Tìm hiểu, nghiên cứu những thay đổi trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của cộng đồng cư dân Nghệ An trong thời kỳ 1930-1939 góp phần vào việc nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ,
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa lịch sử
Trang 2Nghệ An trong thời kỳ 1930-1939 là góp phần vào việc nghiên cứu tìnhhình kinh tế, chính trị, xã hội ở xứ Trung Kì, rộng ra là cả nước thời thuộcPháp Đây là một nội dung mà các nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế ,chính trị,văn hóa, xã hội rất quan tâm.
Nghiên cứu về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam thời
kỳ 1930-1939 đã có nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm Tuynhiên, ở quy mô một tỉnh, một địa phương trong giai đoạn đó thì chưa đượcchú ý, chưa được nghiên cứu một cách thỏa đáng Nghệ An cũng khôngphải là một ngoại lệ
Sau hai đợt khai thác thuộc địa của thực dân Pháp (1897-1914 và1919-1929), tiếp đó là tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế (1929-1933)
đã làm thay đổi đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của các tầng lớp, các giaicấp trong xã hội Tìm hiểu, nghiên cứu những thay đổi trong đời sống kinh
tế, chính trị, xã hội của cộng đồng cư dân Nghệ An trong thời kỳ
1930-1939 góp phần vào việc nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ, chính xác,trung thực, khách quan những tác động của bối cảnh lịch sử đầy biến độngthời đó đối với Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung
Tìm hiểu tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Nghệ An trong thời
kỳ 1930-1939, một mặt dựng lại toàn cảnh Nghệ An trong những năm 30của thế kỷ XX, mặt khác thấy được những nét đặc trưng riêng của Nghệ Antrong tổng thể nước ta ở thời kỳ này
-Về mặt thực tiễn:
Xuất phát từ thực tế hiện nay ở các trường trung học phổ thông,trung học cơ sở…việc giảng dạy và học tập lịch sử địa phương còn rất hạnchế Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giải quyết phần nào nhữngbất cập trên Từ đó, trau dồi ý thức dân tộc, lòng yêu nước, lòng biết ơnđối với cha ông, biết trân trọng và phát huy những truyền thống tốt đẹp củacha ông cho thế hệ trẻ Nghệ An
Trang 3Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảocho các độc giả gần xa quan tâm tới vùng đất Nghệ An giàu truyền thốnglịch sử - văn hóa.
Hiện nay tỉnh Nghệ An đang tiến hành biên soạn cuốn Lịch sử Nghệ
An, với kết quả nghiên cứu của đề tài,chúng tôi hi vọng sẽ góp một phầnnhỏ bé vào việc sưu tầm và biên soạn cuốn lịch sử đó
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi lựa chọn “Tìnhhình kinh tế - chính trị- xã hội Nghệ An từ năm 1930 đến năm 1939” làm
đề tài luận văn của mình
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu lịch sử Nghệ An thời thuộc Pháp, các học giả đã cónhiều bài nghiên cứu, tham luận về phong trào cách mạng 1930-1931 vớiđỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh Đó là bản anh hùng ca đã gây tiếng vanglớn không chỉ trong nước mà còn cả trên thế giới Tuy nhiên, đến thời kỳsau đó từ 1932 đến 1939 Nghệ An ít có tiếng vang hơn ên ít được giớinghiên cứu quan tâm hơn Cho đến nay “Tình hình kinh tế- chính trị- xã hộiNghệ An từ 1930 đến 1939” vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào.Những tài liệu hiện có chỉ đề cập vấn đề này ở một số khía cạnh khác nhau
Xét trên phạm vi cả nước, cho đến nay đáng chú ý nhất là tác phẩmcủa tác giả Nguyễn Văn Khánh “ Cơ cấu kinh tế-xã hội Việt Nam thờithuộc địa (1858-1945) ” Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, 1999 Đây là côngtrình khảo cứu có tính hệ thống đề cập và đi sâu vào nghiên cứu thực trạng
và sự biến đổi cơ cấu kinh tế-xã hội Việt Nam thời Pháp đô hộ nhằm làmsáng tỏ quá trình phá vỡ , thu hẹp kết cấu cổ truyền, dần dần hình thành xáclập và mở rộng các yếu tố kinh tế-xã hội thuộc địa mang tính chất tư bảnchủ nghĩa ở nước ta Đánh giá tích cực và hạn chế của công cuộc tư bảnhóa của thực dân Pháp ở Việt Nam Tuy nhiên, tác phẩm chỉ quan tâm tới
cơ cấu kinh tế - xã hội của cả nước mà chưa tập trung nói về sự biến đổi ởBắc Trung kì và Nghệ An
Trang 42.2.Tại Nghệ An cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu có liênquan tới tình hình kinh tế, chính trị, xã hội giai đoạn 1930-1939.
Dưới góc độ lịch sử Đảng, trong các cuốn sách: Lịch sử Đảng bộNghệ An, tập 1 (1930-1954), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1998; Lịch
sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ Tĩnh, Sơ khảo, tập 1(1925-1954), Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh, 1987; Sơ thảo Lịch sử tỉnh Đảng bộNghệ An , Ban nghiên cứư lịch sứ Đảng Tỉnh ủy Nghệ An, 1967 Nhìnchung, các tác phẩm này chủ yếu nhấn mạnh chính sách khai thác thuộc địacủa thực dân Pháp và hậu quả gây nên cho nền kinh tế - xã hội Nghệ An(1897-1929) Các tác phẩm này hoặc khảo sát một cách toàn diện tình hìnhchính trị Nghệ An trong thời kỳ này, tuy nhiên phần kinh tế - xã hội còn rất
mờ nhạt, nếu không muốn nói là chưa được nghiên cứu một cách thỏađáng Do vậy, việc nghiên cứu tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Nghệ An
từ 1930 đến 1939 cần phải được bổ sung, làm sáng tỏ hơn
Ngoài ra trong các cuốn Lịch sử Nghệ Tĩnh, Tập 1, Nhà xuất bảnNghệ Tĩnh, Vinh, 1984; Lịch sử Hà Tĩnh, Tập 1, Nhà xuất bản Chính trịQuốc gia Hà Nội, 2000; Xô Viết Nghệ Tĩnh , Ban nghiên cứu lịch sử Đảngtỉnh Nghệ Tĩnh, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1981; Nghệ Tĩnh hôm qua
và hôm nay, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1986…đã ít nhiều phác họa sơlược tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Nghệ An thời kỳ này
Gần đây đã bắt đầu xuất hiện những công trình khảo cứu về kinh
tế-xã hội của Nghệ An, tiêu biểu như Nguyễn Quang Hồng: Kinh tế Nghệ An
từ năm 1885 đến 1945, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị Quốc gia, 2008;Trần Vũ Tài: Sự chuyển đổi kinh tế nông nghiệp ở Bắc Trung Bộ thờithuộc Pháp, Luận án Tiến sĩ Sử học, bảo vệ tại trường đại học khoa học Xãhội và Nhân văn Quốc gia, năm 2000, Nguyễn Quang Hồng: Thành phốVinh quá trình hình thành và phát triển từ 1804 đến 1945, Nhà xuất bảnNghệ An, 2003
Đặc biệt trong những năm gần đây công tác sưu tầm, nghiên cứubiên soạn lịch sử của các huyện thành Nghệ An đã được tiến hành có hiệu
Trang 5quả Cho nên phần kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi huyện được phản ánhtương đối rõ nét trong các cuốn sách đó, có thể kể ra những công trình như:Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Thanh Chương, Nhàxuất bản Nghệ Tĩnh, Vinh, 1985; Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản ViệtNam huyện Nam Đàn, Sơ thảo, tập 1 (1930-1954), Nhà xuất bản NghệTĩnh, 1990; Lịch sử Đảng bộ huyện Đô Lương, Sơ thảo, tập 1 (1930-1963),Nhà xuất bản Nghệ An, 1991; Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Namhuyện Nghi Lộc, Nhà xuất bản Nghệ An, 1991; Lịch sử Đảng bộ HưngNguyên, tập 1 (1930-1945), Nhà xuất bản Nghệ An, 2000; Lịch sử Đảng bộhuyện Quỳnh Lưu (1930-2000), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,2000…Hầu hết các cuốn sách kể trên đều được biên soạn dưới sự chỉ đạocủa các Cấp ủy Đảng, do đó nội dung của nó mới chỉ dừng lại ở việc táihiện các sự kiện lịch sử có liên quan đến vai trò lãnh đạo của Đảng đối vớiphong trào cách mạng của nhân dân Nghệ An Nếu có đề cập đến tình hìnhkinh tế-xã hội của địa phương mình dưới thời thuộc Pháp thì cũng chỉnhằm trình bày hoàn cảnh lịch sử của phong trào cách mạng và chỉ dừng lại
ở việc liệt kê, chưa có sự phân tích cụ thể
Tóm lại “Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội Nghệ An từ 1930 đến1939” là một vấn đề mới mẻ, chưa được nghiên cứu một cách toàn diện.Hầu hết thông tin về kinh tế, chính trị, xã hội được nêu ra trong các tácphẩm kể trên còn rất tản mạn và rời rạc Vì vậy tình hình kinh tế, chính trị,
xã hội ở Nghệ An đang cần tiếp tục nghiên cứu để có cách nhìn toàn diện
và chính xác hơn
Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu trước đây cùng vớinguồn tài liệu thu thập được, chúng tôi sẽ cố gắng bổ sung thêm nhữngphần còn thiếu và chưa được nghiên cứu để hoàn chỉnh cơ bản Lịch sửNghệ An trong những năm 30 của thế kỷ XX dưới ách thống trị của thựcdân Pháp
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 6Từ lịch sử vấn đề như trên, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứucủa luận văn là: Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của Nghệ An từ 1930đến 1939.
Về thời gian: Luận văn giới hạn từ năm 1930-1939, tức là từ khi caotrào Xô viết bùng nổ cho đến phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dânchủ kết thúc Tuy nhiên, để có cách nhìn toàn diện hơn, luận văn còn đềcập đến những nét khái quát nhất về tình hình kinh tế, chính trị, xã hộiNghệ An trước năm 1930
Về không gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu ở tỉnh Nghệ An
Về nội dung: Luận văn tập trung phân tích tình hình kinh tế, chínhtrị, xã hội Nghệ An cụ thể là:
Về kinh tế: Bao gồm các mảng kinh tế nông nghiệp, kinh tế côngnghiệp, thương nghiệp và ngành tài chính tiền tệ
Về chính trị:
Được chia làm ba thời kỳ: Thời kỳ 1930-1931 tập trung vào Xô viếtNghệ Tĩnh, thời kỳ phục hồi lực lượng cách mạng 1932-1935, thời kỳ đấutranh đòi dân sinh, dân chủ 1936-1939
Về xã hội: Gồm mảng nói về đời sống kinh tế, chính trị của cư dânNghệ An; văn hóa, giáo dục, y tế; sự phân hóa giai cấp ở Nghệ An từ 1930đến 1939
Những vấn đề nằm ngoài khung thời gian, không gian, nội dung nêutrên không thuộc phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu:
Ngoài các công trình đã xuất bản , chúng tôi tiếp cận thêm một số tưliệu lưu trữ ở kho lưu trữ Tỉnh ủy Nghệ An
4.2 Phương Pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụngphương pháp duy vật lịch sử, phương pháp logic và phương pháp lịch sử
Trang 7Ngoài ra, do yêu cầu của đề tài chúng tôi còn sử dụng một số phương phápkhác để hỗ trợ như phương pháp thống kê, phương pháp đối chiếu, so sánh,phân tích…
5 Đóng góp của luận văn
Với đề tài nghiên cứu này, luận văn bước đầu khôi phục lại bức tranhtoàn cảnh về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Nghệ An thời kỳ 1930-1939.Tiến hành thống kê, sắp xếp và bổ sung những tư liệu còn thiếu, đóng gópmột phần nhỏ bé vào việc biên soạn Lịch sử Nghệ An được trọn vẹn và đầy
đủ hơn
Cũng từ luận văn này, chúng tôi mong muốn phần lịch sử địaphương sẽ được quan tâm hơn trong các chương trình dạy học lịch sử củacác cấp học Giáo viên và học sinh có thể sử dụng những tài liệu trong luậnvăn này làm tài liệu tham khảo khi giảng dạy và học tập lịch sử Nghệ Antrong những năm 30 của thế kỷ XX Qua đó giáo dục tinh thần dân tộc vàhứng thú tìm hiểu cội nguồn quê hương trong đông đảo học sinh, sinh viênhiện nay
Luận văn cũng sẽ là nguồn tư liệu cho các độc giả gần xa có mongmuốn tìm hiểu lịch sử Nghệ An trong thời kỳ 1930-1939
6 Bố cục của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung củaluận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Khái quát tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Nghệ An
trước năm 1930
Chương 2: Tình hình kinh tế Nghệ An từ 1930 đến 1939
Chương 3: Tình hình chính trị - xã hội Nghệ An từ 1930 đến 1939
B NỘI DUNGCHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ,
Trang 8XÃ HỘI NGHỆ AN TRƯỚC NĂM 1930
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, truyền thống yêu nước và cách mạng của Nghệ An
1.1.1 Điều kiện tự nhiên:
Nghệ An nằm ở Bắc Trung Bộ có diện tích 16.370km2, là tỉnh códiện tích lớn nhất cả nước Nằm trong tọa độ từ 18035’00” đến 20000’10” vị
độ bắc và từ 103050’25” đến 105040’30” kinh độ đông Phía bắc giáp tỉnhThanh Hóa, phía nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía tây giáp Cộng hòa dân chủnhân dân Lào, phía đông giáp biển Đông với đường biển dài 92km Có thểnói, Nghệ An là ngã tư của đường Bắc - Nam, Lào và đại dương
Nghệ An là một vùng đất rộng, có thể xem là hình ảnh thu nhỏ của
cả nước với đủ các vùng: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển và thềmlục địa Phía tây có dãy Trường Sơn và Phù Hoạt trở thành một vùng núichiếm diện tích rộng lớn trong toàn tỉnh Núi chạy theo hướng Tây Bắc -Đông Nam và thấp dần về Đông Rừng núi Nghệ An có khoảng 1.141.652
ha chiếm khoảng 3/4 diện tích của tỉnh Rừng Nghệ An có hầu hết các loàiđộng vật, thực vật của vùng nhiệt đới và cận ôn đới
Bờ biển Nghệ An dài 92km, có hải phận 4.200 hải lý vuông, có 6 cửalạch tiện cho giao thông vận tải Biển Nghệ An có nhiều cá và các loại hảisản quý hiếm, đặc biệt muối là nguồn thu nhập chủ yếu của Diêm dân ởQuỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc
Nghệ An có nhiều sông ngòi, sông Lam lớn nhất với 151 nhánh lớnnhỏ Đặc điểm sông ở Nghệ An có độ dốc lớn, lòng hẹp và bị bồi lắng nênmùa mưa bão thường gây ra lũ lụt lớn Ngoài sông tự nhiên còn có “Kênhnhà Lê” là kênh đào chạy suốt từ bắc đến nam của tỉnh
Khoáng sản là một tiềm năng lớn của Nghệ An, trong lòng đất chứanhiều khoảng sản kim loại như: vàng, bạc, thiếc, chì, kẽm, măng gan vớitrữ lượng lớn Đặc biệt, Nghệ An nổi tiếng với nguồn đá đỏ ở Quỳ Châu
Đất đai nông nghiệp phong phú, vùng đất đỏ bazan ở Phủ Quỳ rấtthích hợp để trồng cây công nghiệp Ngoài ra, còn có đất phù sa ven sông,
Trang 9ven biển, tuy độ màu mỡ không cao, nhưng là vùng thâm canh cây lươngthực.
Giao thông của tỉnh khá thuận lợi, Nghệ An là nơi mà con đườngquốc lộ 1A chạy suốt chiều dài của tỉnh, quốc lộ 7 nối đường 1A ở ngã baDiễn Châu sang Lào, quốc lộ 15A từ giáp giới Nghệ An - Thanh Hóa đếnNghệ An - Hà Tĩnh, quốc lộ 16 nối Cửa Lò - Vinh - Thanh Chương - ĐôLương Ngoài hai cảng lớn là Bến Thủy, Cửa Lò còn có cầu Hiếu, cầuBùng, cầu Đô Lương đều sử dụng có hiệu quả Sân bay Vinh đã đưa vàohoạt động và tiếp tục được nâng cấp Như vậy, Nghệ An có đầy đủ các loạihình giao thông: đường bộ, đường sông, đường biển, đường hàng không
Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm chiathành bốn mùa rõ rệt Do đặc thù và vị trí địa lý nên Nghệ An không chỉ lànơi hứng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa đông bắc lạnh và ẩm ướt
mà còn chịu ảnh hưởng của gió phơn tây nam nóng trong mùa hạ Là nơigiao thoa của nhiều chế độ thời tiết nên nhìn chung khí hậu ở Nghệ Antương đối khắc nghiệt Đó cũng là nhân tố góp phần hình thành nên tínhcách của con người xứ Nghệ
Từ xưa đến nay Nghệ An luôn là vị trí chiến lược quan trọng của cảnước Nhận xét về vị thế của Nghệ An, Phan Huy Chú viết “Nghệ An núicao sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất có danhtiếng hơn cả Nam Châu Người thì thuần hòa mà chăm chỉ, sản vật thìnhiều thức quý của lạ Những vị thần ở núi, ở biển phần nhiều có tiếng linhthiêng Địa khí tốt của sông núi, nên sinh bậc danh hiền lại còn khoanh đấtliền với đất người Nam, người Lào, làm giới hạn cho hai miền nam bắc,thực là nơi hiểm yếu, như thành dòng ao nóng của nước và là then khóa củacác triều đại…” [3;24]
Nghệ An ngày nay là một trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội lớn củakhu vực Bắc miền Trung Nhìn nhận về lịch sử Nghệ An ta không thểkhông chú ý đến vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của vùng đất này
1.1.2 Truyền thống và bản sắc con người Nghệ An
Trang 10Nghệ An có dân số 2.805.403 người, là một tỉnh có nhiều dân tộctrong đó người kinh chiếm 90%, các dân tộc anh em khác có nguời Thái,
Hơ Mông, Khơ Mú…[34;11]
Theo các kết quả khảo cổ học, Nghệ An là một trong những địa bàn
có con người cư trú rất sớm (khoảng hơn 20 vạn năm), những di tích mà ta
đã phát hiện được tại làng Vạc (Nghĩa Tiến-Nghĩa Đàn) đã minh chứng choNghệ An là một trung tâm văn hóa Đông Sơn, góp phần xây dựng vào tiếntrình lịch sử dân tộc và là một bộ phận hữu cơ của đất nước Văn Lang-ÂuLạc
Qua nhiều thế kỷ, nhân dân Nghệ An đã trải qua nhiều cuộc đấutranh lâu dài, gian khổ, vừa chinh phục thiên nhiên vừa chống trả quyết liệtvới bọn cướp nước để tồn tại và phát triển Nhân dân đã xây dựng đượccách sống thích hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế của mình và khôngngừng vươn lên theo đà phát triển của lịch sử
Nghệ An có bề dày truyền thống yêu nước và cách mạng rất đáng tựhào Trong hơn ngàn năm Bắc thuộc, Nghệ An đã cùng cả nước kiên cườngđấu tranh giải phóng dân tộc Nhân dân Nghệ An đã liên tục chống thùtrong giặc ngoài Trong vương quốc Vạn Xuân, Nghệ An là biên thùy phíaNam và đánh tan cuộc tấn công lấn chiếm của vua Chămpa vào năm 543.Thành Vạn An (Nam Đàn) hiện nay là chứng tích cho cuộc khởi nghĩa lẫylừng của Mai Thúc Loan, mở rộng vùng giải phóng rồi tự xưng là Mai Hắc
Đế năm 713
Trải qua các triều đại Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn, Nghệ An
đã trở thành phên dậu vững chắc “ Cối kê của sự quân tu ký-Hoan Diễn tồnthập vạn binh” (Cối kê chuyện cũ nguời nên nhớ-Hoan Diễn kia còn 10 vạnbinh) như lời vua Trần; là nơi Lê Lợi đã xây dựng bàn đạp để chiến thắngquân Minh, giải phóng thủ đô Thăng Long và còn là nơi Quang Trung đãchiêu tập binh mã, chuẩn bị quân lương để chiến thắng quân Thanh Saukhi thống nhất đất nước Quang Trung còn cho xây dựng Phượng HoàngTrung Đô ( vùng tây núi Quyết hiện nay ) với ý định dời kinh đô từ Phú
Trang 11Xuân ( Huế ) ra Nhiều con em của Nghệ An đã trở thành dũng tướng nhưĐặng Dung, Đặng Tất, Nguyễn Biểu và biết bao mưu sĩ, võ tướng quêNghệ An đã cống hiến tài năng cho các cuộc chiến tranh giữ nước nhưNguyễn Xí, Lưu Quốc Câu, Lê Quốc Lý…
Nghệ An là nơi đứng chân vững chắc nhưng cũng là nơi chiếntrường, nhân dân Nghệ An đã chịu bao cảnh đau thương trong các cuộcgiao tranh giữa Trịnh - Mạc, Trịnh - Nguyễn
Từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, trước thái độ bạc nhược,đầu hàng của triều đình Huế, các nhà văn thân cùng nhân dân Nghệ An đã
tỏ rõ quyết tâm đánh cả “ Triều lẫn Tây” Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra docác vị đại khoa đứng đầu như Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã (1885-1889)
…
Sau khi phong trào Cần Vương bị thất bại, nhiều thế hệ người Nghệ
An nối tiếp nhau ra đi tìm đường cứu nước như Phan Bội Châu, NguyễnTất Thành, Phạm Hồng Thái Đây cũng là nơi xuất thân của lớp người cộngsản đàu tiên như Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, NguyễnThị Minh Khai… và đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người tiêubiểu nhất cho tinh hoa, khí phách của dân tộc và lương tâm của thời đại
Nghệ An không những đóng góp to lớn về người và của cho côngcuộc chống giặc mà còn đóng góp xứng đáng về nhiều mặt trong đời sốngvăn hóa tinh thần của nhân dân ta Nghệ An là quê hương của nhiều thểloại văn hóa đặc sắc như hát ví, hát dặm, hát phường vải, hò vè, các truyện
cổ tích, thần thoại…Những di sản văn hóa ấy đã trở thành vốn quý củanhân dân
Nghệ An còn nổi tiếng là đất học - “Ông đồ Nghệ” Thời Lý - Trần,Nghệ An - Thanh hóa được gọi là đất học Với nhiều người đỗ đạt, BạchLiêu là vị trạng nguyên được sinh ra trên mảnh đất này Tiếp theo phải kểđến nhà sử học Hồ Tông Thốc nổi tiếng với bộ “Việt sử cương mục”.Nhiều dòng họ khoa bảng, nhiều làng học nổi tiếng ở Nghệ An như làngQuỳnh Đôi từ năm 1446 đến năm 1725 có 780 người đậu tú tài đến tiến sĩ
Trang 12Nhiều dòng họ nổi tiếng như họ Hồ ở Quỳnh Đôi ( Quỳnh Lưu), họ Cao ởThịnh Mỹ ( Diễn Châu ), họ Nguyễn ở Trung Cần (Nam Đàn).
Võ tướng và quân lính Nghệ An có truyền thống trung thành vớitriều đình, ra trận dũng cảm, binh lính Nghệ An thời Lê được gọi là thắngbinh
Qua những điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử lâu đời về xây dựng
và bảo vệ đất nước đã kết tinh ở Nghệ An những truyền thống, phẩm chất,phong cách tốt đẹp của con người xứ Nghệ mà tập trung nhất là tinh thầnanh dũng, kiên cường, cần kiệm, giản dị, kiên trì, bền bỉ, nhân hậu, chântình, cương trực, khẳng khái, tận tụy, trung thành, giàu đức tính hi sinh và
An nói riêng vẫn không hề có sự biến chuyển gì nhiều Một nền kinh tếnông nghiệp lạc hậu vẫn được duy trì và được củng cố từ triều đại này sangtriều đại khác Bởi kinh tế nông nghiệp là nền tảng của chế độ phong kiến,chính nền kinh tế đã quy định cơ cấu xã hội Ở Nghệ An hay ở bất cứ nơinào trên đất nước ta cũng chỉ tồn tại hai giai cấp chính là giai cấp nông dân( thuộc tầng lớp bị trị ) và giai cấp địa chủ phong kiến ( thuộc tầng lớpthống trị )
Nhưng tất cả đã thay đổi khi vết giày xâm lược của thực dân Phápđặt chân lên nước ta Ngày 1/9/1958 định mệnh ấy, thực dân Pháp nổ súngxâm lược Việt Nam 26 năm sau, với điều ước Patơnốt ( 6/6/1884 ), chúnghoàn thành thôn tính nước ta 20/7/1885, dưới sự chỉ đạo của Sơmông,quân Pháp tiến vào đánh chiếm thành Nghệ An Từ đây lịch sử Nghệ Anbước vào một giai đoạn mới
Trang 13Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp được tiến hànhtrong hai đợt (1897-1914) và (1919-1929) đã phá vỡ nền kinh tế nôngnghiệp của Nghệ An nói riêng cũng như của Việt Nam nói chung Mụcđích của thực dân Pháp khi tiến hành khai thác thuộc địa là khai thác nguồnnguyên liệu dồi dào và bóc lột nhân công rẻ mạt Nhưng dù chúng khôngmuốn thì ở Nghệ An cũng đã hình thành một nền kinh tế theo hướng tư bảnchủ nghĩa bởi những chính sách đầu tư khai thác Kinh tế Nghệ An lúc nàyvừa tồn tại một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu lại vừa xuất hiện nhữngmầm mống của một nền kinh tế tư bản hiện đại Biểu hiện của nó là bêncạnh nền kinh tế nông nghiệp còn xuất hiện thêm nhiều ngành kinh tế mớinhư công nghiệp, giao thông vận tải, thương nghiệp, kinh tế đồn điền…
* Về giao thông vận tải:
Từ nhận thức “ Vinh-Bến Thủy sẽ là một thành phố có nhiều triểnvọng Đây là chìa khóa của xứ Lào vì có hai con đường chính nối Lào vớicảng Bến Thủy, đường Vinh sang Trấn Ninh qua Cửa Rào, đường Vinhsang Mê Công qua Khăm Muộn là tỉnh giàu có của nước Lào Sau này cóthêm con đường thứ ba mở vào phía Nam đèo Mụ Dạ qua Lào và hạ lưusông Sêbanphai Lào là một xứ nuôi gia súc đặc biệt…” [3;26] thực dânPháp đã đẩy nhanh tốc độ xây dựng giao thông vận tải Vì vậy trong nhữngnăm 20 của thế kỷ XX, chúng đã cho xây dựng ở Nghệ An một loạt cáccông trình giao thông vận tải như đường số 7 (Vinh - Cửa Rào - TrấnNinh), đường số 8 (Vinh - Napê (Lào))
Trang 14Năm 1927, hoàn thành đường sắt Hà Nội - Vinh - Đông Hà.
Năm 1929 hoàn thành Sân bay Vinh
Năm 1929 chính phủ Pháp phê duyệt kế hoạch mở rộng cảng BếnThủy với vốn đầu tư là 10 triệu Fr
Cảng Bến Thủy cùng với Nhà máy xe lửa Trường Thi là hai cơ sở tiêubiểu nhất thuộc ngành công nghiệp giao thông vận tải của tư bản Pháp ở NghệTĩnh
* Về công nghiệp chế biến:
Từ quá trình thăm dò ở thế kỷ XVIII rằng Nghệ Tĩnh là miền rừngnúi có nhiều gỗ quý, Giăng-Duy-Puy ( Jean Dupuis ) đã lập một trạm thumua gỗ ở cửa khẩu Vinh Năm 1892, cơ sở buôn bán lâm sản của Duy Puychuyển qua tay “ Công ty thương nghiệp, thương mại Trung Kỳ ” Năm
1900 “ Công ty Lào ” mở xưởng cưa và xưởng mộc ở Bến Thủy Năm
1903 “ Công ty diêm Đông Dương ” cho xây dựng Nhà máy diêm ở BếnThủy
Ngày 10/10/1922, “ Công ty vô danh rừng và diêm ” ( viết tắt làSIFA) ra đời trên cơ sở sát nhập hai công ty “Công ty thương mại và lâmsản Trung Kỳ ” và “ Công ty diêm ” SIFA quản lý hầu hết các xí nghiệplớn ở Bến Thủy gồm Nhà máy cưa SIRI, Nhà máy cưa Lào - Xiêm, Nhàmáy diêm, Nhà máy điện SIFA trở thành công ty chế biến gỗ lớn nhất ởNghệ An
* Ngành kinh tế nông nghiệp:
Đây là một nền kinh tế cổ truyền của nước ta từ khi hình thành quốcgia, dân tộc Cho đến những năm trước khi thực dân Pháp tiến hành khaithác thuộc địa thì nông nghiệp vẫn giữ vị trí chủ đạo gần như độc tôn trongtoàn bộ cơ cấu kinh tế Việt Nam
Tuy nhiên trước sự xâm lược của thực dân Pháp, nông nghiệp Nghệ
An đã có sự biến đổi sâu sắc Thực dân Pháp đã tiến hành cướp ruộng đất
để lập đồn điền Từ năm 1925-1930 quá trình cướp ruộng xảy ra mạnhnhất, nếu như năm 1925 mới chỉ có 3 đồn điền thì đến năm 1929 đã có 35
Trang 15đồn điền Lớn nhất là đồn điền của Van-te ở Nghĩa Đàn chiếm 4.128 ha.Bọn địa chủ, quan lại, phong kiến cũng ra sức bóc lột tô tức và cướp đoạtruộng đất để lập đồn điền tiêu biểu như Đặng Oánh ( Diễn Châu ), Thái ThịVực ( Yên Thành ), Trần Thế Roanh ( Quỳnh Lưu )…
Từ năm 1923 tư bản Pháp đã biến Phủ Quỳ thành hệ thống đồn điềnlớn nhất ở Nghệ An
Nhìn chung nền kinh tế nông nghiệp Nghệ An trong những năm1897-1929 đã có sự biến chuyển nhanh Nông dân bị phá sản chuyển sanghoạt động trong một số ngành kinh tế khác, hoặc trở thành công nhân làmthuê hoặc, trở thành thị dân buôn bán…
* Về thương nghiệp:
Nổi lên trong thời kỳ này là sự xuất hiện của các chi nhánh thươngmại của Liên hiệp thương mại Đông Dương gọi tắt là Luy xia Đó là cơ sởthương nghiệp có thế mạnh
Ngày 30/10/1925, toàn quyền Đông Dương cho đặt ở Vinh vănphòng hỗn hợp thương mại canh nông kiêm doanh cả Thanh, Nghệ Tĩnh
Thực dân Pháp giữ độc quyền về kinh doanh và lưu thông buôn bánđối với các loại hàng đặc sản như rượu, muối, thuốc phiện và một số hàngquý hiếm khác Nhất là thuốc phiện và các hương liệu như sa nhân, nhung,quế, cánh kiến, trầm…
Muối là một trong những thế mạnh của Nghệ An cũng bị thực dânPháp thâu tóm.Hãng Phông ten nắm độc quyền mua bán rượu, muối
Như vậy, sự xuất hiện của công - thương nghiệp và các tuyến đườnggiao thông quan trọng đã phá vỡ tính chất tự nhiên, tự cung, tự cấp khépkín của kinh tế Nghệ An, đồng thời đẩy nông nghiệp từ chỗ là ngành kinh
tế chủ đạo xuống hàng thứ yếu Nền kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩađang dần dần thay thế nền kinh tế cổ truyền ở Nghệ An
1.2.2 Về chính trị:
Từ sau điều ước Patơnốt (1884), Trung Kì trở thành xứ “ bảo hộ ” nêndân Nghệ An phải chịu cảnh “ một cổ hai tròng ”, vừa chịu ách cai trị của thực
Trang 16dân Pháp, vừa bị bọn phong kiến Nam triều đè nén Đứng đầu tỉnh có Tổngđốc, thứ đến là Bố chánh ( coi việc thuế má, ruộng đất, dân số ), án sát, hìnhpháp, đốc học, lãnh binh (trị an) Ngoài ra còn có thông phán, kinh dịch, thừaphái, lục sự…Song song với bộ máy quan lại phong kiến, có tòa sứ với tênCông sứ đứng đầu, dưới Công sứ có Phó sứ (chuyên việc văn phòng và chủ sựkho bạc) Ngoài ra còn có tham tá, thông phán người Việt Các sở chuyênmôn thuộc tòa sứ gồm có lục bộ (giao thông, xây dựng), nha đoan (đánh thuếgián thu), kiểm lâm (quản lý khai thác rừng), y tế, thú y, nông chính Sở mậtthám và trại thám binh là hai cơ quan theo dõi trấn áp dân chúng.
Về mặt hình thức, cả hai bộ máy cai trị đó kết cấu với nhau đàn áp,bóc lột nhân dân đến tận xương tủy nhưng thực chất cơ quan phong kiếnNam triều chỉ là con rối dưới sự điều khiển giật giây của tòa sứ Chúng thihành chính sách chuyên chế về chính trị, mọi quyền hành đều nằm trongtay tòa sứ
1.2.3 Về mặt xã hội:
Chính sách khai thác bóc lột của thực dân Pháp đã làm cho nguồn tàinguyên của Nghệ An ngày càng bị hao mòn, đời sống nhân dân kiệt quệ.Người nông dân không chỉ bị mất đất, mất ruộng, mà còn phải chịu nhiềuthứ sưu thuế nặng nề Có hàng trăm thứ thuế, điển hình là thuế điền thổ vàthuế đinh Thuế điền thổ được chia ra làm 4 hạng điền, 6 hạng thổ Sưuthuế như một tảng đá lớn đè nặng trên lưng người nông dân Tảng đá ấyngày càng nặng thêm theo từng năm, nếu như năm 1904 tăng 8% thì đếnnăm 1924 đã tăng 30%
Thuế thân (thuế đinh hoặc sưu) là một thứ thuế vô lý đánh vào đầungười Tất cả dân đinh từ 18-60 tuổi đều phải nạp 2,5 đồng/năm
Về văn hóa, xã hội, y tế, năm 1918 cả tỉnh Nghệ An mới chỉ có được
8 trường tiểu học với 726 học sinh, 128 trường ấu học với 3.095 học sinh.Trường Quốc học Vinh là trường lớn nhất bấy giờ, là trung tâm đào tạo của
4 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Cả tỉnh Nghệ An chỉ
Trang 17có một nhà thương nhỏ và vài trạm xá tại các phủ huyện, chủ yếu để chữabệnh cho các quan lại, địa chủ phong kiến.
Dưới ảnh hưởng của chính sách khai thác, với sự xuất hiện của yếu
tố kinh tế mới nên phù hợp với nó là các giai cấp mới đã hình thành Cáctầng lớp xã hội các giai cấp mới như công nhân, tiểu tư sản và tư sản ra đờingày càng phát triển, giai cấp nông dân ngày càng bị bần cùng hóa, giai cấpđịa chủ có điều kiện phát triển hơn trước chiến tranh
Giai cấp địa chủ phong kiến ở Nghệ An là chỗ dựa của thực dânPháp Sự cấu kết ngày càng thêm chặt chẽ giữa hai thế lực phản động đãtạo cơ hội cho chúng chia nhau chiếm đoạt ruộng đất, đồng thời đẩy mạnhbóc lột kinh tế và tăng cường kìm kẹp, đàn áp về chính trị đối với ngườinông dân Cố nhiên vẫn có một bộ phận tầng lớp địa chủ nhỏ nói chung,không có thế lực, tuy có mâu thuẫn với nông dân nhưng vì bị thực dânPháp và chính quyền phong kiến tay sai đè nén, nhũng nhiễu nên họ tỏ thái
độ oán ghét chúng Vì vậy địa chủ phú nông cũng có tinh thần dân chủ Họ
sẽ tham gia các phong trào yêu nước khi có điều kiện
Giai cấp tư sản Nghệ An hình thành sau giai cấp công nhân Vừa mới
ra đời đã bị tư bản Pháp chèn ép, kìm hãm nên số lượng ít, thế lực kinh tế yếu,nặng về thương nghiệp Trong quá trình phát triển, tư sản Nghệ An đã có sựphân hóa thành hai bộ phận: Tầng lớp tư sản mại bản có quyền lợi gắn liềnvới đế quốc nên kết cấu chặt chẽ với chúng; tầng lớp tư sản dân tộc có khuynhhướng kinh doanh độc lập nên ít nhiều có tinh thần dân tộc, dân chủ chống đếquốc và phong kiến Tuy nhiên họ dễ bị cải lương thỏa hiệp khi đế quốcmạnh
Tầng lớp tiểu tư sản ở Nghệ An gồm viên chức, trí thức, học sinh,thợ thủ công, tiểu thương, tiểu chủ Họ phần đông xuất thân từ các gia đìnhnhà nho Họ cũng bị tư sản Pháp ráo riết chèn ép, bạc đãi, khinh rẻ, đờisống bấp bênh, dễ bị xô đẩy vào con đường phá sản và thất nghiệp Vì vậy,
họ đã hăng hái tham gia các phong trào yêu nước và trở thành những hạtnhân của phong trào yêu nước Tuy nhiên do địa vị kinh tế và chính trị của
Trang 18mình, tầng lớp tiểu tư sản vẫn không tránh khỏi có lúc thiếu vững vàngkiên định.
Nông dân Nghệ An chiếm hơn 90% dân số trong tỉnh, bị đế quốcphong kiến áp bức, bóc lột nặng nề bằng thủ đoạn sưu cao, thuế nặng, tôtức, phu phen, tạp dịch…Họ bị bần cùng hóa và phá sản trên quy mô lớn,nhưng chỉ có một bộ phận nhỏ trở thành công nhân, số đông nông dân vẫnphải sống quanh quẩn trong lũy tre làng Sống trên mảnh đất có bề dàytruyền thống yêu nước, nên nông dân Nghệ An có ý thức dân tộc cao, giàulòng yêu nước Họ sẽ trở thành lực lượng hăng hái và đông đảo nhất củacách mạng
Giai cấp công nhân Nghệ An được hình thành và phát triển từ nhữngnăm đầu thế kỷ XX Tuy ra đời muộn nhưng công nhân Nghệ An phát triểnnhanh và tập trung ở khu công nghiệp Vinh - Bến Thủy, một bộ phận ở cácđồn điền Phủ Quỳ Cùng mang đặc điểm của giai cấp công nhân cả nước(bị ba tầng áp bức bóc lột của đế quốc, phong kiến, tư sản Người Việt; cóquan hệ tự nhiên gắn bó với giai cấp nông dân; kế thừa truyền thống yêunước anh hùng và bất khuất của dân tộc) nhưng giai cấp công nhân Nghệ
An vừa mới ra đời đã được tắm mình trong phong trào yêu nước, sớm đượctiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin nên đã nhanh chóng bước lên vũ đài chínhtrị, để trở thành lực lượng nắm quyền lãnh đạo cách mạng
Trang 19Việt Nam là một nước nông nghiệp nên cuộc khủng hoảng diễn rađầu tiên trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Đứng trước cuộc khủng hoảng,lúa không bán được ra thị trường thế giới, bị hạ giá trầm trọng Ruộng đất
bỏ hoang nhiều Nhân dân lao động, đặc biệt là công nhân và nông dân vìvậy phải gánh chịu nhiều hậu quả nhất Công nhân không có việc làm,nông dân tiếp tục bị bần cùng và phá sản trên quy mô lớn Các tầng lớp tiểu
tư sản tri thức, những người buôn bán nhỏ và cả tư sản người Việt cũngđứng trước nguy cơ phá sản hàng loạt Ngay cả những nhà tư sản được coi
là anh cả của Việt Nam như Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Hữu Thu cũng khôngthể thoát khỏi cơn lốc khủng hoảng này Cuộc khủng hoảng đã tàn phánặng nề kinh tế - tài chính Đông Dương Trong bối cảnh chung đó, kinh tếNghệ An cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc
Ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế cùng với chínhsách bóc lột ngày càng dã man của thực dân Pháp đã làm cho mâu thuẫngiữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp ngày càng thêm sâusắc Ngày 3/2/1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời với đường lối giảiphóng dân tộc đúng đắn đã đưa phong trào cách mạng ở nước ta phát triểntrên phạm vi cả nước Phong trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xôviết Nghệ Tĩnh làm rung chuyển cả nước Pháp Trước tình hình đó, thựcdân Pháp đã thi hành chính sách đàn áp khủng bố khốc liệt làm cho bầu
Trang 20chính trị của nước ta trở nên ngột ngạt, nóng bỏng Các công ty tư bản Phápthấy vậy tìm cách thu hồi vốn đầu tư, không đầu tư vốn vào Đông Dươngnhư thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Những biến động chính - trị xãhội đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế Việt Nam nói chung cũng nhưkinh tế Nghệ An nói riêng.
Sau cuộc khủng bố trắng (1931-1933), phong trào cách mạng trongnước tạm lắng xuống khiến thực dân Pháp phần nào yên tâm và có nhiềuđiều chỉnh trong chính sách cai trị Đông Dương nhằm vừa xoa dịu mâuthuẫn với người bản xứ vừa tiếp tục chính sách khai thác thuộc địa ở ViệtNam Thực dân Pháp đã cho khởi công ở Nghệ An hai công trình đập nướcquan trọng là đập nước Đô Lương và Bara Nam Đàn mang lại nhiều nguồnlợi kinh tế cho nhân dân Nghệ An Thực dân Pháp còn cho các điền chủngười Âu mở rộng đồn điền ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ Đây là một trongnhững yếu tố tác động đến nền kinh tế Nghệ An
Bước sang những năm 1936-1939, tình hình thế giới đã xảy ra nhiềubiến động mà tâm điểm chính là sự ra đời của chủ nghĩa phát xít ở Đức,Italia và Nhật Bản đang đe dọa trực tiếp đến nền hòa bình và an ninh thếgiới Một phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít đã được Quốc tếcộng sản phát động, trong Đại hội Quốc tế cộng sản lần 7 (7/1935) Hưởngứng lời kêu gọi đó, ở Việt Nam đã diễn ra phong trào đấu tranh đòi dânsinh dân chủ sôi nổi, sâu rộng trong phạm vi cả nước Phái đoàn điều trathuộc địa do J.Gôda dẫn đầu sang nước ta mang cùng một số chính sáchtiến bộ của chính phủ Pháp trong giai đoạn này tạo điều kiện cho kinh tếViệt Nam cũng như Nghệ An có điều kiện phục hồi và phát triển
Như vậy chỉ trong vòng 10 năm (1930-1939), tình hình trong nước
và thế giới có nhiều thăng trầm biến đổi Thực dân Pháp đã tìm mọi cách
để duy trì đặc quyền, đặc lợi của mình ở Đông Dương Trong tình thế lịch
sử luôn biến động đó, kinh tế Đông Dương nói chung và kinh tế Nghệ Annói riêng luôn phải chịu ảnh hưởng
2.2 Kinh tế Nghệ An thời kỳ 1930 - 1939
Trang 212.2.1 Kinh tế nông nghiệp
* Kinh tế đồn điền:
Do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt lại không có đồng bằng phì nhiêurộng lớn như ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ nên kinh tế đồn điền ở Nghệ An ra đờimuộn hơn và phát triển chậm hơn Ngày 27/12/1913, Toàn quyền ĐôngDương ra nghị định quy định về việc chuyển nhượng ruộng đất cày theo hailoại đất: đất thành phố và đất nông thôn Nghị định như một giấy thônghành cho quá trình chuyển nhượng và chiếm đoạt ruộng đất của các điềnchủ người Pháp Tuy nhiên, trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, quá trình
đó chỉ diễn ra chủ yếu ở Bắc Kỳ và ở Nam Kỳ còn ở Trung Kỳ, tình trạngđầu tư xây dựng đồn điền chưa mấy sôi động và chỉ diễn ra lẽ tẻ ở một vàinơi Ở Nghệ An từ 1910-1913 mới có một số điền chủ người Âu đến lậpđồn Tiên Sinh và Nai Sinh (nay thuộc nông trường Đông Hiếu - NghĩaĐàn, trồng cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc) Tiếp đó là Côlê lập đồnđiền ở Dốc Lụi (Nghĩa Đàn) Tuy nhiên công việc kinh doanh không mấyphát đạt
Kinh tế đồn điền ở Nghệ An chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ trong 20năm (1919-1939), với sự ra đời hàng loạt các đồn điền quy mô lớn ở nhiềuđịa phương nhưng tập trung chủ yếu ở Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Châu, YênThành, Diễn Châu, Đô Lương
Sự ra đời của hệ thống đồn điền ở Phủ Quỳ đã đánh dấu sự phát triểnmạnh mẽ của kinh tế đồn điền ở Nghệ An Năm 1919, Walther lập đồn điền
ở Cao Trai (nay thuộc nông trường Tây Hiếu - Nghĩa Đàn) làm ăn phát đạt.Đến năm 1930 Walther đã mở rộng diện tích đồn điền của mình lên tới6.300 ha Tiếp đó, Công ty rừng và diêm Đông Dương đã đầu tư xây dựngđồn điền ở Phủ Quỳ với diện tích hàng ngàn ha, trồng cao su, cà phê vàchăn nuôi gia súc Sự hiện diện của tập đoàn tư bản này ở Phủ Quỳ đãchứng tỏ đây là vùng đất có nhiều tiềm năng, mang lại nhiều lợi ích kinh tế.Bên cạnh các điền chủ người Pháp, tại Phủ Quỳ, một số điền chủ ngườiViệt cũng cố gắng vươn lên cạnh tranh cùng tư bản Pháp Tiêu biểu như Lê
Trang 22Bôn Đào, Ký Viễn, Lê Văn Quý, Trần Thúy Roanh…Sự xuất hiện của tưsản người Việt trong nền kinh tế đồn điền đã tạo nên một nét mới trong bứctranh kinh tế đồn điền ở Nghệ An tồn tại cho đến hết Chiến tranh thế giớilần thứ hai.
Ngoài Phủ Quỳ, trong khoảng thời gian từ 1919-1939 các điền chủngười Pháp và người Việt còn đầu tư lập ra một hệ thống đồn điền ở khắpcác huyện thuộc địa bàn Nghệ An Tiêu biểu là đồn điền Sapainhe, PoulHugon, Ký Viễn ở Hạnh Lâm (Thanh Chương), Lejeune (Anh Sơn), MiPhare (Kẻ Tụ - Quỳ Châu), Emileur, Chavanon (Quỳnh Lưu), Thừa Duệ( Nghĩa Động - Nam Đàn), Bá Hộ Cầu (Hưng Nguyên), Trần Thị Vực (YênThành),…
Nét độc đáo của kinh tế đồn điền ở Nghệ An đó là các đồn điền củacác điền chủ người Âu chỉ tồn tại một thời gian rồi sau đó được chuyểnnhượng, bán lại cho các công ty lớn như các tập đoàn SIFA hoặc phải bántoàn bộ sản phẩm cho tập đoàn này Như vậy quyền sở hữu đất đai thuộc vềmột chủ hoặc một công ty
Mặt khác, mối quan hệ giữa điền chủ và người lao động được xâydựng trên cơ sở hợp đồng giữa hai bên được pháp luật quy định rõ chứkhông phải là mối quan hệ giữa điền chủ - tá điền hoặc địa chủ - nông dân
tự do Lực lượng công nhân làm việc ở đây có hai loại: công nhân làm việclâu dài, định cư sinh sống gần đồn điền, họ chủ yếu có nguồn gốc từ ThanhHóa và đồng bằng Bắc Bộ vào; loại thứ hai là công nhân mùa vụ, họ chủyếu là nông dân các huyện ở Nghệ An
Một nét khác biệt nữa của kinh tế đồn điền ở Nghệ An so với kinh tếđồn điền ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ là ở chỗ kinh tế đồn điền ở Nghệ An khôngchỉ chuyên canh trồng cây công nghiệp như cao su, cà phê, chè…để xuấtkhẩu mà các điền chủ ở đây còn dành một diện tích đất đồn điền để trồnglúa Lúa là cây lương thực được ưu tiên vì thời gian phục hồi vốn nhanh, họlại có nhiều kinh nghiệm trong việc thuê mướn nhân công, cất giữ thuhoạch, bán sản phẩm Chính điều này đã làm cho phương thức bóc lột lao
Trang 23động theo kiểu phong kiến vẫn tiếp tục được duy trì Điền chủ người Việttrồng lúa trả công cho công nhân theo kiểu hợp đồng lao động và trả tiềncho từng công việc cụ thể như: công cày cấy, công gieo trồng, chăm bón,thu hoạch…hoặc điền chủ phát canh thu tô theo kiểu điền chủ và tiền công
có thể bằng hiện vật (lúa)
Các đồn điền ở Nghệ An còn có tiềm năng rất lớn để trồng cây côngnghiệp ngắn ngày, đặc biệt là vừng, lạc Diện tích trồng vừng hàng năm cókhoảng 6.000 ha, với năng suất bình quân 25kg/sào Nghệ An là tỉnh cónhiều diện tích đất trồng lạc nhất so với các tỉnh khác ở Trung Kỳ Vừng,lạc là hai loại nông sản xuất khẩu qua cảng Bến Thủy Ngoài ra, còn phải
kể đến các loại cây trồng khác như gai, mía, đay, cánh kiến…cũng để xuấtkhẩu
Đồn điền đồng thời cũng là trang trại chăn nuôi nhiều loại gia súcnhư trâu, bò Việc chăn nuôi trâu, bò trong các đồn điền của người Phápthường được nuôi quy mô từ vài chục đến vài trăm con do một số côngnhân nhất định đảm nhận và họ được nuôi cơm, trả lương theo tháng từ 4,5-
Hộ Cầu, Bá Hộ Hiên…
Công nhân làm trong các đồn điền có hai hạng: công nhân làm việc lâu dài
và công nhân làm việc theo mùa vụ Mối quan hệ chủ đạo giữa điền chủ vàngười lao động được xây dựng bằng một bản hợp đồng lao động do phápluật quy định rõ trong nhiều nghị định như nghị định 5/10/1871; 8/11/1880;26/8/1899…Trên cơ sở đó, ngày 5/2/1902 toàn quyền Đông Dương ban bốviệc thi hành nghị định ngày 26/8/1899 cho cả khu vực Trung Kỳ và Cao
Trang 24Miên với nội dung cụ thể là “Tất cả mọi người bản xứ ở Bắc Kỳ, Trung kỳkhông phải là công nhân Pháp đã trưởng thành, là nữ hay nam, làm việc tôi
tớ trong gia đình hay người Âu hóa phải theo một hợp đồng được cam kếtbằng lời hay bằng văn bản đều bắt buộc phải có một cuốn sổ Cuốn sổ này
có giá trị như một giấy phép lưu trú, trong đó ghi rõ nhân dạng, quê quán
và chỗ ở cuối cùng của người có sổ cũng như tính chất và thời hạn hợpđồng, lương được hưởng và cách thức trả lương… Nếu hủy hợp đồngkhông có lý do chính đáng, ngừng công việc không báo trước 15 ngày, hayhết hạn hợp đồng hoặc muốn hủy hợp đồng không báo trước với chínhquyền, người đó sẽ bị xử phạt từ 1-5 ngày và phạt tiền từ 1-15 Fr…”[29;125]
Từ năm 1919-1939, chính quyền thuộc địa còn ban hành nhiều vănbản có nội dung liên quan đến vấn đề công nhân lao động trong các đồnđiền, hầm mỏ, nhà máy…Đáng chú ý là bản nghị định ngày 15/10/1927 về
“Thể lệ bảo hộ nhân công bản xứ và người châu Á làm theo giao kèo trongcác sở nông nghiệp, kỹ nghệ và hầm mỏ Đông Dương” Đây là văn bảnquan trọng và có tính hệ thống nhất trong các thể lệ lao động được banhành ở Đông Dương lúc này Bằng cách ký giao kèo có thời hạn 3 năm mộtlần, chính quyền thuộc địa đã buộc chặt người công nhân trong các đồnđiền Nghị định này vì thế đã bảo đảm cho các điền chủ một đội ngũ côngnhân đông đảo, tạo điều kiện cho các điền chủ mở rộng diện tích, phát triểnkinh tế đồn điền
Mặt dù đó là những quy chế đã bóc lột người lao động đến tận xương tủy nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng chính nhờ có cách thức quản lý như trên mà người nông dân làng xã ở Nghệ An có điều kiện để làm quen dần với tác phong người lao động và cách đánh giá hiệu quả lao động theo văn minh phương Tây
Công nhân đồn điền có nguồn gốc từ nhiều nơi như Thanh Hóa,đồng bằng Bắc Bộ, nhiều nhất là cư dân địa phương Trong đó phải kể đếnmột lực lương đáng kể công nhân từ các huyện miền núi như Thái, Thổ,
Trang 25Mường…Họ thường được các điền chủ gọi bằng các tên rất kinh bỉ và miệtthị là “Mọi”.
Tóm lại, kinh tế đồn điền ở Nghệ An hình thành muộn và nó chỉ thực
sự phát triển mạnh trong những năm 20-30 của thế kỷ XX Cho đến năm
1939, tại Nghệ An đã hình thành một hệ thống đồn điền của người Pháp vàngười Việt trên địa bàn nhiều huyện nhưng tập trung chủ yếu ở Phủ Quỳ.Phủ Quỳ là nơi tập trung lực lượng công nhân lớn nhất Theo thống kê củangười Pháp số công nhân đồn điền ở Nghệ An từ 1935-1939 là 2.900-3.300người chưa kể số lao động thời vụ.[29;127]
Các điền chủ người Pháp và người Việt đã thành lập ở Phủ Quỳ một
hệ thống đồn điền rộng lớn tập trung từ Trạm Lụi đến Cao Trai, Nai Sinh,Tiên Sinh, Vực Lỗ, Vực Hồng, Đào Nguyên…hình thành nên vùng chuyêncanh cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc
Phần lớn sản phầm thu được từ các đồn điền ở Nghệ An dùng đểxuất khẩu qua cảng Bến Thủy Điều này đã mang lại cho các điền chủnhững món lợi nhuận lớn
Kinh tế đồn điền phát triển kéo theo quan hệ giữa điền chủ với ngườilao động có nhiều nét mới, hình thức trả công lao động bằng lương khihoàn thành hợp đồng là một bước đi mới mà trước đó chưa có ở Nghệ An.Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại phương thức bóc lột theo kiểu phongkiến ( phát canh thu tô ) đối với công nhân làm việc theo mùa vụ
Như vậy, kinh tế đồn điền ở Nghệ An trong những năm 30 của thế
kỷ XX không chỉ tác động đến đời sống kinh tế mà còn tác động đến cả đờisống chính trị, xã hội của cư dân xứ Nghệ
* Kinh tế nông nghiệp ở làng xã:
Trước năm 1930 kinh tế nông nghiệp ở làng xã Nghệ An vẫn luônnằm trong tình trạng bấp bênh, trì trệ, lạc hậu, phụ thuộc vào thiên nhiên
Đã thế ruộng đất thì ngày càng bị thu hẹp do nạn bao chiếm, cướp đoạt củađịa chủ và thực dân Pháp để làm đồn điền Những phần đất màu mỡ,phìnhiêu bị chúng nắm hết, nông dân chỉ còn phần đất nhỏ, xương xẩu, cằn
Trang 26cỗi Điều đó khiến cho đời sống của nông dân vốn đã khốn quẫn nay lạicàng khốn quẫn hơn, tình trạng đói kém xảy ra triền miên.
Bước sang đầu năm 1930, mở đầu là cuộc khủng hoảng kinh tế thếgiới 1929-1933, tiếp đó là Xô viết Nghệ Tĩnh, đã khiến cho thực dân Pháptrở nên lung túng Mâu thuẫn giữa đại bộ phận nhân dân Nghệ An với Phápngày càng sâu sắc đang đe dọa trực tiếp đến nền thống trị của Pháp ở Nghệ
An Để xoa dịu khối mâu thuẫn đó, đồng thời khai thác những nguồn lợilớn từ vùng đất này, chính quyền thuộc địa ở Đông Dương đã chú trọngvào việc xây dựng các công trình thủy lợi với quy mô lớn
Tháng 7/1931 chính quyền Đông Dương cho xây dựng ở Nam Đànmột hệ thống thủy lợi bao gồm: cống Bara Nam Đàn, đào sông nối liềnNam Đàn qua Hưng Nguyên đến cầu Cửa Tiền (Vinh), cống ngăn mặn ởBến Thủy cũng được khởi công xây dựng
Cuối năm 1933 đầu năm 1934 thực dân Pháp cho khảo sát và xâydựng cống Bara ở Đô Lương, hệ thống kênh dẫn nước từ huyện Đô Lương
về huyện Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu Đến năm 1937 các côngtrình trên đã được hoàn thành
Cuối năm 1932 thực dân Pháp cho đắp đê ngăn lũ lụt ở tả ngạn sôngLam từ địa phận Hưng Khánh (Hưng Nguyên) chạy qua hầu hết các xã dọcsông Lam của huyện Hưng Nguyên lên Nam Đàn với chiều dài gần 30km.Tuy nhiên do nhiều lần gián đoạn nên tuyến đê xung yếu này đến năm 1942mới hoàn thành
Ngoài ra, thực dân Pháp còn cho đắp đập Vệ Nông ở Nam Đàn, đắpđập Phú Thọ ở Yên Thành để giữ nước cho ruộng trở vào mùa hạn hán
Như vậy từ năm 1931-1937 thực dân Pháp đã chú trọng đầu tư vốnxây dựng nhiều công trình thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, điềunày đã được toàn quyên Đông Dương Brevie khuyếch trương trong bàidiễn văn phát biểu của mình nhân dịp khánh thành công trình thủy lợi vàoloại lớn nhất Trung Kỳ rằng: “Ở trước mắt chúng ta trông thấy một mớsông ngòi và kênh rạch mới đào kể tất cả dài 228km, lại còn 380km ngòi
Trang 27lạch phụ tòng để dẫn nước; đã phải xé một cái đường hầm thông qua núingót 500 thước, cái cầu nhỏ bắc trên sông và ngòi lạch đã đào, cộng tính ra
cả thảy có 1.200 thước Những cái ống nước để lấy nước và tháo nước vàodài 3.600 thước Tây Cái đập có dung tích đất đào lên để làm sông ngòitính ra tất cả có 8 triệu rưỡi thước khối và lại phải thêm vào số đó 38 vạnthước khối đất để đào các kênh nhỏ, đã phải dùng 6 vạn 4 nghìn thước khối
bê tông và 2 vạn 8 nghìn thước đá khô và đá cục để dùng vào sự cộng tác
ấy Lại phải dùng 2.272 tấn thép, gỗ đóng xuống dòng sông dài tới 18.740thước, đến khi làm xong công cuộc này hết 9.700.000 công thợ, món tiềntiêu dùng vào công cuộc này hết 4,5 triệu bạc tức là hết 45 triệu Fr…Các hệthống dẫn thủy nhập điền này đưa nước chảy vào trong 35.660 mẫu Tây,tức là đo một lít nước chảy vào một mẫu Tây trong một giây đồng hồ Rồimột mẫu Tây sẽ sinh ra trung bình 900-1.600kg thóc, số thóc đã sinh ratrong vùng dẫn thủy nhập điền sẽ tăng từ 32.000 tấn đến 42.000 tấn/năm”.[29;139-140]
Cứ theo bài phát biểu này thì đây quả thật là một công trình thủy lợi
to lớn Nó sẽ phục vụ đắc lực và làm biến chuyển nền kinh tế nông nghiệp
ở làng xã Nghệ An Vậy hiệu quả của nó sẽ tới đâu ?
Trước tiên ta hãy tìm hiểu nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nướccủa Nghệ An trong thời kỳ này Cây lúa là cây lương thực gắn liền vớingười nông dân Việt Nam từ bao đời nay Ở Nghệ An đất đai để trồng lúatập trung chủ yếu ở các huyện đồng bằng Quỳnh Lưu, Diễn Châu, YênThành, Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên Riêng huyện Nghi Lộc chủyếu là đất cát hoặc cát pha, thiếu các công trình dẫn thủy nhập điền, nênviệc trồng lúa rất khó khăn, năng suất lại thấp chỉ đạt khoảng 30-40kg/sào.Việc trồng lúa ở các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, Đô Lương
có nhiều thuận lợi nên năng suất bình quân có thể đạt từ 45-50kg/sào Lúađược trồng theo vụ: vụ chiêm và vụ mùa Năng xuất lúa được cải thiệnđáng kể từ khi công trình thủy lợi Bắc Nghệ An được đưa vào sử dụng
Trang 28Ở Nam Đàn và Hưng Nguyên Việc trồng lúa có thuận lợi hơn NghiLộc nhưng phần diện tích dọc sông Lam luôn bị lũ lụt đe dọa.
Ở Thanh Chương việc trồng lúa nước là hết sức bấp bênh do không
có các tuyến đê ngăn lũ Nhiều diện tích đất ruộng phải bỏ hoang vì thiếucông trình thủy lợi và đê điều
Còn ở các huyện miền núi như Quỳ Châu, Quế Phong, Tương Dương, TânKỳ…đồng bào cũng trồng lúa nước dọc những dải đồng bằng chật hẹp dọctheo thung lũng và các ven sông nhưng năng suất chẳng là bao do đất đaikém màu mỡ, kỹ thuật canh tác thì thô sơ, không có sự hỗ trợ của vật tư.Song bù lại đây là nơi có thế mạnh trồng các loại cây hoa màu khác nhưngô, khoai, sắn…
Nguyên nhân chính khiến cho năng suất lúa ở Nghệ An thấp là dochưa có sự hỗ trợ của khoa học - kỹ thuật Người nông dân chỉ biết đếnnhững công cụ sản xuất thô sơ như cày chìa vôi, bừa bằng sắt, cuốc, bànvét, cào chìa…Dụng cụ thu hoạch có liềm, hái, quang gánh hoặc xe tay, xecút kít Tất cả đều làm thủ công, dựa vào sức lao động của người nông dân
Về giống lúa, nông dân vùng đồng bằng, trung du sử dụng giống lúachiêm, lúa mùa, lúa ba giăng với thời gian sinh trưởng khá dài từ 125-150ngày kể từ khi gieo mạ cho đến khi thu hoạch, cây cao, bông ngắn, ít hạt,năng suất lúa thấp Bà con chọn giống lúa theo kinh nghiệm dân gian Chođến năm 1939-1940, năng suất lúa ở Nghệ An mới chỉ đạt bình quân 60-70kg/sào ở các huyện đồng bằng, 40-45kg/sào ở các huyện trung du miềnnúi Nó chỉ gần 2/3 so với dự tính toàn quyền Đông Dương Brevie là 900-1.600kg/mẫu.[29;144-145]
Như vậy, tình hình sản xuất lúa ở Nghệ An ở thời kỳ này so với thời
kỳ trước tuy có sự biến chuyển nhưng không đáng kể Bởi, mặc dù thựcdân Pháp cho xây dựng nhiều công trình dẫn thủy nhập điền song cũng chỉtập trung ở một số huyện ở miền xuôi như Nam Đàn, Yên Thành, ĐôLương, Diễn Châu, còn các huyện miền núi đất đai khô cằn thì chưa đượcchú trọng đầu tư Đã thế phần lớn đất đai có thể trồng lúa hai vụ/năm lại do
Trang 29địa chủ, quan lại thâu tóm Đại bộ phận nông dân vẫn phải nhận ruộng củađịa chủ cày cấy, nộp tô thuế cho địa chủ và phải làm thêm nhiều nghĩa vụnên đời sống nhân dân Nghệ An cho đến năm 1939 vẫn chưa có gì thay đổiđáng kể.
Bên cạnh cây lương thực chính là lúa, Nghệ An còn có nhiều điềukiện thuận lợi để trồng các loại hoa màu, rau, đậu…Do phần lớn là đất cáthoặc cát pha, lại gần biển khả năng nhiễm mặn lớn, nên việc trồng lúa gặpnhiều khó khăn Nông dân huyện Nghi Lộc chủ yếu trồng các loại hoa màunhư khoai, ngô, lạc, đậu, vừng, kê…vốn là những cây chịu hạn tốt Ở NamĐàn, Hưng Nguyên, nông dân cũng thường tận dụng vùng đất bãi ven sông
để trồng dâu, nuôi tằm, trồng mía, ngô, khoai, lạc, rau, đậu…Các loại câytrồng này chỉ sau 2-3 tháng là có thể cho thu hoạch “chạy lụt” tức là chothu hoạch trước khi lụt tràn về, cũng như luân canh tăng vụ Các loại hoamàu này chủ yếu dùng để tự cấp tự túc, chỉ có một số ít đem bán ở chợ dọcsông Lam
Nông dân còn trồng cà, đậu tương để làm nước tương Tương NamĐàn nổi tiếng nhất trong tỉnh Cà pháo ở Nghi Lộc là loại thực phẩm đượcđem muối bán ở các chợ dùng làm thức ăn quanh năm Báo “Thanh NghệTĩnh Tân văn” và “Sao mai” trong các năm 1931-1934 có đề cập tới việctrồng cà pháo, đỗ tương, rau quả, bầu bí và cách chế biến các thức ăn theophương thức truyền thống ở lưu vực sông Lam
Ở miền núi do điều kiện địa hình chủ yếu là đồi núi nên đồng bàocác dân tộc thiểu số vẫn duy trì lối sống du canh, du cư, phát nương làm rẫytrồng hoa màu
Như vậy, các loại hoa màu cũng là nguồn lương thực không thể thiếucủa người dân Nghệ An Cho đến những năm 30 của thế kỷ XX, cây hoamàu vẫn mang tính chất tự cấp, tự túc là chủ yếu Sản phẩm làm ra phục vụcho chính cuộc sống của nông dân Sự trao đổi có chăng cũng chỉ là nhỏ lẻ
ở các chợ quê
Trang 30Ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm ở các làng xã thời kỳ này vẫn dựavào kinh nghiệm truyền thống Trâu bò là hai loại gia súc chủ yếu Tính từnăm 1936-1939, đàn trâu bò của cả Trung Kỳ khoảng 430.000-450.000 controng đó đàn trâu bò của Thanh Nghệ chiếm từ 180.000-200.000 con(chiếm 43% tổng số trâu bò của cả vùng) Nghệ An là nơi cung cấp mộtphần lớn trâu bò cho vùng đồng bằng Bắc Bộ Nhưng phần lớn trâu bò lạinằm trong tay địa chủ, những gia đình giàu có, trong các đồn điền củangười Pháp và người Việt Ngoài trâu bò người dân Nghệ An còn nuôihươu, nai Tính từ 1919-1939 số hươu nai ở Nghệ Tĩnh là 9.200 con chiếm1/3 tổng số đàn hươu nai được nuôi ở Trung Kỳ thời bấy giờ (27.000 con).[29;147].
Nghệ An là tỉnh có đường bờ biển khá dài, tuy nhiên việc nuôi trồngthủy hải sản ở thời kỳ này chưa được chú trọng tới Chỉ rải rác có một sốđịa chủ, phú trung nông cho đào một vài hồ, ao thả cá, cuối năm thu hoạch.Mỗi làng cũng chỉ có vài bầu, trọt (vùng đất ngập không trồng lúa) đượccấm để các loại cá, tôm tự nhiên phát triển, đến thời vụ thì cho phép dânlàng thu hoạch
Tóm lại, kinh tế nông nghiệp Nghệ An từ 1930 đến 1939 trở thànhmột trong những lĩnh vực thu hút nhiều vốn đầu tư của tư bản Pháp Tuynhiên, tư bản Pháp chỉ tập trung phát triển kinh tế đồn điền Từ năm 1931đến 1939 kinh tế đồn điền mang lại nhiều lợi nhuận cho các điền chủ,vớicác mặt hàng xuất khẩu chủ lực cao su, cà phê, chè, hồ tiêu…Còn nền nôngnghiệp ở làng xã vẫn mang tính chất tự cung, tự cấp, một nền kinh tế tiểunông truyền thống lỗi thời và lạc hậu Ruộng đất chủ yếu nằm trong taytầng lớp trên, còn nông dân - những người sản xuất chính thì lại không cóhoặc có ít ruộng đất Trình trạng nông dân bị bần cùng hóa trở nên phổbiến Thực dân Pháp có cho đầu tư xây dựng một số công trình dẫn thủynhập điền song nó cũng chỉ có tác động tích cực đến nông nghiệp của một
số huyện đồng bằng chứ không làm thay đổi toàn bộ nền kinh tế nôngnghiệp Đói khổ vẫn cứ bám lấy nông dân Nghệ An từ miền xuôi đến miền
Trang 31ngược Người nông dân vừa không có đất cày cấy vừa phải chịu thuế khóa,phu phen, tạp dịch Chính vì vậy, mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủphong kiến ngày càng lớn Mâu thuẫn ấy đến lúc không thể dung hòa đượcnữa, nó báo hiệu một cuộc cách mạng sắp bùng nổ trong tương lai khôngxa.
2.2.2 Công nghiệp
* Công nghiệp điện lực:
So với Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định ngành công nghiệpđiện lực Nghệ An ra đời muộn hơn vài thập kỷ Năm 1922, Công ty SIFA(Công ty rừng và diêm Đông Dương) đã cho xây dựng ở Bến Thủy một nhàmáy nhiệt điện Nhà máy được trang bị nhiều máy móc thiết bị với haituabin công suất 1.500 sức ngựa, có tua bin 530 sức ngựa, một máy Diezen.[27;31] Công suất của toàn nhà máy khoảng 2.760 kw/h ( số liệu thống kê
từ năm1930-1936) gấp 12 lần công suất cơ sở điện lực ở Sầm Sơn, HồiXuân ( Thanh Hóa ) cộng lại Công suất đó còn lớn hơn tổng công suất củatất cả các cơ sở phát điện ở Trung Kỳ cộng lại Năm 1936, công suất phátđiện ở Trung Kỳ là 5.588.000 kw/h, riêng Nhà máy nhiệt điện Bến Thủy là1.690.000 kw/h chiếm gần 1/3 khả năng sản xuất điện của tất cả các nhàmáy cơ sở ở Trung Kỳ.[29;154]
Nhà máy cung cấp điện cho nhu cầu hoạt động của các nhà máycông nghiệp khu vực Bến Thủy, Trường Thi và nhu cầu tiêu dùng của toànthành phố Vinh Năm 1936, mức tiêu thụ điện năng ở Trung Kỳ là 4.270kw/h, riêng Vinh - Bến Thủy tiêu thụ 1.066 kw/h, bằng 1/4 giá trị tiêu thụđiện ở Trung Kỳ Mức tiêu thụ điện Vinh - Bến Thủy năm 1936 gấp 2 lần ở
Đà Nẵng, gấp 5 lần ở Quy Nhơn, gấp 10 lần ở Hội An và gấp hơn 2 lần ở
xứ Lào
Tuy nhiên không phải ai và không phải chỗ nào cũng được sử dụngđiện Đối tượng được sử dụng điện là người Pháp, các gia đình giàu có,viên chức, nơi công sở, Nhà máy xe lửa Trường Thi, Nhà máy cưa xẻ gỗ,Nhà máy diêm Bến Thủy, các đường phố chính Còn đại bộ phận gia đình
Trang 32công nhân, những người buôn bán nhỏ, những người làm nghề tự do, nôngdân thì không được sử dụng điện.
Đây là nhà máy điện đầu tiên được xây dựng ở Vinh, ngay khi đi vàohoạt động nhà máy đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy các ngànhcông nghiệp khác trong vùng phát triển, đồng thời trực tiếp hiện đại hóatrung tâm đô thị Vinh - Bến Thủy Sự ra đời và hoạt động của Nhà máynhiệt điện Bến Thủy tuy còn non trẻ nhưng đã thực sự đem lại lợi ích chothực dân Pháp trong công cuộc khai thác thuộc địa ở Vinh, mà cụ thể làmang lại lợi ích kinh tế cho công ty SIFA Bởi công ty này nắm độc quyềntrong sản xuất và tiêu thụ điện ở Nghệ An
* Ngành cơ khí sửa chữa đầu máy toa xe:
Bên cạnh công nghiệp điện, thực dân Pháp còn cho xây dựng một sốnhà máy cơ khí sửa chữa phục vụ giao thông vận tải tại Vinh - Bến Thủynhư Đề Pô (1905), ga Yên Xuân, Yên Lý, Nghĩa Đàn Các cơ sở côngnghiệp cơ khí sửa chữa được thành lập tại Vinh đều nhằm mục đích sửachữa, đóng mới đầu máy, toa xe của ngành Hỏa xa Đông Dương Ngay saukhi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, Công ty Pháp Hỏa xa ĐôngDương đã cho xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội - Vinh - Đông Hà vớichiều dài 600km Điều đó đặt ra yêu cầu cần phải hình thành tại Vinh một
số cơ sở công nghiệp cơ khí sửa chữa để tiến hành sửa chữa trực tiếp những
sự cố có thể xảy ra đối với tuyến đường sắt này Trong số các cơ sở côngnghiệp cơ khí sửa chữa đó, trung tâm công nghiệp sửa chữa lớn nhất, có vịtrí chiến lược nhất là Nhà máy xe lửa Trường Thi
Nhà máy sửa chữa đầu máy toa xe Trường Thi được xây dựng năm
1908 Nhà máy có mặt bằng diện tích là 10 ha, thuộc địa phận làng YênDũng Thượng (nay thuộc phường Trường Thi - thành phố Vinh) Nhà máy
do một kỹ sư trưởng người Pháp làm giám đốc Các đốc công phụ trách vănphòng hoặc gác cổng đều là người Pháp Trang thiết bị của nhà máy đượcđưa từ Pháp sang nên khá hiện đại Nhà máy có một văn phòng và bốnxưởng gồm: xưởng tháo lắp tàu, xưởng phay - tiện nguội, xưởng rèn,
Trang 33xưởng mộc Thời gian mới đi vào hoạt động, nhà máy có khoảng 1.000công nhân đến năm 1936-1938 lực lượng kỹ sư, công nhân làm việc tại đâylên tới 3.800-4.000 chiếm hơn một nửa tổng số công nhân của thành phốVinh - Bến Thủy [29;161].
Cũng trong khoảng thời gian 1936-1938, Nhà máy xe lửa TrườngThi được nâng cấp và mở rộng diện tích lên gấp đôi so với thiết kế ban đầu.Đây là một nhà máy lớn nhất Trung Kỳ và là một trong ba nhà máy sửachữa xe lửa của Đông Dương, trực thuộc Sở Hỏa xa Đông Dương So vớiNhà máy Gia Lâm ở Bắc Kỳ và Dĩ An ở Nam Kỳ thì Nhà máy xe lửaTrường Thi xứng đáng là một trung tâm quan trọng của ngành công nghiệpvận tải đường sắt Trung Kỳ So với Đề Pô Vinh, Nhà máy xe lửa TrườngThi lớn hơn nhiều về quy mô cũng như phạm vi hoạt động Nhà máy khôngnhững đảm nhận sửa chữa đầu máy thông thường của các tuyến đường sắtqua Vinh mà còn tiến hành đóng mới toa xe và các linh kiện cần thiết chongành công nghiệp đường sắt theo kế hoạch của Sở Hỏa xa Đông Dương.Chính nhờ có nhà máy mà thực dân Pháp có thể tiến hành sửa chữa tại chỗcác loại toa xe, đầu máy cũng như cung cấp được những chi tiết máy, linhkiện cho đường sắt Nhà máy xe lửa Trường Thi đã phục vụ kịp thời cho sựhoạt động của các đoàn tàu xuyên Việt, xuyên Lào, giảm bớt gánh nặngcho công nghiệp Pháp
* Ngành sản xuất diêm,cưa xẻ gỗ và chế biến lâm sản xuất khẩu:
Ngành sản xuất diêm cưa xẻ gỗ và chế biến lâm sản là ngành đượcthực dân Pháp “mạnh tay” đầu tư cho lâm sản, nhất là gỗ và diêm là nhữngmặt hàng tương đối dồi dào ở Nghệ An Hơn nữa, ngành này cũng khôngcản trở đến sự phát triển của ngành công nghiệp chính quốc, lại vừa bóc lộtđược nguồn nhân công rẻ mạt ở Nghệ An, vừa giảm chi phí sản xuất
Cho đến những năm 30 của thế kỷ XX, ngành khai thác cưa xẻ gỗ,lâm đặc sản đã bị tập đoàn SIFA độc quyền thâu tóm và lũng đoạn thịtrường
Trang 34Năm 1922 SIFA cho thành lập Nhà máy cưa Xiri nhằm phục vụ chocông cuộc khai thác gỗ ở Nghệ An Mỗi năm SIFA xuất khẩu từ 6.000-7.000m3 gỗ Từ năm 1922-1936 năng lực cưa xẻ gỗ của SIFA tăng gấp hơn
ba lần mà vẫn không đáp ứng nhu cầu của thị trường Nguồn lợi từ gỗ thuđược hàng năm của SIFA tăng với cấp số nhân
Các xưởng ở Bến Thủy được trang bị máy móc hiện đại, sử dụngđiện thay thế cho phương thức cưa xẻ gỗ thủ công Trong đó có cả các loạimáy móc tách gỗ phục vụ cho công nghiệp sản xuất diêm
Năm 1922 Nhà máy diêm chính thức đi vào hoạt động, mỗi năm nhàmáy có thể sản xuất được 190.000.000-200.000.000 bao diêm để cung cấpcho toàn Đông Dương và xuất khẩu ra một số nước khác Được trang bị kỹthuật hiện đại nên sản xuất của Nhà máy diêm là rất lớn những sản phẩmlàm ra vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường Từ 1936-1937 trở đi đểđáp ứng kịp thời cho nhu cầu tiêu thụ diêm ở Đông Dương và xuất khẩungày càng tăng, SIFA còn giao hàng cho công nhân nhận bao diêm về nhàlàm Đến năm 1936-1937, đội ngũ công nhân của Nhà máy diêm Bến Thủy
đã lên tới 400-500 người, phần lớn là công nhân nữ và trẻ em Cho đếntrước Chiến tranh thế giới thứ hai, tổng số công nhân làm việc trong ngànhcông nghiệp cưa xẻ gỗ, sản xuất diêm, điện lực của tập đoàn SIFA là 1.000công nhân.[30;219]
Như vậy, tại Vinh, thực dân Pháp đã rất chú ý trong việc phát triểnngành công nghiệp sản xuất diêm cưa xẻ gỗ và chế biến lâm sản xuất khẩutrong những năm 1930-1939 Đó là sự đầu tư có tính toán của các nhà tưbản Pháp Bởi lẽ, đây là ngành công nghiệp cần ít vốn, quay vòng nhanh,cho lãi suất cao Hơn nữa, Vinh lại là đầu mối giao thông từ các tuyếnđường rất thuận lợi cho việc vận chuyển nguyên liệu cũng như sản phẩmtới người tiêu dùng Thực dân Pháp đã biết biến những tiềm năng của Nghệ
An thành nguồn lợi nhuận khổng lồ cho chúng Việc phát triển ngành côngnghiệp sản xuất diêm, cưa xẻ gỗ và chế biến lâm sản xuất khẩu đã từngbước phá vỡ và bóp chết các nghề khai thác gỗ cũng như sản xuất diêm
Trang 35truyền thống ở Nghệ An Những người dân bản xứ ngày càng bị vắt kiệtsức lao động do dây chuyền sản xuất của công ty quá khắc nghiệt và gò bó.Tình trạng trẻ em dưới 15 tuổi và phụ nữ phải làm việc dưới sự giám sátcủa bọn cai lý từ 12-17 giờ/ngày tại Nhà máy diêm đã phản ánh rõ điều đó.Điều này lý giải vì sao trong phong trào đấu tranh của công nhân và cáctầng lớp giai cấp khác ở Nghệ An, công nhân Nhà máy diêm Bến Thủyluôn có mặt trong đội quân tiên phong.
* Ngành giao thông vận tải:
Giao thông vận tải là công cụ phục vụ đắc lực cho công cuộc khaithác của thực dân Pháp Người Pháp nhận thức rất rõ vai trò và tầm quantrọng của giao thông vận tải, nó là một trong “những thứ cần thiết cho việckhai thác” Người Pháp hiểu rằng muốn khai thác và chuyên chở nguyênvật liệu cũng như lưu thông hàng hóa trong nội địa với nước ngoài đượcthuận tiện dễ dàng thì cần phải đầu tư cho giao thông vận tải
Xây dựng mạng lưới giao thông vận tải, ngoài mục đích về kinh tế,còn nhằm mục đích về chính trị, nó sẽ giúp cho chính quyền thực dân cóthể nhanh chóng đàn áp và đè bẹp các cuộc nổi dậy của dân chúng Chính
vì vậy, ngay từ những năm đầu tiên tiến hành khai thác, tư bản Pháp đã bỏvốn xây dựng ở Nghệ An một trung tâm giao thông vận tải lớn nhất BắcTrung Kỳ Vinh - Bến Thủy trở thành đầu mối giao thông quan trọng củacác tuyến đường xuyên Việt, tạo nên một hệ thống giao thông với đầy đủcác loại hình khác nhau
-Đường bộ:
Cho đến thập niên 30 của thế kỷ XX, Vinh - Bến Thủy, Trường Thi
đã trở thành các trung tâm đô thị và có cả một hệ thống đường bộ nối liềnvới các tỉnh, vùng, xứ trong liên bang Đông Dương Các công trình giaothông đường bộ như đường số 7, đường số 8, đường số 1 qua Vinh đượcthực dân Pháp xây dựng được nâng cấp và mở rộng ngày càng đáp ứng nhucầu của công việc khai thác thuộc địa
Trang 36Hệ thống đường bộ Vinh đến thời kỳ này đã được xây dựng tươngđối hoàn chỉnh và hiện đại Từ Vinh, các tuyến đường liên tỉnh, xuyên Việt,xuyên Lào cũng như đến các vùng phụ cận Vinh đã được mở rộng mộtcách mạnh mẽ Mật độ đường giao thông dày đặc và phần lớn chụm lại ởđầu mối Vinh - Bến Thủy Hàng loạt con đường rải nhựa cho các loạiphương tiện giao thông hiện đại, nhất là các loại ô tô thông hành với mật độngày càng cao.
Cùng với đường bộ, sân bay Vinh được xây dựng từ năm 1929 cũngđược đưa vào hoạt động Với sự xuất hiện thêm của sân bay Vinh mạnglưới đường bộ tại khu vực Quán Bánh ngày càng phục vụ đắc lực cho lợiích của thực dân trong công cuộc khai thác thuộc địa
Hệ thống đường bộ hoàn thiện kéo theo đó là các cơ sở vận tải ô tôxuất hiện ngày một nhiều Trước năm 1930, cơ sở vận tải ô tô Phạm VănPhi là một cơ sở có tiếng ở Nghệ An Cơ sở này làm ăn rất phát đạt Năm
1929, cơ sở vận tải ô tô của Phạm Văn Phi đã sử dụng tới 150 công nhân
kỹ thuật, lái xe, phụ xe…Phạm Văn Phi là tư sản người Việt kinh doanhthành đạt trong ngành vận tải ô tô không chỉ ở Nghệ An mà cả Bắc Trung
Kỳ và Lào Tiếc rằng, sau khủng hoảng kinh tế (1929-1933) việc kinhdoanh của Phạm Văn Phi khó khăn và phạm vi kinh doanh bị thu hẹp dần
Sau sự phá sản của cơ sở vận tải ô tô Phạm Văn Phi là sự nổi lên củahai cơ sở vận tải ô tô mới của Minh Tâm và Tạ Quang Châu Họ kinhdoanh vận tải ô tô ở trên các tuyến đường Bắc Trung Kỳ và Lào Chỉ tronghai năm 1932-1933 công việc kinh doanh của họ đã phát đạt Trong thờigian 1936-1939 các cơ sở kinh doanh ô tô của Tạ Quang Châu, Minh Tâmcũng như Công ty vận tải ô tô Bắc Trung Kỳ và Lào (SAUANAL) trên địabàn Nghệ An tiếp tục phát triển Khối lượng hàng hóa, hành khách tăngnhanh kéo theo nhu cầu sử dụng phương tiện ô tô ngày càng lớn Tuynhiên, do Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ rồi Nhật nhảy vào ĐôngDương đã làm cho việc kinh doanh buôn bán gặp nhiều khó khăn Các cơ
sở kinh doanh ô tô Nghệ An cũng đứng trước nguy cơ bị phá sản do
Trang 37nguyên liệu, phụ tùng thay thế tăng cao, trong khi số hành khách hàng hóagiảm dần.
Tóm lại, hệ thống giao thông đường bộ ở Nghệ An được xây dựng từtrước cho đến thời kỳ 1930-1939 đã hoàn thiện và phục vụ ngày càng đắclực cho công cuộc khai thác của thực dân Pháp Trong lĩnh vực kinh doanhvận tải ô tô, ngoài công ty vận tải ô tô Bắc Trung Kỳ và Lào(SAMANAL),còn có sự hiện diện của các cơ sở kinh doanh người Việt tiêu biểu nhưPhạm Văn Phi, Minh Tâm, Tạ Quang Châu Sự xuất hiện của nhữngphương tiện giao thông hiện đại trên đất Nghệ An không chỉ góp phần tạothêm những nét chấm phá mới trong bức tranh toàn cảnh của nền kinh tếNghệ An mà còn tác động mạnh mẽ đến nhận thức, suy nghĩ của con người
xứ Nghệ
-Đường sắt:
Cho đến năm 1927, ở Vinh đã có hai tuyến đường sắt từ Hà Nội Vinh và Vinh - Đồng Hà Tính đến năm 1936, hai đoạn đường sắt có đầumối từ Vinh này chiếm 1/4 chiều dài đường sắt ở Đông Dương Tuyếnđường sắt Hà Nội - Vinh dài 320km, tuyến Vinh - Đồng Hà dài 299km.Ngoài ra còn có tuyến Phủ Lý - Nghĩa Đàn dài hơn 50km Điều đó cho thấytầm quan trọng và ý nghĩa chiến lược của Vinh trong mạng lưới giao thông
-do Pháp xây dựng
Dù chậm hơn so với một số vùng ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ nhưng với sựhoạt động của mạng lưới đường sắt ở Vinh đã thực sự tạo ra những thay đổiquan trọng trong đời sống kinh tế Nghệ An bởi năng suất đưa lại ngày cànglớn, khối lượng và tốc độ chuyên chở nhiều và nhanh Điều đó khiến chocộng đồng cư dân ít nhiều có sự chú ý tới loại hình giao thông này
-Đường thủy:
Đường thủy ở khu vực Nghệ An chủ yếu là đường ven biển vàđường sông Lam Đầu mối của tuyến đường thủy ở Vinh chính là cảng BếnThủy Cảng Bến Thủy là cảng quan trọng ở Trung Kỳ và Lào Nó thuộcđặc quyền khai thác và sử dụng của hội đồng các hải cảng Đông Dương
Trang 38Nhằm triệt để khai thác những thế mạnh của cảng và đồng thời giảiquyết chấm dứt nạn cát di động trước cảng Bến Thủy, năm 1929, chính phủPháp đã duyệt chi một khoản ngân sách 10 triệu Fr để cải tạo và xây dựngcảng Bến Thủy Ngày 17/3/1930, Hội đồng các hải cảng Đông Dương rathông báo về dự án cải tạo cảng Bến Thủy Trong đó khẳng định “ CảngBến Thủy phục vụ vùng Bắc Trung Kỳ, các vùng trù phú của Thanh Hóa –Vinh - Hà Tĩnh Ngoài ra, còn có thể thu hút một phần quan trọng về giaothông của Lào bằng đường xe lửa hiện đại quyết định xây dựng từ Tân Ấp
đi Thà Khẹt” [30;226] Trong bản thông báo, Hội đồng các hải cảng ĐôngDương cũng dự kiến sản lượng hàng hóa qua cảng trong những năm tới cóthể tăng từ 80.000-100.000 tấn/năm Tuy nhiên, dự án cải tạo cảng BếnThủy đã không được thực hiện bởi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh
tế thế giới (1929-1933) và nhất là sự bùng nổ của Xô viết Nghệ Tĩnh(1930-1931)
Tuy vậy, từ năm 1927 trở đi, cảnh Bến Thủy vẫn giữ vai trò là trungtâm xuất nhập khẩu với quy mô lớn ở Bắc Trung Bộ và là cửa ngõ thông rabiển của Lào Ngoài các mặt hàng chuyên chở như gỗ, lúa gạo, da trâu bò,chè, tơ tằm…cảng Bến Thủy còn chuyên chở cả thiếc được khai thác từLào với sản lượng từ 845-1.500 tấn xuất khẩu/năm Đến trước Chiến tranhthế giới thứ hai, tổng sản lượng hàng hóa qua cảng là 55.088 tấn/năm ( thấphơn dự kiến của Pháp là 80.000-100.000 tấn/năm) Sự hoạt động tấp nậpcủa cảng trong thời gian này đã góp phần quan trọng vào công cuộc khaithác thuộc địa của Pháp, mang lại nhiều lợi nhuận cho tư bản Pháp CảngBến Thủy không chỉ là cửa ngõ thông ra biển của Lào mà còn là cửa ngõ đểnối Đông Dương với các nước trong khu vực và trên thế giới
2.2.3 Tài chính tiền tệ và thương nghiệp
* Tài chính tiền tệ - kinh doanh vàng bạc:
-Tài chính tiền tệ:
Ngân hàng Đông Dương đại diện thế lực của tư bản tài chính Pháp
có cổ phần trong hầu hết các công ty và xí nghiệp lớn, do đó về thực tế nó
Trang 39đã nắm trong tay nguồn tài chính, tiền tệ Nghệ An cũng nằm trong tìnhtrạng đó.
Ngoài lượng tiền lớn do công ty tư bản Pháp nắm giữ và một sốlượng tiền do tư sản người Việt, người Hoa nắm, số còn lại do tầng lớp tiểuthương, tiểu chủ, người buôn bán nhỏ nắm Lượng tiền lưu chuyển trên địabàn Nghệ An thông qua hệ thống các chợ như: Chợ Vinh, chợ Giát, chợ Si,chợ Đô Lương, chợ Sa Nam, chợ Rợ… Trong đó lớn nhất là chợ Vinh Đại
bộ phận nông dân làng xã cũng như công nhân và tiểu tư sản là những giaicấp và tầng lớp trắng tay Nói như Mác, họ không có gì ngoài xiềng xích và
nô lệ Họ phải vay nặng lãi của các địa chủ, phú hào với lãi suất từ 10-15phần Tình trạng người vay thiếu nợ phải gán ruộng vườn, khế ước thậmchí phải gán vợ, đợ con cho chủ nợ diễn ra phổ biến Chi nhánh ngân hàngVinh hay Nông Phố ngân hàng mà người Pháp thành lập chỉ cho nhữngtầng lớp có đặc quyền, đặc lợi vay còn người dân bản xứ hoàn toàn không
có cơ hội Báo Thanh - Nghệ - Tĩnh Tân Văn ra số 10/1934 viết “Nhà băngnông dân còn gọi là Nông Phố ngân hàng sở dĩ lập ra mục đích là để giúpcác nhà cày ruộng những khi cần đến đồng tiền để mua giống hoặc thuêmượn trâu bò và các đồ dùng làm ruộng…Ai muốn vay phải có khế tự…Khế tự này lại nằm dưới sự kiểm soát của ông Chánh hội đồng một lần nữarồi mới tới tay ông chủ nhà băng Ai muốn vay, ví dụ 100 đồng thì phải cóbất động sản giữ lại nhà băng ít nhất là 300…” [29;188] Với quy định đó,
rõ ràng đại bộ phận nông dân Nghệ An ít có cơ hội để vay tiền
Khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933), tiếp đó là Xô viết NghệTĩnh (1930-1931) đã làm cho đồng tiền Fr, đồng tiền Đông Dương sụt giá,giá cả tăng vọt, hàng hóa trở nên khan hiếm, đắt đỏ Sự phá sản của cáccông ty tư bản Pháp, của người Việt và người Hoa đã khiến tình trạng thấtnghiệp của công nhân trở nên phổ biến Tầng lớp thị dân thành thị cũng bịđiêu đứng Trong bối cảnh đó, ngân hàng Đông Dương chỉ tìm cách để thuhồi vốn mà không đưa ra được một giải pháp để chống lạm phát Cả khâm
sứ Trung Kỳ lẫn triều đình Huế chỉ lo đàn áp phong trào cách mạng nên
Trang 40đình chỉ vốn đầu tư vào các dự án đã được phê duyệt trước đó, làm cho nềnkinh tế nói chung, tài chính tiền tệ nói riêng càng thêm khó khăn.
Bước sang những năm 1936-1939, nền kinh tế Đông Dương dầnđược phục hồi Một số lĩnh vực có tăng trưởng như khai mỏ, chế biến lâmsản, xuất khẩu gạo, cà phê, cao su…Đồng Fr và đồng tiền Đông Dương do
đó cũng tạm thời ổn định trở lại Đây là khoảng thời gian mà thực dân Phápchú trọng xây dựng nhiều công trình thủy lợi lớn ở Nghệ An như công trìnhthủy lợi Bắc Nghệ An với tổng số vốn đầu tư 4,5 triệu đồng Đông Dương,công trình thủy lợi Nam Nghệ An với vốn đầu tư 3 triệu đồng ĐôngDương…Mặt khác, do có những chính sách tiến bộ từ chính phủ mới thànhlập ở chính quốc nên có những cải thiện đáng kể đối với công nhân Tuynhiên, nông dân vẫn không thể vay được tiền của Nông Phố ngân hàngNghệ An
-Kinh doanh vàng bạc:
Nét độc đáo trong việc kinh doanh vàng bạc là sự lên ngôi của cácông chủ người Việt Họ nắm trong tay toàn bộ việc kinh doanh vàng bạctrên địa bàn Nghệ An Ban đầu, họ chỉ thu mua vàng bạc đem ra Bắc chếtác, về sau họ dựng nên ở Vinh các hiệu kim hoàn ở chợ Vinh, trên đườngMarê Chan Phốc (nay thuộc đường Quang Trung ) Họ thu mua vàng bạcchủ yếu ở miền Tây Nghệ An và Lào Công việc làm ăn của họ ngày càngphát đạt Các tiệm kim hoàn nổi tiếng tai Vinh - Bến Thủy, Cầu Giát, chợ
Si, Đô Lương…nhanh chóng trở thành những người giàu có và độc chiếmthị trường Nghệ An, Hà Tĩnh, Trung Lào Tiêu biểu như Bảo Nguyên, BảoThuyết, Hoành Trang, Bảo Thịnh…Từ 1929 xuất hiện thêm Phú Nguyên.Trong những năm 30, Phú Nguyên trở thành một trong những người kinhdoanh vàng bạc thành công ở Trung Kỳ Từ những năm 1930-1940 nghềđào đãi vàng sa khoáng ở các huyện miền núi phía tây Nghệ An phát triểnmạnh do nhu cầu sở thích dùng đồ trang sức bằng vàng, bạc tăng mạnh
Tóm lại, việc ngân hàng Đông Dương phát triển hành giấy bạc ĐôngDương và cho xây dựng cả một hệ thống chi nhánh ngân hàng ở khắp Đông