1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình kinh tế ở huyện quỳ hợp (nghệ an) từ năm 1963 đến năm 2011

127 846 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình hình kinh tế ở huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) từ năm 1963 đến năm 2011
Tác giả Nguyễn Văn Ngọc
Người hướng dẫn PGS. Hoàng Văn Lân, PGS-TS. Nguyễn Quang Hồng
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đề tài chỉ rõ những đặc điểm chung và riêng trong quá trình phát triểncủa Huyện Quỳ Hợp so với một số huyện khác ở miền núi Nghệ An.. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Là lị sở của một huyện m

Trang 2

Tụi xin được bày tỏ lũng biết ơn và xin được gửi lời cảm ơn chõn thành nhất tới thầy giỏo - PGS Hoàng Văn Lõn, người đó rất nhiệt tỡnh hướng dẫn,

giỳp đỡ tụi trong suốt quỏ trỡnh nghiờn cứu và thực hiện đề tài

Tụi cũng xin chõn thành cảm ơn Đảng bộ, UBND huyện Quỳ Hợp cựngcỏc bậc cao niờn trờn địa bàn huyện Quỳ Hợp đó cung cấp cho tụi những tưliệu hết sức quý bỏu để tụi hoàn thành luận văn này

Tụi cũng xin được bày tỏ lũng biết ơn sõu sắc nhất đến những ngườithõn trong gia đỡnh, bạn bố, đồng nghiệp, sự tận tình giúp đỡ của các thầy côtrong Khoa đào tạo Sau đại học, cỏc thầy cụ th viện trờng Đặc biệt là sự quan

tâm chỉ bảo của PGS - TS Nguyễn Quang Hồng - Giảng viên trực tiếp giảng

dạy tôi và đã giúp đỡ rất nhiều để tôi hoàn thành luận văn này

Vinh, thỏng 10 năm 2012

Tỏc giả

Nguyễn Văn Ngọc

Trang 3

HĐND: Hội đồng nhân dân

Trang 4

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 6

5 Đóng góp của đề tài 6

6 Bố cục của luận văn 7

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ Ở VÙNG ĐẤT QUỲ HỢP TRƯỚC KHI THÀNH LẬP HUYỆN 8

1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên 9

1.1.1 Địa hình 9

1.1.2 Đất đai 10

1.1.3 Khí hậu, thời tiết 13

1.2 Vài nét về điều kiện xã hội 17

1.2.1 Dân cư 17

1.2.2 Cơ sở hạ tầng 25

1.2.3 Vài nét về truyền thống văn hóa của nhân dân trên vùng đất Quỳ Hợp .27

1.2.4 Vài nét về kinh tế trên vùng đất Quỳ Hợp trước năm 1963 38

Tiểu kết 43

Chương 2 TÌNH HÌNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, LÂM NGHIỆP, TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN QUỲ HỢP TỪ NĂM 1963 ĐẾN NĂM 2011

Trang 6

2.3 Các ngành tiểu thủ công nghiệp 61

2.3.1 Nghề dệt 62

2.3.2 Nghề đan lát 64

Tiểu kết 66

Chương 3 TÌNH HÌNH CÔNG NGHIỆP THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ, DU LỊCH 3.1 Công nghiệp 69

3.1.1 Công nghiệp do Trung ương quản lý 69

3.1.2 Công nghiệp do tỉnh quản lý 72

3.1.3 Các ngành xây dựng cơ bản 75

3.2 Thương mại, dịch vụ 78

3.2.1 Thương mại 78

3.2.2 Dịch vụ 81

3.2.3 Du lịch 82

3.3 Tác động của kinh tế đến đời sống văn hóa xã hội 86

3.3.1 Đối với giáo dục, y tế 86

3.3.2 Đối với văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao 93

3.3.3 Đối với an ninh, quốc phòng 97

Tiểu kết 100

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC

Trang 7

từ huyện Quỳ Châu, bao gồm Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp Trong quákhứ hào hùng, nhân dân các dân tộc Quỳ Hợp cùng nhân dân trong tỉnh và cảnước, đoàn kết bên nhau, ra sức chế ngự, chinh phục thiên nhiên chiến đấuchống các thế lực ngoại xâm để bảo vệ, xây dựng quê hương, bản làng và bảo

vệ thành quả lao động của mình

- Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, mảnh đất Quỳ Hợp còn lưu giữ nhiều

di tích lịch sử, những danh lam thắng cảnh hùng vĩ và mang đậm dấu ấn củanhững con người dựng xây nên cuộc sống Đó là Bãi Tập, Quán Dinh nơixưa kia nghĩa quân Lê Lợi chọn mảnh đất này luyện tập quân sỹ, trước khi tạonên một "Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, miền Trà Lân trúc chẻ tro bay"

Là Hồ Thung Mây thơ mộng nằm ở trung tâm huyện - Công trình kết tinh bởibàn tay, khối óc của con người với thiên nhiên Quỳ Hợp, là sự kết hợp giữalịch sử, truyền thống với hiện đại và đổi mới Là Khu Bảo tồn nhiên thiên PùHuống, Thẩm Poòng, Thác Bìa những món quà vô giá mà tạo hoá và thiênnhiên ban tặng cho mảnh đất này Quỳ Hợp là miền đất lành, nơi gặp gỡ, hội

tụ của những nét văn hoá đặc sắc của nhiều dân tộc, chủ yếu là ba dân tộcThái, Thổ, Kinh Dù là người miền xuôi hay miền ngược, dù trong Nam hayngoài Bắc, từ nhiều năm nay đoàn kết cùng chung tay xây dựng cuộc sống,tạo nên miền quê có một không hai này

- Với lợi thế là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của cáchuyện miền núi, huyện Quỳ Hợp có bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế, văn

Trang 8

hóa, giáo dục Nghiên cứu đời sống kinh tế của cộng đồng cư dân ở HuyệnQuỳ Hợp là góp phần thiết thực vào việc nghiên cứu quá trình chuyển đổi củađồng bào các huyện miền núi từ nửa sau thế kỷ XX đến nay Đây là vấn đề có

ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc

- Trong quá trình gần 5 thập kỷ qua, Huyện Quỳ Hợp vừa phát triển cả

về phạm vi cư trú, cấu trúc hạ tầng, thành phần dân cư, trình độ dân trí Đềtài là công trình nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về đời sống kinh

tế, vật chất, tinh thần của cộng đồng dân cư ở Huyện Quỳ Hợp từ ngày thànhlập đến nay Do đó đề tài có ý nghĩa về khoa học và thực tiễn

- Đề tài chỉ rõ những đặc điểm chung và riêng trong quá trình phát triểncủa Huyện Quỳ Hợp so với một số huyện khác ở miền núi Nghệ An Đây làmột trong những đóng góp quan trọng của đề tài Vì vậy, đề tài còn mở ra một

số hướng nghiên cứu mới về quá trình đô thị hoá ở vùng miền núi phía TâyNghệ An

1.2 Về thực tiễn

- Đề tài đi sâu nghiên cứu đời sống kinh tế, từ đó có tác động sâu sắctới văn hóa, xã hội của cộng đồng dân cư Huyện Quỳ Hợp, do đó sẽ là mộtnguồn tư liệu quan trọng góp phần vào việc nghiên cứu, biên soạn và giảngdạy lịch sử địa phương

- Đề tài góp phần tập hợp tư liệu, cung cấp cho nhân dân trong huyệnmột nguồn tư liệu cần thiết, xác đáng về Huyện Quỳ Hợp để các nhà khoahọc, các nhà chính trị, kinh tế, văn hóa nghiên cứu, so sánh, đối chiếu và mởrộng phạm vi nghiên cứu

- Thông qua việc nghiên cứu, đưa ra một số đề xuất để các cấp chínhquyền có thể tham khảo khi xây dựng, phát triển Huyện Quỳ Hợp trước mắt

và lâu dài

Trang 9

- Là một người con của vùng đất Nghệ An và bản thân có mối liên hệchặt chẽ với miền núi xứ Nghệ, gia đình bên ngoại định cư lâu đời ở Quỳ Hợp

thân yêu Vì vậy tôi chọn đề tài: “Tình hình kinh tế ở huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) từ năm 1963 đến năm 2011” làm luận văn thạc sĩ để thể hiện tấmlòng với quê hương, hy vọng sẽ góp một phần nhỏ bé vào sự phồn thịnh củaHuyện trong tương lai

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Là lị sở của một huyện miền núi, nơi cộng cư của các dân tộc Thái,Thổ, Kinh, Huyện Quỳ Hợp còn rất ít người biết đến, và những đề tài nghiêncứu hay viết về mảnh đất này cũng rất ít

Trong những tác phẩm sử học của Quốc sử quán triều Nguyễn như

"Khâm định Việt sử thông giám cương mục", "Đại Nam nhất thống chí", "Đại Nam thực lục chính biên", tên gọi Phủ Quỳ Châu đã được nhắc đến với tư cách là

một đơn vị hành chính của chính quyền nhà Nguyễn

Sau năm 1954, khi miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, để khẳng địnhlại đóng góp to lớn của các dân tộc cũng như các vùng, miền vào sự nghiệp

cách mạng chung cả nước, nhiều tác phẩm sử học đã ra đời, trong đó có cuốn:"

Đất nước Việt Nam qua các thời kỳ" của Đào Duy Anh và "Lịch sử Nghệ Tĩnh"

của nhiều tác giả Trong hai tác phẩm này, đóng góp của cư dân huyện QuỳHợp được trình bày một cách khái lược, hòa lẫn vào dòng chảy chung của lịch

sử toàn tỉnh và toàn dân tộc

Đến tác phẩm "Việt Nam - Những thay đổi địa danh và địa giới các đơn

vị hành chính 1945 - 1997" của Nguyễn Quang Ân, Quỳ Hợp đã được biết đến

là huyện lị của huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, nhưng cũng chỉ được đề cậpđến những nét khái quát nhất, sơ lược nhất

Năm 2003, tác phẩm "Địa chí huyện Quỳ Hợp" của PGS Ninh Viết Giao

được xuất bản Đây là tài liệu thành văn đầu tiên nói đến một cách tương đối

Trang 10

cụ thể về sự thành lập của huyện Quỳ Hợp, cũng như khái quát qua một vàinét về diện tích, dân số và các đơn vị hành chính của huyện.

Gần đây, trên trang Web của Uỷ ban nhân dân huyện Quỳ Hợp cũng cómột số bài viết về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của thị trấn nói riêng vàcủa huyện nói chung Nhưng những bài viết đó cũng hoặc mang tính kháiquát hoá hoặc chỉ dừng lại ở một số lĩnh vặc nhất định, chưa tạo nên đượcmột cái nhìn tổng thể về sự chuyển biến trong đời sống kinh tế, văn hóa, xãhội, của cộng đồng cư dân huyện Quỳ Hợp

Như vậy, có thể nói, nghiên cứu về văn hóa làng, đặc biệt là các làng cótruyền thống khoa bảng, cách mạng là một đề tài không mới nhưng lại rất ítcác công trình nghiên cứu về văn hóa các bản, làng miền núi Đặc biệt đối vớiQuỳ Hợp, một huyện miền núi có thời gian thành lập chưa lâu, thì lại hầu nhưchưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập đến Một số sách báo

có nhắc đến tên Quỳ Hợp thì cũng chỉ biết đến như một địa chỉ, một đơn vịhành chính và vấn đề khai thác tài nguyên thiên nhiên ở nơi đây mà thôi Cònvấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội vẫn là mảnh đất màu mỡ mà chưa có ai khai

thác Do đó, việc nghiên cứu đề tài: “Tình hình kinh tế ở huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) từ năm 1963 đến năm 2011” dù còn trong phạm vi hẹp và mangtính chất địa phương nhưng hoàn toàn mới Đề tài hy vọng sẽ góp thêm ítnhiều về mặt khoa học và thực tiễn để tìm hiểu về sự chuyển biến của huyệnQuỳ Hợp nói riêng và vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số nói chung trongcông cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

3 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

3.1 Nguồn tư liệu

Đề tài : “Tình hình kinh tế ở huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) từ năm

1963 đến năm 2011” được nghiên cứu dựa trên những nguồn tài liệu sau:

3.1.1 Sách tham khảo

Trang 11

+ Những tác phẩm của Quốc sử quán triều Nguyễn như "Đại Nam nhất

thống chí" - Tập II, "Đại Nam thực lục chí biên", tập 36 và tác phẩm "Nghệ An ký"

của Bùi Dương Lịch giúp xác định địa giới hành chính cũng như các thànhphần dân cư của Quỳ Châu dưới triều Nguyễn

+ Cuốn "Việt Nam - Những thay đổi địa danh và địa giới hành chính

1945 - 1997" của Nguyễn Quang Ân, tác phẩm "Lịch sử Nghệ Tĩnh" xác định rõ

địa giới hành chính của huyện Quỳ Hợp thời hiện đại cũng như đóng góp củanhân dân huyện Quỳ Hợp vào lịch sử chung của tỉnh Nghệ An

+ "Các dân tộc ít người ở Việt Nam" của viện dân tộc học, "Các dân tộc

thiểu số ở Nghệ An" của Nguyễn Đình Lộc góp thêm những tư liệu để tìm

hiểu đời sống của các dân tộc cư trú trên địa bàn huyện

3.1.2 Nguồn tư liệu từ các bản báo cáo, thống kê

-Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện qua các nhiệm kỳ lưu tại văn phòng

- Các số liệu thống kê của phòng Thống kê huyện Quỳ Hợp

- Các số liệu do phòng Giáo dục huyện cung cấp

- Số liệu cơ bản kinh tế - xã hội một số năm do UBND huyện Quỳ Hợpcung cấp

3.1.3 Tư liệu điền dã

- Nguồn tư liệu thông qua việc khảo sát thực tế một số xã của huyện

- Nguồn tư liệu do các cụ cao niên trong huyện cung cấp v.v

Trang 12

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp luận sử họcMacxit từ lúc sưu tầm, chỉnh lý tài liệu cho đến quá trình biên soạn đề tài, kếthợp phương pháp sử học với phương pháp lôgíc, phương pháp thống kê, sosánh, đối chiếu để xử lý tài liệu, để đánh giá và phân tích sự kiện Ngoài rachúng tôi còn tiến hành điền dã, điều tra xã hội học địa bàn huyện để có tưliệu hoàn thiện đề tài

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Những chuyển biến trong đời sống kinh tế,

của cộng đồng cư huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) từ 1963 - 2011

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1.Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Quỳ Hợp (Nghệ An).

4.2.2 Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu về tình hình kinh tế

huyện Quỳ Hợp từ năm 1963 đến năm 2011

5 Đóng góp của đề tài

- Với việc đi sâu nghiên cứu về tình hình đời sống kinh tế của cộngđồng cư dân huyện Quỳ Hợp, đề tài sẽ là nguồn tư liệu quan trọng cho việcbiên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương ở các cấp học nhằm giáo dục chohọc sinh tình yêu và niềm tự hào đối với quê hương, ý thức bảo vệ và xâydựng quê hương ngày càng giàu đẹp

- Đề tài là công trình nghiên cứu đầu tiên, khá toàn diện về kinh tế vậtchất của cộng đồng cư dân ở huyện Quỳ Hợp, một huyện miền núi Vì vậy,kết quả của đề tài không những là tài liệu quan trọng giúp các cấp chínhquyền tham khảo khi xây dựng và phát triển một cách bền vững huyện QuỳHợp trước mắt và lâu dài mà còn góp phần thiết thực vào việc nghiên cứu quátrình chuyển đổi của đồng bào các huyện miền núi trong công cuộc đổi mớicủa đất nước

Trang 13

- Với việc chỉ ra những đặc điểm chung và riêng trong quá trình pháttriển của huyện Quỳ Hợp so với một số huyện khác ở miền núi phía Tây Nghệ

An, đề tài góp phần mở ra một hướng nghiên cứu mới về quá trình đô thị hoá,công nghiệp hoá ở miền núi Nghệ An

- Đề tài còn là công trình tập hợp tư liệu để tiện cho công tác nghiêncứu, so sánh của những công trình nghiên cứu sau

- Ngoài ra, đề tài còn chỉ rõ những mặt tích cực trong đời sống kinh tế ởhuyện Quỳ Hợp, đồng thời chỉ ra những tồn tại, khiếm khuyết khi xây dựng,phát triển kinh tế Vì vậy đề tài sẽ là một kênh thông tin quan trọng giúp cácnhà lãnh đạo huyện trong việc hoạch định chiến lược phát triển lâu dài, ổnđịnh và bền vững cho Huyện

6 Bố cục của luận văn

Luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Khái quát về kinh tế ở vùng đất Quỳ Hợp trước khi thành lập

huyện Quỳ Hợp

Chương 2 Tình hình kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở

huyện Quỳ Hợp từ năm 1963 đến năm 2011

Chương 3 Tình hình công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch.

Trang 14

NỘI DUNGChương 1 KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ Ở VÙNG ĐẤT QUỲ HỢP

TRƯỚC KHI THÀNH LẬP HUYỆN

Ngược dòng lịch sử trước tháng 4 năm 1963, Quỳ Hợp nằm tronghuyện Quỳ Châu và một phần huyện Nghĩa Đàn Vùng Quỳ Châu từ năm

1415 (tức năm Vĩnh Lạc thứ XIII) có tên là Châu Quỳ Năm 1469, dưới triềuvua Lê Thánh Tông, Châu Hoan và Châu Diễn được sát nhập thành Thừatuyên Nghệ An gồm 9 phủ, 25 huyện và 2 châu Vùng đất Châu Quỳ lậpthành phủ Quỳ Châu (bao gồm hai huyện: Trung Sơn và Thúy Vân)

Năm Minh Mệnh thứ 7 (1827), đổi Trung Sơn thành huyện Quế Phong,năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) trích đất của 7 tổng huyện Quỳnh Lưu và mộttổng huyện Yên Thành, lập huyện Nghĩa Đường (thuộc phủ Quỳ Châu)

Phủ Quỳ Châu gồm 3 huyện:

- Huyện Nghĩa Đường (gồm 8 tổng, 49 xã thôn)

- Huyện Quế Phong (gồm 4 tổng, 16 xã thôn)

- Huyện Thúy Vân (gồm một phần đất huyện Quỳ Châu và Quỳ Hợpngày nay với 5 tổng, 30 xã thôn)

Năm 1887, Nhà Nguyễn lại chia Nghệ An thành 5 phủ: Anh Sơn, DiễnChâu, Hưng Nguyên, Tương Dương, Quỳ Châu và 6 huyện: Nam Đàn, ThanhChương, Nghi Lộc, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn [6.23]

Trong thời Pháp thuộc, toàn quyền Đông Dương ra nghị định (ngày 22tháng 10 năm 1907) củng cố lại vùng Quỳ Châu - Nghĩa Đàn, đặt tại NghĩaHưng một sở đại diện của chính quyền cấp tỉnh (Đến 1 - 9 - 1908, được gọi làtrạm Nghĩa Hưng) Ngày 3 - 3 - 1930, Toàn quyền Đông Dương ra nghị địnhmới: nâng trạm Nghĩa Hưng lên thành Sở đại lý Phủ Quỳ với quyền hạn lớn

Trang 15

hơn trước, kiểm soát cả vùng Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tân Kỳ,Nghĩa Đàn ngày nay [21.12,13].

Tên gọi phủ Quỳ Châu, huyện Nghĩa Đàn tồn tại mãi đến cách mạngtháng Tám năm 1945 Sau đó chính phủ ta bỏ cấp phủ và tổng Phủ Quỳ Châuđược đổi thành huyện Quỳ Châu (cũ), bao gồm huyện Quế Phong, Quỳ Châu,Quỳ Hợp ngày nay; còn huyện Nghĩa Đàn bao gồm cả huyện Tân Kỳ ngàynay [21,13]

Đến ngày 19 tháng 4 năm 1963, Hội đồng Chính phủ đã ra quyết định

52 - CP, phê chuẩn việc chia lại địa giới các huyện Qùy Châu, Anh Sơn,Nghĩa Đàn thành 7 huyện mới Tên gọi huyện Quỳ Hợp được khai sinh từ đó

1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên

1.1.1 Địa hình

Quỳ Hợp là một huyện miền núi ở phía tây bắc tỉnh Nghệ An, nằmtrong tọa độ từ 19010’ đến 19029’ vĩ độ bắc và từ 104056’ đến 105021’kinh độđông Phía bắc giáp huyện Quỳ Châu, phía nam giáp huyện Tân Kỳ, phíađông giáp huyện Nghĩa Đàn, phía Tây giáp huyện Con Cuông và huyện QuỳChâu

Diện tích toàn huyện có 941.7280km2 bằng 94.172,4ha Trong đó đấtlâm nghiệp có rừng chiếm 26.624,4ha, đất nông nghiệp có 13.729,24ha, đấtchuyên dùng 2.785,01ha, đất ở là 764,61ha, đất chưa sử dụng và sông suối,núi đá là 50.269,54ha

Là một thung lũng nằm trong thềm lục địa cổ, ngày xưa có hoạt độngcủa núi lửa, nên địa hình Qùy Hợp khá phức tạp Các dãy núi lớn cùng nhiềudãy núi nhỏ đã cắt miền đất này thành nhiều vùng có đặc điểm tự nhiên riêngbiệt Về thổ nhưỡng, đất đai phần lớn là đất feralit màu đỏ vàng hoặc vàng đỏ,phát triển trên phiến thạch sét, phiến thạch mica, với tầng đất dày, có lớp đấtmịn dày 40 - 120cm Riêng vùng đất từ phà Dinh đến vùng Châu Yên, tuy địa

Trang 16

hình tương đối bằng phẳng nhưng lại có đá ong chặt, ở cách mặt đất khoảng

40 - 50cm

Địa hình Quỳ Hợp có rất nhiều đồi núi Nhiều đỉnh núi cao trên 1000m.Đỉnh Pù Khạng cao 1058m Đỉnh Pù Huống cao tới 1447m Vùng núi PùHuống có hệ thực vật và động vật rất phong phú, đa dạng, đã được nhà nướcphê duyệt là khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia

Lòng đất có nhiều khoáng sản quý như vàng, đá quý, thiếc Quặng thiếc

có hàm lượng cao, trữ lượng lớn nhất nhì trong nước Trong quặng thiếc còn

có sắt, vônphơram, titan Trên mặt đất có nhiều núi đá (đá hoa cương, đágranit), trong đó đá hoa cương có trữ lượng lớn, màu trắng và vân đẹp, đượcnhiều người trong nước và nước ngoài ưa thích Đá vôi có trữ lượng rất lớn,đáp ứng tốt nhu cầu làm vật liệu xây dựng Ngoài ra còn có nguồn diêm tiêu

có trữ lượng khá dồi dào và suối nước khoáng ở Bản Khạng (Yên Hợp)

1.1.2 Đất đai

Đất đai ở Quỳ Hợp phần lớn thuộc lưu vực sông Dinh, sông Hiếu SôngDinh là một chi lưu của sông Hiếu Sông Hiếu cũng là sông Con, một nhánhcủa sông Cả (tức sông Lam) Đồng bằng nhỏ hẹp, phân tán, tỉ lệ đất nôngnghiệp ít, đất đồi núi nhiều Có 75% diện tích ở độ cao trên 200m so với mặtnước biển (độ cao trung bình đất nông nghiệp 65 - 75 m) Đã thế ruộng lúanước lại nằm trong các thung lũng, bị chia cắt bởi nhiều khe suối và các dãylèn đá, hạn chế việc mở rộng diện tích lúa nước, trở ngại cho việc sản xuất,bảo vệ độ phì nhiêu của đất vì dốc nhiều Hơn nữa còn gây cho các khu vựchành chính cách biệt nhau, làm khó khăn trong việc phát triển giao thôngnông thôn Trừ sông Dinh, các dòng sông ở Quỳ Hợp thường hẹp, trường độngắn, khe suối nhỏ, không mấy dòng sông có thể phát huy khả năng vận tảiđường sông, hạn chế việc khai thác nguồn nước để phục vụ sản xuất nôngnghiệp

Trang 17

Ở huyện miền núi Quỳ Hợp có những loại đất sau đây:

- Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá bazơ (đá bazan, đá vôi) có diệntích không lớn, tầng đất dày, có thể đến vài chục mét, thành phần cơ giới phầnnhiều nặng nhưng dung lượng hấp thụ nitơ không cao lắm Đất có độ xốp cao,giữ nước mạnh, có kết cấu tốt Đất có lượng màu và đạm cao, lượng lân vàkaly cũng tương đối lớn Đây là đất xã Chủng Láng cũ tức là xã yên Hợp,Đồng Hợp, Châu Lộc , thích hợp với việc trồng cây màu, cây công nghiệp

- Đất ba zan ở vùng nông trường 3 - 2 cũ, xã Minh Hợp hiện nay Nónằm chung trong vùng đất đỏ Phủ Quỳ (Nghĩa Đàn) tức là vùng các nôngtrường quốc doanh trồng cây cao su, cà phê, cây chè, cây mía song diện tíchchẳng được bao nhiêu

- Đất đỏ đá vôi thường có màu nâu đỏ và vàng, chỉ tập trung trong mộtvùng hạn chế thuộc xã Khủn Tinh cũ Đây cũng là loại đất tốt, có một số ưuđiểm về mặt vật lý và hóa học, song do địa hình bị cắt xé mạnh, ngay ở mộtnơi như xã Châu Quang, có thể vừa xẩy ra quá trình tích lũy lại vừa xẩy raquá trình bào mòn và rửa trôi, làm cho tầng đất có chỗ dày, chỗ mỏng khácnhau Cần thấy hết khó khăn của việc khai thác loại đất này do địa thế phâncách và mất nước trong mùa khô Nhưng đây là loại đất có thể hình thànhvùng chuyên canh lúa, ngô, đỗ, lạc, cả bông, gai, thuốc lá

- Đất đen Mácgarít có màu đen trong vùng đất bazan và trong vùng đất

đá vôi Đất có kết cấu do chất hữu cơ tạo thành chứ không phải do sắt nênbền, khó bị nước phá vỡ Đây là loại đất có khoáng vật sét, nhờ đó tính hấpthụ ca-to-on của đất tăng Trong khoáng vật sét giàu hy-đrô-mi-ca nên đấtgiàu kaly, có nơi có cả kao-li-nit Đất này vào loại tốt bậc nhất, có thể trồngngô, lạc, đỗ, mía, thuốc lá, bông nhưng tiếc rằng diện tích đất này ở QuỳHợp không nhiều, chỉ có độ dăm chục ha

Trang 18

- Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá biến chất chiếm diện tích nhiềuhơn cả Nhóm đất này hình thành trên đá phiến sét, bột kết, đá phiến mica,gơ-nai có mức độ feralit khác nhau dưới những thảm thực vật khác nhaunằm ở vùng người Thổ cư trú ở Quỳ Hợp Đất này thường chua, song tỉ lệhữu cơ có phèn thấp hơn các loại đất khác Vì độ phì nhiêu không đều, lânkém, kali nghèo nên hàm lượng các chất dinh dưỡng chênh lệch giữa cácvùng , như vùng ven sông Dinh không bằng vùng Văn Lợi, Hạ Sơn nên việc

sử dụng đất này cần có biện pháp thích hợp cho từng nơi Đất này có thể khaihoang mở rộng diện tích để trồng chè, cà phê, các cây hạt có dầu như trẩu,sở hoặc cây ăn quả như cam, bưởi, mít, xoài, dừa

- Đất phát triển trên phù sa cổ, diện tích không nhiều, phân bố ở các xã

ở vùng thềm sông Con hoặc vùng bậc thang giáp vùng trung du, thường cómàu nâu vàng Đất này chua và nghèo mùn Chất dinh dưỡng kém so với cácloại đất nói trên do bị rửa trôi nhiều xuống sông ngòi [6.34,35]

Trên đây là nói chung các loại đất chính ở huyện miền núi Quỳ Hợp vàphần nào cả miền núi và trung du Nghệ An Khó mà phân định cụ thể mỗiloại đất như vậy có diện tích là bao nhiêu ở Quỳ Hợp vì địa hình phức tạp,chúng nằm xen kẽ theo kiểu da báo Do đó các chuyên gia làm quy hoạchphát triển kinh tế ở Quỳ Hợp đã chia tài nguyên đất ở Quỳ Hợp làm hai nhómsau:

+ Nhóm đất địa thành

Đất này có diện tích 78.548 ha, chiếm 89,56% gồm 4 nhóm phụ, có 8loại đất, trong số 8 loại đất này có loại đất feralit đỏ vàng phát triển trên đávôi và feralit vàng đỏ phát triển trên phiến sét là hai loại đất có giá trị đôi vớiphát triển nông nghiệp ở Quỳ Hợp Nhóm đất này phân bổ chủ yếu ở vùng đồinúi thấp, dốc thoai thoải ở độ cao 170 - 200m, tập trung nhiều ở các xã vùngthấp như Hạ Sơn, Văn Lợi, Yên Hợp, Nghĩa Xuân, Minh Hợp đây chính là

Trang 19

lợi thế của Quỳ Hợp trong việc mở rộng diện tích cây lâu năm như cà phê,cao su, chè, cây ăn quả, cây lấy dầu

Các loại đất còn lại của nhóm này ở hai độ cao khác nhau tại Quỳ Hợp

Ở độ cao từ 170 - 200m đến 860 - 1000m với diện tích 47.868 ha, chiếm60,94% rất có ý nghĩa đối với việc phát triển ngành lâm nghiệp ở độ cao từ

800 - 1000m đến 1700 - 2000m với diện tích 8.520 ha có giá trị về các khurừng nguyên sinh, rừng đặc dụng

+ Nhóm đất thủy thành

Nhóm đất này có diện tích 9.151 ha, chiếm 10,44% gồm 3 nhóm phụ,

có 6 loại đất, phân bổ rải rác trên khắp địa bàn, song tập trung nhiều ở một số

xã như Tam Hợp, Thọ Hợp, Châu Quang ven sông suối ở các thung lũng nhỏtại một số xã vùng cao Phần lớn các loại đất thuộc nhóm này được sử dụngvào nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa, các cây lương thực và các cây màukhác

1.1.3 Khí hậu, thời tiết

Theo giáo sư Nguyễn Minh Tuệ, “Nghệ An thuộc đới khí hậu gió mùachí tuyến, á đới có mùa đông lạnh Khí hậu có sự phân hóa theo chiều Bắc -Nam, chiều Đông - Tây (trong chừng mực nhất định) và theo độ cao của địahình Hàng năm lãnh thổ của nghệ An được lượng bức xạ mặt trời phong phúvới tổng lượng bức xạ là 131,8 kcal/cm 2/năm (tại trạm Vinh) Tổng nhiệt độtrong năm vượt quá 8.5000C Số giờ nắng trung bình đạt từ 1.500 đến 1.700giờ

Về chế độ nhiệt, nhiệt độ trung bình trong năm ở vùng núi là 230C, còn

ở vùng đồng bằng duyên hải là 2309C và có sự phân hóa theo hai mùa rõ rệt

Ở đây mùa lạnh đến muộn hơn so với nhiều tỉnh khác (mãi tới cuối tháng 11,đầu tháng 12) lại chấm dứt sớm hơn Như vậy nghệ An là một trong những

Trang 20

vùng có mùa nóng kéo dài, thời kỳ có nhiệt độ trên 250C có thể dài tới 6tháng, trong đó nhiều nơi có trên ba tháng nhiệt độ trung bình vượt quá 280C.

Đó là nói chung cả Nghệ An, còn riêng huyện Quỳ Hợp, mùa nóng từcuối tháng 4 đến đầu tháng 10, mùa khô lạnh đến từ tháng 11 đến đầu tháng 4năm sau, trong cùng một ngày có khi có những khoảng cách đột ngột về nhiệt

Trức đây có năm có từ 3 - 4 cơn bão đổ bộ trực tiếp vào Nghệ An,những cơn bão hình thành từ Biển Đông đi vào Nghệ An, có cơn cấp gió từ

11, 12 thổi qua các huyện miền xuôi, bão lên đến Quỳ Hợp, sức gió đã giảm.Song dù bão có còn mạnh đi nữa cũng bị các dãy núi trùng điệp và bạt ngangcây rừng chặn lại, sức gió bị cản nhiều, nên ở Quỳ Hợp chưa thấy hoặc ít thấy

có các cơn bão với sức gió mạnh như ở đồng bằng

Cái đáng kể là giông tố Giông tố nổi lên thường có sấm sét Do địahình phức tạp, nhất là nhiều nơi có lèn đá vôi, nên một số nơi hễ có giông tố

là có gió xoáy (lốc) hoặc mưa đá, làm tung nhà cửa, đập gãy cây rừng, hư hạicây màu, nhấn chìm những con thuyền đang đi trên sông Dinh Nhiều truyện

cổ còn ghi lại những cơn lốc ở Mường Nghình, Mường Ham làm nhà cửa babốn bản bị gió bốc lên trời, nhổ bật cả cây rừng, cuốn cả cây cối cùng vớinhiều loài thú lên không rồi ngay sau đó ném rơi xuống một nơi khác

Mùa này hễ có giông tố là có những trận mưa rào rất mạnh, lượng mưatrung bình hàng năm ở Quỳ Hợp là 1.502mm, nhưng ¾ là vào mùa nóng, tậptrung vào các tháng 8,9,10 Có năm, có những cơn mưa xối xả kéo dài ngày,

Trang 21

làm đá núi sụt lở, kéo theo cây rừng cũng đổ ngổn ngang Nước các dòng suốidang lên, chảy ào ào, gây lũ quét, làm ngập các thung lũng, làm tắc nghẽn cáccon đường giao thông, gây khó khăn trở ngại cho việc đi lại và làm hư hai hoamàu, gây xói mòn độ phì nhiêu của đất.

Gió mùa Tây Nam khô nóng mà người xứ Nghệ gọi là gió Lào cũngxuất hiện vào mùa này Gió mùa Tây Nam phát xuất từ vịnh Băng - Ganthuộc Ấn Độ Dương vốn mang theo hơi nước, nhưng thổi qua một đoạnđường dài trên các lục địa vào mùa hạ, nên hầu hết hơi nước đều để lại sườnphía tây của dãy Trường Sơn Vượt Trường Sơn sang miền Bắc Trung BộViệt Nam, luồng gió này đã trở nên khô nóng dưới ánh nắng gay gắt của ngày

hè Đã thế lại thổi qua vùng Tây Nam Nghệ An mới đến Quỳ Hợp, nên gióLào khô nóng lại càng khô nóng hơn Gió Lào thổi mạnh nhất từ tháng 6 đếntháng 8 dương lịch Một đợt gió Lào thường 5 - 7 ngày, có đợt kéo dài trênchục ngày với cấp gió từ cấp 5, cấp 6 có khi lên tới cấp 7, làm khe suối khôcạn, cây cối, hoa màu héo quắt, gây nạn cháy rừng Dù ở miền rừng núi cónhiều cây cối, song mỗi khi có gió Lào thổi cồn cột, lùa theo các triền lèn đá,hốt hết độ ẩm trong không khí làm cho con người rất bức bối khó chịu

- Về mùa lạnh:

Cũng như toàn Nghệ An, về mùa lạnh thường có gió mùa Đông Bắc.Gió mùa này xuất hiện từ lục địa Đông Bắc Á và Thái Bình Dương Thời giannày (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), phía bắc lục địa Trung Quốc như ôn

độ thường hạ thấp từ 20 - 30 dưới độ 0, gây ra một vùng áp cao rộng lớn vàchuyển dịch về hướng Nam, nơi có áp lực nhỏ hơn Đặc điểm của gió mùanày thường khô và lạnh, song vì thổi qua vịnh Bắc Bộ nên nhận được nhiềuhơi nước; đến khi vào đất liền gặp phải dãy núi phía Tây mà chủ yếu là dãynúi Trường Sơn, gió mùa này có hơi ẩm này lạnh đi, hình thành mây mưa

Trang 22

Mưa trong những ngày có gió mùa Đông Bắc vào mùa lạnh có khi khá lớn vàkéo dài Đó là cả xứ Nghệ.

Quỳ Hợp tuy không ở sát dãy Trường Sơn, song cũng núi liền núi và cónúi cao như Pù Huống, Pù Khạng nên cũng bị ảnh hưởng của gió mùa ĐôngBắc kể cả mưa và rét Mưa lạnh trong những ngày gió mùa Đông Bắc ở QuỳHợp thường dài ngày, số ngày có nhiệt độ dưới 150C nhiều hơn vùng đồngbằng 7 - 10 ngày, gây khó khăn trong làm ăn và đi lại, giao tiếp của nhân dân,ảnh hưởng đến sinh lý của nhiều cây trồng, gây bệnh tật, ngã bổ cho trâu bò.Trong các ngày gió mùa Đông Bắc thổi về, bếp lửa trong các mái nhà sàn lúcnào cũng cháy đỏ, sưởi ấm cho đồng bào Ấy là chưa kể về mùa lạnh, nhiềunăm có sương muối, gây ra những tác hại nhất định đối với nhiều loại câytrồng trong vụ Đông Xuân và cây lâu năm, cây ăn quả Những ngày khôngmưa, nhiều ngày trời mây u ám, nhiều sáng có sương mù dày đặc, 9 – 10 giờmới tan Mùa này sâu bọ dễ phát sinh làm ảnh hưởng đến sản xuất đông xuân

và xuân hè Ấy là chưa kể nhiều năm có sương muối làm cây trồng bị hư hỏngnhư đã nói ở trên

- Về nhiệt độ:

Cứ lấy nhiệt độ trung bình hàng năm trong tháng 6 từ năm 1995 đến

2000 đủ biết nhiệt độ ở Quỳ Hợp

+ Nhiệt độ bình quân trong năm là 22,80C

+ Nhiệt độ cao tuyệt đối là 40,80C

+ Nhiệt độ thấp tuyệt đối là 0,20C

+ Tổng nhiệt độ bình quân trong năm là 8,5030C

+ Độ ẩm không khí bình quân 86%

+ Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm là 1.690 giờ

+ Ngày nắng cao nhất 13 giờ, bình quân tháng 140 giờ

Trang 23

Nhìn chung khí hậu và thời tiết ở Quỳ Hợp có thuận lợi cho cây trồng vàvật nuôi phát triển, nhưng cũng kéo theo sự phát triển của nhiều loài sâu bệnh,dịch bệnh, nấm mốc, gây khó khăn trong việc bảo quản các sản phẩm, hànghóa.

Với đặc điểm khí hậu và thời tiết như trên, cán bộ lãnh đạo và nhân dânQuỳ Hợp đã lợi dụng tự nhiên, tạo ra độ ẩm an toàn cho phép trong việc bố trítập đoàn cây, con và cơ cấu thời vụ thích hợp, né tránh các yếu tố bất thuậnlợi, dành hiệu quả cho sản xuất và đời sống con người

1.2 Vài nét về điều kiện xã hội

Trước khi thành lập huyện, lúc đó Quỳ Hợp đang nằm trong vùng QuỳChâu cũ, dân cư hết sức thưa thớt Cư dân bản địa của huyện là người Thái,người Thổ họ sống chủ yếu bằng nghề phát rẫy làm nương, định cư, du canh.Song cùng với quá trình hình thành huyện, cộng với chính sách phát triểnmiền núi của Đảng và Nhà nước, một bộ phận lớn người Kinh từ miền xuôi

và các tỉnh khác đã đến vùng đất Quỳ Hợp Trước năm 1945, những ngườiKinh ở miền xuôi lên làm ăn lẻ tẻ, họ không đi theo chủ trương của nhà nướchay một cuộc vận động của một tổ chức từ thiện nào, một số người lên khaithác lâm sản như gỗ, mét, nứa Một số người lên đây vào dịp tháng ba ngày

Trang 24

tám để đào củ mài, tìm trầm, tìm tổ ong, mộc nhĩ với mục đích cứu đói trong

số những người lên Quỳ Hợp kiếm sống như đã nói trên, nhiều người trở vềlàng quê của mình nhưng cũng có những người ở lại Nhưng họ ở đâu, bảnnào, làng nào, có người đã lấy vợ người Thái, người Thổ và đến bây giờ đãThái hóa, Thổ hóa Đó là vấn đề phải tìm hiểu, song nhất định là có

Cùng với quá trình đấu tranh anh dũng của dân tộc ta, cộng với chínhsách phát triển miền núi của Đảng và Nhà nước, một bộ phận lớn người Kinh

từ miền xuôi và các tỉnh khác đã đến vùng đất Quỳ Hợp từ sau năm 1945 lànhiều nhất Ngoài một số người Kinh lên lẻ tẻ để khai thác lâm sản như gỗ,nứa, mét , để đánh cá, để buôn bán và làm một số nghề khác như nghề rèn,nghề kim hoàn rồi vì một lí do gì đó, lấy vợ sinh con, lâu ngày rồi định cư ởQuỳ Hợp Thì trong và sau kháng chiến chống Pháp, người kinh lên Quỳ Hợpkhá đông nhằm khai hoang, làm kinh tế để có lương thực gửi ra chiến trường

và để giải quyết đời sống cho gia đình mình Nhất là sau chiến thắng ĐiệnBiên Phủ, một trung đoàn quân đội lên đóng tại vùng chợ Dinh cũ, sau nàyĐảng và Chính Phủ có chủ trương giảm bớt quân số nên đã chuyển tất cả đơn

vị này sang làm kinh tế, gọi là nông trường quân đội Lúc đầu hầu hết nhữngngười làm trong nông trường này đều là bộ đội, họ là người kinh, sau này cóthêm nhiều cán bộ, nhân viên, công nhân và vợ con của họ lên cư trú Họ ởtrên khắp mọi miền của đất nước ta Đây là đợt người Việt đến cư trú ở địabàn Quỳ Hợp đông nhất Tiếp theo sau đó là các đợt sau năm 1960, 1978 và

1984 Đó là những đợt người Việt lên cư trú tại địa bàn Quỳ Hợp

Nhìn chung, người kinh đến Quỳ Hợp từ sau năm 1945 tới nay, họ đếnlàm ăn là chủ yếu, có người theo gia đình, bà con đến các nơi và lập nôngtrang Có người qua lại buôn bán và mở cửa hàng làm dịch vụ thương mại ởbên đường 48, dịch vụ sửa chữa xe đạp, xe bò lốp, xe máy có người lên khaithác lâm sản Có người lên khai thác đá đỏ ở xã Yên Hợp Họ đến Quỳ Hợp

Trang 25

với nhiều lý do khác nhau qua nhiều thời gian khác nhau và bây giờ tất cả đều

đã trở thành người Quỳ Hợp

Phải kể đến một bộ phận nữa cũng khá đông đảo đến Quỳ Hợp đó làcác giáo viên, bắt đầu từ giáo viên trợ lực vào những năm 1947, 1948 lên làmcông tác bình dân học vụ ở Quỳ Hợp, rồi giáo viên cấp 1, giáo viên cấp 2,giáo viên cấp 3 lên dạy học ở các trường khắp địa bàn Quỳ Hợp Rồi cán bộcác ngành khác như nông nghiệp, cán bộ, công nhân lâm nghiệp, cán bộ côngnhân giao thông thủy lợi, cán bộ ngân hàng, chi cục thuế, kho bạc, cán bộ cácngành văn hóa, y tế, bưu điện, cán bộ Đảng, chính quyền và các đoàn thể đặcbiệt từ sau năm 1975 lại nay, đất nước đi vào xây dựng kinh tế để nâng caođời sống và hàn gắn vết thương chiến tranh, nhiều xí nghiệp, xưởng máy,công ty được thành lập ở Quỳ Hợp như công ty khai thác kim loại màu NghệTĩnh, xí nghiệp liên hiệp thiếc, xí nghiệp sản xuất phân hữu cơ vi sinh, xínghiệp vật liệu xây dựng của công ty 7, xí nghiệp Thắng Lợi rồi nhà máynước khoáng Thên An ở xã Yên Hợp, công ty liên doanh mía đường có nhàmáy sản xuất đường ở Nghĩa Xuân Ngoài ra còn có hai nông trường 3 - 2 vànông trường Xuân Thành Đi theo các công ty, xí nghiệp, nhà máy là khôngbiết bao nhiêu cán bộ lãnh đạo, kỹ sư, nhân viên kỹ thuật, công nhân Nhưcông ty khai thác kim loại màu lúc đầu đã khoảng 1500 cán bộ các loại Đó làchưa kể các đơn vị bộ đội đang ở Quỳ Hợp như Đoàn 200 về xây dựng khu andưỡng ở xã Nghĩa Xuân và lâm trường Quỳ Hợp [6.462]

Trong bấy nhiêu trường học, cơ quan, lâm trường, nông trường, công

ty, đơn vị bộ đội tại địa bàn Quỳ Hợp mấy chục năm qua, có bao nhiêungười là người Kinh ở miền xuôi lên và ở nơi khác đến Trong số các đơn vị

ấy có người chuyển về xuôi, có người chuyển đi nơi khác, song nhiều người ởlại Quỳ Hợp, lấy vợ lấy chồng tại nơi đây, sinh cơ lập nghiệp và bây giờ họtrở thành người Quỳ Hợp Đây là một bộ phận đáng lưu ý mà không có một

Trang 26

hồ sơ nào ghi rõ họ đến năm nào, làm gì và tiến bộ thành đạt ra sao, có nhữngđóng góp gì, rồi chuyển đổi ra sao

Số người Kinh định cư ở Quỳ Hợp ngày càng đông, cho đến nay, từchỗ là dân góp, người Kinh trở thành thành phần cư dân chủ yếu của QuỳHợp Và một số lượng lớn, lại có nhiều người có trình độ trên đại học, đạihọc, cao đẳng, trung cấp, người Kinh có vai trò hết sức to lớn trong việc xâydựng và phát triển Quỳ Hợp, làm thay đổi diện mạo của huyện trên tất cả cácmặt kinh tế, văn hóa, xã hội Những người Kinh lên công tác hay làm ăn tạiQuỳ Hợp đều chịu khó khăn, gian khổ, nơi trước kia là rừng thiêng nước độc,nơi toàn đá núi, cây rừng với thú dữ, rắn độc để chung sức chung lòng vớingười dân bản địa, làm cho Quỳ Hợp ngày càng thoát khỏi cái vòng đóinghèo, thoát khỏi vòng khép kín mà bấy lâu bị u bế trong núi rừng, trongkhuôn khổ chật hẹp, bởi đường đi lối lại khó khăn, bởi tư tưởng chưa nghĩđến làm giàu, đến kinh doanh buôn bán, đến đi đây đi đó để đưa Quỳ Hợp,một huyện miền núi có những bước đột phá rõ rệt

Cùng với người Kinh, thành phần đa số khác trong cộng đồng cư dânhuyện là người Thái Đây cũng chính là cư dân bản địa của vùng đất này

Cũng như các huyện miền núi khác ở Nghệ An, người Thái ở Quỳ Hợpgồm 3 nhóm

- Nhóm Tày Mường, hay còn gọi là Tày Chiềng, Hàng Tổng, chủ yếu

là Thái trắng

- Nhóm Tày Thanh, hay còn gọi là Man Thanh, chủ yếu là Thái Đen

- Nhóm Tày Mười

* Nhóm Tày Mường hay Tày Chiềng (Hàng Tổng)

Đây là nhóm quan trọng nhất và rõ ràng là cư trú sớm nhất so với cácnhóm Thái khác ở Nghệ An Theo các công trình nghiên cứu, nhóm TàyMường đã lập làng bản ở vùng quốc lộ số 7 (tức Con Cuông và Tương

Trang 27

Dương) vào thế kỉ XIII, XIV Bởi vì đầu thế kỷ XIV, hoàng đế Trần MinhTông đi đánh Ai lao, khi đem quân đến biên thuỳ mặt tây, đạo thần tù trưởng

là Cầm Quý, … đều tranh nhau đến triều yết [6.206]

Ở vùng Quỳ Châu cũ, nhóm Tày Mường đến lập nghiệp đầu tiên ởMường Tôn (Mường Chủ, sau gọi là Mường Nọc) thuộc huyện Quế Phong,Kim Tiến (Châu Bình, Châu Tiến - Quỳ Châu) và Khủn Tinh (Châu Quang,Châu Thái, Châu Lý, Châu Đình - Quỳ Hợp) Từ đó người Tày Chiềng lansang vùng Con Cuông và hạ Tương Dương hiện nay, tức Mường Quạ (MônSơn, Lục Dạ) và Mường Xiềng My (Nga Mi, Bình Chuẩn)

Theo thần phả đền Chín Gian ở Mường Nọc thì dòng dọ Sầm do haianh em là Cầm Lứ và Cầm Lan dẫn dắt dòng họ Thái từ Tây Bắc vào Nghệ

An, tính đến nửa đầu thế kỷ XIX đã qua 17 đời làm thế tập Tạo Mường kiêmChẩu hua (chủ phần hồn) vùng Quỳ Châu cũ Từ nửa thế kỉ XIX, vào thời vuaMinh Mạng, năm 1834, triều đình Huế xuống chiếu đổi các mường Thái ởmiền Tây Nghệ An thành đơn vị hành chính của toàn quốc Chế độ thổ quan,tạo mường dần dần bị bãi bỏ mà thay vào đó là các tri phủ, tri huyện Lúc nàydòng họ Lang lớn mạnh, một người trong dòng họ Lang được cử làm tri phủ,dòng họ Sầm chỉ còn thế tập làm chẩu hua, chủ trì đền Chín Gian ở MườngNọc, trông coi phần hồn cho những cư dân Thái ở trong vùng Đến cách mạngTháng Tám, chế độ chẩu hua cũng bị bãi bỏ Như vậy, ít nhất vào cuối thế kỉXIII, người Thái đã có mặt ở Quỳ Châu, trong đó có Quỳ Hợp

* Nhóm Tày Mười

Nhóm này đến miền núi Nghệ An muộn hơn một chút Nguồn gốc củangười Tày Mười ở Nghệ An là người Thái ở vùng Mường Muỗi (thuộc tỉnhLai Châu) Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục (tập I, NXBGiáo dục, Hà Nội), khi Lê Lợi đánh quân Minh, chủ đất ở vùng MườngMuỗi tại châu Ninh Viễn là Đèo Cát Hãn đã cùng Kha Lại chống lại Để

Trang 28

trừng trị hành động, đó, sau khi lên ngôi, đích thân vua Lê Lợi cầm quân điđánh châu Ninh Viễn, thắng trận: Kha Lại chạy rồi chết, Đèo Cát Hãn lẩntrốn Nhà vua đặt đất Ninh Viễn thành châu Phục Lễ (nay là tỉnh Lai Châu),rồi rút quân về [6.208].

Bình định được họ Đèo, nhà vua đem tù binh về dâng ở Thái miếu vàquyết định cho dời một bộ phận cư dân ở Mường Muỗi vào Thanh Hoá vàNghệ An Vì vậy, nhóm Tày Mười khi đến Nghệ An vẫn tự gọi mình theoquê hương cũ Có điều qua thời gian, tên địa danh ấy đã bị gọi lệch đi: Muỗithành Mười

* Nhóm Tày Thanh (hay Man Thanh)

Nhóm này không chỉ từ Thanh Hoá qua Nghệ An mà còn từ MườngThanh (Tây Bắc) chuyển cư đến đây Mường Thanh xưa thuộc châu NinhBiên, phủ Gia Hưng, tỉnh Hưng Hoá, nay thuộc Điện Biên, tỉnh Lai Châu ĐấtMường Thanh ngày trước rất rộng, gồm cả Mường Lễ, sông Mã ở khu TâyBắc và một phần Mường Lư (tỉnh Phong Sa Lì - Lào) Nhiều nhóm Thái nhậnMường Thanh (hay còn gọi là Mường Thang, Mường Than) là đất tổ [6.209]

Trên đường chuyển cư vào miền núi Nghệ An, họ đi qua đất Lào - cốnhiên có người đi qua Thanh Hoá hay đã ở Mường Lư nên nhóm này chịu ảnhhưởng của văn hóa Lào nhiều hơn Số lớn người Man Thanh ở dọc đường số

7, song họ cũng ở rải rác trong địa hạt nhiều huyện khác, kể cả Quỳ Hợp, Tân

Kỳ và Nghĩa Đàn Họ đến Nghệ An cách đây độ 350 năm, có nơi họ là nhữngchủ khai canh ra các bản mường, có nơi họ ở địa vị người ngụ cư, thậm chí cókhi phải làm "cuông", "nhốc" (người ở) cho người Tày Chiềng

Tại Phủ Quỳ Châu cũ có hai nhóm: Tày Chiềng tức Thái trắng và ManThanh tức Thái đen, không thấy có nhóm Tày Mười, nếu có thì nhóm TàyMười ở Quỳ Châu cũng không đáng kể Tuy có sự cư trú xen kẽ, song người

Trang 29

Thái trắng ở Quế Phong và Quỳ Châu hiện tại là chủ yếu, còn người Thái đen

ở Quỳ Hợp là chủ yếu

Việc phân chia thành Thái Đen hay Thái Trắng chắc có nguồn gốc lịch

sử của nó Tuy có sự khác nhau nho nhỏ về quan niệm tính triết học, về màu

áo phụ nữ, về kiểu nhà, song trên đại thể, người Thái có sự thống nhất cao độ

về tên gọi là Tay, Thay, Tay Thay Các định ngữ Đen, Trắng hoặc mang tínhđịa danh như Tày Thanh, Tày Mười, Tày Khăng chỉ dùng khi cần cụ thể trongtìm hiểu, nghiên cứu - còn trong thực tế các nhóm Thái này ở Quỳ Hợp sốnghòa lẫn vào nhau, dấu vết để phân biệt đã mờ nhạt, không còn rõ nét Và có lẽcũng bởi điều này mà các nhóm Thái ở Quỳ Hợp tạo nên một cộng đồng dân

cư rất đoàn kết, hòa hợp, có tinh thần tương thân tương ái rất cao

Ngoài người Kinh, người Thái, ở vùng đất Quỳ Hợp còn có dân tộcThổ, trước đây còn có tên gọi là người Mường, Nhà làng, ConKha Những tênnày chỉ nằm trong trí nhớ lờ mờ của các cụ già Nhưng theo nghiên cứu,người Thổ ở Miền Tây Nghệ An do ba bộ phận cấu thành

* Một là người Kinh

Truyền thuyết của người Đan Lai, Ly Hà nói rằng: xưa kia họ ở vùngThanh La, Hoa Quân (xã Thanh Lĩnh và xã Thanh Hương) huyện ThanhChương, sau vì thuế khóa nặng nề, lao dịch khổ ải không chịu được, họ nổilên chống lại Nhà vua bắt phải có “cái thuyền liền chèo, trăm cây nứa vàng”

sẽ tha cho Nhưng tìm đâu ra, họ phải bỏ làng ra đi “theo dấu chân nai đitrồng hạt lúa; theo dấu chân cọp đi tìm hạt ngô”, đó là toán chạy lên ngọnnguồn sông Giăng Một toán khác chạy qua sông con

Một trường hợp khác cũng diễn ra tương tự Đó là sau cuộc khởi nghĩaGiáp Tuất (1874) và sau phong trào Cần Vương (1875), bọn Thực dân Pháp

và cả Nam Triều phong kiến đàn áp giã man những người có nghĩa khí yêunước Để trốn tránh những cuộc trả thù ấy, nhiều người lên vùng Nghĩa Đàn,

Trang 30

Tân Kỳ, Quỳ Hợp để cư trú Nếu thế thì cư dân sinh sống trong các bản làng

mà giờ đây ta gọi là Thổ ở Môn Sơn, Lục Dã (Con Cuông) và ở hai bên bờsông Con là người Việt Do những biến động của lịch sử, họ từ các huyệnđồng bằng bị xô đẩy lên đây, cư trú lâu ngày và bị miền núi hóa, Các cụ giàgọi là “Kinh già hóa Thổ” [6.135]

* Hai là những người Việt cổ cư trú ở đây từ thời xa xưa.

Có thể là từ thời văn hóa đồ đồng Họ là chủ nhân của các di chỉ vănhóa Làng Vạc, làng Bồi tại Nghĩa Đàn, ở Đồng Hợp, Minh Hợp, NghĩaXuân, Tam Hợp, văn Lợi, Hạ Sơn tại Quỳ Hợp Cộng vào đó là những ngườiđói nghèo, dịch bệnh, vì thiếu thuế, thiếu sưu, vì tô tức nặng nề, vì khôngmuốn đi phu đi lính cho bọn thống trị họ cũng lên đây và lâu ngày bị địaphương hóa

* Ba là những luồng thiên di của người Mường và người Kinh từ Thanh Hóa sang

Đông nhất là ở huyện Như Xuân, Thanh Hóa Họ đến từ thời Trần, thời

Lê và kết thúc cách đây không lâu Một thời gian dai họ cũng bị địa phươnghóa Ta còn có thể tìm thấy vết tích của họ ở một số làng thuộc các xã NghĩaLợi, Nghĩa Thọ, Nghĩa Hội thuộc Nghĩa Đàn và một số làng ở các xã NghĩaXuân, Tam Hợp, Minh Hợp thuộc Quỳ Hợp

Ba nhóm trên tụ cư và hợp nhất với nhau, lâu ngày hình thành mộtcộng đồng người mới với các tộc danh là Thổ Họ còn bảo lưu được nhiều nét

cổ của ông cha, nhưng đồng thời họ cũng đã mang những sắc thái văn hóa củamột dân tộc, không phải hoàn toàn là Việt, mặc dù họ từ người Việt tách ra

Nhìn chung lại trên địa bàn Quỳ Hợp đã hình thành một hiện tượngcộng rất đáng lưu ý Tình đoàn kết, gắn bó, hòa hợp của cộng đồng dân cư thểhiện rõ nhất chính là ở điểm này Không có bất kì một khối, xóm nào là địabàn cư trú của duy nhất một thành phần dân tộc, mà đó là điểm quần cư, cùng

Trang 31

chung sống của hai, ba dân tộc khác nhau Quá trình chung sống lâu dài đãtạo nên hiện tượng một người biết hai, ba thứ tiếng trở nên phổ biến Nhưng

để thuận tiện cho việc tiếp xúc, trao đổi, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, cảcộng đồng cư dân ở Quỳ Hợp đã sử dụng một ngôn ngữ chung đó là tiếngViệt Sự cộng cư không chỉ tạo ra một ngôn ngữ chung mà còn tạo nên sựgiao lưu văn hóa giữa các dân tộc, làm nên nét riêng của một huyện vùng cao

mà ở chương sau chúng tôi sẽ làm sáng tỏ

1.2.2 Cơ sở hạ tầng

Từ khi có quyết định thành lập của hội đồng chính phủ cho đến thờiđiểm hiện nay Quỳ Hợp là một trong những huyện miền núi có bước đột phámạnh mẽ, hoàn toàn thay da đổi thịt, với một diện mạo tươi tắn, trẻ trung vànăng động

Hơn 48 năm trước, Quỳ Hợp chỉ là một vùng đất nghèo, hẻo lánh vàgần như bị cô lập với thế giới bên ngoài bởi sự cách trở của giao thông, bởi sựnghèo nàn, thiếu thốn của cơ sở hạ tầng

Là một huyện miền núi, có vùng cao, vùng thấp, địa hình phức tạp, gồghề lại bị chia cắt nhiều Rừng núi, khe suối ken dày, đường sá đi lại trướcđây hết sức khó khăn Trước năm 1963, toàn huyện chỉ có 27km, đường tỉnh

lộ nay là quốc lộ, đoạn đường 48 từ đầu khe Đổ giáp với Nghĩa Đàn qua ngã

ba Săng Lẻ đến hết xã Yên Hợp giáp huyện Quỳ Châu Hệ thống đường liênthôn, liên xóm chỉ là những con đường mòn do người dân đi qua, đi lại nhiều

mà thành Đường giao thông thì yếu, phương tiện giao thông lại thiếu, làmcho việc đi lại của cư dân trong vùng hết sức khó khăn Muốn đi đến các xãtrong huyện hoặc sang các huyện khác, nếu không thể nằm chờ mười bữa,nửa tháng để được đi nhờ những chiếc xe tải chở hàng Nếu không, hình thứcchủ yếu đó là đi bộ [21,28]

Trang 32

Cũng như nhiều huyện khác ở miền núi Nghệ An, trước Cách mạngtháng Tám, ở Quỳ Hợp không có công trình thủy lợi nào do nhà nước thiết kếxây dựng hay nhân dân tự làm Cả người Thái lẫn người Thổ làm nương rẫythì dựa vào thiên nhiên và sức lao động của mình Năm nào mưa thuận gióhòa thì mới có cái để thu hoạch làm lúa nước thì phải dựa vào các nguồnnước tự chảy như sông suối.

Lợi dụng những khe suối, nhân dân và nhà nước đã thiết kế, xây dựngthành những công trình thủy lợi như hồ nước hay đập nước nhất là đập tràn đểlấy nước tưới tiêu cho đồng ruộng

Quan trọng nhất vẫn là vấn đề nước sinh hoạt cho nhân dân Trước đây,nguồn nước sinh hoạt chủ yếu của cư dân Quỳ Hợp được lấy từ các sông,suối, không hề qua xử lý Mùa khô, nước sông, suối trong xanh, hiền hoà,người dân chỉ việc gánh nước về đổ đầy các chum, vại dự trữ Nhưng đến mùamưa, dòng sông cuộn đỏ, đục ngầu, không còn cách nào khác, người dân phảidùng phèn chua thả vào những thùng nước đục để cặn bẩn lắng xuống rồi chắtlấy phần nước trong phía bên trên để dùng Có lẽ cách xử lý nước đặc biệt nhưvậy chính là nguyên nhân gây ra những bệnh dịch nghiêm trọng cho cư dânQuỳ Hợp trong những mùa mưa lũ

Tuy nhiên, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự chung tay gópsức của nhân dân trong toàn huyện để chinh phục thiên nhiên, lợi dụng và cảitạo thiên nhiên để phục vụ cuộc sống của mình cho nên các công trình lấy nướcsinh hoạt được xây dựng Đó là dạng đường ống, dạng bể chứa nước, dạnggiếng khoan

Vì địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi cao, đường đi lại khó khăn,khúc khuỷu nên việc xây dựng hệ thống đường dây tải điện hết sức khó khăn.Chính vì vậy, vấn đề điện khí hoá ở Quỳ Hợp thực hiện tương đối muộn Đếnnăm 1994, hơn 31 năm sau khi có quyết định thành lập, Quỳ Hợp mới hòa

Trang 33

vào dòng lưới điện quốc gia và đã phủ kín 7/21 xã (với 8683 hộ, bằng 42 %

số hộ trong huyện có điện dùng) Trước khi có điện lưới quốc gia, cũng nhưnhững bản làng vùng sâu vùng xa khác, nguồn sáng của cư dân Quỳ Hợp làđèn dầu hoặc điện máy phát nổ

Được thiên nhiên ưu đãi với nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, đặcbiệt là quặng thiếc, đá hoa cương, đá vôi, đất sét và nguồn nước khoáng tinhkhiết Nên ở Quỳ Hợp có những hoạt động công thương nghiệp có bước pháttriển rất nhanh Hệ thống thông tin liên lạc cũng có những bước cải tiến mới

Hệ thống hạ tầng xã hội được đầu tư xây dựng cơ bản Nếu như trướcnăm 1963, ở Quỳ Hợp chỉ có trụ sở của một số cơ quan ban ngành được xâydựng quy củ nhưng cũng chỉ ở quy mô cấp IV (ví dụ như trụ sở UBNDhuyện, phòng Giáo dục huyện, Trung tâm mậu dịch quốc doanh…) Hầu hếtnhà dân và các trường học, kể cả cơ quan của một số ban ngành cũng chỉ lànhà tranh, tre, nứa, lá tạm bợ

Trên địa bàn Quỳ Hợp sớm xây dựng hệ thống trường học hoàn chỉnhbao gồm nhà trẻ liên cơ, trường cấp I, trường cấp II, III Tuy nhiên cơ sở vậtchất của tất cả các trường này đều rất thiếu thốn dẫn đến chất lượng đào tạotrước khi thành lập huyện là rất thấp

Trong hơn 48 năm qua, được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và sựchung tay góp sức của nhân dân, hệ thống cơ sở hạ tầng của huyện Quỳ Hợpđược xây dựng đồng bộ (điện, đường, trường, trạm) Diện mạo huyện thay đổi

và từng bước được hiện đại hoá Tuy nhiên, ở một số công trình, trụ sở vẫncòn nhiều bất cập, chưa tương xứng và chưa đáp ứng được yêu cầu, tiêuchuẩn đề ra

1.2.3 Vài nét truyền thống văn hóa của nhân dân Quỳ Hợp

Trước tháng 4 năm 1963, Quỳ Hợp nằm trong huyện lớn Quỳ Châu vàmột phần huyện Nghĩa Đàn Vùng Quỳ Châu từ năm 1415 (tức năm Vĩnh Lạc

Trang 34

thứ XIII) có tên là Châu Quỳ Năm 1469, dưới triều vua Lê Thánh Tông,Châu Hoan và Châu Diễn được sát nhập thành Thừa tuyên Nghệ An gồm 9phủ, 25 huyện và 2 châu Vùng đất Châu Quỳ lập thành phủ Quỳ Châu baogồm 2 huyện: Trung Sơn, Thúy Vân Năm Minh Mệnh thứ 7 (1827), đổiTrung Sơn thành huyện Quế Phong, năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), trích đấtcủa 7 tổng huyện Quỳnh Lưu và một tổng huyện Yên Thành lập huyện NghĩaĐường thuộc phủ Quỳ Châu

Tên gọi Phủ Quỳ Châu, huyện Nghĩa Đàn tồn tại mãi đến Cách mạngTháng Tám 1945 Sau đó chính phủ ta bỏ cấp phủ và tổng, Phủ Quỳ Châuđược đổi thành huyện Quỳ Châu (cũ) bao gồm Quế Phong, Quỳ Châu, QuỳHợp ngày nay, còn huyện Nghĩa Đàn bao gồm cả Tân Kỳ hiện nay

Đến ngày 19 - 4 - 1963, Hội đồng chính phủ đã ra quyết định 52 - CP,phê chuẩn việc chia lại địa giới hành chính huyện Quỳ Châu, Anh Sơn, NghĩaĐàn thành 7 huyện mới Tên gọi huyện Quỳ Hợp được khai sinh từ đó

Trên địa bàn Quỳ Hợp chủ yếu có 3 dân tộc chính là Kinh, Thái, Thổsinh sống Trong lịch sử, các dân tộc ở Quỳ Hợp cùng với các dân tộc khácNghệ An kề vai sát cánh đoàn kết bên nhau, anh dũng kiên cường trong đấutranh chống kẻ thù chung của Tổ quốc, cần cù, sáng tạo trong lao động, xâydựng đất nước

Ngay từ thời xa xưa trên đất Quỳ Hợp có dấu tích của con người, điểnhình là sau khi phát hiện ra di tích Thẩm Ồm, các nhà khảo cổ học cho chúng

ta biết rằng, trên dải đất miền tây bắc Nghệ An này có người vượn mangnhững đặc điểm của người vượn hiện đại (cách ngày nay khoảng 20 vạn năm

Các bộ lạc người nguyên thủy còn để lại nhiều dấu tích qua các hiệnvật cổ đã được tìm thầy ở miền núi Nghệ An Ở Liên Hợp tìm thấy nhữngchiếc cuốc đá khá lớn, có chuôi tra cán và được mài rất đẹp Ở Thọ Hợp pháthiện được 3 chiếc rìu đá (cách ngày nay khoảng 3 ngàn năm)

Trang 35

Tháng 9 năm 1993, các nhà Sử học phát hiện ở hang Hổ xã Đồng Hợpmột cái hang có mái đá che dài 7 - 8m, với những hiện vật như dao găm đồng,rìu đuôi cá và rìu lưỡi xéo bằng đồng, rìu đá có vai, khuyên tay đá và đặc biệt

là bao tay Do những hiện vật đó rất giống với những hiện vật ở Làng Vạc Nghĩa Đàn nên nhà Sử học bước đầu đoán định rằng Hang Hổ là một di chỉvăn hóa tương đương với văn hóa Làng Vạc (thuộc nền văn hóa Đông Sơn,cách ngày nay trên 2000 năm)

-Tháng 11 năm 2002, dân địa phương tìm thấy một Hang Hổ ở xã ChâuĐình Những hiện vật tìm thấy trong hang này cũng tương tự như ở Hang Hổ

ở xã Đồng Hợp

Đặc biệt tại Quỳ Hợp, đồng bào địa phương đào được một số trốngđồng loại II Hê gơ ở xã Tam Hợp, Yên Hợp và xã Văn Lợi Theo các nhà sửhọc, trống đồng loại II Hê Gơ được chế tác muộn hơn trống đồng Đông Sơn

Tất cả những dẫn chứng kể trên chứng tỏ rằng trên vùng đất Quỳ Hợpxưa, người nguyên thủy đã từng sinh sống và chống chọi với thiên nhiên khắcnghiệt để tồn tại, phát triển qua nhiều thời đại ; đồng thời cũng khẳng định kỹthuật luyện kim tinh xảo thời đại đồ đồng và trình độ văn minh, khiếu thẩm

mỹ của người xưa trên xứ sở này

Trong thời kỳ chống giặc Phương Bắc xâm lược, các địa phương thuộchuyện Quỳ Hợp ngày nay cũng nằm trong vùng Diễn Châu, nơi mà Nhà Trầntrông cậy khi vận nước nguy nan Thế kỷ XIII, khi bước vào cuộc khángchiến vĩ đại chống quân xâm lược Nguyên - Mông khét tiếng hung ác, VuaTrần Nhân Tông đã nói: “Cối Kê cựu sự quân tu ký, Hoan Diễn do tồn thậpvạn binh”

Sang thế kỷ XV, trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược,đồng bào các dân tộc miền núi Nghệ An (trong đó có Quỳ Hợp) giúp nghĩaquân Lê Lợi, Nguyễn Trãi tạo nên chiến thắng vang dội:

Trang 36

“Trận Bồ Đằng sấm vang chớp dật Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay”.

Theo sử sách ghi lại, từ cuối năm 1423 chủ soái Lê Lợi cùng quân sưNguyễn Trãi theo hiến kế của tướng quân Nguyễn Chích kéo đại quân từThanh Hóa vào Nghệ An Hiện nay trên đất miền núi Nghệ An còn có nhiều

di tích của nghĩa quân Lê Lợi Riêng ở Tam Hợp - Quỳ Hợp có di tích BãiTập, Bãi Dinh, nơi trú quân và luyện tập của nghĩa quân Hiện nay vẫn còn lốimòn in dấu tích nghĩa quân qua lại, còn hồ Lò Rèn nước trong xanh mát bốnmùa; dưới hồ có những hòn đá mài rất tốt Ngày xưa đó là nơi nghĩa quân LêLợi maì đao kiếm Về hiện vật đã phát hiện một số lưỡi kiếm sắt, một bìnhđựng rượu bằng gốm của nghĩa quân Lê Lợi

Sang thế kỷ XVIII, cuộc khủng hoảng của xã hội phong kiến ngày cànggay gắt, kinh tế nông nghiệp bị đình đốn, hàng loạt nông dân bị phá sản Nạnđói kém mất mùa lại diễn ra liên tục và hà khốc Nông dân khởi nghĩa khắpnơi, nhất là ngoài Bắc Thời điểm đó Nhà Lê không giữ được rường mối, nhàTrịnh bạo nghịch uy hiếp vua, nhân dân điêu linh khốn khổ, một phong tràonhân dân đã nổi lên khởi nghĩa rầm rộ, khắp nơi ở Quỳ Hợp, đồng bào cácdân tộc Thái, Thổ tự giác đi theo đội quân của ông “vua áo đỏ” - Lê Duy Mậtđánh giặc

Năm 1788 Quang Trung lên ngôi hoàng đế Tuy nhiên vương triều TâySơn trị vì đất nước chưa được bao lâu thì năm 1802, Nhà Nguyễn Gia Longlên thay Trong thời gian Nhà Nguyễn, lúc đầu Gia Long còn dùng thổ quan,năm Minh Mệnh thứ 9 (1828) bỏ thổ quan và đặt tri huyện, nhưng đến năm

Tự Đức thứ 3 (1850) thì bỏ Tri huyện, bỏ cả lỵ sở, mọi việc đều do Tri phủkiêm lý Trong những năm vua Tự Đức trị vì (1848 - 1883) ở miền núi Nghệ

An có một sự kiện diễn ra tương đối dữ dội giữa người Thái và người Khơ

Mú mà ngày trước được gọi là người Xá Sách vở của chúng ta hiện nay ít đề

Trang 37

cập đến vì coi đó là mâu thuẫn dân tộc, không nhìn nó dưới con mắt là mâu

thuẫn giai cấp Việc này, sách “Đại Nam thực lục chính biên” tập 36 (Nxb

KHXH, Hà Nội, 1973)trang 93, 94 ghi:

“Tân Mùi (1871) giặc Xá ở hai hạt phủ Tưng, Phủ Quỳ ở Nghệ An cùng với đám giặc tàn của nhà Thanh thông đồng nhau lại quấy rối, quan lãnh binh Nguyễn Văn Chẩn, Phó quản cơ Trần Dậu nhiều lần đem binh dũng đón chặn ở làng Trình, làng Xui, làng Vàng bị trận vong, triều lệ truy tặng Chẩn làm Chưởng vệ, Dậu làm Tinh binh vệ úy và cấp cho tiền tuất, phong ấm cho một con Dậu, Chẩn vì khinh tiến nên đình việc ấm nhiêu; (nay) sai tỉnh thần chia quân đánh chúng để cho yên được địa phương”.

Dân tộc Khơ Mú vốn ở vùng Xiềng Đông và Xiềng Tông bên Lào Docác cuộc chiến tranh ngoại xâm trong lịch sử, do sự săn đuổi của các dân tộcmạnh hơn, đồng bào bị dồn lên dọc Trường Sơn rồi theo một người tù trưởngtên là Tạo Nhi tràn sang miền Tây Nghệ An để tìm đất sống Sang đây họ bịquân cờ vàng, cờ đen, tàn quân của những cuộc nổi dậy bên Trung Quốc lợidụng Nhất là bị một số địa chủ Thái xúi bẩy, đã gây thành cuộc chiến tranhđẫm máu Nhiều người tưởng rằng đây là cuộc chiến tranh giữa hai sắc tộc làThái và Khơ Mú ở miền núi Nghệ An Qua nhiều tài liệu cho thấy, lúc đầusang miền núi Nghệ An, người Khơ Mú cũng làm ăn tử tế vì vốn là một dântộc cần cù, chịu khổ, chịu khó Nhưng rồi họ bị địa chủ, quý tộc Thái ở QuỳChâu lúc này có sự phân hóa Từ năm 1850, nhà Nguyễn bỏ chế độ thổ quan,

bổ Tri Phủ, mọi viêc ở Phủ Quỳ Châu đều do Tri Phủ điều hành, họ Lo Kăm

ở Quế Phong không được thế tập làm Chẩu Mường Quỳ Châu nữa, chỉ đượclàm Chẩu Hua, cai quản đền Chín Gian mà thôi, họ Lang ở vùng Kẻ Bọn (ởvùng Quỳ Châu hiện tại) lớn mạnh Họ Lang này có người được triều đìnhnhà Nguyễn bổ làm tri phủ nên thế lực càng mạnh mẽ hơn Họ Lo Kăm thấtthế nên đã phát động cuộc bạo động chống lại Lúc đầu là trong nông dân

Trang 38

Thái ở Quế Phong, sau thấy người Khơ Mú sang tìm đất sống lại đang bịkhinh rẻ và bị bóc lột nặng nề, quý tộc họ này liền lợi dụng Lúc đầu là cuộcđấu tranh danh quyền lực giữa hai dòng họ, nhưng nông dân Khơ Mú và cảnông dân Thái vốn là những người xếp vào loại “cuông”, “nhốc” nên nó đãbiến thành cuộc đấu tranh giai cấp Bốc men trên lòng căm thù âm ỉ bấy lâunên ngọn lửa cuộc đấu tranh giai cấp bốc cao Nó đã thiêu cháy không chỉmột số quý tộc ở vùng Mường Miểng mà cả Mường Nọc, Mường Hin cuộcđấu tranh lan rộng cả vùng Quỳ Châu, cả vùng miền núi Nghệ An và kéo dàibảy, tám năm trời Quý tộc Thái ở Quế Phong, Quỳ Châu hiện tại phải chạydài, chạy mãi xuống Nghĩa Đàn, chạy vào vùng sâu của huyện Quỳ Hợp bâygiờ, tức là vùng Mường Choọng, Mường Ham, Mường Muồng

Ở Mường Choọng có đền Choọng Tại sao có đền Choọng? Đó lànhững năm loạn lạc nói trên, một số người Thái mà đa số là quý tộc Thái vàngười nhà của họ chạy xuống đây để trốn tránh loạn lạc kéo dài Người Thái ởđây không có nơi cúng tế Họ phải dựng một cái đền ở Mường Choọng đềthay thế cho đền Chín Gian ở Mường Nọc Trong đền cũng thờ các vị thần ởđền Chín Gian (Quế Phong) Thời gian, lễ tục, lễ vật cúng tế cũng như đềnChín Gian, có điều lễ vật ít hơn mà thôi Cho đến năm Quý Mùi (1883), triềuđình cử tỉnh thần Nghệ An đem binh lên dẹp mới yên Theo một số tài liệu,cuộc đấu tranh này nổ ra từ 1874 (giáp tuất), năm 1876 đền Choọng được xâydựng và những người Thái chạy loạn cũng về đây chín năm, họ cúng tế ở đềnChoọng bảy năm Quê hương yên bình, một số người trở về, một số ngườikhông trở về vì Mường Choọng và các mường khác ở vùng này đã trở thànhcác bản mường đông đúc

Trong cuộc đấu tranh ấy, lúc đầu phần thắng thuộc về người Khơ Mú,nhưng sau rồi cả người Khơ Mú và nông dân Thái đều thất bại Họ trở về bảnmường cũ, tiếp tục làm “cuông”, “nhốc” cho địa chủ, quý tộc Thái Còn người

Trang 39

Khơ Mú bị đẩy lên thượng nguồn dọc các khe suối trong rừng sâu núi thẳm ởQuế Phong (bên đường 48) và cả Kỳ Sơn, Tương Dương (bên đường số 7).Đến đây họ không còn điều kiện tổ chức lại thành những Prông tương ứng với

xã hội như hồi còn ở quê cũ nữa, mà phải ở rải rác thành từng bản nhỏ khoảng

5 - 7 nóc nhà sàn trên các sườn núi chênh vênh, có độ cao từ 800 - 1000mtheo lối mật tập hay hình vành khăn Xã hội người Khơ Mú bị lệ thuộc hẳnvào xã hội Thái Lang đao, chúa đất Thái coi họ là những người không quêhương xứ sở, không có bản có mường, giống như con sơn dương không baogiờ tắm nước vậy Nhưng bây giờ đi đến đâu ở miền núi Nghệ An, chúng tacũng nghe nói vết tích “giặc Xá” như còn vang những ngày oai hùng của họ

Năm 1885, Kinh thành Huế thất thủ, Hàm Nghi xuất bôn hạ chiếu cầnvương Được tin Hàm Nghi trên đường ra Bắc sẽ tới miền núi Nghệ An, một

số sỹ phu như phó bảng Phan Duy Phổ, cử nhân Hồ Đức Thạc, tú tài HồTrọng Miên, Hồ Trọng Hoán ở Quỳnh Lưu cùng với một số sỹ phu khác ởDiễn Châu, Yên Thành, Đô lương đi lên vùng núi Quỳ Châu để đón xa giá.Trong phong trào Cần Vương, Đốc Thiết, Đốc Hạnh theo chiếu Cần Vương

hô hào dân miền núi đứng dậy chống Thực dân Pháp Hai ông đã xây dựngcăn cứ ở vùng Pù Căm, Phà Đài, Đò Ham dọc theo sông Hiếu thuộc xã ChâuBình và Châu Yên bây giờ Đặc biệt ở xã Châu Cường có ông Lương CảnhBàng tập hợp quần chúng, lợi dụng những núi lèn hiểm trở để luyện tập nghĩaquân, tích trữ lương thực Ông đã chống nhau vài trận nhỏ với bọn ngoại xâm

và tay sai Nhưng vì thế cô nên thất bại

Vào cuối phong trào Cần Vương Nguyễn Quý Yêm vốn và ngườiQuỳnh Đôi, đỗ giải nguyên trường Nghệ khoa thi Hương năm Tự Đức thứ 35(1882) Ông được bổ làm huấn đạo huyện Nông Cống (Thanh Hóa) Nhậmchức chưa được bao lâu thì kinh thành thất thủ, ông bỏ quan hưởng ứngphong trào Cần Vương dưới sự lãnh đạo của Tống Duy Tân Vào năm 1891,

Trang 40

Tống Duy Tân giao cho ông gây dựng cơ sở phong trào Cần Vương ở NhưXuân và Quỳ Châu Nghệ An Tại Quỳ Châu, ông xây dựng cơ sở được mấynơi dọc đường 48 ở các xã Nghĩa Xuân, Minh Hợp, Đồng Hợp, Yên Hợp lênChâu Hội, Châu Bình Nhưng khi bị tên học trò là cao Ngọc Lễ phản bội,Tống Duy Tân bị bắt và bị giết ngày 15 - 10 - 1892 thì sau đó không lâu,Nguyễn Quý Yêm cũng bị bắt và xử tử.

Vào đầu thế kỷ XX, tư tưởng cứu nước theo xu hướng bạo động củaHội Duy Tân mà người đứng đầu là Phan Bội Châu ảnh hưởng đến Quỳ Hợp.Một cuộc khởi nghĩa của đồng bào dân tộc Thái đã âm thầm chuẩn bị và sắp

nổ ra ở vùng Khủn Tinh cũ mà cụ thể là ở bản Tổng Lôi

Bản Tổng Lôi thuộc chòm Lê Lợi, xã Khủn Tinh, nay thuộc xã ChâuCường Là một bản nhỏ ở phía đông nam huyện Quỳ Hợp nhưng lại gần bahuyện, phía nam gần huyện Tương Dương và huyện Con Cuông, phía đônggần huyện Tân Kỳ Rừng núi trùng điệp bao phủ cả vùng này Cư dân ở đây

có truyền thống chống phong kiến thực dân Trong bản, gia đình ông LươngVăn Bản và Lương Văn Cảng nghèo khó hơn cả Pháp đặt ách đô hộ lên đấtnước ta, nạn thuế má, phu phen đè nặng lên đầu cổ họ Đã thế tên đại lý đóng

ở Nghĩa Hưng, Nghĩa Đàn và tên đồn trưởng ở đông Quỳ Châu, hai tên thựcdân người Pháp này lại luôn bắt họ phải cống nộp những lâm sản quý Không

có hoặc chậm, chúng đánh đập và giam cầm rất giã man

Uất ức không chịu được, tháng 3 năm 1908 đời vua Duy Tân, ôngLương Văn Bản từ giã gia đình đi tìm gặp ông Lò Văn Ô ở bản Chiềng Xanhuyện Con Cuông để bàn cách đánh Pháp Được ông Lò Văn Ô đồng lòng,ông trở về Tổng Lôi bắt tay chuẩn bị

Để tuyên truyền vận động bà con có hiệu quả, nhân lúc nhân dân đangtập trung xem lễ hội Xăng Khan ở một gia đình, ông giả vờ lên đồng rồi phánbảo: “Ta là người ở mường trời xuống đây Trời bảo ta khổ là vì thằng Pháp

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Quang Ân (1997), Những thay đổi địa danh, địa giới các đơn vị hành chính 1945-1997, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thay đổi địa danh, địa giới các đơn vị hành chính 1945-1997
Tác giả: Nguyễn Quang Ân
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 1997
3. Vi Văn Biên (2006), Văn hoá vật chất của người Thái ở Thanh Hoá và Nghệ An, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá vật chất của người Thái ở Thanh Hoá và Nghệ An
Tác giả: Vi Văn Biên
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 2006
4. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 1996
7. Ninh Viết Giao (2008), “Tên bản mường và làng xã ở Nghệ An ”, Chuyên san KHXH và nhân văn Nghệ An, số 2, tr. 63-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên bản mường và làng xã ở Nghệ An"”, Chuyên san KHXH và nhân văn Nghệ An
Tác giả: Ninh Viết Giao
Năm: 2008
8. Huyện ủy huyện Quỳ Hợp (1967), Báo cáo tổng kết tình hình phong trào chung toàn huyện từ nhiệm kỳ đại hội khóa II lại nay và phương hướng nhiệm vụ của kế hoạch sắp tới, Tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy huyện Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình phong trào chung toàn huyện từ nhiệm kỳ đại hội khóa II lại nay và phương hướng nhiệm vụ của kế hoạch sắp tới
Tác giả: Huyện ủy huyện Quỳ Hợp
Năm: 1967
9. Huyện ủy huyện Quỳ Hợp (1973), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa VII tại Đại hội lần thứ VIII ngày 25 - 4 - 1973, Tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy huyện Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa VII tại Đại hội lần thứ VIII ngày 25 - 4 - 1973
Tác giả: Huyện ủy huyện Quỳ Hợp
Năm: 1973
10. Huyện ủy huyện Quỳ Hợp (1975), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa VIII tại Đại hội lần thứ IX, Tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy huyện Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa VIII tại Đại hội lần thứ IX
Tác giả: Huyện ủy huyện Quỳ Hợp
Năm: 1975
11. Huyện ủy huyện Quỳ Hợp (1977), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa IX tại Đại hội lần thứ X, Tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy huyện Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa IX tại Đại hội lần thứ X
Tác giả: Huyện ủy huyện Quỳ Hợp
Năm: 1977
12. Huyện ủy huyện Quỳ Hợp (1979), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa X tại Đại hội lần thứ XI, Tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy huyện Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa X tại Đại hội lần thứ XI
Tác giả: Huyện ủy huyện Quỳ Hợp
Năm: 1979
13. Huyện ủy huyện Quỳ Hợp (1982), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XI tại Đại hội lần thứ XII, Tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy huyện Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XI tại Đại hội lần thứ XII
Tác giả: Huyện ủy huyện Quỳ Hợp
Năm: 1982
14. Huyện ủy huyện Quỳ Hợp (1986), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XII tại Đại hội lần thứ XIII, Tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy huyện Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XII tại Đại hội lần thứ XIII
Tác giả: Huyện ủy huyện Quỳ Hợp
Năm: 1986
15. Huyện ủy huyện Quỳ Hợp (1989), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XIII tại Đại hội lần thứ XIV, Tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy huyện Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XIII tại Đại hội lần thứ XIV
Tác giả: Huyện ủy huyện Quỳ Hợp
Năm: 1989
16. Huyện ủy huyện Quỳ Hợp (1991), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XIV tại Đại hội lần thứ XV, Tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy huyện Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XIV tại Đại hội lần thứ XV
Tác giả: Huyện ủy huyện Quỳ Hợp
Năm: 1991
17. Huyện ủy huyện Quỳ Hợp (1996), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XV tại Đại hội lần thứ XVI, Tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy huyện Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XV tại Đại hội lần thứ XVI
Tác giả: Huyện ủy huyện Quỳ Hợp
Năm: 1996
18. Huyện ủy huyện Quỳ Hợp (2000), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XVI tại Đại hội lần thứ XVII, Tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy huyện Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XVI tại Đại hội lần thứ XVII
Tác giả: Huyện ủy huyện Quỳ Hợp
Năm: 2000
19. Huyện ủy huyện Quỳ Hợp (2005), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XVII tại Đại hội lần thứ XVIII, Tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy huyện Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XVII tại Đại hội lần thứ XVIII
Tác giả: Huyện ủy huyện Quỳ Hợp
Năm: 2005
20. Huyện ủy huyện Quỳ Hợp (2010), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XVIII tại Đại hội lần thứ XIX, Tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy huyện Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XVIII tại Đại hội lần thứ XIX
Tác giả: Huyện ủy huyện Quỳ Hợp
Năm: 2010
21. Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Quỳ Hợp (2004), Lịch sử huyện Quỳ Hợp, tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Văn phòng Đảng bộ Huyện Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử huyện Quỳ Hợp
Tác giả: Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Quỳ Hợp
Năm: 2004
22. Huyện ủy huyện Quỳ Hợp (2005), Văn kiện Đại hội Đảng bộ Huyện Quỳ Hợp lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2005-2010, tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Văn phòng Đảng bộ Huyện Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ Huyện Quỳ Hợp lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2005-2010
Tác giả: Huyện ủy huyện Quỳ Hợp
Năm: 2005
23. Huyện ủy huyện Quỳ Hợp (2010), Văn kiện Đại hội Đảng bộ Huyện Quỳ Hợp lần thứ XIX, nhiệm kỳ nhiệm kỳ 2010-2015, tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Văn phòng Đảng bộ Huyện Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ Huyện Quỳ Hợp lần thứ XIX, nhiệm kỳ nhiệm kỳ 2010-2015
Tác giả: Huyện ủy huyện Quỳ Hợp
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w