Khi viết lời giới thiệu cuốn “Tuyển tập Tản Đà” Xuân Diệu bên cạnhkhẳng định công của thi sĩ Tản Đà đã đa cái tôi cá nhân vào văn học thì cũng đánh giá ngôn ngữ “Thơ Tản Đà thực là thơ V
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học Vinh
- -Lê Thị lệ thủy đặc đIểm ngôn ngữ thơ tản đà Luận văn thạc sỹ ngữ văn Chuyên ngành: lý luận văn học Vinh, 2007 Mục lục Trang Mở đầu I Lý do chọn đề tài 4
II Lịch sử vấn đề 5
1 Thời kỳ trớc cánh mạng tháng Tám 1945 5
2 Sau năm 1945 đến những năm 1980 7
3 Thời kỳ từ 1980 đến nay 8
Trang 2III Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
3.1 Mục đích của đề tài 9
3.2 Nhiệm vụ và đối tợng nghiên cứu 9
IV Phơng pháp nghiên cứu 9
V Cái mới của đề tài 10
VI Cấu trúc của luận văn 10
Chơng 1: Một số giới thuyết chung 1.1 Thơ và ngôn ngữ thơ 11
1.1.1 Khái niệm thơ 11
1.1.2 Sự khác nhau giữa thơ và văn xuôi 12
1.1.3 Ngôn ngữ thơ 14
1.1.4 Các đặc điểm của ngôn ngữ thơ 16
1.2 Thơ Tản Đà trong nền thơ ca Việt Nam 23
1.2.1 Quan niệm văn học của Tản Đà và thi phẩm của ông 23
1.2.2 Tính giao thời của thơ Tản Đà trong nền thơ Việt Nam 26
* Tiểu kết chơng 1 30
Chơng 2: Đặc điểm hình thức của ngôn ngữ thơ Tản Đà 2.1 Đặc điểm về thể thơ của Tản Đà 31
2.1.1 Khái quát thể loại thơ Tản Đà 31
2.1.2 Các thể thơ cách luật của Tản Đà 32
2.1.3 Các thể thơ tự do và thơ văn xuôi 40
2.2 Đặc điểm về tổ chức bài thơ của Tản Đà 43
2.2.1 Tiêu đề trong thơ Tản Đà 43
2.2.2 Dòng thơ Tản Đà 46
2.2.3 Khổ thơ Tản Đà 48
2.2.4 Khổ thơ mở đầu và khổ thơ kết thúc văn bản thơ Tản Đà 49
2.3 Đặc điểm về âm điệu trong thơ Tản Đà 49
2.3.1 Thanh điệu 49
2.3.2 Vần điệu 51
2.3.3 Nhịp điệu 52
2.4 Biểu hiện giao thời về hình thức của thơ Tản Đà trong nền thơ Việt Nam 53
2.4.1 Những biểu hiện tiếp nối truyền thống 53
2.4.2 Những biểu hiện cách tân 57
* Tiểu kết chơng 2 58
Trang 3Chơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của ngôn ngữ thơ Tản Đà
3.1 Các lớp từ giàu màu sắc tu từ trong thơ Tản Đà 59
3.1.1 Lớp từ thuần Việt 59
3.1.2 Lớp từ láy âm 59
3.1.3 Lớp từ Hán - Việt 65
3.2 Các biện pháp tu từ nổi bật trong thơ Tản Đà 68
3.2.1 Biện pháp ẩn dụ 68
3.2.2 Biện pháp nhân hoá 71
3.2.3 Biện pháp so sánh 73
3.3 Ngôn từ biểu hiện các đề tài nổi bật trong thơ Tản Đà 76
3.3.1 Ngôn từ biểu hiện nỗi niềm non nớc 76
3.3.2 Ngôn từ biểu hiện cái tôi của thi nhân 79
3.3.3 Ngôn từ biểu hiện hình ảnh nhà Nho tài tử 83
3.3.4 Ngôn từ biểu hiện hình ảnh nhân vật giang hồ lãng tử 87
* Tiểu kết chơng 3 90
Kết luận 91
Tài liệu tham khảo 93
Mở ĐầU
I Lý do chọn đề tài
1 Trong tiến trình vận động và phát triển của văn học Việt Nam, Tản
Đà giữ một vị trí đặc biệt quan trọng: “Con ngời của hai thế kỷ ấy” [44] “Là ngời thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại Tản Đà là ngời thứ nhất đã có cam đảm làm thi sĩ, đã làm thi sĩ một cách đờng hoàng bạo dạn, dám giữ một bản ngã, dám giữ một cái tôi” [12] Ông là ngời có công đầu
trong việc bắc cây cầu giao nối đa thơ Việt Nam chuyển từ phạm trù thơ trung đại sang phạm trù thơ hiện đại
Tản Đà (1889-1939) đã sống trọn trong một thời kỳ lịch sử hết sức đặc biệt: vừa là giao thời của hai thế kỷ, vừa là giao thời của hai thời đại văn
ch-ơng Cùng với tính chất quá độ đa dạng và phức tạp của văn học Việt Nam
30 năm đầu của thế kỷ XX, bản thân con ngời và tác phẩm của ông cũng trở thành hiện tợng phức tạp nhất trong lịch sử văn học nớc nhà, những phức tạp mang tính chất đặc trng của một giai đoạn văn học giao thời Chính vì thế, Tản Đà và thơ văn của ông đã trở thành đề tài cho rất nhiều cuộc tranh luận văn học sôi nổi những năm 30, 60, 70 của thế kỷ XX
Trang 42 Cho đến nay đã có một khối lựơng lớn những công trình nghiêncứu, những bài thảo luận, phê bình, bình luận viết về Tản Đà Qua thời gian,một số vấn đề đã đợc thống nhất, song vẫn còn rất nhiều vấn đề đang tiếp tục
đợc nghiên cứu và tìm hiểu Bên cạnh đó, nhiều khía cạnh còn cha đợc bànluận một cách rộng rãi và thấu đáo Tuy nhiên, đến nay hầu hết các bài viếtmới tìm hiểu thơ Tản Đà trên phơng diện nội dung Phơng diện hình thức củathơ Tản Đà cha đợc quan tâm nghiên cứu đúng mức trong đó có vấn đề về
“Đặc điểm ngôn ngữ thơ Tản Đà”
3 Từ thập niên 40 của thế kỷ XX, thơ Tản Đà đã đợc đa vào giảngdạy trong nhà trờng phổ thông và đại học Hiện nay, ở cấp trung học phổthông, thơ Tản Đà đợc chọn giảng bài “Thề non nớc” Đây là một trong
những bài thơ hay nhất của ông và cho đến nay vẫn có nhiều ý kiến tranhluận, cha đồng thuận Qua đó, chúng ta thấy rằng, Tản Đà là một tác giả cómột vị trí đặc biệt không chỉ trong lịch sử văn học dân tộc mà cả ở trong ch-
ơng trình giảng dạy văn học ở nhà trờng Với đề tài luận văn này, chúng tôi
hi vọng sẽ góp phần ít nhiều vào công việc giảng dạy, học tập về thơ văn Tản
Đà ở nhà trờng phổ thông và đại học
Với mong muốn tiếp tục đi sâu vào tìm hiểu, khám phá những nét
độc đáo, đặc sắc của ngôn ngữ trong thơ Tản Đà, chúng tôi lựa chọn và thựchiện đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ thơ Tản Đà” Ngời thực hiện luận văn hivọng có thể góp thêm một tiếng nói nhỏ trong việc tiếp cận thơ văn Tản Đàdựa trên mối quan hệ biện chứng, hữu cơ giữa nội dung và hình thức biểuhiện, giữa cá tính con ngời nhà văn và tác phẩm văn học
II Lịch sử vấn đề
Thơ văn Tản Đà có một lịch sử nghiên cứu phong phú, đa dạng từkhoảng 80 năm nay, kể từ khi Tản Đà xuất hiện trên văn đàn Tản Đà là mộttrong những hiện tợng văn học phức tạp của văn học Việt Nam; đó cũng là sựphản ánh cái phức tạp của thời đại Đã có nhiều công trình nghiên cứu vềTản Đà ở nhiều khía cạnh, nhiều phơng diện khác nhau nhng hầu nh còn cha
đầy đủ, đặc biệt còn có nhiều ý kiến trái ngợc nhau, cha thống nhất
Lịch sử nghiên cứu về thơ văn Tản Đà có thể chia làm 3 thời kỳ Khi
điểm lại các thời kỳ này, chúng tôi chú trọng đến các nhận định, nhận xét vềmặt hình thức, ngôn ngữ của thơ Tản Đà
1 Thời kỳ trớc cách mạng tháng Tám 1945
Tản Đà xuất hiện lần đầu tiên trên văn đàn năm 1916 với tập thơ
“Khối tình con I” đã gây đợc d luận, ảnh hởng mạnh mẽ Trên “Nam Phong
Trang 5tạp chí” số 7, (tháng 1 năm 1918), Phạm Quỳnh trong bài “Mộng hay mị” đã
có lời ca ngợi Tản Đà: “Nguyễn Khắc Hiếu từ khi xuất bản tập Khối tình con
đợc mấy bài thơ, văn, từ khúc có giọng mới, có ý lạ, đợc quốc dân nhiều ngời
cổ võ cũng là để tởng lệ, mong cho cái văn nghiệp của ông mỗi ngày tinhtiến mãi lên” Không ai khác, chính Phạm Quỳnh lại đả kích, phê phán cái
ngông của Tản Đà: “Mình đối với mình thì muốn ngông thế nào cũng đợc,
càng có cái sức tự tín mạnh lại càng hay, vì có biết cậy mình mới làm nên sựnghiệp Nhng đem cái ngông ấy ra mà phô diễn trong mấy chục tờ giấy thì
thực là quá đáng vậy”
Nh vậy, từ đầu thế kỷ cho đến trớc 1932 khi Thơ Mới cha xuất hiện,ngời phê bình, đánh giá về Tản Đà tuy không nhiều nhng thực tế từ đây, Tản
Đà đã bắt đầu trở thành một hiện tợng trên văn đàn Ông đã tạo nên một sự
ảnh hởng trong văn giới và sự say mê trong thế hệ học sinh Tây học.
Khi Thơ Mới xuất hiện và khẳng định đợc vị trí của mình thì Tản Đàtrở thành một hiện tợng đối lập và bị phê phán Tất cả sự quan tâm thu hút đãnghiêng về phía Thơ Mới, mọi ngời khép trí nhớ của mình về phía Tản Đà,
1939) Ngay báo Ngày nay, trớc kia nêu Tản Đà ra làm trò cời bao nhiêu, thì
từ khi thi sĩ từ trần lại càng tỏ ra kính trọng bấy nhiêu Các nhà Thơ Mới nh
đã hồi tâm lại, hối lỗi bởi sự quá khích của mình nên đã đứng về phía khẳng
định vị trí của Tản Đà trong nền văn học dân tộc Xuân Diệu không ngớt lời
ca ngợi: “Tản Đà sinh vào hồi giao thời, lúc thơ cổ tàn và thơ kim đơng phôiphai Tản Đà bắt đầu ca lên những điệu mới đầy rẫy hồn thơ” [12]
Một số nhà văn khác nh Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn CôngHoan, Khái Hng đã nhìn Tản Đà với “những nét cá tính ngang tàng, phóng
Trang 6túng, tài hoa, dị thờng” [51; 515] Lu Trọng L cũng viết về chân dung Tản
Đà với những phẩm chất nh vậy
Đặc biệt, Trơng Tửu không quá lời khi nói: “Trong thơ Tản Đà cónhiều chữ mà tôi muốn gọi là chữ thần Có đợc điều đó là bởi vì Tiên sinhhiểu kỹ then chốt bí mật của nó, hơn tất cả các thi sĩ hiện đại, tiên sinh nhận
đợc những giá trị thi tính của mỗi chữ, mỗi âm thanh, mỗi vần điệu, nh nhà
kỹ s tiên đoán đợc lực lợng và hiệu quả của từng luồng điện Thơ Tản Đà làmột toán pháp mà con số toàn là những hình tợng và âm điệu” [50].
Tiêu biểu hơn cả cho tiếng nói của thế hệ thi sĩ lãng mạn lớp sau đốivới Tản Đà là mấy dòng trang trọng của Hoài Thanh- Hoài Chân Thế hệ thi
sĩ này muốn nơng vào nhân cách và tài năng của Tản Đà để có một chút
“bình yên trong tin tởng”, để thấy họ “không phải là những quái thai của thời
đại, những đứa con thất cớc không có liên lạc gì với quá khứ của giống nòi”
[44; 11-12] Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng văn chơng của Tản Đà là tangchứng của “thời văn quốc ngữ còn đang phôi thai” [39]
Cũng trong năm 1942, Dơng Quảng Hàm nhấn mạnh một số đặc điểmcủa văn chơng Tản Đà vốn đã đợc nhiều ngời nói đến nh: ngôn ngữ, nhịp
điệu thơ nhẹ nhàng, Việt Nam thuần tuý Ông cho rằng, thơ của NguyễnKhắc Hiếu có “nhiều bài ca dao của ông thật không khác gì những lời ngâmnga, than thở tự thâm tâm ngời dân Việt Nam thổ lộ ra vậy” [19; 145] Còn
khi nhận xét về ngôn ngữ và nhịp điệu thơ Tản Đà, Dơng Quảng Hàm viết
“Lời thơ ông lại có một cái giọng nhẹ nhàng du dơng; cách dùng chữ (thờngdùng tiếng Nôm) và đặt câu lại uyển chuyển, êm đềm, nên thơ ông khiến chongời đọc dễ cảm động say mê, ông thực là một thi sĩ có tính cách Việt Nam
thuần tuý vậy” [19; 451-452] Ông còn nhấn mạnh tính ngông, phóng túngcủa Tản Đà và đa Tản Đà vào chơng trình dạy văn ở nhà trờng
ở giai đoạn này, Tản Đà đợc đánh giá rất cao, đợc tiếp nhận một cáchsâu sắc và đa chiều
2 Sau năm 1945 đến những năm 1980
Sau Cách mạng tháng Tám dân tộc ta lại tiếp tục bớc vào cuộc chiến
đấu chống sự xâm lăng của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Văn học giai đoạnnày chủ yếu để phục vụ cuộc kháng chiến, làm công tác t tởng Nó trở thành
vũ khí để đấu tranh cách mạng và trở thành tiêu chí để đánh giá văn học, nó
là đối tợng quan tâm số một của các nhà phê bình nghiên cứu
Trang 7Nguyễn Đính Chú trong “Tạp chí văn học” số 8 năm 1965 (trang 67)với bài “Tản Đà có yêu nớc hay không?” đã khẳng định lòng yêu nớc củaTản Đà Nhng một số tác giả khác lại không đồng nhất với nhận định trên.
Những năm 70 của thế kỷ XX, trên “Tạp chí văn học” xuất hiện cáccuộc tranh luận với ba loại ý kiến ý kiến thứ nhất cho rằng “Thề non nớc”của Tản Đà có cả hai chủ đề yêu nớc và tình yêu đôi lứa; ý kiến thứ hai chỉthừa nhận chủ đề yêu nớc; ngợc lại ý kiến thứ ba lại phủ nhận chủ đề yêu nớc
và khẳng định tình yêu đôi lứa Cuộc tranh luận vẫn không kết thúc và cha
có sự thống nhất giữa ba ý kiến trên
Đặc biệt là bài viết của Phạm Văn Diêu đăng trên Tạp chí văn học (Sài
Gòn) số 107-1970 đã đánh giá rất cao về phơng diện ngôn ngữ trong thơ Tản
Đà: “Ngôn ngữ trong thơ Tản Đà là một ngôn ngữ dân tộc, bình dị, trongsáng, duyên dáng, giàu khả năng gợi cảm, đạt tới mức điêu luyện” Ông đã
so sánh Tản Đà với Nguyễn Du “Sau Nguyễn Du, Tản Đà có lẽ là nhà thơ lụcbát đặc sắc nhất Nhờ trở lại với thể loại dân tộc này, Tản Đà nói chung đãlàm cho nghệ thuật thơ của mình thêm duyên dáng, trong sáng, đã khéo kếthợp đợc cái vẻ tơi tắn hồn nhiên giản dị của văn chơng dân gian với cái chấthoa lệ điêu luyện sẵn có của văn học cổ điển”
Tóm lại, thời gian này, Tản Đà đợc nghiên cứu khá nhiều và chủ yếutiếp cận ở vấn đề giai cấp, vấn đề yêu nớc và xoay quanh tác phẩm “Thề nonnớc” của ông
3 Thời kỳ từ 1980 đến nay
Cuối năm 1970 đầu năm 1980 Tản Đà không đợc bàn thêm trên báochí Khi viết lời giới thiệu cuốn “Tuyển tập Tản Đà” Xuân Diệu bên cạnhkhẳng định công của thi sĩ Tản Đà đã đa cái tôi cá nhân vào văn học thì cũng
đánh giá ngôn ngữ “Thơ Tản Đà thực là thơ Việt Nam, cả đến những bài thấtngôn bát cú đờng luật của ông cũng không chút gì gò gẫm khó khăn nh thơcác cụ nhà Nho thủa trớc Thi sĩ Tản Đà biết tiếng Việt Nam cũng đã tờngtận, mới viết đợc những khúc thơ thuần thục nh những lời ca của dân gian”[4; 63]
Năm 1984, Nguyễn Huệ Chi đã đánh giá Tản Đà là một hiện tợng độtxuất, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tạo, là một cây bút phóngkhoáng, một nhà thơ giao thời giữa hai thế kỷ Đặc biệt năm 1988, Khoa VănTrờng Đại học Tổng hợp đã tổ chức cuộc hội thảo khoa học kỷ niệm 100năm ngày sinh của thi sĩ Tản Đà Cuộc hội thảo này xuất hiện thêm một sốbài phê bình, nghiên cứu mới về Tản Đà (của Lê Chí Dũng, Nguyễn Hữu
Trang 8Sơn, Đức Mậu ) tất cả đều khẳng định vị trí của Tản Đà ở giai đoạn văn họcViệt Nam cận đại.
Qua lịch sử tìm hiểu, tiếp cận Tản Đà chúng ta có thể kết luận rằng vớilịch sử nghiên cứu khoảng 80 năm, Tản Đà đợc đánh giá khá sâu sắc từnhiều góc độ, bình diện khác nhau nhng chủ yếu trên phơng diện nội dung.Còn trên phơng diện hình thức, cụ thể là “Đặc điểm ngôn ngữ thơ Tản Đà”thì chỉ có một vài ý kiến nhỏ lẻ, cha có một chuyên luận nào đi sâu khảo sáttoàn diện thơ Tản Đà dới góc độ ngôn ngữ Do vậy, ngôn ngữ thơ Tản Đà vẫncòn là một đề tài bỏ ngỏ, hấp dẫn cho nhiều nhà nghiên cứu, phê bình vănhọc và những ngời quan tâm yêu thích thơ ông
III Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của đề tài
Nghiên cứu Tản Đà- một tác giả tiêu biểu của văn học buổi giao thời,
để phân biệt Tản Đà với các tác giả khác đồng thời giúp chúng ta hiểu sâuhơn nội dung và tính chất của văn học đầu thế kỷ
3.2 Nhiệm vụ và đối tợng nghiên cứu
a, Nhiệm vụ
Luận văn đi vào giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu ngôn ngữ thơ Tản Đà về phơng diện hình thức
- Nghiên cứu ngôn ngữ thơ Tản Đà về phơng diện ngôn ngữ thể hiệnnội dung
- Bớc đầu xác định những biểu hiện “giao thời” trong thơ Tản Đà vềhình thức và nội dung
b, Đối tợng nghiên cứu
Luận văn này tập trung kháo sát các bài thơ trong “Tuyển tập Tản Đà”(NXB Văn học, H 1986) (Trừ các bài thơ chữ Hán, các bài thơ cha rõ xuất
xứ và thơ do Tản Đà dịch- ở sách trên)
Cụ thể, luận văn khảo sát 148 bài thơ viết bằng tiếng Việt của Tản Đàtrong các tập thơ sau:
- Tản Đà văn tập (1912-1915) : 7 bài
- Khối tình con I (1916): 35 bài
- Khối tình con II (1918): 28 bài
- Còn chơi (1920-1925): 31 bài
- Thơ trên báo và An Nam tạp chí: 47 bài
IV Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng chủ yếu các phơng pháp sau:
Trang 9- Phơng pháp thống kê - phân loại.
- Phơng pháp phân tích - tổng hợp
- Phơng pháp so sánh - đối chiếu
V Cái mới của đề tài
Chúng tôi hi vọng đây là một trong những luận văn đầu tiên cố gắng
đi vào tìm hiểu, nghiên cứu ngôn ngữ thơ Tản Đà một cách toàn diện cả vềphơng diện nội dung lẫn phơng diện hình thức góp phần vào việc giảng dạythơ Tản Đà ở nhà trờng phổ thông và đại học đợc tốt hơn
VI Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần nội dung của luận văn bao gồm
ba chơng:
Chơng I: Một số giới thuyết chung
Chơng II: Đặc điểm hình thức của ngôn ngữ thơ Tản Đà
Chơng III: Đặc điểm ngữ nghĩa của ngôn ngữ thơ Tản Đà
đề tài về tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ thơ của một tác giả
Thơ là một thể loại văn học thuộc phơng thức biểu hiện trữ tình Bảnchất của thơ ca rất phong phú, đa dạng và có nhiều biến thái Sự tác động của
Trang 10thơ ca đối với ngời đọc cũng bằng nhiều con đờng khác nhau Thơ có thể tác
động đến ngời đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, bằng khả năng gợi cảm sâusắc và cũng có thể vừa tác động trực tiếp với nhiều cảm xúc, suy nghĩ, vừabằng sự rung động của ngôn từ, nhạc điệu Chính vì bản chất phức tạp vốn cócủa thơ ca mà ngời ta đa ra nhiều cách lý giải khác nhau, thậm chí trái ngợcnhau về bản chất của thơ ca Nhìn chung, có một số khuynh hớng chủ yếusau:
Thứ nhất, thần thánh hoá thơ ca, xem bản chất của thơ ca là tôn giáo
và cho rằng hoạt động sáng tạo thơ ca gắn với một cái gì đó thiêng liêng,huyền bí Các nhà nghiên cứu thờng lý tởng hoá thơ ca hoặc đối lập một cáchcực đoan giữa thơ ca với hiện thực cuộc sống Cụ thể là Platông xem bảnchất của thơ ca thể hiện trong linh cảm- những cảm giác thiêng liêng nhấtgiữa thế giới cao xa của thần thánh và thế giới con ngời Thơ chính là trunggian có năng lực cảm giác và biểu đạt
ở Việt Nam chúng ta, từ những năm đầu của thế kỷ XX, đời sống xãhội có nhiều biến đổi sâu sắc Do ảnh hởng của nền văn hoá phơng Tây, đặcbiệt là văn hoá Pháp, đã xuất hiện một lớp công chúng mới, với thị hiếu vàquan niệm mới Trên tuần báo “Ngày nay” xuất bản năm 1937, Thế Lữ viết:
“Thơ, riêng nó phải có sức gợi cảm bất cứ trong trờng hợp nào”
Các quan niệm đều muốn nâng cấp thơ ca lên nh một công việc, sảnphẩm thiêng liêng, nh một thứ đạo - đạo sáng tác và ngời sáng tác cùng cóchung một thứ đạo
Thứ hai, giải thích bản chất của thơ ca xuất phát phát từ việc gắn sứmệnh của thơ với đời sống xã hội Cuộc sống chính là mảnh đất phù sa màu
mỡ, là chất hơng nồng của thơ ca Do vậy, ngời nghệ sĩ phải biết bám sátcuộc sống, khai thác chủ đề, t tởng ngay trong lòng cuộc sống Không cócuộc sống thì không có thơ ca
Thứ ba, giải thích thơ ca xuất phát từ vấn đề đồng cảm trong thơ Cáctài tử giai nhân xa kia vẫn thờng đi tìm cho mình những ngời bạn tri âm đểthẩm bình và thởng thức âm nhạc, thơ ca
Thứ t, hình thức hoá thơ ca, xem bản chất thơ thuộc về những nhân tốhình thức So với các loại văn học nghệ thuật khác, thơ tự bộc lộ mình bằngchính ngôn ngữ của đời sống một cách trực tiếp, không có sự hỗ trợ nào của
sự kiện, cốt truyện, tình huống Từ tiếng nói quen thuộc của đời sống, ngônngữ thơ ca đã tạo nên cho mình những năng lực kỳ diệu Ngôn ngữ thơ ca đ-
ợc một số nhà nghiên cứu đẩy lên bình diện thứ nhất, xem bản chất thơ ca
Trang 11thuộc về những nhân tố hình thức Theo bách khoa thần giáo Nui-ca-lô-lic,thơ trớc hết và sau cùng là cuộc hành trình trọn vẹn của ngôn từ, là cuộc đờicủa ngôn từ Một bài thơ là “những ngôn từ sáng giá đúng trong những trật tựhoàn hảo”
Tuy vậy, hạn chế của khuynh hớng này là nhìn nhận, đánh giá bảnchất thơ ca còn quá chủ quan, phiến diện Vì quá tuyệt đối hoá yếu tố hìnhthức, vô hình chung khuynh hớng này đã hạ thấp và đa nội dung xuống bìnhdiện thứ yếu
Các nhà nghiên cứu: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã
đa ra một định nghĩa mang tính khái quát: thơ là “Hình thức sáng tác vănhọc phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽbằng ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [18; 262]
Định nghĩa này đã cho chúng ta một cái nhìn đầy đủ, bao quát đặc trng củathơ về nội dung phản ánh cũng nh phơng thức phản ánh
Tuy các định nghĩa về thơ khác nhau ở góc nhìn, nhng đều có những
điểm thống nhất về đặc điểm của thơ, đó là:
- Có hệ thống ngôn từ
- Có nhịp điệu, vần điệu
- Thể hiện cảm xúc riêng bằng hình ảnh
1.1.2 Sự khác nhau giữa thơ và văn xuôi
Thơ và văn xuôi là hai kiểu tổ chức ngôn từ nghệ thuật mà sự khácnhau thuần tuý bề ngoài trớc hết ở cơ cấu nhịp điệu Nhịp điệu ở thơ đợc tạo
ra do sự phân chia (theo những qui tắc mang tính số lợng) dòng ngôn từ tácphẩm thành những ngữ đoạn vốn không trùng hợp với sự phân chia dòngngôn từ theo qui tắc cú pháp Dòng ngôn từ ở văn xuôi đợc phân chia thànhnhững câu và đoạn văn vốn có ở lời nói thờng ngày, nhng đã đợc tu chỉnh lại.Tuy nhiên, nhịp điệu của văn xuôi là hiện tợng phức tạp, khó thấy và cha đợcnghiên cứu kỹ
Trong khi văn xuôi thể hiện t tởng, tình cảm của tác giả bằng con đờngtái hiện một cách khách quan các hiện tợng đời sống thì thơ lại phản ánh đờisống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con ngời, nghĩa là con ngời tựcảm thấy mình qua những ấn tợng, ý nghĩa cảm xúc chủ quan của mình đốivới thế giới và nhân sinh Thơ cũng tái hiện đời sống trực tiếp, miêu tả thiênnhiên hoặc thuật lại ít nhiều sự kiện tơng đối liên tục (nh: “Ma xuân”-Nguyễn Bính, “Quê hơng”- Giang Nam, “Núi đôi”- Vũ Cao), song sự tái
Trang 12hiện này không mang mục đích tự thân mà tạo điều kiện để chủ thể bộc lộnhững cảm xúc, chiêm nghiệm, suy tởng của mình.
Tác phẩm văn xuôi thờng có cốt truyện và hành động Gắn liền với cốttruyện là một hệ thống nhân vật đợc khắc họa đầy đủ Thơ thờng không cócốt truyện; bài thơ thể hiện một tâm trạng nên dung lợng của nó thờng ngắn(vì một trạng thái tâm trạng không thể kéo dài)
Trong thơ, cái tôi trữ tình giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, thờng xuấthiện dới dạng nhân vật trữ tình Còn ở văn xuôi thì nguyên tắc phản ánh hiệnthực trong tính khách quan đã đặt trần thuật vào vị trí là nhân tố tổ chức rathế giới nghệ thuật của tác phẩm, nó đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo ra hình t-ợng ngời trần thuật
Thơ là tiếng nói bộc bạch làm việc trên trục dọc (trục lựa chọn, thaythế, tơng đồng, qui chiếu, trục của các ẩn dụ); còn văn xuôi là tiếng nói đốithoại làm việc trên trục ngang (trục kết hợp, trục tuyến tính) Trong thơ trữtình chỉ có một kiểu lời nói duy nhất thống lĩnh toàn bộ thế giới nghệ thuật:kiểu lời độc thoại trực tiếp của nhân vật trữ tình (hoá thân của chủ thể trongtác phẩm) ở đó, tính tơng đồng của các đơn vị ngôn ngữ đợc dùng để xâydựng các thông báo Thơ sử dụng nhiều hình ảnh, nhiều từ tơng đơng, từ
đồng nghĩa để diễn tả một tâm trạng, một suy t
Không gian trên trang giấy in thơ có nhiều khoảng trắng hơn trang invăn xuôi Đặc điểm này cho thấy, thơ nói ít mà chứa đựng nhiều nghĩa, thơ làvăn bản không liên tục, nó còn có nhiều khoảng “lặng” Chính nhữngkhoảng trắng ấy là nơi chất thơ lan toả, là nơi tràn ngập t duy, cảm xúc vàhiển nhiên lợng ngôn từ còn lại là tinh chất đã đợc gạn lựa, chắt lọc côngphu
Trong văn xuôi, ngôn từ mang tính miêu tả (tạo hình), nó ít tập trungvào chính nó, trong khi đó ở thơ thì không thể tách rời ngôn từ ở văn xuôi,ngôn từ còn trở thành đối tợng miêu tả, nó nh là “lời của kẻ khác”, khôngtrùng với lời của tác giả ở thơ, ngôn từ duy nhất là của tác giả và của nhânvật cùng kiểu với tác giả Thơ mang tính độc thoại, trong khi đó văn xuôithiên về tính đối thoại, nó thu hút vào mình những “giọng nói” không trùngnhau ở văn xuôi nghệ thuật, sự tơng tác phức tạp giữa các giọng nói (của tácgiả, của ngời kể chuyện, của các nhân vật) nhiều khi khiến ngôn từ trở nên
đa hớng, đa trị- tính đa trị này khác về bản chất so với tính đa nghĩa củangôn từ thơ ca
Trang 13Văn xuôi nghệ thuật và thơ đều cải biến các khách thể thực tại và xâydựng thế giới nghệ thuật của mình, nhng văn xuôi thực hiện điều này trớc hếtbằng việc thiết định theo cách riêng các khách thể và hành động, hớng tớitính cụ thể cá nhân của các hàm nghĩa biểu đạt.
Có những hình thức trung gian giữa thơ và văn xuôi: thơ văn xuôi, vănxuôi nhịp điệu Đôi khi thơ và văn xuôi xuyên thấm lẫn nhau (ví dụ văn xuôitrữ tình) hoặc chứa đựng trong nhau những mảng văn bản “dị loại” (tác phẩmthơ có những mảng văn xuôi, tác phẩm văn xuôi có những đoạn thơ xen kẽ,của các nhân vật hoặc của tác giả)
1.1.3 Ngôn ngữ thơ
Thơ là một thể loại thuộc sáng tác văn học Vì vậy, ngôn ngữ thơ trớchết phải là ngôn ngữ văn học, có nghĩa là ngôn ngữ mang tính nghệ thuật đợcdùng trong văn học Do sự tổ chức ngôn ngữ trên cơ sở của hệ thống nhịp
điệu, đảm bảo tính chất tối đa về nghĩa trên một đơn vị diện tích ngôn ngữchật hẹp, lại mang sắc thái chủ quan của ngời viết, trong một mức độ cầnthiết đã tạo cho ngôn ngữ thơ ca những phẩm chất đặc biệt
Ngôn ngữ thơ ca là đỉnh cao của sự chắt lọc, là sự biểu hiện tập trungtính chất hàm xúc, mỹ lệ, phong phú của ngôn ngữ Ngôn ngữ thơ phải cô
đọng, giàu cảm xúc biểu hiện Mỗi từ ngữ, hình ảnh trong thơ đều phải kếttinh đợc một dung lợng lớn về cuộc sống, tạo nên những tín hiệu thẩm mỹ cósức ám ảnh, mê hoặc ngời đọc Đó là sự “trình bày hình thức ngắn gọn vàsúc tích nhất đối với các tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các qui luật phối
âm riêng của từng ngôn ngữ, nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và kháiquát nhất dới dạng các hình tợng nghệ thuật” [14]
ở phạm vi thể loại, ngôn ngữ thơ đợc hiểu là một chùm đặc trng ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu tợng hoá, khái quát hoá hiện thực kháchquan theo cách tổ chức riêng của thơ ca Đó là “một cách tổ chức ngôn ngữhết sức quái đản bắt ngời tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc, và phải suy nghĩ
do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này” [37; 23] Điều ấy, chỉ có đợc trongthơ chứ không có ở bất kỳ một thể loại nào khác trong văn học Hình thức tổchức đặc biệt của thơ làm cho cái đợc nội cảm hoá không chỉ là ý nghĩa, cảmxúc đợc biểu hiện mà còn là chính bản thân ngôn từ Ngời đọc thơ không chỉlĩnh hội cái điều mà nhà thơ muốn nói ra, mà còn tiếp nhận trọn vẹn hìnhthức ngôn từ của bài thơ Ngợc lại, trong văn xuôi không thể cung cấp cho tamột sự lĩnh hội tuyệt đối nh thế, bởi cái ý nghĩa đợc biểu hiện của văn xuôi
tự sự mới là mục đích duy nhất, ngôn từ chỉ đóng vai trò nh một chất liệu có
Trang 14tính tơng đối Trong thơ ca, hình thức tổ chức ngôn từ không chỉ là phơngtiện mà còn đợc coi nh mục đích, bắt ngời đọc phải nhớ mãi Bởi nếu ngời
đọc quên ngay hình thức diễn đạt thì không thể cảm xúc và suy nghĩ đợc
Ngôn từ trong thơ không dày đặc nh trong văn xuôi mà chia cắt thànhnhiều phần ngắn hay dài theo âm luật Ngôn ngữ thơ đợc tổ chức có vần, cónhịp, có cắt mạch, có số lợng âm tiết, có đối, có số câu, có niêm luật, có sựvận dụng về trọng âm và trờng độ theo một mô hình cực kỳ gắt gao
Ngôn ngữ thơ cũng là ngôn ngữ tập trung đậm đặc các biện phápnghệ thuật tu từ: so sánh, ẩn dụ, nhân hoá, đảo ngữ tạo nên những hình ảnhtợng trng, gợi lên những liên tởng phong phú
Chính nhờ cách tổ chức ngôn ngữ độc đáo ấy mà ngoài ngữ nghĩathông báo của bài thơ, ta còn có những ngữ nghĩa khác Điều đó làm nên tính
đa tầng ý nghĩa của thơ, giúp nhà thơ chuyển tải tối đa sự phức tạp, tinh tế vôcùng của tâm trạng, tình cảm con ngời trong sự hữu hạn của câu chữ
Do hình thức đặc biệt trên nên ngôn ngữ thơ luôn gây đợc ấn tợng cảmxúc mạnh mẽ cho ngời đọc, ngời tiếp nhận Cái mới lạ, bất ngờ của tổ chứcngôn ngữ thơ bắt ngời đọc phải suy nghĩ, giải mã với khao khát chiếm lĩnhtrọn vẹn nội dung lẫn hình thức
Thanh điệu là “hiện tợng nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói trong một
âm tiết Trong tiếng Việt có 6 thanh điệu có tác dụng khu biệt vỏ âm thanhcủa từ, cho nên có vai trò và chức năng nh một âm vị và đợc gọi là âm vị thanh điệu Mỗi thanh điệu đợc xác định bằng một chùm các tiêu chí khu
biệt về âm vực, về âm điệu, về đờng nét” [52; 265]
Các âm sắc bổng dùng để gợi những hình ảnh lãng mạn, nhẹ, những vịtrí cao sang, những màu tơi; các âm trầm dùng để gợi những hình ảnh to,nặng, những vị trí thấp, tối Nghe những từ láy nh: phập phồng, phần phật, lắc la lắc l, líu la líu lo có lẽ, ai cũng có thể hình dung những từ đó mô tả
Trang 15trạng thái của của sự vật Ta thấy rằng, thanh không dấu diễn tả một trạngthái thật dàn trải, mênh mông, lững lờ:
Sơng nơng theo trăng ngừng lng trờiTơng t nâng lòng lên chơi vơi
(Nhị hồ - Xuân Diệu)Thanh huyền có thể gợi lên một cái gì kéo dài, âm thầm, u buồn:
Sè sè nắm đất bên đờngRầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)Thanh sắc có thể gây ấn tợng đột ngột, dứt khoát hoặc cao sang:
- Chí cha chí chát khua giày dép
(Tú Xơng)Thanh ngã có thể hình dung ra một cái gì đó kéo dài chới với:
- Công chúa đã đi rồi non nớc hỡi!
(Huyền Trân công chúa- Huy Thông)Nghiên cứu văn học bình dân và văn học cổ điển Việt Nam, ta thấynhững thi sĩ đều đã tận dụng khả năng gợi tả thần tình của 6 thanh tiếng Việt.Thấm nhuần nhạc tính của dân tộc, Tản Đà cũng kế thừa truyền thống đó
b, Vần điệu thơ
Thơ ca nớc ta chịu ảnh hởng của thơ ca Trung Quốc, nên vần luậttrong thơ luôn gắn bó chặt chẽ với nhau ở góc độ thủ pháp, vần là yếu tốhoà phối âm thanh quan trọng làm nên nghệ thuật thi ca
Theo Hêghen, vần là do nhu cầu thực sự của tâm hồn Với cách hiểu
đó, vần là một lĩnh vực quan trong của ý nghĩa, cảm xúc và âm thanh trongthơ Ngời gieo vần thơ luôn phải chịu hai áp lực: ý nghĩa và âm thanh
Vần là một “phơng tiện tổ chức văn bản thơ dựa trên cơ sở sự lặp lạikhông hoàn toàn các tiếng ở những vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạonên tính hài hoà và liên kết của dòng thơ và giữa các dòng thơ”[18; 362]
Là một hiện thợng phổ biến trong thơ nên vần thơ luôn là đối tợngnghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu Cách hiểu về vần có nhiều góc độkhác nhau, nhng chủ yếu ngời ta đều thống nhất vần là sự lặp lại nhiều yếu
tố ngôn ngữ, tạo nên sự hoà kết âm thanh trong câu thơ, bài thơ với mục đíchthẩm mỹ
Khi nghiên cứu vần thơ Việt Nam, một số nhà nghiên cứu nh: ĐinhTrọng Lạc, Nguyễn Nguyên Trứ, Cù Đình Tú có chú ý đến cơ chế gợi nghĩacủa các vần thơ Ví dụ: vần “eo” gợi cái gì đó bé lại, teo lại: eo sèo, tẻo teo,
Trang 16cheo leo Vần “ênh” thờng diễn đạt cái gì không vững vàng, không chắcchắn: lên đênh, bồng bềnh, lênh khênh, chênh vênh
Vần trong thơ Việt Nam có nhiều loại khác nhau: vần chân, vần lng,vần liền, vần cách
Trong văn học trung đại, do vần luật gắn chặt với nhau nên cách gieovần thờng thống nhất trong một văn bản thơ Trong thơ hiện đại, một văn bảnthơ có thể chấp nhận nhiều cách gieo vần khác nhau
c, Nhịp điệu thơ
Bùi Công Hùng cho rằng: “nhịp điệu trong thơ xuất hiện trên cơ sởnhịp điệu lao động Nhịp điệu là hơi thở của con ngời, là nhịp đập của tráitim Nó lặp lại đều đặn, nhịp nhàng những đoạn tiết tấu đợc qui luật thanh
điệu chi phối” [20]
Nhịp điệu là “Một phơng tiện quan trọng để cấu tạo hình thức nghệthuật trong văn học, dựa trên sự lặp lại có tính chất chu kỳ, cách quãng hoặcluân phiên của các yếu tố có quan hệ tơng đồng trong thời gian hay quá trìnhnhằm chia tách và kết hợp các ấn tợng thẩm mỹ” [18; 205]
Nh vậy, nhịp điệu là kiểu tổ chức của ngôn ngữ thơ ca, là phơng tiện
để biểu đạt ý nghĩa, biểu đạt cảm xúc và làm nên giọng điệu của thơ ca
Từ những quan niệm chung nhất về nhịp điệu, chúng ta dễ dàng nhậnthấy, nhịp điệu trong thơ là tất yếu và nó mang tính qui luật Trong thơ dângian và thơ trung đại, ngời ta thờng bắt gặp cách ngắt nhịp 2/2/2, 3/3, 4/4hoặc 4/3 Cách ngắt nhịp 2/2, 3/3, 4/4 phổ biến trong thơ lục bát; cách ngắtnhịp 4/3 thờng thấy trong thơ thất ngôn:
Trong thơ trung đại, nhịp thơ hầu hết đợc qui định tơng đối chặt chẽ.Còn ở thơ hiện đại, nhịp điệu rất tự do, dờng nh không theo một qui luật nào.Nhịp trong thơ càng đa dạng bao nhiêu thì khả năng biểu cảm càng chínhxác, phong phú bấy nhiêu:
Nhịp thơ không chỉ gắn với cảm xúc, mà cách ngắt nhịp trong thơ gắnvới sự phong phú về ý nghĩa Có thể tuỳ cách ngắt nhịp mà câu thơ tạo nghĩa:
-Lá phong đỏ/ nh mối tình đợm lửaHoa cúc vàng/ nh nỗi nhớ dâu da (1)-Lá phong/ đỏ/ nh mối tình đợm lửaHoa cúc/ vàng/ nh nỗi nhớ dâu da (2)Trong cách ngắt nhịp (1) mang một màu sắc hiền hoà, nhẹ nhàng hơncách ngắt nhịp thứ (2) nhấn mạnh màu đỏ của lá, màu vàng của hoa Tuỳtheo mức độ tình cảm mà ngời ta chấp nhận cách ngắt nhịp nào cho hợp lý
Trang 17Ngắt nhịp là một thao tác khó, nó đòi hỏi ngời đọc thơ vừa phải nắmvững tổ chức ngôn ngữ, vừa phải thấu đáo cảm xúc và ý nghĩa, lại vừa phải
có một cảm quan nghệ thuật sâu sắc ở lĩnh vực ngôn ngữ học, nhịp thơ làmột tổ chức tinh vi và diệu kỳ của ngôn ngữ thơ Nhịp điệu là bớc đi củangôn ngữ nhạc tính, rung lên nhịp đập của ngôn ngữ trái tim
1.1.4.2 Các lớp từ ngữ có màu sắc biểu cảm trong thơ ca
Việt Nam
a, Lớp từ Hán- Việt và lớp từ thuần Việt
Từ Hán- Việt là từ mợn ở tiếng Hán, phát âm theo cách Việt Nam (qui
ớc thời Đờng Tống)
Từ thuần Việt là “những từ đợc dân tộc ta dùng từ thợng cổ đến nay.Những từ thuần Việt có quan hệ đến vốn từ vựng cơ bản của nhiều ngôn ngữ
Đông Nam á nh tiếng Thái, tiếng Môn Khơme” [52; 394]
Ngày nay, trong kho từ ngữ tiếng Việt vẫn đang tồn tại hàng loạt cặp
từ thuần Việt và Hán - Việt đồng nghĩa biểu vật và biểu niệm nhng khácnhau về nghĩa biểu thái, về màu sắc biểu cảm, cảm xúc, bình giá, phongcách
Về sắc thái ý nghĩa giữa từ Hán Việt và từ thuần Việt là: từ Hán Việt có sắc thái ý nghĩa trừu tợng, khái quát nên mang tính chất tĩnh tại,không gợi hình, không mang tính chất miêu tả sinh động Từ thuần Việt do
-có sắc thái ý nghĩa cụ thể nên mang tính chất sinh động, gợi hình Ta -có thểthấy rõ điều này qua sự so sánh giữa từ Hán - Việt và từ thuần Việt: thảo mộc
- cây cỏ, thi hài - xác chết, viêm - loét, thổ huyết - hộc máu
Khác nhau giữa từ Hán - Việt và thuần Việt về màu sắc biểu cảm- cảmxúc: từ Hán - Việt mang sắc thái trang trọng, thanh nhã, trong khi đó từthuần Việt mang sắc thái thân mật, trung hoà Ta thấy rõ qua sự so sánh các
từ Hán - Việt và thuần Việt: phu nhân - vợ (khác nhau về sắc thái trang trọng
và trung hoà); hi sinh - chết (sắc thái cao quí, trang trọng và trung hoà); tạthế - mất (sắc thái trang trọng và thân mật)
Từ Hán - Việt có màu sắc phong cách gọt giũa và thờng đợc dùngtrong phong cách khoa học, chính luận, hành chính Từ thuần Việt có màusắc đa phong cách, một số thích hợp với tất cả các phong cách tiếng Việt,một số chỉ thích hợp với phong cách sinh hoạt So sánh một số từ Hán - Việt
và thuần Việt nh: phát biểu - nói (khác nhau về màu sắc gọt giũa và màu sắc
đa phong cách); sơn hà - núi sông (gọt giũa và đa phong cách); từ trần - bỏxác (gọt giũa và khẩu ngữ)
Trang 18Một hệ quả trực tiếp của sự khác nhau về màu sắc phong cách nói trên
là sự đối lập giữa hai tính chất: cổ kính, không thông dụng của từ Hán - Việt;hiện đại, thông dụng của từ thuần Việt So sánh các từ thuần Việt và từ Hán -Việt nh: quan sơn- xa xôi, thiên thu - mãi mãi, huynh đệ - anh em, bằng hữu
- bạn bè
Giữa từ Hán- Việt và từ thuần Việt thuộc hai phong cách hoàn toànkhác nhau, nếu ai biết tận dụng và khai thác khả năng biểu cảm của từng lớp
từ một cách hợp lý, thì không chỉ tăng khả năng biểu cảm của từ tiếng Việt
mà còn là con đờng ngắn nhất đến trái tim ngời tiếp nhận
b, Lớp từ láy
Từ láy là “những từ đợc cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theonhững qui tắc nhất định, sao cho giá trị giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa
đối, hài hoà với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị tợng trng hoá” [26; 33]
Các từ láy có thể phân thành từng kiểu khác nhau căn cứ vào cách hoàphối ngữ âm và số lần tác động của phơng thức láy
Căn cứ vào cách hoà phối ngữ âm, có thể phân biệt hai kiểu từ láy:+ Từ láy bộ phận chia làm hai loại:
- Lặp lại phụ âm đầu: chắc chắn, ngấm nguýt, chí choé
- Lặp lại phần vần: lòng vòng, bẻo lẻo, chạng vạng
+ Từ láy toàn bộ: đùng đùng, xơng xơng, ngây ngây
Căm cứ vào số lần tác động của phơng thức láy, có thể phân biệt cáckiểu từ láy:
+ Từ láy đôi: gọn gàng, vững vàng, đỏ đắn
+ Từ láy ba: sạch sành sanh, tẻo tèo teo, dửng dừng dng
+ Từ láy t: nhí nha nhí nhảnh, khấp kha khấp khểnh
Từ láy có những đặc trng ngữ nghĩa riêng nh: giá trị đặc trng, sắc tháihoá, chuyên biệt hoá về nghĩa
Những nhà thơ lớn của dân tộc đều sử dụng từ láy một cách rất khéoléo
Nguyễn Du tả cảnh du xuân đã dùng các từ: dập dìu, ngổn ngang, tà
tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ, sè sè, rầu rầu đã làm cho bức
tranh thiên nhiên trở nên sinh động
Nguyễn Khuyến rất tài khai thác khả năng diễn tả của từ láy: thấp le
te, đom đóm lập loè, bé tẻo teo, tiếng sáo ve ve, thằng bé lom khom Và bóng
trăng trên mặt ao rung động đợc nhà thơ ghi lại một cách thần tình bằng một
từ láy: “Làn ao lóng lánh bóng trăng loe”.
Trang 19Do khả năng biểu cảm của từ láy rất phong phú những nhà văn, nhàthơ lớn đều tận dụng và khai thác tiềm năng to lớn của từ láy trong văn ch-
ơng của mình để tìm đến tiếng nói gần gũi của dân tộc
1.1.4.3 Các biện pháp tu từ phổ biến trong thơ
a, So sánh (tỉ dụ)
So sánh là “phơng thức biểu đạt bằng ngôn từ một cách hình tợng dựatrên cơ sở đối chiếu hai hiện tợng có những dấu hiệu tơng đồng nhằm làmnổi bật đặc điểm, thuộc tính của hiện tợng này qua đặc điểm, thuộc tính củahiện tợng kia” [18; 237]
So sánh tu từ khác với so sánh lôgíc ở tính hình tợng, tính biểu cảm,tính dị loại (không cùng loại) của sự vật
Trong ngôn ngữ, vế đợc so sánh có một tiền giả định làm chuẩn mực
đã đợc khẳnh định, không hoàn toàn đồng nhất với cái so sánh Mọi so sánhtrong ngôn ngữ đều khập khiễng, đó là hiện tợng khúc xạ của ngôn ngữ.Trong so sánh tu từ, hiện tợng khúc xạ còn tăng nhiều lần vì còn mang sắcthái chủ quan của ngời so sánh Chính sự thái qúa cảm xúc đã nâng hình t-ợng vợt hẳn lên mức độ của so sánh thông thờng
Hình thức đầy đủ nhất của phép so sánh tu từ gồm 4 yếu tố:
Trong so sánh văn học, so sánh là phơng thức tạo hình, phơng thức gợicảm Một so sánh đẹp là một so sánh phát hiện những gì ngời thờng khôngnhìn ra, không nhận thấy “Sức mạnh của so sánh là nhận thức” (Paolơ) Tàinghệ của ngời sáng tạo ở chỗ, phát hiện nét giống nhau, chính xác, bất ngờ
và diễn tả bằng hình ảnh với một lối cảm nhận mới mẻ về đối tợng, qua đóbiểu hiện một tình cảm, một thái độ đánh giá “Nghệ thuật là ngôn ngữ của
sự liên hội và so sánh nghệ thuật là đôi cánh giúp chúng ta bay vào thế giớicủa cái đẹp, của tởng tợng hơn là đến ngỡng cửa lôgíc học” (Nguyễn TháiHoà)
b, ẩn dụ
Trang 20ẩn dụ là “phơng thức tu từ dựa trên cơ sở đồng nhất hai hiện tợng tơng
tự, thể hiện cái này qua cái kia, mà bản thân cái đợc nói tới thì giấu đi mộtcách kín đáo” [18; 11]
Thuyền về có nhớ bến chăngBến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
(Ca dao) “Thuyền” và “bến” chỉ ngời con trai và con gái, ngời đi- ngời đợi
“Thuyền” là yếu tố vô định, có thể ghé bến khác, còn “bến” thì không didịch
ẩn dụ thực chất là so sánh ngầm, trong đó vế so sánh đợc giảm lợc đi,chỉ còn lại vế đợc so sánh Phép ẩn dụ là phơng thức chuyển nghĩa của một
đối tợng này thay cho một đối tợng khác khi hai đối tợng có một chút nghĩatơng đồng nào đó
ẩn dụ không chỉ có giá trị, phơng tiện xây dựng hình tợng mà cònhàm chứa sức mạnh biểu cảm, sức mạnh bình giá khen chê ẩn dụ thể hiệnnhững hàm ý mà ngời đọc phải suy ra mới hiểu đợc Nghệ thuật ngôn ngữ tr-
ớc hết là nghệ thuật tạo nên những mối liên tởng giữa các yếu tố riêng lẻ làmthành tác phẩm, nhằm sử dụng một cách mỹ học chiều dày của chất liệungôn ngữ ẩn dụ trở thành một kiểu mã hoá cơ bản của các phơng thức tổchức kép, các lợng nghĩa, làm nên nội dung chủ yếu trong thi ca
c, Nhân hoá
Nhân cách hoá là những ẩn dụ, khi chuyển đổi từ những vật vô sinhsang hữu sinh, từ thế giới vật chất sang thế giới của con ngời Nhân hoá làbiến thể của ẩn dụ, biểu hiện thuộc tính dấu hiệu của đối tợng không phải làngời Nhân hoá làm đối tợng đợc miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn, làmcho ngời nói có thể bày tỏ kín đáo tâm t, thái độ của mình
Nhân hoá về hình thức đợc cấu tạo theo hai cách:
+ Dùng từ chỉ tính chất, hành động của ngời để biểu thị tính chất, hoạt
động của đối tợng khác ngời
+ Coi đối tợng khác ngời nh ngời trò chuyện với chúng
Về nội dung, nhân hoá là sự liên tởng nhằm phát hiện ra nét giốngnhau giữa đối tợng khác ngời và ngời Cái lôgíc ở đây là lôgíc chủ quan, nh-
ng cái lôgíc ấy phải đợc xã hội chấp nhận Nhân hoá là cách đa đối tợngkhông phải là ngời sang thế giới con ngời Đối tợng không phải là ngời đợckhoác áo con ngời, nên chúng tạo ra những bất ngờ, gần gũi và dễ hiểu Quanhân hoá, ngời ta thờng bày tỏ kín đáo tâm t của mình, thái độ đánh giá của
Trang 21mình với đối tợng đợc miêu tả Có khi nhân hoá đợc dùng làm phơng tiện,làm cái cớ để con ngời giãi bày tâm sự.
1.2 Thơ Tản Đà trong nền thơ ca Việt Nam
1.2.1 Quan niệm văn học của tản đà và thi phẩm
của ôngBớc vào tao đàn văn học, Tản Đà đã khẳng định vị trí của mình bằngmột khối lợng tác phẩm rất đáng tự hào Ông đã để lại một sự nghiệp vănhọc mà không ít nhà văn phải mơ ớc Bởi vì, trong quan niệm sống của mìnhTản Đà có suy nghĩ “Đã gọi là thằng ngời phải có một cái hơn con vật Hoặc
là cái đức hay, hoặc cái việc hay, hoặc là một câu nói hay” Tản Đà chính là
ngời đầu tiên xem văn chơng là một nghề, một phơng tiện để kiếm sống, vừa
là con đờng để ngời nghệ sĩ lập thân, gắn cuộc đời mình vào đó:
Bán văn, buôn chữ kiếp nào thôi
Ruột tằm rút mãi cha thành kén
(Đề “Khối tình con II”)
Mặc dù đã tuyên bố làm học trò Khổng phu tử, đem Thiên lơng truyềncho nhân loại, nhng văn chơng của Tản Đà không nhằm theo đuổi đạo lý màtheo đuổi cái đẹp nghệ thuật Cái hấp dẫn và hớng nỗ lực của Tản Đà lúc đầu
là ở văn xuôi, nhng cái khẳng định vị trí của ông trong làng văn lúc đó lại làthơ
Tản Đà quan niệm, “Thơ có hai tính chất: tài và tình Tài là tài nghệ,tức là thuộc về nghĩa mỹ thuật Tình là tình hoài, tức là thuộc về lơng năng.Một bài thơ mà có đủ hai tính chất ấy thì thơ mới hay” [50; 422] Ông nóithêm “Cái hay trong nghề thơ, mỗi ngời một vẻ, mỗi ngời một môn, cũng
đều do ở hai tính chất tài tình mà xét bên tình là gốc” [50; 423] Tản Đà coihai tính chất đó là rất quan trọng: “có giảng luận mãi tởng không có giấymực nào cho vừa” Đây là quan niệm khá độc đáo của Tản Đà Tuy nhiên,chính ông cũng không trình bày đợc một cách rõ ràng
Đọc thơ Tản Đà, ta thấy ông rất hay nói về mình, tự hào không dấudiếm cái hay của thơ mình Ông tự phụ thơ mình có đủ tài và tình nhng chỗtâm đắc chính là tài, là nghệ thuật Ngoài chỗ hay vì bố cục, vì chọn ý, chọnchữ, chọn âm điệu, Tản Đà còn tự hào về chỗ “Văn đã giàu lại lắm lối” (Hầutrời)
Tản Đà không chỉ say mê tìm kiếm cái đẹp nghệ thuật mà ông còn thểhiện một quan niệm văn học khác của mình Đối với các nhà Nho lớp trớc,
họ chia các tác phẩm văn chơng của mình ra làm hai loại: văn chính đạo và
Trang 22văn không chính đạo Từ, phú, ngâm, khúc, truyện thơ, tiểu thuyết tất cảnhững thể loại đó đều không phải là văn chơng chính đạo Với họ, chỉ có chữnghĩa của thánh hiền là cao quí nhất Tản Đà thì khác, ông có một quan niệm
về thơ khá mới lạ Thơ đợc hiểu theo hai nghĩa: rộng và hẹp Theo nghĩa hẹp,
“Thơ là một mỹ thuật phải có học mới biết làm, mới làm đợc” [50; 421].Theo nghĩa rộng, “Phàm ngời ta nói ra hơi có vần đều là thơ, không thể cáchchi hết chỉ có phân biệt thơ hay và thơ dở” Cho nên theo Tản Đà, “Kinh thi”của thánh hiền hay ca dao, dân ca đều là thơ; đó là thơ đợc hiểu theo nghĩarộng
Tự hào về sự “lắm lối” trong thơ văn mình, Tản Đà đã phân loại cáctác phẩm của mình thành “thơ chơi” và “thơ vị đời”:
(Lo văn ế)Khác với các nhà Nho lớp trớc và cùng thời với ông, Tản Đà đã ý thức
đợc trách nhiệm của ngời cầm bút đối với xã hội Theo ông, văn chơng có tácdụng giáo dục Qua lời Chu Kiều Oanh, Tản Đà đã quan niệm: “Văn chơng
có trọng giá, không phải là một sự chơi riêng trong ý thú sao cho nhân tâmphong tục thêm thuần chính, dân trí t tởng đợc khai minh là chức trách củangòi bút đại văn gia trớc phải đối đáp với xã hội” Trong các tác phẩm củamình, Tản Đà đã chia chúng thành hai loại nh vậy:
Hai quyển Khối tình văn thuyết lý,
Thần tiên, Giấc mộng văn tiểu thuyết
Đài gơng, Lên sáu văn vị đời.
(Hầu trời)Với cách quan niệm văn nh thế, theo Tản Đà thì những quyển đặt điệulục bát in ra bằng chữ Nôm (nh “Nam sử diễn ca”, “Nhị thập tứ hiếu”) là
những quyển còn mang tính chất giáo dục, còn lại dù hay, hay không đềuthuộc về văn chơi cả Cái nhìn này của Tản Đà có chút gì đó hơi cực đoan,phiến diện
Quan niệm văn học của Tản Đà cũng biểu lộ rõ trong cách ông phânloại tác phẩm Trong “Giấc mộng con”, ông phân loại để giới thiệu sáng táccủa mình: văn vần (thơ ca, từ khúc), thuyết văn (tiểu thuyết), kịch văn (tuồngchèo), tản văn (văn xuôi), dịch văn (văn dịch), ngụ văn (văn đặt chơi) TheoTản Đà, mọi giá trị tinh tuý của văn chơng đều nằm trong tản văn cả Nh vậy,Tản Đà đã tạo nên một bớc ngoặt trong lịch sử văn học dân tộc, đó là ý thức
Trang 23đợc vai trò của ba thể loại chính trong văn học: thơ, kịch và tiểu thuyết Đây
là điều mà các nhà văn cùng thời với Tản Đà đã không làm đợc
Tản Đà hoạt động và có nhiều cống hiến trên lĩnh vực văn hoá, báo chí
và văn học dân tộc Ông soạn tuồng và đạo diễn sân khấu, soạn sách giáokhoa giảng văn, giảng sử, dịch thuật học, viết truyện, làm thơ nhng cáikhẳng định vị trí của ông trong làng văn lúc đó lại là thơ ca Thơ văn Tản Đà
đã có một đóng góp đáng kể vào bớc chuyển sang hiện đại của văn học ViệtNam Là nhà Nho đầu tiên trở thành nhà văn chuyên nghiệp, một nhà Nho tài
tử trong xã hội t sản có cuộc đời đen bạc và cái tôi cá nhân đầy cá tính, ông
đã tạo nên một văn nghiệp đồ sộ trong văn học hiện đại nớc ta buổi đầu
Các tác phẩm chính của Tản Đà:
- 1916: Khối tình con; 1917: Giấc mộng con; 1918: Khối tình con II;1920: Lên tám; 1921: Còn chơi; 1922: Tản Đà tùng văn; 1923: Truyện thếgian I, Truyện thế gian II; 1924: Trần ai tri kỷ; 1925: Thơ Tản Đà; 1929:Giấc mộng lớn; 1932: Giấc mộng con II, Thề non nớc, Khối tình con III;1915- 1917: Bốn vở ca kịch đã công diễn: Thiên thai, Ngời cá, Tây Thi, D-
ơng Quí Phi
Quan niệm văn học của Tản Đà đã có những cách tân, mở rộng, nhng
nó không đủ để làm nên một cuộc cách mạng trong văn nghệ Ông tiếp thunhững tinh hoa, giá trị, những hình thức văn học mới nhng thế giới quan củamột nhà Nho không cho ông bớc qua cái ngỡng cửa văn học chuyển từ cổ
điển sang lãng mạn Tản Đà không bao giờ có thể hoà nhập đợc với nền vănhọc hiện đại mặc dù ông đã là ngời tiên phong trong việc viết tiểu thuyết và
đa đến cho thơ ca những hình thức mới, những quan niệm mới Đó vừa là
đóng góp của Tản Đà cho văn học Việt Nam trên lĩnh vực sáng tác, nhng
đồng thời cũng là hạn chế lớn nhất của Tản Đà mà ông đã không tự vợt qua
đợc
1.2.2 Tính giao thời của thơ Tản Đà trong nền thơ
Việt Nam
1.2.2.1 Khái niệm giao thời và văn học giao thời.
Giao thời là khoảng thời gian chuyển tiếp từ thời kỳ này sang thời kỳkhác, cái mới cái cũ xen lẫn nhau, thờng có mâu thuẫn, xung đột, cha ổn
định
Khái niệm văn học giao thời do Trần Đình Hợu đề xuất nhằm chỉ vănhọc giai đoạn 1900-1930 trong xã hội thực dân nửa phong kiến, hình thànhqua một quá trình đấu tranh giữa dân tộc ta và thực dân Pháp, trong đó có sự
Trang 24tranh chấp giữa cái mới và cái cũ Tơng ứng với quá trình đó là một cuộccạnh tranh Âu- á trong văn học.
“Bên cạnh những nhà Nho vẫn tiếp tục làm thơ, làm phú, ngời nôngdân vẫn tiếp tục ca, vè, hò, hát, nền văn học cũ vẫn tồn tại khắp nớc, là sựxuất hiện một lớp nhà văn kiểu mới, một nền văn học có tính chất khác trớctạo thành một cảnh tợng giao thời giữa hai nền văn học” [15; 18] Giai đoạn1900-1930 là giai đoạn văn học có nhiều sự kiện văn học, nhiều tác giả, tácphẩm đánh dấu giữa hai nền văn học cũ và mới trong giai đoạn có tính chấtgiao thời đó
Bên cạnh nhà Nho là lực lợng sáng tác chủ yếu trớc đây, xuất hiện lựclợng sáng tác mới- những ngời làm báo Dần dần, họ chuyển sang viết truyệnngắn, viết kịch, để đáp ứng sự đòi hỏi của công chúng Hai lực lợng sáng tác
đó khác nhau hẳn về quan niệm văn học, về mục đích sáng tác, về phơngpháp sáng tác, về tiêu chuẩn thẩm mĩ
Giữa hai nền văn học mới và cũ đều có sự cạnh tranh, tất nhiên trongcuộc cạnh tranh đó văn học cũ có tính chất nông thôn, phong kiến không thểthích hợp với xã hội mới Văn học thành thị thay cho văn học nông thôn, nh-
ng sự thay đổi đó không đơn giản mà phải trải qua mọi cuộc cạnh tranh âmthầm, lặng lẽ, chuyển hoá dần
Văn học cả giai đoạn 1900-1930 có tính chất giao thời “Tính chấtgiao thời đó biểu hiện ở sự tồn tại song song hai nền văn học cũ và mới vớihai lực lợng sáng tác, hai công chúng, với hai quan niệm văn học, hai loạingôn từ văn học ở hai địa bàn khác nhau, ở xu thế thắng lợi của nền văn họcmới đang tiến tới thay thế nền văn học cũ” [15; 22] Dễ dàng nhận thấy ở
giai đoạn giao thời này, nền văn học cũ đã trên đà suy tàn nhng vẫn còn giữmột vị trí đáng kể, vẫn có tác dụng tích cực nhất trong sự phát triển của vănhọc dân tộc
1.2.2.2 Tính giao thời trong thơ Tản Đà
Văn học giai đoạn 1900-1930 mang diện mạo của giai đoạn giao thời
ở Việt Nam mà Tản Đà là một tác giả tiêu biểu Ông bớc vào văn đàn trong
“lốt y phục” khác ngời nên không lẫn với loại văn nhân xa mà cũng khônglẫn với các nhà bỉnh bút khác
Nhà phê bình văn học Lê Thanh nhận xét: “Ông Tản Đà là ngời thứnhất và là ngời độc nhất của cái thế hệ ông đã làm sống lại cái hồn thơ ViệtNam đang hấp hối Ông ra đời đem cho chúng ta một thi sĩ thành thực, dám
ca hát cái đời sống của lòng, ông đã mơ mộng, đã chán đời, yêu đời, thiết tha
Trang 25với đời một cách tự do, ông đã dám ngông, dám có một bản ngã, dám côngnhiên để cho cái trữ tình mê man của mình rãi trong thơ.
Ông đã sống một đời thi sĩ và đã có một tâm hồn thi sĩ” [45]
Tản Đà thực sự là ngời kế tục tinh thần của một khuynh hớng văn học
đã kịp trở thành truyền thống lịch sử Không có cái ngông ngạo về tài vănchơng của Cao Bá Quát, không có cái ngỗ ngợc của Nguyễn Công Trứ,không có một chàng Kim Trọng của Nguyễn Du thì khó mà có đợc cái lốituyên ngôn ngạo nghễ:
Tài cao phận thấp chí khí uấtGiang hồ mê chơi quên quê hơng
(Thăm mả cũ bên đờng)
Để tiến tới một nền văn học hiện đại chuyển từ phong kiến sang t sản,
từ chủ nghĩa cổ điển sang chủ nghĩa lãng mạn, phải có một cái tôi cá nhân,
có một tiếng nói biểu hiện chính mình, lấy mình làm nhân vật chính của mọitởng tợng và h cấu Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Hồ Xuân Hơng để lại têntuổi của mình trong lịch sử trớc hết là những tác giả văn học lớn và sau đó họ
đã đặt vào văn học một bản ngã đầy tài năng Cho nên, Tản Đà không chỉ làsản phẩm của thời đại mà còn là một tất yếu lịch sử của văn học sử
Nhng nếu nh Tản Đà chỉ lặp lại những chủ đề, đề tài của các nhàNho tài tử trớc đây, thì đâu còn là Tản Đà nữa Ông là ngời đầu tiên trongvăn chơng Việt Nam nói lên tình yêu ngoài hôn nhân, hơn thế, đối lập vớihôn nhân:
Chẳng qua duyên nợ phợuGìn giữ luống công tai
(Tiếc của đời)Nguyễn Du, Nguyễn công Trứ, Cao Bá Quát đã từng nói đến chuyệnchán đời Nhng lối nói của Tản Đà thì thật độc đáo Ông gạ gẫm với thiênnhiên, viện lý do nghe thật chính đáng trong bài “Muốn làm thằng Cuội”:
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồiCung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi
Nhiều thi sĩ là tửu đồ Bao nhà thơ thuở trớc đã nói rất hay về rợu, đãlập luận, lý sự cho việc say sa Đến Tản Đà, cái lý sự say đợc đề xuất bônglơn nhng ở tầm vũ trụ
Đất say, đất cũng lăn quay
Trang 26Trời say, mặt cũng đỏ gay, ai cời
(Lại say)Tản Đà vừa nối tiếp hàng loạt chủ đề, đề tài truyền thống, vừa mở rộng
ra, đa thêm vào đó những tình huống mới, những sắc thái mới, và luôn tìm ranhững cách nói mới, vừa có sự gần gũi với các tác giả nổi danh trong truyềnthống, nhng cũng phát lộ nhiều giọng điệu, sắc thái cách tân
Theo chân các thi sĩ lừng danh tiền bối, trong số đó có Bạch C Dị,Nguyễn Du , Tản Đà viết khá nhiều về thân phận ngời hồng nhan bạc mệnhrơi vào kiếp kỹ nữ trầm luân, với lòng thơng cảm sâu sắc, nh trong bài “Cánhbèo”:
Đầu xanh kia trôi nổi đã bao miềnThôi trớc lạ sau quen đừng ái ngạiXã hội thay đổi, nhiều loại nhân vật mới xuất hiện, nhiều tình huốngmới nảy sinh Tản Đà trong vòng hơn một thập kỷ đã theo khá sát thời cuộc,phản ánh đợc khá phong phú cái mới đó, tiêu biểu là trong bài “Cô Tây đen”:
Sợi tơ hồng ai khéo xe duyênTreo tranh Tố nữ đứng bên anh tợng đồngTản Đà là nhà Nho nhng không viết văn giống nh các nhà Nho lớp tr-
ớc Tản Đà cũng viết tiểu thuyết, viết tuồng, làm thơ nhng ông cũng khôngsáng tác nh các văn nghệ sĩ lớp sau Tản Đà tuy tuyên bố “đem văn chơng
bán phố phờng” song vẫn cha phải là loại “văn sĩ”, “nghệ sĩ” suy nghĩ về
nghề nghiệp và sáng tác nh các nhà văn hiện đại Với các nhà văn hiện đại,văn học mất dần tính chất cao đạo của “văn” theo quan niệm cổ truyền, màthành “văn nghệ” và đồng thời thành hàng hoá trao đổi giữa tác giả và côngchúng qua những thiết chế trung gian là nhà xuất bản và toà báo
Hệ thống thể loại trong sáng tác của Tản Đà hết sức đa dạng, thể hiệntính giao thời rất rõ nét Ông viết tuồng, bút kí triết học, làm thơ, viết truyện,làm sách giáo dục So với văn học lúc trớc đó, tác phẩm của ông loại nàocũng có cái mới, lạ cả về nội dung và hình thức thể loại
Tản Đà viết tuồng chứ không phải kịch, nhng tuồng của Tản Đà khôngphải là tuồng cổ mà cũng không phải là tuồng đồ Đó là một hình thức cakịch nào đó cha thành hình Ông làm thơ, cũng thất ngôn, lục bát, songthất Ngoài ra, Tản Đà còn viết những bài hát xẩm, bài lý, những loại cakhúc dân gian, trớc đó cha có ai dụng công trau chuốt mặt nghệ thuật VớiTản Đà, những ca khúc, từ khúc đó thành những bài thơ nghệ thuật nganghàng với thơ thất ngôn, hát nói và ca dao thành phong thi Các truyện nh
Trang 27“Giấc mộng con”, “Trần ai tri kỷ”, “Thề non nớc” cũng không phải là nhữngtruyện ngắn, tiểu thuyết nh ta hình dung ngày nay Đó là một biến thể nào đócủa văn xuôi kể truyện Thật là khó sắp xếp một sáng tác của Tản Đà theothể loại vì đó là sự pha trộn Đông Tây, giữa truyền thống và hiện đại.
Đến Tản Đà thì không còn có một thế hệ nhà văn tiếp theo nào viết
nh ông Từ những năm 1920, Vũ Đình Long đã viết kịch, Hoàng Ngọc Phách
đã viết tiểu thuyết, các nhà thơ mới đã làm thơ theo kiểu văn chơng hiện đại.Sáng tác của Tản Đà, xét về mặt hệ thống thể loại và cả về thể loại là mộthiện tợng giao thời giữa hai nền văn học, cổ truyền và hiện đại, Đông và Tây.Hiện tợng giao thời nh vậy ở Việt Nam xảy ra rất ngắn Tản Đà đợc hoannghênh nhiệt liệt rồi nhanh chóng bị công chúng lãng quên chính vì tính giaothời đó
Tản Đà là một nhà thơ đặc biệt quan tâm đến việc lựa chọn từ và âm
điệu khi viết văn Không chỉ thơ mà cả văn xuôi của Tản Đà cũng đầy nhạctính Tản Đà có một chủ trơng về câu văn “Đã gọi là văn, nếu không cókhuất khúc, không có sự khởi phục, không có tiêm tế, không có hàm xúcthời nh câu nói vã, viết vào giấy sao cho là văn?” (Giấc mộng con II) Tản
Đà đã tự hào và xây dựng sự độc đáo của mình trên những điểm đó Nhngcũng chính là nó đã làm cho Tản Đà dừng lại trớc ngỡng của của văn họchiện đại Trong lịch sử thơ ca Việt Nam, con đờng hấp thu cái hay, cái đẹpcủa dân ca bổ sung cho nghệ thuật văn chơng chữ Hán đã sản sinh ra nhiềutài năng nh dịch giả “Chinh phụ ngâm”, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du,Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xơng Tản Đàkhông chỉ kế thừa họ, ở một địa hạt là sự am hiểu dân ca và từ khúc Về thểloại, một số làn điệu dân ca đến Tản Đà có những bài hát thành thơ nghệthuật Các thể thơ truyền thống nh thơ Đờng, lục bát, song thất, hát nói, đếnTản Đà cũng có âm điệu phong phú hơn Đó là chỗ làm cho Tản Đà trởthành “nhà thơ hoàn toàn Việt Nam” (Xuân Diệu)
Tản Đà đã kế thừa tất cả mọi thể loại thơ ca cổ điển và thơ ca dân tộcdân gian Ông đã sử dụng chúng một cách phóng túng, tài hoa khiến chochúng mất hẳn sự gò bó của thể loại, trở nên hồn nhiên, biến hoá, sinh động
nh tiếng nói bật lên từ rung cảm của đáy lòng
Tản Đà là một hiện tợng tiêu biểu của văn học buổi giao thời Xác
định tính giao thời trong sáng tác của Tản Đà cũng giúp chúng ta phân biệtTản Đà với những nhà văn khác cùng thời mà còn tìm hiểu những con đờngkhác nhau dẫn đến văn học hiện đại, giúp ta hiểu sâu hơn nội dung và tính
Trang 28chất của văn học đầu thế kỷ, góp phần giải quyết vấn đề phân kỳ lịch sử vănhọc, đoán định những năm tháng làm mốc có cơ sở khoa học.
* Tiểu kết chơng I
Tản Đà là ngời đầu tiên của thời tân cuộc Nho học có đóng góp nhiềutrong việc vun đắp cho nền văn học dân tộc tiến lên và ảnh hởng đến nhữngtài năng mới Con ngời thơ của Tản Đà đã báo hiệu cho sự xuất hiện củanhững hồn thơ từ 1932 về sau
Nếu không có Tản Đà thì Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn CôngTrứ với Thế Lữ, Lu Trọng L trở thành lạc loài Ông là gạch nối giữa nhữngnhà thơ mới và các bậc tiền bối Và nếu không có Tản Đà thì Nguyễn Du,
Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Công Trứ sẽ trở thành những hiện tợng ngẫu nhiêncá biệt Tản Đà chính là mạch nối từ cuối thế kỷ XVIII đến phong trào ThơMới Điều này đã khiến cho Tản Đà trở thành một hiện tợng tiêu biểu nhấtcho lớp nhà văn buổi giao thời
độc đáo trong phong cách và bút pháp
đối với các hiện tợng đời sống ấy” [18; 252-253]
Thể loại văn học là sự thống nhất giữa loại nội dung và một dạnghình thức văn bản với phơng thức chiếm lĩnh đời sống Vì vậy, khi tiếp cận
Trang 29với các thể loại văn học, cần tính đến thời đại lịch sử của văn học và nhữngbiến đổi, thay thế chúng.
Trong những khái niệm liên quan đến thể thơ, thuật ngữ “thể thơ” cha
đợc định nghĩa rõ ràng Nhng qua phân loại về thơ, ngời ta thờng lấy số tiếng
và vần để phân loại các thể thơ
Căn cứ vào số tiếng (trong câu thơ) có thể thơ có 5 tiếng, 6 tiếng, 7tiếng, 8 tiếng, thơ tự do (số tiếng không đều nhau)
Căn cứ vào luật thơ, có hai loại: thơ cách luật (thơ có qui tắc và luật lệ
ổn định gồm: thơ Đờng luật, thơ lục bát, song thất lục bát ); thơ không cáchluật (thơ tự do, số tiếng, số câu không hạn chế)
Tản Đà là ngời đã kế thừa tất cả mọi thể loại thơ ca cổ điển, thơ ca dângian và đã sáng tạo ra nhiều hình thức thơ mới Có thể nói, ở bất cứ một thểloại nào, Tản Đà cũng đạt đợc những thành công đáng kể, ông đã khai thácmột cách triệt để các thể loại thơ ca: thơ ngũ ngôn, thơ thất ngôn, thơ Đờngluật (gồm thể tứ tuyệt, trờng thiên và bát cú), từ khúc, lục bát, song thất lụcbát, hát nói và thiên sang bình dân nh: sẩm, đò đa, phong dao; cả các thểchuyên biệt về ca nhạc hay kịch nh: cổ bản, chèo, tuồng Trong mỗi thể, ôngcòn nghĩ ra lắm biến đổi cho lạ mắt, lạ tai nh: lối yết hậu, điệu liên chân,
điệu lộng hoàn, kiểu ô thớc
Xuất phát từ sự am hiểu sâu sắc vốn tri thức cổ điển, tiếp thu nhuầnnhuyễn chất dung dị, mộc mạc của ca dao, dân ca, Tản Đà đã sáng tạo ra thểthơ tự do, thơ văn xuôi hết sức độc đáo, ông đã “mở đầu cho cuộc hoà nhạctân kỳ đang sắp sửa” góp phần tạo nên một Tản Đà rất lạ và độc đáo trongphong cách và bút pháp
Tản Đà cũng đã huy động rất nhiều thể loại có trong truyền thống vănhọc viết, nhng ở ta cha có những tác phẩm đạt tới giá trị cổ điển và chính Tản
Đà đã làm công việc đó Ông hoàn thiện chúng để tạo nên những tác phẩm
cổ điển đặc biệt nhất, với những bài tứ toàn bích nh: “Cảm thu, tiễnthu”,“Tống biệt”,“Mỵ Châu Trọng Thuỷ”,“Thu khuê oán” đã minh chứngcho tất cả những điều nói trên
Bảng 1: Các thể loại trong thơ của Tản Đà
Trang 30Thơ tự do 21 14,1%
2.1.2 Các thể thơ cách luật
2.1.2.1 Thể thơ Đờng luật (tứ tuyệt, bát cú, cổ phong)
Thơ Đờng luật thờng gọi tắt là thơ Đờng hay thơ cách luật, là thể thơ
mà thời Thịnh Đờng đã bổ sung các luật lệ vào thơ cổ phong thành thể thơhoàn chỉnh nh: đối, niêm, luật và một số qui định khác Thơ Đờng luật chialàm ba loại: thơ tứ tuyệt, bát cú và trờng thiên (cổ phong)
+ Thơ bốn câu gọi là thơ tứ tuyệt, hay thơ tuyệt cú, tức là bài thơ haytuyệt vời vì chỉ có bốn câu, 20 từ hoặc 28 từ mà nói lên đợc đầy đủ ý tứ củamột đề tài theo đúng luật lệ của thơ Đờng
+ Thể bát cú là loại thơ tám câu, bố cục thờng chia làm 4 phần: đề,thực, luận, kết Thể thơ này thờng qui định niêm luật khá chặt chẽ
+ Loại trờng thiên (cổ phong) gồm các loại 4 câu một, tức là thể thơ từ
10 câu trở lên cho đến hàng trăm câu Đây là một thể thơ có từ trớc đời Đờng(trớc thế kỷ thứ VI)
Qua khảo sát 148 bài thơ của Tản Đà chúng tôi thấy, thơ Đờng luậtcủa Tản Đà có số lợng từng bài cụ thể nh sau: tứ tuyệt 14 bài, bát cú 58 bài,trờng thiên 11 bài Thể bát cú chiếm số lợng nhiều nhất, tiếp đến là thể thơ tứtuyệt chiếm số lợng bài ít hơn và cuối cùng là thể trờng thiên
Trong các bài thơ Đờng luật, Tản Đà vẫn tuân thủ những luật lệ của ờng thi song ông đã khéo đa vào bài thơ những lời nói bình dân, mộc mạcnên đã giảm bớt vẻ ớc lệ, trang trọng vốn dĩ của thể thơ Đờng, làm cho lờithơ phóng khoáng và tự nhiên Nhiều bài thơ Đờng của ông đều có cái vẻnhẹ nhàng, trong sáng, duyên dáng, độc đáo của ngữ liệu dân tộc
Đ-Các bài thơ tứ tuyệt của Tản Đà thờng là đề từ cho các tập thơ củamình nh: “Đề khối tình con thứ nhất”, “Đề khối tình con thứ II” hoặc thờng
đặt ở cuối tập thơ
Khi làm thơ tứ tuyệt, khác với các nhà thơ cũ, Tản Đà không lấynhững đề tài cũ mà lấy những đề tài rất mới, rất đời thờng Nói đến nhữngtình cảm nhớ nhung của tình yêu đôi lứa, Tản Đà có cách diễn đạt rất mới vàvới một giọng văn rất lạ:
Quái lạ! Làm sao cứ nhớ nhauNhớ nhau đằng đằng suốt đêm thâu
(Tơng t)
Trang 31Bài thơ bắt đầu bằng hai câu bình dị, biểu lộ tình cảm nhớ thơng nhnglại thắc mắc, hóm hỉnh “quái lạ” của tâm hồn mình
Có những bài thơ là sự kết hợp của hai bài tứ tuyệt, tách chúng ra ta có
2 bài thơ tứ tuyệt độc lập, hoàn chỉnh Ví dụ bài “Khai bút”:
ở thể loại thơ bát cú Đờng luật, các thi gia Việt Nam từ thế kỷ XIII
đến thế kỷ XIX đã đạt tới những mẫu mực ở đỉnh cao, với những sáng tạo
độc đáo của những tài năng lớn nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, HồXuân Hơng, Bà huyện Thanh Quan Tản Đà không chỉ kế thừa những thànhtựu của các tác giả đi trớc, mà ông còn có những vần thơ mang vẻ êm ái, tròntrĩnh, với ý vị tơi tắn đậm đà Tản Đà vẫn tuân thủ những luật lệ của Đờng thisong do khéo dùng những từ bình dị, những khẩu ngữ, thành ngữ nên ông đãlàm cho những bài thơ bát cú của mình gần gũi và đáng yêu đến lạ thờng
Về bố cục bài thất ngôn bát cú gồm bốn phần: đề- thực- luận- kết.Trong bài “Nhớ bạn” của Tản Đà ta lại thấy một điều khác thờng:
Nhớ lúc rợu ngon năm bảy chén, Nhớ khi đêm vắng một đôi ngời Nhớ sân đứng tế ngời thiên cổ Nhớ chỗ nằm xem truyện Liêu Trai
Lạ ở chỗ cả phần thực và phần luận đều không có ranh giới Ta khôngthể phân biệt đợc đâu là phần thực, đâu là phần luận Bởi vì cả hai đều nói vềnỗi nhớ bạn, chỉ khác một điều là phần thực nói về nỗi nhớ thiên về thời gian
“nhớ lúc”, “nhớ khi”; còn phần luận thiên về địa điểm “nhớ sân”, “nhớ chỗ”.Cả bài thơ có 56 tiếng thì có tới năm từ “nhớ”, từ ngữ trong thơ bát cú đã cô
đọng, hàm súc lại càng cô đọng và hàm súc hơn Ta cũng bắt gặp sự lặp lạinày trong bài “Đêm suông phủ Vĩnh”:
- Đêm suông vô số cái suông suồng
Suông rợu, suông tình, bạn cũng suông.
- Ngồi hết đêm suông, suông chẳng hết
Bài thơ có đến 8 từ “suông”, điều này trái lại hẳn với qui định của thểbát cú Thông thờng một bài bát cú có 56 từ phải là 56 từ rất cô đọng, gọi là
56 viên ngọc Vì thế các nhà thơ xa thờng chọn từ ngữ rất kỹ để tránh làmmất nhiều ý và làm giảm giá trị của bài thơ Thế nhng, ở đây Tản Đà lại sửdụng tới 8 từ “suông”, sự lặp lại nh vậy không giảm bớt ý nghĩa của bài thơ
mà còn nhằm nhấn mạnh về một đêm nào vô nghĩa, vô vị ở phủ Vĩnh
Ta còn thấy sự phá cách của Tản Đà trong việc tách vấn đề, tạo ra câumới trong dòng thơ để nhằm nhấn mạnh một ý nào đó:
Trang 32Nặng lắm! Ai ơi, một gánh tình!
(Chơi Hoà Bình)Câu cảm thán “nặng lắm!” đợc đa lên đầu nhằm nhấn mạnh gánh nặngcủa tác giả với sông núi, với quê hơng Một điều dễ nhận thấy là Tản Đà đavào thơ Đờng những ngôn ngữ bình dân, thành ngữ, từ láy làm cho thể th bát
cú Đờng luật vốn rất cổ điển, chuẩn mực trở thành những bài thơ hoàn toànViệt Nam
ở bất kỳ một thể loại Đờng luật nào Tản Đà cũng có những sáng tạo
độc đáo riêng của mình Bên cạnh việc lựa chọn từ ngữ dân tộc, bình dị vàomột thể thơ vay mợn của Trung Quốc để “Việt hoá”, trở thành một món ăntinh thần của dân tộc Tản Đà còn có những sự phá cách, sáng tạo, làm chothể thơ Đờng vốn dĩ xa lạ, khó hiểu trở nên gần gũi với quần chúng nhân dânhơn Đây là một đóng góp rất lớn của Tản Đà vào trong hệ thống thể loại thơViệt Nam
2.1.2.2 Lục bát và song thất lục bát
Lục bát là một thể thơ vô cùng đặc sắc và độc đáo của dân tộc Việt, nó
ra đời vào khoảng thế kỷ thứ XV Xuất phát điểm của thể thơ này là ở trong
ca dao (90%), rực rỡ ở “Truyện Kiều”- Nguyễn Du và tiếp tục đợc kế thừa,phát triển cho đến ngày nay
Một thể loại thơ dân tộc đợc Tản Đà sử dụng khá thành công nữa đó làsong thất lục bát Thơ song thất lục bát có những đặc điểm sau: hai câu đầu 7tiếng, câu thứ ba 6 tiếng, câu thứ t 8 tiếng, có qui định về vần và nhịp
Qua khảo sát 148 bài thơ của Tản Đà, chúng tôi thấy có 22 bài thơ lụcbát (14,8%), song thất lục bát có 8 bài (5,4%) Tản Đà bên cạnh kế thừanhững thể thơ dân tộc một cách hoàn chỉnh, thì ông còn có sự phá cách, sángtạo riêng của mình, làm cho thể thơ vốn dĩ thuần tuý, gần gũi, rất Việt Namlại càng đi vào quần chúng nhân dân hơn
Cảm nhận chung về giọng điệu của thơ lục bát là giọng điệu trữ tìnhmang ý vị sâu lắng, rất thanh thoát, nhẹ nhàng, êm dịu nh mặt nớc, nh dòngsông chảy xuôi
Một tác phẩm lục bát có thể có rất nhiều dòng nhng khuôn hình cơbản của lục bát bao gồm một dòng 6 và một dòng 8 Đây là chỉnh thể tốithiểu để thơ lục bát có đủ t cách là tác phẩm nghệ thuật trọn vẹn
Nhận định về tài năng của Tản Đà trong việc sử dụng thể thơ lục bát,Trần Ngọc Vợng đã có nhận xét nh sau: “Chỉ đến Tản Đà mới xuất hiệnnhững bài thơ lục bát hoàn chỉnh, những viên ngọc không tì vết, ông có hứng
Trang 33thú làm thơ lục bát và số lợng những bài thơ lục bát thành công ở ông chiếmmột tỷ lệ cao đáng kể” [51; 419]
Trên thi đàn văn học Việt Nam, sau Nguyễn Du, Tản Đà là nhà thơ lụcbát đặc sắc nhất Thơ lục bát của Tản Đà rất thuần Việt, vốn xuất phát từ thơ
ca dân gian Trong hàng loạt những bài thơ lục bát của mình, Tản Đà đã khaithác một cách rất có hiệu quả khả năng diễn đạt ngôn từ và giọng điệu củathể lục bát vào trong việc chuyển tải những nội dung nghệ thuật mới
Thơ lục bát của Tản Đà có sự tuân thủ luật bằng trắc trong các tiếng 2,
4, 6 ở câu lục và 2, 4, 6, 8 ở câu bát; là sự gieo vần ở các vị trí đúng luật; là
sự đối lập bổng- trầm ở các tiếng trong một câu thơ làm cho bài thơ đạt tới sựchuẩn mực:
Non cao tuổi vẫn cha già
Nhịp lục bát thờng là nhịp chẵn, nhng câu thơ Tản Đà có những nhịp
lẻ, tạo nên sự bất bình thờng trong câu thơ:
Nhớ ai/ chuyện thú/ trò cờiNhớ ai/ reo/ khóc/ sầu/ tơi/ bấy chầy
(Nhớ ai)
Từ ta/ trở lại/ Sơn Tây Con đờng/ Nam/ Bắc/ ít ngày/ vãng lai
(Nhớ cảnh cầu Hàm Rồng)Nếu nh nhịp chẵn của thể thơ lục bát thờng diễn tả sự thanh thoát, nhẹnhàng thì nhịp lẻ kết hợp với với nhịp chẵn thờng diễn đạt một cái gì khúcmắc, tấm tức, không bình thờng
Trang 34Thể thơ song thất lục bát đợc hình thành trên cơ sở thể thơ lục bát vàthể thơ bảy chữ vốn có sẵn trong thơ ca dân gian Việt Nam
Qua gia công, thể song thất lục bát trở thành thể chính để viết các cakhúc ngâm Nhng đã đạt đến mức hoàn thiện, với các tác phẩm của Nguyễn
Du (Văn tế thập loại chúng sinh), của Nguyễn Gia Thiều (Cung oán ngâmkhúc), với bản dịch của Đoàn Thị Điểm (Chinh phụ ngâm), của Phan HuyVịnh (Tỳ bà hành) Dùng thể song thất lục bát, các nhà Nho yêu nớc đã viếtnên những lời thơ bi hùng, thống thiết nh trong “Đề tỉnh quốc dân ca”
ở thể thơ song thất lục bát, Tản Đà cũng có những thành công đáng
kể Có những bài song thất lục bát của Tản Đà không theo trình tự thông ờng của thể thơ:
th-Ngời đâu cũng giống đa tình,Ngỡ là ai lại là mình với taMình với ta tuy hai nhng một
Ta với mình tuy một mà hai
(Nói chuyện với ảnh)Bài thơ lẽ ra phải hai câu thất đứng đầu thì là hai câu lục, cuối cùngmới là câu thất Đây là một biến thể của song thất lục bát gọi là lục bát giánthất Có một số bài thơ nh “Th đa ngời tình nhân có quen biết”, “Th đa ngờitình nhân không quen biết” thì mở đầu bài thơ bao giờ cũng là bốn câuthất
Nhịp ở hai câu thất thờng là nhịp 3/4 hoặc 3/2/2 thế nhng, có nhữngcâu thơ của Tản Đà, nhịp lại có sự phá cách:
Vợ/ chồng/ con/ hoà hợp/ một đoànChàng/ chàng hỡi/ tri âm/ từ thuởNỗi sinh nhai/ rìu/ búa/ bếp lò
(Vợ chồng ngời đốt than)Nhịp thơ ngắn, không cân đối để diễn tả cuộc sống sinh nhai, vất vảcủa vợ chồng ngời đốt than
Câu 8 thờng có nhịp 4/4 hoặc 2/2/2/2 thế nhng có những 8 nhịp thơ rất
độc đáo, nhịp lẻ chẵn đan xen:
- Tây/ nho/ chữ nghĩa/ không thua/ chi đời
- Cũng trăm/ nghìn/ vạn/ bạc đồng/ trong tay
(Vợ chồng ngời đốt than)
Từ trớc tới nay, cùng với thể thơ song thất lục bát, thể lục bát chủ yếuthực hiện chức năng kể chuyện của mình thì đến giai đoạn cuối thế kỷ XIX
Trang 35“lục bát có đủ các điều kiện để chuyển mình sang nhận chức năng trữ tìnhlàm chức năng chủ yếu” [48; 164] Rõ ràng, Tản Đà là ngời đã biết tìm đếnvới thể lục bát và song thất lục bát của dân tộc, vận dụng sáng tạo để truyềntải tình cảm, nỗi lòng, cảm xúc của thi nhân Những vần thơ lục bát của Tản
Đà mợt mà, đằm thắm, thấm đợm hồn thơ dân tộc Qua Tản Đà sức sốngmãnh liệt của thể loại này càng đợc chứng tỏ mãnh liệt và sâu sắc hơn
2.1.2.3 Phong dao, sẩm và hát nói
Với vốn am hiểu sâu sắc các loại hình văn học dân gian và nghệ thuậtdiễn xớng dân gian, Tản Đà đã sáng tác rất nhiều bài hát theo các thể loại cahát dân gian nh: ca lý, đò đa, sẩm chợ, cổ bản, hát dặm, phong dao Hầu hếtcác bài đợc sáng tác với hình thức ca dao, dân ca của Tản Đà đều rất thànhcông Nếu nh ngôn ngữ của văn học dân gian đã đợc nhiều nhà Nho tiếp thu
và vận dụng một cách tài tình nh Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, tới á NamTrần Tuấn Khải đạt tới mức độ cao; nhng vận dụng thành công trong sựnghiệp sáng tác thi ca của mình thì chỉ có Tản Đà là sâu sắc, tinh tế và độc
đáo nhất Thi sĩ Tản Đà đã sáng tác đợc rất nhiều bài phong dao, sẩm, hát nóitrong đó có nhiều bài đã đợc truyền tụng một cách rộng rãi, đặc biệt là nhândân lao động
Phong dao và sẩm chợ là những bài hát dân ca Sẩm chợ là hát theo lốihát sẩm, phong dao là những bài hát không có làn điệu nhất định, lời củaphong dao và sẩm chợ thờng là những bài ca dao, dân ca đợc làm theo thểlục bát
Hát nói có thể coi là biến thể của hai thể thơ lục bát và song thất lụcbát Gọi là hát nói vì từ những câu mỡu, câu hãm ở cuối bài và những đoạnthơ bằng chữ Hán hay chữ Nôm xen vào giữa những câu hát, nó bao gồmnhững câu nửa nh nói, nửa nh hát
Khảo sát 148 bài thơ trong tuyển tập thơ của Tản Đà, chúng tôi thấy:phong dao 5 bài (3,3%), sẩm 4 bài (2,7%), hát nói 4 bài (2,7%)
Những bài phong dao của Tản Đà phần lớn đều không có đầu đề Nóhầu hết đợc đặt theo thể thơ lục bát Có những bài thơ làm theo biến thể củalục bát Có câu lục số tiếng đã đợc kéo dài ra:
Ai làm cho con cuốc kêu hè,Kêu đêm nghe chán, lại nghe kêu ngày
Cũng có những bài phong dao của ông là dung hợp của hai thể nói lối
và lục bát:
Anh trông xuống đất,
Trang 36Con đóm lên giời,Gặp em đây anh dặn mấy nhời,
Ba sinh hơng lửa muôn đời chớ quên
Bố cục của những bài phong dao có bài thể phú:
Trời ma sắn ống cao quần,Hỏi cô bán thuốc nhà gần hay xa
Có bài sáng tác theo lối thể tỉ của ca dao, để khuyên răn những kẻ dạikhờ, ngốc nghếch:
Ai xui con cá cắn mồi,
Ai xui thằng phỗng ra ngồi trời ma,
Có bài làm theo thể hứng là lối liên hệ có ngụ ý sâu xa, thấy ngoạicảnh mà có hứng muốn nói lên nỗi lòng mình:
Đờng đi nho nhỏ,
Bờ cỏ xanh xanh
Không duyên, không nợ, không tình
Đồng không quãng vắng sao mình gặp ta?
Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thể lục bát cùng giọng văn đầy tính triết
lý mang hồn dân tộc đã làm cho những bài phong dao của ông trở thànhchung cho tất cả mọi ngời, khiến ta không biết đó là sản phẩm của dân gianhay của Tản Đà Ví dụ trong tác phẩm “Đời thừa” của Nam Cao, ông đã sửdụng toàn bộ lời ca phong dao của Tản Đà mà nhân vật Từ hát ru con: “Ailàm cho khói lên trời”
Các bài làm theo điệu sẩm của Tản Đà nh: “Con chim khôn”- viết vềnhững ngời đẹp vì đồng tiền mà đi lấy Tây trắng, Tây đen, nhà thơ đã dùnglối hát sẩm để viết lên những câu mỉa mai hết sức cay độc:
Anh tiếc cho em phận gái má đàoTham đồng bạc trắng, mới gán mình vào chú Tây đen
(Cô Tây đen)Bên cạnh đó, Tản Đà còn sáng tác các bài thơ theo lối sẩm chợ, sẩmnhà trò với giọng điệu rất tinh nghịch, pha chút dí dỏm, hóm hỉnh
Ví dụ theo lối sẩm chợ:
Nghoảnh trông lên anh đếch thấy có ra gì
Ai rằng trăng sáng, anh vẫn thấy tối sì cái bóng đêm đen.Hay nh theo lối sẩm nhà trò:
Học (thì) trò, chúng anh đây cũng kiếp học tròBây giờ dốt nát anh (mới) phải nằm co
Trang 37Trong (cái) chỗ xó rừngHát đò đa của Tản Đà có những câu có thể coi là tuyệt tác, nhạc điệu
đợc vận dụng trong một kết cấu chặt chẽ, nhuần nhuyễn, giữa ngôn từ vàhình ảnh:
Con sông nớc chảy lờ đờThuyền trôi lững thững trăng tờ mờ soi
Có những hát câu đò đa tởng nh của một tác giả dân gian nào đó:
Rung rinh nớc chảy qua (thì) đèo(Thuyền thì ai) thuyền một lá, dậm chèo quanh non
Đá trơ trơ mãi (a) thế thì mònKhối tình bóp bẹp, vo tròn lại nguyênTrong phong dao, sẩm và hát nói của mình, Tản Đà luôn luôn sử dụngnhững hình tợng so sánh, diễn đạt cách cảm, cách nghĩ trừu tợng bằng nhữnghình ảnh cụ thể Do đó, ngôn ngữ trong thơ ca của Tản Đà là ngôn ngữ thơ
có tính chất bóng bẩy, mềm mại, uyển chuyển, tinh tế, đợc thể hiện rất tế nhị
và nhất là có tác dụng gợi lên tinh thần của sự kiện của đối tợng mà nhà thơhớng tới Tản Đà là ngời kế thừa tất cả mọi thể loại thơ ca dân gian của dântộc và ông đã sử dụng chúng một cách phóng túng, tài hoa, khiến cho chúngmất hẳn sự gò bó của thể loại, trở nên hồn nhiên, biến hoá sinh động nhchính tiếng nói bật lên từ rung cảm đáy lòng thi nhân
2.1.3 Các thể thơ tự do và thơ văn xuôi
Năm 1932, vấn đề “Thơ Mới” chính thức đem ra bàn giữa làng thơ.Thế nhng, không ai biết trớc đó hàng chục năm ông ấm Hiếu đã sáng tácnhững bài thơ “Tống biệt”, “Còn chơi”, “Cảm thu tiễn thu” “không theoniêm luật ở đâu hết, duy tôi không gọi nó là thơ mới mà thôi” [36; 381]
Gọi là thơ tự do vì chỉ có vần chứ không cần theo niêm luật bằng trắc,tuy nhiên cũng phải xắp xếp từ nh thế nào để cho âm thanh có nhạc điệu, đọcxuôi tai, không trúc trắc Thơ tự do cũng không cần phải đối nh các thơ luật
Do đó, hình thức thơ không cố định số tiếng, số câu trong bài Mạch thơ cóthể liên tục hoặc ngắt quãng
Trong lịch sử văn học, sự nảy sinh của thơ tự do thờng gắn với nhữngbiến chuyển lớn về ý thức hệ ở Tản Đà, thơ tự do vừa là nhu cầu, vừa là đòihỏi cấp bách của đời sống, vì những thể loại cũ không đủ khả năng diễn đạt,không còn phù hợp với những cái mới nảy sinh trong xã hội Báo hiệu sựchuyển mình của cả một thế hệ Nho học đơng thời đang “dò đờng”, để tìm
Trang 38cho mình một thể loại phù hợp hơn với cách cảm, cách nghĩ trong thời đạimới.
Khảo sát 148 bài thơ của Tản Đà ta thấy, thơ tự do của ông là 21 bài(14,1%) Đây là một tỉ lệ tơng đối lớn sau thơ bát cú Đờng luật và thể lụcbát Cho thấy sự sáng tạo của Tản Đà trên con đờng đi tìm một hình thức thểhiện cái tôi ngông và cá tính của mình
Trong thể thơ tự do, tác giả đã dùng lối thơ trờng đoản cú với nhạc
điệu vô cùng phong phú, đã mở lối cho những hình thức phóng túng của ThơMới sau này:
Kê vàng/ tình mộng
Tóc bạc/ thơng thân,Vèo trông/ lá rụng/ ngoài sân
Công danh phù thế/ có ngần ấy thôi
(Cảm thu, tiễn thu)Nhịp của khổ thơ không theo một qui luật nhất định, nó là tâm trạngtrải dài hay đứt đoạn Chỉ Thơ Mới mới có khả năng diễn đạt những tình cảmmới, những t tởng mới trong thời đại mới Chính Tản Đà đã dạo những nốtnhạc đầu tiên, để sau này ta bắt gặp trong thơ Thế Lữ cái nhịp điệu tiếng trúc
âm điện trầm, buồn, du dơng- một tình cảm rất tiêu biểu trong thơ Mới:
Gió thu lạnh lẽo mây trời quang,Sân thu đêm khuya rơi lá vàngCâu thơ có 14 tiếng thì chỉ có 4 tiếng có thanh trắc, còn lại toàn thanhbằng Cách gieo vần này đã báo trớc cách gieo vần của Xuân Diệu trong bài
“Nhị Hồ” sau này:
Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi,Tôi yêu Ly Cơ hình nhịp nhàng
Có những bài thơ của Tản Đà, số chữ số câu không hạn chế:
Nào giống cũ Chiêm Thành, giống mọi Đài Loan, giốngngời da đỏ ở Mỹ Châu đâu đó tá?
(Bài hát chúc báo sống)
Trang 39Chỉ có hình thức câu thơ dài (19 tiếng) thì Tản Đà mới đặt đợc nhữngdân tộc ngang nhau, không phân biệt màu da, xứ sở Sau này ta cũng bắt gặpnhững câu thơ dài ở Vũ Đình Chơng:
Hoa xa tơi, trăng xa ngọt, gối xa kề, tình nay sao héo
(Say đi em)Thơ văn xuôi là một hình thức cơ bản của thơ đợc viết bằng văn xuôi.Thơ văn xuôi khác với thơ tự do ở chỗ, không phân dòng, không dùng hìnhthức dòng thơ (cũng gọi là “câu thơ”) làm đơn vị nhịp điệu, không có vần.Chất thơ của văn xuôi đợc tạo nên bởi cấu tứ và suy tởng, giàu sức khiêu gợi,bất ngờ, chất liệu triết lý, thâm thuý, thơ mộng
“Năm canh mối tình” là thơ văn xuôi Câu thờng dài, ngắn nhất là 4tiếng “Năm canh mối tình”; dài nhất là 18 tiếng “Ngời trong mộng, niềmnguyện mong, giục xui lòng rõ ràng đôi lứa, phụng thành song, thành song”,câu thơ đợc vắt ra nhiều dòng trên trang giấy và cuối mỗi câu có dấu chấm.Vần có thể có “Tỉnh giấc cô phòng, dậy thành không, dậy thành không! Sựsắt cầm chiêm bao thành không”; hoặc có thể không có vần Nhịp của bàithơ không rõ ràng, không cố định số nhịp là 4/3 hoặc 2/2/2 mà nhịp thơ th-ờng lan toả hoặc tiềm ẩn giữa các câu “Song tha gió thoảng bên màn/ ôm đàntởng vọng Bóng trăng lại kề hiên/ luồng những đón tin/ thôi chi nói mơmòng”
Bài thơ văn xuôi này dù mang dáng dấp câu văn xuôi nhng tính nhạcvẫn là điều cơ bản phân biệt nó với văn xuôi
Việc sáng tạo, thể hiện hình thức thơ ca mới là thơ tự do và thơ vănxuôi, Tản Đà đã một mình làm đợc “cơn gió lạ” đầu tiên trong thi nghiệp củamình, dọn đờng cho Thơ Mới, thơ hiện đại ra đời
2.2 Đặc điểm về tổ chức bài thơ của Tản Đà
2.2.1 Tiêu đề
2.2.1.1 Khái niệm tiêu đề và nhan đề trong văn bản thơ
Tiêu đề thơ là tên gọi của một văn bản thơ, thờng là những vị trí ở đầuvăn bản, đợc trình bày bằng những con chữ riêng cho phép phân biệt nó vớitoàn bộ phần còn lại của văn bản
Nhan đề văn bản thơ thờng đợc ngời đọc tiếp nhận nh là mặt hìnhthức của tiêu đề Mà tiêu đề, ngoài mặt hình thức còn có mặt nội dung
Một văn bản thơ chỉ đợc coi là hoàn chỉnh khi ta đặt nó dới một tiêu
đề Vì tiêu đề văn bản thơ là yếu tố mở đầu, là biểu tợng kết thúc trong quátrình sáng tác thơ
Trang 40Cấu trúc tiêu đề thơ gồm cấu trúc hớng nội và cấu trúc hớng ngoại.Cấu trúc hớng nội là cách tổ chức bên trong của một tiêu đề thơ khi táchkhỏi văn bản Cấu trúc hớng ngoại là mối quan hệ về nội dung và hình thứcgiữa tiêu đề thơ với phần còn lại của văn bản thơ.
Đặt tiêu đề bài thơ có thể trớc hay sau khi văn bản thơ đã hình thành,tuỳ theo thói quen ở mỗi ngời cầm bút Tiêu đề là yếu tố thờng trực hiện hữuhoặc bằng ý thức hoặc bằng vô thức chi phối quá trình tạo lập văn bản thơ.Bởi vì, không có tiêu đề thơ thì khó lòng xác định nội dung và t tởng bài thơ
Tiêu đề thơ là yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố cuối cùng trong quátrình sáng tạo và tiếp nhận văn bản
5 19 13% Mắng con cuốc tiếc xuân
6 10 7% Hơn nhau một chén rợu mời
7 11 7,5% Không chồng ai dễ sống chi lâu
8 4 3% Th gửi ngời tình nhân có quen biết
9 2 1,5% Th gửi ngời tình nhân có quen biết
10 1 0,7% Sài Gòn nhớ bạn độc giả An Nam tạp chí
11 1 0,7% Cái ruột con tằm, em ơi, bối rối mà vò tơ.Không có tiều đề nào dài hơn 11 âm tiết, Tản Đà chỉ sử dụng một số l-ợng âm tiết tối thiểu để thể hiện nội dung, t tởng của mình Ông đã phát huytối đa khả năng tiềm tàng của tiếng Việt
Khi cần lựa chọn từ đơn tiết và từ đa tiết, Tản Đà đã sử dụng từ đơntiết ngắn gọn, tạo đợc ấn tợng Tản Đà dùng từ “say” mà không dùng từ “sayrợu” (“Say”, “Lại say”, “Cha say”)
Câu tiêu đề trong thơ của Tản Đà có nhịp điệu cân xứng nhau cả ý vàlời (Cảm thu tiễn thu, Năm canh mối tình, Giặt lụa hái rau )
Nhiều trờng hợp, Tản Đà đặt tiêu đề chuyển nghĩa bằng phép so sánh(Cái ruột con tằm, em ơi, bối rối mà vò tơ; Kiếp con quay )
Có những tiêu đề, Tản Đà dùng các số từ, để cụ thể hoá hơn vấn đề mà
ông đang đề cập (Đề Khối tình con thứ nhất, Đề khối tình con thứ II, Địa đồ
rách thứ ba, Địa đồ rách thứ t )