1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá tình hình tăng trưởng kinh tế việt nam từ 1991 đến nay

34 668 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 492 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục tiêu đánh giá tổng quát tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thờigian qua trên cả qui mô, tốc độ, hiệu quả và cấu trúc tăng trưởng, trên cơ sở đó cónhững nhân xét về mô h

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Sau hơn hai thập kỷ chuyển đổi cơ cấu kinh tế, Việt Nam đã có những bước tiếnnhất định trên con đường phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế Quan trọng nhấtphải kể đến những thành tựu trong tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, đổi mới và pháttriển đi lên là quá trình khó khăn, gian khổ Trong suốt quá trình đó, bên cạnhnhững thành tựu đáng ghi nhận, nền kinh tế Việt Nam cũng bộc lộ những mặt yếukém, thêm vào đó là nhiều thách thức đặt ra

Hội nhập kinh tế thế giới, vừa thoát cuộc khủng hoảng toàn cầu, chúng ta đangđứng trước những áp lực mới nhằm khắc phục hậu quả của khủng hoảng và đưanền kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh và bền vững

Với mục tiêu đánh giá tổng quát tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thờigian qua trên cả qui mô, tốc độ, hiệu quả và cấu trúc tăng trưởng, trên cơ sở đó cónhững nhân xét về mô hình tăng trưởng ở nước ta hiện nay, nhóm chọn nghiên cứu

để tài : “ Đánh giá tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ năm 1991 đến nay”.

Dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Ngô Thắng Lợi, trên cơ sở kiến thức môn Kinh tếphát triển đã được học, nhóm tiến hành tìm kiếm thông tin, tổng hợp và đưa ranhận định chung về tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kì hội nhập Nhóm chúngtôi mong muốn những đánh giá và các kiến nghị đưa ra sẽ là những đóng góp trongviệc lựa chọn những bước đi mới, tìm ra mô hình thích hợp cho quá trình tiếp tụctăng trưởng và phát triển kinh tế trong bối cảnh thực tế đặt ra ở trong và ngoàinước

Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài:

• Phạm vi thời gian: Các số liệu nghiên cứu từ năm 1991 – 2009

• Các chỉ tiêu thu thập: tốc độ tăng trưởng GDP chung, GDP của từng ngành,

GO, GDP/người; năng suất lao động; đóng góp tăng trưởng theo ngành,đóng góp vào tăng trưởng theo đầu vào

• Một số chỉ tiêu so sánh trong tương quan với các nước trong khu vực và thếgiới cùng thời gian tương ứng

Trang 2

Đề tài nghiên cứu bao gồm các phần chính sau:

• Phần I Mở đầu Phần này nói rõ mục đính lý do chọn đề tài, giới hạn phạm

vi nghiên cứu

• Phần II Cơ sở lý thuyết để đánh giá tình hình tăng trưởng kinh tế

Phần này làm rõ các vấn để lý luận về tăng trưởng kinh tế; ý nghĩa, cách tính

và phân loại các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng

• Phần III Tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ năm 1991 đến nay

 Tình hình tăng trưởng kinh tế được tổng hợp thông qua quy mô, tốc

độ tăng trưởng; hiệu quả tăng trưởng và cấu trúc tăng trưởng Trên cơ

sở đánh giá thực trạng đó, tìm ra những mặt được, mặt còn tồn tại vànguyên nhân chính dẫn đến kết quả đó

 Tương quan so sánh tăng trưởng kinh tế Việt Nam và thế giới,khu vựcqua một số chỉ tiêu

• Phần IV Kiến nghị, định hướng giải pháp cho tăng trưởng kinh tế Việt Namtrong thời gian tới

 Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay

 Định hướng tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới

 Đề xuất giải pháp

Do thời gian nghiên cứu và những kiến thức lý luận còn có hạn cùng với nhữngkhó khăn trong việc thu thập thông tin, chắc hẳn những tổng hợp, đánh giá và nhậnđịnh của nhóm đưa ra sẽ còn nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý củathầy giáo, PGS.TS Ngô Thắng Lợi, các bạn nhóm 8 và tập thể lớp KTPT49A đểnhóm tiếp tục bổ sung và hoàn thiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

Phần 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐỂ ĐÁNH GIÁ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

I Các vấn đề về tăng trưởng kinh tế

1 Tổng sản phẩm quốc nội GDP

1.1 Khái niệm về GDP

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP: gross domestic product): tổng giá trị sản phẩm vật

chất và dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trên phạm vi lánh thổ củamột quốc gia tạo nên trong một thời kỳ nhất định

1.2 Các phương pháp tính GDP

Có thể tính GDP theo 3 cách như sau:

+ Phương pháp sản xuất: GDP bằng tổng giá trị gia tăng của tất cả các ngànhkinh tế công với thuế nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ

+ Phương pháp thu nhập: GDP bằng thu nhập tạo nên từ các yếu tố tham giavào quá trình sản xuất như lao động, vốn, đất đai, máy móc Theo phương phápnày, GDP gồm 4 yếu tố: Thu nhập của người lao động từ sản xuất (bằng tiền vàhiện vật), thuế sản xuất, khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất và thặng dưsản xuất

+ Phương pháp sử dụng: GDP bằng tổng của 3 yếu tố: Tiêu dùng cuối cùngcủa hộ gia đình và nhà nước, tích luỹ tài sản (cố định, lưu động và quý hiếm) vàchênh lệch xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ

Trong đó, tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh đã loại trừ biến động của cácyếu tố giá cả qua các năm, dùng để tính tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, nghiêncứu sự thay đổi về khối lượng hàng hoá, dịch vụ sản xuất

2 Tăng trưởng kinh tế

2.1Khái niệm tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được xem là một trong những vấn đề hấp dẫn nhất trongnghiên cứu kinh tế phát triển và cùng với thời gian, quan niệm về vấn đề này ngàycàng được hoàn thiện hơn

Trang 4

Tăng trưởng là sự gia tăng về thu nhập của nền kinh tế được xác định trongkhoảng thời gian nhất định, thường là 1 năm

Sự gia tăng đó được thể hiện qua quy mô và tốc độ, cụ thể được tính theocông thức sau:

- Quy mô tăng trưởng hay mức tăng: là con số gia tăng tuyệt đối giữa 2khoảng thời gian, phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít (Yt : sản lượng năm t)

Thu nhập có thể đo bằng hiện vật hoặc bằng giá trị Trong đó, cách đo bằnggiá trị được sử dụng phổ biến hơn và nó bao gồm hai loại:

- Tổng giá trị thu nhập tính cho toàn thể nền kinh tế quốc dân (GDP, GNI):bằng cách này ta có thể đo được tiềm lực kinh tế của một quốc gia

- Giá trị thu nhập bình quân đầu người (GDP/người, GNI/ người): bằng cáchnày có thể đo được mức sống trung bình của dân cư trong quốc gia đó

2.2Vai trò của tăng trưởng kinh tế

Bản chất của tăng trưởng chính là sự gia tăng về lượng của nền kinh tế Với mộtquốc gia, tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu, gia tăng của cải và tiểm lựckinh tế đất nước Điều được nhấn mạnh là tăng trưởng liên tục và có hiệu quả củachỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người

Tăng trưởng là điều kiện cần của phát triển kinh tế Tăng trưởng chính là tăng mứcthu nhập quốc dân, là cơ sở của việc nâng cao đời sống cho người dân Ngày nay,yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền vững hay việc đảm bảo chấtlượng tăng trưởng ngày càng cao

II Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế

Trang 5

Theo mô hình nền kinh tế thị trường, thước đo tăng trưởng kinh tế đươc xác địnhdựa trên các chỉ tiêu của hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) Các chỉ tiêu chủ yếugồm có: tổng giá trị sản xuất (GO), tổng sản phẩmquốc nội (GDP), tổng thu nhậpquốc dân (GNI), thu nhập quốc dân sản xuất (NI), thu nhập quốc dân sử dụng (DI),thu nhập bình quân đầu người (GDP/ người, GNI/ người) Trong phạm vi bài này,chúng ta đánh giá các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế dưới góc độ số lượng và chấtlượng, có các nhóm chỉ tiêu như sau.

1 Quy mô, tốc độ tăng trưởng

- Các chỉ tiêu đánh giá quy mô tăng trưởng kinh tế gồm:

+ Tăng trưởng tuyệt đối GDP hàng năm

+ Tăng trưởng tuyệt đối của GDP/người

- Các chỉ tiêu đánh giá tốc độ tăng trưởng

+ Tốc độ tăng GDP

+ Tốc độ tăng GDP/người

Trong đó, thu nhập bình quân đầu người (GNI/người, GDP/ người): Chỉ tiêu này

dùng để phán ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi của dân số Quy mô

và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người là những chỉ báo quan trọng phán ánh

và là tiền đề để nâng cao mức sống dân cư nói chung Sự gia tăng liên tục với tốc

độ ngày càng cao của chỉ tiêu này là dấu hiệu thể hiện sự tăng trưởng bền vững và

nó còn được sử dụng trong việc so sánh mức sống dân cư giữa các quốc gia vớinhau

2 Hiệu quả tăng trưởng

Hiệu quả tăng trưởng là một trong các tiêu chí quan trọng, cùng với qui mô và tốc

độ tăng trưởng để đánh giá chất lượng tăng trưởng của một nền kinh tế Các chỉtiêu thường được dùng để đánh giá hiệu quả tăng trưởng bao gồm:

- Năng suất lao động

Trang 6

Năng suất lao động là năng suất lao động (NSLĐ) là chỉ tiêu hiệu quả sử dụng laođộng sống, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sảnxuất) và một chỉ tiêu đầu vào (lao động làm việc) Đây là một chỉ tiêu khá tổng hợpnói lên năng lực sản xuất của một đơn vị hay cả nền kinh tế - xã hội.

Tùy theo mục đích nghiên cứu của mỗi nước, mỗi ngành khác nhau trong từng giaiđoạn khác nhau mà áp dụng chỉ tiêu năng suất lao động (nói cụ thể là chỉ tiêu năngsuất lao động sống) theo phương thức khác nhau, được tính toán bằng chỉ tiêu đầu

ra khác nhau

- So sánh tốc độ tăng của GDP và GO

Trong đó, GO là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo nên trên phạm

vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm)

Chỉ tiêu này có thể tính theo 2 cách:

+ Tổng doanh thu bán hàng thu được từ các đơn vị, các ngành trong toàn bộ nềnkinh tế quốc dân

+ Tính trực tiếp từ sản xuất vật chất và dịch vụ bao gồm chi phí trung gian (IC) vàgiá trị gia tăng của sản phẩm vật chất và dịch vụ (VA)

Như vậy, chênh lệch giữa GO và GDP chính là tổng các chi phí trung giantrong sản xuất của tất cả các ngành Nó phản ánh hiệu quả sản xuất và tiết kiệm chiphí trong sản xuất Nói rộng ra, chênh lệch so sánh GDP và GO thể hiện cho hiệuquả và tính hợp lý của việc phân bổ nguồn lực nền kinh tế vào sản xuất trong cácngành Kinh tế quốc dân

3 Cấu trúc tăng trưởng

Tăng trưởng kinh tế chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau Có thể lượnghóa sự đóng góp của các nhân tố này dưới góc độ cấu trúc tăng trưởng

Cấu trúc tăng trưởng là biểu hiện cho cơ cấu tăng trưởng và mức độ đóng góp vàotăng trưởng kinh tế của các yếu tố đầu vào và phân chia theo từng ngành kinh tế

Trang 7

Cấu trúc tăng trưởng là yếu tố quan trọng đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu trongsuốt quá trình tăng trưởng nhằm hướng tới mục tiêu là phát triển kinh tế.

Các chỉ tiêu cụ thể:

- Tăng trưởng kinh tế theo ngành

Tổng thể nền kinh tế được chia thành 3 nhóm ngành chính:

+ Nhóm ngành Nông – lâm – ngư nghiệp

+ Nhóm ngành Công nghiệp và Xây dựng

+ Nhóm ngành thương mại và dịch vụ

Mỗi nhóm ngành có vai trò khác nhau trong nền kinh tế, có tốc độ tăng trưởngkhác nhau và mức đóng góp vào tăng trưởng chung toàn nền kinh tế không đồngđều

- Đóng góp các yếu tố nguồn lực đầu vào cho tăng trưởng

Yếu tố đầu vào chính là những nguồn lực được sử dụng để hướng tới mục tiêu giatăng sản lượng nền kinh tế thông qua hàm sản xuất Có 4 nhân tố chủ yếu là Vốnsản xuất (K), lao động (L), Vốn tài nguyên (R), khoa học công nghệ (T) Quanniệm về các nguồn lực và vai trò của các nguồn lực tác động đến tăng trưởng kinh

tế thay đổi tùy từng trường phái kinh tế và phù hợp với từng thời kì phát triển.Khoa học trong quan niệm hiện đại ngày nay chính là TFP, năng suất các nhân tốtổng hợp được tạo nên bởi yếu tố khoa học công nghệ và các yếu tố liên quan đếnkhả năng vận hành các yếu tố này

Mức độ đóng góp vào tăng trưởng theo ngành và theo đầu vào được thể hiện rõ

nhất trong mô hình tăng trưởng kinh tế mà quốc gia đó lựa chọn, dựa trên bối cảnh

trong nước và ngoài nước Mô hình kinh tế là một cách diễn đạt quan điểm cơ bảnnhất về sự tăng trưởng kinh tế thông qua các biến số kinh tế và mối liên hệ nhânquả giữa chúng, trong một phương thức vận động của nền kinh tế

Trang 8

Phần III: TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TỪ NĂM

1991 ĐẾN NAY

I Quy mô tốc độ tăng trưởng:

1 Tăng trưởng GDP hàng năm

Trong gần hai thập niên qua (1991 - 2009), kể từ khi áp dụng những chínhsách cải cách kinh tế toàn diện với nội dung cốt lõi là sự kết hợp của tự do hóa, ổnđịnh hóa, thay đổi thế chế, cải cách cơ cấu và mở cửa ra nền kinh tế thế giới, ViệtNam đã đạt được những thành tựu kinh tế đáng ghi nhận trong nỗ lực tăng trưởngkinh tế

GDP hàng năm của Việt Nam luôn luôn có tăng trưởng dương trong thời kì từ

1991 đến 2009 Tuy nhiên, so sánh tốc độ tăng hàng năm cho thấy, có sự chênhlệch khá rõ ràng

Biểu đồ so sánh tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam từ 1991 – 2009

( xem Phụ lục 1)

Trang 9

Nguồn: Hệ thống tài khoản quốc gia

Cùng với chu kì phát triển của nền kinh tế, những biến động của tốc độ tăngtrưởng thể hiện những ảnh hưởng, tác động của các quy luật kinh tế thị trường lênnền kinh tế Việt Nam ngày càng rõ rệt và mạnh mẽ Nhìn vào biểu đồ trên, có thểthấy rằng thời gian cho một chu kì biến động tăng trưởng kinh tế nước ta là khoảng

10 năm

Bắt đầu từ năm 1986, khi nước ta chính thức cải cách nền kinh tế theo xuhướng mở cửa và hội nhập, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và đángghi nhận Những khó khăn bước đầu khi chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tậptrung sang kinh tế thị trường, đặc biệt là sự sụp độ của Liên Xô và các nướcXHCN Đông Âu, hầu như không có tăng trưởng trong giai đoạn 1976 – 1985,bước sang giai đoạn 1986 – 1990, nền kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi và pháttriển, tuy tốc độ chưa cao Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam luôn ở mứccao, bình quân giai đoạn 1990 – 2009 là 7,32% Nhờ vậy mà GDP của Việt Nam

đã tăng từ mức 7,79 tỷ USD (năm 1990) lên 93,7 tỷ USD (năm 2009) Quy môGDP danh nghĩa của Việt Nam đứng thứ 59 toàn cầu những theo sức mua tươngđương thì kinh tế Việt Nam đứng thứ 44, trên cả Singapore (năm 2009)

Hội nhập kinh tế, bên cạnh những lợi ích mà nó mang lại, kinh tế Việt Namcũng chịu tác động lan tỏa của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, theo tính quyluật chu kì của kinh tế thị trường, có giai đoạn đạt đỉnh cao nhưng có giai đoạnphải chịu khủng hoảng Năm 1999, do ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảngtài chính - tiền tệ châu Á (1997) tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đã giảmxuống còn 4,8% Tăng trưởng giảm sút thể hiện ở hầu hết các ngành kinh tế chủchốt như công nghiệp, dịch vụ và xuất nhập khẩu Xem xét về mức độ ảnh hưởng,chúng ta chịu ảnh hưởng muộn hơn và mức độ nhẹ hơn so với các nước trong khuvực phải chịu ảnh hưởng nặng nề như Sigapore, Thailand

Tuy nhiên, đến năm 2000, nền kinh tế đã có sự hồi phục nhanh chóng, tốc độtăng trưởng kinh tế đã đạt ở mức 6,8% và liên tiếp tăng trong các năm tiếp theo đạt

Trang 10

7,0% (năm 2002); 7,3% (năm 2003); 7,6% (năm 2004); 8,5% (năm 2005), 8,23(năm 2006), 8,46 (năm 2007) Với những dấu hiệu xuất hiện của khủng hoảng kinh

tế - tài chính toàn cầu 2008, lạm phát tăng cao, tăng trưởng kinh tế nước ta bắt đầu

có dấu hiệu chững lại và chỉ đạt 6.32% Những nỗ lực khuyến khích đầu tư, kíchcầu tiêu dùng nhằm khắc phục những hậu quả nặng nề của khủng hoảng Tài chínhthế giới tác động đến nước ta, Việt Nam vẫn có tăng trưởng 5,23% năm 2009 vừaqua

So sánh về tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam với các nước khác trongkhu vực, cho thấy nước ta có tốc độ tăng trưởng trong top dẫn đầu Trong số cácnước ASEAN, Việt Nam đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng rấtcao Riêng trong năm 2009, mặc dù gặp phải khủng hoảng tài chính và suy giảmkinh tế toàn cầu, tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 5,32% chỉ sau Trung Quốc và

có một tốc độ tăng trưởng cao và bứt phá Theo nhận định của các chuyên gia kinh

tế, nước ta cần có tăng trưởng kinh tế cao (có thể ít nhất phải đạt tốc độ tăngtrưởng GDP trung bình 9,0%/năm) để thoát khỏi tình trạng một nước đang phát

Trang 11

triển ở trình độ phát triển thấp (Xem phụ lục 4 – so sánh quy mô GDP của một sốquốc gia)

2 GDP bình quân đầu người.

Cùng với tăng trưởng kinh tế với tốc độ dương trong thời kì 1991 đến nay, thunhập bình quân đầu người liên tục tăng, là chỉ tiêu cơ bản nâng cao chất lượngcuộc sống người dân

GDP bình quân đầu người giai đoạn 1995 – 2009 (Phụ lục 2)

Xét về tốc độ tăng, GDP/người liên tục tăng cùng với tăng trưởng GDPchung Do có tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn cao hơn so với tốc độ tăng dân số,tăng GDP/người Việt Nam luôn dương trong suốt 1991 – nay

Nguồn: tổng cục thống kê –( Phụ lục 3)

Tốc độ tăng dân số nước ta thời kì 2000 – 2009 là tương đối ổn định ở mứctrung bình, do đó, tăng GDP/người thấp hơn so với tăng trưởng GDP chung không

Trang 12

đáng kể Nghĩa là, tăng trưởng kinh tế đã làm tăng nguồn thu nhập của người dân,điều kiện tiên quyết để cải thiện mức sống dân cư.

Trước thời kỳ đổi mới, phần lớn dân số nước ta sống bằng nghề nông, ViệtNam bị đánh giá là một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, với mức thu nhập bình quânđầu người rất thấp và có nhiều người trong diện nghèo đói Đường lối đổi mới vàchính sách hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người laođộng, dẫn đến nâng cao thu nhập cho người dân

Tốc độ tăng kinh tế cao trong khi tốc độ tăng dân số được kìm hãm, đã dẫnđến mức thu nhập GDP bình quân trên đầu người của Việt Nam mỗi năm một tăng.Nếu như năm 1990 là 100USD thì đến năm 2007 đã là 835USD, tăng gấp hơn 8lần và đến năm 2009 đã là 1055USD, nằm trong nhóm nước có thu nhập trung bìnhthấp (LMCs)

Trên cơ sở kinh tế tăng nhanh GDP/người, mức độ nghèo đói của dân cư giảmmạnh Năm 2006, tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam là 18,1% (tính theo chuẩn nghèoquốc tế) và được thế giới đánh giá là thành công trong việc chống nghèo đói Vàcon số này giảm xuống còn hơn 13% năm 2009, đánh giá những hiệu quả tăngtrưởng đáng ghi nhận

Tuy nhiên, qui mô của việc tăng GDP/người nước ta còn rất thấp cho dù tỷ lệgia tăng tương đối cao và ổn định So với mức bình quân của các nước khi bìnhquân của thế giới khoảng trên 7.500 USD, của châu Á khoảng gần 3.000 USD, củaĐông Nam Á khoảng gần 2000 USD Lý do chính vẫn là do xuất phát điểm củanước ta là thấp Nếu làm phép so sánh với các nước trong khu vực, GDP/ngườiViệt Nam còn tụt hậu khá xa

GDP/NGƯỜI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á THEO TƯƠNG ĐƯƠNG SỨC MUA(USD)

Quốc

gia

1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

Bru-nây 17868 16779 19210 19210 19210 19210 47465 49898 49900Cam-

pu-chia

1361 1446 1860 2060 2078 2423 1453 1619 1690

Trang 13

Như vậy, những thành tựu đạt được trong việc tăng GDP/người những năm

1991 – 2009 là rất đáng ghi nhận, là kết quả mang tính đột phá nhằm đưa kinh tếnước ta tăng trưởng và phát triển trong xu thế toàn cầu hóa Tuy nhiên, nếu nhìnvào qui mô, chúng ta còn bị tụt hậu đáng kể so với các nước trong khu vực và thếgiới Cần một sự đột phá trong tăng trưởng cả về qui mô, tốc độ để có thể đuổi kịpcác nền kinh tế phát triển hơn Với điều kiện Việt Nam, tăng trưởng kinh tế cao vớităng GDP và tăng GDP/người cần đặt thành mục tiêu lâu dài để tạo đà cho nềnkinh tế cất cánh trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vượt qua đượcngưỡng thu nhập trung bình và các trở ngại thường gặp trong quá trình phát triển

II Hiệu quả tăng trưởng:

1 Dựa vào so sánh tốc độ tăng tổng giá trị sản xuất (GO) và tổng giá trị sản phẩm trong nước (GDP)

Biểu đồ thể hiện sự chênh lệch giữa tốc độ tăng GO và tốc độ tăng GDP thời kỳ 1991 – 2008 (Xem phụ lục 5)

Trang 14

Nguồn: Đề tài nghiên cứu khoa học “Mô hình tăng trưởng của Solow và khả năng áp dụng vào Việt Nam”

Trong giai đoạn 1991 – 2008, tốc độ tăng trưởng của giá trị tăng thêm (VAhay GDP) luôn thấp hơn tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất (GO) và chênh lệchgiữa 2 tỷ lệ này là tương đối lớn (Năm 2008: tốc độ tăng trưởng GDP đạt 6.32%trong khi tốc độ tăng GO đạt 11.3%)

Mà:

Giá trị tăng thêm (GDP) = Giá trị sản xuất (GO) – Chí phí trung gian (IC)

Như vậy, tồn tại sự chênh lệch giữa gia tăng GDP và gia tăng GO là do chiphí trung gian (IC) tăng Trong quá trình sản xuất ở tất cả các ngành kinh tế đềucần có chi phí trung gian (bao gồm toàn bộ chi phí về sản phẩm vật chất và dịch vụcho sản xuất) Chi phí này nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào từng ngành kinh tế Xét khu vực nông nghiệp:

So sánh tốc độ gia tăng GO và GDP trong nông, lâm, ngư nghiệp

(Xem phụ lục 6)

Trang 15

Nguồn: Tổng cục thống kê

Chi phí trung gian trong khu vực này cao là do nhiều nguyên nhân, trong đó

có nguyên nhân khách quan như chi phí do phòng chống và khắc phục hậu quảthiên tai tăng (có những năm thiệt hại lên tới 10 nghìn tỷ đồng); ngoài ra có thể dogiá cả thế giới sụt giảm liên tục Ngoài nguyên nhân khách quan cũng có nhữngnguyên nhân chủ quan như nguyên nhân do chuyển dịch cơ cấu, những ngành có tỷ

lệ chi phí trung gian cao hơn lại tăng nhanh hơn nên làm cho chi phí trung gian của

cả khu vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng lên Chi phí đầu vào ở tất cả cáckhâu từ làm đất, thuỷ lợi, giống, bảo vệ thực vật… đều ở mức cao Đối với nhữngsản phẩm khai thác, chế biến từ nguyên liệu của ngành nông, lâm, ngư nghiệp lạixuất khẩu ở dạng thô hoặc sơ chế là chủ yếu như: Dầu thô, chè, cà phê, vừng, lạc Nhiều loại rau quả đến mùa thu hoạch không có đủ năng lực chế biến, gây thiệt hạicho nông dân Cho tới nay, hàng nông sản đã qua chế biến tinh chỉ mới đạt tỷ lệtrên dưới 10% so với giá trị nông sản cần chế biến

Đối với ngành công nghiệp, khi tốc độ gia tăng của giá trị sản xuất lên tới13.9%/ năm thì giá trị gia tăng chỉ đạt 11.7%/năm

So sánh tốc độ gia tăng GO và GDP trong công nghiệp

(Xem phụ lục 7)

Trang 16

Nguồn: Tổng cục thống kê

Chi phí trung gian ở khu vực này tăng có thể liên quan đến vấn đề thất thoátvốn khi mà tổng vốn đầu tư tăng cao nhưng vốn thực tế vào sản xuất lại không tăngtương ứng Những chủ yếu là do các loại chi phí về nguyên, nhiên vật liệu, chi phíquản lý, chi phí ngoài sản xuất… Sản xuất của một số ngành còn mang nặng tính

chất gia công lắp ráp cho nước ngoài, chưa chủ động được nguồn nguyên liệu, linh

kiện và phụ tùng, cũng như thị trường tiêu thụ Vì vậy, giá trị sản xuất thì lớn, tăngtrưởng cao, nhưng giá trị mới tăng thêm rất nhỏ, điển hình là: Sản xuất thép củacác liên doanh với nước ngoài; sản xuất các sản phẩm từ kim loại; sản xuất ô tô, xemáy, máy tính và các sản phẩm điện tử Đây là một trong những nguy cơ có thểdẫn tới sự thiếu bền vững trong sản xuất công nghiệp

Như vậy, có thể thấy, những chi phí liên quan đến quá trình sản xuất khôngmang lại hiệu quả cao dến đến chi phí trung gian cao và như vậy sẽ trở thành lựckéo kéo GDP giảm xuống theo Nói cách khác, sự chênh lệch giữa tốc độ tăngGDP và tốc độ tăng GO do tỷ lệ chi phí trung gian tăng đã chỉ ra hiệu quả tăngtrưởng GDP của Việt Nam còn thấp

2 Dựa vào Năng Suất Lao Động

Ta có bảng số liệu về năng suất lao động xã hội chung của Việt Nam trong

một vài năm gần đây như sau:

Trang 17

Nguồn: Tổng cục thống kê

Năng suất lao động xã hội là một chỉ tiêu được tính bằng GDP theo giá thực

tế chi cho tổng số lao động đang làm việc

Năm 2007, năng suất lao động của Việt Nam là 25.9 triệu đồng/ người/ năm(hay 1.6 nghìn USD/ người/ năm) Trong khi đó năng suất lao động của một sốnước trong ASEAN như Indonesia gấp 2.5 lần, Thái Lan cao gấp 4.1 lần, Malaysiacao gấp 10.7 lần năng suất lao động của Việt Nam Và năng suất lao động này củaViệt Nam còn thấp xa so với năng suất lao động trung bình của thế giới (khoảngtrên 14.6 nghìn USD/ người/ năm)

Nếu tính bằng giá so sánh thì tốc độ tăng năng suất lao động trong thời kỳ

1991 – 2008 chỉ đạt 5.2%/năm và mức tăng tuyệt đối mỗi năm là 0.37 triệu VND/

TháiLan

Philippines

Indonesia

Ngày đăng: 25/01/2016, 18:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Kinh tế Phát triển, Bộ môn Kinh tế Phát triển, khoa KH&PT, NXB Lao động Xã hội – 2005 Khác
2. Giáo trình Kinh tế Công cộng, Khoa KH&PT, trường ĐH KTQD Khác
3. Bài giảng môn học Kinh tế Phát triển, PGS.TS Ngô Thắng Lợi, Khoa KH&PT, trường ĐH KTQD Khác
5. Báo cáo phát triển Việt Nam các năm – Ngân hàng thế giới 6. Tạp chí kinh tế Phát triển, NXB Đại học KTQD7. Thời báo kinh tế Việt Nam Khác
8. Các trang web của Tổng cục thống kê Việt Nam, website Đảng Cộng sản Việt Nam,… Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w