Nh đã đợc đề cập, ngay từ khi khởi đầu cơ chế thị trờng Thành phố Hồ Chí Minh đã điđầu trong việc th ơng mại hóa nhiều yếu tố "đầu vào" và "đầu ra" của quá trình sản xuất.Các hoạt động k
Trang 1KINH TẾ TP HCM TỪ 1991 ĐẾN NAYĐầu thập niên 1990, thành phố Hồ Chí Minh cùng cả nớc triển khai kế hoạch phát triển
kinh tế-xã hội 5 năm 1991-1995 với trọng tâm là tiếp tục thực hiện đờng lối đổi mới củaĐảng và Nhà nớc Để tạo điều kiện cho cơ chế thị trờng hoạt động hiệu quả, những nổlực xây dựng cơ chế-chính sách đợc tập trung vào hệ thống các công cụ quản lý kinh tế vĩ
mô và khung pháp lý Trong giai đoạn này, thành phố đã có bớc tăng trởng nhanh chóng
và khá ổn định Hầu hết các chỉ số kinh tế đều đã đợc cải thiện GDP trên địa bàn thànhphố tăng lên liên tục và đều ở mức hai chữ số (ngoại trừ 1991) Đặc biệt, tốt độ tăng tr-ởng năm sau đều cao hơn năm trớc và đạt đỉnh cao vào năm 1995 với mức 15,4% Bìnhquân giai đoạn 1991-1995, GDT tăng 12,6%/năm, trong đó công nghiệp đóng góp 7,1%vào tốc độ tăng trởng này, dịch vụ đóng góp 5,3% và nông-lâm-ng nghiệp đóng góp 0,2%Song song với mức độ tăng trởng cao, lạm phát đã dần dần đợc duy trì ở mức kiểm soátđợc Tốc độ tăng chỉ số giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ở Thành phố Hồ Chí Minh giảm
từ 58% năm 1990 xuống còn 23% năm 1992 và 13% năm 1995 Đây là một thành côngrất lớn trong công tác quản lý vĩ mô, góp phần làm ổn định tình hình kinh tế-xã hội
Từ đầu thập niên 1990, chính sách thuế luôn đợc thay đổi để phù hợp với thực trạng kinh
tế Mặc dù còn nhiều thiếu sót, nhng những cải cách thuế đã góp phần làm tỷ lệ thu ngânsách nội địa trên địa bàn thành phố so với GDP tăng lên từ 15% năm 1990 lên 20% năm
1993 và 25% năm 1995 Việc cải thiện công tác thu thuế cũng cho phép ngân sách khôngcòn hoàn toàn phải dựa vào đóng góp của các doanh nghiệp nhà nớc Trên thực tế, tỷ lệthu từ các doanh nghiệp nhà nớc trên tổng thu nội địa trên địa bàn thành phố giảm từ mức69% năm 1990 xuống chỉ còn 51% năm 1995 Trong khi đó, tỷ lệ đóng góp ngân sáchcủa khu vực ngoài quốc doanh (bao gồm t nhân trong và ngoài nớc và doanh nghiệp cóvốn đầu t nớc ngoài) tăng lên từ 19% năm 1990 lên 27% năm 1995 Chỉ ngân sách củaThành phố cũng có chuyển biến tích cực Tỷ lệ thờng xuyên trong tổng chi tăng lên từ14% năm 1990 lên 16% năm 1995
Trong các khu vực kinh tế, công nghiệp có tốc độ tăng trởng cao nhất Các chính sách cảicách kinh tế trong giai đoạn 1986-1989 về giá cả, thuế, tài chính và ngoại thơng đã bắtđầu phát huy tác dụng Tốc độ tăng trởng GDP công nghiệp bình quân thời kỳ 1991-1995
là 16,6%/năm Chiếm tỷ trọng 42% trong cơ cấu GDP vào năm 1995 Thế mạnh của côngnghiệp thành phố Hồ Chí Minh là công nghiệp chế biến, tăng trởng với tốc độ 17%/nămtrong cùng giai đoạn và cùng với ngành sản xuất và phân phối điện, nớc, khí đốt chiếmgần 30% giá trị tổng sản lợng công nghiệp của cả nớc Trong giai đoạn này, các sản phẩmcông nghiệp của thành phố ngày càng đợc đa dạng hóa với mẫu mã, bao bì và chất lợngtrở nên tốt hơn Nhiều sản phẩm công nghiệp chế biến không những đáp ứng nhu cầu củathành phố mà còn đợc tiêu thụ ở khắp các tỉnh, thành trong cả nớc và phục vụ xuất khẩu
Tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến trong xuất khẩu tăng từ 20,4% năm 1991 lên 48.4%năm 1995
Việc chuyển đội trọng tâm trong chính sách công nghiệp sang sản xuất hàng tiêu dùng vàhàng phục vụ xuất khẩu đã tạo chuyển biến trong cơ cấu nội bộ của ngành công nghiệpchế biến Các ngành công nghiệp nhẹ và sản xuất hàng tiêu dùng chiếm 84% giá trị sản l-
Trang 2ợng công nghiệp chế biến Những ngành có tốc độ tăng trởng nhanh nhất trong giai đoạn1991-1995 là may mặc (22%/năm), da giầy (21%/năm), in (29%), cao su và plastic(27%), sản xuất xe có động cơ (271%/năm).
Tuy diện tích canh tác bị thu hẹp do phát triển đô thị, sản xuất nông, lâm và ng nghiệpvẫn duy trì đợc nhịp độ tăng trởng bình quân 4,7%/năm Tuy nhiên, do có tốc độ tăng tr-ởng thấp hơn các khu vực kinh tế khác nên tỷ trọng trong GDP của khu vực này giảm dần
và đến năm 1995 chỉ còn 3% Trong thời gian từ 1991 đến 1995, nhiều vùng chuyên canhtập trung nh lúa, rau đậu cây công nghiệp hàng năm, hoa cây kiểng đợc hình thành Tỷtrọng chăn nuôi tăng dần từ 32% năm 1991 lên 35% vào năm 1995 Các công trình thủylợi kênh Đông, Hóc Môn-Bắc Bình Chánh bớc đầu đa vào khai thác đã có hiệu quả.25.000 ha rừng phòng hộ Cần Giờ, rừng lịch sử Củ Chi đợc bảo vệ và phát triển Theotinh thần Nghị quyết Trung ơng V, phát triển nông nghiệp đợc gắn kết với quá trình xâydựng nông thôn mới với việc triển khai các chơng trình xóa đói giảm nghèo, điện khí hóanông thôn và cung cấp nớc sạch
Cùng với đà tăng trởng của các ngành sản xuất vật chất, hoạt động dịch vụ cũng pháttriển mạnh, GDP dịch vụ tăng trởng với mức bình quân 10,1%/năm trong giai đoạn 1991-
1995 Đến năm 1995, khu vực này chiếm tới 56% GDP
Nh đã đợc đề cập, ngay từ khi khởi đầu cơ chế thị trờng Thành phố Hồ Chí Minh đã điđầu trong việc th ơng mại hóa nhiều yếu tố "đầu vào" và "đầu ra" của quá trình sản xuất.Các hoạt động kinh doanh phát triển mạnh, nâng cao vai trò trung tâm thơng mại quantrọng của cả nớc Thành phố có một mạng lới chợ đầu mối mà từ đó hàng hoá đợc đa vềtất cả các tỉnh, thành trong nớc và các quốc gia lân cận Sản xuất phát triển, dân số vàmức sống dân c gia tăng đã làm cho tổng mức hàng hóa bán ra tăng lên nhanh chóng(bình quân 55%/năm), trong đó bán buôn chiếm tới 61% tổng mức hàng bán ra
Hoạt động ngoại thơng trong giai đoạn này có rất nhiều đóng góp cho tăng trởng kinh tếcủa thành phố Có thể nói năm 1990, xuất khẩu của thành phố và của cả nớc gặp phảithách thức rất lớn khi thị trờng Đông Âu không còn nữa Nhng ngay sau đó, thành phố và
cả nớc đã chuyển nhanh chóng sang thị trờng châu á và Tây Âu Sự chuyển hớng nàycùng với các chính sách khuyến khích xuất khẩu đã góp phần làm cho kim ngạch xuấtkhẩu trên địa bàn tăng bình quân 19%/năm trong giai đoạn 1991-1995 Năm 1995, kimngạch xuất khẩu đạt gần 2,6 tỉ USD Là một nhập lợng quan trọng cho quá trình côngnghiệp hóa, nhập khẩu trên địa bàn cùng kỳ tăng lên rất nhanh, bình quân 24%/năm trongcùng giai đoạn Giá trị kim ngạch nhập khẩu năm 1995 đạt 2,9 tỷ USD, trong đó thiết bị
và nguyên liệu phục vụ cho sản xuất chiếm trên 80%
Rút kinh nghiệm từ sự sụp đổ của các tổ chức tín dụng trong các năm 1987-1989, thànhphố đã sớm chấn chỉnh thị trờng tài chính-tiền tệ, giải quyết các tồn tại ở các hợp tác xãtín dụng và mạnh dạn thành lập các ngân hàng thơng mại cổ phần Với chủ trơng chuyển
từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống hai cấp của Trung ơng vào giữa năm 1988
và việc thiết lập nhiều loại định chế tài chính, công ty bảo hiểm, , hoạt động tài chính tíndụng ngày một đa dạng và đã đáp ứng đợc phần nào yêu cầu phát triển của nền kinh tế.Tốc độ tăng trởng của ngành rất cao, bình quân 16% trong giai đoạn 1991-1995 Đây là
Trang 3xu hớng tích cực trong sự chuyển dịch cơ cấu nội tại của khu vực dịch vụ nhằm phát triểncác ngành dịch vụ cao cấp, phục vụ cho sự lớn mạnh của các ngành kinh tế khác và nângcao đời sống xã hội.
Ngoài việc nhìn nhận từ sự đóng góp của các khu vực kinh tế, sự tăng trởng kinh tế củathành phố trong giai đoạn này cũng có thể đợc xem xét trên khía cạnh đầu t Có thể nói,huy động và sử dụng vốn đầu t là một giải pháp lớn, mang tính chiến lợc cho công cuộcphát triển lâu dài
Vốn đầu t trên địa bàn thành phố gia tăng từ hai nguồn chính: tích lũy nội bộ bao gồmngân sách, tích lũy của các doanh nghiệp, tiết kiệm trong dân và nguồn vốn từ bên ngoàibao gồm các khoản đầu t trực tiếp theo Luật đầu t nớc ngoài, các khoản vay quốc tế vàcác khoản viện trợ Năm 1995, đầu t nớc ngoài chiếm đến 42% tổng đầu t, trong khi đầu
t t nhân chỉ chiếm 21% Cũng trong năm 1995, đầu t từ ngân sách và đầu t của doanhnghiệp nhà nớc chiếm tơng ứng 8% và 29% tổng đầu t Tỷ trọng đầu t XDCB trong GDPtăng từ 21% năm 1991 lên 33% năm 1995 Đầu t vào ngành công nghiệp chế biến chiếm44% tổng đầu t
Nhìn nhận từ góc độ các thành phần kinh tế, chúng ta cũng thấy đợc tính chất của sự tăngtrởng kinh tế thành phố trong giai đoạn này Từ khi có chính sách kinh tế mới, trên địabàn thành phố Hồ Chí Minh ba khu vực kinh tế là kinh tế quốc doanh, kinh tế t nhântrong nớc và khu vực có vốn đầu t nớc ngoài đã đợc hình thành
Tốc độ tăng trởng GDP bình quân của khu vực kinh tế quốc doanh trong giai đoạn
1991-1995 là 10%/năm Đến năm 1991-1995, khu vực này vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấuGDP nhng đã giảm dần từ 55% năm 1991 xuống còn 49% năm 1995 Trong công nghiệp,
tỷ trọng kinh tế quốc doanh trong giá trị sản xuất công nghiệp cũng giảm từ 72% năm
1990 xuống còn 60% năm 1995 Những năm 1991-1995 là giai đoạn mà các doanhnghiệp nhà nớc đợc sắp xếp và củng cố với mục tiêu nắm giữ các vị trí then chốt trongnền kinh tế Số lợng đợc giảm bớt thông qua sáp nhập và giải thể từ khoảng 1.200 năm
1991 xuống còn 826 đơn vị năm 1995 Trong khu vực quốc doanh, các doanh nghiệp doTrung ơng quản lý vẫn có tỷ trọng cao, chiếm khoảng 59% GDP của khu vực này vàonăm 1995 Tốc độ tăng trởng của quốc doanh Trung ơng cũng cao hơn quốc doanh địaphơng (11,5% so với 9,5% trong năm 1995) Nguyên nhân là do trong giai đoạn này cácdoanh nghiệp quốc doanh Trung ơng đợc đầu t chiều sâu về vốn kỹ thuật và nhân lực
Khu vực kinh tế t nhân trong nớc đã có những bớc phát triển rất ấn tợng từ khi các chơngtrình cải cách kinh tế đợc thực hiện vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 Tronggiai đoạn 1991-1995, GDP của khu vực t nhân thành phố Hồ Chí Minh tăng trởng với tốc
độ bình quân 10,8%/năm, cao hơn tốc độ tăng trởng của khu vực quốc doanh Đến năm
1995, tỷ trọng của khu vực này chiếm tới 76% lao động đang làm việc của thành phố
Có thể nói mặc dù có nhiều trở ngại đã đợc tháo gỡ nhng vào năm 1990 khu vực ngoàiquốc doanh vẫn còn rất nhiều các đơn vị kinh tế tập thể kém hiệu quả và các đơn vị kinh
tế cá thể dù năng động những thiếu vốn hoạt động một cách trầm trọng Việc ban hànhLuật công ty và Luật doanh nghiệp t nhân vào cuối năm 1990 đã cho ra đời hàng loạt
Trang 4doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần Các công ty cổpần đợc thành lập chủ yếu trong năm 1991-1992 còn công ty trách nhiệm hữu hạn vàdoanh nghiệp t nhân phát triển mạnh từ năm 1993 trở đi Đến năm 1995, trên địa bànthành phố Hồ Chí Minh có trên 4.400 đơn vị hoạt động theo các loại hình trên, trong đó
số lợng công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm tới 57% Tuy nhiên, mặc dù các loại hìnhdoanh nghiệp mới này tăng lên nhanh chóng, nhng các đơn vị kinh tế hộ gia đình vẫnchiếm tới 74% GDP của khu vực t nhân Điều đó cho thấy sự phát triển của khu vực tnhân phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả hoạt động của các đơn vị sản xuất nhỏ này
Sự tăng trởng kinh tế nhanh chóng của thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn
1991-1995 có sự đóng góp rất lớn của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài Hầu hết các doanhnghiệp có vốn đầu t nớc ngoài trong giai đoạn này đều ở dới hình thức liên doanh với cácdoanh nghiệp nhà nớc hay là 100% vốn nớc ngoài Không những phát triển nhanh mà cácdoanh nghiệp này còn kéo theo sự phát triển của các thành phần kinh tế khác Từ năm
1991 đến 1995, khu vực có vốn đầu t nớc ngoài tăng trởng với tốc độ bình quân68%/năm Đến năm 195, khu vực này đã chiếm 11% GDP và 18% tổng kim ngạch xuấtkhẩu của thành phố Phân tích kinh tế cho thấy "mức tăng GDP của thành phố Hồ ChíMinh sẽ thấp hơn nhiều so với mức tăng GDP đã đạt đợc nếu nh không có đầu t nớcngoài" Trong tốc độ tăng GDP bình quân 12,6%/năm trong giai đoạn 1991-1995, 4,3%
là do khu vực có vốn đầu t nớc ngoài đóng góp
Nh vậy, có thể nói những năm 1991-1995 là giai đoạn hoàng kim về tăng trởng kinh tếcủa thành phố Mặc dù trong thập niên 1980, thành phố Hồ Chí Minh có những nămthành công, tăng trởng mạnh, nhng cha bao giờ đạt tốc độ cao nh trong nửa đầu thập niên
1990 Thành phố và cả nớc đã thoát ra khỏi những khó khăn kinh tế trong các năm
1989-1991 Gần nh mọi hoạt động kinh tế đều sử dụng giá cả thị trờng Không những khu vực
t nhân mà cả khu vực quốc doanh cũng ngày càng phải tuân theo các tín hiệu của thị ờng Tốc độ tăng trởng kinh tế năm sau cao hơn năm trớc, đồng thời lạm phát đợc duy trì
tr-ở mức thấp Xuất khẩu và đầu t nớc ngoài cũng tăng nhanh, trtr-ở thành những động lựcquan trọng cho tăng trởng kinh tế Nhịp độ tăng trởng kinh tế nhanh chóng đã làm chođời sống của đại bộ phận nhân dân đã đợc nâng lên trong giai đoạn này GDP bình quânđầu ngời của Thành phố tăng từ 777 USD năm 1994 lên 1147 USD năm 1998 và đạt mức
1230 USD năm 1999
Tuy xét về mặt chính sách kinh tế, thì giai đoạn 1991-1995 không còn những quyết sách
"xé rào" mang tính đột phá nh thời kỳ trớc đó, nhng vẫn xuất hiện nhiều nhân tố tích cựccủa quan hệ kinh tế thị trờng Tuy nhiên, sự tăng trởng kinh tế với tốc độ cao, nhng chathật sự vững chắc Lạm phát tuy có đợc kiềm chế nhng vẫn xảy ra những cơn sốt giá, kể
cả đối với những loại vật t, hàng hóa thiết yếu cho sản xuất và đời sống nh: phân bón, ximăng, sắt thép, đờng Hệ thống tỷ giá hối đoái, lãi suất tiết kiệm và cho vay còn nhiềubất hợp lý cha khuyến khích đầu t phát triển sản xuất
Cải cách thuế cha đợc tiến hành đồng bộ với cải cách cơ chế bộ máy hành tu Phần lớnkhoản thu của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là dựa trên phơng pháp thỏa thuận mứcthuế giữa cơ quan thuế vụ với ngời chịu thuế Phơng pháp tính thuế vẫn là "phơng pháptiền kiểm", trong khi nếu áp dụng "phơng pháp hậu kiểm" thì sẽ hiệu quả hơn nhiều
Trang 5Thực tế phát triển kinh tế trong giai đoạn này cho thấy sự tăng trởng của công nghiệpthành phố vẫn chủ yếu theo chiều rộng, cha chú trọng đến đầu t chiều sâu, nâng cao chấtlợng sản phẩm Vì vậy, sức cạnh tranh hầu nh không đợc cải thiện nhiều Hơn thế nữa,trên phạm vi của cả vùng KTTĐPN, chính sách bố trí công nghiệp cha hợp lý; mối liênkết với các hệ thống cung ứng nhập lợng còn lỏng lẻo, mạng lới kinh doanh, hợp tácchiến lợc và chia sẻ thông tin giữa thành phố và các tỉnh trong vùng còn yếu kém Có thểnói các ngành kinh tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vẫn cha thật sự phát huy đợclợi thế so sánh và cạnh tranh của thành phố trong tổng thể sự phát triển kinh tế của vùngKTTĐPN.
Các ngành dịch vụ cao cấp dù đợc đề cập nhiều trên văn kiện, tài liệu nhng thực tế vẫncha có chuyển biến mạnh mẽ Các lĩnh vực tài chính-tín dụng, bu chính viễn thông, khoahọc-công nghệ vẫn còn chiếm tỷ trọng khá khiêm tốn, trong khi các dịch vụ buôn bánnhỏ và không chính thức lại có xu hớng tăng lên
Cũng chính vì những yếu kém mang tính cơ cấu này mà khi bị tác động của các yếu tốkinh tế bất lợi trong những năm sau, đà tăng trởng kinh tế của thành phố đã giảm mạnh,thậm chí còn giảm nhanh hơn so với mức bình quân của cả nớc
Năm 1996, tốc độ tăng trởng GDP của thành phố vẫn ở mức cao nhng đã giảm sút so vớinăm 1995 tuy rằng không nhiều (14,7% so với 15,3%) Tốc độ tăng trởng tiếp tục giảmxuống 12,1% năm 1997, 9,2% năm 1998 và ớc tính 6,2% năm 1999
Những hiện tợng này cho thấy kinh tế thành phố Hồ Chí Minh có chiều suy giảm trớc cảkhi có tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Bắc và Đông Nam á vào cuốinăm 1997 và đầu năm 1998 Điều đó cũng khẳng định rằng việc tăng trởng kinh tế chữnglại trớc hết là xuất phát từ những yếu kém trong nội bộ nền kinh tế
Sự suy giảm thể hiện rõ nét nhất trong hoạt động xuất khẩu và đầu t nớc ngoài Trongnăm 1998, hai lĩnh vực này bị tác động nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng tài chínhtrong khu vực Xuất khẩu năm 1997 không tăng, còn năm 1998 giảm 1,9% Trong khi đó,tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu những năm 1995 và 1996 đều trên 40% Tuy nhiên, mộtphần của sự giảm sút về tốc độ này là do xuất gạo và dầu thô giảm mạnh, chứ không phải
là các sản phẩm công nghiệp chế biến Đầu t nớc ngoài bắt đầu giảm từ năm 1996 và đếnnăm 1998, tổng số vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đăng ký trên địa bàn thành phố chỉ còn
906 triệu USD so với con số 2,3 tỷ USD trongnăm 1995 Do trong giai đoạn 1991-1995,xuất khẩu và đầu t nớc ngoài đóng góp rất lớn vào tăng trởng kinh tế nên sự suy giảm củahai khu vực này trong những năm gần đây là một trong những tác động chủ yếu làm giảmtăng trởng kinh tế Nhập khẩu trong năm 1998 cũng giảm 8,6% Do máy móc, thiết bị vànguyên vật liệu chiếm tới 88% kim ngạch xuất nhập khẩu, nhập khẩu giảm, ngoài nguyênnhân của việc áp dụng các biện pháp hạn chế, cũng là biểu hiện của sự trì trệ trong sảnxuất công nghiệp Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố giảm từ 17,8%năm 1996 xuống 13,1% năm 1997 và 12,5% năm 1998 Năm 1999, ớc tính tốc độ này chỉcòn khoảng 10,2% trong năm 1999
Trang 6Chỉ số giá tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tăng chậm lại Tại thành phố Hồ Chí Minh, mứclạm phát năm 1997 chỉ bằng 2,4% Năm 1997 con số này tăng lên 9% nhng dự kiến năm
1999 chỉ ở mức 1,6% Đặc biệt là chỉ số giá lại giảm đi trong những tháng cuối năm
1999 Tuy nhiên, lạm phát thấp chủ yếu là do giá lơng thực giảm Trong khi giá các hạngmục không giảm và vẫn tăng Giá lơng thực ớc tính giảm 10% trong năm 1999 Sức muacủa nông dân vì vậy bị giảm mạnh làm cho nhu cầu đối với hàng công nghệ phẩm và dịch
vụ của thành phố cũng bị suy yếu đi Lạm phát thấp và cung vợt cầu còn đợc thể hiện ởtổng mức hàng hóa bán ra Tốc độ tăng mức hàng hóa bán ra sau khi đã điều chỉnh lạmphát giảm từ 15,9% năm 1996 xuống 5,6% năm 1997 và -2,4% năm 1998
Tổng vốn đầu t trên địa bàn năm 1999 ớc tính cũng giảm đến 21% so với năm 1998 Sựgiảm sút đầu t này, ngoài một phần là do đầu t nớc ngoài giảm mạnh (giảm 47%), còn docác doanh nghiệp cha mạnh dạn vay vốn phát triển sản xuất khi triển vọng kinh tế chachắc chắn Hơn thế nữa, nhiều doanh nghiệp cha chọn đợc hớng đầu t hiệu quả và cha tìmđợc thị trờng Lãi suất danh nghĩa đã đợc điều chỉnh xuống nhiều lần, nhng do lạm phátgiảm mạnh hơn nên lãi suất thực vẫn cao hơn so với mức năm 1998
Những năm gần đây cũng là thời kỳ khu vực quốc doanh ngày càng bộc lộ nhiều yếukém Các doanh nghiệp nhà nớc, mặc dù có nhiều vốn và lao động có trình độ chuyênmôn cao hơn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nớc nhng lại có tỷ lệ làm ăn thua
lỗ cao Trong năm 1999, công nghiệp quốc doanh đợc ớc tính có tốc độ tăng trởng thấpnhất (7,5% so với mức 8,2% của khu vực ngoài quốc doanh và 23% của khu vực có vốnđầu t nớc ngoài) Sự hoạt động kém hiệu quả của các doanh nghiệp không những trực tiếplàm giảm tăng trởng kinh tế chung mà còn tác động xấu đến các khu vực kinh tế khác Ví
dụ nh làm tăng tỷ lệ nợ quá hạn trong hệ thống ngân hàng và chiếm lợng lớn tín dụngtrong nền kinh tế, mà đáng lý ra có thể đợc cung cấp cho khu vực t nhân có hiệu quả hơn.Mặc dù có nhiều nỗ lực trong củng cố và sắp xếp lại doanh nghiệp, cổ phần hóa và sắ xếplại doanh nghiệp nhà nớc, những hoạt động này còn tiến triển chậm Từ khi chơng trình
cổ phần hóa đợc thí điểm tại thành phố vào năm 1993, đến cuối năm 1999 thành phố mớichuyển đợc 38 doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần Việc bán, khoán và cho thuêdoanh nghiệp nhà nớc vẫn cha đợc triển khai thực hiện
Trong những năm 1996-1999, khu vực kinh tế t nhân, mặc dù đợc hoạt động trong môi ờng pháp lý thuận lợi hơn so với giai đoạn trớc lại gặp phải môi trờng kinh tế khôngthuận lợi Do nhu cầu nội địa giảm nên doanh thu và lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp tnhân tại thành phố hầu nh không tăng và trong nhiều trờng hợp còn giảm đi Đặc biệttrong thời gian này đã diễn ra các vụ án chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa rất nghiêmtrọng liên quan đến các doanh nghiệp t nhân có quy lớn của thành phố Hồ Chí MinhChức năng trung gian tài chính các ngân hàng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vẫncha đợc thực hiện một cách có hiệu quả Tình hình chung là vốn bị ứ đọng trong ngânhàng, không cho vay đợc Tỷ lê nợ quá hạn trong cơ cấu cho vay của ngân hàng thơngmại gia tăng liên tục tính từ năm 1993 đến 1998
tr-Một phần nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là tỷ trọng các khoản cho vay của các ngânhàng thơng mại quốc doanh đợc dành cho các doanh nghiệp nhà nớc vẫn ở mức rất cao
Trang 7(67% năm 1998), trong khi nhiều doanh nghiệp nhà nớc đang làm ăn thua lỗ, không cókhả năng thanh toán nợ đáo hạn Điều đó cho thấy cải cách hệ thống ngân hàng quốcdoanh cần phải đợc tiến hành song với cải cách doanh nghiệp nhà nớc Các ngân hàng cổphần nói chung đều có quy mô hoạt động nhỏ và sức cạnh tranh yếu Ngợc lại các ngânhàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nớc ngoài có hoạt động và khá ổn định với tỷ lệquá hạn luôn dới mức 4% tổng d nợ Tỷ lệ cho vay trung hạn của các ngân hàng này cũngcao hơn nhiều so với các ngân hàng thơng mại quốc doanh và cổ phần.
Những biện pháp kích cầu đầu t thực hiện trong thời gian này vẫn cha phát huy tác dụng.Thực tế cho thấy khó có thể thực hiện đợc những khối lợng đầu t lớn trong thời gian ngắn
mà lại có hiệu quả cao Ngay cả một số công trình trọng điểm về cơ sở hạ tầng đã đ ợc bốtrí kế hoạch nhng triển khai chậm do gặp khó khăn vớng mắc về di dời, giải tỏa hoặc phátsinh khối lợng, thay đổi thiết kế phải trình duyệt lại
Trớc tình hình khó khăn trên, trong năm 1999 nhiều cải cách kinh tế mới đã đợc thựchiện và tình hình kinh tế đã có một số nét khả quan Giá trị xuất khẩu trên địa bàn năm
1999 tăng 23,7% theo ớc tính ban đầu Nếu loại trừ kim ngạch xuất khẩu dầu thô và gạothì tốc độ tăng chỉ còn 8,2%, nhng vẫn là một con số rất thuyết phục so với con số âmtrong năm 1998 Sự gia tăng xuất khẩu này một phần là do các nớc trong khu vực đã dầndần phục hồi sau khủng hoảng và nhu cầu đối với hàng xuất khẩu Việt Nam đã tăng trởlại, một phần là do quyền xuất khẩu trực tiếp của các doanh nghiệp đã đợc giải phóng.Các doanh nghiệp đã đợc xuất và nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng ghi trong giấy phépkinh doanh Thậm chí các đơn vị xuất khẩu cũng có thể xuất khẩu các mặt hàng khôngghi trong giấy phép kinh doanh
Luật doanh nghiệp đợc Quốc hội thông qua thống nhất khuôn khổ pháp lý đối với nhiềuloại hình doanh nghiệp, nhng có tác động nhiều nhất tới các doanh nghiệp t nhân Luật đãđơn giản hóa rất nhiều thủ tục thành lập cho các doanh nghiệp t nhân đồng thời cũng chophép các doanh nghiệp đợc linh hoạt hơn trong huy động vốn và kinh doanh Tuy nhiên,việc Luật này có thật sự tạo động lực cho sự phát triển của khu vực t nhân tại thành phố
Hồ Chí Minh hay không còn phụ thuộc vào hiệu quả của việc thi hành trên thực tế
Các doanh nghiệp nhà nớc tiếp tục đợc phân loại làm cơ sở để đa ra các biện pháp tái cơcấu vốn và cải cách lề lối quản lý kinh doanh Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 1999
đã thành lập Quỹ hỗ trợ cổ phần hóa nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp cổ phần hóa và đẩynhanh quá trình này Bên cạnh các nỗ lực cổ phần hóa, khuôn khổ pháp lý cho việc giao,bán khoán và cho thuê doanh nghiệp nhà nớc cũng đang đợc Chính phủ hoàn thiện
Hệ thống ngân hàng cũng là một trọng tâm của cải cách trong các năm 1998-1999 Các
nỗ lực tái cơ cấu ngân hàng đợc tập trung vào các ngân hàng thơng mại cổ phần củathành phố Hồ Chí Minh Một số ngân hàng đã đợc sát nhập, giải thể hay đợc đặt dới sựkiểm soát hay giám sát đặc biệt của Ngân hàng Nhà nớc Các ngân hàng thơng mại quốcdoanh cũng đợc rà soát lại về tình hình tài chính Các quy định về quản lý rủi ro cũng đãđợc ban hành Xu hớng sắp tới là hạn chế và dần tới loại bỏ hoạt động cho vay theo chỉđạo hành chính và hớng tới mục tiêu thơng mại
Trang 8XUÂT NHẬP KHẨU
Mở rộng ngoại thơng
Sau ngày giải phĩng, thống nhất đất nớc, thực hiện cơ chế quản lý tập trung, bao cấp,hoạt động ngoại thơng là do Nhà nớc độc quyền Trong thời kỳ này quan hệ ngoại thơngchủ yếu đợc tiến hành với các nớc XHCN Quan hệ ngoại thơng này mang tính trao đổinội bộ trong khối SEV (Hội đồng Tơng trợ Kinh tế của các nớc XHCN), nhằm giúp đỡlẫn nhau giữa các nớc XHCN và chủ yếu thực hiện thơng qua các hiệp định ký kết giữacác chính phủ Mặc dù trong thời kỳ này, Thành phố đã cĩ nhiều cố gắng để sản xuất vàthu mua phục vụ xuất khẩu nhng do tình trạng khĩ khăn của nền kinh tế lúc bấy giờ nênkim ngạch xuất khẩu cịn rất nhỏ bé Do xuất khẩu khĩ khăn nên nhập khẩu cũng hạn chế,một phần lớn là nhận viện trợ từ các nớc XHCN Hàng xuất khẩu trong thời kỳ này chủyếu là một số loại nơng sản và một số hàng thủ cơng mỹ nghệ, tiểu thủ cơng nghiệp Nhìnchung, giai đoạn những năm sau ngày giải phĩng là thời kỳ mà hoạt động ngoại thơngcủa Thành phố trì trệ, thụ động do cơ chế kế hoạch hĩa tập trung, bao cấp tạo ra
Bớc vào đầu những năm 80, cùng với chính sách "bung sản xuất" của khu vực kinh tếtrong nớc, thì trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại quan điểm về độc quyền ngoại thơng củaNhà nớc cũng cĩ những thay đổi và đợc mở rộng Số lợng các đơn vị tham gia xuất nhậpkhẩu tăng lên và đặc biệt là bắt đầu mở rộng hoạt động ngoại thơng với thị trờng khu vực
II (các nớc ngồi phe XHCN) Tại Thành phố, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phốlần II (1980) đã xác định: "phát triển mạnh xuất khẩu tơng xứng với tiềm năng, vị trí vàyêu cầu phát triển của thành phố là một trong những trung tâm giao dịch lớn của cả nớc
cĩ chính sách huy động các nguồn vốn trong nớc kể cả t bản nớc ngồi để gĩp phầntham gia xuất nhập khẩu và xây dựng thành phố Cĩ chính sách sử dụng thỏa đáng lựclợng tại chỗ trớc đây cĩ mối quan hệ chặt chẽ và cĩ tín nhiệm với thị trờng t bản chủnghĩa, cĩ kinh nghiệm tổ chức sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu" Cĩ thể nĩi, ngay
từ đầu, các cấp lãnh đạo Thành phố đã nhận thấy thế mạnh giao dịch quốc tế của Thànhphố, với những lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống hạ tầng, đội ngũ doanh nhân cĩ kinhnghiệm giao dịch quốc tế đã thể hiện quyết tâm phát triển Thành phố thành một trongnhững trung tâm giao dịch quốc tế quan trọng nhất nớc Nghị quyết 01 của Bộ Chính trị(năm 1982) đã khẳng định vai trị trung tâm về giao dịch quốc tế của Thành phố và nhấnmạnh tiềm năng to lớn về xuất nhập khẩu của Thành phố đã tạo điều kiện hơn nữa choThành phố chủ động, sáng tạo trong việc thúc đẩy phát triển lĩnh vực này Từ năm 1980đến năm 1986, hoạt động ngoại thơng của Thành phố bắt đầu khởi sắc Từ năm 1980,thực hiện chủ trơng cho phép các địa phơng tham gia xuất nhập khẩu trực tiếp, Thànhphố đã tiến hành thành lập một số cơng ty chuyên về xuất nhập khẩu và ngồi nghĩa vụgiao nộp hàng xuất khẩu cho Trung ơng, Thành phố đã chủ động mở rộng hoạt động xuấtkhẩu của mình Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 24,7 triệu rúp/USD năm 1979 lên 130,8triệu rúp/USD năm 1982 Kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh gĩp phần tăng khả năng nhậpkhẩu đáp ứng nhu cầu nhập khẩu vật tự, máy mĩc, thiết bị mà Thành phố đang rất cần.Thành phố bắt tăng cờng hợp tác với các tỉnh để tạo nguồn hàng xuất khẩu Trong quan
hệ ngoại thơng, ngồi các nớc XNCH anh em truyền thống, Thanh phố đã bắt đầu cĩquan hệ ngoại thơng với các nớc khác nh ấn Độ, Châu Phi, Châu Mỹ-Latinh Cùng vớihoạt động ngoại thơng, các hoạt động về vận tải biển, kiều hối cĩ bớc phát triển mạnh
Trang 9Nhìn chung hoạt động ngoại thơng trên địa bàn đã có bớc khởi sắc nhng hoạt động nàychỉ thực sự phát triển mạnh sau Đại hội Đảng lần thứ VI với chính đổi mới kinh tế toàndiện, trong đó có lĩnh vực ngoại thơng.
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, với nhiều chính sách mới thể hiện bằng các nghị định,quyết định của Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ) đã tạo cơ sở pháp lý cho các đơn vịkinh tế có khả năng chủ động đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu Khái niệm "Nhà nớcđộc quyền ngoại thơng" đã dần dần mờ nhạt Các thành phần kinh tế đã từng bớc có thểtrực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào các hoạt động ngoại thơng Một lần nữa thành phố
là nơi đi đầu trong việc thực hiện chính sách này Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ IV(1986) đã xác định xuất nhập khẩu là mũi nhọn chiến lợc của kinh tế Thành phố Đầu tiên
là thực hiện các chơng trình sản xuất lớn (sản xuất lơng thực thực phẩm, sản xuất hàngtiêu dùng, và sản xuất hàng xuất khẩu) Có thể nói sản xuất hàng xuất khẩu đã tăng rấtnhanh sau năm 1986 Mặc dù vào cuối những năm 80 đầu 90, thị trờng khu vực I (cácnớc XHCN) đã giảm đột ngột nhng nhờ sự chuyển hớng sang quan hệ với thị trờng cácnớc khu vực II (ngoài XHCN) nên kim ngạch xuất khẩu của thành phố chẳng nhữngkhông giảm mà còn tăng Kim ngạch xuất khẩu năm 1987 tăng 50% so với năm 1986,kim ngạch năm 1989 tăng 102% so với năm 1988 và các năm sau 1990 có tốc độ tăng rấtcao Chỉ tính riêng kim ngạch xuất khẩu địa phơng thì kim ngạch xuất khẩu của Thànhphố năm 1990 là 372 triệu rúp/USD, năm 1992 là 464 triệu rúp/USD (nếu tính trên địabàn thì năm 1992 xuất khẩu của Thành phố là 1.550 triệu USD, chiếm 41,5% tổng kimngạch xuất khẩu của cả nớc) Từ chỗ chỉ có quan hệ với các nớc thuộc khối XHCN, cácdoanh nghiệp của thành phố đã thiết lập quan hệ buôn bán với nhiều nớc và vùng lãnh thổkhác nh: Singapore, Hongkong, Pháp, Nhật, Đài Loan, Thái Lan và đây là những nớctrở thành đối tác quan trọng về thơng mại và đầu t sau này Đến đầu những năm 90, hơn60-70% kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp Thành phố là xuất khẩu sang các thịtrờng này Nhập khẩu trong thời kỳ này cũng tăng mạnh để đáp ứng nhu cầu sản xuất vàtiêu dùng trong nớc đang tăng nhanh
Kể từ năm 1992, Trung ơng đã ban hành một số chính sách khuyến khích hơn nữa hoạtđộng ngoại thơng Trớc hết là Nghị định 114/HĐBT ngày 7/4/1992 và sau đó là Nghịđịnh 33/CP ngày 19/4/1994 tạo ra sự thông thoáng, mở rộng quyền trực tiếp xuất khẩucủa các doanh nghiệp Gần đây nhất Chính phủ đã ban hành Nghị định 57/1998/NĐ-CPngày 31/7/1998 về việc quy định chi tiết thi hành Luật thơng mại, theo đó cho phép tất cảcác doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có thể tham gia xuất khẩu trực tiếp(theo ngành hàng đã đăng ký trong giấy phép kinh doanh mà không cần xin phép BộThơng mại mới có chức năng xuất nhập khẩu nh trớc đây) Những chính sách mới này đãthúc đẩy rất lớn hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn Chẳng hạn nh trong năm 1999,mặc dù chịu tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế các nớc khu vực, nhng một phần
do tác động của chính sách mới nên kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Thành phố tăng23,7% so với năm 1998
Hoạt động xuất nhập khẩu của Thành phố đến cuối năm 1999, có thể đợc tổng kết nh sau:Tốc độ tăng trởng xuất khẩu thời kỳ 1993 - 1999 trên địa bàn là 18,4%/năm Đây là tốc
độ tăng trởng khá cao nếu so với cả nớc và so với các nớc phát triển hớng vào xuất khẩu
Trang 10Kim ngạch xuất khẩu đã tăng từ 1.655 triệu USD năm 1993 lên 4.599 triệu USD vào năm
1999 Tuy nhiên cũng cần nhìn nhận là một lợng lớn hàng xuất khẩu trên địa bàn thựcchất là do các địa phơng khác sản xuất Thành phố Hồ Chí Minh với lợi thế về cảng quốc
tế nên là nơi trung chuyển hàng hóa cho các địa phơng khác Rất nhiều các mặt hàngnông sản và khoáng sản xuất khẩu Thành phố đóng góp rất ít vào giá trị gia tăng của cácmặt hàng này Tốc độ tăng trởng nhập khẩu thời kỳ 1993 - 1999 trên địa bàn là20,7%/năm Mặc dù có tốc độ tăng cao ở những năm trớc đây, nhng thời gian gần đâynhập khẩu trên địa bàn có xu hớng tăng thấp hơn xuất khẩu Nếu xét trên địa bàn thì kimngạch xuất khẩu hiện nay đã vợt kim ngạch nhập khẩu (năm 1999, xuất: 4.599 triệu USD,nhập: 3.368 triệu USD)
Về cơ cấu kim ngạch xuất nhập khẩu, cũng đã có sự chuyển dịch đáng kể trong thời gianhơn 10 năm qua Nếu trớc đây xuất khẩu chủ yếu là các mặt hàng nông sản thô và nôngsản chế biến, và một số hàng thủ công, mỹ nghệ thì nay xuất khẩu của Thành phố chủ yếu
là hàng công nghiệp Theo số liệu thống kê thì đến năm 1999, xuất khẩu hàng côngnghiệp, không kể dầu khí, chiếm khoảng 60% tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn.Còn lại là các hàng nông sản, hải sản, và lâm sản Việc thay đổi cơ cấu này là tích cực, nóphản ánh đúng lợi thế so sánh của Thành phố Nếu nh thời kỳ đầu đổi mới, thành phố chủyếu là đầu mối xuất khẩu cho các tỉnh về các mặt hàng nông sản, hải sản, là lâm sản thìnay các tỉnh có khả năng tự chế biến và xuất khẩu và nh vậy thành phố cần phải đi vàophát triển các ngành công nghiệp khác dựa trên u thế về kỷ thuật, lao động có kỹ năng, hạtầng kỹ thuật tốt, Tuy nhiên hiện nay xuất khẩu hàng công nghiệp của Thành phố chủyếu tập trung vào các ngành thâm dụng lao động nh may mặc (585 triệu USD năm 1999),giày dép (219 triệu USD năm 1999) Xuất khẩu xác sản phẩm có hàm lợng công ngệ caobớc đầu đã xuất hiện nhng chủ yếu là ở các khu chế xuất vàmột số công ty có vốn đầu tnớc ngoài Nhng sản xuất của các đơn vị có vốn đầu t nớc ngoài này phụ thuộc phần lớnvào nguyên liệu cung cấp từ công ty mẹ ở nớc ngoài, phần giá trị gia tăng trong nớc chủyếu là công lao động Hiện nay thành phố đang cố gắng khuyến khích sự liên kết nhiềuhơn nữa giữa các đơn vị trong và ngoài khu chế xuất, khu công nghiệp để thúc đẩy sựkhuyếch tán về công nghệ, quản lý vào nền kinh tế nội địa Về nhập khẩu, thì hiện nayphần lớn nhập khẩu là máy móc, thiết bị và nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất Nhậpkhẩu để tiêu dùng trực tiếp hiện chiếm tỉ lệ rất thấp (5,6% năm 1999) Do vậy, với xuhớng giảm nhập khẩu gần đây do một số chính sách thắt chặt nhập khẩu (nh tín dụng,ngoại hố ) cha phải là tích cực Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận là một lợng lớn nhậpkhẩu dới dạng nguyên nhiên vật liệu thực chất là nhập khẩu tiêu dùng (bởi vì chỉ cầnthêm một vài thao tác lắp ráp trong nớc là có thể tiêu dùng) Nhìn chung thì địa bàn TP
Hồ Chí Minh là một địa bàn nhạy cảm về các loại hàng hóa, ngoại hối nhng trong thờigian qua do xuất khẩu tăng trởng nhanh nên đã góp phần ổn định đợc thị trờng, đáp ứng
cơ bản nhu cầu ngoại tệ để phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nớc, đã không còn xảy ranhững thiếu hụt nghiêm trọng, gây đột biến về giá cả nh trớc đây
Về cơ cấu thị trờng xuất nhập khẩu, nếu trớc đây quan hệ ngoại thơng chủ yếu là với cácnớc thuộc khối SEV thì sang những năm 90 này quan hệ ngoại thơng phần lớn là với cácnớc công nghiệp phát triển và với các nớc ở khu vực Đông Bắc á và Đông Nam á Việc
mở rộng nhanh chóng thị trờng Liên Xô cũ và Đông Âu trớc đây Trong những năm qua,hai thị trờng Đông Bắc á và Đông Nam á luôn chiếm khoảng 60-70% kim ngạch xuất
Trang 11khẩu cũng nh nhập khẩu của Thành phố Nhật là thị trờng quan trọng nhất của TP Hồ ChíMinh hiện nay, trung bình chiếm khoản 30% kim ngạch xuất khẩu của thành phố Hiệntại, xuất khẩu của thành phố vẫn cha vào nhiều ở thị trờng Bắc Mỹ, một phần là do giữaViệt Nam và Mỹ cha ký hiệp định thơng mại nên hàng hóa Việt Nam còn phải chịunhững bất lợi thế so với hàng hóa các nớc khác Thị trờng Mỹ là thị trờng còn nhiều tiềmnăng mà xuất khẩu của thành phố có thể khai thác một khi mà hiệp định thơng mại Việt -
Mỹ đợc ký kết
Qua hiện trạng xuất khẩu trên địa bàn TP Hồ Chí Minh thời gian qua, mặc dù đã đợc một
số thành tựu nhất định nhng cũng đã bộc lộ vấn đề cần phải giải quyết để thúc đẩy tăngtrởng xuất khẩu bền vững nói riêng, và thúc đẩy tăng trởng kinh tế và tiến trình côngnghiệp hóa thành phố trong thời gian tới nói chung:
Thứ nhất, cần đa dạng hóa hơn nữa các mặt hàng xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu trênđịa bàn hiện thời chủ yếu tập trung một số mặt hàng nh: gạo, cà phê, cao su, dầu thô,hàng may mặc, giày dép Sự phụ thuộc vào một số ít mặt hàng làm cho thu nhập xuấtkhẩu không ổn định, nhất là đối với hàng nông sản và khoáng sản do giá cả thờng biếnđộng lớn
Thứ hai, cần đa dạng hóa thị trờng xuất khẩu Xuất khẩu tập trung vào một số nớc Đông á
nh hiện nay sẽ dễ gặp bất lợi khi các nớc này xảy ra các biến động kinh tế hay chính sáchmậu dịch của họ thay đổi Một tác động rõ nét là cuộc khủng hoảng kinh ế khu vực làmcho thị trờng xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh thu hẹp lại, nhu cầu nhập khẩu cácnớc trong khu vực giảm mạnh trong năm 1998
Thứ ba, cần có sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu sang lĩnh vực công nghiệp chế biến.Ngoài các xí nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, xuất khẩu trên địa bàn TP Hồ Chí Minh hiệnnay chủ yếu vẫn là nông sản, khoáng sản, và một số mặt hàng công nghiệp thâm dụng laođộng Với vị trí trung tâm về nhiều mặt, nhất là thế mạnh về khoa học - kỹ thuật, đội ngũlao động chất xám Thành phố cần đi tiên phong vào các ngành kỹ thuật cao, các ngànhcông nghiệp hiện đại, mà mục tiêu phát triển là làm sao có thể cạnh tranh trên thị trờngthế giới Điều này có ý nghĩa quyết định trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóacủa TP, trong điều kiện khu vực hóa và toàn cầu hóa nhanh chóng nh hiện nay Yừu tốchính quyết định sự thành công của chiến lợc công nghiệp hóa hớng vào xuất khẩu vàđẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến
Thứ t, cần có sự liên kết giữa các khu vực kinh tế để đẩy mạnh xuất khẩu Xuất khẩu củakhu vực có vốn đầu t nớc ngoài trên địa bàn đang gia tăng nhanh chóng Đây là mộtthuận lợi lớn cho kinh tế thành phố Tuy nhiên, hiện nay sự liên kết (backward linkages)giữa khu vực kinh tế này với khu vực kinh tế trong nớc còn thấp Các xí nghiệp có vốnđầu t nớc ngoài sản xuất hàng xuất khẩu chủ yếu khai thác lao động rẽ, còn hầu hết cácloại nguyên vật liệu là nhập khẩu Nếu các đơn vị kinh tế trong nớc gắn kết đợc với cácđơn vị đầu t nớc ngoài để cung cấp nguyên vật liệu, dịch vụ cho họ thì đây sẽ là một hìnhthức xuất khẩu tại chỗ Theo "mô hình đàn sếu bay" về kinh tế Đông á thì thực chất củađầu t nớc ngoài trong khu vực Đông á hiện nay là quá trình tái phân công lao động từphạm vi quốc gia ra phạm vi khu vực, bằng cách dịch chuyển các ngành công nghiệp
Trang 12không còn lợi thế cạnh tranh ở các nớc có trình độ cao hơn sang nớc có trình độ thấp hơn
để khai thác chi phí (lao động, tài nguyên ) còn rẻ hơn Do đó, đầu t nớc ngoài tại TP HồChí Minh là một chuỗi trong mắt xích phân công lao động khu vực hiện nay, và xu hớngnày sẽ tăng lên mạnh khi mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đợc hình thành một cách hoànchỉnh Sự liên kết giữa khu vực kinh tế trong nớc với khu vực có vốn đầu t nớc ngoài đểchủ động tham gia vào quá trình phân công lao động khu vực và quốc tế là một xu hớngcần đợc khuyến khích và đẩy mạnh
Về nhập khẩu có một số điểm sau:
Thứ nhất, cơ cấu nhập khẩu hiện tại là tích cực, chủ yếu nhập cho sản xuất, nhập cho tiêudùng rất ít Tuy nhiên, nhập khẩu cho sản xuất chủ yếu là nhập nguyên nhiên vật liệu,nhập máy móc, thiết bị còn ít Trong tình trạng ngoại tệ cha dồi dào, việc khuyến khíchnhập máy móc, thiết bị nhằm khuyến khích đầu t cần đợc chú trọng Qua khảo sát tìnhhình nhập khẩu thiết bị để hiện đại hóa ở các ngành công nghiệp chủ lực của TP nh cơkhí, điện tử - tin học, chế biến thực phẩm cho thấy mức đầu t này còn rất thấp
Thứ hai, với việc gia nhập AFTA, APEC, và WTO trong tơng lai, các hàng rào thuế quan
và phi thuế của Việt Nam sẽ đợc bãi bỏ Do đó, áp lực cạnh tranh của hàng nhập khẩu đốivới các doanh nghiệp trong nớc sẽ tăng lên rất lớn Trớc mắt, thực hiện các cam kếtAFTA, Việt Nam phải giảm thuế suất các mặt hàng nhập khẩu xuống còn 0,5% từ nayđến năm 2006 Các doanh nghiệp ngay từ bây giờ phải đề ra một kế hoạch phối phó thíchhợp, mà tiêu chí quan trọng nhất là có thể cạnh tranh đợc khi các hàng rào thuế quan bịbãi bỏ Về phía nhà nớc, cần có sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách đối với những ngành màkhả năng cạnh tranh còn kém, nhng có khả năng vơn lên phát triển Việc giúp đỡ này là
có giới hạn và có điều kiện (chủ yếu dựa trên các tiêu chí hiệu quả)
Thứ ba, việc thực hiện các cam kết tự do hóa mậu dịch nh trên sẽ gây khó khăn rất lớncho việc hình thành các ngành công nghiệp mới trong tơng lai của thành phố Kinhnghiệm các nớc cho thấy là để hình thành các ngành công nghiệp mới (các ngành côngnghiệp non trẻ) lúc đầy cần có sự bảo hộ và sự giúp đỡ của Nhà nớc Nếu không có sựbảo và giúp đỡ của Nhà nớc lúc ban đầu thì không thể cạnh tranh đợc với các đối thủ nớcngoài đã lớn mạnh Đây là vấn đề của các ngành công nghiệp mũi nhọn của thành phốhiện nay Tuy vậy, sự bảo hộ và giúp đỡ của Nhà nớc sẽ giảm dần theo thời gian khi màcác doanh nghiệp trong nớc đã lớn mạnh, đồng thời tạo áp lực để tăng tính hiệu quả củacác doanh nghiệp này
Tóm lại, có thể nói sau hơn một thập niên đổi mới và phát triển kinh tế, TP Hồ Chí Minh
là địa phơng đi đầu trong cả nớc để thực hiện chính sách phát triển kinh tế đối ngoại củaĐảng và Nhà nớc Nếu chúng ta nhớ lại thời kỳ cuối những năm 80 và đầu 90 là nhữngnăm mà kinh tế nớc ta còn gặp nhiều khó khăn, viện trợ và quan hệ thơng mại với cácnớc XHCN trớc đây giảm đột ngột, Mỹ và nhiều nớc khác vẫn còn thực hiện chính sáchbao vây, cấm vận đối với Việt Nam Những bớc khác mặc dù có thiện chí đối với ViệtNam nhng vẫn còn dè dặt trong quan hệ làm ăn với Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực đầu ttrực tiếp Trong tình hình đó, việc thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại nhằm phá vỡ bịbao vây, cấm vận cô lập là một điều cực kỳ quan trọng nhằm để ổn định và phát triển đất
Trang 13nớc Sau gần 15 năm thực hiện, có thể nói TP Hồ Chí Minh đã cùng với cả nớc hoànthành tốt nhiệm vụ này Hơn thế nữa, vợt qua những mục tiêu ban đầu, giờ đây đầu t nớcngoài và ngoại thơng đã trở thành những động lực phát triển quan trọng của nền kinh tế,
và trong thời gian qua đã góp phần không nhỏ vào thành tựu của thành phố trong thời kỳđổi mới Bớc vào thế kỷ 21, mặc dù còn nhiều vấn đề phải tiếp tục giải quyết, nhng TP
Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục giữ vững và phát huy thế mạnh về hoạt động kinh tế đối ngoại,phấn đấu để đa thành phố trở thành một trong những trung tâm của hoạt động kinh tế khuvực Đông Nam á ở thế kỷ 21, đáp ứng đợc mong đợi của nhân dân thành phố và kỳ vọngcủa cả nớc
http://www.cinet.vnnews.com/hcmc/25nam/phan4/xnk.htm
Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng phát triển, trong đó sản xuất công nghiệp là một thế mạnh và
đang giữ vai trò quan trọng cơ cấu kinh tế thành phố Theo đánh giá chung, kinh tế công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh trong 25 năm qua có tốc độ tăng trởng cao, đặc biệt 10 năm gần đây tăng từ 12,2%-14%, đóng góp gần 50% giá trị công nghiệp của cả nớc, sản xuất ra nhiều mặt hàng có giá trị lớn, phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
1 Tiếp thu nguyên vẹn năng lực sản xuất ban đầu
Những cơ sở công nghiệp lớn đầu tiên ở Sài Gòn đã đợc ngời Pháp xây dựng từ cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX nhằm phục vụ việc cai trị, khai thác tài nguyên và bóc lột nhândân ta Đó là nhà máy điện Chợ Quán, Nhà máy nớc, Xởng Ba Son (1864), nhà máy rợuBình Tây (1901), nhà máy bia nớc ngọt BGI (1929), các nhà máy thuốc lá MIC (1929) vàBASTOS (1936), Xởng cơ khí CARIC sửa chữa tàu (1938) Thời kỳ 1945-1954 hầu nhngời Pháp không xây dựng gì thêm đáng kể vì cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã đẩyPháp vào thế lúng túng và nguy cơ thất bại ngày càng lộ rõ
Trong vòng 20 năm (1955-1975) năng lực sản xuất công nghiệp ở Sài Gòn tăng lên 4 lần
so với thời kỳ 1945-1954 Thành phố có nhiều xí nghiệp quy mô tơng đối lớn (trên
2000-3000 công nhân) và trang thiết bị khá hiện đại nh Vimytex, Vinatexco, Sicovina, xínghiệp dợc phẩm Roussel, Vina-Spécia, xí nghiệp bóng đèn Coteco, Pin-accu Videco Năng lực sản xuất một số ngành tơng đối khá nh dệt (240 triệu mét vải/năm), giấy(50.000 tấn/năm), sơn và nhựa tổng hợp (20.000 tấn/năm), nớc ngọt, bia (250 triệu
Trang 14lít/năm), sữa (170 triệu hộp/năm), xà bông và bột giặt (88.000 tấn/năm), thuốc lá (500triệu bao/năm), đờng kết tinh (160.000 tấn/năm).
Tuy nhiên, nền công nghiệp ấy phát triển chủ yếu dựa vào nguồn nguyên liệu ngoại nhập,mất cân đối nghiêm trọng giữa sản xuất t liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng (90% sản l-ợng là vật phẩm tiêu dùng), mất cân đối giữa năng lực sản xuất và nguồn nguyên, nhiênliệu Trong từng ngành công nghiệp, thờng chỉ xây dựng những công đoạn cuối, cho phép
đa vào sản xuất nhanh và sớm thu hồi vốn Do vậy khi tiếp thu toàn bộ cơ sở công nghiệp
đó, Thành phố đứng trớc sự thử thách rất lớn về sự lệ thuộc nguồn vật t nguyên liệu ngoạinhập để xây dựng nền sản xuất
2 Phát triển sản xuất, ổn định đời sống - nhiệm vụ trọng tâm
Khi tiếp quản Thành phố, chính quyền cách mạng tiếp quản nguyên vẹn cơ sở vật chấtquý giá nêu trên với những đặc điểm vốn có của nó Thành phố cùng cả nớc bắt tay ngayvào việc ổn định đời sống, ổn định kinh tế xã hội và xây dựng đất nớc dới sự lãnh đạo củaĐảng theo tinh thần của Nghị quyết Hội nghị ban chấp hành Trung ơng Đảng lần thứ24(khóa III) tháng 9/1975 "Nhiệm vụ hàng đầu của nớc ta là ra sức khôi phục và phát triểnsản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, tích cực đa nền kinh tế nớc ta tiếnnhanh lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa"
Chấp hành các nghị quyết của Đảng và Chính phủ, Đại hội lần thứ nhất Đảng bộ Thànhphố tháng 4 năm 1977 đã đề ra nhiệm vụ hàng đầu là: "Tập trung lực lợng, tiến hành cảitạo xã hội chủ nghĩa nhằm tạo điều kiện và mở đờng cho sản xuất phát triển theo hớng đilên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân" Nghị quyếtĐại hội lần thứ nhất Đảng bộ Thành phố nhấn mạnh: "Cải tạo phải đảm bảo sản xuất pháttriển không ngừng và cải thiện đời sống nhân dân, phải gắn liền với xây dựng mà xâydựng là chủ yếu, gắn liền với tổ chức lại sản xuất, phân bố lại lực lợng lao động xã hộinhằm tăng cờng mạnh mẽ các thành phần kinh tế quốc doanh, hợp tác xã, tạo điều kiệncho kinh tế quốc doanh thực sự đóng vai trò chủ đạo, hớng dẫn các thành phần kinh tếkhác" Chính nhờ sự chỉ đạo trực tiếp và sáng suốt nh vậy mà Thành phố đã giảm tối đanhững thiệt hại do nóng vội, duy ý chí, cải tạo tràn lan tạo ra
Qua hai đợt cải tạo công thơng nghiệp, Thành phố đã quốc hữu hóa tài sản của 171 nhà tsản mại bản và 59 tên gian thơng lớn, hình thành 400 xí nghiệp quốc doanh, khôi phục14.000 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, tạo việc làm cho 270.000 công nhân và thợthủ công Sau cải tạo, 70% tài sản của giai cấp bóc lột đã thuộc sở hữu toàn dân Saunhững lúng túng ban đầu nhiều ngành công nghiệp đã trở lại hoạt động bình thờng vớinguồn nguyên liệu dự trữ khá lớn Mặt khác Thành phố lại đợc Trung ơng chi viện rấtnhiều về vật t nguyên liệu thiết yếu nên sản lợng công nghiệp thành phố trong những năm1976-1978 tăng khá nhanh, nhất là công nghiệp quốc doanh Giá trị sản lợng côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 1977 tăng 31,2% so với năm 1976 Số ngời thất nghiệpgiảm đi một nửa so với trớc ngày giải phóng Thành quả này góp phần quan trọng vàoviệc ổn định đời sống của nhân dân những năm đầu sau giải phóng
3 Những năm tháng đối đầu với khó khăn
Trang 15Khi tiến hành cải tạo, chúng ta mới quan tâm đến việc chuyển đổi hình thức sở hữu màcha chú ý tới yếu tố quản lý Do phân công, phân cấp cha rõ ràng giữa các Bộ, Ngành,giữa Trung ơng và địa phơng nên nhiều lúc, nhiều nơi khi thực hiện cải tạo đã phá vỡ tínhhợp lý của quy trình sản xuất, thậm chí xé lẻ xí nghiệp vốn đợc xây dựng đồng bộ theomột quy trình công nghệ nhất định Chính sách công t hợp doanh không khuyến khích đ-
ợc mặt tích cực của nhà t sản về vốn liếng, khả năng quản lý và hiểu biết về kỹ thuật màthực chất các doanh nghiệp này hoạt động theo cơ chế quốc doanh, chịu tác động mạnh
mẽ của nền kinh tế kế hoạch hóa bao cấp Những khuyết điểm chủ quan, cộng vớitínhchất phụ thuộc nguồn vật t nguyên liệu, thiết bị, phụ tùng máy móc nớc ngoài, khiếnngành công nghiệp thành phố đã nhanh chóng bộc lộ sự suy yếu và đứng trớc thử tháchnghiêm trọng Chúng ta không có đủ ngoại tệ để nhập nguyên liệu, vật t và phụ tùng phục
vụ sản xuất Đặc biệt với chính sách cấm vận, bao vây kinh tế của Mỹ đã làm trầm trọngthêm những khó khăn vốn có của nền công nghiệp phụ thuộc và nớc ngoài Nếu năm
1975 sản lợng điện của Thành phố là 1 tỷ Kwh, thì những năm 1981-1982 chỉ còn 0,5 tỷKwh do thiếu nguồn dầu chạy máy và hệ thống máy móc, thiết bị điện sau nhiều nămhoạt động đã bắt đầu xuống cấp và h hỏng lớn Trong khi đó nhu cầu điện của Thành phố
ở mức khiêm tốn cũng phải 1,3-1,4 Kwh, trong đó nhu cầu cho công nghiệp là 0,9 tỷKwh và sinh hoạt 0,4-0,5 tỷ Kwh Muốn nâng sảnlợng điện của Thành phố lên 1 tỷ Kwhcần khoảng 15-20 triệu USD và hàng năm phải nhập 30 vạn tấn dầu Do vậy cắt điện luânphiên đã trở thành việc bình thờng hàng ngày Số ngời thiếu việc làm tăng lên rất nhanh.Nhiều công nhân có tay nghề cao, cán bộ quản lý có nhiều kinh nghiệm và cán bộ khoahọc kỹ thuật giỏi bỏ xí nghiệp ra ngoài làm riêng, chạy chợ hoặc đi nớc ngoài
Thiếu điện, thiếu vật t nguyên liệu cộng với cơ chế quản lý giò bó đã làm cho côngnghiệp Thành phố giảm sút nghiêm trọng Bên cạnh đó chiến tranh biên giới Tây Namngày càng ác liệt, biên giới phía Bắc bị đe dọa nên những năm 1979-1980 là thời kỳ cực
kỳ khó khăn cho công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Năm 1978 những ngành là thế mạnh của Thành phố lucỏ đó nh chế biến lơng thực – thựcphẩm, dệt – da – may – nhuộm đã bắt đầu giảm sút và xu thế đó tiếp tục kéo dài qua cácnăm 1979, 1980
4 Những tháo gỡ cấp bách
Trớc tình hình khó khăn đó, dới sự chỉ đạo của Trung ơng Đảng, Thành ủy đã có Nghịquyết 9 (8/1979) nhằm tháo gỡ khó khăn khắc phục tình trạng sản xuất bị sa sút bằng cácchủ động đề ra kế hoạch sản xuất bổ sung cho công nghiệp quốc doanh trên tinh thần tựlực, tự cờng không ỷ lại vào hoặc trông chờ cấp trên, doanh nghiệp phải tự tạo nguồn vật
t, nguyên liệu bằng cách liên kết với các tỉnh trong khu vực Từ năm 1979 ở Thành phố
Hồ Chí Minh đã xuất hiện nhiều mô hình tháo gỡ trong sản xuất công nghiệp nh Công tyBột giặt Miền Nam (VISO), Xí nghiệp Thuốc lá, Nhà máy Bia Sài Gòn, các Xí nghiệpDệt Thành Công, Phớc Long, Phong Phú, Thắng Lợi, Dệt 3, các xí nghiệp cơ khí Caric,Sinco Các xí nghiệp này liên kết với các tỉnh để khai thác nguyên liệu, trao đổi thànhphẩm, thực hiện kế hoạch sản xuất phụ ngoài chỉ tiêu pháp lệnh, tăng thu nhập cho ngờilao động bằng lơng khoán Xí nghiệp Thành Công chỉ vay Thành phố một ít ngoại tệ để
Trang 16mua nguyên liệu và với phơng thức liên kết làm ăn nh trên chỉ sau một năm không những
đã trả hết nợ, mà còn tạo thêm vốn mới
Hiểu đợc tình hình sa sút của công nghiệp Thành phố, Bộ Chính trị (khóa 4) đã có Nghịquyết 6 và Hội Đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ) đã có Quyết định 25-26/CP về kếhoạch ba phần (A – kế hoạch pháp lệnh, B – Kế hoạch sản xuất phụ, C – Kế hoạch ngoàisản phẩm chính) và trả lơng khoán, lơng sản phẩm trong xí nghiệp công nghiệp quốcdoanh, Quyết định 182/CP về phát huy quyền làm chủ tập thể của công nhân viên chức
đã tháo gỡ nhiều khó khăn cho Thành phố Thành phố đã mạnh dạng thử nghiệm và đẩymạnh xuất khẩu trực tiếp với vốn tự có để chủ động nhập vật t nguyên liệu tự cân đối bổsung cho nhu cầu sản xuất của địa phơng và hổ trợ cho một xí nghiệp Trung ơng trên địabàn Thành phố Việc liên doanh, liên kết giữa công-nông nghiệp và ngoại thơng cũng nhgiữa Thành phố và các tỉnh trong vùng đã từng bớc tạo ra "chân" hàng xuất khẩu lớn từthế mạnh nông-lâm-ng nghiệp của Thành phố và khu vực Nhờ kết hợp hài hòa "3 lợi ích"
mà khó khăn đợc khắc phục, ngăn chặn đợc đà sa sút cuớa 2 năm 1979-1980 và sản xuấttiếp tục phát triển Cũng chính trong thời kỳ này nhiều xí nghiệp đợc khôi phục, tài sản cốđịnh đợc sử dụng hợp lý hơn
Sự năng động và sáng tạo của Thành phố trong nhận thức về xây dựng nền kinh tế xã hộichủ nghĩa lúc bấy giờ không ít ngời hiểu nh sự làm trái với nguyên lý quản lý kinh tế xãhội chủ nghĩa Tuy nhiên, lãnhđạo Thành phố vẫn kiên trì "bằng thực tiễn sinh động củamình, Thành phố phải cố gắng báo cáo đầy đủ, tỉ mỉ với các đồng chí lãnh đạo cao nhất ởTrung ơng về hớng đổi mới xuất hiện từ thực tiễn, vì chỉ có sự chuyển động từ cấp caonhất thì mới chuyển động đợc toàn cục; nếu chỉ một số địa phơng làm thì hiệu quả cũngchỉ có ý nghĩa cục bộ, không thống nhất, và cũng không xoay chuyển đợc tình thế" (VõTrần Chí, Bớc ngoặt của một chặng đờng, trong quyển Thành phố hai mơi năm 1975-
1995, NXB Thành phố Hồ Chí Minh) Rõ ràng thực tiễn sinh động của Thành phố HồChí Minh đã góp phần tạo nên những nội dung mới của Nghị Quyết Ban chấp hành trungơng lần thứ 6, lần thứ 7 (khóa V) Đó cũng là giai đoạn mở đầu cho những t duy mới củaquan điểm đổi mới
Nghị quyết 01/NQ-TW ngày 14.9.1982 của Bộ Chính trị về công tác của Thành phố đãxác định vị trí, vai trò của Thành phố cùng với phơng hớng phát triển và nhiệm vụ của
nó Một trong những nhiệm vụ của Thành phố là phát triển công nghiệp phục vụ cho sảnxuất nông lâm ng nghiệp nhằm tạo ra mối liên kết gắn bó giữa nông thôn và thành thị,giữa công nghiệp và nông nghiệp trên phạm vi toàn khu vực Có nh vậy mới phát huy thếmạnh của Thành phố về Công nghiệp và khoa học kỹ thuật góp phần chuyển dịch cơ cấunông nghiệp nhằm khai thác hết tiềm năng về nông lâm ng nghiệp của cả vùng Đây là h-ớng phát triển quan trọng của Thành phố bởi vì trong lúc năng lực sản xuất công nghiệpcủa Thành phố mới sử dụng đợc khoảng 50%, thì ở nhiều tỉnh trong vùng lại phát triểncác cơ sở tiểu thủ công nghiệp với trình độ kỹ thuật kém hơn, năng suất thấp, chất lợnghàng hóa kém Hình thành cơ cấu công – nông nghiệp trong toàn vùng giữa Thành phố
Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh Miền Đông Nam Bộ là yêu cầutất yếu của quá trình công nghiệp hóa từ nền sản xuất nông nghiệp Đây chính là cơ sởthực tiễn để chuyển thành các chơng trình kinh tế Miền Đông Nam Bộ, vùng kinh tếtrọng điểm phía Nam vào cuối thập niên 80 đầu thập niên 90
Trang 17Từ năm 1981 đã xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến về sản xuất kinh doanh có hiệu quảtrong công nghiệp Nhiều thiết bị, nguyên liệu, phụ tùng trớc đây phải dùng ngoại tệ vànhập từ các nớc phơng Tây thì nay đã thay bằng hàng sản xuất trong nớc hoặc dùng hàngcủa các nớc xã hội chủ nghĩa Một trong những hớng phát triển công nghiệp của Thànhphố trong thời gian này là công nghiệp phục vụ nông nghiệp Ngày 30.1.1983 Ban Thờng
vụ Thành ủy đã ra Nghị Quyết 18/NQ-TU về "Công nghiệp và khoa học kỹ thuật Thànhphố Hồ Chí Minh phục vụ ngoài thành và ven nội" Trên tinh thần này, ngành cơ khíThành phố đã sản xuất đợc nhiều máy cho các khâu làm đất (máy cày, máy xới ) làmthủy lợi (máy bơm nớc), thu hoạch (máy tuốt lúa, máy lảy bắp, máy xay ), chế biếnnông sản (thiết bị chế biến đờng, máy nghiền, máy trộn, xay xát, thái khoai ) và nhiềuloại nông cụ khác Nhiều ngành công nghiệp khác của Thành phố cũng có những chuyểnbiến quan trọng Chất lơng sản phẩm đợc nâng cao Đó là những tiến bộ rất khởi sắc củathời kỳ này Cơ cấu công nghiệp bớc đầu đã chuyển dịch theo hớng sản xuất t liệu sảnxuất Nếu năm 1976 giá trị sản lợng công nghiệp của Thành phố chỉ chiếm 16,8% của cảnớc thì đến năm 1983 con số đó là 38% Đầu năm 1984 tại Hội chợ triển lãm toàn quốclần thứ nhất ở Hà Nội, có 60 cơ sở sản xuất của Thành phố Hồ Chí Minh đ ợc khen thởnghuy chơng các loại, cao nhất trong 50 đơn vị tham dự
Tuy nhiên từ tháng 5.1985 do có những thiếu sót trong quản lý kinh tế nhất là việc thựchiện chính sách giá – lơng – tiền và lạm phát "phi mã" trong những năm tiếp theo đã làmcho công nghiệp Thành phố gặp muôn vàn khó khăn Thiếu điện, vật t, tiền vốn, sảnphẩm lại tiêu thụ chậm nên sản xuất công nghiệp Thành phố có nguy cơ sa sút Lãnh đạoThành phố một mặt tìm mọi cách giải quyết khó khăn ổn định sản xuất, mặt khác pháthiện các nhân tố mới trong sản xuất kinh doanh để nhân rộng Nhiều phong trào thi đuaxuất hiện nh "Năng suất – Chất lợng – Hiệu quả", "thi đua phục vụ nông nghiệp", "Thithợ giỏi" đã góp phần giảm nhẹ khó khăn cho sản xuất công nghiệp Từ thực tiễn Thànhphố có thể thấy rằng nếu không phá vỡ cơ chế hành chính, quan liêu bao cấp chuyển hẳnsang hạch toán kinh doanh thì công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp quốc doanh khó lòngphát triển Muốn tháo gỡ đợc cơ chế cũ thì các ngành tổng hợp nh tài chính, ngân hàng,ngoại thơng phải có bớc đột phá nhằm tạo điều kiện cho các cơ sở chủ động tự cân đối.Trong nhiều lần làm việc với lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nớc, lãnh đạo Thành phố
đã đề xuất nhiều biện pháp tháo gỡ từ thực tiễn của Thành phố
5 Đổi mới toàn diện
Tháng 12.1986 Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp đã "khẳng định quyết tâm đổimới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học" Từ sau Đại hội
VI của Đảng quan điểm đổi mới trong quản lý kinh tế đã trở thành chủ trơng lớn của Nhànớc Đảng ta khẳng định rằng nền kinh tế nhiều thành phần có ý nghiợa chiến lợc lâu dài
ở Việt Nam Từ đây nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung từng bớc chuyển sang nền kinh tếthị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa
Quyết định 217/HĐBT (14.11.1987) ra đời đã giao quyền tự chủ trong sản xuất kinhdoanh cho kinh tế quốc doanh, Nghị Quyết 16 của Bột Chính trị (khóa VI), các Nghị định
27, 28, 29 và Quyết định 146 của Hội đồng Bộ Trởng (1988) khuyến khích các thànhphần kinh tế ngoài quốc doanh đã thay đổi luống gió mới vào sản xuất công nghiệp
Trang 18Thành phố, đã tháo gỡ một phần những trói buộc của cơ chế quản lý cũ Quyết Định 217/HĐBT và các văn bản thể chế hóa sau đó đã bớc đầu khơi dậy nguồn tiềm năng nhiềumặt của các cơ sở công nghiệp Kinh tế quốc doanh đã đợc trao quyền chủ động Tìnhtrạng sản xuất theo lệnh và mua bán theo giá cả cứng nhắc làm cho sản xuất tách khỏi thịtrờng đã thay bằng kế hoạch kết hợp với thị trờng Quyền tự chủ lập kế hoạch đợc giaocho các xí nghiệp, giảm chỉ tiêu pháp lệnh, mở rộng kế hoạch gián tiếp Các xí nghiệpquốc doanh chỉ còn 1 đến 3 chỉ tiêu và từ năm 1989 chỉ còn 1 chỉ tiêu là các khoản nộpngân sách Từ đây công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh bớc sang giai đoạn phát triểnmới.
Phát triển kinh tế thành phần là điểm nổi bật của công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.Trong khi chờ đợi Quốc hội ban hành Luật Công ty, căn cứ vào những văn bản pháp quycủa Chính phủ, Uóy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Quyết định 639/QĐ-UB(20.10.1989) về Công ty t nhân sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng vậntải, nông lâm ng nghiệp và kinh doanh thơng mại dịch vụ Kèm theo Quyết định này làQuy định hớng dẫn cụ thể việc thành lập doanh nghiệp t nhân Nhờ vậy mà khí thế làm ăn
ở Thành phố Hồ Chí Minh trở nên sôi động Đến 21.12.1990 khi Quốc hội thông quaLuật doanh nghiệp t nhân và Luật Công ty thì kinh tế nhiều thành phần ở Thành phố đã
có điều kiện pháp lý vững chắc để phát triển Số lợng Công ty và doanh nghiệp t nhântrong sản xuất công nghiệp không ngừng tăng: nếu năm 1991 có 105 đơn vị, thì năm1992: 235 đơn vị, năm 1995: 699 đơn vị, năm 1998 là 693 đơn vị và năm 1999 là 785đơn vị Năm 1999 giá trị sản xuất công nghiệp của khối ngoài quốc doanh chiếm 23,5%giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Thành phố Đầu t n ớc ngoài ở Thành phố Hồ ChíMinh cũng là một bớc đột phá có ý nghĩa đối với kinh tế Thành phố Từ khi có Luật đầu
t nớc ngoài tại Việt Nam (cuối năm 1987), Thành phố Hồ Chí Minh là một trong nhữngđịa bàn đợc phía nớc ngoài chú ý nhiều nhất Tình đến cuối năm 1999 có 517 dự án vớitổng vốn đầu t 3.974 triệu USD vào các ngành công nghiệp trên địa bàn Thành phố HồChí Minh Đây là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho công nghiệp Thành phố Đầu t nớcngoài đã tạo ra việc làm thờng xuyên cho hàng trăm ngàn lao động đồng thời du nhậpmột số công nghệ và thiết bị mới, góp phần nâng cao kỹ năng quản lý, chất lợng lao động
và kỷ luật lao động Đầu t nớc ngoài vào Thành phố đã góp phần tăng yếu tố cạnh tranh,kích thích nền kinh tế phát triển theo hớng xuất khẩu, nâng cao chất lợng và hiệu quả sảnphẩm Đến cuối năm 1999 giá trị sản xuất công nghiệp của đầu t nớc ngoài chiếm gần27% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Thành phố Dù vậy, cũng cần thấy rằng đầu
t nớc ngoài vào các ngành sản xuất công nghiệp cha đáp ứng đợc mong muốn của Thànhphố Dự án đầu t vào công nghiệp thờng có quy mô nhỏ, công nghệ trong giai đoạn lắpráp Nhiều dự án bị rút giấy phép do triển khai chậm hoặc không có khả năng tiếp tục đầu
t Từ năm 1996 tình hình đầu t nớc ngoài vào Thành phố có xu hớng chậm lại do cảnguyên nhân chủ quan lẫn khách quan Về phía chủ quan phải thấy rằng nhiều thủ tụchành chính quan liêu, phiền hà trong cấp phép, một số chính sách và u đãi không còn hấpdẫn các nhà đầu t
Vừa thu hút mạnh đầu t nớc ngoài vừa phát huy nội lực là phơng hớng chủ đạo trong pháttriển công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Thực hiện chủ trơng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa của Đảng, thành ủy đã có Nghị quyết 05-NQ/TU (16.10.1996) về hiện đại hóa vàphát triển công nghiệp trên địa bàn Thành phố Để xứng đáng với tầm vóc của Thành phố
Trang 19– trung tâm công nghiệp Nghị quyết đã xác định 4 ngành mũi nhọn là cơ khí (chế tạo máyđộng lực, chế tạo phụ tùng thay thế, cơ khí phục vụ nông nghiệp, cơ kim khí tiêu dùng),công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ mới Nghị quyết 05-NQ/TU xácđịnh các ngành mũi nhọn và các sản phẩm chủ lực là đúng đắn, vừa phù hợp với xu hớngcủa thời đại, vừa hợp lý với vai trò của Thành phố Hồ Chí Minh Để biến Nghị quyết nàythành hiện thực cần có thời gian và quá trình phấn đấu gian khổ, cần những chính sáchkhuyến khích hấp dẫn và lợng vốn đầu t rất lớn Hy vọng khi Khu công nghiệp kỹ thuậtcao ra đời thì định hớng phát triển công nghiệp nêu trên sẽ có tác dụng vào cuộc sốngnhiều hơn.
Mối quan tâm lớn của lãnh đạo Thành phố là hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệpđặc biệt là doanh nghiệp Nhà nớc Một trong những giải pháp quan trọng là một mặt tổchức, sắp xếp lại các doanh nghiệp mặt khác đẩy nhanh cổ phần hóa một số doanh nghiệpxét thấy không cần thiết để vốn Nhà nớc chiếm 100% Đến năm 1999 đã có 52 doanhnghiệp Nhà nớc đợc cổ phần hóa và nhiều doanh nghiệp đã đi vào hoạt động khá hiệuquả; có những Công ty giá trị cổ phần tăng lên gần 8 lần Tiến trình cổ phần hóa ngàycàng nhanh, những vớn mắc ban đầu đợc tháo gỡ từng bớc Cho đến cuối năm 1999Thành phố đã thành lập đợc 7 Tổng Công ty theo Quyết định 90-TTg (07.03.1994) củaThủ tớng Chính phủ, là lực lợng chủ yếu của doanh nghiệp Nhà nớc thuộc địa phơngquản lý
Đổi mới công nghệ là biện pháp cấp bách hàng đầu để nâng cao chất lợng sản phẩm vàtăng cờng tính cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp Thành phố Nhiều sản phẩm côngnghiệp Thành phố đợc ngời tiêu dùng cả nớc bình chọn là hàng Việt Nam chất l ợng cao
và chiếm tỷ trọng lớn trong sản lợng của cả nớc, nh sữa hộp 72%, thốc lá 58%, xàphòng52%, vải lụa 51%, bia 41%, áo quần may sẵn 31%,.v.v Giá trị các mặt hàng côngnghiệp đã chiếm đến 86% tổng kim ngạch xuất khẩu Trong25 năm qua, đặc biệt là từnăm 1990 trở lại đây về mặt công nghệ, nhiều xí nghiệp trên địa bàn Thành phố gần nh
"lột xác" - thay đổi hoàn toàn công nghệ Nhiều xí nghiệp Dệt, May, Điện tử, Nhựa, Cao
su, Giày - Dép đã đầu t nhiều thiết bị và công nghệ hiện đại Đặc biệt trong khu vực tnhân, nhiều chủ doanh nghiệp đã đầu t công nghệ mới hoàn toàn Nhờ vậy mà chất l ợng sản phẩm của công nghiệp Thành phố ngày càng đợc nâng cao Theo trình độ công nghệthì các cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố có thể chi làm 3 loại:
Các doanh nghiệp có công nghệ đang sử dụng thích hợp, sản phẩm ứng dụng đợcnhu cầu của thị trờng và có khả năng cạnh tranh với sản phẩm nớc ngoài cùngloại Số doanh nghiệp loại này mới chỉ chiếm khoảng 15-20%
Các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất bộc lộ nhiều yếu kém nhng sản phẩm cónhu cầu thị trờng, cần đợc giúp đỡ để sớm đổi mới công nghệ nhằm tạo ra sảnphẩm có chất lợng cao để có chổ đứng trên thị trờng Số doanh nghiệp loại nàychiếm khoảng trên 40%
Các doanh nghiệp còn sử dụng công nghệ lạc hậu, năng suất thấp, chất lợng sảnphẩm kém nên kiên quyết giải thể
Nhìn chung về mặt công nghệ, dù có những tiến bộ rất đáng mừng trong 25 năm qua,
nh-ng máy móc thiết bị đanh-ng sử dụnh-ng tronh-ng cônh-ng nh-nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh hầu hết lạc
Trang 20hậu từ 2 đến 4 thế hệ so với trình độ chung của thế giới Mức lạc hậu khác nhau giữa cácngành và các doanh nghiệp trong cùng một ngành Tuổi trung bình của thiết bị ở cácdoanh nghiệp là 10-20 năm.
Chất lợng sản phẩm là yếu tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp Nhận thức rõ điều
đó nên nhiều doanh nghiệp phấn đấu đạt tiêu chuẩn ISO (International StandardizationOrganization) Từ mấy năm gần đây số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn ISO ngày càng tăng.Chính nhờ xây dựng đợc hệ thống quản lý chất lợng tốt làm cho uy tín sản phẩm côngnghiệp Thành phố tăng cao Đó là một trong những nguyên nhân thành đạt của nhiềudoanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hiện nay, sản phẩm công nghiệp của thành phố HồChí Minh có mặt ở khắp các Châu lục, đặc biệt là hàng may mặc, giày dép và thực phẩmchế biến
Thế mạnh của công nghiệp Thành phố là công nghiệp chế biến lơng thực, thực phẩm, sảnxuất hàng tiêu dùng, hàng điện tử và cơ khí chế tạo máy Đến đầu năm 2000 các nhómsản phẩm sau đây chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp trênđịa bàn Thành phố:
Thực phẩm và đồ uống: 25-27%
Dệt - Da giày và may mặc: 20-21%
Hóa mỹ phẩm (bột giặt, xà bông, kem đánh răng, các loại mỹ phẩm ): 9-10%
Sản xuất nhựa và cao su: 6-7%
Máy móc, thiết bị, radio, tivi và thiết bị truyền thông: 5-6%
http://www.cinet.vnnews.com/hcmc/25nam/phan4/cntphcm.htm
Những thành tựu chủ yếu về khoa học kỹ thuật công nghệ sau 25 năm giải phóng thành phố
Nhận thức đợc tầm quan trọng then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và vai trò
trung tâm khoa học kỹ thuật của TPHCM, ngay từ đầu, thành phố đã xác định công táckhoa học kỹ thuật của thành phố phải phục vụ nhiệm vụ chính trị của thành phố, gắn kếhoạch công tác khoa học kỹ thuật với kế hoạch phát triền kinh tế - xã hội, nghiên cứu vàtriển khai ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đời sống, an ninh,quốc phòng, quản lý kinh tế, quản lý xã hội Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lầnthứ I ghi rõ: "Công tác khoa học kỹ thuật phải bám sát phục vụ yêu cầu cải tạo và xâydựng kinh tế, văn hóa, phục vụ sản xuất, đời sống và quốc phòng"
Giai đoạn 1975 - 1985
Đã có sự phối hợp giữa các lực lợng của Ban khoa học kỷ thuật thành phố với các trờngđại học, viện nghiên cứu khoa học, các trung tâm tiêu chuẩn đo lờng chất lợng sản phẩm,các câu lạc bộ khoa học kỹ thuật để ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất vàđời sống Đã giải quyết đợc những vấn đề cấp bách đặt ra cho sản xuất công, nông nghiệp
Trang 21của thành phố thời kỳ sau giải phóng nh: phụ tùng thay thế, vật liệu, hóa chất, nguyên vậtliệu nội địa, để duy trì sản xuất và nâng cao chất lợng sản phẩm công nghiệp - tiểu thủcông nghiệp Trong nông nghiệp cũng có những thành tựu thuộc địa, để duy trì sản xuất
và nâng cao chất lợng sản phẩm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Trong nông nghiệpcũng có những thành tựu thuộc địa hạt khai thác nớc ngầm phục vụ cho vành đai thựcphẩm của thành phố Lai tạo, thuần hóa giống cây con, phục vụ phát triển đàn gia súc, giacầm, các loại giống lúa mới năng suất cao, chống sâu bệnh, chịu đợc phèn, mặn, úng,hạn
Lực lợng khoa học kỹ thuật của thành phố còn phát huy tác dụng đối với khu vực đồngbằng sông Cửu Long, xây dựng các mô hình tổ chức liên hiệp khoa học - sản xuất
Các ngành khoa học xã hội, khoa học quản lý phối hợp cùng khoa học tự nhiên góp phầnxây dựng đề án cải tiến cơ chế quản ký kinh tế, phơng án của Thành ủy về công nghiệp
và khoa học kỹ thuật phục vụ nông thôn ngoại thành và đồng bằng sông Cửu Long; thựchiện nhiều chơng trình điều tra cơ bản về điều kiện tự nhiên và xã hội để phục vụ nghiêncứu về tình hình phân hóa giai cấp ở thành phố Xây dựng sơ đồ qui hoạch phát triểntổng thể thành phố liên kết với khu vực phía Nam và các vùng trong cả nớc Nhiều côngtrình nghiên cứu lịch sử, văn hóa, xã hội quan trọng đã đợc thực hiện với chất lợng tốt
Điều đáng nói là công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuậtkhông chỉ thu hẹp trong một số nhà khoa học, cán bộ quản lý, mà đã thành phong tràocông nhân, nông dân, thanh niên đúng nh t tởng chỉ đạo của Thành uỷ Hàng năm cóhàng vạn sáng kiến cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất, hợp lý hóa sản xuất, đem lại hiệuquả kinh tế thiết thực để phát triển sản xuất, chăm lo đời sống cho ngời công nhân, nôngdân lao động
Đến hết năm 1985, trên địa bàn thành phố có 113 đơn vị khoa học kỹ thuật thuộc Trung ơng quản lý, trên 50.00 cán bộ có trình độ đại học và trên đại học (chiếm 1/6 lực lợng cán
-bộ khoa học kỹ thuật của cả nớc) và 65.000 công nhân kỹ thuật (tăng 3 lần so với 1975)
Trong quá trình xây dựng đội ngũ, Đảng bộ đã chỉ đạo kết hợp nghiên cứu với giảng dạy,làm thử, ứng dụng vào sản xuất, vừa nâng cao trình độ chính trị, vừa rèn luyện sâu vềchuyên môn Cách làm này đã dần dần xây dựng ý thức sử dụng, phát huy khoa học kỹthuật từ cơ sở, cả trong cán bộ quản lý và trong cán bộ chuyên môn kỹ thuật Do điềukiện lịch sử, khoa học kỹ thuật ở TPHCM ra đời và phát triển sớm, đòi hỏi của nền kinh
tế hàng hóa phát triển đã thúc đẩy khoa học kỹ thuật của thành phố có thuận lợi lớn vàphát triển trong môi trờng công nghiệp
Nhu cầu khách quan về kinh tế - xã hội đã mở rộng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật tạođiều kiện tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật từ nhiều nguồn khác nhau của cácnớc phát triển, có hoàn cảnh thực hành, nhất là hoàn cảnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹthuật
Thực tiễn 10 năm khẳng định rằng: khoa học kỹ thuật chỉ có thể trở thành động lực pháttriển kinh tế, xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hóa và khi kết quả nghiên cứu
Trang 22khoa học kỹ thuật cũng đợc coi là sản phẩm hàng hóa Đây là vấn đề theo chốt để gắnkhoa học kỹ thuật với kinh tế, tạo điều kiện cho khoa học kỹ thuật phát triển mạnh Nói
nh cố Tổng Bí th Lê Duẩn đã từng nói: " Sự nghiệp xây dựng thành phố đòi hỏi phải nêucao vai trò then chốt của cách mạng khoa học và kỹ thuật"
Giai đoạn 1986 - 1990
Trong 5 năm (1986 - 1990), các ngành, các cấp ở thành phố ra sức phát huy các tiềmnăng trí tuệ của đông đảo các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, công nghệ, côngnhân và nông dân tiên tiến tham gia vào các mặt hoạt động khoa học kỹ thuật, làm chohoạt động khoa học kỹ thuật ở thành phố có bớc phát triển mới về số lợng và chất lợng.Trong vòng 5 năm này đã nghiên cứu đợc nhiều công trình có giá trị, xây dựng đợc một
số mô hình: "Khoa học - sản xuất" đem lại hiệu quả kinh tế cao Cụ thể:
Nghiên cứu chế tạo thiết bị đổi mới công nghệ, nâng cao chất lợng sản phẩm và sản xuấtmặt hàng mới và các sản phẩm xuất khẩu có giá trị
Mở rộng thị trờng ứng dụng tin học trên địa bàn thành phố Tin học, một ngành khoa họcđợc nhanh chóng phát triển ở TP Hồ Chí Minh Thị trờng tin học đã hình thành trongnhiều ngành quản lý Nhà nớc, sản xuất kinh doanh và một số ngành công nghệ mới nh:
kỹ thuật chế bản điện tử, thiết kế mẫu mã hàng dệt, vi tính hóa công nghệ thông tin, kỹthuật truyền hình Đây là hớng phát triển có hiệu quả, vì tin học là yếu tố cốt lõi củacông nghệ mới và hoạt động quản lý dịch vụ hiện đại
Đã mở ra một số ngành sản xuất vật liệu mới có nhiều triển vọng Xí nghiệp lọc dầu đầutiên của Việt Nam: SAIGON PETRO ra đời có qui mô 40.000 tấn/năm
Các đề tài nghiên cứu vật liệu composites đã đợc áp dụng có hiệu quả vào sản xuất ra cácvật liệu mới bền, chắc Kết quả nghiên cứu hóa vi sinh cũng đã tạo ra một số chất vi l-ợng có giá trị cao để diệt trừ sâu mọt, kích thích tăng trởng cây trồng, vật nuôi
Có một số kết quả bớc đầu trong nghiên cứu và ứng dụng các nguồn năng lợng mới phục
vụ phát triển nông thôn và vùng hẻo lánh: nh "làng mặt trời" ở Củ Chi, Duyên Hải; môhình VACB (biogaz) Những kết quả nghiên cứu, phát triển các nguồn năng lợng tái sinh:năng lợng mặt trời, khí sinh vật ở thành phố đầu đợc đánh giá cao và quan tâm giúp đỡcủa các chơng trình Nhà nớc và các tổ chức quốc tế về nguồn năng lợng mới
Hoạt động nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệpđợc triển khai đồng bộ vào các khâu: nghiên cứu xây dựng tập đoàn, bộ giống thích hợp,nghiên cứu áp cao chất lợng giống, nghiên cứu thức ăn bổ sung giàu dinh dỡng, phòngdịch bệnh, sản xuất thuốc ứng dụng các biện pháp kỹ thuật về dinh dỡng, phân bón, chấtkích thích cây trồng phòng trừ sâu bệnh, kỹ thuật canh tác, cơ giới hóa trong khâu làm đất
và thu hoạch; đồng thời nghiên cứu kỹ thuật chế biến nông, lâm, hải sản nhằm nâng caohiệu quả sản phẩm nông nghiệp phục vụ đời sống và xuất khẩu
Trang 23Về lúa và một số cây công nghiệp: khu vực hóa các giống lúa năng suất cao và chọn cácgiống thích nghi đa vào sản xuất (IR64, IR68, OM9, A21; giống kháng rầy IR29723,IR35546, IR44595, IR9729, KSB54, KSB45).
Đa giống thơm Cayenna có năng suất và phẩm chất vào thay dần giống Queen, Victoria
có năng suất thấp Ngoài ra còn có giống mía, đậu phộng có năng suất chất lợng tốt đợc
đa vào thâm canh với kỹ thuật sử dụng vôi và phân lân có hiệu quả tốt đợc phổ biến ứngdụng trong sản xuất
Khoa học kỹ thuật tác động vào ngành lâm nghiệp chủ yếu theo hớng nông - lâm kết hợp
và phát triển sinh thái cho một số vùng đặc trng của thành phố theo quan điểm khai tháctổng hợp, hỗ trợ phát triển nông nghiệp và cải tạo môi trờng sinh thái Đã phát triển trên18.000 ha rừng từ sau 1975, xây dựng đợc khu lâm viên rừng sác, một số dãy rừng phònghộ đã tái tạo lại môi trờng sống, phục hồi và cân bằng sinh thái cho vùng bị chiến tranhhóa học hủy diệt
Thành phố Hồ Chí Minh có thế mạnh về chăn nuôi công nghiệp: heo cao sản, gà côngnghiệp, song giống bị xuống cấp, thoái hóa nghiêm trọng Khoa học kỹ thuật đã tập trungvào phục hồi, nâng thú y với nhiều chủng loại đặc trị Về giống có heo Yorkshire, bò sữalai F1, F2 trong 5 năm tăng từ 2.000 con con lên 5.120 con, năng suất sữa từ 5-7 lít lên10-15 lít ngày/con
Tạo cơ sở khoa học và tiền đề kinh tế cho sự phát triển các trại tôm giống trên địa bànthành phố (vài chục triệu con giống/năm) nhờ qui trình cho đẻ nhân tạo tôm thẻ, tômcàng xanh và thức ăn artemia cho tôm giống
Sớm nhận thức đợc tầm quan trọng đặc biệt của công tác khuyến nông trong việc thúcđẩy đa nhanh kết quả nghiên cứu và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, từ năm 1987,chơng trình khuyến nông đợc hình thành trong khuôn khổ chơng trình cấp thành phố vềvành đai thực phẩm thuộc ủy ban khoa học kỹ thuật TP.HCM Chơng trình mang tínhthuyết phục cao do việc khai thác có hiệu quả, đợc nông dân tự nguyện chấp nhận
Giai đoạn 1991 - 1999
Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, đã tập trung nghiên cứu t tởng Hồ Chí
Minh, vấn đề trí thức, vấn đề ngời Hoa, vấn đề vận động công nhân trong chiến lợc pháttriển kinh tế - xã hội của thành phố Nghiên cứu về hệ thống các cơ sở pháp lý cho côngtác quản lý đô thị, giải quyết tệ nạn xã hội, bảo tồn cảnh quan đô thị Các đề tài nghiêncứu đổi mới cơ chế quản lý đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề bức xúc của thành phố, thiếtlập những cơ sở khoa học cho những t duy kinh tế mới trong thời kỳ chuyển từ kinh tếbao cấp sang cơ chế thị trờng Tổng kết một số mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả,
đa ra những bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện chế độ tự chủ sản xuất kinh doanh.Những kết quả nghiên cứu về khoa học xã hội đã tạo cơ sở khoa học cho một số chủ tr-ơng chính sách của Đảng bộ thành phố, góp phần vào việc ổn định xã hội
Trang 24Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nhờ cơ chế mới, việc nghiên cứu đổi mới công
nghệ, thiết bị, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lợng sản phẩm ngày càng đợc quan tâm
Có gần 200 công nghệ đợc nghiên cứu đổi mới thuộc các ngành: giấy, dệt, nhựa, cao su,hóa chất, mỹ phẩm, cơ khí, điện tử Kết quả nghiên cứu đã góp phần điều chỉnh bổkhuyết các nhợc điểm của qui trình sản xuất cũ, giảm bớt tiêu hao năng lợng, vật t, thayđổi mẫu mã hợp thị hiếu ngời tiêu dùng, tạo ra những sản phẩm mới có sức cạnh tranhtrên thị trờng nội địa và một số vơn ra đợc thị trờng nớc ngoài
Trong một số lĩnh vực khoa học - công nghệ mũi nhọn nh tin học, viễn thông, lọc hóadầu, vật liệu mới, năng lợng mới lực lợng khoa học - công nghệ thành phố đã có khảnăng tiếp thu, làm chủ và phát huy:
* Mở rộng nhanh chóng thị trờng ứng dụng tin học nhiều ngành: quản lý Nhà nớc, sảnxuất, dịch vụ kinh doanh và một số ngành công nghiệp Sự hiện diện trên 15.000 máy vitính các loại và trên 150 điểm hoạt động dịch vụ, đào tạo tin học ở thành phố đặc biệt vớiviệc lắp đặt thành công cổng nối Internet (HCMNET) đã nói lên sự phát triển hòa hợp với
xu hớng phát triển của thế giới
* Chơng trình nghiên cứu sứ dụng dầu khí của thành phố tạo cơ sở khoa học cho sự hìnhthành một ngành kinh tế kỹ thuật mới ở thành phố: ngành lọc hóa dầu đầu tiên trong cả n-
ớc Cơ sở lọc dầu Cát Lái (SAIGON PETRO) có công suất đạt 150.000 tấn/năm (con số1995) với các sản phẩm: xăng, DO, FO, khí hóa lỏng (LPG) và một số dung môi các loại,tạo cơ sở vật chất ban đầu để phát triển thành một trong những ngành công nghiệp mũinhọn của TPHCM
* Các đề tài nghiên cứu về vật liệu mới đã tiếp tục tập trung nghiên cứu vật liệucomposites, một loại vật liệu có nhiều công dụng đang đợc triển khai đồng bộ từ phòngthí nghiệm đến triển khai thử nghiệm và đa vào sản xuất Từ thành công đó tạo ra hàngtrăm loại sản phẩm mới: vỏ xuồng, ghe, ca nô, tàu du lịch, tàu tuần tra, tàu đánh cá, tấplợp, bồn chứa, xi lô, vật liệu trang trí nội thất, vật liệu có tính năng đặc biệt (không cháy,
độ bền cơ học cao) phục vụ các công trình cơ sở hạ tầng, công trình thủy lợi, công trìnhquốc phòng
* Triển khai rộng việc ứng dụng điện mặt trời với tổng công suất hàng trăm KW phục vụthắp sáng, nghe đài, xem tivi, video, truyền thanh, thông tin liên lạc, nguồn sáng cho phẫuthuật cấp cứu, bảo quản vacxin
Nghiên cứu phục vụ sản xuất nông nghiệp, tiếp tục tập trung các đề tài giống cây, giống
con, kỹ thuật thâm canh, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ và các biện pháp bảo vệ thực vật, đãgóp phần đáng kể nâng cao năng suất và chất lợng vành đai thực phẩm của thành phố nh:
* Phát triển đàn bò sữa lên trên 15.000 con, sản lợng sữa trên 80 tấn/ngày đạt tiêu chuẩn
về độ đạm và béo; củng cố và nâng cấp giống heo, gà đạt tiêu chuẩn thịt xuất khẩu
* Nghiên cứu ứng dụng thành công 21 giống lúa mới cho các vùng sinh thái của thànhphố, chọn lọc đợc 10/200 giống đậu phộng chất lợng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu ứng
Trang 25dụng công nghệ sinh học sản xuất các loại chất có hoạt tính sinh học tăng năng suất lúa,rau lên 10-20%; thí nghiệm xây dựng thành công vùng rau sạch không gây ô nhiễm môitrờng và bảo đảm sức khỏe ngời sử dụng.
Công tác bảo vệ môi trờng ngày càng đợc đẩy mạnh: đã thiết lập sự quản lý Nhà nớc vềmôi trờng trên địa bàn thành phố Phát động phong trào sạch và xanh đợc các ngành,quận, huyện và nhân dân đồng tình hởng ứng Thiết lập đợc hệ thống giám sát chất lợngmôi trờng để cảnh báo về tình hình diễn biến ô nhiễm môi trờng trên địa bàn
Thực hiện Chỉ thị 200/TTg-CP của Thủ tớng Chính phủ về chơng trình nớc sạch và vệsinh môi trờng cho nông thôn, đã triển khai thử nghiệm các công trình xử lý nớc phèn vànớc mặn ở các huyện Nhà Bè, Bình Chánh, Cần Giờ Có khoảng trên 10.000 dân c có nớcsạch sử dụng Đề tài cũng góp phần xử lý nớc sạch cho vùng bị bão lụt của một số tỉnhđồng bằng sông Cửu Long, góp phần giải quyết khó khăn về nớc sinh hoạt
Tóm lại, khoa học và công nghệ, bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhânvăn là một thế mạnh của thành phố với tiềm lực lớn cả về đội ngũ và trình độ Thế mạnh
đó phải trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của thành phố và của toàn vùng Nhanhchóng triển khai kết quả nghiên cứu khoa học và thực tiễn, góp phần xác định mục tiêu,lựa chọn công nghệ, biện pháp ứng dụng và phát triển công nghệ mới, lựa chọn các dự ánphát triển, kể cả các dự án hợp tác đầu t với nớc ngoài Cần coi đó là một trong nhữngnhân tố quyết định thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc nóichung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
http://www.cinet.vnnews.com/hcmc/25nam/phan4/khcn.htm
Nửa cuối thập niên 1980 là thời kỳ cả nớc thực hiện những đợt sóng cải cách kinh tế
mạnh mẽ Đánh giá đúng thực trạng kinh tế xã hội của đất nớc Đại hội VI của Đảng vàocuối năm 1986 đã đề ra đờng lối đổi mới toàn diện đồng bộ và mạnh mẽ nhằm ổn địnhmọi mặt tình hình kinh tế xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩymạnh công nghiệp hóa và thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần Nghị quyết Đạihội VI cũng khẳng định hình thành nền kinh tế sản xuất hàng hóa với cơ cấu nhiều thànhphần, có ý nghĩa chiến lợc lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn xãhội chủ nghĩa và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế, đảm bảo cho mọi ngời làm ăn theopháp luật