, vì vậy ngoài hình ảnh trực tiếp chúng tôi sẽ tiến hành khảo sátcả những loại hình ảnh khác nh hình ảnh các anh hùng dân tộc, hình
ảnh bức d đồ
ở đề tài này chúng tôi có thể khảo sát trong thơ cũng đủ nhng chúngtôi muốn khảo sát cả trong văn xuôi mặc dù chúng tôi không có đợctoàn bộ tác phẩm của ông, nhng số tác phẩm có đợc cũng tiêu biểu chonghệ thuật Tản Đà và phạm vi chúng tôi lấy trong “Tuyển tập Tản Đà”
do nhà xuất bản hội nhà văn, xuất bản năm 2002
1.6 Bố cục khoá luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo khoá luận
Trang 9Chơng2: Sơ lợc về nổi niềm “non nớc” và hình ảnh
“non nớc” trong lịch sử văn học dân tộc
2.1 “Non n ớc“ đối t ợng của nghệ thuật, một khách thể thẩm mỹ.
“Non nớc” là một hiện thực khách quan, kết tinh trong bản thân nónhững giá trị và có ý nghĩa đối với đời sống tinh thần của con ngời Chonên “non nớc” trở thành đối tợng khám phá, phát hiện của văn học Nótrở thành một khách thể thẩm mỹ, là đối tợng khám phá của chủ thể
“Non nớc” là khách thể tự nhiên nhng nội dung của nó trong văn họcbao giờ cũng mang tính xã hội, lịch sử Chẳng hạn nh “ “non nớc” trongbài thơ “Qua Đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan
đác ngời Nớc non “non nớc” không chỉ là nơi bà đang đứng, dới chân
là núi, dới núi xa xa là biển Mà “non nớc” ở đây là nổi niềm biết tỏcùng ai của bà Đó là sự tiếc nuối thời huy hoàng xa xăm, một tâm sựbất tận nhng kín đáo của một tài danh Cái “non nớc” ấy là “non nớc”trong lòng tác giả Nớc đã mất, Nhà Lê mất nớc, trung thần ai lại thờhai vua Là trung thần Nhà Lê bà coi nh cũng đã mất nớc của mình.Trung thần Nhà Lê lại phải phục tùng nhà Nguyễn cho nên “non nớc” là
“non nớc” đau đáu trong lòng tác giả, là sự tởng nhớ Nhà Lê một đikhông trở lại Bài thơ, tởng chừng chỉ là tả cảnh Đèo Ngang, tả non nớcthiên nhiên, ai dè ẩn trong đó là một tâm sự “non nớc” Một vấn đề cótính lịch sử - xã hội Chuyện Nhà Lê mất nớc, nhà Nguyễn chiếm ngôi
là chuyện của lịch sử - xã hội
Hay bài thơ “Bánh trôi” của nữ sỹ Hồ Xuân Hơng :
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Trang 10Bảy nổi ba chìm với nớc non
……
Lại “non nớc” nhng đâu chỉ đơn giản là chuyện cái bánh trôi vớinhững công đoạn của nó, mà đó là chuyện về thân phận ngời con gái đóchứ Ngời con giá dới xã hội củ số phận họ chẳng khác nào số phận cáibánh trôi “ Ba chìm bảy nôi” Đặc biệt là đối với những ngời tài sắccuội đời họ còn buồn hơn, nào Hồ Xuân Hơng nào Thuý Kiều, nào VũNơng…tất cả họ đều chịu đựng sự bất hạnh từ xã hội
“Non nớc” một khách thể tự nhiên mang giá trị thẩm mỹ
Giá trị thẩm mỹ mà khách thể thẩm mỹ đem lại trớc hết đó là nhữnghiện tợng thẩm mỹ trong nghệ thuật Mà biểu hiện đầu tiên của nó làphạm trù cái đẹp Cái đẹp trong nghệ thuật, là sự phảm ánh chân thựccái đẹp trong cuộc sống Do đó cái đẹp trong nghệ thuật có quan hệ vớicái đẹp trong đời sống “Non nớc” trong nghệ thuật có mối quan hệ vớinúi sông Đay là mối quan hệ giữa cái phản ánh và cái đợc phản ánh.Cho nên “non nớc” trong văn học thống nhất với nớc non, non nớc của
tự nhiên Tuy nhiên cái đẹp của “non nớc” không thể đồng nhất với vớinúi sông của tự nhiên
Biểu hiện đầu tiên của cái đẹp trong nghệ thuật đó là cái đẹp mangtính điển hình cái đẹp tiêu biểu: Ví dụ trong bài ca dao;
Đờng vô xứ Nghệ quanh quanhNon xanh nớc biếc nh tranh hoạ đồ
Ai vô xứ Nghệ thì vô…
Chúng ta đã công nhận nội dung của bài ca dao trên chính là vẻ đẹpcủa non của nớc, vẻ đẹp của núi sông xứ Nghệ Một bức tranh sơn thuỷ
mỹ lệ Nhng “non nớc” ấy không còn là non nớc của hiện thực mà đó là
“non nớc” của nghệ thuật Tuy nhiên khi đi vào nghệ thuật “non nớc”
đã mất đi cái khắc nhiệt, cái thiên nhiên bất lợi cho cuộc sống của conngời và điều ngời ta cảm nhận ở bức tranh ấy là vẻ đẹp “non nớc” của
xứ Nghệ nó gợi một nổi niềm nho nhỏ vơí nớc
“Non nớc” hay non xanh nớc biếc của xứ Nghệ chứa đựng những nétchủ yếu tiêu biểu cho cái đẹp cùng loại Tức là một vùng non nớc nào
đó khác Điều này đợc Biêlinski gọi là “Mãnh lực nghệ thuật”[1], vì nếu
Trang 11hiện thực trần trụi ngoài tự nhiên thì có lẻ không bao giờ ngời ta nhậnthấy hết cái đẹp của xứ Nghệ.
Nh vậy, nghệ thuật đã làm biến đổi giá trị sự vật “non nớc”, làm cho
“non nớc” trỡ nên mới lạ, cái đẹp nh đợc nhân lên, ai cha đến xứ Nghệcũng biết xứ Nghệ đẹp đến thế nào
Điều đấng nói là cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp sống mãi vớithời gian Giải đất xứ Nghệ vẫn mãi mãi là một vùng non xa nớc biếccho dù có thể mòn, sông có thể cạn Điều này thật đúng Xê-rốp nói:Thời gian phải bất lực trớc cái đẹp trong nghệ thuật [2]
Mọi sự vật, hiện tợng nào dù mong kích thớc, tầm vóc đến đâu, khi
đã đi vào văn học, đợc chủ thể công nhận bao giờ nó cũng gắn bó vớithái độ, cảm xúc, tình cảm của ngời nghệ sỹ Cái đẹp trong nghệ thuật
đã mang tính chủ quan của ngời nghệ sỹ, vì vậy cái đẹp không còn vô t,khách quan, ngẩu nhiên nh nó vẫn có ngoài tự nhiên Điều này cũng lýgiải tại sao cùng một phạm trù cùng loại cùng đối tợng phản ánh , nhngnghệ sỹ mỗi ngời lại tạo nên một vẻ đẹp khác nhau Và đây cũng chính
là cái đẹp, là nội dung đi theo hình thức, hình thức mang tính nội dung Cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp không chỉ về hình thức mà cái
đẹp ấy còn là cái đẹp mang tính nội dung ở đây bất cứ yếu tố nào củahình thức đều mang tính nội dung, chứa đựng nội dung, liên quan đếnnội dung Nh chúng ta thấy “non xanh, nớc biếc” hay câu thơ “Longlanh đáy nớc in trời – Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng” đều là
vẻ đẹp của non nớc, vẻ đẹp của thiên nhiên nhng hình thức “non xanhnớc biếc” liên tục của nớc và non nó tạo nên vẻ đẹp của núi non hùng
vỉ, cái mênh mông xanh bạt ngàn của núi, của biển đến vô tận Nó gợilên cảm giác nguyên sơ buổi đầu của giải đất này Còn câu “Long lanh
đáy nớc in trời – Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng”, “nớc”,
“non” tách nhau ra, xa nhau đi với những đối tợng khác tạo nên bứctranh nên thơ hơn, nhẹ nhàng mộng ảo và riêng t hơn của lòng ngời
Nh vậy trong nghệ thuật cái đẹp cũng là sự thống nhất giữa nội dung vàhình thức Hình thức mang tính nội dung nên nếu hình thức thay đổi nộidung cũng biến đổi theo Chẳng hạn nh nếu ta thay giang và sơn vào n-
Trang 12ớc và non thì rỏ ràng hình thức đã bị phá vỡ, hình thức cấu trúc thẩm
mỹ của câu ca dao
Nh vậy cái đẹp dù xuất phát từ hiện thực, “non nớc” là nớc non củathiên nhiên nhng “nớc non” ấy lại không đồng nhất với núi sông ngoàivăn bản nghệ thuật Cái đẹp trong tác phẩm là cái đẹp mang tímh sángtạo độc đáo của ngời nghệ sỹ, hoạt động sáng tạo có mục đích
2.2 Sơ l ợc về một số hình ảnh “non n ớc“ và nổi niền “non n ớc“ trong văn học tr ớc Tản Đà.
-Trong lịch sử văn học có hai dạng biểu hiện của lòng yêu nớc Biểuhiện thứ nhất trở thành chủ nghĩa yêu nớc, mang tính tích cực chiến đấu
nh Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu Tình yêu nớc của các bậc anhhùng ấy đã đạt đến tầm chủ nghĩa yêu nớc và họ là những nhà văn chiến
sỹ đấu tranh giải phóng dân tộc và nh vậy nó trở thành một quan điểmanh hùng của những nhà văn yêu nớc
Lòng yêu nớc trong văn học có dạng biểu hiện thứ hai đó là nhữngtâm sự yêu nớc Chủ thể của nó không phải là nhà văn chiến sỹ mà lànhà văn chiến sỹ mà là loại nhà văn tỏ ra sự bất lực của mình, trongcuộc đấu tranh dân tộc nó cũng là một tâm sự sâu xa những khoảng cótính tích cực chiến đấu Tuy nhiên chính nổi niềm ấy lại để lại dấu ấn
độc đáo trong văn học nghệ thuật, ví dụ ở Nguyễn Khuyến và Tản Đàthì không thể gọi đó là chủ nghĩa yêu nớc đợc mà nó chỉ là tâm sự, nóthâm trầm sâu xa Tất nhiên cả hai loại biểu hiện yêu nớc trên đều gắnliền với chủ đề văn học yêu nớc
Trong văn học lại có dạng nhà văn có tng tởng nhân đạo chủ nghĩa.Trong khi xây dựng hình tợng nghệ thuật thì về khách quan kiểu hình t-ợng ấy vẫn có biểu hiện mờ nhạt của lòng yêu nớc Hình tợng nhân đạonhng phảng phất biểu hiện yêu nớc nên cũng có tác dụng tích cực đốivới ngời đọc Ví dụ trong văn học có kiểu để thể hiện, diển tả tình yêu
đôi lứa chủ thể thờng lấy non sông thề bồi với nhau, hay sông núi là
th-ớc đo chiều sâu tình yêu nh kiểu “mấy sông em cũng lội, mấy đèo emcũng qua” Bản thân sông núi, đã gợi lên hình ảnh non nớc rồi cho nên
về khách quan thì nó vẫn có cái gì đó liên quan đến hai chữ “yêu nớc”
Trang 13Chung tôi xin trích một số loại hình ảnh mang tâm sự yêu nớc củanhững kiểu tác giả nh trên:
2.2.1 “ Non n ớc“, “n ớc non“ trong ca dao.
Non nớc, nớc non trong ca dao đợc sử dụng nh là một đối tợng củanghệ thuật, ngoài giá trị định danh, định loại ra nó còn mang giá trịthẩm mỹ Theo thống kê của chúng tôi “non nớc” trong ca dao đợc sửdụng thờng xuyên nhng dới dạng tên riêng của nó nh núi Thái Sơn, núiCon Voi, núi Tam Điệp…rất đông Theo thống kê của tác giả NguyễnXuân Kính trong quyễn “Thi pháp ca dao” thì có đến bốn chín lần nhắc
đến tên núi và bốn mốt lần nhắc đến tên sông Trong khi đó các đối ợng cùng phạm trù nh ao, đầm, đồi, đèo lại chỉ một vài ba lần mặc dùxuất hiện giới hình thức là những danh từ riêng điều đó cũng chứng tỏ
t-“non nớc” là đối tợng của nghệ thuật, là khách thể thẩm mỹ thờngxuyên cùng với tên làng, tên các địa danh đi vào ca dao nh một hiện t-ợng nghệ thuật độc đáo của thể loại này
Ví dụ:
Rủ nhau lên núi đốt thanAnh lên Tam Điệp em sang non TrìnhCủi than nhem nhuốc với tình
Ghi lời vàng đá xin mình chớ quênHay:
Đờng vô xứ Nghệ quanh quanhNon xanh nớc biếc nh tranh hoạ đồ
Trang 14nếu dùng nh vậy câu dới sẻ phá vỡ cấu trúc thi pháp 6/8 của lục bát.
Đồng thời khi đọc “ non xanh nớc biếc” nó tạo nhịp điệu 2/2 phù hợpvới cái quanh quanh, khúc khủy của con đờng về xứ Nghệ
Nội dung chính của câu ca dao là vẻ đẹp sơn thuỷ của dải đất xứNghệ nên “non nớc” là hình ảnh trung tâm Chính vì sự lựa chọn “nonnớc” làm đối tợng miêu tả nên khách quan mà xét ngoài nội dung miêutả vẻ đẹp một vùng đất Hồng-Lam thì tự nó gợi lên cái gì đó tha thiết,sức cuốn hút đối với ngời đọc, đặc biệt là những ngời con xứ Nghệ Từ
đó cho ta thêm yêu, thêm nhớ quê hơng mình và nh vậy nội dung của
nó cũng phảng phất một tình yêu quê, yêu nớc
Hay bài ca dao sau đây:
Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồXem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn
Đền đài tháp bút cha mònHỡi ai gây dựng nên non nớc này
“Non nớc” lúc này lại kết với nhau tạo nên một cấu trúc bền chặt,làm vị trí một từ ở trong câu, danh từ và nó không còn là non xanh nớcbiếc nữa, bản thân “non nớc” lúc này không cần phải thể hiện mà nó kếtlại để mang giá trị đại diện Non nớc lúc này là cảnh Kiếm Hồ, chùaNgọc Sơn, cầu Thê Húc, một loạt danh thắng của thủ đô, tạo nên bứctranh phong cảnh đặc thù của nền văn hoá Phật giáo Có đền đài thápbút chùa chiền, tất cả những chi tiết ấy tự thân nó đã có giá trị gợi hình
ảnh đất nớc và bản chất của nớc non Cho nên non nớc kết lại, đại diệncho những chi tiết đã có giá trị mô tả ấy Vì vậy sau một loạt những yếu
tố tả thiên nhiên rồi thì non nớc xuất hiện sau cùng nh một sự khái quátlại, nhắc lại cầu Thê Húc, Tháp Bút, đền Ngọc Sơn là “non nớc” ta đó
Từ hai ví dụ trên cho thấy hình thức cấu trúc của non nớc tơng ứngvới một giá trị nào đó Và rỏ ràng bài ca dao trên lại cùng mang mộtchút tâm sự “non nớc” ở mức độ nhẹ nhàng
2.1.2 “Non n ơc“ trong một số hiện t ợng văn học viết Trung đại.
Non nớc trong ca dao đợc dùng nh hiện thân của quê hơng, đất nớc.Theo điều tra, khảo sát của chúng tôi có hơn 80% những bài ca dao có
sử dụng hình ảnh “non nớc” kiểu này là để chỉ thiên nhiên, còn trong
Trang 15văn học bác học thì “non nớc” mang nội “dân chủ” hơn Ngoài nhữngbài thơ dùng “non nớc” nh biểu hiện của giá trị “non xanh nớc biếc” thìnon nớc lại đợc tập trung vào ý nghĩa là hình ảnh Tổ Quốc, đất nớc.
Ví dụ : Bài thơ của Lý Thờng Kiệt:
Nam Quốc sơn hà Nam Đế c
Tuỵêt nhiên định phận tại thiên th
Nh hà nghịch lổ lai xâm phạmNhữ đẳng hành khan thủ bại h
Đây là hình ảnh “non nớc” của ngời anh hùng xã thân vì nớc, nó gắnvới chủ nghĩa yêu nớc của ngời Việt
Hay trong bài “ Bình ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi
Xã tắc từ đây vững bềnGiang sơn từ đây đổi mới
Do đặc điẻm của nền văn học trung đại coi chử Hán là chử của ngời
có học, chử của kẻ bề trên, bậc tài danh, là chữ chính thống của mộtquốc gia cho nên “non nớc”, “nớc non” đợc dùng bằng chử Hán “Sơnhà” hay “Giang sơn” Dù hình thức ngữ âm có khác nh đó là những từ
đồng nghĩa cho nên giá trị biểu đạt nh nhau
Tuy nhiên, không phải trong mọi trờng hợp nhà văn trung đại đềudùng chữ Hán thay cho chữ Nôm Đặc biệt đối với nhà văn, viết văn là
để phục vụ mục đích chính trị, phục vụ nhiệm vụ đấu tranh giải phóngdân tộc thì cách chọn non nớc hay giang sơn, sơn hà lại linh hoạt hơn,phụ thuộc vào đối tợng tiếp nhận:
Trời nam một dải non sôngNghìn năm cơ nghiệp cha ông hảy còn
Từ khi đá lở sông cồnNớc non trơ đó mà hồ nữa đâu ? (Chiêu hồn nớc)Non sông, nớc non là dạng “non nớc” trực tiếp cả về âm và nghĩa.Phan Bội Châu làm thơ để hớng đến toàn dân Việt thôi thúc kêu gọi ở
họ lòng căm thù ý chí đấu tranh cho nên tác giả không thể dùng chữHán, loại chữ không đến 30% dân số biết
Trang 16Nh vậy “non nớc” ở những hình thức trên là hình thức của một tấmlòng nhớ nớc, là ý chí đấu tranh đến cùng cho dân tộc, là biểu hiện củachủ nghĩa yêu nớc nó mang tính tích cực góp phần thôi thúc tinh thần
đấu tranh của mọi tầng lớp nhân dân Cũng vì lẽ đó “non nớc” là mộtcấu trúc chặt nh phần hồn và phần xác của một dân tộc, một quốc gia
“Non nớc” từ văn học dân gian đến văn học bác học cũng đã có sựkhác biệt trong giá trị sử dụng, tất nhiên ở đây chúng tôi không nói đếnmức độ tuyệt đối mà chỉ ở phần số đông, đại đa số
“Non nớc” trong “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du nh có thêm nộidung mới Hồn “non nớc” phong phú hơn, đa dạng hơn đặc biệt là cách
sử dụng cấu trúc non nớc đã linh hoạt hơn “Non nớc” Ngoài giá trị vềmặt nội dung của từ có giá trị mới của hình thức từ
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát “Truyện Kiều” của Nguyễn Dutrong toàn bộ tác phẩm này có hai mốt cặp lục bát xuất hiện hình ảnh
“non nớc” trực tiếp Trong hai mốt lần ấy có mời ba lần cấu trúc “nonnớc” chiếm 58% còn tám lần cấu trúc “non nớc” chiếm 32% Và tronghai mốt lần ấy thì cấu trúc non nớc bền vững kết lại thành một khối làmời sáu lần còn non nớc tách ra, đi sánh đôi hoặc đứng bên nhau lànăm lần
“Non nớc”, “nớc non” với ý nghĩa hình thức của từ là để chỉ núi chỉsông Núi sông luôn đi liền với nhau tạo sự hoàn chỉnh, đủ đầy của mộtquần thể thiên nhiên có cao của núi, có sâu của sông Có chim thú, hoa
cỏ có cá tôm dới sông sâu Núi sông có phẩm chất gắn kết từ đây Nói
đến ắt phải có sông mới đầy đủ, nói đến sông mà không có núi hẳn đó
là một sự khiếm khuyết Nớc non, non nớc chính vì thế mà nó khôngchỉ biểu thị ý nghĩa của bản thân nó còn đợc dùng để biểu thị nhữnggiá trị khác nữa
Bên cạnh giá trị biểu tợng cho “nớc non nhà”thì nớc non với phẩmchất vững bền, trờng cửu, non nh yếu tố của dơng, nớc là biểu hiện của
âm, “non nớc” kết lại âm dơng sum vầy Chính vì phẩm chất ấy “non ớc” cón là biểu tợng tình yêu trai gái, là biểu tợng của thuỷ chung Nguyễn Du đã không bỏ qua đặc tính này của “non nớc”, ông gắnhình ảnh của “non nớc” vào câu chuyện tình của Thuý Kiều với nhiều
Trang 17n-cung bậc cấp độ khác nhau: “Non nớc” trớc hết vẫn là đối tợng thềnguyền của nàng Thuý và chàng Kim:
- Sánh vai về chốn th liêu
Góp lời phong nguyệt nặng nguyền non sông
- Dặm khuya ngắt tạnh mù khơi
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông
Nh vậy “lời non sông” chính là lời thề nguyền, hẹn ớc của hai ngời
“lời non sông” lúc này không phẩi là lời của núi của sông là lời của tìnhyêu, ý nghĩa nằm ngoài từ và tạo nên tính quan niệm khi nói đến “lờinon sông”, “lời non nớc” đó là lời của tình yêu đôi lứa, thề hẹn vớinhau
Nguyễn Du đã khai thác tất cả các hình thức cấu trúc có thể có củacấu trúc “nớc non”, “non nớc” vào mục đích của mình:
Cấu trức “nớc non”:
- Nớc non cách mấy buồng thêuNhững là trộm dấu thầm yêu chốc mòng
- Lợng trên dù chẳng chút tìnhGió ma âu hẳn tan tành nớc non
- Xót tình máu mủ thay lời nớc non
- Sinh rằng: Từ thủa tơng triTấm riêng riêng những nặng vì nớc non
…
Nớc non để chữ tơng phùng kiếp sau
Cấu trúc “non nớc” :Tóc thề đã chấm ngang vaiNào lời non nớc nào lời sắt son
…
Cấu trúc “non nớc” tách rời nhau, đi trên cùng một câu thơ hoặcsong song trên hai câu thơ:
- Còn non còn nớc còn dàiCòn về còn nhớ đến ngời hôm nay
- Những gì lạ nớc, lạ nonLâm tri vừa một tháng tròn tới nơi
Trang 18đã gợi hình ảnh nớc, khi Nguyễn Du miêu tả “còn non còn nớc còn dài,còn về còn nhớ đến ngời hôm nay, những gì lạ nớc, lạ non, dặm nghìnnớc thẳm non xa” lại là hình ảnh là cách quen thuộc để nhà văn miêu tả
Chơng 3: Các loại hình ảnh biểu hiện nỗi niềm
non nớc của Tản Đà
Trong nghệ thuật khi biểu hiện lòng yêu nớc thì có nhiều cách khácnhau và cũng có nhiều loại hình ảnh khác nhau Có hình ảnh trực tiếp,hình ảnh gián tiếp Hình ảnh gián tiếp không trực tiếp bộc lộ tình yêunớc nhng nó lại có ý nghĩa khách quan gợi lên lòng yêu nớc ở ngời
đọc Có điều này là nhờ sự lựa chọn đối tợng làm hình tợng và sự miêutả hình tợng của tác giả Điều này tạo nên tính hiệu quả nghệ thuật của
Trang 19hình tợng Tuy nhiên để nói lên lòng yêu nớc thì dùng hình ảnh trực tiếpvẫn có tác dụng hơn cả và đây củng là loại hình ảnh trung tâm, xuấthiện nhiều trong tác phẩm của Tản Đà và ở đây chúng tôi cũng tạm chiahình ảnh “non nớc” ra làm hai loại: Loại hình ảnh trực tiếp và loại hình
ảnh gián tiếp
3.1 Loại hình ảnh trực tiếp.
3.1.1 Hình ảnh “non n ớc“.
Loại hình ảnh này ở phần thơ theo số liệu thống kê của chúng tôi có
42 lần xuất hiện trong đó 28 lần “non nớc”, “nớc non” đi liền với nhauthành một khối chặt kiểu non nớc, nớc non chiếm 67% Còn “non nớc”tách nhau ra, “non” đi với một đơn vị từ khác, “nớc” đi với một yếu tốkhác là 14 lần chiếm 23% Trong 28 lần “non nớc” đi liền với nhau thìkiểu “non nớc” là 10 lần chiếm 37%, “nớc non” là 16 lần chiếm 63%.Trong “Giấc mộng lớn” Tản Đà tự nhận mình là kẻ đa tình chỉ có
điều chuyện tình của Tản Đà đáng buồn thê thảm, thất tình hết lần nàysang lần khác Có lẻ thi sỹ không gặp may trong “Tình trờng” nên mới
đáng thơng đến thế, đã thề nguyền đã ớc hẹn nhng đành lỗi hẹn chờkiếp sau:
- Non nớc thề nguyền xa đã lỗi
- Thề nguyền non nớc đợi ngày tái sinh Vì thế nớc non của Tản Đà là “non nớc” của sự chia li cách biệt:
Chuyện tình yêu thì “khơi cách nghìn trùng” còn chuyện đất nớc thìsao?
- Nớc non sang xuân hoa cỏ mới
Trang 20Nớc non đã có khởi sắc hơn nhng vẩn cha quên đợc câu chuyện đấtnớc năm Đinh Mảo Dẫn đến chuyện An Nam tạp chí bị đình bản màngậm ngùi.
- Nớc non đinh mảo ngậm ngùi ai
Chuyện nớc non là chuyện còn nhiều cha biết nhng có một chuyệnphải biết đó là:
- Nớc non ai có là ngời đầu binh
- Nớc non xoay chuyển bây giờ là ai ? Nớc đã mất, vua quan nhà Nguyễn lại bất tài vô dụng nên nổi niềmnon nớc là nổi niềm lớn nhất của Tản Đà Mặc dù với nớc “ tình nguyệnvọng chứa chan non nớc” Nhng trong cái thời buổi đó gió á ma Âu ấynớc non thăng trậm biến động, thi sỷ củng chẳng biết làm gì đợc:
- D đồ rách nơc non tô lại
- Khí thiêng sông núi phụ hộ nớc non
Và tin vào vận nớc, tin vào niềm hy vọng của mình:
- Nớc non này chi dễ cỏ hoa ai
- Nớc non vẫn nớc non nhà
Và nếu nớc non ấy còn thì sẻ còn tất cả:
- Còn trời còn nớc còn non Tiến trình vạn lý anh còn chơi xa
- Còn non còn nớc còn trăng gió Còn có thơ ca bán phố phờng
- D đồ còn đó cha phai Còn non còn nớc còn ngời nớc non
- Dới trên còn đất còn trời Còn non còn nớc còn ngời còn non
“Nớc non” còn thì sẽ còn tất cả đó là lẽ thờng nhng nớc non đanggặp vận hạn, rồi củng chẳng biết nớc non sẻ đi đến đâu non sẻ ra sao.Nổi buồn nớc non cùng với chuyện “non nớc” chẳng thành nên thi sỹ có
vẻ ngao ngán trớc cảnh non xanh nớc biếc:
- Ngày xuân thêm tuổi càng caoNon xanh nớc biếc càng ngao ngán lòng
Trang 21“Ngao ngán lòng” cũng có lý do của nó “ Non xanh nớc biếc suốtmột ngày anh chẳng có gặp ai”
Tản Đà quả đúng là đa tình nên đến “trắng tóc” tình vẫn còn mặnnồng
- Cảnh còn biếc nớc xanh non
Đầu ai trắng tóc duyên còn thắm tơ
Cảnh còn đó đất trời còn nguyên, nhng ngời củ thì đã đổi thay quá.Còn ta vẫn mong ngày đoàn tụ, “non nớc” tơng phùng
3.1.2 Hình ảnh non sông, sông núi, núi sông
Theo thống kê của chúng tôi loại hình ảnh này xuất hiện 24 lầntrong đó 13 lần là dạng núi sông, sông núi chiếm 58% còn lại 11 lần làhình ảnh “non sông” chiếm 42% Trong 24 lần ấy thì kiểu kết cấu chặtthành một khối theo kiểu “ núi sông”, “sông núi” là 15 lần chiếm trên50% và 9 lần tách ra khỏi sông đi với các đơn vị khác
Sống núi, núi sông trớc hết là sông núi nớc Nam, là những nơi thi sỹ
đã đến, đã đi qua nên sông núi không đổi thay theo thời gian, sông vẫn
là sông, núi vẫn còn nguyên núi:
- Khúc sông kia đỉnh núi nàyCảnh vật còn nguyên sông với núi
- Đá vàng xin nguyện với non sông
- Núi sông thề nguyền
Lời thề với non sông cũng là nguyện ớc với đất nớc nên gánh nặngtrên vai là trách nhiệm của lời thề:
-Non sông thề với hai vai
Lời thề ấy là lời thề của tuổi trẻ, của sức trẻ khi nhiệt huyếtvới nớc non đang tràn đầy:
- Thủa xuân xanh thề ớc non sông
Trang 22Lời thề, trải qua những “ lận đận” chuyện thề xa không thực hiện
đ-ợc đành chịu thẹn với núi sông:
- Bớc lận đận thẹn cùng sông núi
Dù không lâm vào cảnh “sông cái chiếc thuyền nan”, bởi chuyện
“non nớc” là chuyện đại sự chuyện của cả dân tộc, với thân phận củamình Tản Đà chẳng làm đợc gì cho nớc nên nhìn cảnh “Bốn mặt nonsông một mái chèo” đành ngậm ngùi với nớc non Vì thế nhìn sông ,nhìn núi thấy đau buốt:
- Trông mây nớc bốn bề lạnh ngắt
Ngắm non sông tám mặt sầu treo
Cảm giác đứng ngắm non sông mà đau chuyện nớc non là cảm giácbất lực:
- Non sông đứng ngắm lệ nhờng vơi
Bất lực vì mình là kẻ mắc nợ sông núi , kẻ mang ơn tái tạo Đứng
tr-ớc núi sông thấy hết sự tỉnh tại, xô bồ, hỗn độn của thời cuộc Dù vậy
đôi lúc cũng có cái cảm giác vui mới của lúc sang xuân:
- Non sông ngày cùng một ngày khác xa
- Non sông nh vẽ cỏ hoa tơi
- Xuân mới năm nay đã đến rồi
Có đợc cảm giác ấy chắc hẳn Tản Đà phải tạm quên đi chuyện đất
n-ớc, nh vậy mới có niềm vui trớc cảnh quan quê hơng Tuy nhiên đây chỉ
là niềm vui ngắn ngủi tạm thời vì nổi niềm non nớc là nổi niềm lớn nhấtcủa Tản Đà
3.1.3 Hình ảnh giang sơn, sơn hà, sơn hải
Đây là tên gọi khác của núi sông , một dạng đồng nghĩa với nớc non,chỉ khác âm Tuy đồng nghĩa nhng giang sơn, sơn hà, sơn hải lại có sắcthái khác Giang sơn có sắc thái trang trọng thành kính hơn Tạo cảmgiác thiêng liêng Chính vì điều này mà hầu hết các tác giả dùng giangsơn , sơn hà để chỉ đất nớc ,Tổ quốc
Theo thống kê của chúng tôi có mời tám lần hình ảnh giang sơn ,sơn
hà , sơn hải xuất hiện (ở phần thơ) Có gần mời lần ở phần chuyện trong
18 lần ấy có 13 lần là hình ảnh giang sơn chiếm 72% Còn sơn hà 4 lần
Trang 23chiếm gần 28% sơn hải chỉ có 1 lần Giang sơn, cách gọi Tổ quốc mộtcách trang trọng, thành kính:
- Vô tình chi mấy hoá côngGiang sơn để giận anh hùng ngìn thu
- Ba thu ma gió dài ghê Bốn mặt giang san áo phất cờ
- Nhìn giang san bạc tóc nh chơi
- Giang san bảng lảng tu mi thẹn
Giang san có lúc lại là một vùng đất tận cùng của Tổ quốc:
- Đất Bắc giang san vận bất cùng!
Cảm giác trớc giang san là cảm giác thẹn, xấu hổ với đất nớc
Nên trớc giang san chỉ có một cách để tỏ lòng đó là thành thật:
-Lệ ai giàn dụa với giang san
Hối lỗi với giang san đấy nhng cũng có lúc lại lơ là chuyện đất nớc,
đây là cảm giác tự an ủi vỗ về lòng mình:
- Thẹn vì tình mà ngờ mắt với Giang san
- Lờ mít giang san khi chóng mặt
Đừng lăn thiên địa lúc rời tay
Cảm nhận về đất nớc là cảm nhận về cái tôi cá nhân nên cảm nhậnmang tính chủ quan:
- Mái sơn hà cũ kỹ bốn ngìn năm
Hình ảnh “ Mái sơn hà cũ kỹ bốn ngìn năm” là cách nhìn hơi khắtkhe nhng đó là cái nhìn của t tởng mới Nh đã nói, cảm xúc với
“giang san” , đất nớc là cảm xúc đa chiều có vui, có buồn, hờn giận ,
có thẹn thùng nhng đất nớc bao giờ cũng là Tổ Quốc mà ông yêuhơn tất thảy Đất nớc bầu bạn, sơn hà là thú chơi:
- Văn chơng thời nôm na Thú chơi có sơn hà
Lại có cả thách thức với “sơn hà”, thách thức thật ra lại xuất phát từcảm giác bất lực, cảm giác thất bại mà thôi:
-Chơi cho biết mặt sơn hàChơi cho sơn hà biết ai là mặt chơi
Trang 24Nh vậy toàn bộ loại hình ảnh giang sơn, sơn hà là để chỉ Tổ Quốc.
Đây là loại hình ảnh gợi nổi niềm non nớc một cách tực tiếp nhất, cụthể nhất
3.2 Loại hình ảnh gián tiếp.
3.2.1 Hình ảnh danh lam thắng cảnh.
Danh lam thắng cảnh là những nơi đợc mọi ngời coi là cảnh quan,nơi đến thăm, du ngoạn của mọi ngời Tất nhiên đây là những nơi cócảnh đẹp độc đáo
Theo thống kê của chúng tôi, ở phần thơ Tản Đà có nhắc đến 8 danhlam thắng cảnh nh Chùa Hơng, Hồ Tây, Hồ Gơm, Đèo Ngang, Hải VânQuan, sông Đà núi Tản…Trong đó chùa Hơng đợc nhắc đến 3 lần, sông
Đà núi Tản 20 lần Toàn bộ những nơi, Tản Đà đã đến hoặc từng sống ở
đó Chùa Hơng là nơi Tản Đà “ tịch cốc” nên dấu ấn khá đậm trong thơ
ông Một chùa Hơng đợc coi là “Thiên hạ đệ nhất động”nên vẻ đẹp của
nó cũng là vẻ đẹp độc đáo hiếm có:
- Chùa Hơng trời điểm lại trời tô
Một bức tranh tình trải mấy thu
Cùng là vẻ đẹp tự nhiên nhng vẻ đẹp Tây Hồ lại hui hắt vắng vẻ:
- Hiu hắt Tây Hồ chiếc lá rơi
Đên thu văng vặc bóng ngời theo
Vẻ đẹp Tây Hồ làm cho Hà Nội có vẻ êm đềm nguyên sơ thì vẻ đẹp
Hồ Gơm lại là vẻ đẹp phố xá hiện đại của Hà Nội ngàn năm văn hiến
- Đèn Hà Nội sáng trng lữa điện Quanh Hồ Gơm xe điện cao xa
Chùa Hơng, Tây Hồ, lại Hồ Gơm, lại thêm sông Đà núi Tản đợcnhắc lại nhiều lần nhất Điều này cũng dễ hiểu bởi tình yêu cho quê nhàluôn là tình yêu lớn nhất cố hơng là tất cả
Sông Đà núi Tản trớc hết là sông là núi nh bao con sông ngọn núi
đất Việt khác, cùng trờng tồn với đất trời:
- Đà giang nớc chảy tản mây bay
- Sông Đà núi Tản nghìn năm
- Một giải Ba Vì vạn cổ lu
Ba Vì núi Tản thiên niên thọ
Trang 25Sống ấy, núi ấy, chính là quê hơng yêu dấu:
- Đà giang tản lĩnh nớc non quê
Cái địa thế của một vùng “nớc non quê” ấy tạo ra cuộc hôn phối hoàthuận:
- Bên kia thời núi bên này thời sông
mà còn là một “ huyền thoại sống” nên linh hồn của núi sông nh vẫncòn ghi dấu ấn của câu chuyện nghàn năm trớc;
- Mạch nớc Sông Đà tim róc ráchNgàn năm non tản mắt lơ mơ
- Vân nhà tản lỉnh không tơng trựcLãnh nộ đà giang cấp tự lu
Trớc cái tình cảnh của núi, của sông, thi sỹ đã có lúc cảm thấy hếtcái tĩnh tại trong lòng mình, sự yên lặng gợi man mát trong lòng Chẳnghiểu tình hiểu cảnh hay cảnh hiểu tình mà sông núi cũng “ man mát”
Sông Đà núi Tản nớc non quê nên đi đâu rồi ta cũng nhớ về sông vềnúi ấy Cố hơng là nơi đón nhận ta khi chẳng còn nơi nào đến, chốn nào
Trang 26để an Sự trở về cũng là sự tìm lại chính mình khi con ngời đã trải quabiến động lớn trong tâm hồn:
- Tản viên bóng gác tà dơng
Gió thu dục khách lên đờng về quê
Trở về gặp lại cái cảm giác “ non nớc”xa nên núi sông vẫn là mộtvùng sông núi huyền thoại:
- Ba Vì tây lĩnh non thêm trể Một giải thu giang nớc vẫn đầy
Cái mãn nguyện của núi, cái buồn muôn thủa của sông là cả một câuchuyện dài Sông ấy, núi ấy là của đất trời, sông núi huyền thoại thế màTản Đà dám coi mình ngang hàng với núi sông Vùng đất Sơn Tây cónúi có, có sông mình nữa là hai vì thế cái tài tình của Tản Đà cũng cáitài tình khác thờng, tơng ứng với vũ trụ:
- Sông Đà núi Tản ai hun đúc
Bút thánh câu thần sớm vải vung
Sông Đà núi Tản “nớc non quê” nhng quê hơng ấy lại là một vùng
n-ớc Nam Nên yêu quê là Tản Đà đã yêu nn-ớc rồi Ngời ta thờng nói :Quê hơng đất nớc tức là đồng nghĩa quê với Tổ quốc cũng không sai.Cũng vì thế Tản Đà ý thức “ Sông Đà núi Tản nớc Nam Việt” Tự hào
về quê hơng cũng là tự hào về đất nớc, có đất nớc mới có quê, rồi lạimới có mình Hình ảnh Sông Đà núi Tản là loại hình ảnh mang tâm sựnớc non đậm chất nghệ sỹ nhất, mang tâm hồn Tản Đà nhất
3.2.2 Hình ảnh các nhân vật lịch sử, các anh hùng dân tộc .
Chúng tôi đã thống kê đợc có 13 vị anh hùng dân tộc ,nhân vật lịch
sử đợc nhắc tên Đó là những ngời đã có công dựng nớc và giữ nớc Tổtiên của con cháu nớc Việt cũng là ngời gây dựng “nớc non” này:
- Sông Bạch Đằng giangGiồng cọc đứng là Ngô Quyền
Cùng trên dòng sông đó lại vang lên chiến thắng quân NguyênMông của tớng sỹ quân binh nhà Trần:
- Sóng vừa yên Đến hồi trần tiên
Trang 27Con cháu chi Hồng Bàng, họ Hùng Vơng yêu hoà bình muốn sốngmột cuộc sống giản dị cùng làng ,cùng xóm với những ngời thân hiềnhoà chân chất Nhng “khi bản đồ về Minh”, kẻ thù cớp nớc xuất hiện:
-Một ngời Lam Sơn Gùi lầm thanGơm vàng Lê LợiLau sạch máu thù
Là những ngời dân bình thờng giản dị nhng khi có giặc xâm lăng lạihoá anh hùng cho nên “ngang đời nhà Thanh” lại xuất hiện một bọn:
- Tôn, Tôn sầm Tôn sầm hai gã
Binh mã tung hoànhLập tức có “ngọn cờ Quang Trung” tung bay trên bầu trời ThăngLong đánh tan đạo quân cớp nớc và phá nớc, “ Trận thành Thăng Long”ghi tên ngời anh hùng áo vải
Gần với chúng ta hơn, gần với Tản Đà nhất đó là Hàm Nghi Ôngvua của Triều Nguyễn Một ông vua giỏi thơ ca mà có cái chí của một
vị quân vơng, quyết chống Pháp đến cùng, để rồi chịu cảnh tù đày nơi
đất ngời
Nhắc đến các nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc là Tản Đà đã lật lạinhững chiến công của họ Điều này minh chứng cho lòng yêu nớc củacác bậc đế vơng thời đã qua Dùng hình ảnh các anh hùng dân tộc , Tản
Đà không cần trực tiếp phất ngôn cho lòng yêu nớc của mình mà thôngqua con mắt ngỡng vọng ngời đọc cũng hiểu đợc tâm sự nớc non của
ông qua loại hình ảnh này
- Bức d đồ rách đã cam khó lòng
Trang 28- Bức d đồ rách không bồi
- Bức d đồ rách nớc non tô lại
D đồ là hồn thiêng đất nớc, là hình hài nớc non thu lại Dữ cho đợc
d đồ là giữ đớc nớc, mất d đồ vào tay giặc là mất nớc:
- Núi Thiên Cầm trời bắt đôi Hồ Quan lại Minh sang giữ bản đồ
Yêu nớc, Tản Đà lấy tên nớc đặt tên cho tờ báo của mình “An Namtạp chí”, tên tờ báo gợi nhớ nớc “An Nam tạp chí” có bìa in hình đất n-
ớc nên Tản Đà gửi nỗi nhớ nớc vào nỗi nhớ “An Nam” :
- Dám quên đông pháp ngời tri kỷ
Riêng ngớ An Nam bức địa đồ
Yêu nớc nên phải giữ nớc, giữ cho đợc địa đồ dù gian khổ đến mấy:
- Biết bao gọi gió dầm ma
Bức d đồ giữ bây giờ còn đây
“D đồ rách ” mong có ngày “nớc non tô lại” song trớc thực trạng đấtnớc “gió á ma Âu” thi sỹ thấy xót xa Đây cũng là nỗi xót xa chungcủa cả dân tộc :
- Nọ bức d đồ thử đứng coi Sông sông núi núi khéo bia cời
Biết bao lúc mới công vờn vẻ
Sao đến bây giờ rách tả tơi?
D đồ là một loại hình ảnh đầy cảm xúc trạng thái tình cảm có đaubuồn mất mát, có tin tởng và hi vọng Hình ảnh d đồ là loại hình ảnhdán tiếp biểu hiện tâm sự “non nớc” của tác giả nhng nó lại gợi lên nổinhớ nớc một cách trực tiếp sâu sắc hơn cả
3.3 Một số loại hình ảnh mang tâm sự “non n ớc“ trong các tác phẩm văn xuôi
Chúng tôi phân loại ra nh thế này nhìn về hình thức có vẻ máy mócnhng vẫn cần thiết vì các hình ảnh trong từng tác phẩm đều nằm trong
hệ thống của tác phẩm, và nó có quan hệ với nhau Khi phân tích cáchình ảnh nằm trong hệ thống ấy sẻ làm toát lên hình ảnh lớn mang tâm
sự “nớc non ” của Tản Đà có thể hình dung “ giấc mộng lớn”, “giấcmộng con”, và tiểu thuyết “Thề non nớc” có xuất hiện loại hình ảnh
Trang 29mang tâm sự non nớc của tác giả Nó sẽ tạo nên một bất ngờ lớn trongviệc nghiên cứu, tìm hiểu tâm sự nớc non của ông Nó không chỉ làm rỏ
t tởng nghệ thuật Tản Đà mà còn cho thấy hết cái nhìn nghệ thuật của
ông về đất nớc, con ngời Chúng tôi sẻ tiến hành miêu tả các loại hình
ảnh biểu hiện tâm sự “non nớc” trong từng tác phẩm cụ thể
3.3.1 Các hình ảnh trong “Giấc mộng lớn“
Nếu nh ở phần thơ mới chỉ là những hình ảnh mang tâm sự “non ớc”,thì đến phần văn xuôi do u thế của thể loại mà hình ảnh “non nớc”hiện lên cụ thể, ít trừu tợng ở cuốn tự truyên “giấc mộng lớn” đất nớchiện lên có chiều dài có chiều sâu có bề ngang Hình hài đất nớc đợcxác định
n-Trớc hết “non nớc” hiện lên với chiều dài địa lý, điều này đớc thểhiện bằng sự xuất hiện của 27 tỉnh, thành phố Các đơn vị hành chínhnày xuyên suốt từ Bắc vào Nam tạo nên chiều dài đất nớc
Hai bảy tỉnh chia làm ba miền, miền bắc với 11 tỉnh thành trong đó
có bốn tỉnh là miền núi, 9 tỉnh đồng bằng và ven biển Bốn tỉnh miềntrung và tám tỉnh phía nam cho thấy hết hết cái thiên nhiên nớc ta cực
kỳ phong phong phú, đa dạng Điều kì diệu của thiên nhiên đó là vẻ đẹp
độc đáo cuả tạo hoá Cuốn tiểu thuyết dài 61 trang với bảy danh lamthắng cảnh đợc nhắc tới, tuy nhiên số cảnh đẹp cha phải là đã hết Cảnhquan kỳ thú, đa dạng có chùa chiền, có núi, có biển Chùa, có chùa nontiên “ Chùa non tiên có núi non tiên …chùa ở chân núi, núi trông xuốngsông, sông có bãi, trên bãi có miếu riêng thờ ch vị tiên nữ”…
“Non nớc” có tình nh vậy Tản Đà không đến mới là lạ Trong lúc “vô liệu” lại có bạn hữu nên chùa non tiên trở thành “ chỗ dung ngờiyếm thế’
Núi, có núi Ngũ Hoành Sơn, đã kỳ quan lại thêm kỳ quan nếu nh núiSót đợc coi là “danh lam” của tỉnh Hà Tĩnh thì Ngũ Hành Sơn lại nổitiếng cả nớc và thế giới là một kỳ quan ở đó nổi tiếng về sự hùng vĩbao la của núi non Đến Ngũ Hoành Sơn du khách đợc tắm mình trongkhông khí phật giáo, với những ngôi chùa nổi tiếng và cảm giác “sắcsắc không không” Ngũ Hành Sơn hùng vĩ bao nhiêu thì Hải Vân Quan
“thiên hạ đệ nhất hùng quan” cũng kỳ vĩ bấy nhiêu Đèo Ngang không
Trang 30có đợc cái mênh mông rợn ngợp của những nơi ấy nhng đó laị là nơi màcảnh làm cho tình dậy nhất vì thế mà biết bao thi sỹ đã lặng ngời đi vìcảnh sắc nơi đây.
Lên núi, rồi lại xuống biển tạo thế cân bằng để “kết duyên non nớc”nên thi sỹ đến Nha Trang nơi có nớc biển xanh biếc, những buồmthuyền đánh cá trắng phau Mỗi thuyền hai buồm xa xa kết đôi thật là
“nhất hành bạch lộ thợng thanh hiên vậy”
Nh vậy với hai mời bảy tỉnh thành phố, trong đó có những tỉnh thành
Điều này liên quan đến việc Tản Đà chọn nơi nào để thăm, nơi nào để
đến
Nơi Tản Đà đến thăm là những di tích lịch sử, đến với lịch sử là đếnvới quá khứ với những gì đã mất chỉ còn là kỷ niệm và sống trong ký ứcmọi ngời Trong thời đất nớc ngày ấy ngời ta “ dị ứng” với những ditích Tản Đà đến Quan binh cấm kỵ ngời dân lo sợ, nhng Tản Đà mặc
kệ những cấm đoán ấy ngang nhiên đến thăm khu mộ nhà Tây Sơn, nơi
an nghỉ của ngời anh hùng áo vải cho thoả lòng ngỡng mộ Đến thăm ditích Tự Đức “ông vua hiếu văn” để tỏ cái tình của kẻ cùng hội cùngthuyền Đến thăm Đồng Dơng di tích Chiêm Thành để nhớ, để thơng vềmột đất nớc “điêu tàn” chỉ cón là dĩ vãng với những đổ nát của mộtcung điện đã lùi, xa thăm đền thờ làng Kiên Mỹ
Muốn hiểu về thực trạng đất nớc, đân tộc nào đó thì không có cáchgì hơn là tìm hiểu những con ngời sống trên đất nớc đó Hình dáng họ
ra sao, họ sống thế nào, họ nghĩ gì về đất nớc mình
Trang 31Ngời đầu tiên, nhân vật trung tâm của cốt truyện chính là tác giả, thi
sỹ tự xng “mình” Đây là ngời tài tình, cái tài bắt đầu từ khi còn nhỏmới lên bảy, lên tám, “học hết đớc một quyển tam tự kinh, một quyển
ấu học ngũ ngôn thi ”.Từ cái tài này lại nảy sinh ra cái tình, cái tình từ
đây mà ra “trong ấu học ngũ ngôn thi thì nhất là hai câu “ Hoa cù hồngphấn nữ, tranh khán lục y lang” Con ngời có tài, lại có tình đó là một
sự trọn vẹn không phải ai cũng có đợc Nhng đối với Tản Đà cái tài tình
đi liền với cái truân chuyên, cái kiếp long đong lận đận, đến cuối đờivẫn cha có một ngôi nhà để ở Bán văn nuôi miệng mà văn hạ giới thì rẻ
nh bèo nên cái nghèo vẫn cứ hoàn nghèo Dọc đờng từ Bắc và Nam lại
từ Nam ra Bắc tiền chi tiêu lại toàn là vay thậm chí lại còn đợc chothêm Cái cảnh nghệ sỹ nh Tản Đà âu đã làm mất tinh thần của những
kẻ đang mộng làm văn sỹ
Nghèo đến thế nhng có bao giớ Tản Đà cho là mình nghèo, tấm lònghào hiệp, rộng rãi Mà trên đời này có ai lấy cái chuyện thiếu thốn vậtchất làm nghèo, nếo có nghèo thì nghèo tài, nghèo tình ai lại nghèo thứ
ấy Dọc đờng đi tiền ăn, tiền tiêu đều phải vay cả ấy thế mà Tản Đà vẫn
có tiền cho bọn trẻ con ở núi Sót và một bạn nghèo khác Thôi thì đócũng là chuyện của muôn đời “ lá rách ít đùm lá rách nhiều”
Góp thêm vào diện mạo cái nghèo làm cho cái nghoè hoàn chỉnhhơn là một bọn ngời nghèo mà Tản Đà có “cơ may” hàn trình cùng Họ
là những dân thờng đi làm ăn xa đến ngày về lại quê thì không có một
đồng Đói đến mức quên cả tình ngời, đánh nhau sng mày sng mặt, chỉvì nắm cơm, miếng thịt Cũng chỉ vài miếng ăn mà quỵ luỵ ngời kháchèn hạ khốn cùng “ gọi lại đãi một hào ăn quà rồi thấy ngời ấy thụpxuống lạy một cách cảm tạ” Họ toàn là những kẻ đau, ốm rách rới nhnhau, từ những vùng quê nghèo nh Thái Bình, Hng Yên… Có ngờinghèo đơng nhiên có ngời giàu ngời nghèo tạo ra kẻ giàu mà lạy Nhngngời giàu trong cuốn tiểu thuyết chỉ thấp thoáng một vài ông quan cònsót lại của một triều đại đã làm “ vong quốc”, một vài nhà t sản liênquan đến tác giả Tất cả những loại ngời giàu, nghèo ấy làm cho diệnmạo nớc An Nam thêm rõ ràng Nghèo cũng nhiều loại mà giàu cũng cónhiều loại
Trang 32Trong cuốn tiểu thuyết có một nhân vật đợc coi là “ Linh hồn nớcNam” đó là cụ Phan, một nhà nho yêu nớc, một chiến sỹ đấu tranh vì
Tổ Quốc, đã có những hành động làm “mất lòng” nhà bảo hộ, nên phảichịu cảnh giam lỏng ở Huế cho đến cuối đời để cái tình với nớc với nongiang giở, giở giang mãi vậy !
3.3.2 Các hình ảnh trong “Giấc mộng con“
Thật kì lạ có “giấc mộng lớn” rồi lại có thêm “giấc mộng con”
Nh-ng nh vậy khôNh-ng phải là chuyện đã có chim bố lại có thêm chim con mà
đó là chuyện đã có Phợng Hoàng lại có thêm loài Công ngũ sắc
Trong “ Giấc mộng con” , Tản Đà “ tiêu du du” một vòng gặp mộtnơi mà không biết phải gọi đó là nơi nào đành tạm gọi đó là “ cái đờimới” “Cõi đời mới” không hẳn là một nớc lại càng không phải một nhàmặc dù họ cùng đông đúc, cũng có cuộc sống nh thờng Chỉ khác là
điều kiện sinh hoạt ở đây quả khác xa con ngời ở cõi đời cũ Ngời “ Cõi
đời mới” sống trên băng tuyết nhng vẫn có ánh sáng, có sức ấm lấy từlòng đất và họ vẫn gieo trồng nh thờng Quả là sức sáng tạo kì diệu củacon ngời ở “ Cõi đời mới”
Con ngời ở đây cũng ăn, cũng sống bình thờng nhng thức ăn toàn làmột loại vịt giời, có thêm cá nhng thịt gà, bò, dê, đều không có Nhàcửa làm bằng pha lê “ Thân nhà thuần một chất pha lê tạo thành mộthình động trăm sắc” Ngời ở cỏi đời mới chế một loại thuốc ngủ đặcbiệt, uống một viên ngủ một tiếng, uống hai viên ngủ hai tiếng… Phơngtiện đi lại cũng độc đáo không kém, toàn bằng xe nai, ngời nói tiếngnai, nai hiểu ý ngời Loại phơng tiện này thật quá khác với tàu điện và
xe buýt ở cõi đời cũ
Điều kiện sinh hoạt ở cõi đời mới đã tiện lợi rồi, bộ máy chínhquyền cũng hết sức giản đơn Trên nhất có thống trởng, dới có thôn tr-ởng Thôn trởng và thống trởng sẻ làm mãi nếu không có lỗi gì đó vớinhân dân Thống trởng và thôn trởng đều do nhân dân bầu ra Trai 18 vàgái 16 tuổi đều đợc đi bầu
Nh vậy “ Cõi đời mới” là một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội “dùngồi nhà, dù ra đờng, tai không nghe thấy có một tiếng than buồn, mắtkhông thấy ai có một hạt lệ Ruộng không có sổ, mỗi thôn có một giới
Trang 33hạn riêng Sổ địch thời gian, gái chia làm 2, mổi bên lại chia làm 5hạng Từ 12 tuổi trở xuống là một hạng, 13 đến 20 là một hạng, 21 đến
40 tuổi là một hạng, 41 đến 50 là một hạng, 51 trở lên là một hạng.Chia nh thế đó tiện đến lúc cắt việc mà không hạng nào có thế thân” Những chữ “ không có thuế thân” đợc in nghiêng làm ngời đọc chú
ý hoá ra cái khác cơ bản và là bản chất của xã hội là mấy chữ ấy
Con ngời ở “ Cõi đời mới” chẳng phải thần tiên cũng chẳng phải siêunhân gì họ là những ngời có nguồn gốc đàng hoàng “Chúng tôi tổ tiênnguyên cùng là ngời Mỹ Châu Lịch sử 1770 tổ tiên chúng tôi nổi dậnnhà nớc Anh xử đãi một cách hà khắc, nhân rủ nhau hơn 100 ngời và
đen theo ngời giống đỏ hơn 200 ngời cùng đi” Nh vậy hoá ra họ lànhững ngời dân mất nớc đem theo cái hoài vọng về “non nớc” đến với “Cõi đời mới” vì chế độ hà khắc của thực dân Anh mà đành bỏ quê h-
ơng, Tổ Quốc ra đi Nh thế họ với Tản Đà nào có khác gì nhau
Dù tốt đẹp đến mấy thì “ Cõi đời mới” vẫn chỉ là một giấc mộngnằm trong cái mộng con của Tản Đà về một đất nớc xa xa mà ông đangmơ tởng Cái hiện thời của xã hội ông đang sống hết sức ngột ngạt, bếtắc mà ông thì bất lực không biết phải làm gì cho nớc, cho non dù rằngnổi niềm ấy đang trăn trở dày vò ông đêm ngày Khao khát thoát ra khỏicái xã hội ấy là khát khao thay đổi xã hội, giải phóng đất nớc nên Tản
Đà mới luôn mong về một đất nớc của riêng ông nh thế “Tiêu du du”thế nào mà lại lên thiên giới gặp ngời thiên đình nói chuyện văn chơngchữ nghĩa vơi Dơng Quý Phi, Đông Phơng Sóc Gặp lại Chu Kiều Oanh
và làm báo An Nam với cụ Hàn Thuyên Tờ báo mà Tản Đà đã để baotâm huyết vào đấy nhng vẫn cứ long đong lận đận số phân “ An Nam”.Lên thiên đình cũng là cơ hội cho thi sỹ gặp lại những ngời khôngtìm đâu ra ở Hạ Giới Gặp cụ Khổng cha đẻ của nho gia để bày tỏ cáichí “Tôn phù Khổng học” của mình Cụ Khổng khen “ở An Nam tanghe nói chỉ có anh là ngời chân tâm với nho học” Tản Đà còn đếnthăm, uống rợi cùng cụ Nguyễn Trãi hỏi ý kiến cụ về vận hội nớc nhà
Cụ Nguyễn “không buồn vì dĩ vãng của mình mà chỉ buồn vì vận hộisau này của nớc nhà, đời không có hào kiệt chẳng thà nớc đừng cógiang sơn” Cụ Nguyễn cũng buồn vì không đợc tái sinh
Trang 34Trong những lần gặp gở nơi thiên đình bữa “ tiệc bồng lai” gây án ợng nhất Toàn một nơi tiên cảnh với các mỹ nữ, một nơi duy chỉ có Tản
t-Đà là khác giới lại có phần trần tục Các mỹ nữ đều nhiều một loại vìchuyện nớc mà luỵ đến thân Họ may mắn gặp đợc Tản Đà hay Tản Đà
có duyên mới gặp đợc họ mà thấy hết thảy đều vui vẻ cùng nhau hát bài
“ nớc nơc non non” Bài hát Tản Đà làm theo yêu càu của Dơng QuýPhi đều làm cho bài hát tăng phần tang thơng thơng Chính là cái bốicảnh làm ra bài hát ấy, nào là “ cảnh Nhà Đờng trong lúc An Lộc Sơnvào Trờng an và tình hình nơc Ngô trong Quân Việt vào Cô Tô” Cáitình-cảnh ấy cất lên tiếng hát rằng :
Non xanh xanhnớc xanh xanhNơc non nh vẻ bức tranh tìnhNớc non tan tành
Giọt luỵ tràn năm canh
Đêm năm canhNổi niềm non nớc đối ai quên cho đànhQuên sao đành
Trần hoàn xa cáchBồng lai non nớc xanh xanh
Non xanh, nớc xanh còn là cái nhìn khách quan chứ đến “non nớctan tành”thì đó lại là cảm xúc chủ quan rồi Câu thơ bật ra từ nỗi lòngsâu kín về chuyện nớc non Từ những tâm sự không biết tỏ cùng ai củaTản Đà, về số phận vong quốc của những ngời tri âm tri kỷ
Lên trời cũng là cách Tản Đà chửi trực diện vào bọn bán nớc, phảndân nh Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải…
Vừa thực, vừa h, mộng mộng ảo ảo là cho câu chuyện lên tiên giớicủa Tản Đà vời mang tính hiện thực vừa mang tính lãng mạn Đó là thứlãng mạn không thoát li, không cắt đứt cuống rốn với hiện thực đất nớc
3.3.3 Các hình ảnh trong tiểu thuyết Thề non n ớc.
Đoạn trích “ Thanh lơng” xoay quanh câu chuyện tình của hai ngờitài tình cả hai Một cô gái tài sắc nhng truân chuyên, liệt vào hạng hồng
Trang 35nhan bạc phận Một ngời khách giang hồ nay đây mai đó mà không thời
ở yên
Vân Anh vốn là cô gái con nhà gia giáo có ăn, có học lại thêm có tài,
“ nghĩ là thân một ngời con gái có nhan sắc có tài hoa, có học vấn vìnhà cữa sa sút mà truỵ lạc vào xóm Bình Khang” Từ nhỏ đã học chữnho và cũng biết làm thơ Nh tiền định, vốn dĩ những con gái có tài sắcsớm muộn gì cũng “ hồng nhan bạc phận”, lại đeo thêm cái nghiệp thi
ca ắt bị khổ luỵ đến thân là nhẽ thờng Ngời ả đào xinh xắn và cũng cóphong cách ấy không biết chiều khách nên ăn ở cũng bần tiện, rách rới.Ngời mẹ già ốm đau luôn, nhà cửa tuyềnh toàng chẳng có gì đánh nói Ngời tài tình gặp ngời tài tình nên quý mến nhau, cùng nhau uống r-
ợu và cùng làm thơ Họ cũng có “tình” với nhau nhng tình yêu của họ làmột thứ tình yêu “chốc lát”, có đó mà lại klhông có một thứ tình chỉmới dùng lại ở việc cảm mến nhau của những kẻ tài tử giai nhân gặpnhau trở nên duyên nợ một chút vậy thôi Chẳng ràng buộc không gắn
bó gì cả, “chị thời hoa đào nớc chảy, chổ ở rất là vô thờng: Tôi thời làmột ngời khách luôn, quanh năm giang hồ không biết đâu mà định Lúcnào ngẫu nhiên gặp lại nhau thời cùng nhau nói chuyện”
Vân Anh vốn nặng về chữ “tình” mà ngời khách đa tình lại nặng vềchữ “ khách” hơn nên có phần tủi hờn, đáng thơng cho thân phận tàihoa ấy Bài thơ “Thề non nớc” là của cả hai ngời cùng vịnh một bứctranh Bức tranh vẽ một ngọn núi, nhìn kỹ mới thấy một ngàn dâu dớichân núi tức là sông nớc khi xa vì tang thơng đã biến đổi Hình ảnh bứctranh gợi nổi nhớ nớc mặc dù khách và chủ đều không nói chuyện nớcnon gì
Cùng vịnh nên lời này lại đến lời kia, lời thơ của vân anh ngăn bóthuỷ chung bao nhiêu lời thơ của khách lại thoái thác, thoát gông, thoátcùm bấy nhiêu:
Khách đa tình đến rồi lại đi:
Nớc non nặng một lời thềNớc đi đi mãi không về cùng non ………
Nớc thì đi mãi, non cứ thế trông chờ cho đến tiều tuỵ:
Trang 36Non cao những ngóng cùng trôngSuối khô dòng lệ chờ mong tháng ngàySơng mai một nắnm hao gầy
Tóc mây một mái đã dầy tuyết sơng
…………
Non thời nhớ nớc, nơc mà quên non!
Dù cho sông cạn đá mòn
Còn non còn nớc hãy còn thề xa
Nớc thì đi mãi, non đã kiệt sức vì đợi chờ mặc dù vậy non vẫn hivọng vẫn tin vào ngày đoàn tụ bên nhau hài hoà:
Nớc non hộ ngộ còn luônBảo cho non chớ có buồn làm chiNớc kia dù hảy còn đi
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui
………
Non non nớc nớc không nguôi lời thề
“Non” hy vọng dấy lên khát vọng hớng tới hạnh phúc, hớng tới tìnhyêu cũng là một phẩm chất của con ngời Trong khó khăn thất bại biết
hy vọng cũng là một động lực để vợt qua tất cả Niềm hy vọng của “non” về ngày đoàn tụ là niềm hy vọng của nhân vật trữ tình về mộtniềm tin vào đại nghiệp Nó loáng thoáng niềm tin của Tản Đà vàochuyện nớc non
Có thể nhìn tháy chuyện tình yêu của Vân Anh và ngời khách giang
hồ là một thứ tình thoảng qua không gắn bó, trách nhiệm gì Cảm mếntài nhau đến với nhau trong chốc lát Nh số trời đã định đợc xum vầy làxum vầy, đợc chia li là chia li Đành ngậm ngùi vậy Cũng nh nhà văn
có thể ngậm ngùi trong câu chuyện tình của họ một chút tang thơng, tantác của nớc non này
Trang 37Chơng 4:Nỗi niềm “non nớc” qua cái nhìn nghệ thuật
của nhà văn.
“Non nớc” là một hiện tợng đa nghĩa, chỉ có điều, đó là cách hiểudựa vào nội dung của hiện tợng mà không phải dựa vào yếu tố hình thứctồn tại của hình thức tồn tại của hiện tợng Ngời ta coi hình thức chỉ làcái vỏ vật chất thông thờng mà không hề nghĩ rằng bản thân vỏ vật chất
ấy, hình thức ấy đã nói lên tôi là ai, tôi là cái gì
Quan niện hiểu nội dung văn học từ đề tài, chủ đề, t tởng, tính cách
đã thành truyền thống và coi những vấn đề của hình thức, của giá trịthẩm mỹ chỉ là hàng thứ yếu Ví dụ bài thơ “Thề non nớc” của Tản Đà,trớc đây do không coi trọng những vấn đề của hình thức mà dẫn đếnnhững cách hiểu, cách suy diễn khác nhau về nghĩa của bài thơ, Ngờithì cho bài thơ có nghĩa này, ngời lại cho bài thơ có nghĩa nọ Tất cả
đều chỉ căn cứ vào đề tài, t tởng, coi bài thơ nh là một tình tiết, một
“sản phẩm” từ tiểu thuyết cùng tên Nhng thực ra, nghĩa của bài thơ lạinằm chính trang hình thức ngôn từ của bài thơ Chúng tôi có thể nhận ranghĩa của bài thơ từ hình thức ấy ở hai câu đầu của bài thơ là một cấu
Trang 38trúc hình thức độc đáo, ẩn ý mang tính quan niệm nghệ thuật của Tản
Đà:
Nớc non nặng một lời thềNớc đi đi mãi không về cùng non
ở câu đầu là ý niệm về một lời thề trong quá khứ ở đó “nớc non”bên nhau trong quan hệ hài hoà nên “nớc” ở bên “non” Câu hai trở vềvới hiện tại chia cắt đợc diễn tả qua vị trí của “non nớc”ở hai đầu câuthơ, đó là một khoản cách xa thẳm của tâm trạng
Đó là một kiểu cấu trúc độc đáo của thời gian nghệ thuật, thời giantâm trạng “Non nớc” trong tác phẩm của Tản Đà là một hiện tợng đanghĩa và mục đích của chúng tôi không phải đi tìm xem hình tợng ấy cónhững nghĩa nào, mà mục đích của chúng tôi là xem xét xem nhữnghình thức nào chứa đựng những nghĩa ấy Nh vậy luận văn của chúngtôi đã tiến gần đến cách tiếp nhận văn học mới Đó là cách tiếp nhậnvăn học theo quan điểm của thi pháp học Thi pháp học theo định nghĩacủa M.B Khrapchenco là “ khoa học nghiên cứu hệ thống các nguyêntắc, phơng thức, phơng tiện mỹ học dùng để sáng tạo nên các tác phẩmnghệ thuật”.[3] Các phơng thức, phơng tiện mỹ học là hệ thống các yếu
tố cấu tạo nên hình thức nghệ thuật Hình thức này đợc coi là hệ thống
có tính toàn vẹn và có quá trình thay đổi, phát triển tiến hoá Chúng tanghiên cứu hệ thống hình thức là chúng ta nghiên cứu xem cái gì đợcthể hiện trong hình thức ấy, tức là hình thức mang nội dung gì Hìnhthức của nội dung Đây đợc xem nh một cách tiếp nhận văn học mớilàm thay đổi cách tiếp nhận văn học truyền thống Điều này tránh đợccách hiểu văn học theo kiểu suy diễn theo chủ quan hoặc “những kiểuphân tích xã hội học tầm thờng xa lạ với bản chất của văn học” Điềunày cực kỳ có ý nghĩa đối với sinh viên khoa văn, học sinh và những aimuốn tiếp cận văn học
Theo quan niện của mỹ học Mac-xít thì nội dung và hình thức bao giờcũng nằn trong mối quan hệ hữu cơ biện chứng và là sự thống nhất giữahai mặt tồn tại của vật chất Hình thức “là sự biểu hiện tổ chức trật tự,phơng thức tồn tại của nội dung” [4] Còn nội dung “là những yếu tố,quá trình làm nên sự vật, hiện tợng”. [5] Và nếu nội dung biến đổi sẽ
Trang 39kéo theo sự biến đổi của hình thức và nghệ thuật Lê Nin nói : “Hìnhthức mang tính bản chất, bản chất đợc biến thành hình thức và chúng làmột sự thống nhất của hình thức và nội dung”. [6] Sự thống nhất củahình thức và nội dung phải đợc hiểu là nội dung hoá thân vào hình thứcbiểu đạt nội dung, mang tính nôi dung Hình thức hàm chứa mọi quytắc biểu đạt và biểu hiện tất cả sự phong phú của nội dung Nh vậy khichúng ta khám phá bí mật của hình thức sẽ biết đợc cái gì nằm trong đó(nội dung).
Hình thức, theo giáo s Trần Đình Sử thì có hình thức bên trong vàhình thức bên ngoài, và theo ông hình thức bên ngoài đó là “ hình thức
ấn loát chiếm một số lợng trang giấy, khi đọc chiếm một lợng thời gianvật chất”. [7] Nh vậy hình thức bên ngoài là kiểu hình thức có tính cố
định, nó đợc lặp lại nh hình thức của một bài thơ lục bát, bài thất ngônbát cú Nó đợc ấn định bởi một số câu, số chữ Kể cả những thể loại có
số lợng dài nh tiểu thuyết cũng có thể là hình thức đợc lặp lại Và cũngtheo tác giả hình thức nghệ thuật phải là “ hình thức của khách thể thẩm
mỹ mà tác phẩm mang lại cho ngời đọc chứ không phải hình thức vănbản trần trụi”. [8] Nh vậy hình thức nghệ thuật là hình thức sáng tạo củanghệ sỹ nó mang tính quan niệm của chủ thể và nó nằm trong hệ thống
t duy nghệ thuật của tác giả Tính quan niệm của hình thức là “ nội hàmquan niệm trong hình thức, hình thành trong cảm nhận”. [9] Có thể nóimột cách dễ hiểu hơn đó là những cách hiểu, cánh giải thích đối vớimột đối tợng, hiện tợng Ví dụ trong thơ Tú Xơng có hiện tợng “câuhỏi” hàng loạt, đó là hình thức quan niệm một cuộc sống bế tắc, khaokhát giải thoát Nếu vậy hình thức bao giờ cũng chứa đựng trong nóquan niệm về đời sống của tác giả
Chúng ta đã nói đến hình thức, vậy hình thức của văn học là gì, nếu
đó không phải là toàn bộ thế giới nghệ thuật của tác phẩm Thế giớinghệ thuật bao gồm toàn bộ thế giới đợc miêu tả và thế giới miêu tả.Chúng là cơ sở cho việc tổ chức tác phẩm và miêu tả hình tợng Các đơn
vị của cái đợc miêu tả và cái miêu tả bao gồm: Nhân vật trần thuật,ngôn từ, nhân vật trữ tình, không gian, thời gian, phong cách, đồ vật,các hiện tợng
Trang 40Thi pháp học nghiên cứu toàn bộ những đơn vị ấy để tìm ra giá trị củatác phẩm cụ thể, tìm ra nội dung.
Nằm trong giới hạn đề tài tốt nghiệp, chúng tôi không giám nói đếnchuyện có thể đi sâu vào tất cả các yếu tố hình thức tồn tại của “nỗiniền non nớc” Tản Đà mà chỉ xin đi vào một vài đơn vị cơ bản và cũng
ở mức độ bớc đầu Đó là không gian, thời gian, đợc coi là những yếu tốchi phối việc cảm thụ và miêu tả nhân vật Quan niệm nghệ thuật về conngời giúp ta khám phá cách cảm thụ về biểu hiện chủ quan trong sángtạo của chủ thể Ngôn từ, đối tợng trực tiếp sáng tạo ra hình tợng, sảnphẩm của t duy
4.1 Nỗi niềm “non n ớc“ của Tản Đà qua thế giới nhân vật của
ông.
Nhân vật trong tác phẩm là những con ngời cụ thể Con ngời là đối ợng đầu tiên, chủ yếu của văn học Nhân vật trong tác phẩm hiện lên rasao phản ánh quan niệm của tác giả về con ngời Quan niệm nghệ thuật
t-về con ngời là “sự lý giải cắt nghĩa, sự cảm thấy con ngời đã đợc hoáthân thành các nguyên tắc, phơng tiện biện pháp thể hiện con ngời trongvăn học” [10], tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tợngnhân vật đó
Quan niệm nghệ thuật về con ngời giúp ta khám phá cách cảm thụ,biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, cả khi miêu tả con ngời giốnghay không giống đối tợng Là biểu hiện chủ quan nên quan niệm nghệthuật về con ngời mang dấu ấn của ngời nghệ sỹ Gắn liền với cái nhìncủa nghệ sỹ về con ngời Chính vì thế quan niệm nh thế nào về con ngờiliên quan đến nền tảng văn hoá, t tởng của nhà văn Thời trung đại,nghệ sỹ phơng tây coi con ngời là của tự nhiên, con ngời gắn bó chanhoà với tự nhiên
Nhân vật trong văn học thể hiện quan niện của tác giả về con ngời,nên khi nghiên cứu cần chú ý tất cả các biểu hiện từ nhân vật nh hìnhgiáng, hành động của nhân vật, tên tuổi, tâm lý, t tởng của nhân vật Vàcả những chi tiết thuộc ngôn ngữ cùng là phạm vi thể hiện quan niệmnghệ thuật về con ngời trong tác phẩm Tất nhiên tất cả những biểu hiện