1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình kinh tế ấn độ từ 1991 đến 2007

109 395 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 4,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, ấn Độ phải xây dựng một nền công nghiệp hoàn chỉnh có côngnghiệp, nông nghiệp hiện đại, khoa học - kỹ thuật tiên tiến và dựa vào sứcmình là chính, cố gắng tạo nguồn tích luỹ chủ y

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Khoa Sau

Đại học - Trờng Đại học Vinh và tổ chuyên ngành Lịch sử Thế giới đã tạo

điều kiện và thời gian giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện đề tài này.

Trang 2

Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn t liệu và khả năng nghiên cứu của bản thân cho nên luận văn này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong đ-

ợc sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn bè để luận văn này đợc hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 12 năm 2008 Tác giả

Trang 3

2.1 Tình hình kinh tế ấn Độ từ 1991 - 1999 40

2.1.1 Chính sách phát triển kinh tế ấn Độ trong thời kỳ 1991 - 1999 402.1.1.1 Chính sách phát triển kinh tế thị trờng và tự do hoá 412.1.1.2 Chính sách công nghiệp, khoa học - công nghệ và nông nghiệp 53

2.1.2 Bớc chuyển sang nền kinh tế tri thức của ấn Độ 702.1.2.1 Quá trình chuyển sang nền kinh tế tri thức của ấn Độ 712.1.2.2 Chiến lợc và chính sách chuyển sang nền kinh tế tri thức của ấn Độ 732.2 Tình hình kinh tế ấn Độ từ 2000-2007 772.1.2 Nét đặc thù trong sự phát triển kinh tế của ấn Độ 772.2.2 Sự nổi lên của nền kinh tế ấn Độ 81

Chơng 3 Một số nhận xét về tình hình kinh tế ấn Độ từ 1991

đến 2000 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

3.1 Những thành tựu và hạn chế của kinh tế ấn Độ từ 1991 đến 2007 101

Trang 4

Bảng chữ cái viết tắt

BSE Thị trờng chứng khoán

NSE Thị trờng chứng khoán quốc gianbfcs Công ty tổ chức phi ngân hàng

oecd Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế imf Quỹ tiền tệ quốc tế

epf Quỹ tiết kiệm của ngời lao độngedi Đầu t gián tiếp

Efra - 1973 Luật kiểm soát ngoại hối

eu Liên minh châu Âu

sbi Ngân hàng ấn Độ

fdi Đầu t nớc ngoài

fipb ủy ban xúc tiến đầu t nớc ngoàirbi Ngân hàng dự trữ Trung ơng ấn Độ

WB Ngân hàng Thế giới

Trang 5

Bộ giáo dục và đào tạo

Tr ờng đại học vinh

Trang 6

A mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Trong nhiều thập kỷ qua, khi nói đến thần kì kinh tế châu á ngời ta chỉnhắc đến Nhật Bản sau đó là các con rồng nhỏ, chứ không nhắc tới một nớcNam á nào Dờng nh, ngời ta đã quên mất một đất nớc ấn Độ đầy tiềm năng.Tuy nhiên, với mức tăng trởng 8% trong những năm đầu thể kỷ XXI , có vẻ

nh cuối cùng ấn Độ đã làm đợc những gì mà các nớc Nam á khác cha làm

đ-ợc Một câu hỏi đặt ra: tại sao Nhật Bản là một nớc nghèo tài nguyên thiênnhiên lại có thể trở thành một cờng quốc thơng mại lớn thứ hai châu á với cáitên gọi “sự thần kì Nhật Bản”? Tại sao Trung Quốc không có đầu t nớc ngoài

đến tận năm 1978, thế mà năm 1993 đã thu hút 60 tỷ đôla Mỹ? Tại sao các

“con hổ châu á” tăng trởng ở mức 7 - 9% trong khoảng từ 1971 - 1980, trongkhi ấn Độ chỉ đạt mức tăng trởng 3,7% thậm chí thấp hơn Pakistan? Vậy phảichăng, sự khác nhau đó bắt nguồn từ chỗ: ấn Độ đã đi theo mô hình kinh tế t-

ơng đối đóng, còn các nớc kia đã đi theo mô hình kinh tế mở, đẩy mạnh xuấtkhẩu, nới lỏng đối với nhập khẩu, khuyến khích thành phần kinh tế t nhân vàhớng nền kinh đó vào một cuộc cạnh tranh lớn Vậy ấn Độ đã chọn giải pháp

và hớng đi nh thế nào để giờ đây đã trở thành một điều thần kì khiến cả thếgiới phải ngỡ ngàng Phải chăng ấn Độ đã đa một “làn gió mới” của cuộc cảicách đã “thổi” vào ấn Độ từ tháng 7/1991.Từ một nền kinh tế khủng hoảngvới tổng dự trữ ngoại tệ trong ngân sách dới 1 tỷ USD, khiến các nhà kinh tếLuân Đôn đã coi ấn Độ là “một nớc phá sản” Nhng chỉ sau một thời gianngắn thực hiện công cuộc cải cách, nền kinh tế ấn Độ liên tục đạt mức tăng tr-ởng 6 - 7,5%, trở thành một nền kinh tế hoạt động hiệu quả nhất thế giới trongmột thời gian dài Giờ đây, ấn Độ không còn bị ngời ta lãng quên nh nhữngthập kỷ sau giành độc lập mà ngời ta biết đến ấn Độ nh một siêu cờng đangnổi ấn Độ đã trở thành một trong “bốn viên gạch vàng” thế giới (Braxin, Nga,Trung Quốc, ấn Độ) và con rắn, hổ ấn Độ hoàn toàn có thể sánh vai cùng conrồng Trung Quốc dới ánh mặt trời Giấc mơ về một đất nớc ấn Độ thịnh vợng

đã và đang trở thành hiện thực và câu chuyện thành công của nền kinh tế ấn

Độ vẫn đang đợc nhiều tác giả trong và ngoài nớc viết lên với đầy hứa hẹn chotơng lai Liệu ấn Độ có thực hiện đợc không, dấu hiệu tăng trởng chững lạitrong năm 2008 này có khắc phục đợc không? Song với một số đánh giá hếtsức khả quan của các nhà kinh tế thế giới: đến năm 2040 ấn Độ sẽ trở thànhnền kinh tế lớn thứ ba thế giới và sẽ trở thành “con hổ châu á” Với những dự

Trang 7

báo này cùng với những thành quả kinh tế ấn Độ đã đạt trong thời gian qua,chúng ta có thể hoàn toàn tự tin về nền kinh tế này.

Hiện nay, nớc ta đang trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đaị hoá đất

n-ớc, hớng tới mục tiêu “dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh” Để hoàn thành mục tiêu này, toàn Đảng, toàn dân ta cần phải ra sứcphấn đấu, phát huy cao độ trí tuệ, và tính sáng tạo Đồng thời, cũng khôngngừng nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm của các nớc trên thế giới, nhất là

đất nớc ấn Độ Trong những năm qua sự phát triển kinh tế của nớc ta chịukhông ít những tác động nhiều chiều từ sự vơn lên nhanh chóng của nền kinh

tế đông dân này Đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về những nhân tố ảnh hởng đếntăng trởng kinh tế của ấn Độ để học những điều hay, để biết trớc và tránhnhững điều không nên làm là điều cần thiết và có ý nghĩa Vì vậy, việc nghiêncứu để hiểu sâu hơn về một giai đoạn phát triển kinh tế ấn Độ từ 1991 - 2007

là một bài học bổ ích cho mỗi chúng ta

Với những lý do trên, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Tình hình kinh tế

ấn Độ từ 1991 đến 2007” để làm nội dung nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ

(chuyên ngành lịch sử thế giới) Chọn giai đoạn từ (1991 - 2007), tôi muốnnhấn mạnh đến sự thay đổi kinh tế của quốc gia này khi tiến hành công cuộccải cách tháng 7 - 1991 Việc tìm hiểu, nghiên cứu tình hình kinh tế ấn Độgiai đoạn này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về một ấn Độ ngày nay

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ quá khứ đến hiện tại, ấn Độ luôn chiếm một vị trí quan trọng trong tiếntrình phát triển của nhân loại Chính vì thế ấn Độ là cả một kho tàng bí ẩn, làmột đề tài vô cùng hấp dẫn, lí thú đang đợc các nhà khoa học tìm hiểu khámphá, nghiên cứu Đặc biệt vấn đề kinh tế ấn Độ giai đoạn 1991 - 2007 đã đợcrất nhiều tác giả trong và ngoài nớc đề cập đến Vì điều kiện thời gian và t liệu,chúng tôi cũng cha thể đề cập hết các công trình nghiên cứu về vấn đề này.Song, qua một số t liệu chúng tôi đã trực tiếp, tiếp cận, thì vấn đề này mới chỉtrình bày rải rác ở một số sách chuyên khảo về lịch sử, về vấn đề kinh tế, cũng

nh một số sách chuyên sâu về các lĩnh vực của ấn Độ nh các cuốn:

Cuốn "Cục diện kinh tế thế giới hai thập niên đầu thế kỷ XX", Lê Văn

Sang, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2005; cuốn sách này đã đa ra khẳng định ấn Độ lànớc có chiến lợc phát triển giáo dục tốt ấn Độ đang có tiếng nói ngày càngquan trọng, trên diễn đàn hợp tác kinh tế và an ninh của khu vực và thế giới

Cuốn "Nghiên cứu so sánh tăng trởng kinh tế của Trung Quốc và ấn

Độ", Phạm Thái Quốc (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008, cho

Trang 8

chúng ta hiểu những nét chính trong bối cảnh quốc tế, cuối thế kỷ XIX đầu

XX Bối cảnh đó đã tác động đến sự tăng trởng của hai nớc nh thế nào Sosánh sự tăng trởng của hai nớc để từ đó cho chúng ta hiểu rõ hơn về mức độtăng trởng của ấn Độ Tác giả đã phân tích sự tăng trởng, những hạn chế vàtriển vọng tăng trởng của Trung Quốc và ấn Độ trong những thập kỷ tới Cuốicùng tác giả đã trình bày những cơ hội, thách thức từ sự nổi lên của TrungQuốc và ấn Độ là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Cuốn "Vũ điệu với ngời khổng lồ, Trung Quốc ấn độ và nền kinh tế toàn

cầu", L ALan Winters và Shahid Yusuf, ấn phẩm chung của ngân hàng thế giới

và Viện nghiên cứu chính sách (Singapore), đã khái quát nguyên nhân tăng trởngcủa nền kinh tế ấn Độ Bên cạnh đó, tác giả đã đề cập, sự tăng trởng mạnh củaTrung Quốc và ấn Độ đã không đi kèm với các biện pháp cải thiện hiệu quả, sửdụng năng lợng, dẫn đến sự tăng trởng không đều, điều đó đã tác động mạnh

đến đời sống xã hội: năng suất thấp, mức sống nông thôn thấp hơn nhiều so vớikhu vực thành thị, trình độ giáo dục cơ bản thấp đã cản trở ngời nghèo tham giavào quá trình phi nông nghiệp Tác giả cũng đã đa ra những học hỏi từ quá khứ

để đánh đổi sai lầm, từ đó giúp nông dân nghèo tiếp cận thị trờng

Cuốn "50 năm kinh tế ấn Độ", Đỗ Đức Định, Nxb thế giới, Hà Nội, 1999

đã trình bày khái quát các chiến lợc kinh tế của ấn Độ 50 năm sau độc lập(1947 - 1999), nêu khá cụ thể những thành tựu kinh tế của ấn Độ 50 năm đótrên các lĩnh vực kinh tế chủ yếu, đa ra những triển vọng, hớng phát triển chokinh tế ấn độ trong tơng lai

Cuốn "Sự điều chỉnh chính sách cộng hoà ấn Độ 1991 - 2000", Trần thị

Lý, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002 Tác giả đã trình bày nguyên nhântrực tiếp dẫn đến điều chỉnh, chính sách của Cộng hoà ấn độ và những chínhsách đối ngoại của ấn Độ đối với từng khu vực.Từ những điều chỉnh đó đã

đem lại cho ấn Độ những thành quả, đạt mức tăng trởng với nhịp độ tơng đốicao từ năm 1992 - 1993 đến nay

Cuốn "Chính sách ngoại thơng ấn Độ thời kì cải cách", Lê Nguyễn

H-ơng Trinh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, trình bày khái quát cácchính sách về ngoại thơng, sự chuyển hớng chính sách về ngoại thơng ấn độthời kì cải cách Đó là, sự thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu, sự thay

đổi khuynh hớng đối tác thơng mại Cuối cùng là sự điều chỉnh chính sáchngoại thơng thời kì cải cách Từ đó cho thấy, nếu so sánh kinh tế ấn Độ trớc

và sau cải cách thì kinh tế ấn Độ sau cải cách có sự phát triển tột bậc, góp

Trang 9

phần căn bản vào sự tăng trởng, đó là sự điều chỉnh chính sách xuất nhậpkhẩu nói riêng và chính sách ngoại thơng nói chung.

Bên cạnh đó còn có khá nhiều bài viết liên quan đến các vấn đề kinh tế

ấn Độ giai đoạn từ 1991 - 2007 đăng trên các tạp chí chuyên ngành (Nhữngvấn đề kinh tế thế giới, nghiên cứu Đông Nam á); Các bản tin tham khảohàng ngày của Thông tấn xã Việt Nam (Tài liệu tham khảo đặc biệt, Tin thamkhảo, Tin tham khảo chủ nhật)

Nhìn chung hơn một thập kỷ trở lại đây, những tiến triển mới trong đờisống kinh tế ở ấn độ đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các học giả nớcngoài và Việt Nam Một số công trình mà chúng tôi nêu trên, ít nhiều đều cóliên quan tới những vấn đề nghiên cứu của luận văn Song cha có công trìnhnào bao quát hết đợc tình hình kinh tế ấn Độ từ 1991 đến nay Các công trìnhnghiên cứu trên đã cung cấp cho luận văn một nguồn t liệu bổ ích, gợi mở chochúng tôi trong qúa trình hoàn thành luận văn này

3 Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn nội dung: Đề tài đã đi sâu nghiên cứu “Tình hình kinh tế ấn Độ

từ 1991 đến 2007" Lĩnh vực kinh tế không tách biệt với lĩnh vực xã hội mà có

mối quan hệ tác động biện chứng, đồng thời gắn chúng với yếu tố chính trịvăn hoá, địa lí Đặc biệt, yếu tố kinh tế của ấn Độ đã ảnh hởng và chi phối lớn

đến việc thúc đẩy sự phát triển của xã hội ấn Độ

Giới hạn về thời gian: Nội dung luận văn đựơc giới hạn trình bày trongkhoảng thời gian từ năm 1991 đến năm 2007 Lý do giới hạn thời gian trên là:Thứ nhất, chúng tôi lấy mốc năm 1991 vì: năm 1991 đã đánh dấu một thời kìlịch sử mới của kinh tế ấn Độ, thời kì ông Nahasimha - Rao lên cầm quyền

ấn Độ đã bớc vào cải cách toàn diện về mặt kinh tế, đồng thời đã chấm dứtthời kì thâm hụt ngân sách và bắt đầu đánh dấu một thời kì cất cánh của ấn

Độ Thứ hai, nội dung của luận văn dừng lại ở năm 2007, thực ra đây vẫn đang

là thời kì cầm quyền của ông M.Singh và nền kinh tế ấn Độ vẫn đang trên đàphát triển mạnh ấn Độ đang phấn đấu để trở thành nền kinh tế thứ ba trênthế giới Chúng tôi dừng lại ở năm 2007 chỉ để xác định mốc thời gian màthôi

Ngoài ra, nhằm đảm bảo tính logic của luận văn và giúp cho phần nghiêncứu trọng tâm rõ ràng, dễ hiểu, trong một chừng mực nhất định Chúng tôi đãtrình bày một cách khái quát về tình hình kinh tế ấn Độ trớc năm 1991, từ đóchúng tôi đã làm rõ hơn tại sao ấn Độ phải cải cách

Luận văn đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:

Trang 10

Các công trình nghiên cứu các học giả Việt Nam đã đợc in thành sách tạimột số nhà xuất bản nh: Nxb Chính trị quốc gia, Nxb khoa học xã hội, NxbGiáo dục, Nxb Thống kê.

Các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành nh: Những vấn đềkinh tế thế giới, Nghiên cứu Đông Nam á, Các vấn đề quốc tế

Các tài liệu tham khảo khác nh: Bản tin tham khảo hàng ngày, tài liệutham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam

Một số công trình nghiên cứu của các tác giả nớc ngoài đã đợc xuất bảnthành sách và dịch sang tiếng việt

Trên cơ sở triết học Mác - Lênin, chúng tôi đã lấy quan điểm duy vậtbiện chứng, duy vật lịch sử làm phơng pháp luận cho việc nghiên cứu Phơngpháp nghiên cứu chính luận văn sử dụng là phơng pháp lịch sử và phơng pháplogich Từ đó đã khái quát toàn bộ quá trình phát triển của vấn đề và rút ranhững kết luận cần thiết Ngoài ra luận văn còn sử dụng phơng pháp bổ trợkhác nh: so sánh, tổng hợp và thống kê

Luận văn đã đi sâu nghiên cứu tìm hiểu "Tình hình kinh tế - xã hội ấn Độ

trong giai đoạn 1991 - 2007" là giai đoạn đợc nhiều ngời quan tâm, nhng lại

còn rất ít những công trình nghiên cứu về vấn đề này Luận văn đã cố gắng táihiện và dựng lại một cách cụ thể, rõ ràng sự phát triển thăng trầm về kinh tế-xã hội ấn Độ trong suốt quá trình đó Đồng thời luận văn đã rút ra nhận xét vềnhững thành tựu ấn Độ đã đạt đợc, cũng nh đã chỉ ra đợc triển vọng và tháchthức của ấn Độ trong tơng lai

Luận văn đã rút ra một số nhận xét về tình hình kinh tế ấn Độ giai đoạn

từ 1991 - 2007 Qua đây giúp ngời đọc bao quát đợc toàn bộ bức tranh kinh tếxã hội ấn Độ trong gần hai thập kỷ qua, đồng thời cũng thấy đợc những điểmnổi bật nhất trong thời gian phát triển này Qua việc nghiên cứu, chúng tôi hivọng rút ra đợc những bài học kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn cho côngcuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc ta hiện nay

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần tài liệu tham khảo và phần phụ lục,luận văn gồm ba chơng:

Chơng 1: Khái quát tình hình kinh tế ấn Độ trớc năm 1991.

Chơng 2: Tình hình kinh tế ấn Độ từ 1991 - 2007.

Trang 11

Chơng 3: Một số nhận xét về tình hình kinh tế ấn Độ từ 1991 - 2007 Bài

học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Trang 12

B nội dung Chơng 1.

Khái quát tình hình kinh tế ấn Độ trớc năm 1991 1.1 Những nhân tố tác động đến kinh tế ấn Độ từ 1950 đến 1991

1.1.1 Thuận lợi

ấn Độ là một quốc gia rộng lớn nằm ở khu vực Nam á, đứng thứ 7 thế giới

về diện tích với hơn 3,3 triệu km2 Với tổng chiều dài trên bộ là 14.103 km, trong

đó có 4.053 km giáp Bănglađet; 605 km giáp Bhutan;1.463 km giáp Mianma;3.380 km giáp Trung Quốc; 1.690 km giáp Nêpan và 2.912 km giáp Pakistan.Tổng chiều dài biên giới biển là 7000 km Cả biên giới đất liền và biên giới biểndài giúp ấn Độ có nhiều lợi thế trong buôn bán và giao dịch quốc tế

ấn Độ có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, phong phú, có vị trí địa

lí thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nớc ấn Độ còn có những đồng bằngphì nhiêu vào loại lớn nhất thế giới để trồng lúa gạo Đồng bằng Gange nằm ởphía Nam và song song với vùng núi non Himalaya, một vành đai đất thấprộng từ 280 đến 400 km, hình thành bởi con sông Gange Thung lũng Assamnằm cách đồng bằng Gange bởi một hành lang đất hẹp, thung lũng này đợc tớimát bởi con sông Brahmaputra là nơi trồng lúa gạo đạt năng suất cao Bán đảo

ấn Độ đợc bao bọc hầu hết là những vùng duyên hải phì nhiêu.Vùng ven biểnphía Tây gồm những c dân sống bằng nghề nông và ng nghiệp Ngoài những

đồng bằng phì nhiêu ấn Độ còn có những cao nguyên rộng lớn để trồng lúamì và các loại hoa quả, cây nông nghiệp làm đồng cỏ để chăn nuôi nh caonguyên Đê Can, cao nguyên Arvalli,…

Vùng rừng núi ấn Độ chiếm phần lớn diện tích đất nớc (21,9% đất đai),với nguồn tài nguyên thiên nhiên thực vật và động vật phong phú có giá trịkinh tế cao giành cho nhu cầu trong nớc và xuất khẩu Các loại gỗ có giá trịthơng mại cao nh gỗ tếch, gỗ hồng mộc, tre,… Đặc biệt, ấn Độ có nguồngien sinh vật phong phú với hơn 45000 giống cây, trong đó 33% là giống câybản địa, 15000 giống cây có hoa quý, gần 5000 loài thú lớn, quý hiếm nh hổ,báo, s tử…tất cả những lợi thế này có thể phục vụ cho sự phát triển kinh tế.Nhiều vùng rừng ở ấn Độ với sự phong phú của động thực vật đã trở thành địabàn phát triển du lịch thuận lợi

Dới lòng đất, ấn Độ có nhiều có nhiều tài nguyên khoáng sản nh: than (lànớc có dự trữ than lớn thứ 4 thế giới với 120 tỷ tấn), quặng sắt (chiếm 1/4 trữlợng của thế giới với 22,4 tỉ tấn), Mangan, Mica, Boxit, Titan, Crôm, khí thiênnhiên, kim cơng, dầu mỏ đều có trữ lợng lớn ở ấn Độ

Trang 13

ấn Độ còn có một vùng biển rộng lớn giàu về hải sản và các nguồn lợikhác nhau… là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế Hiện nay ấn Độ làmột trong những nớc xuất khẩu hải sản mạnh nhất thế giới.

ấn Độ là nớc có dân số đông, có lực lợng lao động dồi dào Tính đếntháng 7/2006 dân số ấn Độ đạt gần 1,1 tỷ ngời, trong đó dân số trẻ trong độtuổi lao động chiếm tới 64,3% là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế Giánhân công tơng đối rẻ cùng với trình độ tiếng Anh cao đang là một lợi thếtrong cạnh tranh nói chung và thu hút nguồn đầu t FDI nói riêng của ấn Độ.Lao động của ấn Độ đợc đào tạo bài bản, có tay nghề cao đợc cả thế giới côngnhận ấn Độ còn có nhiều nhà khoa học tầm cỡ thế giới, đặc biệt là khă năngtoán học và phơng pháp t duy trừu tợng làm cho đội ngũ trong công nghệ phầnmềm có u thế vợt trội hơn hẳn

ấn Độ xây dựng nền kinh tế trong bối cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi

Xu thế quốc tế hoá, khu vực hoá diễn ra mạnh mẽ, giao lu quốc tế ngày càng

mở rộng, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật diễn ra nhanh chóng…là điềukiện để ấn Độ tiếp thu điều kiện khoa học kỹ thuật, văn hoá, trao đổi hànghoá, đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút vốn đầu t

Những u đãi của tự nhiên, những thuận lợi của quốc tế cùng với chínhsách phát triển kinh tế đúng đắn, khát vọng muốn xây dựng một đất nớc giàumạnh sau hàng trăm năm nô lệ của nhân dân là nguyên nhân dẫn tới nhữngthành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng đất nớc ấn Độ, đa quốc gia Nam ánày tiến nhanh trên con đờng trở thành một cờng quốc

ấn Độ là một nớc lớn, đa dân tộc, đa tôn giáo, sắc tộc, những tàn d của chế

độ đẳng cấp vẫn còn tồn tại rất nặng nề Điều đó đã dẫn đến những mâu thuẫn dớinhiều hình thức khác nhau, trong các nhóm xã hội khác nhau, đặc biệt là nhữngxung tộc tôn giáo, sắc tộc đã dẫn đến nhiều vụ bạo loạn, li khai Sự không ổn định

Trang 14

này không chỉ ảnh hởng đến các dự án dầu t nớc ngoài trên những vùng này màcòn ảnh hởng không nhỏ đến sự phát kinh tế, xã hội nói chung của toàn đất nớc.

Sự hình thành và tồn tại của các đảng phái chính trị cũng làm cản trở sự phát triểncủa nền kinh tế bởi sự chống đối, công kích lẫn nhau của các đảng phái dẫn đếnkhó có thể thống nhất đợc các chính sách kinh tế

Trong quá trình phát triển kinh tế các nhà lãnh đạo ấn Độ đã có nhiều cốgắng hạn chế những khó khăn, phát huy mặt tích cực, những lợi thế vốn có để

đa ấn Độ tiến những bớc dài trên trờng quốc tế

1.2 Kinh tế ấn Độ từ 1950 đến 1991

1.2.1 Kinh tế ấn Độ sau ngày giành độc lập

Sau khi giành độc lập năm 1950, ấn Độ đứng trớc tình hình thế giới đãphân chia thành hai hệ thống chính trị, kinh tế đối lập nhau: Hệ thống xã hộichủ nghĩa và hệ thống t bản chủ nghĩa Là một nớc lớn, ấn Độ không muốn bịrơi vào qũy đạo của hệ thống này hay hệ thống kia Vì vậy Jawaharlal Nehru,Thủ tớng đầu tiên của nớc ấn Độ độc lập, chủ trơng theo đờng lối độc lập, tựchủ và trung lập Đờng lối này về sau gọi là không liên kết

Về kinh tế, ấn Độ đã chọn đờng lối kinh tế kế hoạch hoá, nhng khônghoàn toàn là kinh tế quốc doanh, mà là một nền kinh tế hỗn hợp, vừa mangnhững đặc tính kinh tế thị trờng vừa tuân thủ những mệnh lệnh kinh tế chỉ huy

Từ năm 1947, Mahatma Gandhi trở thành linh hồn của cuộc đấu tranhgiành độc lập cho ấn Độ Ông đã chủ trơng duy trì sự cân bằng xã hội truyềnthống, chú trọng phát triển nông thôn để giải quyết vấn đề việc làm Ông đãphản đối công nghiệp hoá quy mô lớn, theo ông "Máy móc hiện đại sẽ hất conngời ra lề đờng làm tăng nạn thất nghiệp bất công cho xã hội" [6; tr 31] Nhngsau khi trở thành Thủ tớng J.Nehru lại bảo vệ một luận điểm khác, xã hội lý t-ởng của ông là một nền dân chủ nghị viện kiểu Anh kết hợp với nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung theo mô hình xô viết Theo ông: "ấn Độ là một nớc códiện tích lớn, đông dân có nhiều tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên và thị tr-ờng trong nớc rộng lớn đủ đáp ứng cho nhu cầu phát triển công nghiệp hiện

đại Do đó, ấn Độ phải xây dựng một nền công nghiệp hoàn chỉnh có côngnghiệp, nông nghiệp hiện đại, khoa học - kỹ thuật tiên tiến và dựa vào sứcmình là chính, cố gắng tạo nguồn tích luỹ chủ yếu ở trong nớc, tranh thủ sựgiúp đỡ và quan hệ với nớc ngoài nhng không lệ thuộc” [13; tr 8] Quan điểm

tự lực tự cờng của J.Nehru đã dành đợc sự ủng hộ của đông đảo các tầng lớpnhân dân và trở thành t tởng chỉ đạo cho toàn bộ đờng lối phát triển kinh tếcủa ấn Độ trong những năm sau này

Trang 15

Mục đích của việc chọn mô hình này là nhằm đảm bảo phân phối côngbằng và hiệu quả tài nguyên quốc gia, từ đó Nhà nớc đã thực hiện kinh tế kếhoạch tập trung bao cấp, nhiều lĩnh vực bị quốc hữu hoá, đã kiểm soát gắt gaongành công nghiệp, các hoạt động tài chính tiền tệ nói chung nhất là tín dụng tnhân, đầu t trực tiếp nớc ngoài bị giới hạn Xuất nhập khẩu bị hạn chế thôngqua việc cấp giấy phép, các hàng rào bảo hộ bị thiết lập một cách chặt chẽ chủyếu bằng hệ thống thuế quan cao Thực chất của mô hình trên là nhằm xâydựng một nền kinh tế hớng nội Mô hình kinh tế này là hoàn toàn phù hợp với

điều kiện đất nớc ấn Độ lúc bấy giờ, nhng do đã tồn tại quá lâu trong một môhình kinh tế khép kín càng làm cho ấn Độ thiếu đi sức cạnh tranh trong xu h-ớng toàn cầu hoá của nhân loại Trong xu hớng toàn cầu hoá nếu một đất nớc tựtách mình ra khỏi dây chuyền khoa học - kỹ thuật họ sẽ bị thụt lùi, mô hình tựlực tự cờng đã trở thành tự cung tự cấp Để bảo vệ công nghiệp sản xuất củamình ấn Độ đã hạn chế nhập khẩu, với đờng lối đó dân chúng phải những hànghoá và dịch vụ rẻ mạt với giá cắt cổ, các công ty nớc ngoài nh Côcacôla và IBMbuộc phải rời khỏi ấn Độ nhờng lại thị trờng cho những nhà cung cấp nội địa.Bên cạnh đó những cuộc khủng hoảng đã bắt đầu trên một nền tảng kinh tế trìtrệ khép kín, bị xói mòn bởi tệ quan liêu tham nhũng

1.2.2 Những u tiên chiến lợc và sách lợc của ấn Độ trong phát triển kinh tế

Ưu tiên về khoa học - kỹ thuật:

Sau ngày giành độc lập, ấn Độ đợc mệnh danh là một trong những nớcnghèo của thế giới Để đa ấn Độ trở thành một nớc công nghiệp giàu mạnh tự c-ờng, chính phủ ấn Độ đã xác định: phải đa nền khoa học - kỹ thuật của ấn Độ từtình trạng lạc hậu lên trình độ tiên tiến Trong kế hoạch 5 năm lần 2 Thủ tớngNehru đã nhấn mạnh: "Khi nói về kế hoạch hoá chúng ta phải nghĩ tới nghĩacông nghiệp của khái niệm đó vì chính sự phát triển của khoa học và công nghệ

đã cho phép con ngời có thể sản xuất ra những của cải mà không một ai có thểmơ ớc đợc, đó chính là cái đã làm cho các nớc khác hùng mạnh và giàu có, chỉ

có thông qua sự phát triển của quá trình công nghệ mà chúng ta có thể lớn lên vàtrở thành một quốc gia thịnh vợng và hùng mạnh, không có con đờng nào khác

Do đó, nếu ấn Độ muốn tiến lên, ấn Độ phải tiến lên khoa học và công nghệ, ấn

Độ phải sử dụng những kỹ thuật mới" [13; tr 9] Với việc u tiên cho khoa học - kĩthuật, phát triển mạnh mẽ đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật đã mang lại cho ấn

Độ những thành quả đáng tự hào nh: đến kế hoạch 5 năm lần thứ sáu ấn Độ đã

có 119 trờng đại học, 5 viện kĩ thuật, 130 phòng thí nghiệm, mỗi năm ấn Độ đàotạo 150.000 cán bộ khoa học kĩ thuật

Trang 16

Ưu tiên về nông nghiệp:

Là một đất nớc có nạn đói kinh niên nh ấn Độ thì việc dành u tiên chonông nghiệp là rất cần thiết Vì thế, u tiên phát triển nông nghiệp là mục tiêuhàng đầu của các nhà lãnh đạo ấn Độ Tuy nhiên cuộc Cách mạng Xanh đãmang lại cho nông nghiệp ấn Độ nhiều thành quả đáng tự hào: không chỉmang lại một sức sống mới cho nông thôn ấn Độ mà còn cho toàn thể ngờidân ấn Độ Nhng Cách mạng Xanh vẫn còn mang những hạn chế và chínhnhững hạn chế đó buộc Chính phủ ấn Độ không thể không dành u tiên chophát triển nông nghiệp Chính sách u tiên phát triển nông ngiệp của ấn Độ vừamang ý nghĩa sách lợc vừa mang ý nghĩa chiến lợc Nó không chỉ nhằm giảiquyết nạn đói trớc mắt, cải thiện đời sống cho nông dân mà còn tạo cơ sởvững chắc cho quá trình công nghiệp hoá

Ưu tiên phát triển công nghiệp:

Phát triển một nền công nghiệp đa dạng và vững mạnh là một trong những

u tiên lớn của ấn Độ Ngay khi mới giành đợc độc lập, nền công nghiệp của ấn

Độ còn rất nhỏ bé Cả nớc mới chỉ có một nhà máy thép lớn, hai nhà máy thépnhỏ và một số nhà máy dệt bông đay, đờng, xi măng… Một đất nớc đông dân

nh ấn Độ chắc chắn rằng nhu cầu và khả năng tiêu thụ là rất lớn, nhng với mộtcơ cấu công nghiệp nh vậy rõ ràng không thể đáp ứng nổi cho nhu cầu của ngờidân Vì thế, bắt đầu từ kế hoạch 5 năm lần thứ hai Chính phủ ấn Độ đã tiếnhành tăng cờng đầu t cho các nghành công nghiệp cơ bản nh: sắt thép, nghànhluyện kim màu, dầu lửa… Với việc giành u tiên cho phát triển công nghiệp, vàonhững năm 1980 ở ấn Độ đã có những cơ sở công nghiệp lớn, đa dạng và đãtạo đà cho một số ngành công nghiệp mới

Cơ sở hạ tầng cũng là một trong những lĩnh vực đợc u tiên Nhà nớc đãgiành sự quan tâm rất cao cho việc phát triển hệ thống thuỷ lợi, đờng bộ, đờngsắt, bến cảng và hệ thống giáo dục, y tế Những u tiên chiến lợc này đã đợc thểhiện rõ trong các kế hoạch 5 năm của ấn Độ

Nói chung những u tiên về khoa học - kĩ thuật, nông nghiệp, công nghiệp,cơ sở hạ tầng đã đợc khẳng định rõ ràng Nhng những u tiên này không phảilúc nào cũng dành đợc vị trí u tiên nh nhau mà còn phải tuỳ thuộc vào từngthời kì cụ thể Điều đó đã đợc phản ánh rõ qua 7 kế hoạch 5 năm mà Chínhphủ ấn Độ đã đề ra từ năm 1951 đến năm 1990

Trong kế hoạch 5 năm lần nhất (1951- 1956), Chính phủ đã dành u tiên cho

phát triển nông nghiệp nhằm khắc phục tình trạng thiếu lơng thực cho đất nớc

Trang 17

Đến kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1956 - 1961), Chính phủ lại giành u tiên

cao cho phát triển công nghiệp nặng và tăng cờng phát triển mạng lới giaothông vận tải Đến cuối kế hoạch ấn Độ đã xây dựng thêm một số cơ sở côngnghiệp Nhng những cơ sở công nghiệp đó đã đòi hỏi đầu t lớn, thời gian xâydựng lâu dài, chậm sinh lợi, do đó đã cha đóng góp nhiều cho việc tăng trởngsản lợng công nghiệp Nông nghiệp không còn đợc xếp vào vị trí u tiên hàng

đầu nữa Do không còn đợc coi trọng và do những khó khăn về thời tiết nênsản lợng lơng thực ấn Độ trong hai năm 1957 - 1958 tụt xuống Từ năm 1956

ấn Độ đã phải vay lơng thực của Mỹ theo đạo luật PL 480 Với tình trạng sảnxuất công nghiệp và nông nghiệp của ấn Độ nh vậy đã làm cho mức tăng tr-ởng của nền kinh tế nớc này chậm lại

Kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1961- 1966), trong kế hoạch lần ba nông

nghiệp phần nào đã trở lại đợc u tiên hơn so với lần hai Nhng công nghiệpvẫn chiếm đợc vị trí u tiên hàng đầu

Kế hoạch 5 năm lần thứ t (1969 - 1974), Chính phủ lại trở lại giành u tiên

cao cho nông nghiệp, tuy nhiên vẫn duy trì đầu t cho công nghiệp Nhng trongthời gian này do ấn Độ đã gặp khó khăn trong cuộc chiến tranh với Pakistantháng 12 - 1971, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới t bản chủ nghĩa đầu nhữngnăm 1970, đã tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế ấn Độ gây nên những khủnghoảng năm 1972 - 1974 Chính vì thế, nông nghiêp ấn Độ đã gặp không ítnhững khó khăn, sản lợng luơng thực lên xuống bấp bênh, làm cho nền kinh tế

đã khó khăn lại càng khó khăn hơn Chính phủ ấn Độ đã tiến hành những biệnpháp nhằm tăng cờng chấn chỉnh khu vực Nhà nớc Mặt khác, từ năm 1973tăng cờng khuyến khích và nới lỏng bớt những hạn chế đối với t nhân

Kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1974 - 1979), Chính phủ tiếp tục khắc

phục những khó khăn do cuộc khủng hoảng gây ra Nhng vào cuối kế hoạch,kinh tế ấn Độ càng lún sâu vào khủng hoảng Năm 1978 - 1979 nông nghiệp

ấn Độ giảm 1,7%, lơng thực chỉ còn 109 triệu tấn, lạm phát tăng cao

Kế hoạch 5 năm lần thứ sáu (1980 - 1985), do sự trở lại cầm quyền của

bà I.Gandi, bà đã khắc phục dần những khó khăn và đa ra mục tiêu xoá đóigiảm nghèo Kết quả đã thu đợc những thành quả cao, sản lợng lơng thực đạt

160 triệu tấn vào năm 1985

Kế hoạch 5 năm lần thứ bảy (1986 - 1990), Trong kế hoạch này ấn Độ

tiếp tục u tiên cho phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhằm nâng cao hiệuquả kinh tế cho đất nớc

Trang 18

Nói chung, với đờng lối u tiên chiến lợc và sách lợc của ấn Độ trong mỗithời kì là khác nhau Tuy nhiên, mục tiêu hàng đầu của Chính phủ vẫn giành utiên phát triển công nghiệp Nhng một điều bất cập cho nền kinh tế ấn Độ đólà: vào thời điểm đó ấn Độ vẫn đang là một nớc nghèo với nền kinh tế điêutàn, nếu muốn đa đất nớc phát triển theo hớng công nghiệp hoá thì điều đầutiên phải đảm bảo đợc lợng lơng thực trong nớc Thế nhng, vào thời điểm đó

ấn Độ cha có những nỗ lực to lớn để đảm bảo đợc lơng thực Ngay khi đã tựtúc đợc lơng thực thì ấn Độ vẫn cần phải tiếp tục giành u tiên cho phát triểnnông nghiệp, để làm nền tảng cơ sở vững chắc cho chiến lợc phát triển côngnghiệp lâu dài

Mặc dù Chính phủ ấn Độ đã đa ra những u tiên cho nông nghiệp, côngnghiệp nhng khoa học - kỹ thuật và cơ sở hạ tầng vẫn luôn giành đợc sự u tiêncao nhất trong mọi chơng trình kinh tế

1.2.3 Cơ chế kinh tế hỗn hợp của ấn Độ trớc cải cách năm 1991

Trớc cải cách kinh tế ấn Độ đã tồn tại một cơ chế kinh tế hỗn hợp đó làkinh tế t nhân và kinh tế nhà nớc

Khu vực kinh tế nhà nớc:

Khu vực kinh tế nhà nớc luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc thựchiện kế hoạch kinh tế quốc dân Khu vực kinh tế này đã hình thành từ một số xínghiệp đợc tịch thu của thực dân Anh và đợc mở rộng từ cuối những năm 1960

đầu 1970 với việc quốc hữu hoá một số ngành nh: ngân hàng, than, bảo hiểm vàtiếp quản một số cơ sở đợc coi là ốm yếu trong khu vực kinh tế t nhân Theoquy định, khu vực kinh tế nhà nớc đợc trao độc quyền nắm các ngành côngnghiệp nặng và cơ bản Chính vì thế mức đầu t cho khu vực kinh tế này ngàymột tăng, từ 46% kế hoạch lần một lên 60% kế hoạch lần thứ sáu Khôngnhững thế, khu vực kinh tế này còn kiểm soát các ngành công nghiệp quantrọng nh: sản xuất than, dầu lửa và sản phẩm dầu lửa…luôn đóng một vai tròquan trọng làm nòng cốt trong chơng trình phát triển kinh tế quốc dân cũng nh

là chỗ dựa quan trọng trong khu vực kinh tế t nhân

Khu vực kinh tế t nhân:

Khác với khu vực kinh tế nhà nớc, khu vực kinh tế t nhân chiếm tới 78%tổng thu nhập quốc dân, đóng vai trò thống trị trong sản xuất nông nhiệp và có

vị trí lớn trong nhiều ngành kinh tế quốc dân nh: công nghiệp vận tải, đờng

bộ, thơng mại, xuất nhập khẩu… Khu vực kinh tế này cũng đợc chia làm hailoại: loại có tổ chức và loại không có tổ chức Loại có tổ chức bao gồm các xínghiệp lớn, các công ty lớn và vừa phát triển dần trong quá trình tập trung tích

Trang 19

tụ t bản, sau dựa thêm vào khu vực kinh tế nhà nớc và đợc nhà nớc bảo hộ đểtránh sự cạnh tranh của bên ngoài Loại không có tổ chức bao gồm các xởngnhỏ, thờng là chế biến lơng thực, thực phẩm, vải cơ khí, chiếm gần một nửacác nhân lực ở trong các thành phố và các nhóm tiểu thủ công nghiệp t nhân ởcác làng xã.

Khu vực kinh tế t nhân phát triển trong quá trình tập trung và tích tụ tbản, bắt đầu từ những năm 1950 bằng vốn tự tích luỹ, sau dựa thêm vào khuvực kinh tế nhà nớc Khu vực kinh tế này đã tiếp thu kỹ thuật, cách quản lýcủa phơng Tây và luôn đợc Nhà nớc bảo hộ trớc sự cạnh tranh của bên ngoài.Chính sự bảo hộ này mà thời kì đầu từ năm 1950 đến năm 1970 Nhà nớc đã đề

ra điều luật “hạn chế độc quyền” khá chặt chẽ Nhng sau đó Nhà nớc đã thay

đổi cách quản lý và nới lỏng hơn để mở rộng quyền hạn cho các công ty tronglĩnh vực kinh doanh

Ngoài các xí nghiệp nhà nớc và t nhân, ở ấn Độ thời kì này còn có các xínghiệp liên doanh và hợp tác xã Khu vực này đợc hình thành trên cơ sở Nhànớc bỏ vốn vào xí nghiệp t nhân, t nhân bỏ vốn vào xí nhiệp nhà nớc hoặc haibên cùng hùn vốn xây dựng xí nghiệp mới

Nh vậy, trớc cải cách ở ấn Độ cơ bản đã tồn tại hai thành phần kinh tế:Kinh tế t nhân và kinh tế nhà nớc, trong đó khu vực kinh tế nhà nớc đóng mộtvai trò chủ đạo, còn khu vực kinh tế t nhân chỉ tham gia vào một số lĩnh vựcnhất định, chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nớc

1.2.4 Công nghiệp hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn ở ấn Độ qua hai cuộc Cách mạng Xanh và Cách mạng Trắng

Sau khi giành độc lập, ấn Độ đã tiến hành xây dựng lại đất nớc, dới sựlãnh đạo của J.Nehru rồi của Gandhi và Đảng Quốc Đại mới và cũ Đến tháng8/1983 thu nhập quốc dân của cả nớc ấn Độ đã tăng 3 lần trong khi dân sốtăng 2 lần Trong 30 năm đầu, thu nhập quốc dân bình quân đầu ngời đã tăng

đến 3,5 % mỗi năm Nạn đói đợc khắc phục và đẩy lùi, kinh tế ấn Độ đã cónhững bớc phát triển mới, nhất là nông nghiệp đã phát triển qua hai cuộc Cáchmạng Xanh và Cách mạng Trắng ấn Độ đã bắt đầu có lơng thực dự trữ và bớc

đầu xuất khẩu lơng thực, mặc dù số lợng đang rất ít

Trang 20

Cách mạng Xanh:

Nằm ở Nam á, với điều kiện tự nhiên u đãi, hệ thống sông ngòi của ấn

Độ có lu lợng nớc rất lớn, đủ nớc cho phục vụ và sản xuất nông nghiệp, dânsinh và phát triển thuỷ điện Ngay từ khi giành độc lập ấn Độ đã rất chú trọngphát triển nông nghiệp

Vào năm 1963, cuộc Cách mạng Xanh lần thứ nhất đợc ấn Độ tiến hànhvới mục tiêu, tăng lợng lơng thực cứu dân bị đói Hàng loạt giống lúa mớinăng suất cao đợc đa vào sản xuất với các chơng trình: khai hoang phục hoá,tăng diện tích trồng cây lơng thực, xây dựng hệ thống thuỷ nông Chính phủ

đã quyết định thực hiện một chơng trình phát triển nông nghiệp mới, chơngtrình thâm canh từ kế hoạch lần thứ ba (1961 - 1962 đến 1965 - 1966) Nhngtrong kế hoạch lần thứ ba đã bị đã thất bại Do vậy, từ năm 1966 - 1967, mộtchiến lợc nông nghiệp mới đã đợc triển khai với nội dung chính là phát triểngiống lúa cao sản

Phát triển giống lúa cao sản là một trong những nội dung quan trọng nhấtcủa Cách mạng Xanh Loại lúa này lúc đầu nhập từ Mexico từnhững năm

1940, lúc đầu cũng đạt năng suất, nhng về sau do thời tiết nên đã phát triểnkhông ổn định Trớc tình hình nh vậy ấn Độ đã phải đẩy mạnh phát triển khoahọc nông nghiệp tìm tòi, phát hiện ra các loại giống mới phù hợp với điều kiệncủa đất nớc mình Từ đây đội ngũ kĩ s, các cơ sở nhiên cứu nông nghiệp, cácphòng thí nghiệm, trạm nhân giống, các trờng đại học nông nghiệp đợc thànhlập ngày càng nhiều Viện nghiên cứu lúa Trung ơng ấn Độ đã tạo đợc giốnglúa CR666 có thể thu hoạch 60 ngày gieo trực tiếp Năng suất lúa này là 1,5 -

2 tấn/ha

Cuộc Cách mạng Xanh của ấn Độ đã tạo ra bớc đột phá tăng sản lợng

l-ơng thực của nớc này từ 120 triệu tấn (những năm 1960), lên 210 triệu tấn.Năm 1984, ấn Độ công bố sản xuất đủ lơng thực cho nhu cầu trong nớc Diệntích trồng cây lơng thực của ấn Độ cũng đã tăng nhanh, nạn đói dần đợc đẩylùi Cách mạng Xanh đã mang lại một hệ quả đáng kể, sản lợng lơng thực đãtăng Nếu nh năm 1985 mới chỉ đạt 150 triệu tấn thì năm 1990 đạt 176 triệutấn Sản lợng lúa nớc trong vòng 40 năm (1950 - 1990) tăng gấp 5 lần: từ 20,6triệu tấn lên 111,8 triệu tấn Lúa mỳ tăng từ 6,5 triệu tấn lên 49,9 triệu tấn.Cũng trong năm 90, sản lợng cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn quả cũng

đã tăng đáng kể

Với việc áp dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào trong nôngnghiệp, làm cho sản xuất nông nghiệp ở ấn Độ trong mấy chục năm tiếp đó có

Trang 21

những chuyển biến lớn Diện tích gieo trồng các loại giống mới phát triển,khắc phục dần sự mất cân đối Tuy nhiên, các chính sách đó vẫn cha đạt đợchiệu quả vì các nhà đầu t trong và ngoài nớc đều thích đầu t ở các bang có nềnkinh tế thị trờng phát triển Đa phần họ không muốn đầu t vào các bang kémphát triển phụ thuộc vào nông nghiệp.

đã triển khai mở rộng sản xuất sữa cho toàn quốc, tới các làng xã Từ đâynăng suất sữa tăng nhanh, tạo công ăn việc làm thu nhập cho ngời nông dân

ấn Độ, là nơi có lợng giống bò cho sản lợng sữa hàng năm cao nhất thế giới,cũng là nớc đứng đầu châu á từ đàn trâu bò, 110 triệu con dê đứng đầu châu

á, 54,6 triệu con cừu đứng thứ nhì châu á Năm 1970, ấn Độ sản xuất ra 20,8triệu tấn sữa, đến năm 1990 đã tăng lên 55,3 triệu tấn, năm 1993 đạt 58 triệutấn sữa Năm 1996 chiếm 15% sản lợng sữa bò và 55% sản lợng sữa trâu thếgiới, đa sản lợng sữa của ấn Độ lên hàng thứ hai thế giới Có thể thấy thànhquả của cuộc Cách mạng Trắng qua bảng sau:

Sản lợng cá, trứng, sữa của ấn Độ thời kỳ 1980 - 1991

Năm Cá (triệu tấn) Sữa (triệu tấn) Trứng(triệu tấn)

mỡ Ngay cả những vùng này thì chỉ một số ít những gia đình giàu có mới có khảnăng đầu t, còn lại đa số dân nghèo thì với họ "Cách mạng Xanh" vẫn đang còn

là một cái gì đó rất xa vời mà cha hề đến với họ Cho đến kế hoạch 5 năm lần thứ

7 (1985 - 1990), Chính phủ ấn Độ mới chủ trơng mở rộng Cách mạng Xanh tớicác bang miền đông và nhiều vùng vẫn đang còn trong tình trạng nghèo đói.Mục đích là: nhằm áp dụng những biện pháp hữu hiệu để tăng nhanh sản lợnglúa gạo, đáp ứng yêu cầu lơng thực trong nớc

Trang 22

Công nghiệp hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn:

Theo số liệu điều tra năm 1990, ấn Độ có khoảng 853 triệu ngời, là nớc

có dân số đông thứ hai thế giới Diện tích đất nông nghiệp có 297 ha, đất canhtác 168,25 triệu ha, lao động nông nghiệp có 214,6 triệu ngời, trong 97 triệu

hộ nông dân So với ngày mới giành đợc độc lập thì cả về dân số và chỉ tiêusản xuất nông nghiệp đều tăng ở mức đáng kể Vào những năm 1950 - 1960,

ấn Độ đã rơi vào tình trạng thiếu đói triền miên do hậu quả của chế độ thựcdân để lại Nhng từ những năm 1980, ấn Độ bắt đầu tự cung cấp đủ lơng thựctrong nớc và bắt đầu xuất khẩu một phần lơng thực, mức sống của ngời nôngdân bớc đầu đợc cải thiện Nông nghiệp ấn Độ trong thời gian này đã khaithác đợc tiềm năng của 100 triệu hộ nông dân và 200 hộ lao động Có đợcnhững thành quả đó là nhờ vào đờng lối công nghiệp hoá nông nghiệp và nôngthôn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của ấn Độ Công nghiệp hoá nôngnghiệp và nông thôn ấn Độ bao gồm các nội dung: Công nghiệp hoá sản xuấtnông nghiệp (Phát triển công nghệ sinh học, thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khíhoá nông nghiệp) và đa công nghệ vào nông thôn mở mang ngành nghề tiểuthủ công nghiệp nông thôn, nhằm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp từ thuầnnông sang kinh tế nông công nghiệp dịch vụ ở nông thôn Trên thực tế, ở ấn

Độ công nghiệp hoá nông nghiệp đợc thực hiện trên cơ sở kết hợp chặt chẽviệc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật công nghiệp phục vụ nông nghiệp

Công nghệ sinh học: Tạo ra những giống cây trồng và vật nuôi mới có năngsuất cao Để đạt đợc năng suất kinh tế thực sự cần thiết phải thực hiện đồng bộcác biện pháp kỹ thuật bao gồm: Thuỷ lợi hoá, hoá học hoá và điện khí hoá.Thuỷ lợi hoá: Thuỷ lợi hoá nghĩa là đã công nghiệp hoá các hoạt độngthuỷ lợi nhằm phục vụ tới tiêu cho cây trồng trên đồng ruộng và cung cấp nớccho các chuồng trại chăn nuôi Ngời ta đã sử dụng công cụ máy móc, để đào

đắp đê đập, đào kênh mơng, khoan giếng, trang bị các máy bơm lấy nớc từ ao

hồ sông suối lên và sử dụng các loại động cơ điện, gió để vận hành các loạimáy bơm

Hoá sinh hoá: Hoá học hoá nông nghiệp là đa các sản phẩm công nghiệphoá chất vào phục vụ trồng trọt, chăn nuôi chế biến bảo quản nông sản, bằngnhững nghiên cứu hoá học đã đa vào sản xuất phân hoá học, đã xây dựng và đ-

a vào hoạt động một số nhà máy phân đạm Mặc dù vào thời điểm này, ấn Độ

là nớc đứng thứ 4 trên thế giới về sản xuất phân đạm, nhng ấn Độ vẫn phảinhập phân đạm từ nớc ngoài Bên cạnh đó, ấn Độ cũng đã áp dụng những

Trang 23

công nghệ sinh học, tạo ra đợc những giống cây trồng vật nuôi và đã đem lạimột sản lợng và năng suất cao.

Cơ giới hoá, điện khí hoá: Trong thời kỳ đầu cơ giới hoá nông nghiệp,Nhà nớc đã tổ chức một số trạm máy kéo quốc doanh để làm đất thuê chonông dân, nhng hình thức này đã không mang lại hiệu quả Sau đó lại chuyểnsang hình thức hộ t nhân tự mua hoặc các hộ t nhân chung vốn mua sắm vàtrang bị để cùng đi làm thuê, do không mang lại hiệu quả nên họ cũng đã bỏhình thức này

Cơ giới hoá và điện khí hoá ở ấn Độ gắn liền với Cách mạng Xanh và

Cách mạng Trắng Từ đây, đã thực hiện tốt các nội dung kỹ thuật trồng trọt,chăn nuôi và chế biến nông sản Cơ giới hoá và điện khí hoá đã đa vào nôngnghiệp và nông thôn loại hình năng lợng động lực mới, điện năng và cơ năng

bổ sung cho sức ngời và sức súc vật tạo điều kiện tốt để thực hiện tốt các nộidung kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và chế biến nông sản

Phát triển công nghiệp nông thôn: Trong thời kỳ công nghiệp hoá, ở nông

thôn ấn Độ đã có những cơ sở công nghiệp mới, công nghiệp sản xuất công

cụ cải tiến, nhất là công nghiệp cơ khí, chế tạo và công cụ chế biến đã đợcphát triển Điểm đặc biệt là công nghiệp chế biến nông sản ở nông thôn ấn Độ

đã có bớc phát triển mới, về chế biến lơng thực ( Lúa mỳ và lúa nớc) bên cạnhmáy xay thóc và bột mỳ đã chế tạo ra các loại máy xay cơ khí chạy bằng độngcơ đốt trong và bằng động cơ điện, hình thành nên những cơ sở dịch vụ cơ khíchế biến lơng thực ở nông thôn

Trong cuộc cách mạng Trắng, lợng sữa đã tăng lên nhiều, đã hình thànhngành công nghiệp sữa với các quy mô nhỏ, vừa và lớn ở nông thôn và thànhthị, của các thành phần kinh tế t nhân, hợp tác và quốc doanh, các xí nghiệp chếbiến sữa cũng đợc xây dựng ở vùng chăn nuôi đàn bò sữa để thuận tiện thu gomsữa và chế biến ra các loại sản phẩm phục vụ cho nhu cầu ngời tiêu dùng

Công nghiệp mới ở nông thôn ấn Độ tuy có phát triển nhng cha mạnh,cha thu hút đợc nhiều lao động ở nông thôn Nông thôn ở ấn Độ bên cạnhnghề nông, còn có hàng chục triệu ngời sinh sống bằng các nghề tiểu thủ côngnghiệp với doanh thu hàng năm là 11.000 tỷ rupi

Nhìn chung, trong vòng khoảng 40 năm (1950 - 1990), nhân dân ấn Độ

đã đạt đợc những thành tựu nổi bật mà trớc hết là đã đẩy lùi đợc nạn đói triềnmiên Từ năm (1951 - 1990), trong 7 kế hoạch 5 năm ấn Độ đã giành đợcnhững thành quả đáng kể nhất là trong Cách mạng Xanh và Cách mạng Trắng,trong công nghiệp hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn Chính vì thế vào

Trang 24

năm 1990, dân số ấn Độ đã tăng lên gấp đôi so với năm 1980 Diện tích đấtcanh tác bình quân đầu ngời giảm từ 0,95 ha (năm 1947) xuống 0,47 ha (năm1990) ấn Độ đã không chỉ khắc phục đợc nạn thiếu đói mà còn đảm bảo đợclợng lơng thực trong nớc và xuất khẩu, đời sống nhân dân ngày một cải thiện.Tất nhiên là một nớc nông nghiệp lạc hậu đi lên công nghiệp hoá thì sẽ khôngtránh khỏi những khó khăn, hơn nữa do đờng lối kinh tế của ấn Độ trong thờigian qua còn nặng về hớng nhập khẩu mà cha hớng về xuất khẩu Chính vì thếmức độ và hiệu quả công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn ấn Độ cònnhiều hạn chế, cha tạo ra đợc một bớc ngoặt về kinh tế Nhng công nghiệp hoánông nghiệp nông thôn ở ấn Độ cũng đã là một nỗ lực cố gắng, đã phần nàocải thiện đời sống cho nhân dân Một điều quan trọng hơn nữa là công nghiệphoá nông nghiệp và nông thôn ở ấn Độ đáng để các nớc phát triển khác trongkhu vực tìm hiểu và tham khảo.

1.2.5 Vấn đề ngoại thơng và đầu t nớc ngoài

Ngoại thơng ấn Độ trớc cải cách: Sau khi giành độc lập, Chính phủ ấn

Độ đã quyết định chuyển đổi mô hình kinh tế thuộc địa sang mô hình mới đólà: Thực hiện chiến lợc thay thế nhập khẩu trên cơ sở tinh thần tự lực cánhsinh, phát huy nội lực là chủ yếu Để thực hiện tốt chiến lợc này, ấn Độ đã đề

ra một số đặc điểm nổi bật về hoạt động ngoại thơng nh:

Về nhập khẩu, ấn Độ đã khẳng định rằng tất cả các ngành công nghiệp ở

ấn Độ đều phải có sự bảo trợ của nhà nớc Bởi ấn Độ là một nớc nghèo, các sảnphẩm đợc bán với giá rất thấp Chính vì thế ngay sau khi giành độc lập, ấn Độ đãhạn chế cạnh tranh với nớc ngoài và đã tiến hành kiểm soát các giấy phép nhậpkhẩu, hạn ngạch nhập khẩu, thuế nhập khẩu và còn cấm nhập khẩu một số mặthàng nhất định Bên cạnh đó, ấn Độ còn đề ra mục tiêu cấm hoặc giữ mức nhậptối thiểu các hàng hoá tiêu dùng không thiết yếu, kiểm soát tất cả loại hàng nhậpkhẩu nh: máy móc, thiết bị phục vụ công nghiệp nặng, đợc tự do nhập khẩu, cầntạo ra môi trờng u đãi cho chính sách nhập khẩu

Về xuất khẩu, có thể nói xuất khẩu luôn là một vấn đề rất quan trọng đốivới bất kỳ đất nớc nào Bởi vì xuất khẩu có nghĩa là nớc đó đã giảm đi phầnnào sự lệ thuộc vào nớc ngoài Một thực tế cho thấy, ấn Độ đã xuất khẩu mặc

dù cán cân giữa xuất khẩu và nhập khẩu vẫn còn đang chênh lệch là khá lớn.Nhng việc xuất khẩu các mặt hàng đã chứng tỏ rằng thị trờng ấn Độ không đủsức tiêu thụ toàn bộ sản phẩm nội địa, cho nên việc tìm kiếm thị trờng bênngoài là tất yếu

Đầu t nớc ngoài:

Trang 25

Đầu t của t bản nớc ngoài vào ấn Độ: Sau khi giành độc lập, nền kinh tế

ấn Độ gần nh là kiệt quệ, đã thế lại còn phải đầu t một số vốn để củng cốquốc phòng và an ninh, do đó càng làm cho nền kinh tế càng khó khăn hơn.Chính phủ ấn Độ xác định: để cứu vãn tình thế, tạo nguồn vốn cho các ngànhcông nghiệp trong nớc tiếp tục hoạt động không còn con đờng nào khác ngoàiviệc sử dụng vốn t bản t nhân nớc ngoài

Vào năm 1948, Chính phủ ấn Độ đã ra một bản tuyên bố, trong bản tuyên

bố đó, Chính phủ nêu rõ những yêu cầu đối với t bản nớc ngoài nghĩa là: t bảnnớc ngoài tham gia nhng phải tuân thủ theo quy định của ấn Độ Bên cạnh đó,

ấn Độ còn đa ra những nguyên tắc khá ngặt nghèo Chính những quy định này

đã làm cho những hoạt động của t bản t nhân nớc ngoài bị cầm chừng, khôngtăng cờng đầu t để phát triển sản xuất Đứng trớc tình hình nh vậy, ngày6/4/1949 tại Nghị viện, Thủ tớng ấn Độ Nehru đã có những điều chỉnh chínhsách đối với t bản t nhân nớc ngoài: Sẽ không thực hiện đờng lối cứng rắn vàchặt chẽ đối với t bản t nhân nớc ngoài, mà để t bản t nhân nớc ngoài đầu ttheo điều kiện cùng có lợi, không hạn chế việc chuyển vốn về nớc, trong trờnghợp quốc hữu hoá sẽ có bồi thờng

Mặc dù Chính phủ đã tuyên bố về những điều chỉnh trong nghị quyết,

nh-ng nhữnh-ng đầu t của t bản t nhân nớc nh-ngoài vào ấn Độ vẫn khônh-ng đánh-ng kể.Nguyên nhân dẫn đến sự bất hợp tác bày là do giới kinh doanh của ấn Độluôn tìm cách chống lại sự xâm nhập của t bản t nhân nớc ngoài Trớc tìnhhình đó, Thủ tớng Nehru lại phải giải thích sự kiểm soát của t bản nớc ngoài

và sự đô hộ của nớc ngoài đối với nền kinh tế của ấn Độ Trớc những nhu cầubức bách của kinh tế ấn Độ nh vậy, giới t bản t nhân ấn Độ đã dần nhợng bộ

và cùng thống nhất quan điểm là: cho phép các nhà kinh doanh nớc ngoài đợckinh doanh trong tất cả các lĩnh vực

Bớc vào năm 1960, Chính phủ ấn Độ tiếp tục tìm mọi cách để thu hút

đầu t nớc ngoài nhiều hơn nữa Từ năm 1965, Chính phủ ấn Độ đã thực hiệncác biện pháp cải cách kinh tế bao gồm; phá giá đồng rupi và nhiều biện phápkhác nhằm khuyến khích sự phát triển của các lực lợng thị trờng, giảm bớt sựkiểm soát chặt chẽ đối với hoạt động xuất nhập khẩu Cũng vào năm 1965,nhất là từ năm 1966 Chính phủ đã quyết định: tất cả các công ty hữu hạn của

t nhân, công ty của Chính phủ, công ty ngân hàng và bảo hiểm đều đợc quyền

tự do huy động vốn Chính quy định này của Chính phủ ấn Độ đã mở đờngcho hàng loạt công ty, trong đó có các công ty t bản nớc ngoài đã tăng cờng

Trang 26

huy động vốn một cách không hạn chế Bên cạnh đó, nhập khẩu kỹ thuật cũng

đợc nới lỏng hơn

Nh vậy, trên thực tế để thu hút nguồn vốn đầu t của nớc ngoài, Chính phủ

ấn Độ đã dần nới lỏng những điều kiện của mình cho phép các công ty nớcngoài cổ phần sở hữu lớn hơn so với ngời ấn Độ Cho đến năm 1973, Chínhphủ ấn Độ lại nêu ra một công thức quan trọng là coi tất cả các công ty liêndoanh mà trong đó có 40% cổ phần trở xuống của t bản nớc ngoài thì đợc côngnhận là "công ty của ấn Độ" Các công ty này sẽ đợc quyền tham gia vào mọilĩnh vực hoạt động công nghiệp Đối với các công ty nớc ngoài thì đây là điều

mà họ đã mong muốn từ lâu Vì vậy, họ đã tìm cách để thoát khỏi danh sáchcác chi nhánh công ty nớc ngoài để khỏi bị phân biệt đối xử thù ghét Chính vìthế, khi EFRA-73 (Luật kiểm soát ngoại hối) đợc thông qua thì nhiều công tynớc ngoài đã nhợng bớt cổ phần để tranh thủ sự u đãi này

Còn đối với ấn Độ, EFRA-73 đã chứng tỏ bảo vệ thành công chính sáchcông nghiệp trong nớc Các nhà công nghiệp đã kiểm soát đợc thị trờng trongnớc, các công ty nớc ngoài vào ấn Độ muốn có một vị trí quan trọng đều phảinúp dới danh nghĩa các nhà công nghiệp ấn Độ Với chính sách mới nh trên,chứng tỏ nhu cầu của ấn Độ đối với đầu t nớc ngoài ngày càng cần thiết, dồndập và mạnh mẽ hơn Từ đây đánh dấu một bớc chuyển mới trong quá trìnhquan hệ với t bản nớc ngoài

Phải nói rằng, giai đoạn sau năm 1980 là giai đoạn liên kết nhanh chónggiữa nền kinh tế quốc tế với cải cách và tự do hoá kinh tế Bắt đầu từ cố Thủ t-ớng Indira Gandi và đợc đẩy mạnh hơn nữa từ khi cố Thủ tớng Rajiv Gandi lêncầm quyền, đây cũng là thời kì đặt nền tảng cho tự do hoá Bên cạnh đó, Chínhphủ còn thực hiện hàng loạt những biện pháp tự do hoá đối với t bản nớc ngoài.Chính sách của Thủ tớng Rajiv Gandi đối với t bản nớc ngoài ngày càng thểhiện rõ, đặc biệt qua những lời phát biểu của ông trong thời gian cầm quyền,

ông đã nhắc nhở các nhà công nghiệp rằng: "Đầu t trực tiếp của nớc ngoài làthiết yếu đối với sự tăng trởng công nghiệp của ấn Độ" [13; tr 92] Ông cònnói: "không có gì là thiêng liêng về sự thay thế nhập khẩu cả và nền côngnghiệp cũng phải tập trung vào những sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu chứkhông phải vào sự nội địa hoá một cách vô hiệu hoá" [13; tr 94]

Với những chính sách u đãi đó, cho thấy khối lợng đầu t của t bản nớcngoài vào ấn Độ đã tăng hơn một chục lần, số dự án đợc duyệt đã tăng từ 277

dự án năm 1976 lên 1044 dự án năm 1985 và đạt đỉnh cao năm 1986 với 1.200

dự án Những năm sau đó, đầu t nớc ngoài vào ấn Độ còn tăng hơn nhiều so

Trang 27

với đầu t nớc ngoài vào các nớc đang phát triển khác Điều này chứng tỏ sựhấp dẫn của thị trờng ấn Độ đối với các nhà đầu t nớc ngoài là rất lớn.

Chính sách của ấn Độ đối với t bản nớc ngoài: Thứ nhất, chính sách của

Chính phủ ấn Độ đối với t bản nớc ngoài đợc xây dựng từ 1949 Và trong hơnnửa thập kỷ qua Chính phủ đã có những thay đổi bổ sung, điều đó đã đ ợc thểhiện rõ trong các văn bản: Luật quy định về phát triển công nghiệp (IDRA -1951), luật kiểm soát ngoại hối (EFRA - 1973); luật phát minh năm 1970; luật

về thuế thu nhập năm 1964; luật thuế phụ thu lợi nhuận công ty năm 1964

Thứ hai, mối quan hệ giữa nớc chủ nhà và t bản nớc ngoài Nếu Chính phủ ấn

Độ thiên về lợi ích quốc gia thì ít hấp dẫn với t bản nớc ngoài Mặt khác, nếuquá nhợng bộ cho t bản nớc ngoài thì lợi ích quốc gia bị xâm phạm Ngoài ra,Chính phủ ấn Độ ngày càng đảm bảo hơn nữa những lợi ích cho t bản nớcngoài nhằm thu hút sự tham gia này vào công cuộc phát triển của đất nớc.Những chính sách nới lỏng mở rộng nhằm thu hút này còn đợc thể hiện trongcách đối xử, cổ phần và cách quản lý đối với t bản nớc ngoài Hơn nữa, Chínhphủ ấn Độ luôn coi t bản nớc ngoài là một bộ phận của khu vực công ty,không phân biệt đối xử, đợc hởng mọi quyền lợi và chấp nhận mọi luật lệ dochính phủ ban hành Bên cạnh đó, ấn Độ còn thực hiện một số chính sáchkhác nh thoả thuận không quốc hữu hoá công ty nớc ngoài nếu trờng hợp cầnthiết phải quốc hữu hoá thì phải bồi thờng cho công ty nớc ngoài một cáchthoả đáng

Chính sách của ấn Độ đối với t bản nớc ngoài gồm những nội dung chínhsau:

Chính sách quy định cổ phần đối với công ty nớc ngoài: Từ khi EFRA

-1973 ra đời đã quy định rõ, thứ nhất: Nếu mức cổ phần cho công ty nớc ngoàinắm từ 40% trở xuống đợc coi là công ty (ấn Độ), còn đối với các công tynắm trên 40% cổ phần thì chỉ hoạt động trong một số ngành u tiên nh: côngnghiệp, kỹ thuật Ngoài ra Chính phủ đã bổ sung thêm một số chính sách mới

là cho phép t bản nớc ngoài đầu t 100% trong trờng hợp nếu phía ấn Độkhông đủ sức đảm nhận thực hiện dự án đầu t Nói chung, EFRA - 1973 ra đời

đã làm thay đổi một số chính sách đối với sở hữu của t bản nớc ngoài Chẳnghạn, trớc đây (Thời kỳ sau khi giành độc lập) các cổ phần của họ trong cáccông ty chỉ ở mức độ quy định, thế nhng sau năm 1973 thì một số trờng hợpcho phép nắm tới 100% cổ phần Vấn đề thứ hai mà EFRA - 1973 tập trungvào đó là vấn đề đa ngoại tệ ra nớc ngoài

Trang 28

Mức độ quản lý: Theo quy định của EFRA - 1973, nếu bên nào nắm đa

số cổ phần trong công ty thì bên đó đợc quyền kiểm soát công ty và thực tế

họ đã thực hiện nh vậy Một số nhà t bản nớc ngoài đã đợc quyền nắm giữ vàkiểm soát công ty Còn về phía ấn Độ, mặc dù họ đã nắm đa số cổ phần trongmột số công ty nhng thực sự họ lại không đợc nắm quyền kiểm soát công ty.Chứng tỏ quyền kiểm soát công ty trong các công ty liên doanh với nớc ngoàikhông phải tuỳ thuộc vào mức độ cổ phần, mà phải tuỳ thuộc vào nhiều yếu tốkhác nh: khả năng quản lý, tiềm năng kỹ thuật, mối liên hệ với thị trờng.Chính vì thế, các công ty nớc ngoài luôn tìm cách để nắm quyền kiểm soátcông ty Mặc dù đã biết rõ mục đích của các nhà t bản nớc ngoài nhng Chínhphủ ấn Độ vẫn tiến hành một số chính sách mềm dẻo đối với công ty nớcngoài nh cho phép các nhà t bản nớc ngoài sau khi đóng cổ phần đến một mức

độ tối thiểu thì đợc cử 1/3 số giám đốc của hội đồng giám đốc làm quản lý ởng, trong một số trờng hợp có thể đợc cử cả Chủ tịch hội đồng giám đốc.Chính phủ ấn Độ còn đề ra một số chính sách u đãi hơn nữa Về mức lợinhuận, các nhà t bản nớc ngoài ở ấn Độ nếu đợc chính phủ ấn Độ xét duyệtthì có quyền hồi hơng vốn Bên cạnh đó, Chính phủ ấn Độ đã đa ra một sốbiện pháp kích thích miễn thuế và trợ cấp cho một số khoản đầu t mới Để cómột mối quan hệ tốt đẹp với các nhà t bản nớc ngoài, nhằm thu hút nguồn vốn

tr-từ họ Chính phủ ấn Độ đã tiến hành nhiều biện pháp u đãi cho các nhà t bảnnớc ngoài, chẳng hạn về hối đoái Về mặt này, Chính phủ ấn Độ đã khôngphân biệt mà áp dụng chung cho cả ngời nớc ngoài và ngời ấn Độ Trong đó,

sự điều chỉnh về tỷ giá hối đoái, kể cả phá giá đồng rupi đã áp dụng nh nhau.Vào năm 1971, Chính phủ ấn Độ lại ra quyết định gắn đồng rupi vào đồng đô

la Mỹ làm cho đồng rupi mất giá nghiêm trọng, nhng Chính phủ ấn Độ cũng

đã khắc phục nhanh chóng vấn đề này Vào năm 1980, Chính phủ ấn Độquyết định xây dựng một chế độ tỷ giá hối đoái dựa vào vốn của những bạnhàng, trong đó chủ yếu dựa vào đồng bảng Anh

Xuất khẩu: Đối với nhà đầu t nớc ngoài xuất khẩu cũng là một nghĩa vụbắt buộc, nếu công ty chỉ xuất đợc 5% sản phẩm thì công ty đó sẽ bị cắt quyềnnhập khẩu Nếu công ty xuất khẩu trên 10% sản phẩm thì công ty sẽ đợc hởngcác chế độ u đãi, đợc mở rộng cơ sở sản xuất mang lại lợi nhuận cho công ty.Nhập khẩu: Do tình hình kinh tế trong nớc còn gặp khó khăn Chính phủ ấn

Độ tăng cờng bảo vệ các ngành công nghiệp trong nớc Nhng từ những năm

1970 về trớc Chính phủ ấn Độ đã thi hành những biện pháp rất chặt chẽ, chỉ utiên cho việc nhập kỹ thuật và nhập khẩu để phát triển xuất khẩu Các xí nghiệp

Trang 29

sản xuất phục vụ tiêu dùng trong nớc chỉ đợc phép nhập khẩu nguyên liệu Điềunày cho thấy, Chính phủ ấn Độ không muốn tiến hành nhập khẩu để đáp ứngnhu cầu mở rộng sản xuất trong nớc Nhng từ những năm cuối của thập niên 90,với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, buộc ấn Độ phải có những thay đổi,

từ đó những quy định trớc đây dần đợc nới lỏng hơn

Hoạt động của công ty t bản nớc ngoài ở ấn Độ

Vào những năm 1975 - 1980, số lợng công ty nớc ngoài ở ấn Độ giảm đãkéo theo sự sụt giảm của tổng doanh thu Nhng bên cạnh đó giá trị tài sản lạităng lên Điều đó chứng tỏ rằng những hoạt động kinh tế của các công ty nớcngoài ở ấn Độ là tăng, hơn nữa từ khi FERA - 1973 ra đời hàng loạt các công

ty nớc ngoài đã hoạt động dới danh nghĩa là “công ty ấn Độ” Nói là công ty

n-ớc ngoài hoạt động ở ấn Độ giảm, nhng nó mang tính chất pháp lý và kỹ thuật,còn hoạt động kinh tế thì lại không hề giảm Không những thế, các công ty nớcngoài còn tập trung rất cao vào các khu công nghiệp chế biến, nâng mức tài sảntập trung trong lĩnh vực này từ 8,7 triệu rupi (1964) lên 14,865 triệu rupi(1976) Thế nhng, trong lĩnh vực thơng mại lại giảm từ 1,913 triệu rupi xuốngcòn 369 triệu rupi, còn chè lại tăng lên từ 283 triệu rupi (2,507%) lên 528 triệurupi (3,25%) Về cơ cấu sản phẩm thì các công ty nớc ngoài chỉ tập trung vàomột số mặt hàng mang lại lợi nhuận cao nh bánh quy, thiết bị đồ điện, sảnphẩm chế biến từ ngô, chè Còn các mặt hàng khác công ty nớc ngoài ít đầu t,nói chung sự đầu t đó là không đều Chính vì thế, đã không đáp ứng đợc mụctiêu của Chính phủ ấn Độ đặt ra là thu hút kỹ thuật tiên tiến

Thu hút kỹ thuật tiên tiến là một trong những mục tiêu hàng đầu của Chínhphủ, thế nhng các công ty nớc ngoài khi vào ấn Độ lại không coi trọng vấn đềnày mà chỉ đầu t vào một số ngành mang lại lợi nhuận cao cho họ, ngành điện

là một điển hình Công ty nớc ngoài ở ấn Độ đã không quan tâm tới sự pháttriển khoa học - kỹ thuật, không coi trọng việc đa kỹ thuật tiên tiến vào ấn Độ,coi nhẹ công tác nghiên cứu và đào tạo, sử dụng phần lớn các kỹ thuật thấp Nóichung t bản nớc ngoài khi vào ấn Độ họ đã không khuyến khích công tácnghiên cứu và triển khai kỹ thuật Chính điều đó làm cho ngành công nghiệpcủa ấn Độ trong nớc ngày càng phụ thuộc vào t bản nớc ngoài

Bên cạnh mục tiêu thu hút kỹ thuật tiên tiến thì xuất khẩu cũng là mộttrong những mục tiêu quan trọng của Chính phủ ấn Độ Nhng thực tế thì sao?Các công ty nớc ngoài đã làm đợc gì? Nếu so với thu hút kỹ thuật thì nhậpkhẩu có cao hơn nhng cũng chỉ với mức 5,05 % Điều này đã chứng tỏ cáccông ty nớc ngoài ở ấn Độ phát triển xuất khẩu chủ yếu mang tính đối phó

Trang 30

chứ không phải là phát triển xuất khẩu theo mục tiêu của Chính phủ ấn Độ.Ngay từ khi bớc chân vào ấn Độ các công ty nớc ngoài đã nhận thấy đây làmột thị trờng rộng lớn và họ có thể lợi dụng đợc thị trờng này để xuất khẩuthanh toán bằng rupi sang các nớc xã hội chủ nghĩa Đông âu cũ và các nớctrung Đông, chứ không phải xuất khẩu sang các thị trờng thu ngoại tệ mạnh.Qua đây ta thấy rằng, các công ty t bản nớc ngoài đã tìm mọi cách để tranhthủ những khả năng xuất khẩu vốn có của ấn Độ hơn là những khả năng mới,chẳng hạn quá nửa số xuất khẩu các phân nhánh công ty t bản nớc ngoài ở ấn

Độ là các mặt hàng truyền thống nh chè, cà phê, sản phẩm da, còn các mặthàng không truyền thống chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ

Tìm kiếm ngoại tệ cũng là một trong những mục tiêu quan trọng trongchính sách thu hút đầu t nớc ngoài của Chính phủ ấn Độ Mục đích của Chínhphủ ấn Độ là thu hút ngoại tệ, thế nhng các công ty nớc ngoài đã làm đợcnhững gì? Thực tế cho thấy giữa mức chi và mức thu của các công ty nớcngoài là quá chênh lệch Công ty nớc ngoài đã dùng ngoại tệ để nhập khẩunguyên liệu đặc biệt là dầu lửa, sau đó là các khoản lợi nhuận chuyển về nớcnhập khẩu máy móc và phụ tùng thay thế mỗi loại chiếm từ 2 - 4%, còn cácloại khác thì không đến 1%

Trong ba mục tiêu chủ yếu của chính sách thu hút đầu t nớc ngoài của ấn

Độ là: kỹ thuật, nhập khẩu, ngoại tệ đều không mang lại hiệu quả cao Ngoài racác công ty nớc ngoài còn đầu t cả vào một số lĩnh vực không đợc phép, họ chỉcần có lợi cho công ty của mình mà không hề màng đến lợi ích của ấn Độ Tạisao chính phủ ấn Độ lại có thể nới lỏng đối với công ty nớc ngoài nh vậy? Tạisao chính phủ ấn Độ vẫn tiếp tục và tăng cờng hơn nữa chính sách thu hút đầu

t nớc ngoài, trong khi t bản nớc ngoài không chỉ đáp ứng với mức thấp các mụctiêu của ấn Độ, mà còn gây ra nhiều vấn đề phức tạp

Qua đó cho thấy: Tranh thủ sự đầu t nớc ngoài là cần thiết, nhng để quản

lý đợc cũng rất cần thiết Chính phủ ấn Độ đã tranh thủ sự đầu t của nớcngoài, nhng trên thực tế khi t bản nớc ngoài vào ấn Độ thì Chính phủ ấn Độ

đã không kiểm soát chặt chẽ, phần nào nới lỏng và không mang lại kết quả

nh mong muốn

Trang 31

1.3 Những thành quả và hạn chế của kinh tế ấn Độ trớc cải cách

đó cũng đã đẩy ấn Độ lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng cha từng cótrong lịch sử ấn Độ

Đối với thành phần kinh tế nhà nớc, luôn đóng một vai trò chủ đạo, nắmgiữ những ngành quan trọng then chốt Còn kinh tế t nhân chỉ tham gia vàomột số lĩnh vực nhất định, chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nớc Nói chung,

dù là thành phần kinh tế nào đi chăng nữa thì vẫn nằm trong một cơ chế quản

lý, tập trung quan liêu, kế hoạch hoá Nhng với đờng lối độc lập, tự lực cánhsinh đó, ấn Độ đã thực hiện một loạt chính sách đóng cửa và chính sách thaythế nhập khẩu, nhờ vậy ngành nông nghiệp phần nào đợc u tiên nhằm đáp ứngnhu cầu về lơng thực và nguyên liệu cho công nghiệp

Trong thời gian từ (1950 - 1990), kinh tế ấn Độ còn có nhiều bất cập vớinền kinh tế khép kín Nhng với mô hình đó, đã giúp ấn Độ đứng vững và phầnnào khắc phục đợc những khó khăn, thử thách nhất là vào những năm 1950 -

1960 Tiếp đó, ấn Độ đã xây dựng đợc một nền kinh tế đồng bộ với một mạnglới công nghiệp khá hoàn chỉnh, có khả năng đáp ứng hầu hết nhu cầu trong n-

ớc, từ hàng tiêu dùng đến thiết bị máy móc Có những ngành công nghiệp mũinhọn đạt trình độ quốc tế nh năng lợng nguyên tử, điện tử, công nghệ sinhhọc, khoa học và vũ trụ Bên cạnh đó, giai cấp t sản dân tộc ấn Độ cũng đợcchính sách bảo hộ của nhà nớc che chắn không bị t bản nớc ngoài cạnh tranh,chèn ép và ngày một lớn lên nhanh chóng ấn Độ đã đào tạo đợc một đội ngũcán bộ khoa học, kỹ thuật gần 3 triệu ngời

Nhng thành quả đáng nói nhất là lĩnh vực nông nghiệp Nông nghiệp ấn

Độ đã có một bớc phát triển thần kỳ.Từ một nớc thiếu lơng thực triền miên,

đến giữa năm 1980, ấn Độ đã tự túc đợc lơng thực và đã có nguồn dự trữ

Điều đó đã đợc chứng minh qua ba thời kỳ từ năm 1950 - 1960 - 1970, ấn Độ

đã đạt mức tăng trởng GDP bình quân hàng năm là 3,5%, năm 1980 đạt bìnhquân 5,5%/năm Mặc dù mức tăng trởng không đều và không liên tục cao nhmột số nớc phát triển khác ở châu á nhng đã phần nào mang lại sự ổn định

đều và liên tục trong một thời gian khá dài Mô hình kinh tế đóng này là hoàntoàn phù hợp với tình hình đất nớc ấn Độ sau ngày giành độc lập Nhng tiếc

Trang 32

rằng ấn Độ đã duy trì quá lâu trong một mô hình kinh tế khép kín Trong khiTrung Quốc đã thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1978, Việt Nam đã đổimới từ năm 1986 thì ấn Độ vẫn cứ kh kh với đờng lối của mình Năm 1991với sự sụp đổ của Liên Xô, cùng với những khó khăn, bế tắc trong nền kinh tế,

ấn Độ mới nhận ra: cần phải tiến hành một cuộc cải cách đổi mới để đa nềnkinh tế bớc sang một trang mới

1.3.2 Những hạn chế

Mặc dù trong suốt 4 thập kỷ 1950 - 1999 kinh tế ấn Độ đã đạt đợc nhữngthành tựu rực rỡ, nhất là qua hai cuộc Cách mạng Xanh và Cách mạng Trắng.Nhng bên cạnh đó, nền kinh tế ấn Độ vẫn còn gặp nhiều khó khăn và bộc lộnhững nhợc điểm không nhỏ Chẳng hạn, giá thành sản xuất thì cao nhng tiềncông lao động thấp, năng suất lao động thấp, chất lợng sản phẩm và hiệu quảsản xuất thấp Với cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp đã kìm hãm sứcsản xuất, không phát huy đợc tính năng động và sáng tạo trong sản xuất kinhdoanh Thành phần kinh tế nhà nớc luôn nắm vai trò chủ đạo trong nền kinh tếquốc dân, thế nhng đã phải phục vụ quá nhiều cho các mục tiêu chính trị - xãhội và chịu sự can thiệp quá sâu của chính phủ nên hạch toán kinh tế kém hiệuquả, vì thế thành phần kinh tế này đóng góp cho nhà nớc là rất thấp so vớithành phần kinh tế t nhân, điều này đã đợc thể hiện rõ trong các kế hoạch 5năm “Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, kinh tế nhà nớc đóng góp cho tíchluỹ trong nớc 1,7% GDP, còn đóng góp của kinh tế t nhân là 8,7% (tổng cộng10%) Nhất là trong kế hoạch 5 năm lần thứ 5 (1974 - 1979), tích luỹ củakinh tế nhà nớc là 4,6%, kinh tế t nhân là 17% (Tổng cộng 21,6%) Cho đến

kế hoạch lần thứ 7 (1985 - 1990) thì phần tích luỹ của kinh tế nhà nớc lại tụtxuống 2,3%, trong khi đó của t nhân là 18,1%” (Tổng cộng 20,4%) [7; tr 18] Vào năm 1984 - 1985, kinh tế nhà nớc đóng góp vào GDP là 24,5 %, cònkinh tế t nhân là 75,5%, tỷ lệ lợi nhuận cũng thấp hơn nhiều so với côngnghiệp t nhân Trong khi các doanh nghiệp t nhân đạt tỷ lệ lợi nhuận cao thìnhiều doanh nghiệp nhà nớc lại bị thua lỗ

So với các nớc đang phát triển khác, thì ấn Độ là một nớc có nhiều luật,nhng phần lớn các luật này lại đợc ban hành trong thời kỳ nền kinh tế đi theo cơchế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu và đóng cửa Vì thế, đã gây trở ngại lớncho các nhà doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp t nhân Chẳng hạn “Luậtkiểm soát ngoại hối (FERA) đã bó tay các nhà doanh nghiệp trong kinh doanh,xuất nhập khẩu, không khuyến khích đợc các kiều dân ấn Độ gửi tiền về nớc”.Ngoài ra, ấn Độ còn đề ra luật hạn chế độc quyền và hoạt động thơng mại(MRTP), riêng luật này lại không khuyến khích các nhà đầu t tích luỹ vốn để

Trang 33

mở rộng sản xuất, đa dạng hoá các loại mặt hàng Hơn nữa, hệ thống cấp giấyphép ở ấn Độ cũng rất chặt chẽ đã gây khó khăn cho cả công ty nớc ngoài vàcả trong nớc Theo luật này, tất cả các công ty chỉ tích luỹ số vốn ở một mức

độ nhất định là không quá 200 triệu rupi Trong trờng hợp nếu công ty muốntăng nguồn vốn phải xin phép trong một khoảng thời gian nhất định

Qua một số mặt trình bày ở trên ta có thể thấy rõ phơng châm tự lực cánhsinh của ấn Độ trong thời kỳ này đã bị nhận thức sai lệch thành tự cấp, tự túc.Chính việc làm này đã dẫn đến đầu t dàn trải, không tập trung vào nhữngngành mũi nhọn cho xuất khẩu, vì thế đã không phát huy đợc lợi thế của đấtnớc Đây chính là những hạn chế mà ấn Độ mắc phải, đã làm cho nền kinh tế

ấn Độ phát triển chậm, kém năng động, tụt hậu so với nhiều nớc vốn đã từngthua kém ấn Độ Theo nguồn tài liệu của Chu Văn Chúc nhận xét: “Năm

1995 ấn Độ đứng thứ 10 thế giới về tổng sản phẩm công nghiệp, đến năm

1973 tụt xuống thứ 20 Xuất khẩu của ấn Độ chiếm 1% xuất khẩu của thếgiới trong những năm 1950, nay giảm xuống còn 0,5% Tốc độ GDP bìnhquân hàng năm của ấn Độ từ 1960 - 1990 là 4%, trong khi Inđonexia là 6%,Thái lan là 7%, Đài Loan là 8%, Hàn Quốc là 9,6%” [8; tr 20]

Trớc tình hình đó,vào những năm 1970 Chính phủ ấn Độ đã bớc đầu cónhững điều chỉnh nh: nới lỏng việc cấp giấy phép; điều chỉnh lại những điềuluật hạn chế về thơng mại (MRIP); điều chỉnh chính sách ngoại thơng Tiếp

đó vào tháng 6/1988 Chính phủ ấn Độ đã công bố chính sách tự do hoá cấpgiấy phép cho công trình đầu t vào các vùng hẻo lánh lạc hậu, đây cũng làchính sách u đãi thuế cho các công trình này Năm 1990, với chính sách côngnghiệp Chính phủ đã chú trọng hơn tới đầu t nớc ngoài và khuyến khích sảnxuất cho xuất khẩu Tuy thời kỳ này chính phủ ấn Độ đã có những điều chỉnhnhỏ, dù còn hạn chế nhng đã bớc đầu giảm bớt tình trạng quan liêu, phiền hàtrong các thủ tục cấp giấy phép, nới lỏng hơn sự kiểm soát của Nhà nớc đốivới các doanh nghiệp, bớc đầu mở cửa nền kinh tế Nhờ đó, kinh tế ấn Độ từ(1980 - 1990) đã có bớc phát triển, cụ thể: “GDP tăng 5,4% so với 3,5%những thập kỷ trớc, công nghiệp tăng bình quân 7% so với 8%, vốn đầu t tăng

4 lần” [8; tr 22]

Một khó khăn lớn đối với ấn Độ đó là: Những cải cách điều chỉnh củaThủ tớng Rajiv Gandhi dù đã có những tác động tích cực đến tăng trởng kinh

tế Nhng chính những cải cách đó lại đụng chạm đến quyền lợi của một số tập

đoàn t bản trong nớc Vì thế, họ đã phản kháng rất quyết liệt Chỉ sau hai nămtiến hành cải cách, nh báo chí ấn Độ đã chỉ trích “Thủ tớng Rajiv Gandhi

Trang 34

không có đợc tính quyết đoán nh ngời mẹ của ông là bà Iudira Gandhi” [8; tr22], nghĩa là ông đã phải từ bỏ công cuộc cải cách mà ông đã tâm huyết thựchiện ngay từ khi mới lên cầm quyền Sau hai năm đó, từ cuối 1987 ấn Độ lạirơi vào tình trạng trì trệ Khu vực thuộc sở hữu nhà nớc ngày một phình to,cùng với một hệ thống bao cấp nặng nề với hàng loạt các hình thức từ bao cấptài chính đến lơng công chức, lợi tức thấp Đây chính là nguyên nhân dẫn đếntình trạng kém hiệu quả của khu vực này Đến năm 1991, do chính sách địnhgiá, định mức lãi tức và định giá hành chính thông qua hệ thống ngân hàng

độc quyền, cho nên các ngành công nghiệp do chính phủ sở hữu đã thuê 71%trong số 27 triệu ngời làm việc trong “khu vực kinh tế có tổ chức” và công tydoanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nớc có vốn cố định gấp hai lần công ty t nhân.Công nhân trong các doanh nghiệp nhà nớc cũng đợc u đãi vốn rất nhiều sovới công nhân làm việc trong các công ty t nhân, mức lơng của họ là gấp đôi,lãi suất của doanh nghiệp nhà nớc cũng hơn một nửa so với lãi suất vay của tnhân Do chính sách bao cấp của các doanh nghiệp nhà nớc đã biến khu vựckinh tế này thành một con nợ Vào đầu năm 1990 theo thống kê thì các công

ty thuộc sở hữu của nhà nớc nợ với tổng mức là 1 tỷ USD, trong khi đó, cácdoanh nghiệp t nhân thì lại phải chịu những khoản cống nạp to lớn do bệnhquan liêu sản xuất giấy tờ

Mặc dù ấn Độ đã có rất nhiều cố gắng để thực hiện một số biện phápnhằm vực dậy nền kinh tế, nhng những nỗ lực đó vẫn không mang lại kết quả

nh mong muốn mà thậm chí nền kinh tế lại còn bị suy giảm cha từng thấy.Chính những tác động tiêu cực từ bên ngoài nh sự sụp đổ của Liên Xô và khối

Đông âu cũ, cuộc khủng hoảng sau chiến tranh Vùng Vịnh đã tác động mạnhlàm cho nền kinh tế ấn Độ hoàn toàn rơi vào một cuộc khủng hoảng nghiêmtrọng Theo thống kê thì “Mức tổng GDP sụt xuống 0,8% vào năm tài chính1991-1992, lạm phát lên cao (trên 13%), dự trữ ngoại tệ đến tháng 5/1991 chỉcòn khoảng 1 tỷ USD, đủ cho nhập khẩu 20 ngày Đầu t nớc ngoài chỉ đạttrung bình 100 triệu USD /năm” [8; tr 24] Nhất là sau vụ ấn Độ trục xuất haiCông ty nớc ngoài Côcacôla và IBM ra khỏi ấn Độ Từ đây, nhiều nhà đầu t

đã xa lánh ấn Độ, tìm môi trờng đầu t ở các nớc khác Các ngành công nghiệpcủa ấn Độ càng gặp nhiều khó khăn hơn, cán cân thanh toán thâm hụt lớn, sốngời thất nghiệp đã lên tới trên 300 triệu ngời Thủ tớng N.Rao đã nói “Tìnhhình ngoại tệ gần nh tuyệt vọng, tình hình tài chính tồi tệ, chúng tôi đã đếnmức nh một nớc vỡ nợ với quỹ tiền tệ quốc tế trong thời gian vài ngày” [8; tr24]

Trang 35

Một điều đáng buồn hơn, sự khủng hoảng về kinh tế đã kéo theo nhữngrối loạn nghiêm trọng về mặt xã hội Những mâu thuẫn giữa các tôn giáo,

đẳng cấp, sắc tộc, cộng đồng trong một đất nớc đa dạng, phức tạp nh ấn Độ

đến lúc này càng có điều kiện để phát triển hơn chẳng hạn: "Vụ tự thiêu củanhững thanh niên thuộc đẳng cấp trên để phản đối đạo luật Mandl của Chínhphủ (1989 - 1990) giành 27% công ăn việc làm cho các đẳng cấp cung đình.Mâu thuẫn dẫn đến đổ máu giữa những ngời theo ấn Độ giáo và Hồi giáo,trong việc chống lại ngôi đền ấn Độ giáo tại thị trấn Ayod hya (Bang UttaParadesh) Các vụ bạo loạn đòi ly khai ở các bang Puniab, Kashmi ở miền bắcbang Assam và ở miền đông bắc đang diễn ra Việc hơn 60.000 ngời Tawingốc ấn Độ sống ở miền bắc và miền đông Sri Lanka đã tràn về tị nạn ở ấn Độ

Sự suy thoái nền kinh tế cùng với những bất ổn về mặt xã hội đã làm cho ngờidân không còn tin tởng vào Chính phủ Đảng Quốc Đại - một đảng lâu đờinhất ở ấn Độ đã mất quyền lãnh đạo Chỉ trong vòng gần hai năm từ 1989 -

1991 (sau ngày Thủ tớng Rajiv Gandhi bị ám sát cho đến khi Thủ tớngC.Shekhar xin từ chức), thời gian này cơ quan cấp cao của ấn Độ đã lâm vàotình trạng tệ hại nhất; những vụ ám sát, vụ cách chức rồi xin từ chức đã diễn

ra Chính sự bất ổn về chính trị càng làm cho xã hội ấn Độ thêm rối loạn hơn

Có thể nói sự suy thoái về kinh tế, rối loạn về xã hội cộng với bất ổn vềchính trị đã làm cho uy tín của ấn Độ suy giảm trầm trọng Báo chí ấn Độ đãnhận xét “Hình ảnh của ấn Độ trên trờng quốc tế đã suy giảm nghiêm trọng

do chính phủ có thái độ do dự với những lĩnh vực mà nớc ngoài đợc phép đầu

t Còn bộ trởng công nghiệp M.Singh đã huỷ bỏ chuyến đi công tác của ôngtới DOVOS Thuỵ Sỹ và bỏ lỡ một cuộc gặp gỡ dành cho các nhà kinh doanhhàng đầu thế giới Để phản ứng lại, bốn phái đoàn kinh doanh của châu Âu,trong đó có cuộc viếng thăm của Phó chủ tịch Cộng đồng kinh tế châu Âu(EEC) đã huỷ bỏ chuyến đi của họ đến ấn Độ” [8; tr 27] Từ đây đã gây nênnhững tình trạng xấu làm cho uy tín của ấn Độ đã giảm lại càng giảm hơn.Các khoản đầu t của nớc ngoài đợc thông qua đã giảm đi một nửa trong 8tháng đầu năm 1990 so với năm 1989

Tiểu kết chơng 1:

Quan điểm tự lực tự cờng của Nehru, đã giành đợc sự ủng hộ của đông đảocác tầng lớp nhân dân và trở thành t tởng chủ đạo cho toàn bộ đờng lối pháttriển kinh tế của ấn Độ sau ngày giành độc lập Đờng lối phát triển kinh tế này

đã hứa hẹn một mô hình mới cho đất nớc ấn Độ Mô hình này cho rằng nếumột nớc muốn tăng trởng kinh tế thì phải đạt những hàng rào thuế quan để giới

Trang 36

hạn nhập khẩu, tự lực cánh sinh xây dựng nền khoa học kỹ thuật cho riêngmình Nếu không làm vậy, nớc đó sẽ trở thành nạn nhân của nền mậu dịch thếgiới Trong những năm 60, nền kinh tế ấn Độ đã chứng kiến những thay đổi cótính lịch sử Hai cuộc “Cách mạng Xanh” và “Cách mạng Trắng” đã đa ấn Độ

từ một trung tâm đói kém của thế giới trở thành một quốc gia không những cóthể tự cấp tự túc về lơng thực mà còn giành một phần cho xuất khẩu Trong mộtthời gian tơng đối ngắn ấn độ đã tạo dựng đợc nền kinh tế phát triển đồng bộ.Những năm 1950 - 1970, ấn độ phát triển theo chiều hớng hớng nội Sau cuộckhủng hoảng kinh tế 1979, đầu những năm 1980, ấn độ đã chuyển sang chiếnlợc hỗn hợp Mô hình kinh tế tự lực cánh sinh của ấn độ đã đợc nhiều nớc thếgiới thứ ba, từ Ănggôla tới Chilê, từ CuBa tới Nigiêria khâm phục và học tập.Các thuộc địa cũ cũng đang tìm con đờng vơn lên bởi mô hình kinh tế kiểu ấn

độ đã hứa hẹn một lối thoát

Nhng nền kinh tế kế hoạch hoá kiểu xô viết sau một thời gian hoạt độngtơng đối có hiệu quả đã dần bộc lộ những khiếm khuyết không thể khắc phụcnổi Năm 1991, Liên bang Xô Viết sụp đổ Mô hình lý tởng này của ấn Độ đãtan vỡ, ấn Độ rơi vào một cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu sắc cha từng có.Nền kinh tế quốc dân thực sự đang đứng trên bờ vực thẳm Đứng trớc tìnhhình đất nớc nh vậy, ấn Độ đã tiến hành một cuộc cải cách kinh tế toàn diệnvào tháng 7/1991 Có thể nói từ cuộc cải cách kinh tế này đã đa ấn Độ sangmột trang mới nh một con s tử đang cựa mình thức dậy

Trang 37

Chơng 2.

Tình hình kinh tế ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2007

2.1 Tình hình kinh tế ấn Độ từ 1991- 1999

2.1.1 Chính sách phát triển kinh tế ấn Độ trong thời kỳ cải cách (1991 - 1999)

Cho đến mùa xuân năm 1991, ngời ta cũng rất khó để biết đợc lý do tạisao tất cả các nớc còn lại trên thế giới đều phải bận tâm đến ấn Độ - một đấtnớc với nền kinh tế điêu tàn Hai nỗi đau thứ yếu về việc cải cách là vào cuốinăm 1970 dới sự lãnh đạo của Thủ tớng Indira Gandhi và vào giữa những năm

1980 dới sự lãnh đạo của con trai bà là Thủ tớng Rajiu Gandhi hầu nh đãkhông cải thiện đợc gì Trớc mùa xuân khốn khó ấy, ấn Độ đã xoay sở mãi đểphát triển nền kinh tế bằng cách vay mợn của nớc ngoài Thậm chí, trớc sự bếtắc về chính trị vào những năm 1990 - 1991 và trớc sự sụp đổ lòng tin chung

đã làm giảm đi số ngoại hối dự trữ của quốc gia Cho đến tháng 5/1991 chỉcòn khoảng 1 tỷ USD, ấn Độ đã trở thành nơi mà các nhà kinh doanh trên thếgiới tránh né Hơn nữa, những chính sách kinh tế ấn Độ áp dụng đến năm

1991 đã làm đảo lộn đất nớc này, gây nên những tổn thất về nhân sự và vậtchất Trớc tình hình đó, ấn Độ đã không còn một chút hy vọng gì nữa Hoàncảnh bắt buộc ấn Độ phải nhanh chóng tuân theo chơng trình cải tổ của Quỹtiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) Sự phá sản hoàn toàn củachiến lợc thay thế nhập khẩu biểu hiện qua cuộc khủng hoảng ngân sách chatừng có năm 1991, khiến ấn Độ không thể bảo thủ mãi với đờng lối hớng nộicủa mình Vào tháng 7/1991, ấn Độ đã tiến hành cuộc cải cách kinh tế toàndiện: điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô, chuyển từ một nền kinh tế tậptrung, quan liêu, bao cấp đóng cửa sang một nền kinh tế thị trờng tự do hoá và

mở cửa, nâng cao khả năng cạnh tranh, từng bớc hội nhập vào quốc tế

Trang 38

2.1.1.1 Chính sách phát triển kinh tế thị trờng và tự do hoá

Vào giữa năm 1991, Chính phủ ấn Độ đã quyết định thực hiện mạnh mẽchính sách tự do hoá Quyết định này, có thể nói là bớc chuyển cơ bản trongchiến lợc công nghiệp hoá nói riêng, đờng lối phát triển kinh tế xã hội nóichung của ấn Độ ông Singh đã từng tuyên bố trớc Quốc hội nh vậy vào tháng7/1991 Ông M.Singh cho thực hiện một loạt biện pháp cải cách toàn diện vàtriệt để: phá giá đồng rupi nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, nới lỏng các quy định

đầu t nớc ngoài, mở cửa ngành lọc dầu viễn thông và thị trờng chứng khoán,giảm thuế và xoá bỏ tệ nạn quan liêu đang đeo bám các doanh nghiệp, cắt giảmtrợ cấp, t hữu hoá từng phần các công ty Nhà nớc Nhng phải nới rộng bớc điquan trọng nhất trong cải tổ mà Bộ trởng tài chính M.Singh đã tiến hành đó làchấm dứt sự “cai trị toàn quyền qua giấy phép” Một đất nớc gắn liền với sựhoạch định kinh tế kiểu xô viết, bớc đi này thực sự là một cuộc cách mạng,kiểm soát nhà nớc đợc giảm thiểu, cán bộ cấp chính quyền bị cắt hẳn, hàng ràophi thuế quan và mậu dịch đợc giảm tới mức tối đa Giấy phép điều phối bị huỷ

bỏ, thuế nhập khẩu đợc cắt giảm mạnh từ 300% xuống còn 85%, 65%, 50%.Nói chung, cải cách kinh tế ấn Độ từ năm 1991 nhằm ổn định và tự do hoá nềnkinh tế với những hớng chính bao gồm:

- Lấy lại cân bằng vĩ mô, giảm bớt mức thâm hụt của ngân sách Chínhphủ, kiểm soát lạm phát

- Giảm bớt các hạn chế đối với các xí nghiệp t nhân, khuyến khích đầu tnớc ngoài

- Từng bớc tự do hoá thị trờng tài chính, thả nổi một phần đồng Rupigiảm thuế quan, thúc đẩy xuất nhập khẩu

Từ khi Chính phủ ấn Độ quyết định cải cách mang tính chuyển hớngchiến lợc này, ở ấn Độ đã dấy lên một làn sóng mới về tự do hoá kinh tế nhằmtạo ra những thay đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế thơng mại, khuyến khích

đầu t nớc ngoài để đa ấn Độ vợt lên vị trí cao trong hàng ngũ các nớc đangtăng trởng ở khu vực châu á - Thái Bình Dơng và giải phóng sức mạnh nội tạitiềm tàng của một quốc gia đa dạng trong quá trình chuyển đổi

Trong công cuộc cải tổ tháng 7 năm 1991, mục tiêu hàng đầu mà chínhphủ đặt ra đó là tăng cờng sức mạnh cạnh tranh của nền kinh tế, của các công

ty và sản phẩm ấn Độ Để thực hiện tốt công việc này, ấn Độ đã quyết địnhthực hiện những chuyển đổi cơ bản về cơ cấu kinh tế Một công trình nghiêncứu năm 1997 của Ngân hàng thế giới về ấn Độ nhận xét “Những phát triểntích cực cơ bản trong nền kinh tế ấn Độ là những biến đổi cơ cấu kinh tế quan

Trang 39

trọng Việc giảm bớt vai trò của khu vực công cộng sau khi thực hiện chơngtrình cải cách năm 1991 là một trong những thay đổi cơ cấu bản chất kể từ khi

độc lập Tự do hoá nền kinh tế đã mở ra cho khu vực t nhân những lĩnh vực màtrớc đây khu vực công nắm giữ, nh ngành công nghiệp nặng, ngân hàng, hàngkhông dân dụng, viễn thông năng lợng, cầu cảng và đờng xá Điều đáng nóihơn nữa là tự do hoá kinh tế đã giảm bớt những méo mó, lệch lạc và tăng tínhcạnh tranh trong và ngoài nớc” [13; tr 144]

Thơng mại của ấn Độ ngày một tăng cờng, dẫn đầu đó là cây trồng cógiá trị thơng mại, hàng hoá nông nghiệp là một trong những hàng xuất khẩutăng trởng nhanh nhất ở ấn Độ Còn đối với ngành chế tạo, các công ty ấn Độ

đã tái đầu t và nâng cấp các cơ sở công nghiệp của họ thông qua sự liên kếtvới các công ty đa quốc gia Do cải tiến chất lợng sản phẩm, số lợng các công

ty ấn Độ nhận đợc chứng chỉ ISO 9000 đã tăng lên gấp 10 lần Việc cải cáchngành công nghiệp ô tô là một ví dụ điển hình cho các công ty lớn ở ấn Độ d-

ới chơng trình tự do hoá Để đáp ứng đợc sự cạnh tranh quốc tế các công tynày đã phải tăng đầu t, cải tiến sản xuất để tạo ra những sản phẩm chất lợngquốc tế Các công ty ở ấn độ đã liên doanh với các công ty nớc ngoài lắp đặtmáy móc thiết bị mới, cải tiến quản lý, chuyển từ các dây chuyền sản xuấthàng loạt theo chức năng sang cơ cấu sản xuất theo đợt, công nhân ký hợp

đồng mới theo cơ chế tình nguyện nhằm giảm biên chế, nhờ đó năng suất lao

động tăng và chất lợng sản phẩm đợc nâng cao

Mặc dù có nhiều cố gắng và thực tế đã đạt đợc một số tiến bộ, nhng cảicách xí nghiệp là một trong những khâu yếu kém trong quá trình cải cách ở ấn

Độ Tuy các xí nghiệp công đã tăng đợc sức mạnh cạnh tranh, nhng sự độc lập

tự chủ của chúng vẫn bị hạn chế và điều đó làm giảm năng lực của giới quản

lý trong việc tạo ra những cải cách cơ cấu cần thiết Hơn nữa, cổ phần củaChính phủ Trung ơng cũng rất cao (chiếm 90% trong hầu hết các trờng hợp),ngay cả trong các xí nghiệp hoạt động thơng mại Vì vậy, hoạt động tài chínhcủa các xí nghiệp công rất khó cải thiện Để xem xét vấn đề này, năm 1996 uỷban này đã công bố một bản báo cáo trong đó đề ra chiến lợc cải cách xínghiệp Chiến lợc này đựơc thoả thuận trong các diễn đàn công khai có sựtham gia của các chuyên gia ấn Độ và nớc ngoài trên cơ sở những ý kiến thảoluận Uỷ ban đã thảo ra hai báo cáo vào tháng 2 và tháng 4 năm 1997 vạch raphơng pháp tự nhận biết và cơ cấu lại các xí nghiệp công ở cấp Trung ơng sẽ

đợc t nhân hoá hoàn toàn hoặc từng phần

Trang 40

Đồng thời, với những cải cách về cơ cấu chuyển đổi phơng thức quản lý

xí nghiệp công trong những năm vừa qua, Chính phủ ấn Độ đã triển khainhiều chơng trình cải cách vĩ mô nhất là cải cách trong lĩnh vực tài chính -tiền tệ - ngân hàng, tiếp đến là những cải cách về thơng mại, đầu t côngnghiệp nông thôn, những u tiên cho việc phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xãhội, những thay đổi trong chính sách quản lý các bang, chính sách t nhân hoá

và cải cách thủ tục hành chính

Sau đây chúng tôi sẽ trình bày một cách cụ thể hơn các lĩnh vực cải cách này:

Thứ nhất là, chính sách Tự do hoá trong ngành tài chính - tiền tệ - ngân

hàng: Khu vực tài chính tiền tệ là một trong những yếu tố quyết định cho việccải cách thành công ở ấn Độ Cải cách trong lĩnh vực này, nhằm tạo ra sự cạnhtranh trong hoạt động giữa các ngân hàng phân phối tài chính và nâng cao tínhnăng động, linh hoạt của tín dụng ngân hàng Ngân hàng Trung ơng đồng thời

là tổ chức cấp cao cho mọi hoạt động ngân hàng của ấn Độ, là ngân hàng dựtrữ ấn Độ (RBI) Ngân hàng này đóng một vai trò quan trọng trong Chính phủ

ở Trung ơng và từng bang Bên cạnh đó, ngân hàng này còn phải chịu tráchnhiệm về các khoản trợ cấp của Chính phủ, chẳng hạn nh: “ấn Độ có 274 ngânhàng Trung ơng, trong đó có 223 thuộc khu vực nhà nớc và 51 thuộc t nhân.Trong số ngân hàng t nhân có 24 ngân hàng nớc ngoài có chi nhánh và vănphòng đại diện tại ấn Độ” [13; tr 147] ở ấn Độ các ngân hàng Trung ơng đãgiúp đỡ vốn trong thời gian ngắn hạn cho sản xuất Các dịch vụ t vấn về thị tr-ờng vốn, dịch vụ thu đổi ngoại tệ và dịch vụ tín dụng thuế, mua vốn cho các dự

án đầu t mới và quản lý cổ phần, chứng khoán đầu t các ngân hàng nhà nớcchịu trách nhiệm chính về các hoạt động của ngân hàng thơng mại ở ấn Độ.Các biện pháp thực hiện trong cải cách cũng bao gồm cả khuyến khích đầu t tnhân trong lĩnh vực ngân hàng, cho phép các ngân hàng nhà nớc bán cổ phần rathị trờng tự do Việc cấp vốn cho các dự án dài hạn ngoài 3 tổ chức tài chínhquốc gia còn có một số tổ chức tài chính của các bang và các khu vực Các tổchức tài chính này hỗ trợ cho các hoạt động xuất khẩu và các dự án đầu t cótính chất mạo hiểm Chính phủ đã theo đuổi chiến lợc hai mũi nhọn, dần dầnnhững quy chế kiểm soát dẫn đến kiềm chế năng lực thị trờng và phát triểnmạng lới thể chế để quản lý một thị trờng tài chính tiền tệ có điều tiết với sự đổimới này Ngân hàng dự trữ Trung ơng (RBI) đợc tăng thêm tính độc lập Điều

đó, tạo năng lực tốt cho RBI trong việc dự báo và quản lý các khoản tiền mặt vàvốn ngắn hạn của Chính phủ Từ đó, giảm bớt lãi suất ngắn hạn một cách linhhoạt và giảm sự mất ổn định trên thị trờng tiền tệ RBI chuyển sang tăng cờng

Ngày đăng: 15/12/2015, 08:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quang Anh, Tăng trởng mới của ấn Độ, Thông tin khoa học xã hội, số 4, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trởng mới của ấn Độ
2. Ngọc Anh, dự đoán tình hình kinh tế ấn Độ, Tin kinh tế 1808.05 năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: dự đoán tình hình kinh tế ấn Độ
3. Phạm Thị Thanh Bình, Phát triển công nghệ thông tin ở ấn Độ: Chiến lợc và thách thức, Viện kinh tế và chính trị thế giới, số 39 tháng 9/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển công nghệ thông tin ở ấn Độ: Chiến lợcvà thách thức
4. Bùi Căn, ấn Độ chú trọng phát triển nông nghiệp, Báo nhân dân, ngày 12/4/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ấn Độ chú trọng phát triển nông nghiệp
5. Bùi Căn, Cuộc cách mạng xanh lần thứ hai của ấn Độ, Ngày 24/8/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc cách mạng xanh lần thứ hai của ấn Độ
6. Đặng Bảo Châu, Chính phủ mới và công cuộc cải cách kinh tế ấn Độ, Nghiên cứu quốc tế, Số 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ mới và công cuộc cải cách kinh tế ấn Độ
7. M.Ch©u, t×nh h×nh kinh tÕ Ên §é, Tin kinh tÕ 0603.09 n¨m 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: t×nh h×nh kinh tÕ Ên §é
8. Chu Văn Chúc, Vài nét về kinh tế ấn độ trong thời gian gần đây, Nghiên cứu quốc tế - Số 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về kinh tế ấn độ trong thời gian gần đây
10. Phạm Quang Diệu, Con đờng phát triển của ấn độ trong kỷ nguyên toàn cầu hoá, Những vấn đề kinh tế thế giới, số 1/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đờng phát triển của ấn độ trong kỷ nguyên toàncầu hoá
11. Luận Thuỳ Dơng, ấn độ trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, Hội thảo khoa học, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ấn độ trong những thập niên đầu thế kỷ XXI
9. Ngọc Lan Chi, Siêu cờng kinh tế đang nổi. ấn Độ sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng chữ cái viết tắt - Tình hình kinh tế ấn độ từ 1991 đến 2007
Bảng ch ữ cái viết tắt (Trang 4)
Bảng thống kê một số dữ liệu về nền nông nghiệp ấn Độ - Tình hình kinh tế ấn độ từ 1991 đến 2007
Bảng th ống kê một số dữ liệu về nền nông nghiệp ấn Độ (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w