Triển vọng về quan hệ của Ấn Độ với một số nước và khu vực 86 Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới bước vào thế thời kỳ mới -xu thế hoà bình, hợp tác, phát triển đã trở thành -xu
Trang 1Nhân dịp này, tôi cũng gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân luôn ở bên, động viên, giúp đỡ, khuyến khích tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện luận văn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự giúp đỡ từ thầy
Trang 2Néi dung 6
Chương 1:NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐIỀU
CHỈNHCHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ẤN ĐỘ SAU NĂM 1991 6
1.1.1 Sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta 61.1.2 Sự tác động của xu thế toàn cầu hóa 7
1.2 Khái quát dường lối đối ngoại của Ấn Độ trước năm 1991. 10
1.2.1 Khái quát chính sách đối ngoại của Ấn Độ trước năm 1991 101.2.2 Vai trò của Ấn Độ trong Phong trào Không liên kết 121.2.3 Tổng quan về quan hệ của Ấn Độ với Mỹ, Liên Xô, Trung
1.3 Tình hình kinh tế, chính trị và xã hội Ấn Độ sau năm 1991. 23
1.3.2 Sự phát triển của nền kinh tế Ấn Độ từ năm 1991 đến 2008 25
2.2 Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ với một số nước
và khu vực trên thế giới từ năm 1991- 2008. 34
2.2.1 Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ với Mỹ
2.2.4 Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ với một số
Chương 3:MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VỀ VAI TRÒ, VỊ TRÍ 79
Trang 3QUỐC TẾ CỦA ẤN ĐỘ SAU CHIẾN TRANH LẠNH
3.1 Vai trò, vị trí quốc tế của Ấn Độ sau chiến tranh lạnh. 793.2 Triển vọng về quan hệ của Ấn Độ với một số nước và khu vực 86
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới bước vào thế thời kỳ mới
-xu thế hoà bình, hợp tác, phát triển đã trở thành -xu thế khách quan và chi phốimối quan hệ giữa các nước, buộc tất cả các nước, đặc biệt là các nước lớnphải điều chỉnh lại chính sách đối ngoại để phù hợp với tình hình mới Trongbối cảnh đó, Ấn Độ đã điều chỉnh chính sách ngoại giao linh hoạt và thựcdụng hơn với các nước lớn trên thế giới như Mỹ, Nga, Trung Quốc và một sốquốc gia, khu vực khác trên thế giới
Trang 4Mối quan hệ Ấn - Nga đã được kế thừa từ mối quan hệ truyền thốngẤn- Xô trước đây Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc với sự sụp đổ của Liên
Xô thì mối quan hệ Ấn - Xô bị đứt quãng trong một thời gian dài Sau khiđiều chỉnh chiến lược ngoại giao, Ấn Độ đã nối lại quan hệ ngoại giao truyềnthống với Liên bang Nga - người kế thừa hợp pháp địa vị của Liên Xô trêntrường quốc tế Quan hệ Ấn - Nga sau chiến tranh lạnh có tác động lớn đếnmối quan hệ giữa các nước lớn, góp phần vào việc hình thành thế giới đa cực
Ấn Độ và Mỹ là hai nước lớn đúng nghĩa của nó cả về phương diệnlãnh thổ cũng như vai trò của hai quốc gia này trên thế giới Sự điều chỉnhchính sách ngoại giao của cả hai nước tạo nên những tác động lớn trong quan
hệ quốc tế Sự hợp tác Ấn Độ - Mỹ sẽ tạo ra những tiềm năng to lớn để cho cảhai quốc gia này có điều kiện để phát triển đất nước
Trong mối quan hệ với Trung Quốc, đây là hai nước láng giềng nênquan hệ giữa hai nước đã gây sự chú ý của dư luận, sau mấy thập niên quan
hệ giữa hai nước căng thẳng Sau chiến tranh lạnh, tình hình quốc tế và khuvực có nhiều thay đổi, Ấn Độ đã có những điều chỉnh trong mối quan hệ vớiTrung Quốc Quan hệ giữa hai nước trở nên "nồng ấm" và sự cải thiện đókhông chỉ có lợi cho hai nước mà còn tác động tích cực đến hoà bình, ổn địnhtrong khu vực và trên toàn thế giới
Đối với một số quốc gia, khu vực khác như Pakixtan, Đông Nam Á, Ấn
Độ cũng đã có những điều chỉnh linh hoạt, mềm dẻo trong chính sách đốingoại của mình để tiếp tục xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp, góp phần ổnđịnh và tiếp tục phát triển đất nước Với chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ,rộng mở, “là bạn đối tác tin cậy với tất cả các nước” Việt Nam đang mở rộngquan hệ với các nước, đặc biệt là các nước láng giềng, các nước lớn trong đó
có Ấn Độ Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ không chỉ ảnhhưởng đến khu vực và thế giới mà còn ảnh hưởng rất lớn đến Việt Nam
Việc nghiên cứu sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ do vậy
có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao Với những lý do trên, chúng tôi quyết
định lựa chọn vấn đề: "Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ
1991 - 2008" làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình
Trang 5Cuốn Sự điều chỉnh chính sách của Cộng hoà Ấn Độ từ 1991 đến 2000 của tác giả Trần Thị Lý, Nguyễn Huy Hoàng, Bùi Minh Sơn, Đỗ Đức Định, Nguyễn Công Khanh, NXB KHXH, Hà Nội, 2002 Trong đó, các tác giả đã đề
cập đến nguyên nhân điều chỉnh chính sách của Ấn Độ cũng như mối quan hệ
cụ thể với các quốc gia, khu vực trên thế giới
Cuốn Lịch sử Ấn Độ (1995) do GS Vũ Dương Ninh chủ biên là công
trình có giá trị nhất, toàn diện nhất về lịch sử Ấn Độ cho đến nay, trong đóquan hệ của Ấn Độ với các nước lớn được đề cập tương đối khái quát
Cuốn Jawaharlal Nehru- Tiểu sử và sự nghiệp (2001) của PGS.TS Nguyễn Công Khanh giới thiệu về tiểu sử của Jawaharlal Nehru, nghiên cứu
vai trò của ông trong Phong trào đấu tranh giành độc lập, xây dựng đường lốiđối nội, đối ngoại của quốc gia Ấn Độ Vai trò của J.Nehru trong việc hoạchđịnh chính sách đối ngoại với Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc bước đầu cũng đượctác giả đề cập đến
Cuốn Vị trí và vai trò của quốc tế của Ấn Độ ở châu Á – Thái Bình Dương trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXI của tác giả Nguyễn Quốc Khánh
đã giới thiệu về vai trò và vị trí của Ấn Độ ở châu Á – Thái Bình Dương trên
cơ sở khái quát về chính sách đối ngoại và mối quan hệ giữa Ấn Độ với một
số quốc gia và khu vực trên thế giới
Bài viết Thử nhìn lại quan hệ Mỹ - Ấn Độ trong năm mươi năm qua in trong cuốn Tuyển tập các công trình nghiên cứu lịch sử từ 1990 đến 1999,
Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Vinh, NXB Nghệ An, 1999 Tác giả PGS.TS
Trang 6Nguyễn Công Khanh đã trình một số nét về cơ bản về chính sách đối ngoạicủa nước cộng hoà Ấn Độ với Mỹ từ 1950 cho đến 1999
Quan hệ của Ấn Độ với các quốc gia lớn và một số quốc gia khu vựccòn được đề cập đến trong các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành của các
tác giả như Trần Thị Lý, 10 năm điều chỉnh chính sách đối ngoại của Cộng hoà Ấn Độ (1991- 2000): Những thành tựu, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6, 2001; Ngô Minh Oanh, Tư tưởng không liên kết từ J.Nehru đến I.Gandhi, Nghiên cứu lịch sử, số 2, 2005; Phạm Minh Tuấn, Quan hệ Ấn Độ- ASEAN: Tiến tới mối quan hệ lâu dài và bền vững, Nghiên cứu quốc tế, số (1) 64, 2006; Nguyễn Thu Hương, Về vị trí của Ấn Độ trên trường quốc tế (thời kỳ 1947- 1997), Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6, 2001; Lê Viết Duyên, Quan hệ Ấn- Nga và nét mới trong chính sách của Nga với Nam Á, Nghiên cứu quốc
tế, số 36, 2000…
Như vậy, vấn đề về sự điều chỉnh mối quan hệ của Ấn Độ với một sốquốc gia, khu vực thực tế đã được đề cập phân tán trong một số công trình.Các cuốn sách và các bài viết khi trình bày về sự điều chỉnh chính sách đốingoại của Ấn Độ chỉ đề cập đến những giai đoạn hay khía cạnh cụ thể của cácmối quan hệ với Nga, Trung Quốc, Mỹ và một số khu vực Trên cơ sở các tàiliệu trên cũng như một số tài liệu mới, đề tài sẽ tập trung làm rõ về sự điềuchỉnh những mối quan hệ này của Ấn Độ từ 1991 đến 2009
Trang 71991
Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu sự điều chỉnh chính sáchđối ngoại của Ấn Độ giai đoạn 1991 đến 2008, nghĩa là từ khi Ấn Độ thựchiện công cuộc cải cách toàn diện của thủ tướng Narasimha Rao đến năm2008
Những vấn đề nằm ngoài giới hạn trên không thuộc phạm vi nghiêncứu của đề tài
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.
4.1 Nguồn tài liệu.
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên cơ sở các nguồn tài liệu tin cậy đãđược công bố trong và ngoài nước
- Các diễn văn, bài phát biểu, văn kiện ký kết nhân các chuyến thăm lẫnnhau giữa lãnh đạo cấp cao các nước; các tài liệu hồi ký đã được dịch ra tiếngViệt của các nhà lãnh đạo cấp cao Ấn Độ; các văn kiện về đường lối đối ngoạicủa Ấn Độ
- Các công trình nghiên cứu, các bài viết đã được công bố trên các tạpchí chuyên ngành ở Việt Nam như Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu ĐôngNam Á, Nghiên cứu Quốc tế, Nghiên cứu Trung Quốc….; tài liệu tham khảođặc biệt, tài liệu dịch ở Vụ Nam Á - Bộ Ngoại giao, Thông tấn xã Việt Nam,Trung tâm nghiên cứu Ấn Độ.v.v
- Những công trình nghiên cứu khoa học, khoá luận tốt nghiệp đại học,
đề tài đề cập đến chính sách kinh tế, chính trị đối ngoại của Ấn Độ
Trang 84.2.Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở nguồn tài liệu thu thập được, khóa luận sử dụng phương phápluận Mác – Lênin và các phương pháp nghiên cứu lịch sử nhằm tái hiện kháchquan và khoa học quan hệ về sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ.Trong đó, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phươngpháp lôgic và các phương pháp bộ môn nhằm giải quyết căn bản những vấn đềđặt ra
Bên cạnh đó, quan điểm của Đảng về các vấn đề quốc tế, đường lối đốingoại cũng được chúng tôi quán triệt trong quá trình nghiên cứu Khóa luậncòn sử dụng các phương pháp chuyên ngành và liên ngành như tổng hợp,thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh và suy luận logic … để giải quyếtnhững vấn đề khoa học đặt ra
5 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở các nguồn tư liệu tiếp cận được, luận văn cố gắng khái quátmột cách hệ thống về sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ thời kỳ
từ 1991 đến 2008
Luận văn đi vào tìm hiểu sự điều chỉnh chính sách chung và chính sách
cụ thể của Ấn Độ đối với các nước lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc… Qua đóbước đầu đánh giá vai trò, vị trí và triển vọng của chính sách đối ngoại của
Ấn Độ Luận văn được thực hiện sẽ giúp ích cho bản thân sau này trongviệc nghiên cứu và giảng dạy ở trường phổ thông, đồng thời là tài liệu thamkhảo cho những ai quan tâm nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Ấn Độ
6 Bố cục của khoá luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungchính của khoá luận được trình bày trong 3 chương sau:
Chương 1: Những nhân tố tác động đến sự đièu chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ sau năm 1991.
Chương 2: Sự điều chỉnh đường lối đối ngoại của Ấn Độ từ 1991- 2008 Chương 3: Một số đánh giá về vai trò, vị trí quốc tế của Ấn Độ sau chiến tranh lạnh.
Trang 9Chương 1:
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐIỀU CHỈNH
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ẤN ĐỘ SAU NĂM 1991
1.1 Tình hình thế giới sau năm 1991.
1.1.1 Sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta.
Trật tự hai cực Ianta được thiết lập trên cơ sở những thỏa thuận của bacường quốc Liên Xô, Mỹ và Anh tại Hội nghị Ianta đã chi phối toàn bộ đờisống kinh tế, chính trị cũng như quan hệ quốc tế suốt những năm 1945 đến
1991 Cuộc đối đầu giữa hai khối Đông - Tây đã cuốn hút nhiều quốc gia,nhiều khu vực vào vòng xoáy của nó Sau hơn 40 năm tồn tại, đến năm 1991trật tự hai cực Ianta đã chính thức bị phá vỡ do sự sụp đổ của “cực Liên Xô”.Nhân cơ hội trật tự hai cực bị phá vỡ, Mỹ liền ra sức vươn lên “thế một cực”trong trật tự thế giới mới, còn các cường quốc khác cố gắng duy trì thế đacực Chính sự tan rã của trật tự thế giới hai cực đã dẫn tới sự giảm sút vai tròquốc tế của Ấn Độ với tư cách là trụ cột của Phong trào Không liên kết vànước có vị trí đứng đầu của thế giới thứ ba
Chiến tranh lạnh kết thúc, sự tan rã của trật tự thế giới hai cực đã khiếncho Phong trào Không liên kết, lực lượng chính trị giữa hai phe TBCN vàXHCN không còn vai trò quan trọng như thời kì trước nữa Vị thế của Ấn Độvới tư cách là một trong những nước lãnh đạo của Phong trào Không liên kết
do đó cũng bị suy giảm trên trường quốc tế Một số vấn đề quốc tế nổi cộmtrước đây và cũng là những lĩnh vực mà Ấn Độ đã từng phát huy được vai trònhư: ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, chống đế quốc xâmlược, giải trừ quân bị, bảo vệ hòa bình, chống chủ nghĩa phân biệt chủngtộc… đã không còn nhiều ý nghĩa trong một thế giới mà yếu tố kinh tế trởthành yếu tố nổi trội trong quan hệ quốc tế như giai đoạn sau chiến tranh lạnh.Đây chính là yếu tố quan trọng khiến Ấn Độ phải có những thay đổi về đốingoại để xác lập cho mình vị trí quốc tế xứng đáng trong một trật tự thế giớimới đang hình thành
Trang 10Đồng thời với sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta là sự sụp đổ của Liên
Xô đã khiến Ấn Độ mất đi một chỗ dựa vững chắc về mọi mặt Tuy là mộtnước không liên kết nhưng Ấn Độ lại có nhiều quan điểm gần gũi với Liên
Xô như: chống chủ nghĩa đế quốc, ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóngdân tộc, bảo vệ sự nghiệp hòa bình thế giới… Trong thời kì chiến tranh lạnh,
sự gắn bó giữa Liên Xô và Ấn Độ đã làm nghiêng hẳn cán cân có lợi cho lựclượng hòa bình, dân chủ và cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Đặcbiệt sau khi quan hệ Xô- Trung căng thẳng và cuộc chiến tranh Trung - Ấn(1962), quan hệ Xô- Ấn ngày càng trở nên mật thiết với bằng chứng là Hiệpước Hòa bình, Hữu nghị và Hợp tác mà hai bên đã kí vào năm 1971 Nếu vềmặt chính trị, quan hệ Ấn - Xô là quan hệ đồng minh chiến lược dựa trên cơ
sở những lợi ích trùng hợp thì về mặt kinh tế Liên Xô cũng là một chỗ dựa vôcùng vững chắc cho Ấn Độ Các nhà máy của Ấn Độ do Liên Xô giúp đã sảnxuất ra 80% tổng sản lượng thiết bị luyện kim, 60% sản lượng thiết bị điện,35% sản lượng thép, 70% sản lượng khai thác dầu, 20% sản lượng điện [15;14] Về thương mại, hai bên là thị trường lớn của nhau Liên Xô là bạn hànglớn thứ hai của Ấn Độ và là bạn hàng “dễ tính” của Ấn Độ Chính mối quan
hệ mật thiết dựa trên những lợi ích chính trị là chính, nhiều lúc bất chấp quan
hệ hàng hóa, tiền tệ theo cơ chế thị trường đã khiến Ấn Độ hụt hẫng nghiêmtrọng khi Liên Xô sụp đổ
Như vậy, sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta đã tác động sâu sắc vào vịthế của Ấn Độ, đồng thời với sự sụp đổ của Liên Xô, Ấn Độ đã mất đi chỗdựa tin cậy và là đối tác chiến lược trong suốt hơn 40 năm Yêu cầu tìm kiếm,điều chỉnh chính sách đối ngoại trong tình hình mới đặt ra cấp thiết
1.1.2 Sự tác động của xu thế toàn cầu hóa.
Chiến tranh lạnh chấm dứt đã làm thay đổi căn bản, bản chất các mốiquan hệ giữa các nước Các quốc gia bước ra khỏi cuộc chiến đều đứng trướcmột thực tế, thế giới của thời kì sau chiến tranh lạnh là một thế giới tập hợpcác quốc gia độc lập, ít ràng buộc nhau hơn về mặt tư tưởng, vừa phụ thuộcnhưng vừa cạnh nhau gay gắt Cho nên có thể thấy trong chiến lược của tất cả
Trang 11các quốc gia nhất là các nước lớn, vấn đề phát triển kinh tế đều được coitrọng Quá trình toàn cầu hóa có những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất: Quá trình tự do hóa thương mại, mở rộng thị trường về chiềusâu, tự do hóa lưu chuyển vốn, sự hòa nhập của cơ cấu tài chính, sự phâncông chuyên môn hóa sản xuất Toàn cầu hóa đang diễn ra một cách sôi động,lôi cuốn các quốc gia lớn nhỏ, từ trung tâm đến ngoại vi vào vòng xoáy của
nó tạo nên sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn Từ đó, sự đan xen về lợi íchcũng như thống nhất, mâu thuẫn luôn diễn ra trên phạm vi quốc gia, liên quốcgia, khu vực và toàn cầu
Thứ hai: Sự liên kết giữa các nước diễn ra theo mối liên hệ từ mộtngành đến nhiều ngành, từ kinh tế đến khoa học công nghệ, văn hóa, thể thao,chính trị, ngoại giao Sự liên kết và tương tác như vậy đã lan tỏa từ trung tâmđến ngoại vi, vượt qua mọi biên giới quốc gia và thể chế chính trị khác nhauvới mức độ không giống nhau
Thứ ba: Quá trình toàn cầu hóa vận động có xu hướng đối lập nhau.Bên cạnh việc hợp tác liên kết hình thành cộng đồng thế giới thì lại diễn ra xuhướng co cụm theo khu vực địa lý Chẳng hạn sự hình thành NAFTA giữa
Mỹ, Mêhicô và Canađa, sự thống nhất các quốc gia trong EU, ASEAN…Đồng thời với xu hướng liên kết là xu hướng phân rã, chia rẽ các liên bang,các khu vực liên kết thành các quốc gia độc lập, vùng tự chủ theo sắc tộc, tôngiáo, địa lý…
Thứ tư: Về cơ bản, quá trình toàn cầu hoá đang diễn trong khung cảnhhòa bình, đối thoại thay cho đối đầu Song không phải chiến tranh đã hoàntoàn kết thúc, máu đã ngừng đổ mà các thế lực phản động quốc tế vẫn đangtìm mọi cách để áp đặt hệ tưởng chính trị của mình lên toàn nhân loại và khi
bị phản ứng chúng sẵn sàng dùng vũ lực để chống đối Do vậy, nền hòa bìnhthế giới vẫn đang bị đe dọa, mọi quốc gia dân tộc đều có trách nhiệm quétsạch các thế lực chống đối, bảo vệ vững chắc nền hòa bình cho nhân loại
Thứ năm: Sự hình thành về mặt tổ chức các thiết chế liên quốc gia vàquốc tế tiếp tục đẩy mạnh Song bình đẳng của các nước trong các thể chế đó
Trang 12luôn là vấn đề nổi cộm Các tổ chức này tuy đã góp phần không nhỏ vào việcgiải quyết nhiều vấn đề quốc tế mà thành quả của nó mang lại lợi ích chungcho cả cộng đồng thế giới, song trên thực tế nó đã bị Mỹ và một số cườngquốc phương Tây khống chế Trong việc giải quyết những vấn đề hệ trọng,thường các tổ chức này lại trở thành bình phong che đậy cho việc thực hiện ý
đồ của Mỹ và một số nước phương Tây
Như vậy, với những đặc trưng cơ bản của quá trình toàn cầu hóa là tự
do hóa mà trước hết là tự do hóa về kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật và mởrộng sự giao lưu quốc tế về các vấn đề chính trị- xã hội, toàn cầu hóa đangđưa lại một khả năng to lớn đối với các quốc gia trong việc hợp tác nhằm khaithác các nguồn lực quốc tế để phát triển Xu thế tập trung phát triển kinh tế đểtránh tụt hậu khiến tất cả các nước phải hợp tác với nhau, từng nước đều thihành chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình này càng làmcho toàn cầu hóa diễn ra nhanh hơn, đồng thời thúc đẩy sự phụ thuộc lẫnnhau, đan xen lợi ích quốc gia của các nước với nhau; do đó giảm thiểu nguy
cơ chiến tranh và xung đột, khuyến khích xu hướng vừa hợp tác vừa đấu tranhhòa bình Tiến trình này mở ra thời kì mới với vai trò ngày càng quan trọngtrong quan hệ quốc tế nói chung và trong quan hệ kinh tế quốc tế nói riêngcủa các chủ thể phi nhà nước như các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế và đaphương APEC, WTO, IMF… Trong quá trình đó, Ấn Độ cũng không tránhkhỏi sức ép, chính sách áp đặt của các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế khigia nhập với tư cách thành viên
Tóm lại, trước xu thế toàn cầu nói trên, tất cả các nước phải điều chỉnhchính sách để thích hợp với hoàn cảnh mới Quá trình toàn cầu hóa đã tácđộng sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của cộng hòa Ấn Độ, đặt
ra cho Ấn Độ những thách thức, trong đó có việc điều chỉnh chính sách đốingoại một cách phù hợp và hiệu quả
Trang 131.2 Khái quát đường lối đối ngoại của Ấn Độ trước năm 1991.
1.2.1 Khái quát chính sách đối ngoại của Ấn Độ trước năm 1991.
Ngay từ khi mới giành được quyền tự trị, Thủ tướng đầu tiên của Ấn
Độ Nêru đã đề ra những phương hướng chính trong chính sách đối ngoại là
“chung sống hoà bình, tự lực tự cường và hợp tác, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không liên kết, ủng hộ phi thực dân hoá, giải trừ vũ khí, xây dựng trật tự kinh tế quốc tế công bằng và đấu tranh trên toàn cầu chống phân biệt chủng tộc”[10; 18].
Từ ngày 23/3- 2/4/1947, theo sáng kiến của J.Nêru, tại Đêli đã diễn raHội nghị Liên Á lần thứ nhất có đại diện của 28 nước châu Á tham gia Hainăm sau, chính phủ Ấn Độ lại có sang kiến triệu tập Hội nghị châu Á lần thứhai (từ 20 đến 23/1/1949) Tại hội nghị, J.Nêru nghiêm khắc lên án việc liênminh phương Tây ủng hộ Hà Lan xâm lược Inđônêxia Uy tín quốc tế của Ấn
Độ được đề cao, đến đầu năm 1950 đã có 39 nước thiết lập quan hệ ngoạigiao Ngoài việc thiết lập quan hệ với Liên Xô và các nước XHCN khác, Ấn
Độ là nước đầu tiên công nhận Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Ấn Độ cònđóng vai trò nòng cốt trong việc thành lập Mặt trận các nước châu Á chốngchủ nghĩa đế quốc thực dân, tạo thành lực lượng mới trỗi dậy tại diễn đànLiên Hợp Quốc Tháng 6/1954, Thủ tướng Ấn Độ J.Nêru đã cùng Thủ tướngTrung Quốc Chu Ân Lai đề ra “Năm nguyên tắc chung sống hoà bình” (PanchSheel) nổi tiếng:
1 Tôn trọng toàn bộ lãnh thổ và chủ quyền của nhau
2 Không tấn công nhau
3 Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
4 Bình đẳng và cùng có lợi
5 Cùng tồn tại hoà bình
Năm nguyên tắc này không chỉ đặt cơ sở cho quan hệ Ấn - Trung màcòn cho quan hệ quốc tế của các nước châu Á- Phi và trỏ thành nền tảng của
chính sách đối ngoại Ấn Độ “Năm nguyên tắc” đã được phát triển thành
“Mười nguyên tắc Băng Đung” tại Hội nghị Á- Phi ở Inđônêxia tháng 4/1955.
Trang 14Tại đây, đại diện Ấn Độ đã khẳng định lập trường chống chủ nghĩa thực dân
và góp phần gìn giữ Hội nghị không đi chệch khỏi vấn đề cốt tử đó Nhữngnguyên tắc Băng Đung đã trở thành cơ sở cho tư tưởng không liên kết Với ýnghĩa đó, Hội nghị Băng Đung được coi là tiền thân của Phong trào Khôngliên kết
Ấn Độ cùng Inđônêxia, Nam Tư, Ai Cập và Gana sáng lập Phong tràoKhông liên kết trong cuộc gặp gỡ của 5 nguyên thủ: J.Nêru, B.Titô, A.Natxe,N.Cơruma và Xucacnô tại khoá họp XV Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm
1960 Hoạt động này đã dẫn đến việc triệu tập hội nghị cấp cao các nướckhông liên kết lần thứ nhất ở Bengrat (Nam Tư) vào năm sau Tiêu chuẩn cơbản của một nước không liên kết, theo Ấn Độ là thực hiện chính sách độc lậptrên những nguyên tắc chung sống hoà bình và không liên kết, luôn ủng hộphong trào độc lập dân tộc, không tham gia liên minh quân sự Sau khi J.Nêruqua đời, các nhà lãnh đạo Ấn Độ vẫn tiếp tục thực hiện đường lối không liênkết đó Ấn Độ luôn đóng vai trò quan trọng trong Phong trào Không liên kết.Vào đầu những năm 80, khi tình hình thế giới và khu vực gặp phải những thửthách phức tạp, Ấn Độ sẵn sàng nhận trách nhiệm đăng cai Hội nghị cấp caoPhong trào Không liên kết thứ bảy ở Niu Đêli Từ diễn đàn này, với tư cách làChủ tịch mới của phong trào, I.Gandhi xác định rõ ràng nội dung tư tưởng
không liên kết: “không liên kết không có nghĩa là mơ hồ, trung lập; không liên kết có nghĩa là độc lập dân tộc và tự do Chúng ta chủ trương hoà bình, bình đẳng giữa các dân tộc, đòi dân chủ hoá các quan hệ kinh tế về kinh tế cũng như chính trị” [18; 166] Có thể nói, trong hơn 30 năm tồn tại của Phong
trào Không liên kết, Ấn Độ có những hoạt động không mệt mỏi vào sự pháttriển mạnh mẽ và đúng hướng của phong trào Biểu hiện rõ nhất điều đó làthời kì Ấn Độ làm Chủ tịch phong trào (1983- 1986) và tại Hội nghị cấp caolần thứ X của tổ chức này họp ở Giacacta vào tháng 9/1992
Trong những thập kỉ 50 - 60, Cộng hoà Ấn Độ hoàn toàn ủng hộ cuộcđấu tranh ở hàng loạt thuộc địa ở Anh, Pháp cũng như đối với các thuộc địa
Bồ Đào Nha vào những năm 70 Ngay từ khi cuộc đấu tranh lâu dài của nhân
Trang 15dân Palextin bắt đầu, Ấn Độ đã tích cực ủng hộ, sớm công nhận và duy trìquan hệ với tổ chức giải phóng PLO Chính phủ Ấn Độ ngày càng kiên quyếtủng hộ mạnh mẽ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ĐôngDương, góp phần quan trọng trong việc chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình
ở vùng này Khi các nước Đông Dương bị đe doạ xâm lược, hoặc trước hoạtiệt chủng ở Campuchia, Ấn Độ luôn luôn đứng bên cạnh Năm 1980, ngaysau khi trở lại cầm quyền, Thủ tướng I.Gandhi đã công nhận và đặt quan hệngoại giao với chính phủ cách mạng Campuchia do Hiêng Xomrin đứng đầubất chấp mọi trở lực
1.2.2 Vai trò của Ấn Độ trong Phong trào Không liên kết.
Người đầu tiên đưa ra khái niệm “Không liên kết” và coi đó là chínhsách là Thủ tướng Ấn Độ J.Nêru Ngay từ ngày 7/9/1946 tức là trước ngày
Ấn Độ giành được độc lập (5/8/1947), Nêru trong một bài phát biểu trên đài
phát thanh đã nói: “Chúng ta chủ trương hết sức tránh xa khối quyền lực, cách làm mà một khối này chống lại một khối khác đã từng dẫn đến đại chiến thế giới, rất có thể một lần nữa nó sẽ đem lại tai hoạ với qui mô lớn hơn” [28; 13].Trong một bức thư mà Nêru đã gửi cho Gen- Cariappa - người lãnh đạo quân đội Ấn Độ, ngày 5/5/1950 có nói: “Tôi và Chính phủ của mình đã thể hiện rất rõ ràng chính sách đối ngoại của chúng ta, đó là không liên kết với bất cứ một khối quyền lực (Power bloc) nước lớn nào” [28; 12].
Ngày hôm sau, Nêru đã gửi thư cho Ngoại trưởng Ấn Độ V.K.KrishnaMenon để nói với ông ta về những vấn đề quan trọng của văn kiện trên để
cho giới lãnh đạo quân sự biết về “chính sách không liên kết của chúng ta”
Nêru tuyên bố: “Lòng mong muốn to lớn của chúng ta là xúc tiến hoà bình
và tiến bộ trên toàn thế giới… đã kéo dài thời kì mà người châu Á chúng ta
Trang 16là kẻ đệ đơn thỉnh cầu tại các toà án và các văn phòng của phương Tây Giờ đây tình trạng đó phải thuộc về quá khứ Chúng tôi đề nghị chúng ta phải đứng vững trên hai chân của mình và hợp tác với những ai sẵn sàng hợp tác với chúng ta Chúng ta không muốn trở thành đồ chơi của những kẻ khác”[28; 13].
Tháng 1/1949, theo đề nghị của Miến Điện, Thủ tướng J.Nêru tổ chứcHội nghị châu Á lần thứ hai tại Niu Đêli với đại diện chính phủ 15 nước nhằmmục đích ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa,đặc biệt là lên án chiến tranh xâm lược của thực dân Hà Lan ở Inđônêxia
Cuối những năm 40 đầu những năm 50, trước sự thắng lợi giòn giã củaphong trào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Á,Phi, Mỹ latinh, các nước đế quốc thực dân tăng cường cấu kết, tập hợp đồngminh hòng “ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản” và đối phó với phong trào giảiphóng dân tộc Mỹ đã thành lập một loạt các khối quân sự như NATO,SEATO, ANZUS, CENTO… Trước nguy cơ độc lập chủ quyền của mình bị
đe doạ, các nước mới độc lập thấy cần thiết và cấp bách phải tìm ra nhữngnguyên tắc chỉ đạo mối quan hệ giữa các nước châu Á và châu Phi với nhau
và với các nước lớn
Tháng 4/1954, Nguyên thủ 5 nước Ấn Độ, Miến Điện, Xây Lan (nay làSri Lanka), Pakixtan và Inđônêxia họp tại Colombo (Sri Lanka) để thảo luậncác vấn đề quan tâm chung như: chống thực dân và phân biệt chủng tộc, chiếntranh lạnh, vấn đề thử vũ khí hạt nhân và hợp tác kinh tế Tại đây, Thủ tướngNêru đã tuyên bố rằng đa số các nước tham dự hội nghị theo đuổi chính sáchđối ngoại không liên kết Theo đề nghị của Inđônêxia, 5 nước này đã triệu tậpmột hội nghị các quốc gia độc lập như châu Á và châu Phi trong năm 1955.Sau đó 5 nước lại gặp nhau tại Bogor (Inđônêxia) vào tháng 12/1954 và quyếtđịnh Hội nghị Á- Phi sẽ họp tại thành phố Băng Đung của Inđônêxia từ ngày
18 đến 24/4/1955
Ngày 18/4/1955, hội nghị đoàn kết của nhân dân Á, Phi đã diễn ra tạiBăng Đung Tại hội nghị những nguyên tắc của phong trào Không liên kết đã
Trang 17được xác định và về sau trở thành đường lối, chính sách đối ngoại của đa sốcác quốc gia độc lập trẻ tuổi Các nước tham gia hội nghị đã nhất trí đề ramười nguyên tắc Băng Đung chỉ đạo quan hệ và an ninh quốc tế Mườinguyên tắc đó là:
1 Tôn trọng quyền cơ bản của con người và tôn trọng tôn chỉ và nguyêntắc Hiến chương Liên Hợp Quốc
2 Tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của tất cả các quốc gia
3 Thừa nhận sự bình đẳng của các chủng tộc và sự bình đẳng của tất cảcác quốc gia lớn và nhỏ
4 Không can thiệp và không xen vào công việc nội bộ của các nướckhác
5 Tôn trọng quyền của mỗi dân tộc được tự vệ riêng lẻ hoặc tập thể phùhợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc
6 Không dùng những thoả thuận về phòng thủ tập thể nhằm phục vụ lợiích riêng của bất cứ cường quốc nào và không nước nào được gây sức
ép đối với các nước khác
7 Tự kiềm chế, không hành động hoặc đe doạ xâm lược hoặc sử dụng sứcmạnh vi phạm toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của bất cứ nướcnào
8 Giải quyết các xung đột quốc tế bằng biện pháp hoà bình do các bênlựa chọn, phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc
9 Khuyến khích lợi ích chung và hợp tác
10.Tôn trọng công lý và nghĩa vụ quốc tế
Mười nguyên tắc được dùng làm cơ sở cho chính sách đối ngoại củacác nước Á, Phi mới độc lập, đồng thời được dùng làm cơ sở cho nhữngnguyên tắc của Phong trào Không liên kết Không liên kết trên cơ sở chốngchủ nghĩa đế quốc, thực dân, vì hoà bình, độc lập dân tộc và phát triển kinh tế,
là chính sách cơ bản của Ấn Độ J.Nêru nhiều lần nhấn mạnh rằng: “Khôngkiên kết” không phải là tập trung một cách thụ động, mà cần phải có thái độ
Trang 18rõ ràng trong các vấn đề như chạy đua vũ trang, chính sách xâm lược của đếquốc
Mặc dù trong trong thời kì 1962 - 1971 vai trò của Ấn Độ suy giảmmạnh mẽ sau một loạt các biến cố đối nội và đối ngoại, song về cơ bản Ấn Độvẫn duy trì chính sách không liên kết và chống lại âm mưu của Mỹ dùng việntrợ kinh tế và lợi dụng những khó khăn của Ấn Độ để lôi kéo Ấn Độ vào quỹđạo chống các nước XHCN Ấn Độ vẫn tiếp tục cố gắng duy trì vai trò củamình tại Phong trào Không liên kết qua các kỳ họp ở Cairo (1964) và Lusaka(1970)
Đến thời kỳ 1971- 1980, Ấn Độ vẫn tiếp tục phát huy vai trò quan trọngcủa mình trong Phong trào Không liên kết Ấn Độ cũng có lập trường ủng hộViệt Nam, lên án mạnh mẽ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam vàtích cực ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ
Thời kỳ giữa những năm 1980 - 1991, những biến động vô cùng to lớntrên thế giới đã tác động mạnh mẽ Phong trào Không liên kết Sự sụp đổ củachế độ chủ nghĩa XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô đã có ảnh hưởng tolớn đến sự hoạt động của phong trào Vị thế của Ấn Độ với tư cách là mộttrong những nước lãnh đạo của Phong trào Không liên kết cũng bị suy giảmtrên trường quốc tế
Có thể nói, đóng góp lớn nhất của Ấn Độ cho lịch sử quan hệ quốc tếthời kì chiến tranh lạnh là đã sáng tạo nên một con đường đi mới - con đườngkhông liên kết trong trật tự thế giới hai cực và chiến tranh lạnh Với nhữnghoạt động tích cực, năng động, trong thời kì chiến tranh lạnh Ấn Độ đã nổilên với tư cách là lãnh tụ của các nước thế giới thứ ba, có một tiếng nói cótrọng lượng và một vị trí được nể trọng trên trường quốc tế
Nhận xét sau đây về vị trí quốc tế của Nêru, vị Thủ tướng đầu tiên vàcũng là người sáng lập nên nước Cộng hoà Ấn Độ có thể coi là đại diện cho vị
thế quốc tế của Ấn Độ thời kì này: “Với vai trò là trụ cột của ông trong Phong trào Không liên kết, với tư cách là người đại diện cho lợi ích quốc gia của Ấn Độ, Nehru đã được đón tiếp tại Matxcơva, Oasinhtơn và châu Âu như
Trang 19một đồng minh bình đẳng, được đánh giá cao và được công nhận ngay cả khi những luận điểm của ông không thể chấp nhận được Như vậy ông đã góp phần vào việc khẳng định và mở rộng không những chính sách của quốc gia
Ấn Độ mà cả chính sách không liên kết nói chung” [12; 34].
1.2.3 Tổng quan về quan hệ của Ấn Độ với Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc trong chiến tranh lạnh
* Đối với Mỹ: Sự không tương hợp về chiến lược toàn cầu của Mỹ quy
định mâu thuẫn sâu sắc giữa nước này với Ấn Độ, một quốc gia vừa mớigiành được độc lập và đi theo con đường không liên kết Mâu thuẫn đó biểuhiện trong sự khác nhau căn bản về quan điểm đối với những vấn đề pháttriển quốc tế quan trọng nhất, mà cụ thể là vấn đề chiến tranh và hoà bình,giải trừ quân bị, giải quyết xung đột trên thế giới, cùng tồn tại hoà bình giữacác quốc gia có chế độ xã hội khác nhau, chủ nghĩa thực dân cũ, trật tự kinh tếthế giới mới
Do vậy, trong suốt bốn thập kỉ của thời kì chiến tranh lạnh, mối quan
hệ Ấn - Mỹ hầu như luôn trong tình trạng hoặc lạnh lẽo hoặc căng thẳng,những thời điểm cải thiện hầu như không đáng kể Tuy quan hệ chính trịkhông suôn sẻ, nhưng về kinh tế, Ấn Độ vẫn coi Mỹ là đối tác số một, một thịtrường lớn không bỏ qua Vì vậy chính sách của Ấn Độ với Mỹ là vừa đấutranh vừa hợp tác, giữ mối quan hệ lâu dài
Ngay từ ngày đầu độc lập, Ấn Độ rất cần đến tài chính, kỹ thuật để pháttriển công, nông nghiệp Mỹ là nước duy nhất có thể giúp Ấn Độ về kinh tế vìlúc này nhiều người ở Ấn Độ cho rằng, Liên Xô sẽ không viện trợ cho mộtnước không cộng sản Về phía Mỹ, trong những năm đầu tiên sau chiến tranh,
Mỹ đã theo đuổi mục đích thâm nhập kinh tế vào Ấn Độ và nắm chặt thịtrường nước này Ngoài ra, Mỹ còn bắt đầu nghiên cứu khả năng sử dụng Ấn
Độ như một điểm ngăn chặn sự thức tỉnh của châu Á do thất bại không thểtránh khỏi của Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc Đi xa hơn, Tổng thống MỹH.Tơruman mời Thủ tướng J.Nêru thăm Mỹ Ngày 11/10/1949, Thủ tướngNêru đã đi thăm Mỹ Trong thời gian ở Mỹ, Nêru đã hội đàm với Tổng thống
Trang 20Tơruman, cố vấn quốc gia Acheson… song không đạt được kết quả đáng kể.
Lý do là Mỹ còn thiếu tin tưởng về sự ổn định nội bộ ở Ấn Độ và bởi Nêrukhông muốn nhận bất cứ một trách nhiệm chính trị, quân sự cụ thể nào trướcHoa Kỳ
Từ những năm 50 trở đi, xu hướng thân Liên Xô của Ấn Độ cũng nhưvai trò ngày càng tăng của Ấn Độ trong các nước thế giới thứ ba với tư cách
là trụ cột của Phong trào Không liên kết đã làm cho quan hệ Ấn - Mỹ ngàycàng trở nên băng giá Sau chiến tranh biên giới Ấn - Trung (1962), Ấn Độtìm đến sự hợp tác quân sự hạn chế với Mỹ Tuy nhiên, Mỹ đã không đạtđược việc dùng quân sự trói buộc nước này vào một liên minh quân sự, khôngđặt được một căn cứ quân sự nào trên đất Ấn Độ
Từ giữa thập kỉ 60, Ấn Độ lên án cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam,
không chấp nhận chính sách “dùng người châu Á đánh người châu Á” của Mỹ
và kí với Liên Xô Hiệp định Hoà bình, Hữu nghị và Hợp tác (tháng 8/1971).Những hành động này của Ấn Độ được coi là những thách thức đối với chiếnlược toàn cầu của Mỹ Năm 1971 được coi là năm quan hệ Ấn - Mỹ xuống tớimức thấp nhất Tình trạng căng thẳng này kéo dài trong suốt thời kì cầmquyền của Đảng Quốc Đại I do bà I.Gandhi đứng đầu (đầu năm 1977)
Trong khoảng hai năm từ tháng 3/1977 đến cuối năm 1979, ĐảngJanata lên cầm quyền thay thế Đảng Quốc Đại I Với khuynh hướng thân hữucủa những người lãnh đạo mới, chính quyền Janata đã ra sức thực hiện chínhsách không liên kết “thực sự” tức là điều chỉnh lại thế đứng của Ấn Độ trongquan hệ với Liên Xô và Mỹ cho “cân bằng” hơn vì họ cho rằng chính quyềntrước đó đã quá nghiêng về phía Liên Xô Bằng cách này, chính quyền Janatamuốn gây một ấn tượng đối với Mỹ và Trung Quốc trong cách nhìn nhận của
họ về Ấn Độ, hạn chế chính sách của Mỹ và Trung Quốc kiềm chế Ấn Độbằng cách lấy Pakixtan làm đối trọng đối với Ấn Độ trong khu vực này
Từ tháng 1/1980, Đảng Quốc Đại I trở lại cầm quyền, tiếp tục phát huychính sách đối ngoại tích cực của mình Chính phủ của bà I.Gandhi đã giữvững lập trường nguyên tắc trong vấn đề Campuchia và Apganistan, tỏ thái
Trang 21độ dứt khoát đối với những vấn đề liên quan đến an ninh và ổn định trong khuvực (Nam Á, Ấn Độ Dương) Đặc biệt, việc Ấn Độ công nhận chính quyềncách mạng ở Campuchia đã làm cho Mỹ khó chịu và có những hành động trảđũa: đánh thuế từ 15% - 20% các mặt hàng xuất khẩu của Ấn Độ sang Mỹ,đơn phương ngừng thực hiện hiệp định cung cấp nhiên liệu hạt nhân cho nhàmáy Tarapurr của Ấn Độ nhằm ép Ấn Độ kí vào hiệp ước cầm phổ biến vũ
khí hạt nhân mà Ấn Độ coi là “không công bằng và phân biệt đối xử”, cản trở
việc Ấn Độ vay tiền các tổ chức tài chính và ngân hàng thế giới Vì vậy, năm
1981 được coi là năm quan hệ Ấn - Mỹ xuống đến mức thấp nhất kể từ năm1971
Tuy nhiên, cả Ấn Độ và Mỹ đều thấy rằng không thể để tình trạng nàykéo dài mà phải có những bước cần thiết để cải thiện quan hệ Đó là lí dokhiến Thủ tướng Ấn Độ Rajiv Gandhi đã có nhiều hoạt động nhằm tạo điềukiện thuận lợi cho việc cải thiện quan hệ Ấn - Mỹ mà bà I.Gandhi đã khởiđầu: bãi bỏ một loạt hạn chế trong lĩnh vực kinh tế, mở rộng khu vực kinh tế
tư nhân R.Gandhi có chuyến thăm Mỹ vào tháng 6/1985 Tuy còn nhiều bấtđồng về chính trị, chuyến đi thăm của R.Gandhi đã làm bầu không khí quan
hệ Ấn - Mỹ trở nên tốt hơn
Từ giữa những năm 80, Mỹ trở thành bạn hàng thứ hai của Ấn Độ (sauLiên Xô), nhưng lại đứng đầu về khối lượng viện trợ, là nguồn vay chủ yếuthông qua ngân hàng thế giới (WB), đứng đầu thứ hai sau Anh về khối lượngđầu tư tư nhân cho các công ty ở Ấn Độ Đến năm 1988- 1989, Mỹ đã vượtLiên Xô và trở thành bạn hàng chính của Ấn Độ
Có thể nói, quan hệ Ấn - Mỹ trong chiến tranh lạnh không phải là kẻthù nhưng cũng chưa bao giờ là phát triển đến mức thân thiện và tin cậy lẫnnhau
* Đối với Liên Xô: Ấn Độ và Liên Xô là hai nước tuy không có chung
về lịch sử, văn hoá nhưng lại có nhiều điểm gần gũi về mục tiêu và tư tưởngvới nhau như: chống chủ nghĩa đế quốc, ủng hộ phong trào giải phóng dântộc, bảo vệ hoà bình trên thế giới Xuất phát từ mục tiêu và tư tưởng này đã
Trang 22đưa hai nước đến gần nhau hơn Liên Xô và Ấn Độ chính thức thiết lập quan
hệ ngoại giao vào tháng 4/1947 Tuy nhiên mối quan hệ giữa hai nước ban
đầu có những hạn chế, do Liên Xô từng coi Ấn Độ là “công cụ của chủ nghĩa Anh - Mỹ”.
Sau khi Stalin qua đời vào năm 1953, Liên Xô bày tỏ mong muốn thiếtlập quan hệ hữu nghị với Ấn Độ Mong muốn này càng được thúc đẩy sau khiLiên Xô quyết định mở rộng ảnh hưởng quốc tế của mình cũng như kết giaovới những quốc gia mới độc lập và không liên kết ở châu Á, châu Phi Ấn Độmuốn kết giao với Liên Xô để kiềm chế Trung Quốc và Pakixtan, nhất làtrong vấn đề tranh chấp biên giới Hơn nữa, Ấn Độ đang rất cần sự giúp đỡcủa Liên Xô để phát triển các ngành công nghiệp, cũng như mua vũ khí vớigiá ưu đãi của Liên Xô
Sau hội nghị Băng Đung (1955), sự thành lập Phong trào Không liênkết (1961) mà Ấn Độ là một trong những nước sáng lập và đóng vai trò to lớntrong quá trình phát triển Từ đây, mối quan hệ Xô- Ấn ngày càng được củng
cố, tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô để đối phó sức ép của chủ nghĩa đế quốc
và giải quyết những vấn đề còn tồn đọng trong nước Liên Xô thường hậuthuẫn Ấn Độ về lập trường của nước này đối với vùng đất Casơmia (khu vựctranh chấp giữa Ấn Độ và Pakixtan) Năm 1955, Thủ tướng J.Nêru thăm Liên
Xô và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Khơrusôp cũng chính thức sang thăm ẤnĐộ
Các nhà lãnh đạo Liên Xô đã tán thành chính sách đối ngoại của Ấn Độ
và ủng hộ quan điểm chống Pakixtan của Ấn Độ đối với vấn đề Casơmia.Liên Xô cũng ủng hộ quan điểm chống Bồ Đào Nha của Ấn Độ về vấn đề đảoGoa, khu vực từng được hợp nhất về mặt lãnh thổ vào Ấn Độ tháng 2/1961sau khi Ấn Độ sử dụng vũ lực (Goa đã trở thành quốc gia độc lập vào tháng5/1987)
Ngoài ra, Nêru đã thuyết phục được Liên Xô có thái độ trung lập vớinhững tranh chấp biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc vào năm 1962 Trongcuộc chiến tranh giữa Ấn Độ và Pakixtan vào năm 1965, Liên Xô và Mỹ với
Trang 23tư cách là thành viên thường trực tại Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc gópphần mang lại một hiệp định ngừng bắn cho hai nước Ngày 10/1/1966, Chủtịch HĐBT Liên Xô A.N.Kosygin đã chủ trì các cuộc đàm phán ở Tashkentnhằm tìm ra giải pháp ổn định tình hình trong cuộc chiến giữa Ấn Độ vàPakixtan.
Giai đoạn nồng ấm nhất trong quan hệ Ấn - Xô là khoảng thời gian1971- 1976, đỉnh cao là Hiệp ước Hoà bình, Hữu nghị và Hợp tác 20 nămđược kí kết vào thánh 8/1971 Theo các điều khoản 8, 9 và 10 của Hiệp ướcnày, hai bên cam kết “tránh cung cấp hỗ trợ cho một bên thứ ba mà đangchống đối bên còn lại” và “trong trường hợp Liên Xô và Ấn Độ bị đe doạ haytấn công… thì ngay lập tức hai bên sẽ tiến hành các cuộc tham vấn chung”
Rajiv Gandhi đã công du tới Liên Xô vào những năm 1985, 1986, 1987
và 1989 Còn Chủ tịch M.Gorbachev cũng đã thăm Ấn Độ vào các năm 1986
và 1988 Các chuyến thăm này và những chuyến thăm của những quan chứccấp cao khác đã khẳng định quan hệ hữu nghị nồng ấm giữa hai nước và cũng
đã đạt được các hiệp định về tăng cường hợp tác kinh tế, văn hoá và khoa học
kỹ thuật Trong năm 1985 và 1986, cả hai nước đã kí các hiệp ước nhằm đẩymạnh thương mại song phương cũng như thúc đẩy đầu tư và hỗ trợ kĩ thuậtcủa Liên Xô cho các dự án giao thông vận tảỉ và công nghiệp của Ấn Độ.Trong năm 1985 và 1988, Liên Xô đã cho Ấn Độ vay thêm 1 tỷ rúp và 3 tỷrúp (tổng số khoảng 2,4 tỷ USD) để giúp Ấn Độ mua hàng hoá và máy móccủa Liên Xô Các nghị định thư về hợp tác khoa học kỹ thuật được kí kết vàonăm 1985 và 1987, cung cấp khung pháp lý để hai nước tiến hành những dự
án nghiên cứu chung trong khoa học vũ trụ và trong các lĩnh vực công nghệcao khác như máy tính và kỹ thuật lade
Đối với Liên Xô, họ không những bán được số lượng lớn vũ khí cho
Ấn Độ mà còn lôi kéo được Ấn Độ về phía mình, không để Ấn Độ trở thànhsân sau của Mỹ Sau khi Liên Xô can thiệp vào Apganixtan, các nhà ngoại giao
Ấn Độ tránh dùng những ngôn từ chỉ trích hay đưa ra bất cứ nghị quyết nàotrực tiếp phê phán Liên Xô, bởi Ấn Độ không muốn gây bất hoà với Liên Xô
Trang 24Tóm lại, Liên Xô và Ấn Độ đã duy trì quan hệ chiến lược thời kỳ chiếntranh lạnh Quan hệ chiến lược gần gũi là lựa chọn đúng đắn của lãnh đạo hainước dựa trên tình hình quốc tế và yêu cầu về mặt an ninh của hai nước khi
đó Tuy nhiên, chiến tranh lạnh kết thúc cùng với nó là sự sụp đổ của Liên Xô
đã gây lên những biến động lớn tới Ấn Độ, một nước dù chủ trương khôngliên kết nhưng trên thực tế lại có quan hệ gắn bó và chịu nhiều ảnh hưởng củaLiên Xô Tương lai của mối quan hệ Ấn - Nga sẽ diễn biến như thế nào? Đây
là một câu hỏi đặt ra cho cả hai nước
* Đối với Trung Quốc: Quan hệ ngoại giao Ấn Độ - Trung Quốc được
chính thức thiết lập từ năm 1950, đến nay đã gần 60 năm Hơn nửa thế kỉ qua,hai quốc gia khổng lồ ở châu Á đồng tác giả của 5 nguyên tắc cùng tồn tại hoàbình nổi tiếng đã trải qua những thăng trầm trong mối quan hệ giữa hai nước
Kể từ khi Ấn Độ giành được độc lập cho tới năm 1958, tức là trongkhoảng 10 năm, quan hệ Ấn - Trung là khá tốt đẹp Ấn Độ là một trong nhữngnước đầu tiên trong số các nước không phải là XHCN công nhận nước Cộnghoà nhân dân Trung Hoa (30/12/1949) và thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủvới Trung Quốc Sau khi công nhận nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Ấn
Độ đã kiên định ủng hộ Trung Quốc trên trường quốc tế: ủng hộ Trung Quốcđược có đại diện trong các tổ chức quốc tế, trước hết là Liên Hợp Quốc, thaythế vị trí của Đài Loan, ủng hộ việc trả lại Đài Loan cho Trung Quốc, côngnhận quyền của Trung Quốc đối với Tây Tạng Sự kiện quan trọng nhất đốivới mối quan hệ giữa hai nước cũng như đối với mối quan hệ quốc tế vàonhững năm 50 là Ấn Độ đã cùng với Trung Quốc đưa ra 5 nguyên tắc chungsống hoà bình nổi tiếng vào năm 1954
Quan hệ tốt đẹp giữa hai nước chưa được bao lâu, ngày 10/3/1959, ởthủ phủ Lasha (Tây Tạng) đã xảy ra biến loạn của một số phần tử quá khích,Trung Quốc bị Ấn Độ phê phán là có hành động “can thiệp vũ trang” vào khuvực này Ngày 31/3, Đạt Lai Lạt Ma trốn sang Ấn Độ, được Nêru tiếp đón.Trung Quốc có phản ứng kịch liệt với việc này, làm cho quan hệ hai nước trởnên căng thẳng Những mâu thuẫn biên giới giữa hai nước do vậy cũng bùng
Trang 25nổ, đỉnh điểm là xung đột vũ trang ác liệt lại xảy ra trên biên giới hai nướcvào tháng 10/1962
Trong suốt 10 năm (1959 - 1968), quan hệ Trung - Ấn trở nên trì trệ,băng giá Tiến trình tìm kiếm bình thường hoá cũng tiến triển rất chậm chạp
có nguyên nhân chủ quan của hai nước, đồng thời còn chịu ảnh hưởng bốicảnh quốc tế cũng như ở khu vực Nam Á tác động, như chiến tranh Ấn Độ -Pakixtan, vấn đề Campuchia, Hiệp ước Hợp tác- Hoà bình- Hữu nghị Ấn-Xô
Từ đầu thập kỉ 70, sau khi kí Hiệp định Hoà bình, Hữu nghị và Hợp tácvới Liên Xô, để tránh ấn tượng “quá ngả vào Liên Xô” [14; 169] và với mongmuốn có một môi trường ổn định ở châu Á, Ấn Độ đã bày tỏ mong muốn cảithiện mối quan hệ với Trung Quốc và Mỹ Về phía Trung Quốc, trước xuhướng hoà dịu phần nào trên thế giới cũng như ở khu vực Nam Á, nhất là saukhi Trung Quốc cùng với Mỹ ra Thông cáo Thượng Hải 1972 cũng có một sốđộng thái đáp lại mong muốn bình thường hoá quan hệ của Ấn Độ Với những
nỗ lực từ hai phía, đặc biệt là từ phía Ấn Độ, cho nên mặc dù còn nhiều vấn
đề còn chưa được giải quyết nhưng đến tháng 4/1976 cả hai nước đã cùngthoả thụân được vấn đề khôi phục đại diện ngoại giao ở cấp đại sứ sau 15 nămgián đoạn
Sau khi khôi phục quan hệ ngoại giao, quan hệ hai nước tiếp tục cónhững bước cải thiện: hai bên tăng cường trao đổi các đoàn ngoại giao, báochí, nối lại quan hệ kinh tế, thương mại Năm 1985, Ấn Độ đã có một bướctiến có tính chất đột phá trong mối quan hệ với Trung Quốc Đó là chuyếnviếng thăm Trung Quốc của Thủ tướng Rajiv Gandhi từ ngày 19 đến23/12/1988 Năm ngày ở Bắc Kinh, Thủ tướng R.Gandhi đã 4 lần hội đàm vớiThủ tướng Lý Bằng và gặp gỡ Đặng Tiểu Bình Hai bên nhất trí cho rằng 5nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình cần được coi là cơ sở quan trọng trong quan
hệ quốc tế và xây dựng một trật tự chính trị- kinh tế quốc tế mới Trên cơ sở
đó khôi phục, cải thiện và phát triển quan hệ láng giềng Trung - Ấn, hai bêncòn quyết định thành lập nhóm cộng tác liên hợp về biên giới để từng bướcgiải quyết những vấn đề do lịch sử để lại
Trang 26Như vậy, đối với các nước lớn Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, mặc dù thựchiện chính sách không liên kết, nhưng xuất phát từ những đặc điểm lịch sử -địa lý và sự tương đồng về mục tiêu và chính sách đối ngoại, Ấn Độ đã cóquan hệ gần gũi hơn với Liên Xô Điều này đã tạo cơ sở cho Ấn Độ thực hiệncác mục tiêu đối nội và giữ vững vai trò nước lớn, trụ cột trong phong tràoKhông liên kết Tuy nhiên, cùng với sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta và sựbiến chuyển của tình hình thế giới, chính sách đó đã không còn phù hợp, yêucầu điều chỉnh quan hệ với Mỹ và Trung Quốc đặt ra gay gắt.
1.3 Tình hình kinh tế, chính trị và xã hội Ấn Độ sau năm 1991.
1.3.1 Sự khủng hoảng toàn diện ở Ấn Độ.
Từ khi giành độc lập, Ấn Độ đã xây dựng một nền kinh tế tự lập, tựcường với hai thành phần chính: khu vực kinh tế nhà nước và tư nhân pháttriển trên cơ sở kế hoạch hoá với mục tiêu xây dựng nền kinh tế hoàn chỉnh,vững chắc
Từ những kế hoạch 5 năm đầu tiên, Ấn Độ tập trung phát triển côngnghiệp, chú trọng công nghiệp nặng, coi nông nghiệp là lĩnh vực quan trọng,
là nguồn tích luỹ để phát triển công nghiệp; công nghiệp và nông nghiệp làhai lĩnh vực then chốt của nền kinh tế và phát triển theo hướng tự lực cánhsinh; các ngành công nghiệp trong nước được bảo hộ cao để chống cạnh tranh
từ bên ngoài, khu vực nhà nước nắm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, cótrách nhiệm kiểm soát hoạt động kinh tế xã hội, đi đầu về khoa học kỹ thuật,tạo ra vốn để đầu tư và phát triển, tạo công ăn việc làm cho nhân dân Nhưngđến những năm 80 của thế kỉ XX, tình hình kinh tế của Ấn Độ đi vào khủnghoảng do mô hình kinh tế cũ đã mất đi vai trò là động lực để phát triển kinh
tế Đến cuối thập kỉ 80, Ấn Độ đã cố gắng thực hiện một số biện pháp điềuchỉnh quan trọng để vực dậy nền kinh tế nhưng do nhiều nguyên nhân những
cố gắng trên chưa mang lại những kết quả mong muốn Mục tiêu đưa tốc độtăng GDP lên mức bình quân 7%/năm không những không đạt được mà nềnkinh tế còn suy giảm chưa từng thấy
Về thương mại, Liên Xô là thị trường lớn thứ hai trong số các bạn hàngcủa Ấn Độ Hàng năm, Liên Xô đều dành một khoản tín dụng lớn thậm chíbán chịu hàng cho Ấn Độ, tính tới khi Liên Xô tan rã, Ấn Độ còn nợ Liên Xô
Trang 2711 tỷ USD Do đó, khi Liên Xô tan rã, nền kinh tế trì trệ của Ấn Độ đã rơi vàocuộc khủng hoảng nghiêm trọng Mức tăng GDP sụt xuống còn 0,8% vàonăm tài chính 1991 - 1992, lạm phát dâng cao trên 13%, dự trữ ngoại tệ đếntháng 5/1991 chỉ còn khoảng 1 tỷ USD Đầu tư nước ngoài chỉ đạt trung bìnhkhoảng 100 triệu USD mỗi năm Cán cân thanh toán bị thiếu hụt lớn, Ấn Độkhông còn khả năng để trả lãi cho các khoản nợ nước ngoài là 70 tỷ đôla vàcác ngân hàng nước ngoài không chịu cho vay thêm nữa” [15; 24].
Khủng hoảng kinh tế đã dẫn tới những biến động sâu sắc trong đờisống chính trị, xã hội ở Ấn Độ Đảng Quốc Đại bị mất quyền lãnh đạo trongcuộc bầu cử năm 1989 và sau đó Thủ tướng R.Gandhi bị ám sát trong khiđang vận động tranh cử ở Sriperumbudurr vào ngày 21/5/1991 Sự khủnghoảng chính trị khiến cho các chính phủ cầm quyền ở Ấn Độ trong hai năm1989- 1991 như chính phủ của Đảng Janata Dal, Chính phủ của Thủ tướngP.V.Singh, Chính phủ của Thủ tướng C.Shekhar không có được những chínhsách phù hợp, kịp thời về mặt đối ngoại để hỗ trợ cho công cuộc khôi phụcđất nước
Về đối ngoại, như nhận xét của R.Gandhi trước khi bị ám sát một
ngày: “Trong 15 tháng qua, Ấn Độ đã bị lu mờ như không thể còn tồn tại Chúng ta phải đảm bảo làm sao Ấn Độ xuất hiện trở lại như một nước tiền tuyến” [15; 27]
Sự suy thoái của nền kinh tế và đấu tranh chính trị đã dẫn đến nhữngrối loạn nghiêm trọng về xã hội Những mâu thuẫn giữa các đẳng cấp, sắc tộc,cộng đồng, tôn giáo trong một đất nước Ấn Độ rộng lớn, đa dạng phức tạpđến lúc này càng có điều kiện phát triển như: bạo động đòi ly khai ở bangAssam (Đông Bắc), bang Casơmia, Punjap (phía Bắc); có hơn 60.000 ngườigốc Ấn Độ sống ở Tamin (Sri Lanka) đã tràn về tị nạn ở Ấn Độ và tiếp tụctăng do đòi quyền tự trị ở Sri Lanka chưa được giải quyết… vụ tự thiêu củacác thanh niên thuộc đẳng cấp trên của xã hội để phản đối đạo luật Mandalgiành 27% công ăn việc làm cho tầng lớp cùng khổ (Paria) của Chính phủ củaThủ tướng V.P Singh (1989- 1990)
Tóm lại, cùng với những nhân tố khách quan, chính yêu cầu phát triểnnội tại mà đang “đứng trước bờ vực” của đất nước Ấn Độ đã buộc Chính phủ
Trang 28N.Rao phải có những quyết sách, chuyển hướng kịp thời, mạnh mẽ về tất cảcác mặt để thích ứng với tình hình mới và đáp ứng nhu cầu phát triển của đấtnước
1.3.2 Sự phát triển của nền kinh tế Ấn Độ từ năm 1991 đến 2008.
Tháng 6/1991, Đảng Quốc Đại dưới sự lãnh đạo của Naraximha Rao đãthắng cử Chính phủ mới của Thủ tướng N.Rao đã thực hiện một số cải cáchkinh tế theo cơ chế thị trường và tự do hoá, mở cửa, khuyến khích đầu tưnước ngoài… Mặc dù còn nhiều khó khăn, Chính phủ Ấn Độ đã từng bướcđưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng và đạt được nhiều thành tựu
Nhờ thực hiện công cuộc cải cách kinh tế Ấn Độ đã thoát khỏi khủnghoảng và đình trệ năm 1991- 1992, đưa mức tăng trưởng GDP từ 0,8% năm1991- 1992 lên 6,7% trong những năm 1994- 1996, nhưng sau đó lại giảmxuống 4- 5% các năm 1997- 2000 [6; 64]
Về công nghiệp, tuy chú trọng bảo hộ sản xuất hàng hoá trong nướctheo đường lối Swadesshi, nhất là những ngành sản xuất nhỏ, song Ấn Độ vẫntiếp tục những cải cách giảm bớt thủ tục hành chính, giảm bớt các hạn chếtrong hàng rào thuế quan nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành côngnghiệp chủ chốt như khai thác chế biến dầu lửa và khí đốt tự nhiên, khai thác
và sử dụng than đá, chế tạo máy… Về năng lượng, Ấn Độ xúc tiến việc cảithiện hệ thống truyền tải điện, xây dựng hai nhà máy nhiệt điện lớn, tăng thêm80.000 MW điện trong 10 năm, nhập hai lò phản ứng hạt nhân của Nga vàxúc tiến đàm phán nhập lò phản ứng hạt nhân của Pháp phục vụ mụch đíchdân sự, đàm phán với Bănglađet và Nêpan về dự án xây dựng đập thuỷ điện ởgần đầu nguồn sông Hằng
Một trong những ngành công nghiệp giành được nhiều thắng lợi nhấtnhờ cải cách kinh tế ở Ấn Độ là ngành công nghiệp phần mềm Ngành này đãtăng doanh thu xuất khẩu khoảng 55%, đạt 6,2 tỷ USD trong tài khoá kết thúcvào tháng 3/2001 62% trong tổng doanh thu xuất khẩu phần mềm của Ấn Độ
là sang Mỹ, 24% sang châu Âu Dự kiến sang năm 2002 doanh số xuất khẩuphầm mềm Ấn Độ có thể đạt 8,7% tỷ USD, trong đó thị phần của Mỹ sẽ vẫnkhoảng 60%, mặc dù có sự sa sút kinh tế Kim ngạch kinh doanh phần mềmcông nghệ thông tin và dịch vụ hiện chiếm gần 2% tổng sản phẩm trong nước
Trang 29(GDP) của Ấn Độ Trong các năm 2001- 2002, ngành công nghiệp phần mềm
có tổng thu nhập hàng năm là 10,1 tỷ USD, dự tính đạt 57 tỷ USD vào năm
2008 Ấn Độ đang phấn đấu để trở thành một trung tâm công nghệ thông tincủa thế giới
Về nông nghiệp, Ấn Độ đã giảm bao cấp về phân bón, điều chỉnh lạiviệc phân bổ nguồn nhân lực cho các bang, bỏ hạn chế xuất khẩu nông sản,cải thiện chế độ tín dụng và bảo hiểm cho nông dân, tự do hoá thị trườngnông nghiệp, giải quyết những đòi hỏi về gia tăng lương thực, thực phẩmthông qua việc tăng lao động và thu nhập, tăng năng suất và tăng hoạt độngkinh tế ở nông thôn, tăng gấp hai lần sản lượng lương thực, thực phẩm trong
10 năm đạt 300 triệu tấn lương thực, đảm bảo đủ cung cấp cho dân số 1 tỷngười vào năm 2007, mỗi người dân dưới mức nghèo khổ được cấp 10kglương thực với giá giảm 50% Nhà nước đã tiến hành nhập nhiều mặt hàng,chịu lỗ, bán hạ giá để ổn định giá thị trường
Về khoa học kỹ thuật, Ấn Độ đã đạt được những thành tựu đáng khâmphục Sau nửa thế kỷ phát triển, Ấn Độ đứng hàng thứ ba trên thế giới (sau
Mỹ, Nga) về đội ngũ các nhà khoa học được đào tạo trong nước Các nhàkhoa học Ấn Độ có nhiều cống hiến quan trọng, nổi bật trong các lĩnh vựccông nghiệp, nông nghiệp, nhất là trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân, chinhphục vũ trụ… Năm 1996, việc phóng thành công tàu phóng vệ tinh điạ tĩnh,
Ấn Độ trở thành một trong sáu nước trên thế giới có khả năng phóng vệ tinhlên vũ trụ Năm 2002 Ấn Độ có 7 vệ tinh nhân tạo đang hoạt động trong vũtrụ
Bước vào thế kỷ XXI, Ấn Độ đang phải đối mặt với những thách thứclớn, như tình trạng khủng bố qua biên giới, các cuộc xung đột tôn giáo trongnước Hiện nay, Chính phủ Ấn Độ đang hướng tới mục tiêu đưa đất nước códân số lớn thứ hai thế giới (với hơn 1 tỉ dân) phát triển nhanh, đẩy lùi nghèođói, thất nghiệp và trở thành một nước phát triển vào năm 2020
Tiểu kết
Như vậy có thể nói sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ xuấtphát từ yêu cầu cấp thiết của nhiều nhân tố Đó là tác động của bối cảnh quốc
Trang 30tế với sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta kéo theo nó là sự sụp đổ của Liên Xô
đã làm cho Ấn Độ mất đi một chỗ dựa vững chắc; đồng thời đó là những tácđộng của xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, làm thay đổi mối quan hệ giữa cácquốc gia Cùng với những nhân tố quốc tế thì tình hình trong nước của Ấn Độcũng đã tác động mạnh mẽ đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn
Độ
Cuộc khủng hoảng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
xã hội trong những năm thập kỉ 80 đã đặt Ấn Độ trước những thử thách tolớn Trong tình hình đó buộc Chính phủ Ấn Độ phải có những đối sách phùhợp để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đó và đưa đất nước phát triển đi lên.Sau cuộc khủng hoảng, với việc thực hiện các cải cách thì tình hình kinh tế,
xã hội Ấn Độ bước đầu có sự cải thiện và từng bước phát triển Để tiếp tụcduy trì sự phát triển đó, Ấn Độ buộc phải có những điều chỉnh thích hợp trongđường lối chính sách của mình Những nguyên tắc đối ngoại và vị trí của Ấn
Độ trên trường quốc tế cũng có tác động sâu sắc đến việc điều chỉnh chínhsách đối ngoại của Ấn Độ
Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ là do những nhân tố trêntác động nên cũng phải đảm bảo được các nguyên tắc nhất định nhằm giữvững những mục tiêu mà Ấn Độ đã đề ra như đảm bảo vị thế của Ấn Độ trongPhong trào Không liên kết và ở các nước thế giới thứ ba, đảm bảo vị thế của
Ấn Độ ở Nam Á, vị thế là một nước lớn trên thế giới Đặc biệt chính sách đốingoại của Ấn Độ dù có sự điều chỉnh thay đổi thì đều phải nhằm mục tiêu duynhất cuối cùng là phục vụ sự phát triển kinh tế Ấn Độ
Trang 31Chương 2:
SỰ ĐIỀU CHỈNH ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ẤN ĐỘ
TỪ 1991 ĐẾN 2008
2.1 Sự điều chỉnh mục tiêu, đường lối đối ngoại của Ấn Độ sau 1991.
Sau khi giành được quyền tự trị năm 1947, mục tiêu chiến lược caonhất của Ấn Độ là hoà bình, độc lập, xây dựng đất nước giàu mạnh, bảo vệ sựthống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, vươn lên khẳng định vai trò quốc tế ở khuvực và thế giới Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Ấn Độ đã theo đuổi chínhsách không liên kết, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, chống chủ nghĩathực dân, chống chủ nghĩa Apacthai, chủ trương làm bạn với tất cả các nướcchứ không nghiêng về bất cứ phe nào trong trật tự hai cực và thi hành một nền
“kinh tế hỗn hợp” để có thể nhận viện trợ từ các nước tư bản cũng như cácnước XHCN
Sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu tan rã, Ấn Độ điều chỉnhchiến lược đối ngoại dần dần theo chủ nghĩa thực dụng, lấy lợi ích quốc gialàm cơ sở phát triển mối quan hệ với tất cả nước lớn Từ 1991 đến 1997, donội bộ mất ổn định, lập trường không liên kết bị chao đảo nên vai trò của Ấn
Độ trên trường quốc tế bị giảm sút nghiêm trọng Để phục vụ cho chươngtrình cải cách kinh tế, phát huy vai trò của Ấn Độ trong khu vực và trên toànthế giới, trả lời phỏng vấn báo “Hinđu” ngày 19/4/1996, Bộ trưởng Bộ Ngoại
giao P.Mukherjee đã nói: “Mục tiêu hàng đầu trong chính sách đối ngoại của chúng ta là điều chỉnh chính sách trong bối cảnh mới của thế giới từ sau chiến tranh lạnh Trong bối cảnh đó, cần thiết phải xác định lại vai trò của Phong trào Không liên kết và hợp tác Nam - Nam Động lực cơ bản của chính sách của chúng ta là thúc đẩy lợi thế quốc gia, đóng góp cho hoà bình,
an ninh và hợp tác với tất cả các nước và đặc biệt là với thế giới đang phát triển” [15; 113].
Lên cầm quyền tháng 3/1998, Chính phủ của Đảng Nhân dân (BJP) doThủ tướng Vajpayee cầm quyền nhận thức rõ: Ấn Độ muốn bảo vệ một lý
Trang 32tưởng, cần phải có sức mạnh, năng động, đưa ra những chính sách cứng rắn
để xây dựng sức mạnh trên mọi lĩnh vực, lấy lại vị thế mới Do vậy, Ấn Độ đãđiều chỉnh chính sách đối ngoại vượt ngoài truyền thống, bỏ nhân nhượngmột chiều, nhấn mạnh có đi có lại Những mục tiêu cụ thể của chính sách đốingoại Ấn Độ trong thời kỳ này là:
- Bảo vệ độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia
- Tạo môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển kinh tế
- Tăng cường và mở rộng quan hệ với các nước lớn, các trung tâm kinh
tế thế giới nhằm tranh thủ vốn đầu tư và kỹ thuật cao
- Đẩy mạnh quá trình hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu
- Nâng cao vai trò và vị thế của Ấn Độ trong khu vực và thế giới, đưa
Ấn Độ trở thành một cường quốc ở châu Á và thế giới vào nhữngthập kỉ đầu thế kỷ 21, giành vị trí xứng đáng trong trật tự thế giới mới[15; 114]
Ngoài mục tiêu đầu tiên là bảo vệ độc lâp, chủ quyền, an ninh và toànvẹn lãnh thổ vẫn được giữ nguyên như thời kỳ chiến tranh lạnh, các mục tiêukhác đã được chuyển đổi hoặc cụ thể hoá hơn Có thể nói rằng so với thời kỳtrước, những mục đích của chính sách đối ngoại của Ấn Độ thời kỳ này vẫnthiên về nội dung kinh tế hơn, mang tính thực tiễn hơn
Đối với chính sách ngoại giao kinh tế, ngay từ sau khi chiến tranh lạnhkết thúc, đặc biệt từ giữa thập kỉ 90, thuật ngữ “ngoại giao kinh tế” đã được
sử dụng khá rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như tronggiới ngoại giao của Ấn Độ Tuy việc thực hiện chính sách này không phải lúcnào và ở đâu cũng đạt được đúng với dự định và mong muốn của Ấn Độnhưng việc đưa ra và triển khai chính sách này đã chứng tỏ một sự nhận thứcmới trong các nhà hoạch định chính sách ngoại giao ở Ấn Độ Nó đã chứng tỏrằng việc phục vụ cho công cuộc cải cách kinh tế mà Thủ tướng N.Rao đãkhởi xướng từ tháng 7/1991 đã trở thành một trong những nhiệm vụ quantrọng đầu tiên của chính sách đối ngoại Ấn Độ trong thời kỳ này Ngay trongnăm 1991, Bộ Ngoại giao Ấn Độ đã thành lập Vụ phối hợp kinh tế để nghiên
Trang 33cứu tình hình kinh tế quốc tế, nhất là hướng lưu động vốn, lập uỷ ban xúc tiếnđầu tư ở nước ngoài Bộ Ngoại giao Ấn Độ cũng chỉ thị cho các sứ quán vàphái đoàn bộ ngoại giao ở nước ngoài tăng cường thêm các hoạt động kinh tế.
Ấn Độ còn chủ động mở các chiến dịch tuyên truyền với thế giới về những cơhội mới xuất hiện từ khi Ấn Độ tiến hành cải cách cho các nhà đầu tư nướcngoài
Trong chính sách ngoại giao thực tế, mặc dù đã có những chuyểnhướng tích cực, nhưng theo đánh giá của một số nhà nghiên cứu và ngay cảcác nhà bình luận trên phương tiện thông tin đại chúng ở Ấn Độ thì cho tớinửa đầu thập kỉ 90, chính sách đối ngoại Ấn Độ vẫn chưa theo kịp nhữngchuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới.Ví dụ điển hình nhất là sự thất bạicủa Ấn Độ trong cuộc bầu cử một đại diện châu Á vào chiếc ghế uỷ viênkhông thường trực tại Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc vào năm 1996 Đểgiành chiếc ghế này, trước đó Ấn Độ đã có một chiến dịch ngoại giao nhằmvận động những nước mà Ấn Độ hy vọng có thể nhận được sự ủng hộ, trong
đó có nhiều nước thuộc Phong trào Không liên kết Trên thực tế, Ấn Độ được
sự ủng hộ bằng miệng và bằng cả văn bản của một số nước Tuy nhiên kếtquả cuộc bầu đã làm cho Ấn Độ bị bất ngờ Ấn Độ chỉ giành được 40 phiếu,trong khi Nhật Bản được 142 phiếu Một số nước trước đó đã hứa ủng hộ Ấn
Độ bằng miệng và bằng văn bản nhưng vào phút chót lại quay sang ủng hộNhật Bản Thất bại này của Ấn Độ về hiện tượng nó chỉ chứng minh rằng việcvận động ngoài hành lang của Nhật và Mỹ là rất quan trọng và đã gặt háiđược những kết quả đáng ghi nhận nhưng về mặt bản chất thì nó đã chứngminh vai trò nổi bật của yếu tố kinh tế trong các mối quan hệ quốc tế ngàynay Việc nước thuộc Phong trào Không liên kết đã ủng hộ Nhật Bản với hyvọng nhận được sự giúp đỡ về mặtt kinh tế của Nhật và đồng minh của Nhật
là Mỹ và không ủng hộ Ấn Độ, một nước trụ cột và là lãnh tụ của Phong tràoKhông liên kết đã chứng tỏ mối quan tâm về mặt kinh tế đã bao trùm toàn bộphong trào
Trang 34Điều này đã giáng một hồi chuông cảnh tỉnh đối với các nhà hoạchđịnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ Đó là, cần phải thực tế hơn nữa trongkhi hoạch định chính sách cho đất nước mình Và Ấn Độ đã buộc phải thừanhận một sự thật là, trong quan hệ quốc tế ngày nay, một quốc gia chỉ có tiếngnói có trọng lượng các vấn đề quốc tế khi nó có một sức mạnh tổng hợp củahai yếu tố kinh tế và quân sự, nếu không thì cũng phải có được một trong haiyếu tố Ấn Độ đã không có cả sức mạnh kinh tế lẫn quân sự Vì vậy, dù cóthái độ đối xử sự đúng mực trong quan hệ quốc tế, Ấn Độ cũng không thể gặthái được những thành công như sự mong đợi Từ nửa sau thế kỷ 90 việchoạch định chiến lược ngoại giao của Ấn Độ phải xuất phát từ thực tế này.
Mặc dù có những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại trước nhữngthay đổi của tình hình thế giới, song Ấn Độ vẫn không từ bỏ những quy tắc,mục đích mà Ấn Độ đã đề ra trước đó Điều này xuất phát từ thực tế Ấn Độ làmột nước lớn trên thế giới và là một nước đã từng có một quá khứ lịch sử huyhoàng, một quá khứ không phải bất kì dân tộc nào trên thế giới cũng có thể cóđược Trong thời kì chiến tranh lạnh, để tránh khỏi bị lôi cuốn vào quỹ đạocủa Mỹ hoặc Liên Xô, Ấn Độ đã chọn con đường đi giữa cho chính sách đốingoại của mình và xuất hiện trên vũ đài quốc tế như một nước lãnh đạo củacác nước thuộc thế hệ thứ ba, đứng giữa hai hệ thống đế quốc chủ nghĩa vàXHCN Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, để phục vụ công cuộc cải cách kinh
tế ở trong nước và để thích ứng với sự thay đổi của tình hình quốc tế, Ấn Độ
đã thực hiện chính sách đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ ngoại giao
Trang 35Tuy nhiên, với ý thức độc lập tự cường mạnh mẽ như đã nói ở trên, tuyđiều chỉnh nhưng Ấn Độ sẽ không từ bỏ những điều mà Ấn Độ coi là đúng và
có tính chất nguyên tắc của mình Điều này đã thể hiện rõ trong những lời
phát biểu của Thủ tướng N.Rao trong cuộc họp quốc hội ngày 3/9/1992: “Thế giới đã thay đổi, các nước đều đã thay đổi và không có gì có thể biện minh nếu Ấn Độ không thay đổi Chúng ta phải điều chỉnh và có cách đề cập thực
tế, nhưng chúng ta không bao giờ thay đổi nguyên tắc và mục tiêu” [15; 121].
Trong thực tế, Ấn Độ đã tỏ ra kiên quyết trong một số vấn đề như thử nghiệm
vũ khí hạt nhân, vấn đề Casơmia, đặc biệt là vấn đề thử nghiệm vũ khí hạtnhân- một vấn đề trái với chiến lược toàn cầu của Mỹ Nếu như Ấn Độnhượng bộ vấn đề này, Ấn Độ có thể nhận được sự trợ giúp nhiều hơn về mặtkinh tế từ phía Mỹ và những nước đồng minh của Mỹ để phục vụ cho côngcuộc cải cách kinh tế của mình, nhưng dù điều chỉnh chính sách, Ấn Độ vẫnkhông thay đổi điều này
Bước sang thế kỉ XXI, Ấn Độ đang đẩy mạnh chiến lược ngoại giao đadạng, đa hướng ở cường độ cao, tạo những bước đột phá trong quan hệ quốc
tế, thông qua việc tiến hành một loạt các cuộc gặp thượng đỉnh trải rộng từChâu Âu sang châu Á, đặc biệt là theo đuổi chính sách ngoại giao thực dụng,xích lại gần hơn với Mỹ, Nhật Bản và các nước lớn chủ chốt còn lại như Nga,Trung Quốc, tiếp tục đẩy mạnh ”chính sách hướng Đông”, tăng cường quan
hệ với các nước láng giềng ở khu vực Nam Á và Đông Nam Á
Ấn Độ chủ trương tiếp tục củng cố và phát huy vai trò nước lớn ở khuvực Nam Á, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng của các nước lớn tại đây, tăngcường hợp tác kinh tế thông qua các chương trình viện trợ, đầu tư và buônbán song phương với các nước trong khu vực Nam Á Chủ động giải quyếtcác bất đồng , tranh chấp giữa các nước trong khu vực, Ấn Độ cũng khẳngđịnh không có tham vọng về bành trướng lãnh thổ, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ
về khoa học- công nghệ với các nước láng giềng thân thiện
Ấn Độ coi trọng quan hệ với khu vực Đông Nam Á nhằm mở rộngphạm vi ảnh hưởng của Ấn Độ và hạn chế vai trò ảnh hưởng của các nước lớn
Trang 36khác tại đây như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản Ấn Độ đánh giá khu vực ĐôngNam Á là một thị trường rộng lớn, quan trọng đối với “Chính sách hướngĐông” của Ấn Độ Quan hệ Ấn Độ- ASEAN đã có truyền thống lâu đời, năm
1992 Ấn Độ trở thành đối tác đối thoại khu vực Năm 1996 trở thành thànhviên của Tổ chức diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) Trong điều kiện khi Hiệphội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) chưa có hiệu quả ở khu vực thì sự hợptác Ấn Độ với các nước Đông Nam Á là rất quan trọng
Ấn Độ là một cường quốc có vũ khí hạt nhân, có nhiều thế mạnh vềphát triển kinh tế, có thế mạnh trong lĩnh vực công nghệ thông tin, khoa học
kỹ thuật và quân sự Hơn một thập niên qua, Ấn Độ đã vươn lên khẳng định
vị thế của mình trên bàn cờ chiến lược thế giới và đang có những bước đi phùhợp với những xu thế mới Ấn Độ có đầy đủ điều kiện thực hiện tham vọngđóng vai trò là một cường quốc ở khu vực và trên thế giới trong thế kỉ XXI
Ấn Độ ngày càng chú trọng và có chính sách đối ngoại ở khu vực châu Thái Bình Dương có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển và vươn lênkhẳng định vai trò cường quốc thế giới của Ấn Độ
Á-Tóm lại, mục tiêu chiến lược xuyên suốt của Ấn Độ là phấn đấu trởthành cường quốc khu vực và thế giới, có nền kinh tế và tiềm lực quân sựmạnh, lãnh thổ thống nhất Trong hai thập niên tới, Ấn Độ tiếp tục xúc tiếncải cách kinh tế, mở cửa mạnh mẽ cho đầu tư nước ngoài, thực hiện chínhsách ngoại giao cân bằng với tất cả các nước lớn Nỗ lực phát triển quan hệvới tất cả các trung tâm quyền lực, không để bị lôi kéo vào các liên minhchống đối nhau Tách khỏi xu hướng thân Liên Xô trước đây nhưng vẫn coitrọng Nga, coi đây là nguồn cung cấp kỹ thuật quân sự chủ yếu và là chỗ dựalàm đối trọng trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc Coi Mỹ là đối tượng số mộtcần tranh thủ về vốn và kỹ thuật cao nhưng vẫn đề cao cảnh giác Coi TrungQuốc là thách thức số một về an ninh và toàn vẹn lãnh thổ, là địch thủ cạnhtranh lớn trên thương trường, nhưng để có môi trường hoà bình và phát triển,
Ấn Độ xác định cần chung sống hoà bình, tăng cường hợp tác kinh tế- thương
Trang 37mại với nhau Ấn Độ nhấn mạnh tăng cường quan hệ với EU, Nhật Bản,ASEAN là những đối tác có những lợi ích chiến lược đối với Ấn Độ.
Trong hai thập kỉ đầu thế kỉ XXI, chính sách đối ngoại của Ấn Độ vẫn
là không liên kết, nhưng ngày càng mang tính thực dụng hơn Ấn Độ tiếp tụcxích lại gần Mỹ, thắt chặt qua hệ với Nga, tranh giành ảnh hưởng với TrungQuốc quyết liệt hơn, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, vì mụctiêu duy trì hoà bình, ổn định, tập trung phát triển kinh tế, trước mắt TrungQuốc chưa là mối đe doạ đối với Ấn Độ nên Ấn Độ vẫn duy trì chính sáchhoà bình, cân bằng với tất cả các nước lớn
2.2 Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ với một số nước và khu vực trên thế giới từ năm 1991- 2008.
2.2.1 Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ với Mỹ (1991- 2008).
Trong một trật tự thế giới mới mà Mỹ đã trở thành siêu cường duy nhất,bất kỳ một quốc gia nào khi hoạch định chính sách đối ngoại cho thời kỳ hậuchiến tranh lạnh cũng đều phải tính đến vai trò của Mỹ Là một nước lớn, lại
có quan hệ gắn bó với Liên Xô - đối thủ của Mỹ trong thời kỳ chiến tranhlạnh, Ấn Độ không thể không tính đến vị trí của Mỹ trong chính sách đốingoại của mình
Ngoài xu hướng hoà dịu, đối thoại và ưu tiên cho phát triển kinh tế là
xu hướng bao trùm, chi phối hoạt động đối ngoại của các nước từ khi chiếntranh lạnh kết thúc, chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với Mỹ cũng nhưquan hệ Ấn- Mỹ thời kỳ này còn chịu tác động của nhiều nhân tố:
Chiến tranh lạnh kết thúc đã khiến cho Pakixtan mất đi tầm quan trọngchiến lược đối với Mỹ Từ khi Liên Xô rút quân khỏi Apganixtan và bị tan rã,
Mỹ đã không còn cần Pakixtan như một con bài để chống phá Liên Xô ở khuvực Nam Á Tuy vẫn còn ủng hộ Pakixtan về mặt tài chính, quốc phòngnhưng Mỹ đã có thái độ cân bằng hơn trong mối quan hệ giữa Ấn Độ vàPakixtan Trước đây, Mỹ ủng hộ lập trường của Pakixtan, đòi vấn đề Casơmiaphải được giải quyết với sự can thiệp của Liên Hợp Quốc thông qua một cuộctrưng cầu dân ý ở bang Casơmia Nhưng từ năm 1990, Mỹ đã nghiêng sang
Trang 38lập trường của Ấn Độ là giải quyết vấn đề Casơmia bằng quan hệ songphương theo tinh thần của Hiệp định Shimla hai nước đã kí năm 1972 Đồngthời Mỹ còn ép Pakixtan phải ngừng cung cấp viện trợ cho các tổ chức Hồigiáo cực đoan ở Casơmia và những người Sikh cực đoan ở bang Punjab trongcác vụ bạo loạn và li khai ở Ấn Độ Có thể nói sự ủng hộ của Mỹ đối vớiPakixtan trong gần nửa thập kỉ qua là một trong những nhân tố gây căngthẳng trong mối quan hệ giữa hai nước Đến thời kỳ này, với sự điều chỉnhchính sách của Mỹ với Pakixtan đã tạo điều kiện cho việc cải thiện mối quan
hệ giữa hai nước
Cuộc cải cách kinh tế ở Ấn Độ đã nâng cao vị thế của Ấn Độ trong mốiquan hệ đối với Mỹ Ngay sau khi Ấn Độ giành được độc lập, Mỹ đã có ý đồxâm nhập kinh tế vào Ấn Độ và nắm chặt thị trường nước này Tuy nhiên, do
Ấn Độ đi theo con đường không liên kết và chịu ảnh hưởng của Liên Xô,đồng thời lại thực hiện chính sách không liên kết, đóng cửa nền kinh tế trongsuốt bốn thập kỉ cho nên Mỹ đã không thực hiện được ý đồ này Từ tháng7/1991, Ấn Độ đã tuyên bố xoá bỏ hình mẫu phát triển kinh tế của Liên Xô
mà Ấn Độ đã từng áp dụng trong một thời gian dài và tiến hành một cuộc cảicách kinh tế toàn diện, triệt để chưa từng có từ trước đến nay Những biệnpháp mạnh mẽ mà Chính phủ của Thủ tướng N.Rao đưa ra nhằm khuyếnkhích sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân, kể cả tư bản nước ngoàingay sau khi lên cầm quyền đã có sức hấp dẫn rất lớn đối với các nhà kinhdoanh Mỹ và phương Tây Mỹ cho rằng sự mở cửa của một nền kinh tế với sốdân gần 1 tỷ người và một tầng lớp trung lưu khoảng 200 triệu người, Ấn Độ
sẽ là một thị trường quan trọng, đầy tiềm năng mà không một nước nào có thể
bỏ qua Mỹ coi Ấn Độ là một trong mười thị trường lớn mới nổi lên của thếgiới Vì vậy, Mỹ cần cải thiện mối quan hệ ngoại giao với Ấn Độ để tạo điềukiện cho sự hợp tác về mặt kinh tế Còn về phía Ấn Độ, ngay trong thời kỳchiến tranh lạnh, Ấn Độ cũng đã cần sự giúp đỡ về mặt tài chính, kỹ thuật của
Mỹ để khôi phục và phát triển nền kinh tế Để phục vụ cho công cuộc cải cáchkinh tế thực hiện đạt kết quả, Ấn Độ đã nhận thấy rằng Mỹ là nguồn cung cấp
Trang 39vốn đầu tư và kỹ thuật cao chủ yếu, đồng thời cũng là thị trường lớn nhất của
Ấn Độ Như vậy, cả Mỹ và Ấn Độ đều cần đến nhau
Ngoài hai nhân tố trên, vị trí quan trọng của khu vực Nam Á trongchiến lược toàn cầu của Mỹ; vai trò của gần 1 triệu Ấn kiều đang sinh sống vàlàm việc tại Mỹ… là những nhân tố thúc đẩy quan hệ hai nước tiếp tục pháttriển
Nếu như từ cuối năm 1989 và 1990, Ấn Độ đã có một số động tháingoại giao thể hiện sự mềm dẻo trong chính sách đối với Mỹ: đồng ý cho Mỹ
sử dụng tuyến hành lang trên không, cho phép máy bay vận tải của Mỹ hạcánh và tiếp dầu ở Bombay trên đường từ căn cứ Philippin tới Arập Xêuttrong cuộc chiến tranh vùng Vịnh, thì từ năm 1991 cho đến hết năm 1992 cóthể coi là giai đoạn hoạt động tích cực của hai nước để cải thiện mối quan hệ
Ấn Độ đã đón tiếp nhiều quan chức và phái đoàn quân sự cấp cao Mỹsang thăm để thảo luận về kế hoạch hợp tác quốc phòng giữa hai nước nhưcác chuyến thăm của Thủ tướng Kichlighter - Tư lệnh lực lượng Thái BìnhDương vào tháng 4 và tháng 10/1991, chuyến thăm của Trung tướng JohnCorns thuộc Bộ tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ vào tháng 1/1992 Sau nhữngchuyến viếng thăm, trao đổi, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ đã nói rằng Ấn
Độ và Mỹ có kế hoạch bước vào một kỷ nguyên mới về hợp tác quốc phòng
và sẽ tăng cường sử dụng chung những tin tức tình báo quân sự liên quan đến
sự trỗi dậy của các thế lực Hồi giáo cực đoan ở Nam Á và Trung Á
Cùng với những hoạt động hợp tác trên các lĩnh vực quốc phòng, vàotháng 1/1992 Ấn Độ đã bình thường hoá quan hệ với Ixraen, đồng minh của
Mỹ mà lâu nay Ấn Độ vẫn không thừa nhận Đồng thời trong chuyến viếngthăm của Mỹ vào tháng 4/1992, Thứ trưởng ngoại giao Ấn Độ J.N.Dixit đã đềnghị thảo luận về vấn đề nhạy cảm giữa hai nước- vấn đề phổ biến vũ khí hạtnhân trong khu vực tại các cuộc đàm phán song phương vào tháng 5/1992.Những động thái ngoại giao này đã chứng tỏ những thiện ý của Ấn Độ trongviệc cải thiện mối quan hệ giữa hai nước
Trang 40Về phía Mỹ, năm 1990 Tổng thống Mỹ G.Bush (cha) đã ủng hộ lậpluận của phía Ấn Độ rằng bất cứ giải pháp nào cho vấn đề Casơmia muốn cókết quả phải thông qua các cuộc thương lượng song phương giữa hai nước Ấn
Độ và Pakixtan Đồng thời, Mỹ thực hiện giảm viện trợ cho Pakixtan vềchương trình hạt nhân của nước này Các nhà kinh tế Mỹ là những người đầutiên có mặt tại Ấn Độ ngay sau khi Ấn Độ tuyên bố tiến hành cải cách kinh tế
Sau những bước tiến đáng kể trong mối quan hệ giữa hai nước từ 1990
- 1992 đã lại bị suy giảm vào đầu năm 1993 với nhiệm kỳ của Tổng thốngB.Clintơn, người của Đảng Dân chủ lên thay Đảng Cộng hoà đã đề cao vấn đềnhân quyền, coi đây là một trong các vấn đề trong chính sách an ninh quốcgia của Mỹ Vì vậy, những báo cáo về nhân quyền ở bang Jammu - Casơmia
và vấn đề người Sikh ở bang Punjab được các nhà hoạch định chính sách Mỹrất quan tâm Do vậy, Mỹ đã yêu cầu có đại diện của dân chúng Casơmiatrong các cuộc đàm phán của Ấn Độ và Pakixtanvề vấn đề Casơmia Điều này
đã chống lại lợi ích của Ấn Độ vì đa số dân sống ở Casơmia là dân Hồi giáo,nguyện vọng của họ là tách thành một nước riêng hoặc sát nhập vào Pakixtan.Một vấn đề nữa mà B.Clintơn muốn thực hiện là không phổ biến vũ khí hạtnhân - vấn đề được ưu tiên trong chiến lược khu vực và toàn cầu của Mỹ.Việc Ấn Độ không chịu kí vào Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân(NPT) đã ảnh hưởng đến kế hoạch này
Sự suy giảm của quan hệ Ấn Độ - Mỹ gây nhiều khó khăn cho Ấn Độtrong khi quan hệ kinh tế giữa hai nước đang trên đà phát triển Vì vậy, nhằmgiải quyết bất đồng trong quan hệ hai nước, Thủ tướng Ấn Độ N.Rao đã quyếtđịnh đi thăm Mỹ vào tháng 5/1994 Mỹ cũng không muốn để những bất đồngchính trị kéo dài, cản trở quan hệ kinh tế giữa hai nước và ảnh hưởng đếnchiến lược trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh nên Mỹ lợi dụng việc đón Thủtướng N.Rao để tạo điều kiện tăng thêm cơ hội làm ăn kinh tế ở Ấn Độ, tranhthủ ủng hộ của Ấn Độ trong các vấn đề quốc tế và khu vực
Trong 6 ngày ở Mỹ, Thủ tướng N.Rao đã có những cuộc hội đàm vớiTổng thống, Phó tổng thống và các quan chức cấp cao của Mỹ và giới đầu tư,