1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giáo dục trung học cơ sở huyện chiêm hóa tỉnh tuyên quang từ năm 1991 đến năm 2010

97 464 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 907,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là địa bàn tập trung khá nhiều các thành phần dân tộc, Chiêm Hoá cũng gặp những khó khăn không nhỏ trong phát triển giáo dục do mỗi dân tộc có ngôn ngữ, phong tục tập quán, địa bàn cư tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG THỊ KHUYẾN

GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ

HUYỆN CHIÊM HOÁ TỈNH TUYÊN QUANG

TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM

Thái Nguyên, 2012

Trang 2

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN XUÂN MINH

Thái Nguyên, 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trên là trung thực Những kết luận của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả Luận văn

Hoàng Thị Khuyến

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài 3

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của Luận văn 5

6 Bố cục của luận văn 5

Chương 1: GIÁO DỤC HUYỆN CHIÊM HOÁ TRƯỚC NĂM 1991 6

1.1 Khái quát huyện Chiêm Hoá 6

1.1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 6

1.1.2 Dân cư và các thành phần dân tộc 8

1.1.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội 10

1.2 Khái quát tình hình giáo dục huyện Chiêm Hoá trước năm 1991 13

1.2.1 Giáo dục huyện Chiêm Hóa thời Pháp thuộc 13

1.2.2 Giáo dục huyện Chiêm Hoá từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1954 17

1.2.3 Giáo dục huyện Chiêm Hoá từ năm 1954 đến năm 1975 21

1.2.4 Giáo dục huyện Chiêm Hóa thời kì 1975 – 1991 25

Chương 2: GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞHUYỆN CHIÊM HÓA TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000 28

2.1 Chủ trương đổi mới giáo dục của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ Huyện Chiêm Hóa trong thời kì mới 28

2.2 Giáo dục Trung học cơ sở huyện Chiêm Hóa 37

2.2.1 Mạng lưới trường, lớp, học sinh và giáo viên 37

2.2.2 Các hoạt động giáo dục khác 49

Chương 3: GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN CHIÊM HÓA TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 59

3.1 Giáo dục huyện Chiêm Hóa trước yêu cầu chuyển biến cơ bản và toàn diện về giáo dục đào tạo 59

3.2 Giáo dục Trung học cơ sở huyện Chiêm Hóa từ năm 2001 đến năm 2010 65

3.2.1 Mạng lưới trường lớp, học sinh và giáo viên 65

3.2.2 Các hoạt động giáo dục khác 74

Trang 5

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

HĐND Hội đồng Nhân dân

PCGDTH - CMC Phổ cập giáo dục Tiểu học – Chống mù chƣ̃

PCGDTHCS Phổ cập giáo dục Trung học cơ sở

THPT Trung học phổ thông

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững

Do vậy, Đảng và Nhà nước đều coi giáo dục và đào tạo là “quốc sách” hàng đầu

Bước sang thế kỉ XXI , phát triển giáo dục trực tiếp phục vụ yêu cầu của sự nghiệp đổi mới của đất nước

Trong hệ thống giáo dục Việt Nam, giáo dục phổ thông đóng vai trò là giáo dục nền tảng, là yếu tố cơ bản của giáo dục, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Phát triển giáo dục phổ thông là tiền đề, là khâu quan trọng

để thực hiện phát triển giáo dục

Trong hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục Trung học cơ sở (THCS) giữ vai trò quan trọng Điều 23 Luật Giáo dục hiện hành đã nêu rõ: “Giáo dục trung

học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”[44;tr 23]

Chiêm Hóa là một huyện vùng cao nằ m ở khu vực phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang Đây cũng là mảnh đất anh hùng, nơi ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của dân tộc Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện ra sức phấn đấu, hăng hái thi đua học tập, lao động sản xuất Phát huy nội lực, sáng tạo trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh, Đảng bộ và nhân dân huyện Chiêm Hoá đã giành được nhiều thành tựu quan trọng, từng bước làm biến đổi kinh tế - xã hội Trong những thành tựu chung của huyện, có sự đóng góp quan trọng của ngành Giáo dục và Đào tạo

Trải qua 20 năm phát triển (1991 – 2010), ngành Giáo dục và Đ ào tạo huyện Chiêm Hóa đã đạt được những thành tựu tiêu biểu :

Trang 7

Năm 1995, huyện Chiêm Hóa được công nhận đạt chuẩn quốc gia phổ cậpgiáo dục Tiểu học-xoá mù chữ (PCGDTH-XMC) Đến năm 2001, huyện tiếp tục được công nhận đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục Trung học cơ sở (PCGDTHCS) Năm 2003, huyện đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi Từ năm 1995 đến nay, ngành Giáo dục và Đ ào tạo huyện liên tục nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục các bậc học Năm 2006, Trường

THCS Khánh Thiện vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động

hạng II

Việc nghiên cứu giáo dục Trung học cơ sở huyện Chiêm Hoá từ năm 1991 đến năm 2010 vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn, giúp cho địa phương rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo ngành giáo dục phổ thông những năm tiếp theo

Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử , là người con của quê hương Chiêm Hoá và trưởng thành từ ngành Giáo dục quê nhà , bản thân tôi nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục phổ thông đối với sự nghiệp trồng người và tầm quan trọng của việc định hướng giáo dục phổ thông trong thời kì mới

Đề tài nghiên cứu “Giáo dục trung học cơ sở huyện Chiêm Hoá tỉnh Tuyên

Quang từ năm 1991 đến năm 2010” còn đóng góp thêm vào nguồn tư liệu lịch sử

địa phương Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn vấn đề: “Giáo dục Trung học cơ

sở huyện Chiêm Hoá tỉnh Tuyên Quang từ năm 1991 đến năm 2010”” làm đề tài

Luận văn Thạc sĩ Sử học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ khi đất nước giành được độc l ập (1945) đến nay, Đảng và N hà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục và đào tạo , coi đó là quốc sách hàng đầu Ngoài các văn kiện Đại hội đ ại biểu toàn quốc lần thứ IV , VI, VII, VIII, IX… và Nghị quyết TW 4 khóa VII , Nghị quyết TW 2 khóa VIII , văn kiện Hội nghị lần 6 BCHTW Đảng khóa IX về Giáo dục đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo – cơ quan chủ quản về công tác giáo dục đã đưa ra nhiều văn bản chỉ đạo về phát triển giáo dục phổ thông Đây là vấn đề được cả xã hội quan tâm và nhiều tác giả nghiên cứu

Trang 8

Ở huyện Chiêm Hóa , trong những năm qua , hoạt động nghiên cứu lịch sử đã được một số cá nhân và tập thể thực hiện trên nhiều lĩnh vực kinh tế , văn hóa, xã hội Một số công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục tỉnh Tuyên Quang , trong đó

có huyện Chiêm Hóa, đã được xuất bản

Năm 2000, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn “Lịch sử Đảng bộ

tỉnh Tuyên Quang (1940 – 1975)” và cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (1940 – 2000)”, đã đề cập đến nội dung văn hóa, giáo dục trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

Năm 2008, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn “ Lịch sử Đảng bộ

huyện Chiêm Hoá (1940 - 2005)” Cuốn sách trình bày hệ thống quá trình hình

thành và phát triển của Đảng bộ Chiêm Hóa qua các thời k ì, nêu rõ sự chỉ đạo của Huyện ủy và nhữ ng thành tựu đạt được trên tất cả các mặt kinh tế , văn hóa, xã hội

…của huyện Chiêm Hóa, trong đó có sự phát triển giáo dục-đào tạo

Ngoài các công trình trên, các bản báo cáo tổng kết của ngành Giáo dục Tuyên Quang và ngành Giáo dục Chiêm Hóa qua từng năm , từng thời kì từ năm 1991 đến năm 2010 đã nêu những kết quả đạt được và đánh giá về tình hình giáo dục

Các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập tới sự phát triển của giáo dục huyện Chiêm Hoá qua các thời kì lịch sử nhưng mới chỉ dừng lại ở những nét khái quát Đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về giáo dục Chiêm Hoá nói chung và giáo dục THCS huyện Chiêm Hoá nói riêng Tuy nhiên , những công trình liên quan đến đề tài đã được công bố là những cơ sở giúp chúng tôi hoàn thành Luận văn này

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu giáo dục THCS huyện Chiêm Hoá

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: Từ năm 1991 đến năm 2010 Tuy nhiên, để làm rõ yêu cầu của đề tài, Luận văn đề cập tình hình giáo dục của huyện trước năm 1991

Trang 9

- Phạm vi không gian: Hệ thống giáo dục THCS huyện Chiêm Hoá tỉnh Tuyên Quang, gồm 29 đơn vị hành chính trực thuộc (trong đó có 28 xã và 1 thị trấn)

3.3 Nhiệm vụ của đề tài

Đề tài tập trung giải quyết những nội dung sau đây :

- Khái quát tình hình giáo dục huyện Chiêm Hóa trước năm 1991

- Dựng lại quá trình phát triển giáo dục THCS huyện Chiêm Hoá từ năm

1991 đến năm 2010, trải qua hai giai đoạn 1991- 2000 và 2001 – 2010 Từ đó rút ra những hạn chế, bài học kinh nghiệm cần thiết cho sự chỉ đạo giáo dục THCS huyện Chiêm Hoá trong những năm tiếp theo

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các nguồn tài liệu sau đây:

- Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Các chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh uỷ Tuyên Quang, Huyện uỷ Chiêm Hoá về đổi mới và phát triển giáo dục – đào tạo

- Các văn bản kế hoạch, định hướng giáo dục của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Tuyên Quang từ năm 1991 đến năm 2010

- Các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của các cấp ủy Đảng, chính quyền có liên quan đến giáo dục phổ thông Tuyên Quang từ năm 1991 đến năm 2010

- Các báo cáo tổng kết và phương hướng năm học của Sở GD – ĐT Tuyên Quang, của Phòng Giáo dục – Đào tạo huyện Chiêm Hoá giai đoạn 1991 – 2010

- Niên giám thống kê, phần tổng kết về giáo dục của tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 1991 đến năm 2010

- Các công trình nghiên cứu lịch sử địa phương có liên quan đến giáo dục phổ thông ở tỉnh Tuyên Quang và huyện Chiêm Hoá

Trang 10

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgíc là chủ yếu Các phương pháp phân tích so sánh , thống

kê cũng được vận dụng

5 Đóng góp của Luận văn

- Đây là công trình đầu tiên trình bày có hệ thống về quá trình phát triển của giáo dục Trung học cơ sở huyện Chiêm Hoá tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn

1991 - 2010

- Dùng làm tài liệu giáo dục truyền thống

- Rút ra những bài học kinh nghiệm góp phần phát triển hơn nữa giáo dục THCS ở huyện Chiêm Hoá tỉnh Tuyên Quang

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn gồm có

3 chương nội dung:

Trang 11

Chương 1 GIÁO DỤC HUYỆN CHIÊM HOÁ TRƯỚC NĂM 1991

1.1 Khái quát huyện Chiêm Hoá

1.1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên

Là một huyện vùng cao của tỉnh Tuyên Quang, Chiêm Hóa mang đậm những nét đặc thù của vùng núi phía Bắc Việt Nam Phía bắc Chiêm Hóa giáp huyện Na Hang (tỉnh Tuyên Quang), phía nam giáp huyện Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang), phía đông giáp huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn); phía tây giáp huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang) và huyện Bắc Quang (tỉnh Hà Giang ) Huyện lị đặt tại thị trấn Vĩnh Lộc, cách tỉnh lị Tuyên Quang 67km về phía bắc Diện tích tự nhiên toàn huyện là 1.460,60km2; trong đó có 10.828 ha đất sản xuất nông nghiệp , 12.235,6

ha đất lâm nghiệp

Là huyện miền núi , địa hình Chiêm Hóa bị chia cắt bởi nhiều dãy núi lớn Nét chung của địa hình là sự xen kẽ không đều núi đá vôi và núi đất, các dải núi cao

và vùng đồi đất có độ cao trung bình Giữa các vùng đồi núi đó là các thung lũng, tuy không rộng lớn nhưng đất đai khá mầu mỡ, thuận lợi cho việc xây dựng các điểm dân cư và phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp Chiêm Hóa có nhiều dãy núi cao: Dãy núi Phia Choong (thuộc địa phận xã Bình An) cao 1.229m; dãy núi Quạt (thuộc địa phận xã Nhân Lý, Yên Nguyên, Hòa Phú) cao 745m; dãy núi Khau Bươn (thuộc địa phận xã Kiên Đài) cao 957m; dãy núi Chặm Chu (thuộc địa phận xã Trung Hà) là ranh giới giữa huyện Chiêm Hóa với huyện Hàm Yên và huyện Bắc Quang (Hà Giang) cao 1.587km

Địa hình không bằng phẳng như vùng đồng bằng , lại có nhiều đồi núi ca o là một trở ngại cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông đi lại và phát triển giáo dục trên địa bàn huyện

Huyện Chiêm Hóa có khá nhiều con suối nhỏ được phân bố tương đối đều khắp Là huyện miền núi , hệ thống sông , suối ở Chiêm Hoá có độ dốc trung bình

250 và giảm dần xuống phía nam; các con suối, ngòi đều đổ dồn về phía sông Lô và sông Gâm Dòng sông lớn nhất của huyện là sông Gâm , độ dài 40km Các con suối lớn, như: Ngòi Quẳng (xã Xuân Quang), Ngòi Nhụng (xã Yên Nguyên, Hoà Phú), Ngòi Đài (xã Yên Lập)… cùng nhiều khe nhỏ khác với tổng chiều dài khoảng 317km tạo thành một nguồn thuỷ sinh phong phú cung cấp nước, thuỷ sản phục vụ đời sống, sản xuất của nhân dân và là con đường vận tải khá quan trọng Bắc qua các con suối, khe ấy phần lớn là cầu tre tạm bợ , không đáp ứng được nhu cầu đi lại

Trang 12

của nhân dân trong vùng Vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 8, nước lũ dâng cao , các dòng suối nước chảy xiết , gây nhiều khó khăn và nguy hiểm cho học sinh khi tới trường

Là huyện miền núi , địa hình cao hiểm trở , nhiều suối, khe chia cắt nên việc đảm bảo giao thông ở Chiêm Hóa gặp nhiều khó khăn , đặc biệt là giao thông đến các xã vùng sâu, vùng xa Đường 109 từ Km31 chạy qua Chiêm Hóa lên Na Hang

là đường giao thông huyết mạch trên địa b àn huyện Ngoài ra còn có Đ ường 185 từ trung tâm thị trấn Vĩnh Lộc đi xã Vinh Quang , Kim Bình, Đường 188 từ thị trấn Vĩnh Lộc tới xã Thổ Bình , Đường 187 từ Yên Lập sang C hợ Đồn… Chiêm Hóa có 127km đường liên huyện cùng với hệ thống các đường liên xã , đường mòn , tạo thành một mạng lưới giao thông phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân trong huyện và phát triển kinh tế, xã hội

Do đặc điểm địa hình có nhiều núi cao , nên các tuyến đường giao thông có nhiều đèo, dốc, nhiều khúc cua Vào mùa mưa thường xảy ra lũ quét làm sạt lở, hư hại đường sá gây ách tắc giao thông Tình trạng đó cũng gây khó khăn cho việc phát triển giáo dục của huyện, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa

Địa hình huyện Chiêm Hóa bị chia cắt bởi nú i và sông nên cư dân sống rải rác ở những thung lũng , sườn núi, ven sông, suối Cũng do đó, việc đến trường của học sinh cũng như việc phân côn g giáo viên đến các khu vực dân cư gặp không ít khó khăn, đặc biệt là vào mùa mưa lũ Diện tích rộng, dân cư thưa nên lớp học sẽ thiếu học sinh , dẫn đến tình trạng lãng phí về cơ sở vật chất , thiết bị dạy học cũng như biên chế giáo viên

Chiêm Hóa là huyện nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa , tuần hoàn theo bốn mùa rõ rệt Nhiệt độ trung bình trong năm ở đây là 23,4 C, cao nhất từ

330C – 350C, thấp nhất từ 120C – 130C Lượng mưa trung bình hằng năm khá ổn định, từ 1.500mm đến 1.700mm, lượng mưa chủ yếu tập tru ng vào mùa hè chiếm từ 80% - 90% lượng mưa cả năm, độ ẩm trung bình là 84% Ở Chiêm Hóa hằ ng năm

từ tháng 4 đến tháng 9, thường có nhiều mưa và mưa rào gây ra lũ quét , lở đất làm ách tắc giao thông , cản trở việc đi lại của người dân và học sinh tới trường Mùa đông kéo dài từ tháng 10 năm trước tới tháng 3 năm sau, thường có gió mùa đông bắc gây nên mưa phùn , sương mù dày đặc khắp núi rừng , có nơi còn có sương muối ảnh hưởng không tốt tới vật nuôi cây trồng và việc học tập của học sinh Vào những đợt giá rét, nhiệt độ xuống thấp, một số trường phải cho học sinh nghỉ học

Trang 13

Có thể thấy bên cạnh những thuận lợi cơ bản , địa hình đồi núi cao với khí hậu khắc nghiệt là một trong những khó khăn thử thách lớn đối với huyện Chiêm Hóa trong quá trình x ây dựng , phát triển kinh tế - xã hội cũng như phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo

1.1.2 Dân cư và các thành phần dân tộc

Theo số liệu thống kê năm 2008 của tỉnh Tuyên Quang, dân số huyện Chiêm Hoá là 138.653 người (chiếm 18,35% dân số cả tỉnh) Là huyện vùng cao của tỉnh Tuyên Quang, Chiêm Hoá bao gồm 22 thành phần dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó tập trung nhiều nhất là : Tày, Kinh, Dao, Mông, Nùng, Hoa…Mật độ dân

số bình quân là 95 người/km2 Toàn huyện có 28.707 hộ, trong đó có 26.716 hộ sống ở vùng nông thôn

Bảng 1.1: Các thành phần dân tộc ở Chiêm Hoá (Số liệu năm 2008)

Stt Dân tộc Dân số Tỉ lệ %

( Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tuyên Quang 2008)

Là một huyện miền núi, đất rộng người thưa; nơi cư trú chủ yếu của nhân dân các dân tộc huyện Chiêm Hóa là các thung lũng, ven núi, ven sông, suối Các thành phần dân tộc trên địa bàn huyện sống xen kẽ, hòa đồng với nhau

Dân tộc Tày chiếm hơn 60% dân số ở Chiêm Hoá, là một cộng đồng thuộc ngữ hệ Tày -Thái Người Tày Chiêm Hoá sinh sống hầu khắp các địa bàn trong

huyện nhưng tập trung nhiều nhất ở các xã Thổ Bình , Minh Đức, Xuân Quang, Tân An… Nguồn sống chính của người Tày là làm ruộng nước, trồng các loại hoa màu

và chăn nuôi…

Dân tộc Kinh chiếm số dân đông thứ hai sau người Tày Người Kinh không sống tách biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác nên mối giao thoa văn hoá với các dân tộc khác diễn ra mạnh mẽ Tuy nhiên, họ có xu hướng định cư tại những nơi

Trang 14

giao thông thuận lợi, nơi trung tâm Người Kinh ngoài canh tác lúa nước còn có thế mạnh về chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản; thủ công nghiệp và buôn bán

Dân tộc Nùng sống tập trung ở xã Trung Hà , Nhân Lý, xen kẽ với người Tày

và người Kinh Nguồn sống chính của người Nùng là làm ruộng , làm nương rẫy , trồng các loại hoa màu như: ngô, sắn, khoai…

Dân tộc Dao sinh sống theo từng bản xen kẽ cùng các dân tộc khác ở những vùng quanh các chân núi cao Trước đây, họ có tập quán du canh du cư, chủ yếu dựa vào nương rẫy nên cuộc sống thiếu ổn định Từ khi chuyển sang định canh định

cư, cuộc sống của họ đã dần ổn định hơn Nguồn sống chính của họ là làm ruộng, làm nương rẫy và chăn nuôi

So với các dân tộc khác , người Mông nhập c ư vào Chiêm Hóa muộ n hơn, chủ yếu di cư từ Hà Giang , Yên Bái , Bắc Kạn xuống Trước đây, người Mông thường có tập quán sống du canh du cư trên những triền núi cao Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, những năm gần đây người Mông đã chuyển sang định canh định cư để ổn định cuộc sống Họ thường sống ở những xã vùng sâu , vùng xa như Tri Phú, Linh Phú Nguồn sống chính của họ là làm nương rẫy

Ngoài các dân tộc kể trên, ở Chiêm Hoá còn có các dân tộc khác như: Sán Chay, Sán Dìu, Bố Y, Pà Thẻn…với dân số chiếm khoảng 1% dân số của huyện

Họ sinh sống xen kẽ, hoà đồng cùng các dân tộc khác, nguồn sống chủ yếu cũng là làm ruộng, làm nương và chăn nuôi

Là địa bàn tập trung khá nhiều các thành phần dân tộc, Chiêm Hoá cũng gặp những khó khăn không nhỏ trong phát triển giáo dục do mỗi dân tộc có ngôn ngữ, phong tục tập quán, địa bàn cư trú…khác biệt, gây khó khăn trong việc huy động, vận động học sinh tới trường

Trước đây, khi đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn , đồng bào các dân tộc ở Chiêm Hóa ít quan tâm đến việc học hành của con cái Nguồn sống chủ yếu của nhân dân các dân tộc trong huyện l à làm ruộng , làm nương rẫy Do vậy , họ quan niệm cho con đi học về rồi cũng vẫn chỉ làm ruộng , làm nương , ảnh hưởng không nhỏ tới việc vận động học sinh tới trường Trên thực tế, con em đồng bào các dân tộc huyện Chiêm Hóa đi học hết cấp I cho biết đọc chữ, biết những phép tính cơ bản rồi ở nhà phụ giúp công việc gia đình, là hiện tượng khá phổ biến

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước , đặc biệt là chính sách đối với các

xã vùng 135, đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân các dân tộc trong h uyện đã dần

Trang 15

dần được cải thiện Từ đó, nhận thức đối với việc cho con em tới trường học tập của nhân dân các dân tộc trong huyện cũng thay đổi Hầu hết các gia đình trên địa bàn huyện đều tạo điều kiện cho con em tới trường và tham gia tích cực vào công tác xây dựng trường lớp Đây chính là một trong những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành Giáo dục huyện Chiêm Hóa

Nhân dân các dân tộc ở Chiêm Hoá mặc dù có nguồn gốc, phong tục tập quán, ngôn ngữ khác nhau, nhưng trải qua một thời gian dài cùng chung sống trên một địa bàn , đã cùng nhau đoàn kết , giúp đỡ, hỗ trợ trong sản xuất, đời sống, lẫn bảo vệ bản làng, quê hương đất nước Tình đoàn kết, gắn bó cộng đồng giữa các dân tộc thể hiện trong việc làng , việc nước , việc ma chay cưới xin , làm phai , đắp đập…Đồng bào các dân tộc đều có nếp sống thuần phác , chân thành, hào hiệp, hăng hái tham gia các sinh hoạt cộng đồng Truyền thống đó cũng tạo ra nét đặc thù trong phát triển giáo dục ở Chiêm Hóa và thực hiện xã hội hóa giáo dục

Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài sống trong điều kiện thiên nhiên vừa

ưu đãi vừa khắc nghiệt , nhân dân các dân tộc đã sớm hình thành cho mình truyền thống lao động cần cù, sáng tạo và bản sắc văn hóa độc đáo Nhân dân các dân tộc ở Chiêm Hóa đã và đang cùng nhau góp sức bảo tồn và phát huy mạnh mẽ những truyền thống quý báu , tốt đẹp của các dân tộc , tạo dựng nét văn hoá đa dạng nhiều màu sắc trên quê hương Chiêm Hoá

1.1.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội

Chiêm Hoá là một huyện vùng cao nằm ở phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang , có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn Theo nghị định 51NĐ-CP của Chính phủ, huyện Chiêm Hóa có 17 xã được hưởng chế độ chính sách vùng 135

Từ xa xưa, ngoài việc trồng lúa nước , nhân dân các dân tộc Chiêm Hóa còn làm nương rẫy trồng ngô, sắn và nhiều cây hoa mà u, chăn nuôi gia súc , gia cầm Thông minh , sáng tạo và khéo léo , nhân dân các dân tộc trong huyệ n đã tự tạo ra các nông cụ lao động phục vụ cho sản xuất Điều kiện tự nhiên mang lại cho Chiêm Hoá nhiều thuận lợi trong phát triển các ngành kinh tế nông, lâm nghiệp

Lâm nghiệp là ngành kinh tế có nhiều tiềm năng phát triển ở C hiêm Hóa Đất đai và khí hậu ở các xã vùng cao như Thổ Bình, Bình An, Minh Đức…phù hợp với việc khoanh nuôi rừng tự nhiên và trồng rừng Các xã phía Nam của Chiêm Hoá như Phúc Thịnh, Tân Thịnh Tân An, Nhân Lý…có độ dốc phổ biến từ 10 đến 15

độ, thích hợp trồng cây công nghiệp Chiêm Hoá hiện có trên 9.000 ha rừng đặc dụng ở các xã Kim Bình, Hòa Phú, Hà Lang, Trung Hà với nhiều loài cây cổ thụ,

Trang 16

động vật hoang dã quý hiếm Trước đây, do trình độ dân trí còn thấp , đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn nên nạn đ ốt phá rừng làm nương rẫy diễn ra tràn lan , ảnh hưởng không nhỏ tới diện tích rừng tự nhiên và môi trường sinh thái Để phát triển tiềm năng kinh tế lâm nghiệp ở Chiêm Hóa , tất yếu phải nâng cao dân trí ch o người dân và đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao Sự phát triển ngành Giáo dục đào tạo trên địa bàn sẽ góp phần đáp ứng được yêu cầu đó

Nông nghiệp là ngành kinh tế giữ vị trí quan trọng trong việc đảm bảo đời sống và phát triển kinh tế của huyện Ngành Nông nghiệp bao gồm kinh tế trồng trọt

và chăn nuôi Trong trồng trọt có hai loại canh tác chính là làm nương rẫy và ruộng nước Ở các xã vùng cao , do địa hình liền kề với núi có nhiều mảnh đất mầu mỡ, nên thuận lợi cho việc trồng lúa nương, ngô, lạc, vừng…Các thung lũng hay những nơi gần sông, suối thích hợp phát triển nông nghiệp trồng lúa nước Nhiều dân tộc ở Chiêm Hoá đã định cư từ lâu đời nên đồng bào đã sớm biết canh tác lúa nước

Chăn nuôi là hoạt động kinh tế quan trọng sau trồng trọt Trước đây, nhân dân chủ yếu chăn nuôi theo tính chất tự nhiên tự cấp tự túc, dần dần việc chăn nuôi trở nên quy mô hơn , số lượng đàn gia súc , gia cầm… không ngừng tăng mạnh qua các năm Trước đây, do chưa quan tâm tới áp dụng khoa học kĩ t huật vào sản xuất nên năng suất lao động thấp, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn , điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của giáo dục huyện Chiêm Hóa

Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương, hiện tượng đốt rừng làm nương rẫy nay đã không còn; diện tích rừng trồng mới tăng dần qua các năm Hiện nay, canh tác lúa nuớc và trồng hoa màu đã trở thành nguồn t hu nhập chính của nhân dân huyện Chiêm Hoá Với chủ trương chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng, áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, kinh tế nông nghiệp

ở Chiêm Hoá khá phát triển Hệ thống thuỷ lợi cũng được huyện chú trọng quan tâm đầu tư, hệ thống mương phai, cọn dẫn nước tương đối đầy đủ; chương trình kiên cố hoá kênh mương được triển khai đã đem lại hiệu quả tích cực Ngoài các giống lúa nước, nhân dân còn xen canh tăng vụ trồng các loại cây hoa màu có hiệu quả kinh tế cao , các loại cây ăn quả Thủ công nghiệp và công nghiệp địa phương cũng dần dần phát triển

Sự phát triển các ngành kinh tế đã làm cho đời sống của nhân dân các dân tộc trong huyện dần dần được cải thiện và đi vào ổn định Chính điều đó đã tạo thuận lợi cho sự phát triển của giáo dục huyện Chiêm Hóa

Trang 17

Là nơi tập trung 22 thành phần dân tộc, mỗi dân tộc đều có những phong tục , tập quán khác nhau đã tạo nên một bức tranh văn hóa đa sắc màu trên quê hương Chiêm Hóa Bên cạnh n hững phong tụ c, tập quán tốt đẹp , một số dân tộc vẫn còn nhiều phong tục, tập quán lạc hậu có ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển văn hóa ,

xã hội địa phương Tập quán du canh , du cư của người Mông , người Dao khiến đời sống của đồng bào không ổn định là một trở ngại lớn tới việc vận động học sinh đến trường Những phong tục, tập quán lạc hậu, như tang ma dài ngày, mời thầy mo, thầy cúng tới chữa bệnh, nạn tảo hôn… vẫn còn hiện hữu ở một số nơi vùng sâu, vùng xa Điều đó phần nào thể hiện trình độ dân trí chưa cao, gây cản trở tới sự phát triển kinh tế, xã hội huyện Chiêm Hóa Việc phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí cho người dân thực sự cần thiết trong quá trình hội nhập và phát triển ở Chiêm Hóa

Trải qua quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, nhân dân các dân tộc Chiêm Hóa đã tạo dựng nên truyền thống lịch sử, văn hóa tốt đẹp Những truyền thống yêu thương, đoàn kết, cần cù sáng tạo trong lao động, dũng cảm trong chiến đấu dần hình thành và phát triển bền vững Trong quá trình hình thành và phát triển của lịch sử dân tộc, Chiêm Hóa là nơi luôn được các triều đại phong kiến chú ý sử dụng quan lại địa phương và cử quan lại dưới xuôi lên trấn giữ Từ đó, kinh nghiệm sản xuất, hành vi ứng xử giữa con người với con người… có sự giao thoa; truyền thống cần cù, hiếu học ngày càng được hình thành và phát triển

Mặc dù số người đỗ đạt cao trong các khoa thi không nhiều , cũng không phải là vùng đất khoa bảng nổi danh như các địa phương khác trong cả nước , nhưng truyền thống hiếu học đã được hình thành và phát triển từ sớm trên địa bàn huyện Số lượng người tham gia vào các khoa thi được duy trì đều dặn qua các năm Vào thời Lê , tỉnh Tuyên Quang đã vinh dự được chọn làm 1 trong 9 điểm thi hương trong toàn quốc Từ khi trở thành vùng căn cứ địa quan trọng trong kháng chiến chống thực dân Pháp, từng là nơi được Bác Hồ và Trung ương Đảng chọn làm nơi ở

và hoạt động của nhiều cơ quan Chính phủ : Bộ Y Tế, Bộ Quốc gia Giáo dục… , nơi diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng , nhân dân các dâ n tộc Chiêm Hóa ngày càng có điều kiện phát huy truyền thống cần cù, hiếu học trên quê hương cách mạng

Kinh tế, xã hội còn gặp nhiều khó khăn , chậm phát triển là yếu tố khó khăn , thách thức cho phát triển văn hóa giáo dục ở Chiêm Hóa Tuy nhiên những yếu tố văn hóa tốt đẹp, truyền thống yêu nước, cần cù, chịu khó, đặc biệt là lòng tin son sắt của nhân dân quê hương cách mạng đối với Đảng và Nhà nước lại là yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của ngành Giáo dục Chiêm Hóa Nếu khai thác tốt những yếu tố

Trang 18

thuận lợi đó, huyện Chiêm Hóa sẽ tạo được đà phát triển vững chắc cho sự nghiệp giáo dục đào tạo trên địa bàn huyện

1.2 Khái quát tình hình giáo dục huyện Chiêm Hoá trước năm 1991

1.2.1 Giáo dục huyện Chiêm Hóa thời Pháp thuộc

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Sau Hiệp ước Patơnôt (1884), về cơ bản chúng đã hoàn thành việc xâm lược nước ta Từ sau đó , thực dân Pháp bắt tay vào việc tổ chức và thi hành những biện pháp thống trị nhân dân ta trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục

Năm 1884, Pháp đánh chiếm Tuyên Quang Nhằm dễ bề cai trị và bóc lột, thực dân Pháp vừa duy trì chế độ thổ ty, phong kiến tại địa phương, vừa tiến hành thiết lập một bộ máy cai trị hết sức hà khắc Chúng chia Chiêm Hoá thành 10 tổng,

40 xã và 17 động Mán với hệ thống chức sắc: Tri châu, Chánh tổng, Lí trưởng, Phó lí…Về quân sự, chúng đặt ra các chức Châu đoàn , Bang tá, Tổng đoàn, Xã đoàn và lập các đồn binh ở những nơi có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, quân sự

Dựa vào bộ máy thống trị hành chính, quân sự, thực dân Pháp cùng bọn phong kiến tay sai ra sức áp bức, bóc lột nhân dân địa phương Chúng tước đoạt mọi quyền tự do dân chủ của quần chúng nhân dân ; đồng thời ra sức vơ vét các nguồn lợi về tài nguyên, khoáng sản

Song song với những chính sách bóc lột cực kì tàn khốc về kinh tế, đàn áp dã man về chính trị, thực dân Pháp đã thi hành chính sách văn hoá nô dịch, ngu dân “

Sau khi những tên lính viễn chinh làm xong nhiệm vụ bình định thì đến lượt người giáo viên thực hiện sự nghiệp của họ”[79; 180]

Trong báo cáo gửi Toàn quyền Đông Dương tháng 3/1899, Thống sứ Bắc Kì

viết: “Kinh nghiệm của các dân tộc châu Âu khác đã chỉ ra rằng việc truyền bá một

nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột” [79; tr183 ] Trong báo cáo

của giới c ầm quyền Pháp ở Đông Dương tại Hội nghị thuộc địa (1906) ở Pari có

đoạn; “ Giáo dục là công cụ chắc chắn và mạnh mẽ nhất trong tay người đi chinh

phục Chúng ta phải làm cho họ tiêm nhiễm tư tưởng của chúng ta, dạy cho họ biết tiếng nói của chúng ta và do đó, phải bắt đầu việc này từ nhà trường mà trước hết là từ trẻ em… chúng ta chỉ cần dạy tiếng Pháp cho dân An Nam, dạy cho họ biết đọc, biết tính toán một ít thôi, biết hơn là thừa, là vô ích” [79;181]

Một thời gian dài kể từ sau khi hoàn thành việc đánh chiếm Chiêm Hóa, thực dân Pháp không mở trường học Đến năm 1924, do nhu cầu đào tạo tay sai, chúng

Trang 19

phải mở một trường sơ học (tiểu học) tại thị trấn Dưới thời Pháp thuộc, cả huyện Chiêm Hóa chỉ có khoảng 50 người được đi học Đến năm 1945, cả huyện chỉ có 3 người được học hết bậc tiểu học

Bên cạnh đó , một số ít gia đình có kinh tế tương đối khá đã tự tìm thầy đồ dạy trẻ học chữ nho và chữ quốc ngữ ngay tại nhà Các gia đình cho con em đi học tự góp thóc trả công hằ ng năm và thay nhau nuôi ăn hằ ng tháng cho thầy giáo Tuy vậy, số lượng người được học chữ trong toàn huyện cũng rất ít , chỉ chiếm tỉ lệ khoảng 1% dân số toàn huyện Đến năm 1936, cả tỉnh Tuyên Quang chỉ có 5 trường tiểu học toàn cấp Cả Bắc Bộ, Pháp chỉ mở một số trường cao đẳng tiểu học hay còn gọi là trường Thành Chung (tương đương với bậc THCS hiện nay ) ở Hà Nội , Hải Phòng, Bắc Ninh, Nam Định và Lạng Sơn Do vậy học sinh ở Chiêm Hóa nói riêng , Tuyên Quang nói chung rất ít được học lên bậc cao đẳng tiểu học

Thực hiện chính sách ngu dân , ngân sách hằ ng năm của thực dân Pháp chi cho giáo dục là hết sức ít ỏi Năm 1931, chi phí dành cho giáo dục chỉ chiếm 1,2% tổng chi ngân sách cho toàn huyện , số tiền đó không bằng 1/10 chi phí cho xây dựng và tu bổ nhà tù Chúng mở trường học chỉ với mục đích đào tạo thông ngôn, tùy phái, viên chức nhỏ phục vụ cho bộ máy cai trị của thực dân, phong kiến Đối tượng được đi học chủ yếu là con em giai cấp thống trị , con nhà giàu; còn tuyệt đại

đa số con em nhân dân lao động không được đi học

Thực dân Pháp còn dùng việc thi cử, lên lớp, chuyển cấp để loại bỏ số lượng

người đi học: “ phải coi giáo dục như một thứ của quý không thể ban phát cho tất

cả mọi người” [36; tr68] Hằng năm, số lượng người đi học từ lớp này lên lớp khác

qua các kì thi bị rơi rụng mất khoảng 50%

Các trường học thực dân Pháp xây dựng ở Việt Nam đều mô phỏng th eo mô hình giáo dục phổ thông ở P háp đương thời Thông qua việc dạy cho lớp trẻ người Việt về văn minh của nước Pháp , chúng muốn biến con em các tầng lớp trên của

Chiêm Hóa sẽ dần bị “Pháp hóa”, sùng bái nền văn hóa Pháp, xa rời nền văn hóa cổ

truyền của dân tộc , trở thành người dân thuộc địa trung thành với mẫu quốc Pháp

Do vậy, thực dân Pháp đã thực hiện nội dung giáo dục phản động , phản dân tộc và thiếu khoa học trong các trường học Các môn khoa học tự nhiên nặng về lí thuyết , thiếu phần thực hành , thiếu những tri thức thực tiễn về Việt Nam Các môn khoa học xã hội đều mô phỏng lại sách dùng ở nước Pháp hoặc được biên soạn lại ít nhiều Nguyễn Ái Quốc đã từng nhận xét khá đầy đủ , sâu sắc về các trường học của

Pháp lập ra ở Việt Nam : “ Trường học lập ra không phải để giáo dục cho thanh

niên An Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư

Trang 20

tưởng cho họ Ngoài mục đíc h giáo dục để đào tạo thông ngôn , tùy phái và viên chức nhỏ đủ số lượng cần thiết phục vụ cho bọn xâm lược – người ta gieo rắc một nền giáo dục đồi bại , xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa , vì một nền giáo dục…chỉ dạy cho họ biết sùng bái những kẻ mạnh hơn mình , dạy cho thanh niên yêu một Tổ quốc không phải Tổ quốc mình và đang áp bức mình Nền giáo dục ấy dạy cho thanh niên khinh rẻ nguồn gốc dòng giống mình…Nói tóm lại , trường học thật là tương xứng với chế độ đã khai sinh ra nó” [45;tr 81]

Trước C ách mạng tháng 8/1945, nền giáo dục thực dân Pháp thực hiện ở nước ta thực chất là một nền giáo dục phản động , lạc hậu với tỉ lệ thất học lê n tới hơn 90% Riêng ở Chiêm Hóa tỉ lệ đó là trên 95%, ở các xã vùng sâu, vùng cao, vùng dân tộc ít người như Linh Phú, Tri Phú, Bình An, Thổ Bình… tỉ lệ đó là 100% Như vậy, việc hạn chế giáo dục trong chính sách văn hóa nô dịch , ngu dân chính là một bộ phận cấu thành chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam nói chung và huyện Chiêm Hóa nói riêng Thực dân Pháp không chỉ ra sức kì m hãm phát triển giáo dục mà còn duy trì và khuyến khích các phong tụ c, tập quán lạc hậu,

mê tín dị đoan Dưới thời Pháp thuộc, các hủ tục, tệ nạn xã hội lan tràn khắp nơi

Chính sách giáo dục thực dân phản động của thự c dân Pháp thực hiện ở nước

ta đi ngược lại với yêu cầu của nhân dân Việt Nam Xuất phát từ yê u cầu của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, dòng giáo dục yêu nước do các văn thân sĩ phu tiến bộ khởi xướng và chỉ đạo đã diễn ra và tồn tại trong hai thập kỉ đầu thế kỉ XX Dòng giáo dục yêu nước đầu thế kỉ XX gắn l iền với những hoạt động giáo dục trong phong trào Đông du, Đông Kinh nghĩa thục

Từ sau khi Đảng C ộng sản Việt Nam ra đời , cuộc đấu tranh chống lại nền giáo dục nô dịch, phản động của nhân dân ta trên lĩnh vực giáo dục diễn ra dưới hình thức mới với nội dung hoàn toàn mới Quan điểm về giáo dục của Đảng được

thể hiện ngay trong những văn kiện đầu tiên Chính cương vắn tắt đã xác định: đấu

tranh trên lĩnh vực giáo dục cũng là một mặt trận Chính cương nêu lên phương

hướng chiến lược về giáo dục “ Phổ thông giáo dục theo công nông hoá” Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong “Lời kêu gọi” nhân dịp thành lập Đảng đã nêu “ Thực hành

Giáo dục toàn dân”

Đầu năm 1938, theo đề nghị của đồng chí Trường Chinh , Xứ ủy Bắc Kì quyết định vận động thà nh lập một tổ chức công khai chống nạn mù chữ Tháng 5/1938, Trần Huy Liệu , Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp cùng một số nhân sĩ tiến bộ đứng ra thành lập Hội Truyền bá chữ quốc ngữ , bầu Nguyễn V ăn Tố làm Hội

trưởng Mục đích của Hội là: “Dạy cho người Việt Nam biết đọc biết viết và giúp

Trang 21

cho họ thông thạo những kiến văn thường thức trong cuộc sống” Ngày 9/9, Hội đã

khai giảng khóa học đầu tiên Hệ thống của Hội được xây dựng từ Ban Vận động Trung ương đặt trụ sở tại Hà Nội cho tới các chi nhánh ở các địa phương Đây là tổ chức công khai được chính quyền thực dân cấp giấy phép hoạt động (29/7/1938) Mặc dù vậy , thực dân Pháp vẫn luôn tìm mọi cách gây khó khăn và kìm hãm sự phát triển của Hội

Trong tình hình khó khăn, Đảng vẫn trực tiếp lãnh đạo phong trào chống nạn thất học Tháng 11/1939, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị

quyết chỉ rõ: “ Cứ mở rộng những tổ chức văn hóa như Hội Truyền bá chữ quốc

ngữ…” Tháng 11/1940, Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng

nhấn mạnh “ Cưỡng bách giáo dục tới bậc sơ học, thủ tiêu nạn mù chữ’ Nhờ sự

quan tâm của Đảng, đến trước tháng 8 /1945, Chi hội Truyền bá chữ quốc ngữ được thành lập ở nhiều địa phương trong cả nước, trong đó có huyện Chiêm Hóa

Là huyện vùng cao , địa hình đồi núi không thuận lợi cho việc đi lại nên Chi hội Truyền bá chữ quốc ngữ Chiêm Hóa chủ yếu hoạt động ở khu vực thị trấn Hội

đã thu hút sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong khu vực này Hoạt động của Hội đã góp phần quan trọng trong phong trào chống thất học , khơi dậy và phát huy lòng hiếu học của nhân dân và các dân tộc trên địa bàn huyện

Hội Truyền bá quốc ngữ xây dựng chương trình học cho cho những người bị

mù chữ theo hai lớp học sơ đẳng và cao đẳng Mục đích của lớp sơ đẳng là làm cho học viên đọc được, viết được chữ quốc ngữ và làm hai phép tính cơ bản là cộng , trừ đơn giản Mục đích của lớp cao đẳng là củng cố và nâng cao kế t quả học tập của học viên ở lớp sơ đẳng

Thông qua việc thực hiện chương trình h ọc của Hội đề ra , Chi hội Truyền bá quốc ngữ huyện Chiêm Hóa đã nỗ lực , cố gắng hoạt động với mong muốn những người bị thất học được thoá t nạn mù chữ một cách chắc chắn , vận dụng có hiệu quả những kiến thức được học trên lớp vào cuộc sống thường ngày Những người được xóa mù chữ sẽ là những nhân tố quan trọng trong cuộc vận động cách mạng cũng như trong cuộc sống sau này Bên cạnh việc thực hiện xây dựng chương trình học chung và cần thiết cho người học , Chi hội Truyền bà chữ quốc ngữ Chiêm Hóa còn chú trọng th ực hiện chương trình ấy theo phương pháp dạy học phù hợp v ới người dân địa phương

Giữa năm 1941, sau khi ra đời, Mặt trận Việt Minh đã đề ra một chương trình hành động – “ Chương trình Việt Mi nh” – gồm 10 chính sách lớn , trong đó nêu rõ :

Trang 22

Hủy bỏ nền giáo dục nô lệ , lập nền quốc dân giáo dục, cưỡng bức giáo dục đến bậc

sơ đẳng, cho phép các dân tộc được dùng tiếng mẹ đẻ của mình , phổ thông trong việc giáo dục mình Trong những năm 1943 – 1944, Mặt trận Việt Minh bắt đầu phát triển mạnh ở Sơn Dương và mở rộng lên Chiêm Hóa, thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh Phong trào Việt Minh phát triển tới đâu, các lớp học văn hóa cũng được mở tới đó Do vậy, trong thời gian này, ngoài những lớp học của Chi hội Truyền bá chữ quốc ngữ tại thị trấn Chiêm Hóa , còn có các lớp học văn hóa do hội viên Mặt trận Việt Minh tổ chức Khi các căn cứ cách mạng được thành lập ở Chiêm Hóa, việc học chữ của nhân dân được đẩy mạnh hơn trước

Từ sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), các cuộc khởi nghĩa từng phần diễn ra sôi nổi , chính quyền cách mạng được thành lập ở nhiều nơi Tháng 5/1945, Chiêm Hóa được giải phóng , thành lập chính quyền cách mạng và đổ i tên thành châu Khánh Thiện gồm 10 tổng và 65 xã Tháng 6/1945, Khu giải phón g được thành lập gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang,

Hà Giang Quán triệt chỉ thị của Tổng bộ Việt Minh, Ủy ban giải phóng các cấp tỉnh Tuyên Quang có nhiệm vụ chỉ thị cho các huyện , trong đó có Chiêm Hóa thực hiện

nhiệm vụ “ tổ chức việc chống nạn mù chữ ” và mở lớp dạy chữ quốc ngữ , mở trường sơ cấp cứu quốc Hòa chung với khí thế cách mạng cùng cả nước , nhân dân các dân tộc ở Chiêm Hóa hăng hái tham gia c ác lớp học , tham gia vào phong trào chống thất học

Như vậy, trước Cách mạng tháng Tám 1945, nền giáo dục ở Việt Nam thực chất là nền giáo dục thực dân phản động, lạc hậu Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam

ra đời với đường lối cách mạng đúng đắn và sáng suốt, người dân Chiêm Hoá nói riêng và nhân dân Tuyên Quang nói chung bước sang một con đường mới , từng bước có điều kiện được học tập và nâng cao dân trí Phong trào chống nạn mù chữ diễn ra đã đóng góp phần quan trọng cho tiến trình phát triển của sự nghiệp cách mạng ở Chiêm Hoá và cả tỉnh Tuyên Quang

1.2.2 Giáo dục huyện Chiêm Hoá từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1954

Cách mạng tháng Tám thành công khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời mở ra một kỉ nguyên mới cho nhâ n dân Việt Nam tiến lên xây dựng cuộc sống tự do, ấm no, văn minh và hạnh phúc Chế độ mới đòi hỏi phải xây dựng một nền giáo dục mới - nền giáo dục dân tộc, dân chủ Đó là một đòi hỏi tất yếu, khách quan của sự nghiệp cách mạng Do vậy, việc xây dựng một nền giáo dục dân tộc thực sự trở thành một sự nghiệp cách mạng to lớn, một đòi hỏi bức thiết

Trang 23

Giáo dục cần phải trở thành một công cụ sắc bén góp phần vào cuộc đấu tranh để củng cố và bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng chế độ mới

Sau khi ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước một tình thế hết sức hiểm nghèo Bên cạnh giặc ngoại xâm là giặc đói , giặc dốt do chế độ thực

dân phong kiến để lại khiến nước ta rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”

Tình hình trên đặt ra một trong những nh iệm vụ trọng tâm cho cách mạng và

nhân dân Việt Nam lúc này là : Bên cạnh tiến hành diệt “ giặc dốt”, xoá nạn mù chữ,

Chính phủ Việt Nam dân Chủ Cộng Hòa phải bắt tay ngay vào việc xây dựng một nền giáo dục mới – nền giáo dục cách mạng của một nước độc lập và dân chủ

Ngay trong phiên họp đầu tiên (3/9/1945), Hội đồng Chính phủ lâm thời đã thảo luận và tán thành 6 vấn đề cấp bách nhất do chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra, trong đó có vấn đề chống “giặc dốt” Có thể nói, chống “giặc dốt”, xóa nạn mù chữ

là nhiệm vụ văn hóa – giáo dục nhưng có ý nghĩa chính trị sâu sắc , bảo đảm cho người dân nâng cao trình độ văn hóa , tham gia có hiệu quả vào quá trình xây dựng

và phát triển đất nước Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ : “Ba vấn đề nghiêm trọng nhất

là giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” và “nạn dốt là một trong những phưong pháp độc ác mà bọn thực dân Pháp dùng để cai trị chúng ta Hơn 90% đồng bào ta

bị mù chữ…”; “ Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu , sự dốt nát là một loại giặc nội xâm, là mẹ đẻ của mọi thói hư tật xấu” [42; tr 206] Vì vậy , Người đề nghị mở

ngay một chiến dịch diệt “giặc dốt” và đích thân phát động chi ến dịch

Ngày 8/9/1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam DCCH đã ban hành 4 sắc

lệnh về vấn đề xóa mù chữ và Ban “Thanh tra học vụ”

Sắc lệnh số 16/SL: Đặt ra trong toàn cõi Việt Nam ngạch “Thanh tra học vụ”

để kiểm soát việc học theo đúng chương trình giáo dục của Chính phủ DCCH

Sắc lệnh số 17/SL: Thành lập Nha Bình dân học vụ , quy định rõ nhiệm vụ của Nha này là chuyên lo việc học cho nhân dân

Sắc lệnh số 17/SL: Quy định hạn trong 6 tháng, đô thị nào, làng nào cũng phải có ít nhất là một lớp dạy học được ít nhất 30 người

Sắc lệnh số 20/SL: việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không phải mất tiền cho tất cả mọi người , hạn trong một năm toàn thể dân chúng Việt Nam trên 8 tuổi phải biết đọc và biết viết chữ Quốc ngữ

Các bản sắc lệnh bổ sung cho nhau tạo thành một đạo luật đầu tiên của nước Việt Nam DCCH về vấn đề chống nạn mù chữ và thất học Đó là cơ sở pháp lí để

Trang 24

các cấp chính quyền và toàn thể nhân dân bắt tay vào việc triển khai một phong trào cách mạng trên lĩnh vực giáo dục

Tháng 10/ 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi “Chống nạn thất học” Người nêu rõ: “Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc lúc này là nâng

cao dân trí ”; “Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, hãy góp sức vào bình dân học vụ…….Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi : Vợ chưa biết thì chồng bảo , em chưa biết thì anh bảo , cha mẹ không biết thì con bảo , người làm ăn chưa biết thì chủ nhà bảo, các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho những người không biết chữ ”[ 42; tr 206] Người

đặc biệt quan tâm tới chị em phụ nữ và tầng lớp thanh niên:“ Phụ nữ lại càng cần

phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới,

để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu cử và ứng cử Công việc này, mong anh chị em thanh niên sốt sắng giúp sức…”.[42; tr 234]

Ngày 25/11/1945, Trung ương Đảng ra bản Chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc”

trong đó nêu rõ đường lối cụ thể của giáo dục là: Tổ chức Bình dân học vụ, tích cực bài trừ nạn mù chữ , mở đại học và trung học , củng cố việc học theo tinh thần mới , bài trừ cách dạy học nhồi sọ, cổ động văn hóa cứu quốc, kiến thiết văn hóa mới theo

ba nguyên tắc: khoa học hóa, đại chúng hóa, dân tộc hóa Ngày 9/7/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành S ắc lệnh số 119/SL thành lập Bộ Quốc gia Giáo dục Tuyên

bố của Bộ Quốc gia Giáo dục khẳng định: Nền giáo dục mới là một nền giáo dục duy nhất chung cho toàn thể dân chúng, không phân biệt giai cấp

Để triển khai chiến dịch “diệt giặc dốt” xóa nạn mù chữ, Nha Bình dân học

vụ được thành lập do ông Nguyễn Công Mỹ đứng đầu Sau khi thành lập, Nha Bình dân học vụ đã tổ chức họp cán bộ ngày 17/9/1945 để thông qua bản kế hoạch triển khai chiến dịch Trên cơ sở đó, Nha Bình dân học vụ đã hoạt động tích cực , sôi nổi: Các lớp dạy vần quốc ngữ (gọi là lớp sơ cấp bình dân) được thành lập, dùng chương trình sơ đẳng, phương pháp dạy vỡ lòng và sách dạy chữ quốc ngữ của Hội Truyền

bá quốc ngữ Ở Mỗi địa phương, Bình dân học vụ thống kê số người chưa biết chữ, chia ra 3 lớp theo độ tuổi: 8 – 15 tuổi, 16 – 18 tuổi, 46 tuổi trở lên; các lớp của khóa học đầu tiên cho lứa tuổi từ 16 – 45 tuổi Việc giáo dục chính trị được lồng vào các bài dạy học viết Lớp học có những giờ nói chuyện chính trị và xã hội ở địa phương Trong phần này, cơ quan Bình dân học vụ đã liên hệ chặt chẽ với cơ quan thông tin tuyên truyền

Để làm tốt công tác Bình dân học vụ, Ty Giáo dục Tuyên Quang đã cử cán

bộ tham gia khóa huấn luyện cán bộ phụ trách Bình dân học vụ do Nha Bình dân

Trang 25

học vụ tổ chức Các cán bộ sau khi tham gia khóa huấn luyện đã trở về địa phương triển khai công tác, mở rộng phong trào

Các cơ quan, đoàn thể : Mặt trận Việt Minh, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Phụ lão… cũng hết sức tích cực tham gia vào cuộc vận động và tích cực diệt

“giặc dốt” Chương trình vận động được triển khai sâu rộng Các tuyên truyền viên

đi đến từng thôn xóm, từng gia đình để vận động quần chúng nhân dân tích cực tham gia các lớp học

Nghị quyết số 20 (10/1945) Ban Chấp hành lâm thời châu Khánh Thiện đã

xác định “ Mỗi làng phải có một Ban dạy học, lấy người học trong làng mà biết chữ

ra dạy học” Đến 9/1945, chỉ trong vòng 4 tháng, kể từ khi chính quyền mới được

thành lập, châu Khánh Thiện đã có 35 trường học chính thức khai giảng, đủ chỗ cho hàng ngàn nam nữ thanh niên, người già, trẻ em theo học Toàn châu có 35 giáo

viên “Cứu quốc quân sư phạm ” đã tốt nghiệp ra trường, số giáo viên được đào tạo

cấp tốc này được phân công ngay về các thôn ở các xã mở lớp học mới Với tinh thần phấn khởi , cần cù, hiếu học, nhân dân trong châu từ cụ già đến em nhỏ đều hăng hái tới lớp Ban ngày đi làm , tối về tranh thủ học chữ , nhiều người dần dần đã biết đọc, biết viết, nạn mù chữ đã giảm đi trông thấy Kết quả này t hể hiện sự cố gắng của nhân dân châu Khánh Thiện

Tháng 2/1947, khi thực hiện kiện toàn Ủy ban hành chính từ huyện đến xã , châu Khánh Thiện trở lại tên cũ là huyện Chiêm Hóa

Bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược, Trung ương Đảng, Chính phủ cùng các cơ quan bộ, ngành Trung ương di chuyển lên vùng chiến khu Việt Bắc Trước tình hình khẩn trương của cách mạng cả nước và tính chất ác liệt của cuộc chiến tranh, với địa hình thuận lợi và lòng dân cách mạng, cùng với Sơn Dương, Yên Sơn (Tuyên Quang), Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai (Thái Nguyên ) và Chợ Đồn (Bắc Cạn ), Chiêm Hóa chính thức trở thành một

bộ phận của An toàn khu (ATK) căn cứ địa kháng chiến của cả nước

Sứ mệnh hậu phương ATK đặt lên vai Đảng bộ và nhân dân Chiêm Hóa vừa

là trách nhiệm lớn, vừa là vinh dự lớn cho huyện Với thuận lợi cơ bản là một vùng

tự do, được sự lãnh đạo, giúp đỡ trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan Trung ương (Bộ Quốc gia Giáo dục, Bộ Y tế , Đoàn Thanh niên…), các cấp chính quyền của Chiêm Hóa đã xác định phát triển văn hóa, xã hội cũng là một mặt trận quan trọng góp phần vào thắng lợi của kháng chiến Tỉnh ủy Tuyên Quang, Huyện

ủy Chiêm Hóa chủ trương tăng cường chỉ đạo nhằm xóa bỏ tàn tích nền văn hóa nô

Trang 26

dịch của chế độ cũ , xây dựng nền văn hóa mới Phương hướng chung là: Mọi hoạt

động văn hóa đều phải nhằm vào khẩu hiệu “Yêu nước căm thù giặc”; chống nạn

mù chữ phát triển giáo dục; xây dựng nếp sống mới , quyét sạch mọi tàn tích nô lệ thực dân trong văn hóa Huyện đã khai thác mọi điều kiện sẵn có để phát triển văn hóa, giáo dục và y tế, bước đầu đạt được những thắng lợi cơ bản trong vận động nhân dân xây dựng nền văn hóa kháng chiến, loại trừ các phong tục, tập quán lạc hậu

Công tác xóa mù chữ, phát triển giáo dục, nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân là một yêu cầu cấp bách , nhiệm vụ trọng tâm được triển khai có hiệu quả Huyện đã hướng chỉ đạo tập trung vào công cuộc xóa mù chữ, mở nhiều loại hình trường lớp phù hợp với sự tham dự của đồng bào, đồng thời nâng cao chất lượng các cấp học Tháng 10/1952, huyện đã mãn khóa được hai lớp Bình dân học vụ, tổ chức được một lớp mới ở Yên Nguyên với 37 học sinh Phong trào Bình dân học vụ được mở rộng, diện mù chữ ngày càng bị thu hẹp Phong trào xóa mù chữ không chỉ lan rộng ở vùng thấp, khu vực thị trấn, mà còn phổ biến, đi vào vào vùng sâu, vùng

xa như Hồng Quang, Minh Quang, Thổ Bình, Nhân Lý… Thời điểm này, huyện đã thanh toán được nạn mù chữ cho 5.663 người trong tổng số 7.219 người từ 8 tuổi trở lên (78%) Cấp học phổ thông có 62 học sinh lớp 1 và 2, 31 học sinh lớp 3, 34 học sinh lớp 4 Năm 1953, huyện đã mở thêm được 2 trường cấp I ở Phúc Hậu, Yên Lập và một trường cấp II ở An Lạc Toàn huyện có 15 trường phổ thông với 23 giáo viên và 720 học sinh Khó khăn lớn của giáo dục Chiêm Hóa trong thời gian này là

số trường lớp còn hạn chế, học sinh ở các xã không có trường cấp II phải đi đường rừng với nhiều ngày đi bộ quãng đường xa 20km đến 40km để tới trường học Sau khi học hết cấp II, muốn học lên cấp III học sinh phải chuyển xuống học tại thị xã Tuyên Quang cách xa trung tâm huyện gần 70 km

Như vậy , trong giai đoạn 1945 – 1954, cùng với cả nước , Chiêm Hóa đã hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của một giai đoạn cách mạng vẻ vang – giai đoạn kháng chiến kiến quốc Chế độ dân chủ nhân dân cùng với nền kinh tế kháng chiến

và nền văn hóa mới đã hình thành Những thành tựu bước đầu đạt được trong công tác xóa mù chữ và phát triển giáo dục phổ thông trong thời kì này không chỉ chứng minh sự phát triển của ngành G iáo dục huyện , sự nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân trong huyện, mà còn là tiền đề cho giai đoạn phát triển tiếp theo

1.2.3 Giáo dục huyện Chiêm Hoá từ năm 1954 đến năm 1975

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ , Hiệp định Giơnevơ được kí kết (21/7/1954) đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kì gian khổ của dân tộc ta Từ năm

Trang 27

1954, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng và đi lên CNXH, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân

Trong tình hình mới, sự nghiệp giáo dục vẫn luôn được Đảng, Nhà nước coi trọng Trong thư gửi Hội nghị Giáo dục toàn quốc (3/1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh

nêu rõ “ Trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người thầy là; Chăm lo dạy dỗ con

em của nhân dân thành người công dân tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà [61;tr 251] Nhân dịp năm học mới (31/1/1965) trong thư “ Gửi thầy giáo, học sinh, cán bộ, thanh niên và nhi đồng”, Hồ Chủ tịch một lần nữa nhắc nhở “ Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân nhằm mục đích đào tạo cán bộ và công dân tốt, những người chủ tương lai của nước nhà”

[61;tr 251] Người cũng chỉ rõ, muốn được như vậy thì: “Trước hết phải ra sức tẩy

sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại như thái độ thờ ơ với xã hội, xa với cuộc sống lao động và đấu tranh của nhân dân, học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ và cần xây dựng tư tưởng dạy và học để xây dựng Tổ quốc, phục vụ nhân dân Nhà trường phải gắn với thực tế của nước nhà, của nhân dân”

[61;tr 253]

Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí

Minh, ngành Giáo dục ra sức cố gắng khắc phục mọi khó khăn thử thách, cùng với các ban ngành, đưa nước ta tiến lên xây dựng CNXH Tháng 3/1956, Đại hội Giáo dục phổ thông toàn quốc đã họp bàn việc triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II Đại hội đã thông qua Đề án do Bộ Giáo dục khởi thảo nêu nhiệm vụ sáp nhập hai hệ thống giáo dục 9 năm (vùng tự do) và 12 năm (vùng mới giải phóng) Đó chính là cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai, cuộc cải cách đặt cơ sở cho việc thiết lập hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm theo tính chất nền giáo dục XHCN

Nội dung giáo dục mang tính chất toàn diện, gồm bốn mặt: đức, trí, thể, mỹ Phương châm giáo dục là lí luận liên hệ với thực tiễn, nhà trường gắn với đời sống

xã hội Hệ thống giáo dục phổ thông được xây dựng 10 năm bao gồm ba cấp học:

Trang 28

Nắm bắt tinh thần và yêu cầu mới , Đảng bộ Tuyên Quang chủ trương mở rộng phong trào Bình dân học vụ, thanh toán nạn mù chữ, đồng thời ra sức phát triển giáo dục phổ thông và bổ túc văn hóa

Thực hiện chủ trương của Đảng bộ Tuyên Quang , mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về nhiều mặt, nhưng ngành Giáo dục Chiêm Hóa vẫn đạt được những kết quả quan trọng Sáu tháng đầu năm 1955 mới có18 xã với 74 lớp Bình dân học vụ, đến cuối năm 1955, đã có 30 xã với 113 lớp sơ cấp, 29 lớp dự bị; số giảng viên sơ cấp là

112 người, dự bị là 29 người

Đến năm 1959, toàn huyện Chiêm Hóa đã có 18 trường cấp I, 1 trường cấp

II Việc quản lí, chỉ đạo công tác giáo dục vẫn do Ty Giáo dục Tuyên Quang phụ trách nên việc tổ chức quản lí trường lớp chưa đạt hiệu quả Để công tác quản lí, xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục của huyện được chủ động, Ty Giáo dục Tuyên Quang đã ra quyết định thành lập các Phòng Giáo dục ở các huyện trong toàn tỉnh Phòng Giáo dục chiêm Hóa được thành lập vào 9/1960 Cùng thời điểm này , các trường cấp I Phúc Sơn, Minh Quang, Yên Nguyên, Hòa Phú và T rường cấp III Chiêm Hóa cũng được thành lập

Sau khi thành lập cơ quan quản lí giáo dục của huyện , Huyện ủy Chiêm Hóa

đã ra nghị quyết về công tác giáo dục, trong đó nhấn mạnh đến việc tiếp tục mở các lớp Bình dân học vụ cho đồng bào các dân tộc thiểu số thuộc các xã còn lại ở vùng sâu, vùng xa

Cùng với quá trình cải tạo XHCN và phát triển kinh tế trong những năm 1958-1960, Đảng bộ huyện đã quan tâm hơn vấn đề phát triển văn hoá giáo dục, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao Những kết quả nổi bật trong thời kì này là: đã xoá xong nạn mù chữ cho 2.312 người, đạt tỉ lệ 142,3% so với chỉ tiêu, hoàn thành thanh toán nạn mù chữ ở 4 xã Hưng Đạo (95,63%), Xuân Quang (92,77%), Vinh Quang (90,93%), Phúc Thịnh (90,31%) Trường phổ thông cấp I tăng lên 90 lớp với 2.230 học sinh, đạt 123% so với chỉ tiêu Cấp II có 4 lớp với 124 học sinh, lớp vỡ lòng có 2,468 học sinh, đạt tỉ lệ 183,3% so với chỉ tiêu

Từ năm 1960 đến 1965, toàn huyện có 36 trường cấp I Năm học 1961 –

1962, cả huyện Chiêm Hoá mới chỉ có 3 trường cấp II (Hoà Phú, Minh Đức, Chiêm Hoá) với khoảng 700 học sinh Giáo dục phổ thông phát triển mạnh về số lượng, đặc biệt là học sinh người dân tộc thiểu số vùng cao ngày càng đông (năm học 1963 – 1964) chiếm 88% số lượng học sinh trong độ tuổi) Năm học 1963 – 1964, huyện

mở thêm 4 trường cấp II ở các xã Trung Hoà, Yên Lập, Phúc Thịnh, Tân Mỹ, nâng

Trang 29

số trường cấp II trong toàn huyện là 8 trường Tháng 12 năm 1961, huyện đã thành lập được Trường Thanh niên dân tộc nội trú, tạo điều kiện thuận lợi cho con em các dân tộc tiếp thu kiến thức văn hóa

Xuất phát từ tình hình thực tế của huyện miền núi , bên cạnh việc dạy học bằng chữ quốc ngữ, huyện còn chủ trương phát triển giáo dục bằng chữ Tày, Nùng Năm 1963, toàn huyện đã có 153 em ở các xã Yên Nguyên , Phúc Thịnh, Thổ Bình được học trong các lớp dạy chữ Tày , Nùng Phong trào Bình dân học vụ được duy trì đạt hiệu quả cao Năm 1963, huyện Chiêm Hóa được công nhận đã hoàn thành thanh toán nạn mù chữ và có phong trào bổ túc văn hóa khá

Sang năm 1964, thực hiện Nghị quyết số 09 của Ủy ban hành chính huyện Chiêm Hóa về văn hóa giáo dục, Đảng bộ các xã, Đoàn Thanh niên, dân quân quyết tâm phấn đấu vận động cán bộ, nhân dân tham gia tích cực hoàn thành chỉ tiêu các lớp bổ túc văn hóa Để có số liệu thống kê cụ thể nhằm đánh giá tình hình giữa năm

1964, Ủy ban hành chính huyện đã có chủ trương kiểm tra kiến thức đối với những người đã hoàn thành chương trình bổ túc văn hóa Chủ trương trên khi triển khai xuống cơ sở đã được nhân dân tích cực ủng hộ Các lớp học được tổ chức xuống từng thôn , xã, lớp nào có điều kiện thì học vào ban ngày , nếu không thì học vào buổi tối…Lực lượng huy động vào chiến dịch là giáo viên cấp I , cán bộ biết chữ và một số học sinh đã học xong chương trình tiểu học hoặc cao hơn

Từ cuối năm 1965, do chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ lan rộng trên khắp miền Bắc, Ủy ban hành chính huyện Chiêm Hóa ra Công văn số 76 (7/8/1965)

về “Công tác phòng không và sơ tán cho các trường cấp I, II, III”, yêu cầu các

trường thuộc trung tâm huyện và dọc tuyến đường thị xã Tuyên Quang - Chiêm Hóa

- Na Hang phải di chuyển đến những nơi an toàn

Trong hoàn cảnh phòng không sơ tán , được sự quan tâm của các cấp chính quyền, sự nghiệp văn hóa giáo dục vẫn tiếp tục phát triển So với năm học 1963 –

1964, số học sinh của cả ba cấp trong năm học 1965 - 1966 đều tăng 20%, lớp vỡ lòng tăng 10% Cùng với số lượng, chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên

Phong trào thi đua “Dạy tốt, Học tốt” do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động

được đẩy mạnh trong các trường học Nhiều điển hình tiên tiến xuất hiện ; nổi bật là Trường cấp I Yên Nguyên có thành tích về nâng cao chất lượng giảng dạy toàn diện, các ngành học phát triển khá đồng đều, được xếp vào loại khá của tỉnh Nhiều trường đạt tỉ lệ thi đỗ 100%, như Trường cấp I Vinh Quang và Vĩnh Lộc

Trang 30

Trong năm học 1970 – 1971, Trường cấp III Chiêm Hoá đã có 6 học sinh giỏi lớp 10 dự thi chung khảo môn Toán và Văn toàn miền Bắc Toàn huyện có 6

trường đạt danh hiệu Trường Tiên tiến và 2 trường được công nhận Tổ Lao động xã

hội chủ nghĩa

Đến năm học 1971 – 1972, Trường Phổ thông cấp I – II Yên Nguyên vinh dự

được công nhận là Tổ Lao động xã hội chủ nghĩa, 7 trường được công nhận là

Trường Tiên tiến, 9 giáo viên được công nhận là Chiến sĩ thi đua, gần 200 giáo viên

đạt danh hiệu Lao động tiên tiến

Đến những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước , ngành Giáo dục huyện Chiêm Hóa vẫn tiếp tục phát triển Tất cả các xã đều có trường cấp I , các hợp tác xã đều có lớp vỡ lòng Số lượng giáo viên cũng tăng nhiều lần so với thời kì trước Số lượng học sinh các cấp chiếm tỉ lệ 1/4 dân số toàn huyện Giáo dục đi vào chiều sâu chất lượng với phương châm “Dạy tốt – Học tốt” Huyện vinh dự được

Bộ Giáo dục chọn làm địa điểm tổ chức Hội nghị Giáo dục phổ thông cấp II của các tỉnh miền núi phía Bắc

Như vậy, trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước, dù còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém, nhưng ngành Giáo dục huyện Chiêm Hóa đã có những bước tiến mới

cả về số lượng và chất lượng, tạo đà phát triển mạnh hơn trong những năm tiếp theo

1.2.4 Giáo dục huyện Chiêm Hóa thời kì 1975 – 1991

Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đưa đất nước ta bước vào kỉ nguyên độc lập , thống nhất, đi lên CNXH Sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới đòi hỏi ngành Giáo dục phải chuyển biến mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng

Tháng 9/1975, Hội nghị 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV đã đề

ra nhiệm vụ của ngành Giáo dục trong tình hình mới “Miền Bắc có nhiệm vụ đẩy

mạnh phong trào thi đua “Hai Tốt”, nâng cao giáo dục toàn diện, tích cực ủng hộ cách mạng miền Nam Miền Nam cần nhanh chóng xóa bỏ tàn dư của nền giáo dục

cũ, xây dựng nền giáo dục mới, nâng cao giác ngộ chính trị cho giáo viên và học sinh, xây dựng tổ chức quản lí ngành”[43; tr 89] Tháng 12/1976, Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã vạch ra con đường đi lên CNXH trong phạm vi cả

nước và xác định “giáo dục là nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương

lai của một dân tộc, nó đặt những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam XHCN”[43; tr161]

Trang 31

Thực hiện Nghị quyết Đại hội IV của Đảng, ngày 11/1/ 1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 14 – NQ/TƯ về cải cách giáo dục lần thứ ba

Mục tiêu cơ bản của cuộc cải cách giáo dục lần này “coi giáo dục là một bộ phận

quan trọng của cách mạng tư tưởng văn hoá, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hoá, khoa học kĩ thuật”[43; tr 26]

Không khí hào hùng phấn khởi của dân tộc đã có nhiều tác động tích cực tới

sự nghiệp giáo dục của cả nước nói chung và của Chiêm Hóa nói riêng Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, Ủy ban hành chính huyện, ngành Giáo dục và Đào tạo Chiêm Hóa tiếp tục có những chuyển biến mới Cơ sở vật chất trong các trường học được tăng cường bằng nguồn ngân sách địa phương và nhân dân đóng góp Số lượng học sinh và giáo viên các trường đều tăng

Nếu năm học 1977 - 1978 chỉ mới có 18.524 học sinh, đến năm học 1979 –

1980, đã tăng lên 21.872 học sinh và 1.039 giáo viên Tất cả 29 xã, thị trấn đều có trường cấp I hoặc liên cấp I – II, huyện có 1 trường cấp III Các lớp học ngày càng được mở rộng, do nhu cầu học tập ngày càng tăng Một số trường đã tổ chức cho học sinh nội trú, như Trường tiểu học Vĩnh Lộc, Yên Nguyên, Ngọc Hội… Hình thức này tỏ ra thích hợp lúc bấy giờ vì có tác dụng duy trì được số lượng và nâng

cao chất lượng học sinh, giảm được số giáo viên đứng lớp Phong trào thi đua “Dạy

tốt, Học tốt” được duy trì thường xuyên , góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

trong các nhà trường Dẫn đầu ngành Giáo dục của huyện là 2 trường Phổ thông cấp

II Xuân Quang và Tân An Đây là 2 đơn vị nhiều năm liền được công nhận là đơn vị

Lao động xã hội chủ nghĩa Năm 1979, Trường cấp II Xuân Quang đã được Nhà

nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba

Đến cuối những năm 70 đầu những năm 80 thế kỉ XX , tình hình phức tạp ở biên giới phía Bắc cùng với những khó khăn về kinh tế , xã hội của đất nước đã tác động trực tiếp tới nền giáo dục của nước ta, dẫn tới sự xuống cấp của hệ thống nhà trưòng Ở huyện Chiêm Hóa , quy mô giáo dục giảm sút, số học sinh đến trường chững lại hoặc giảm đi Tỉ lệ học sinh lưu ban và bỏ học nhiều , chất lượng giáo dục cũng giảm sút rõ rệt Đời sống của giáo viên hết sức khó khăn thiếu thốn , cơ sở vật chất trường lớp xuống cấp Hiện tượng học sinh lưu ban, bỏ học ở cấp II là cao nhất Tỉ lệ lưu ban năm học 1979 – 1980 là 6,4%, năm học 1980 – 1981: 6,8%, năm học 1983 – 1984: 6,42%, năm học 1984 – 1985: 5,79% Tỉ lệ bỏ học tương ứng các năm học trên là 15%, 16%, 17%, 14% Tình trạng trên tiếp tục kéo dài cho đến cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỉ XX

Trang 32

Tiểu kết

Chiêm Hóa là một huyện vùng cao , mang đậm nét đặc thù của vùng núi phía Bắc Việt Nam với 22 thành phần dân tộc cùng sinh sống , điều kiện kinh tế, xã hội gặp nhiều khó khăn, dân cư phân bố không đều…Đó chính là những yếu tố hạn chế

sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và ngành Giáo dục nói riêng

Trước Cách mạng tháng Tám 1945, nền giáo dục thực dân phản động đã gây

ra những hậu quả nặng nề trên lĩnh vực văn hóa xã hội Với sự thành công của Cách mạng tháng Tám, dưới chế độ dân chủ cộng hòa, ngành Giáo dục huyện Chiêm Hóa cũng sang một thời kì mới

Trải qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đến khi đất nước thống nhất,

sự nghiệp giáo dục của Chiêm Hóa đã trải qua nhiều biến động thăng trầm, có lúc ngưng trệ, nhưng vẫn được duy trì và phát triển

Giáo dục huyện Chiêm Hóa trước năm 1991 về cơ bản là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục THCS nói riêng trong thời gian tiếp theo

Trang 33

Chương 2 GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN CHIÊM HÓA

TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000 2.1 Chủ trương đổi mới giáo dục của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ Huyện Chiêm Hóa trong thời kì mới

Sau 2 kế hoạch 5 năm (1976 – 1980 và 1981 – 1985), nhân dân ta đã thu được nhiều thàn h tựu to lớn trên mọi lĩnh vực Tuy nhiên , tình hình kinh tế – xã hội ngày càng gặp nhiều khó khăn , đặc biệt từ sau cuộc Tổng điều chỉnh giá – lương – tiền cuối năm 1985, đất nước ta rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng và kéo dài Nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng để phát triển đi lên , Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (!2/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước Chủ trương đổi m ới giáo dục được nêu trong N ghị quyết Đại hội Đ ảng VI:

“ Giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội

chủ nghĩa của thế hệ trẻ , đào tạo đội ngũ lao động có kĩ thuật , đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của x ã hội Sự nghiệp giáo dục , nhất là giáo dục đại học và chuyên nghiệp , trực tiếp góp phần vào việc đổi mới công tác quản lí kinh tế và xã hội” [44; tr 772]

Tháng 6/1991, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu; thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế, xã hội đến năm 2000 Tiếp tục chủ trương đổi mới giáo dục từ Đại hội VI, Đại hội VII đã đề ra quan điểm phát triển giáo dục đào tạo như

sau: “ Mục tiêu giáo dục đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi

dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri tức và có tay nghề, có đạo dức cách mạng, có tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Nhà trường đào tạo thế

hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực cách mạng sâu, có ý thức và khả nâng làm việc trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần” [45; tr 112]

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá đ ộ lên chủ nghĩa xã hội nêu

rõ: Cùng với khoa học và công nghệ , giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu; phát triển giáo dục và đào tạo gắn liền với sự nghiệp phát triển kinh

Trang 34

tế, phát triển khoa học , kĩ thuật, xây dụng nền văn hóa mới và con người mới ; thực hiện phổ cập giáo dục, phát triển năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài

Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế, xã hội đến năm 2000 đã xác định:

“Chính sách giáo dục và đào tạo hướng vào bồi dưỡng nguồn nhân lực, nâng

cao dân trí, đào tạo nhân tài; xây dưng đội ngũ tri thức, nhà kinh doanh, người quản lí, chuyên gia công nghệ và công nhân lành nghề đảm đương nhiệm vụ trước mắt và chuẩn bị tốt cho đất nước và thế hệ trẻ Việt Nam bước vào thế kỉ XXI Đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo theo hướng nâng cao chất lượng và đạt hiệu quả thiết thực, mở rộng quy mô phù hợp vói các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế,

- Đánh giá cải cách giáo dục phổ thông trong thời gian qua để có chủ trương phù hợp với định hướng chiến lược Tập trung sức phổ cập giáo dục cấp I; bảo đảm cho trẻ em đến tuổi đều đi học; đại bộ phận thanh niên có học vấn từ cấp II trở lên; chống mù chữ và mù chữ lại; củng cố và nâng cao chất lượng giáo dục mầm non; đẩy mạnh bổ túc văn hoá;

- Khai thác mọi tiềm năng của toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục và đào tạo

- Bằng vốn ngân sách và các nguồn khác, tăng kinh phí cho giáo dục và đào tạo Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ giáo viên; củng cố các trường sư phạm, tôn vinh nghề dạy học và các giáo viên dạy giỏi, mẫu mực Xây dựng và tu bổ trường sở, bảo đảm chất lượng và số lượng sách giáo khoa, tăng thêm phương tiện dạy và học, từng bước đưa kiến thức tin học vào nhà trường, kể cả trường phổ thông

Trang 35

- Có chính sách đặc biệt để phát triển giáo dục và đào tạo ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số; mở rộng và nâng cao chất lượng các trường, lớp nội trú; coi trọng

việc đào tạo cán bộ và trí thức người dân tộc

Hiến pháp của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), tại chương

III, Điều 35 ghi rõ: “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhà nước phát triển

giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất đạo đức và năng lực công dân; đào tạo những người lao động có tay nghề, năng động và sáng tạo,

có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Trong những năm cuối của thế kỉ XX, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quan trọng về giáo dục - đào tạo Những văn bản này không những xác định chính sách mang tính chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo nhằm phục vụ sự phát triển của đất nước, mà còn có những văn bản quy phạm pháp luật nhằm quản lí

và điều chỉnh mọi hoạt động giáo dục - đào tạo trong phạm vi toàn xã hội

Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII họp từ ngày 4

đến ngày 14/1/1993, đã thảo luận và ra về “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục đào

tạo” Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng

về giáo dục – đào tạo, trên cơ sở đánh giá thực trạng giáo dục và đào tạo hiện tại, chỉ ra nguyên nhân chủ yếu của thực trạng yếu kém và giảm sút Nghị quyết đưa ra

quan điểm chỉ đạo để tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo:“Cùng với

khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu; phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài,

mở rộng quy mô đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, học

đi đôi với hành; giáo dục phải gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước, phù hợp xu thế tiến bộ của thời đại; đa dạng hoá các hình thức đào tạo, thực hiện công bằng trong giáo dục” [26; tr178]

Với quan điểm chỉ đạo trên, Nghị quyết cũng đưa ra một số chủ trương, chính sách và biện pháp lớn để phát triển giáo dục và đào tạo:

- Tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu mới của hệ thống giáo dục quốc dân

Trang 36

- Sắp xếp lại hệ thống các trường, từng bước hình thành các trường lớp trọng điểm có chất lượng cao, đổi mới giáo dục bổ túc và đào tạo bồi dưỡng tại chức

- Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, đẩy mạnh giáo dục phổ cập cấp II, nhất là ở các đô thị

- Hình thành bậc trung học mới , giáo dục kĩ năng lao động theo hướng liên kết giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp

- Mở rộng hệ thống giáo dục dạy nghề , từng bước hình thành nền giáo dục kĩ thuật trong xã hội

- Mở rộng hợp lí quy mô đào t ạo đại học Phát triển hệ cao học, đẩy mạnh đào tạo nghiên cứu sinh

- Xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp giáo dục và đào tạo cụ thể của từng bậc học, cấp học, ngành học

- Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo

- Củng cố và phát triển ngành Giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số và những vùng khó khăn

Sau 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới và đạt được những thành tựu quan trọng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi, phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững Để thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương quyết định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến nǎm 2000 Nghị quyết xá c định: Giáo dục đào tạo là

sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Phát triển giáo dục đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học kĩ thuật và củng

cố quốc phòng an ninh Coi trọng cả ba mặt: Mở rộng quy mô, nâng cao cao chất lượng, phát huy hiệu quả; thực hiện công bằng trong giáo dục đào tạo, tạo điều kiện

để ai cũng được học hành

Trang 37

Nghị quyết nêu rõ mục tiêu phát triển giáo dục – đào tạo đến năm 2000:

“ chủ yếu là thực hiện giáo dục toàn diện: Đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học Hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư trưởng nhân cách, khả năng

tư duy sáng tạo và năng lực thực hành” [30; tr 33] Nghị quyết Trung Ương 2 cũng

đã đề ra những giải pháp chủ yếu để thực hiện mục tiêu giáo dục – đào tạo bao gồm: Giải pháp tăng cường các nguồn lực cho giáo dục đào tạo (Ngân sách Nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho giáo dục - đào tạo); xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy và học; tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục – đào tạo và tăng cường cơ sở vật chất cho các trường học; đổi mới công tác quản lí giáo dục

Tùy theo đặc điểm và hoàn cảnh, mỗi nước trên thế giới có những quan điểm

và mô hình giáo dục khác Tuy nhiên, hệ thống giáo dục của từng nước lại có những điểm tương tự nhau, như: Giáo dục mầm non, Giáo dục phổ thông, Giáo dục dạy nghề và đại học

Giáo dục mầm non là giáo dục dành cho trẻ từ lọt lòng đến 5 tuổi, đây là cấp

mở đầu cho quá trình phát triển của mỗi con người với nhiệm vụ chủ mang tính chất dẫn dắt giúp trẻ có những kiến thức ban đầu để có thể làm quen, thích nghi dần với cuộc sống và bước phát triển tiếp theo

Giáo dục phổ thông dành cho trẻ từ 6 đến 18 tuổi Cấp học này cung cấp những kiến thức phổ thông cơ bản ban đầu giúp cho trẻ có thể tiếp tục học nghề hoặc học lên và cũng có thể và cũng có thể đi vào cuộc sống tự nuôi sống mình, hoặc cống hiến cho xã hội

Giáo dục dạy nghề và đại học là giáo dục chuyên sâu và nâng cao tiếp tục vũ trang cho người học những kiến thức, kĩ năng chuyên biệt giúp người học trưởng thành một cách toàn diện

Như vậy, có thể nói các cấp học trong hệ thống giáo dục là một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên một dòng chảy liên tục, có chủ đích cho quá trình phát triển của mỗi con người Trong hệ thống này, giáo dục phổ thông giữ một vị trí quan trọng, là chiếc cầu nối cơ bản, là cấp học mang tính nền tảng của cả hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia Chất lượng của giáo dục phổ thông do vậy trước tiên ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng giáo dục dạy nghề và đại

Trang 38

học, sâu xa hơn nó còn là nguồn gốc góp phần quan trọng quyết định chất lượng nguồn lao động cho xã hội

Nhận thức rõ vị trí quan trọng của giáo dục phổ thông , ngay từ khi mới giành chính quyền, dưới sự lãnh đạo của Đảng , Nhà nước ta đã hình thành một hệ thống giáo dục hoàn chỉnh và toàn diện Giáo dục phổ thông nước ta đã trải qua nhiều thờ i

kì cải cách và tổ chức dạy học theo các mô hình chủ yếu như hệ giáo dục 9 năm trong kháng chiến chống Pháp , hệ giáo dục 10 năm trong kháng chiến chống Mĩ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và hệ giáo dục 12 năm từ khi nư ớc nhà thống nhất đến nay

Nghị định 90-CP ngày 24/11/1993 của Chính Phủ trong Điều 1 nêu rõ “ Cơ

cấu khung của hệ thống giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm:

Giáo dục mầm non: nhà trẻ, mẫu giáo;

Giáo dục Phổ thông: tiểu học, trung học cơ sở, trung học chuyên ban;

Giáo dục chuyên nghiệp: trung học chuyên nghiệp, trung học nghề, đào tạo nghề;

Giáo dục Đại học: cao đẳng, đại học, sau đại học;

Giáo dục thường xuyên”

Luật Giáo dục hiện hành cũng nêu rõ: Giáo dục Phổ thông bao gồm:

Giáo dục Tiểu học được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp 1 đến lớp 5 Tuổi của học sinh vào học lớp 1 là 6 tuổi;

Giáo dục Trung học cơ sở được thực hiện tronmg 4 năm học, từ lớp 6 đến lớp

9 Học sinh vào lớp 6 phải hoàn thành chương trình Tiểu học, có độ tuổi là 11

Giáo dục Trung học Phổ thông được thực hiện trong 3 năm học, từ lớp 10 đến lớp 12 Học sinh vào học lướp 10 phải có bằng tốt nghiệp THCS, có độ tuổi là

15

Mục tiêu chung của giáo dục Phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện

vầ đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 39

Trong hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục THCS giữ vai trò quan trọng:

“Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo

dục Tiểu học, có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về

kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [44; tr 56]

Tiếp tục chủ trương đổi mới giáo dục của Đảng , Hội nghị Trung ương 4 khóa VII ra Nghị quyết về giáo dục - đào tạo đã xác định những quan điểm cơ bản chỉ đạo tiếp tục đổi mới lĩnh vực giáo dục và đào tạo , trong đó có một số nội dung đáng chú ý như:

- Phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển , tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội

- Mở rộng quy mô để đáp ứng nhu cầu , đồng thời chú trọng nâng cao chấ t lượng , hiệu quả giáo dục, gắn học với hành, tài với đức

- Giáo dục vừa phải gắn chặt với yêu cầu phát triển của đất nước , vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại Thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người Xác định học tập suốt đời , học tập là quyền và trách nhiệm của mỗi công dân

- Đa dạng hóa các loại hình đào tạo Huy động toàn xã hội làm giáo dục , động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dụng nền giáo dục quốc dâ n dưới sự quản lí của Nhà nước Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục : người đi học phải đóng góp học phí , người sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo; Nhà nước có chính sách bảo đảm cho ngườ i nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học

Quán triệt chủ trương đổi mới về giáo dục - đào tạo của Đại hội Đảng toàn quốc lần VII và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ X I (1991) đã đề ra mục tiêu , phương hướng , nhiệm vụ dến năm 1995 Về giáo dục - đào tạo, Đảng bộ tỉnh đã quán triệt quan điểm coi giáo dục

- đào tạo là quốc sách hàng đầu , là điều kiện cơ bản , là động lực thú c đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trang 40

Thực hiện phát triển giáo dục và đào tạo , nâng cao dân trí của nhân dân địa phương, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI đã đề ra các mục tiêu : Phấn đấu đến năm

1995 hoàn thành mục t iêu PCGDTH-XMC Huy động từ 85% trẻ em từ 6 đến 14 tuổi đến trường, khoảng 10% lao động trong độ tuổi được dạy nghề…

Để thực hiện những mục tiêu đã đề ra , Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã đề ra các giải pháp như : tăng cường sự lãnh đạo , chỉ đạo của các ban , ngành và địa phương, tăng cường đội ngũ giáo viên , thực hiện xã hội hóa giáo dục đào tạo , huy động các nguồn lực để đầu tư cho giáo dục…

Hội Nghị l ần thứ 5 BCH Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (khóa XII) đã ra Nghị quyết nêu rõ mục tiêu , nhiệm vụ và các giải pháp thực hiện Nghị quyết Hội Nghị

lần thứ 2 BCHTW Đảng (khóa VIII): “Mục tiêu cơ bản của giáo dục – đào tạo tỉnh

ta là: Xây dựng con người mới , phát triển toàn diện , trung thành với lý tưởng của Đảng, với CNXH , gắn bó với quê hương Tuyên Quang Có ý thức làm chủ , xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ; có tư duy sáng tạo và kỹ năng lao động giỏi , có sức khỏe tốt, có khả nă ng tiếp thu những tri thức mới , công nghệ hiện đại ; biết giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hóa dân tộc và tiềm năng sẵn có của địa phương nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển CNH ,HĐH của tỉnh Phát triển giáo dục đà o tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế , xã hội của tỉnh Thực hiện công bằng trong giáo dục đào tạo , tạo diều kiện để mọi người đều được học tập Nâng cao trình độ dân trí, thực hiện PCGDTHCS ở những nơi có điều kiện” [66;tr 54]

Nghị quyết nêu rõ các nhiệm vụ : Phát triển mạnh giáo dục mầm non , đặc biệt

là các lớp mầm non dân lập , dân cử, dân nuôi ở các thôn , bản, khu dân cư; củng cố vững chắc và nâng cao kết quả PCGDTH-XMC; đẩy mạnh PC GDTHCS; khuyến khích mở rộng các loại hình trường, lớp bán trú, củng cố và nâng cao chất lượng các trường nội trú ; chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ; đẩy mạnh việc đào tạo đội ngũ cán bộ ; tăng cường công tác quản lí giáo dục đào tạo ; tăng cường các nguồn lực, chăm lo xây dựng cơ sở vật chất trường học

Chiêm Hóa, một huyện miền núi của tỉnh Tuyên Quang, khi bước vào thời kì Đổi mới còn gặp nhiều khó khăn, thử thách về kinh tế, xã hội Địa bàn huyện khá rộng, địa hình đồi núi với 7 xã vùng sâu, 11 xã vùng cao Nơi đây có 22 thành phần dân tộc cùng sinh sống, đa số là dân tộc ít người, có nhiều hủ tục, trong đó có tập

Ngày đăng: 17/09/2014, 18:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (2000), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang 1940 - 1975, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang 1940 - 1975
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
2. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (2008), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang1975 - 2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang1975 - 2000
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
3. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Chiêm Hóa (2008), Lịch sử Đảng bộ huyện Chiêm Hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lịch sử Đảng bộ huyện Chiêm Hóa
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Chiêm Hóa
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
4. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Chiêm Hóa (1996), Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Chiêm Hóa lần XVI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ "huyện Chiêm Hóa lần XVI
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Chiêm Hóa
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
5. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Chiêm Hóa (2001), Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Chiêm Hóa lần XVII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn kiện Đại hội Đảng bộ "huyện Chiêm Hóa lần XVII
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Chiêm Hóa
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
6. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Chiêm Hóa (2005), Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Chiêm Hóa lần XVIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Chiêm Hóa lần XVIII
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Chiêm Hóa
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
7. Ban Khoa giáo Trung ƣơng (2002), Giáo dục và đào tạo trong thời kì đổi mới , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và đào tạo trong thời kì đổi mới
Tác giả: Ban Khoa giáo Trung ƣơng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
8. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2002), Vấn đề dân tộc và chí nh sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân tộc và chí nh sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
15. Ban Chỉ đạo PCGDTHCS huyện Chiêm Hóa (2004): Báo cáo kết quả phổ cập Giáo dục Trung học cơ sở năm 2004 của huyện Chiêm Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả phổ cập Giáo dục Trung học cơ sở năm 2004 của huyện Chiêm Hóa
Tác giả: Ban Chỉ đạo PCGDTHCS huyện Chiêm Hóa
Năm: 2004
22. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1997), Tổng kết và đánh giá 10 năm đổi mới giáo dục – đào tạo(1986 – 1996), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết và đánh giá 10 năm đổi mới giáo dục – đào tạo(1986 – 1996)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
23. Nguyễn Thanh Bình (2008), Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới , Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2008
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng toàn tập , tập 47, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập , tập 51, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Hội Nghị TW 4 (khóa VII), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội Nghị TW 4 (khóa VII), Nxb Sự
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự "thật
Năm: 1996
31. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết Hội Nghị TW 2 (khóa IX), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội Nghị TW 2 (khóa IX), Nxb Sự
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự "thật
Năm: 2002
32. Phạm Văn Đồng (1990), Vấn đề về văn hóa giáo dục, Nxb Sƣ̣ thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề về văn hóa giáo dục
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Sƣ̣ thật
Năm: 1990
33. Phạm Văn Đồng (1990), Vấn đề về giáo dục đào tạo , Nxb Chính trị q uốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề về giáo dục đào tạo
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trị q uốc gia
Năm: 1990
34. Phạm Minh Hạc (1990), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1990
35. Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển giáo dục con người phụ c vụ phát triển kinh tế xã hội, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục con người phụ c vụ phát triển kinh tế xã hội
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
36. Nguyễn Minh Hiền (2008) Lịch sử Giáo dục Việt Nam , NNxb Đại học S ƣ phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Giáo dục Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học S ƣ phạm Hà Nội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các thành phần dân tộc ở Chiêm Hoá (Số liệu năm 2008) - giáo dục trung học cơ sở huyện chiêm hóa tỉnh tuyên quang từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng 1.1 Các thành phần dân tộc ở Chiêm Hoá (Số liệu năm 2008) (Trang 13)
Bảng 2.1: Số lớp và số học sinh THCS huyện Chiêm Hóa qua các năm học. - giáo dục trung học cơ sở huyện chiêm hóa tỉnh tuyên quang từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng 2.1 Số lớp và số học sinh THCS huyện Chiêm Hóa qua các năm học (Trang 44)
Bảng 2.2: Xếp loại hạnh kiểm và văn hóa qua các năm học. - giáo dục trung học cơ sở huyện chiêm hóa tỉnh tuyên quang từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng 2.2 Xếp loại hạnh kiểm và văn hóa qua các năm học (Trang 46)
Bảng 3.2: Chất lượng học sinh THCS qua các năm học từ 2001 – 2010  Năm học  Tỉ lệ xếp loại - giáo dục trung học cơ sở huyện chiêm hóa tỉnh tuyên quang từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng 3.2 Chất lượng học sinh THCS qua các năm học từ 2001 – 2010 Năm học Tỉ lệ xếp loại (Trang 76)
Bảng 3.3: Kết quả thƣ̣c hiện công tác xã hội hóa giáo dục qua các năm học - giáo dục trung học cơ sở huyện chiêm hóa tỉnh tuyên quang từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng 3.3 Kết quả thƣ̣c hiện công tác xã hội hóa giáo dục qua các năm học (Trang 83)
Bảng 3.4: Tổng hợp phân luồng học sinh sau tốt nghiệp  năm 2009 - giáo dục trung học cơ sở huyện chiêm hóa tỉnh tuyên quang từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng 3.4 Tổng hợp phân luồng học sinh sau tốt nghiệp năm 2009 (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w