ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM DƯƠNG CẢNH TIỆP BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ, HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TU
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DƯƠNG CẢNH TIỆP
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ, HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DƯƠNG CẢNH TIỆP
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ, HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã ngành: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: TS TRỊNH NGỌC THẠCH
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực chưa hề được sử dụng và công bố ở bất kỳ một công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015
Tác giả
Dương Cảnh Tiệp
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Tâm lý Giáo dục, khoa Sau đại học, các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, đã nhiệt tình giảng dạy tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành khóa học tại trường
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trịnh Ngọc Thạch
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình hình thành và hoàn chỉnh luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Sở GD&ĐT Tuyên Quang, phòng GD&ĐT huyện Chiêm Hóa, Ban giám hiệu và các đồng chí giáo viên dạy Toán ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
đã quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập
và nghiên cứu để luận văn được hoàn thành
Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu làm luận văn
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015
Tác giả
Dương Cảnh Tiệp
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.2 Một số khái niệm cơ bản 7
1.2.1 Năng lực 7
1.2.2 Tiếp cận năng lực 10
1.3 Hoạt động dạy học môn toán ở trường THCS theo tiếp cận năng lực 11
1.3.1 Vị trí, vai trò môn Toán trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng 11
1.3.2 Mục tiêu của môn Toán trong nhà trường phổ thông và mục tiêu cụ thể đối với cấp THCS 12
1.3.3 Cấu trúc nội dung, phân phối chương trình môn Toán cấp THCS 13
Trang 61.3.4 Hoạt động dạy học môn Toán cấp THCS theo tiếp cận năng lực 15
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THCS theo tiếp cận năng lực 20
1.4.1 Mục tiêu và nội dung chương trình môn Toán THCS 20
1.4.2 Cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên Toán ở trường THCS 21
1.4.3 Đối tượng tuyển sinh 21
1.4.4 Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học Toán 22
1.4.5 Môi trường quản lý hoạt động dạy học môn Toán 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ, HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG TỪ GÓC ĐỘ TIẾP CẬN NĂNG LỰC 25
2.1 Thực trạng hoạt động dạy học môn Toán ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang từ góc độ tiếp cận năng lực 25
2.1.1 Thực trạng hoạt động giảng dạy của giáo viên 26
2.2.2 Thực trạng về hoạt động học tập của học sinh 33
2.2 Thực trạng quản lý hoạt động dạy và học môn Toán ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang từ góc độ tiếp cận năng lực 36
2.2.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý về việc quản lý hiệu quả hoạt động dạy học 36
2.2.2 Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên 37
2.2.3 Thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh 47
2.2.4 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất và phương tiện dạy học Toán 50
2.3 Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang từ góc độ tiếp cận năng lực 52
Trang 72.3.1 Ưu điểm 52
2.3.2 Tồn tại 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 54
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ, HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 55
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 55
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 55
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 55
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 56
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi và hiệu quả 56
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang theo tiếp cận năng lực 57
3.2.1 Biện pháp 1: Tăng cường quản lý việc thực hiện nội dung chương trình môn Toán đáp ứng mục tiêu môn học nói riêng và mục tiêu cấp học nói chung 57
3.2.2 Biện pháp 2: Thường xuyên chỉ đạo việc nâng cao năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên môn Toán 59
3.2.3 Biện pháp 3: Thường xuyên chỉ đạo việc bồi dưỡng động cơ thái độ học tập, các kỹ năng học tập, phương pháp tự học cho học sinh 61
3.2.4 Biện pháp 4: Đổi mới quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên và kết quả học tập của học sinh 65
3.2.5 Biện pháp 5: Quản lý sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và tăng cường ứng dụng phương tiện dạy học hiện đại vào dạy học môn Toán 69
3.2.6 Biện pháp 6: Chú trọng xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động giáo dục của nhà trường nói chung và hoạt động dạy học bộ môn Toán nói riêng 71
Trang 83.3 Mối quan hệ của các biện pháp 72
3.4 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 73
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 73
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 73
3.4.3 Nội dung và kết quả khảo nghiệm 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Khuyến nghị 79
2.1 Đối với UBND tỉnh Tuyên Quang, Sở GD&ĐT Tuyên Quang 79
2.2 Đối với UBND huyện Chiêm Hóa, Phòng GD&ĐT Chiêm Hóa 79
2.3 Đối với cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên bộ môn Toán ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBQL : Cán bộ quản lý
CNTT : Công nghệ thông tin
CSVC : Cơ sở vật chất
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
HĐNGLL : Hoạt động ngoài giờ lên lớp
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1 Chương trình Toán THCS 14 Bảng 2.1: Số liệu giáo viên dạy môn Toán và trình độ đào tạo 25 Bảng 2.2: Cơ cấu theo độ tuổi và thâm niên giảng dạy của đội ngũ giáo
viên Toán ở các trường PTDTBT THCS năm học 2013 - 2014 26 Bảng 2.3: Kết quả khảo sát thực trạng về TĐCM, NVSP của giáo viên
đáp ứng yêu cầu hiện nay của hoạt động giảng dạy môn Toán 27 Bảng 2.4: Kết quả khảo sát thực trạng về mức độ giáo viên thực hiện các
nội dung hoạt động dạy học 28 Bảng 2.5: Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng PPDH và PTDH Toán
trong hoạt động giảng dạy của giáo viên 32 Bảng 2.6: Kết quả khảo sát thực trạng về mức độ học sinh thực hiện các
nội dung hoạt động học tập 35 Bảng 2.7: Kết quả khảo sát thực trạng quản lý phân công giảng dạy cho
giáo viên 37 Bảng 2.8: Kết quả khảo sát thực trạng quản lý việc thực hiện nội dung
chương trình môn Toán THCS 39 Bảng 2.9: Kết quả khảo sát thực trạng quản lý việc chuẩn bị lên lớp của
giáo viên 40 Bảng 2.10: Kết quả khảo sát thực trạng quản lý việc lên lớp của giáo
viên 42 Bảng 2.11: Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dự giờ và
kiểm tra chuyên môn 43 Bảng 2.12: Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập của học sinh 44 Bảng 2.13: Kết quả khảo sát thực trạng thực hiện quy định về hồ sơ
chuyên môn của giáo viên 46
Trang 11Bảng 2.14: Kết quả khảo sát thực trạng thực quản lý công tác bồi dƣỡng
giáo viên 47
Bảng 2.15: Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh 48
Bảng 2.16: Kết quả khảo sát thực trạng quản lý CSVC và PTDH Toán 50
Bảng 3.1: Kết quả ý kiến đánh giá về tính cần thiết của các biện pháp 74
Bảng 3.2: Kết quả ý kiến đánh giá tính khả thi của các biện pháp 75
Biểu đồ 3.1 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 88
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, chiến lược phát triển nhanh, bền vững nhất đối với mỗi Quốc gia đó là phát triển giáo dục và đào tạo (GD&ĐT), tạo tiền đề quan trọng cho việc phát triển nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay với tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh, mạnh, có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn trên cả nước, trên tất cả các lĩnh vực Đảng và Nhà nước ta hết
sức chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo, coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Giáo dục và đào tạo
cùng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu” Phát triển giáo dục là nền tảng,
nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban bí thư Trung ương
Đảng cộng sản Việt Nam nêu rõ: “mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về
cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.[1]
Mặc dù đã đạt được các thành tựu trên hệ thống Giáo dục và Đào tạo nước ta vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc khóa VIII đã
khẳng định: “Giáo dục nước ta vẫn còn nhiều yếu kém bất cập cả về quy mô lẫn cơ
cấu và nhất là chất lượng ít hiệu quả, chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao về nhân lực và công cuộc đổi mới kinh tế, xã hội, xây dựng bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Để giải
quyết mâu thuẫn trên đòi hỏi chúng ta phải thay đổi quan niệm, nhận thức về giáo dục, phải hướng tới chất lượng giáo dục, điều đó đồng nghĩa với việc phải chú trọng nâng cao có hiệu quả hoạt động dạy học trong các nhà trường
Trong thời gian gần đây, các nhà khoa học và nhà quản lý đang trao đổi rất nhiều xung quanh vấn đề tìm hướng tiếp cận mới trong việc xây dựng, đổi mới chương trình giáo dục Quốc hội đã ban hành nghị quyết về đổi mới chương trình
Trang 13giáo dục phổ thông, trong đó nhấn mạnh việc đổi mới chương trình giáo dục theo hướng tập trung nhiều hơn vào bồi dưỡng năng lực, hạn chế trang bị kiến thức hàn lâm Tiếp cận năng lực trong Giáo dục và Đào tạo là hướng tiếp cận được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm bởi hệ thống lý luận về Giáo dục và Đào tạo theo tiếp cận năng lực và thực tiễn giáo dục của nhiều Quốc gia trên thế giới đã khẳng định đây
là hướng tiếp cận có thể đảm bảo đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Giáo dục trung học cơ sở (THCS) là một trong những cấp học của giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục của nước ta, cấp THCS là cấp học cơ bản, là giai đoạn trung gian giữa Tiểu học và trung học phổ thông (THPT) Ở giai đoạn này, học sinh được cung cấp kiến thức cơ bản nhất, giáo dục và hình thành nhân cách, gắn với tâm sinh lý của lứa tuổi này cũng nhiều biến động Như vậy, hoạt động dạy học ở các trường THCS là vô cùng quan trọng, là cơ sở cho các cấp học, bậc học cao hơn
Những năm gần đây sự nghiệp giáo dục và đào tạo của huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang nói chung và các trường phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT) THCS nói riêng đã có nhiều thay đổi mạnh mẽ, cơ bản và sâu sắc Bên cạnh những thành tựu cũng còn không ít những hạn chế, yếu kém nhiều mặt, trong đó nguyên nhân cơ bản
là những hạn chế về quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng, không theo kịp thực tiễn phát triển giáo dục của đất nước
Môn Toán là môn học quan trọng ở trường THCS, môn học có số tiết nhiều nhất trong tuần Công tác quản lý chất lượng dạy học nói chung, quản lý chất lượng dạy học môn Toán ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế Vì thế, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề quản lý chất lượng dạy học môn Toán nhằm tìm ra các biện pháp quản lý chất lượng dạy học bộ môn này là vấn đề cấp thiết
Từ lý luận và thực tiễn cho thấy việc quản lý hoạt động dạy và học môn Toán của các trường THCS trên địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang nói chung và ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS nói riêng là rất cần thiết Xuất phát từ những lý
do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn
Toán ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang theo tiếp cận năng lực” nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục
trung học cơ sở nói riêng, giáo dục phổ thông tỉnh Tuyên Quang nói chung
Trang 142 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học bộ môn Toán ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang theo tiếp cận năng lực
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THCS 3.2 Đối tượng nghiên cứu: biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở
các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
theo tiếp cận năng lực
4 Giả thuyết khoa học
Chất lượng dạy học môn Toán của giáo viên và học sinh các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang hiện nay chưa đồng đều, còn nhiều bất cập Nếu xây dựng và áp dụng các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực một cách sáng tạo, khoa học đồng bộ, khả thi và hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở các trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc dạy học, quản lý hoạt động dạy học
môn Toán cấp THCS theo tiếp cận năng lực
5.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang từ góc độ tiếp cận năng lực
5.3 Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã tìm hiểu đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang theo tiếp cận năng lực
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài 03 trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
Thời gian lấy số liệu nghiên cứu: trong ba năm học 2011-2012; 2012-2013 và 2013-2014
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu tài liệu, các văn bản Nhà nước, Nghị quyết của Đảng về quản lý Giáo dục và quản lý dạy học ở trường phổ thông
Trang 15- Tham khảo một số công trình nghiên cứu, các sách báo có liên quan đến đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: gồm phiếu dành cho cán bộ quản
lý; dành cho giáo viên; dành cho học sinh nhằm thu thập thông tin về thực trạng quản
lý dạy học môn Toán ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang từ góc độ tiếp cận năng lực
7.2.2 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: tham khảo các bản báo cáo
tổng kết năm học, kế hoạch năm học của các trường, ngành và một số báo cáo hội thảo
về công tác chuyên môn nhằm tổng kết các kinh nghiệm quản lý dạy học bộ môn Toán
7.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: gặp gỡ, trực tiếp trao đổi, tọa đàm
hoặc thảo luận qua email với những chuyên gia, các nhà quản lý giáo dục ở các cấp
trong tỉnh và ngoài tỉnh Tuyên Quang
7.2.4 Phương pháp khảo nghiệm: về tính cần thiết, khả thi của các biện pháp
được đưa ra trong luận văn
7.3 Phương pháp nghiên cứu hỗ trợ
7.3.1 Phương pháp xử lý số liệu thống kê
7.3.2 Phương pháp so sánh để xử lý các kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Toán cấp Trung
học cơ sở theo tiếp cận năng lực
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở các trường phổ
thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang từ góc độ tiếp cận năng lực
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở các trường
phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang theo tiếp cận năng lực
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN
CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quản lý là một hoạt động mang tính lịch sử xã hội, nhờ có hoạt động quản lý
mà xã hội loài người không ngừng vận động và phát triển Theo Mác-Ănghen trong quá trình nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã rút ra kết luận, một trong những yếu tố quyết định đối với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là nhờ có vai trò của hoạt động quản lý
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục trong và ngoài nước, bên cạnh những công trình có tính chất tổng quan về quản lý giáo dục thì các công trình nghiên cứu về quản lý nhà trường, quản lý các thành tố của quá trình sư phạm trong nhà trường ngày càng chiếm vị trí quan trọng bởi nhà trường được thừa nhận rộng rãi như một thiết chế chuyên biệt của xã hội để giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ trở thành những công dân có ích cho xã hội
Nhà giáo dục học Xô-Viết V.A.Xukhomlinxki khi tổng kết những kinh nghiệm
quản lý chuyên môn trong vai trò là người hiệu trưởng nhà trường đã cho rằng “kết
quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động dạy học”, V.A.Xukhomlinxki và Xvecxlerơ
cùng nhấn mạnh đến biện pháp dự giờ, phân tích bài giảng, sinh hoạt tổ chuyên môn… Việc dự giờ, phân tích bài giảng của đồng nghiệp được coi là “đòn bẩy” để nâng cao chất lượng dạy học Việc phân tích bài giảng với mục đích là chỉ cho giáo viên thấy các thiếu sót để khắc phục, đồng thời nhận ra các mặt tích cực để khuyến khích họ phát huy nhằm nâng cao chất lượng bài giảng
Đề tài khoa học công nghệ trọng điểm cấp Bộ của nhóm tác giả: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hợi (chủ nhiệm đề tài); PGS.TS Phạm Minh Hùng; PGS.TS Thái Văn
Thành “thực trạng và các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên” (2006) Nhóm tác
giả đã nêu lên nguyên tắc chung về nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên như: xác định đầy đủ các nội dung hoạt động chuyên môn; xây dựng hoàn thiện quy chế đánh giá, xếp loại chuyên môn giáo viên; tổ chức đánh giá, xếp loại chuyên môn của
Trang 17Tác giả Phạm Hồng Quang: “Đào tạo giáo viên theo định hướng năng lực”
(2009) đã làm rõ các khái niệm, phân tích đặc điểm của phương thức đào tạo theo tiếp cận năng lực, chỉ ra yêu cầu khách quan cần đổi mới đào tạo giáo viên và đề xuất 4 giải pháp đào tạo - bồi dưỡng giáo viên theo định hướng năng lực
Tác giả Trần Bá Hoành trong công trình nghiên cứu của mình cũng đã đề cập đến việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, vận dụng các phương pháp tích cực, tăng cường phương pháp học tập tự học… trong việc đổi mới phương pháp dạy học trong trường phổ thông
Các tác giả, các nhà nghiên cứu và các nhà QLGD như Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Hữu Châu, Phạm Minh Hạc, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Hữu Lam, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Cảnh Toàn, Phạm Viết Vượng… đã có nhiều công trình nghiên cứu về QLGD, quản lý nhà trường Các công trình này đi sâu vào
lý luận QLGD nói chung, ở phương diện quản lý cụ thể một môn học ở trường phổ thông trong đó có môn Toán ở cấp THCS theo tiếp cận năng lực thì chưa được đề cập nhiều Trong những năm gần đây lý luận về quản lý các môn học trong nhà trường phổ thông đã được quan tâm, nhất là trong các luận văn về QLGD
Đối với môn Toán ở trường phổ thông, nhiều công trình nghiên cứu của nhiều chuyên gia cũng đã đề cập ít nhiều về phương diện quản lý quá trình dạy học môn Toán sao cho có hiệu quả nhất Tiêu biểu có thể kể đến một số công trình nghiên cứu
có giá trị như: Phương pháp dạy học đại cương môn Toán của tác giả Nguyễn Bá Kim (2010); Vận dụng lý luận vào dạy học môn Toán ở trường phổ thông của tác giả Bùi Văn Nghị (2009); Cẩm nang dạy và học môn Toán trung học cơ sở của tác giả
Vũ Hữu Bình (2007)…
Nhìn chung các công trình trên đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường hay quản lý quá trình dạy học nói chung mà ít đề cập đến các giải pháp cụ thể để quản lý chất lượng dạy học từng bộ môn đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về quản lý chất lượng dạy học môn Toán ở các trường THCS theo tiếp cận năng lực
Từ việc kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học
Trang 18môn Toán từ góc độ tiếp cận năng lực, đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang theo tiếp cận năng lực
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Năng lực
* Khái niệm năng lực: đối với ngành khoa học, tùy vào đối tượng nghiên
cứu của từng lĩnh vực mà khái niệm năng lực được định nghĩa khác nhau
- Dưới góc độ tâm lý học: năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của
cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy [44]
- Các nhà nghiên cứu tâm lý học khẳng định: năng lực của con người gắn liền với hoạt động của chính con người Khi nói phát triển năng lực con người
ta cũng hiểu đồng thời là phát triển năng lực hành động chính vì vậy trong lĩnh vực sư phạm, năng lực còn được hiểu là: “khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”
- Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực được sử dụng như sau:
- Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành
- Trong chương trình, những nội dung học tập và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực
- Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn
- Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hành động dạy học về mặt phương pháp
- Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình huống
Trang 19- Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung cho công việc giáo dục và dạy học
Như vậy, năng lực mang dấu ấn cá nhân, thể hiện tính chủ quan trong hành động và có thể có được nhờ sự bền bỉ, kiên trì học tập, hoạt động, rèn luyện và trải nghiệm Về bản chất năng lực là tổ hợp của kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ và một số yếu tố tâm lý khác phù hợp với yêu cầu của hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả Khi năng lực phát triển thành năng lực thực sự thì các yếu tố này hòa quyện, đan xen vào nhau
* Mô hình cấu trúc năng lực: năng lực được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào bối cảnh và mục đích sử dụng những năng lực
đó Các năng lực còn là những đòi hỏi của các công việc, các nhiệm vụ và các vai trò vị trí công việc Vì vậy, các năng lực được xem như những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và những đòi hỏi của công việc Từ hiểu biết về năng lực như vậy, ta có thể thấy các nhà nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng những mô hình năng lực khác nhau trong tiếp cận của mình:
(1) Mô hình dựa trên cơ sở tính cách và hành vi cá nhân của cá nhân theo đuổi cách xác định “con người cần phải như thế nào để thực hiện được các vai trò của mình”
(2) Mô hình dựa trên cơ sở các kiến thức hiểu biết và các kỹ năng được đòi hỏi theo đuổi việc xác định “con người cần phải có những kiến thức và kỹ năng gì” để thực hiện tốt vai trò của mình
(3) Mô hình dựa trên các kết quả và tiêu chuẩn đầu ra theo đuổi việc xác định con người “cần phải đạt được những gì ở nơi làm việc”
Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng Có nhiều loại năng lực khác nhau Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau
Theo quan điểm của các nhà sư phạm Đức, cấu trúc chung của năng lực được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần sau: [13]
Trang 20- Năng lực chuyên môn: là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp
và chính xác về mặt chuyên môn Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy lô gic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống
và quá trình Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực “nội dung chuyên môn”, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương pháp chuyên môn
- Năng lực phương pháp: là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức
- Năng lực xã hội: là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác
- Năng lực cá thể: là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá nhân, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các ứng xử và hành vi
Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau Đối với người giáo viên năng lực bao gồm những nhóm cơ bản sau: năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học
Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể Những năng lực này không tách rời nhau
mà có mối quan hệ chặt chẽ
Trang 211.2.2 Tiếp cận năng lực
Trong khoa học giáo dục, khi xây dựng chương trình môn học thường có hai cách tiếp cận sau: thứ nhất là tiếp cận dựa vào nội dung (mục tiêu - nội dung kiến thức); thứ hai là tiếp cận dựa vào kết quả đầu ra (mục tiêu - năng lực thực hiện)
Tiếp cận nội dung: là cách nêu ra một danh mục đề tài, chủ đề của một lĩnh vực (môn học) nào đó Tức là tập trung xác định và trả lời câu hỏi: chúng
ta muốn học sinh cần biết cái gì? Cách tiếp cận này chủ yếu dựa vào yêu cầu nội dung học vấn của một khoa học bộ môn nên thường mang tính “hàn lâm”, nặng về lý thuyết và tính hệ thống, nhất là khi người thiết kế ít chú ý đến tiềm năng, các giai đoạn phát triển, nhu cầu, hứng thú và điều kiện của người học
Tiếp cận kết quả đầu ra: như NIER (1999) đã xác định “là cách tiếp cận nêu rõ kết quả - những khả năng hoặc kĩ năng mà học sinh mong muốn đạt được vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhà trường ở một môn học cụ thể” Nói cách khác, cách tiếp cận này nhằm trả lời câu hỏi: chúng ta muốn học sinh biết và có thể làm được những gì? [41]
Theo tác giả Nguyễn Văn Tuấn [42] nội dung dạy học theo quan điểm tiếp cận năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực:
Học nội dung
chuyên môn
Học phương pháp Học giao tiếp -
xã hội nghiệm - đánh giá Học tự trải
- Các phương pháp nhận thức chung:
thu thập, xử lý, đánh giá, trình bày thông tin
- Các phương pháp chuyên môn
- Làm việc trong nhóm
- Tạo điều kiện cho
sự hiểu biết về phương diện xã hội
- Học cách ứng xử, tinh thần trách nhiệm, khả năng giải quyết xung đột
- Tự đánh giá điểm mạnh, điểm yếu
- Xây dựng kế hoạch phát triển cá nhân
- Đánh giá, hình thành các chuẩn mực giá trị, đạo đức và văn hóa, lòng tự trọng
Năng lực
chuyên môn
Năng lực phương pháp
Năng lực
xã hội
Năng lực nhân cách
Trang 22Phương pháp dạy học theo quan điểm tiếp cận năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn
đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
Theo quan điểm tiếp cận năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá Đánh giá kết quả học tập cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau
1.3 Hoạt động dạy học môn toán ở trường THCS theo tiếp cận năng lực
1.3.1 Vị trí, vai trò môn Toán trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng
Môn toán là một môn khoa học tự nhiên, là một môn học chiếm vị trí đặc biệt quan trọng và không thể thiếu trong chương trình giáo dục phổ thông Điều này xuất phát từ đặc trưng của môn Toán đó là tính trừu tượng cao và tính thực tiễn phổ thông đồng thời có tính logic chặt chẽ và tính thực nghiệm
Môn Toán có vai trò, vị trí và ý nghĩa hết sức quan trọng trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng bởi những lý do cơ bản sau đây:
Thứ nhất: môn Toán có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung giáo dục phổ thông, góp phần phát triển nhân cách người học Cùng với việc giúp cho học sinh hình thành những tri thức và kỹ năng rèn luyện tư duy khoa học cơ bản thì môn Toán có tác dụng phát triển năng lực trí tuệ chung như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa , rèn luyện phẩm chất, những đức tính của người lao động như óc thẩm mỹ và tính phê phán, tính chính xác, tính khoa học, tính kỷ luật Đây là những đức tính, phẩm chất cần thiết của người lao động trong giai đoạn hiện nay
Thứ hai: môn Toán cung cấp vốn văn hóa Toán học phổ thông cho học sinh một cách có hệ thống và tương đối hoàn chỉnh bao gồm kiến thức, kỹ năng và tư duy
Thứ ba: môn Toán còn là “công cụ” giúp cho việc dạy và học các môn học khác Do tính trừu tượng cao và tính thực tiễn phổ dụng nên những kiến thức và kỹ năng Toán học cùng với những phương pháp làm việc trong Toán học đã trở thành
Trang 23những công cụ để học tập các môn khoa học khác trong nhà trường, là công cụ của nhiều ngành khoa học nhất là các ngành khoa học tự nhiên, là công cụ vận dụng vào hoạt động thực tiễn trong cuộc sống hiệu quả hơn
1.3.2 Mục tiêu của môn Toán trong nhà trường phổ thông và mục tiêu cụ thể đối với cấp THCS
Luật Giáo dục nước ta quy định về mục tiêu giáo dục phổ thông như sau: “mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động
và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Luật Giáo dục 2009, chương II, điều 27, mục 1).[37]
Xuất phát từ mục tiêu của giáo dục phổ thông và từ đặc điểm, vai trò, vị trí và ý nghĩa của môn Toán, sau khi tốt nghiệp phổ thông học sinh phải đạt được các mục tiêu sau đây:
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức, kỹ năng, phương pháp Toán học phổ thông cơ bản, thiết thực
- Góp phần quan trọng vào việc phát triển năng lực trí tuệ, hình thành khả năng suy luận đặc trưng của môn Toán cần thiết cho cuộc sống
- Góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất, phong cách lao động khoa học, biết hợp tác lao động, có ý chí và thói quen tự học thường xuyên
Tất cả các mục tiêu trên tạo cơ sở để học sinh tiếp tục học lên các trường cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp, các trường nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động với những yêu cầu cụ thể cần đạt được về các mặt tri thức và kỹ năng, tư duy và thái độ
Luật Giáo dục nước ta cũng quy định mục tiêu, giáo dục cụ thể cho cấp học THCS như sau:
“Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” (Luật Giáo dục 2009, chương II, điều 27, mục 3).[37]
Xuất phát từ mục tiêu của giáo dục, yêu cầu cụ thể đối với cấp THCS, từ đặc điểm, vai trò, vị trí và ý nghĩa của môn Toán trong nhà trường phổ thông thì môn Toán ở trường THCS phải thực hiện được các mục tiêu cơ bản sau đây:
Trang 24Một là cung cấp cho học sinh những kiến thức, phương pháp Toán học phổ thông cơ bản, thiết thực, cụ thể là:
- Những kiến thức mở đầu về số (số tự nhiên đến số thực), về các biểu thức đại
số, về phương trình bậc nhất, bậc hai, về hệ phương trình, bất phương trình, tương quan hàm số và vẽ được một vài đồ thị hàm số bậc nhất, bậc hai dạng đơn giản
- Một số hiểu biết ban đầu về thống kê mô tả
- Những kiến thức mở đầu về hình học phẳng, quan hệ bằng nhau và đồng dạng của hai tam giác Một số yếu tố về lượng giác và vật thể trong không gian
- Một số hiểu biết ban đầu về một số phương pháp Toán học: dự đoán và chứng minh, quy nạp và suy diễn, phân tích và tổng hợp…
- Hai là hình thành và rèn luyện các kỹ năng: tính toán và sử dụng bảng số, máy tính bỏ túi; thực hiện các phép biến đổi các biểu thức đại số; giải được phương trình, bất phương trình bậc nhất một ẩn, hệ phương trình bậc nhất hai ẩn; vẽ hình, đo đạc, ước lượng Bước đầu hình thành khả năng vận dụng kiến thức Toán học vào cuộc sống và các môn học khác
Ba là rèn luyện khả năng suy luận hợp lý và logic, khả năng quan sát, dự đoán, phát triển trí tưởng tượng không gian Rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ chính xác, bồi dưỡng các phẩm chất của tư duy linh hoạt, độc lập và sáng tạo Bước đầu hình thành thói quen tự học, diễn đạt chính xác và rõ ràng suy nghĩ của mình và hiểu được ý tưởng của người khác Góp phần hình thành các phẩm chất lao động khoa học cần thiết của người lao động mới (chương trình THCS)
1.3.3 Cấu trúc nội dung, phân phối chương trình môn Toán cấp THCS
1.3.3.1 Nội dung giáo dục Toán học
Do tính toàn diện của nội dung giáo dục phổ thông và của mục tiêu dạy học môn Toán nên nội dung giáo dục của bộ môn này được hiểu theo nghĩa rộng, nó bao gồm:
Thứ nhất: những khái niệm, định nghĩa, mệnh đề, định lý với tư cách là những yếu tố của những lý thuyết khoa học Toán học
Thứ hai: những phương pháp, quy tắc có tính chất thuật giải, suy đoán cùng với những ký hiệu thích hợp thể hiện phương pháp luận của khoa học Toán học cùng với các hoạt động trí tuệ và thực tiễn
Thứ ba: những ý tưởng về thế giới quan, chính trị và đạo đức xã hội trực tiếp hay gián tiếp với khoa học Toán học
Trang 25Như vậy, nội dung môn Toán không chỉ bao gồm những yếu tố của những lý thuyết Toán học mà còn cả những phương pháp làm việc, những ý tưởng về thế giới quan, chính trị và đạo đức xã hội… làm cơ sở để môn Toán góp phần xứng đáng cho việc giáo dục toàn diện, phát triển nhân cách của học sinh
1.3.3.2 Nội dung Toán học
Mặc dù nội dung giáo dục Toán học được hiểu theo nghĩa rộng như trên nhưng những yếu tố Toán học là bộ phận quan trọng của nội dung đó
Những yếu tố của môn Toán thoạt nhìn rất đa dạng, phức tạp nhưng khi xem xét kĩ sẽ thấy có thể quy về chỉ gồm hai loại và các mối quan hệ giữa chúng, đó là: những số và những đối tượng hình học
Nội dung Toán học trong nhà trường phổ thông được tập hợp thành hai bộ phận chủ yếu là:
(1) Số học, đại số và giải tích
(2) Hình học
Các nội dung Toán học không tách rời nhau mà trái lại chúng có quan hệ qua lại với nhau theo một hệ thống cấu trúc nội dung chương trình, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn, quy định bằng các văn bản, SGK của từng cấp học, lớp học
1.3.3.3 Chương trình Toán THCS
Chương trình Toán THCS hiện nay căn cứ vào chương trình giáo dục phổ thông cấp THCS, ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và quyết định số 7608/BGDĐT-GDTrH về việc: khung chương trình THCS, THPT năm học 2009-2010 ngày 31 tháng 8 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT
Bảng 1.1 Chương trình Toán THCS
Lớp Học kỳ
Số tiết một
học
kỳ
Nội dung Nội dung tự chọn Ghi chú
(số tiết theo môn của chương trình bắt buộc)
Lý thuyết (tiết)
Luyện tập
Kiểm tra (tiết)
Bám sát (tiết)
Nâng cao (tiết)
Bài tập (tiết)
Thực hành (tiết)
Ôn tập (tiết)
6
I 72 43 14 2 8 5 40
(SH:32 HH:8)
40 (SH:32 HH:8)
SH: 58 HH: 14
40 (ĐS:20 HH:20)
ĐS: 40 HH: 32
II 68 41 13 2 7 5 ĐS: 30
HH: 38
Trang 26Lớp Học kỳ
Số tiết một
học
kỳ
Nội dung Nội dung tự chọn Ghi chú
(số tiết theo môn của chương trình bắt buộc)
Lý thuyết (tiết)
Luyện tập Kiểm
tra (tiết)
Bám sát (tiết)
Nâng cao (tiết)
Bài tập (tiết)
Thực hành (tiết)
Ôn tập (tiết)
8
I 72 43 14 2 8 5 40
(ĐS:20 HH:20)
40 (ĐS:20 HH:20)
ĐS: 40 HH: 32
40 (SH:20 HH:20)
ĐS: 36 HH: 36
II 68 41 13 2 7 5 ĐS: 34
HH: 34 Hiện nay, chương trình Toán THCS vẫn thực hiện 140 tiết/lớp/năm học, nhưng được kéo dài thực hiện chương trình trong 37 tuần và một số nội dung chi tiết trong một số nội dung của chương trình có sự điều chỉnh theo chuẩn kiến thức kĩ năng để phù hợp với giảm tải nội dung chương trình theo sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT
1.3.4 Hoạt động dạy học môn Toán cấp THCS theo tiếp cận năng lực
Nhìn chung, dạy học Toán theo định hướng tiếp cận năng lực đến nay đang còn là một vấn đề mới, đang thảo luận và chưa có những nghiên cứu sâu, đủ để có thể làm sáng tỏ vấn đề này
1.3.4.1 Xác định các năng lực chung, cốt lõi và chuyên biệt của môn Toán
Có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực Ở đây ta tiếp cận theo hướng năng lực hành động, tức là có cấu trúc, có thể mô tả được, đo đếm được, do đó có thể đánh giá được Mỗi môn học có thể hình thành và phát triển một năng lực chung cốt lõi Chẳng hạn môn Toán có có ưu thế trong việc hình thành và phát triển năng lực tính toán, với các thành tố cấu trúc là: thành thạo các phép tính; sử dụng được ngôn ngữ toán học; mô hình hóa; sử dụng các công cụ toán học
Ta có thể làm rõ các năng lực chung cốt lõi, theo cấu trúc của nó, chẳng hạn như bảng sau:
Trang 27Năng lực Thành tố cấu trúc Tiêu chuẩn Tiêu chí Minh
chứng Ví dụ
Năng lực
tính toán
Năng lực sử dụng các phép tính
Tính toán
Sử dụng kiến thức và
kỹ năng tính toán trên các con số một cách tự tin;
Hiểu và có thể sử dụng các kiến thức, kỹ năng về đo lường trong nhà trường cũng như trong cuộc sống hàng ngày
Thành thạo các phép tính: +; -; x;
:…
Biết đo chiều dài, chiều cao, diện tích, khối lượng, thời gian…
3 + 5= 8
10 - 3= 7
1 giờ có 60 phút
1kg=1000g
Ước lượng
Đo lường, tính toán, so sánh và ước tính được trong tình huống quen thuộc
Năng lực sử dụng ngôn ngữ toán
Sử dụng thuật ngữ,
kí hiệu, tính chất
Hiểu và có thể sử dụng một cách tự tin, chính xác và hiệu quả ý nghĩa các thuật ngữ, ký hiệu toán học, tính chất các số và tính chất các hình học… trong học tập và trong cuộc sống hàng ngày
Trang 28Sử dụng thống kê toán
Hiểu ý nghĩa và sử dụng được thông tin thống kê để giải quyết vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập ở nhà trường cũng như trong cuộc sống
Sử dụng trí tưởng tượng không gian
Hình dung xác định và
có thể sắp xếp, vẽ phác hình dạng các đối tượng trong môi trường xung quanh, hiểu tính chất cơ bản của chúng Năng lực
mô hình hóa Năng lực sử dụng công
là cách thức tư duy, phương pháp suy nghĩ, suy luận logic,… trong giải quyết các vấn
đề nảy sinh, trong học tập cũng như trong cuộc sống hàng ngày
Ở trường phổ thông, học toán về cơ bản là hoạt động giải toán Giải toán liên quan đến việc lựa chọn và áp dụng chính xác kiến thức, kỹ năng cơ bản, khám phá về
Trang 29các con số, xây dựng mô hình, giải thích số liệu, trao đổi các ý tưởng liên quan,… Giải toán đòi hỏi phải có tính sáng tạo, hệ thống Học toán và giải toán giúp học sinh
tự tin, kiên nhẫn, bền bỉ, biết làm việc có phương pháp,… Vì vậy, có thể xem đó là cơ
sở cho những phát minh khoa học Kiến thức toán còn được ứng dụng, phục vụ cho việc học các môn học khác như: Vật lý, Hóa học, Sinh học… Vì thế, có thể xem môn toán là môn học công cụ ở trường phổ thông
Do đó, ở trường phổ thông môn toán có nhiều cơ hội giúp học sinh hình thành
và phát triển các năng lực chung như: năng lực tính toán; năng lực tư duy; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực tự học; năng lực giao tiếp; năng lực hợp tác; năng lực làm chủ bản thân; năng lực sử dụng CNTT
b Một số năng lực cần phải luyện tập qua học môn Toán
Dạy và học môn toán ở trường phổ thông nước ta nói chung, giai đoạn sau
2015 nói riêng, nhằm hướng vào hình thành các năng lực chung, cốt lõi, thông qua đó giúp học sinh:
- Có những kiến thức và kỹ năng toán học cơ bản, làm nền tảng cho việc phát triển các năng chung cũng như năng lực riêng
- Hình thành và phát triển năng lực tư duy Phát triển trí tưởng tượng không gian, trực giác toán học
- Sử dụng được các kiến thức để học toán, học tập các bộ môn khác đồng thời giải thích, giải quyết một số hiện tượng, tình huống xảy ra trong thực tiễn Qua đó, phát triển năng lực giải quyết vấn đề, năng lực mô hình hóa toán học
- Phát triển vốn ngôn ngữ trong giao tiếp và giao tiếp có hiệu quả
- Góp phần cùng với các bộ môn khác hình thành thế giới quan khoa học, hiểu được nguồn gốc thực tiễn và khả năng ứng dụng rộng rãi của toán học trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Biết cách làm việc có kế hoạch, cẩn thận, chính xác, có thói quen tò mò, thích tìm hiểu, khám phá; biết cách học độc lập với phương pháp thích hợp cùng những kỹ năng cần thiết, trong sự hợp tác có hiệu quả với người khác
1.3.4.2 Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo tiếp cận năng lực
a Đặc tính cơ bản của dạy học theo tiếp cận năng lực
Dạy học theo tiếp cận năng lực không chỉ chú trọng phát triển các năng lực chung, cốt lõi mà còn chú trọng phát triển cả các năng lực chuyên biệt Do đó, cần tăng cường gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, ứng dụng trong thực tiễn
Trang 30Tăng cường việc học tập theo nhóm, cộng tác, chia sẻ nhằm phát triển nhóm năng lực
xã hội
Theo quan điểm tiếp cận năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm, mà cần chú trọng đánh giá khả năng vận dụng một cách sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau
Vì thế, dạy học theo tiếp cận năng lực bên cạnh những thuộc tính chung về dạy học còn có những đặc tính riêng như đề cập dưới đây:
* Đặc tính cơ bản về dạy học theo tiếp cận năng lực
Qua khảo sát việc xây dựng và triển khai chương trình giáo dục phổ thông của một số nước theo tiếp cận năng lực ta thấy có một số đặc tính cơ bản khi dạy học theo tiếp cận năng lực đó là:
- Dạy học lấy việc việc học của HS làm trung tâm
- Dạy học đáp ứng các đòi hỏi của thực tiễn, hướng nghiệp và phát triển
- Linh hoạt và năng động trong việc tiếp cận và hình thành năng lực
- Những năng lực cần hình thành ở người học được xác định một cách rõ ràng Chúng được xem là tiêu chuẩn đánh giá kết quả giáo dục
Qua đó, ta thấy dạy học theo tiếp cận năng lực tăng cường các hoạt động; tăng cường tính thực tế, tính mục đích; gắn hơn nữa với đời sống thực tiễn, hỗ trợ học tập suốt đời; hỗ trợ việc phát huy thế mạnh cá nhân; quan tâm hơn đến những gì HS được học và học được
* Ưu điểm của dạy học theo tiếp cận năng lực
- Cho phép cá nhân hóa việc học: trên cơ sở mô hình năng lực, người học sẽ
bổ sung những thiếu hụt của cá nhân để thực hiện những nhiệm vụ cụ thể của mình
- Chú trọng vào kết quả đầu ra
- Tạo ra những cách thức riêng, linh hoạt, phù hợp với những đặc điểm và hoàn cảnh của cá nhân nhằm đạt tới những kết quả đầu ra
- Tạo khả năng cho việc xác định một cách rõ ràng những gì cần đạt và những tiêu chuẩn cho việc đo lường kết quả
b Phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực
Dạy học theo tiếp cận năng lực không chỉ chú ý tới mặt tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với
Trang 31những vấn đề thực tiễn, với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường hoạt động nhóm, đổi mới quan hệ GV - HS theo hướng cộng tác, nhằm phát triển năng lực cá nhân, năng lực xã hội,… Bên cạnh việc học tập những kiến thức, kỹ năng riêng lẻ thuộc các môn học cần bổ sung các chủ đề cần tập trung chủ yếu vào các yếu tố như:
- GV tổ chức hoạt động nhằm thúc đẩy việc học tập tích cực, chủ động của học sinh
- Cung cấp đầy đủ cơ hội để học sinh tìm tòi, khám phá, sáng tạo
- Giảng dạy như quá trình tìm tòi
Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, với sự hỗ trợ gì thì PPDH hiệu quả đòi hỏi GV hiểu tác động của việc giảng dạy tới HS của mình Mối quan hệ GV - HS trong dạy học phải được quán triệt như là một quá trình, theo chu kỳ, diễn ra ngày qua ngày Trong quá trình này GV cần biết:
- Điều gì là quan trọng cho HS của mình?
- Chiến lược nào có nhiều khả năng để giúp HS của mình học?
- Kết quả học tập ra sao và tác động tới giảng dạy trong tương lai như thế nào?
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THCS theo tiếp cận năng lực
1.4.1 Mục tiêu và nội dung chương trình môn Toán THCS
Mục tiêu chung của môn Toán trong nhà trường phổ thông và mục tiêu cụ thể đối với cấp THCS (đã được trình bày ở mục 1.3.2)
Nội dung chương trình môn Toán THCS (đã được trình bày ở mục 1.3.3) Hoạt động đầu tiên của quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THCS là xác định mục tiêu môn học với các yêu cầu, chuẩn mực cần phải đạt được Việc tuyên bố
về mục tiêu dạy học môn Toán THCS, với các yêu cầu chuẩn mực, cần phải đạt được, cùng với việc thực hiện nội dung chương trình Toán THCS sẽ tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động giảng dạy môn Toán cùng cam kết thực hiện và phấn đấu đạt được
Nội dung chương trình môn Toán trong trường THCS được xây dựng cùng với nội dung chương trình các môn học khác, đảm bảo yêu cầu đáp ứng mục tiêu của nhà
Trang 32trường THCS, giáo dục toàn diện học sinh phù hợp với đặc điểm tâm lý nhận thức của lứa tuổi học sinh THCS
Như vậy, mục tiêu và nội dung chương trình môn Toán THCS là yếu tố ảnh hưởng đầu tiên, trực tiếp đến hoạt động dạy học môn Toán và quản lý hoạt động này
Chính vì vậy, CBQL nhà trường phải là những người có trình độ lý luận về quản lý và năng lực QLGD, quản lý nhà trường, hiểu biết sâu sắc về lý luận dạy học nói chung cũng như lý luận dạy học môn Toán nói riêng; đồng thời cũng phải là những nhà giáo có kinh nghiệm thực tiễn về dạy học và quản lý dạy học…
1.4.2.2 Đội ngũ giáo viên Toán ở trường THCS
Giáo viên Toán ở trường THCS phải là những người có TĐCM đạt chuẩn đào tạo, có NVSP vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt và phong cách nhà giáo đúng mực Ngoài ra giáo viên Toán còn phải không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao TĐCM, cập nhật thường xuyên thông tin, tri thức Toán học mới
Nắm vững lý luận dạy học hiện đại, hiểu sâu sắc lý luận dạy học bộ môn để vận dụng vào thực tiễn hoạt động giảng dạy của mình là yêu cầu bắt buộc nâng cao đối với giáo viên Toán, có như vậy mới thực hiện tốt nhiệm vụ của mình
Như vậy, trình độ và năng lực quản lý của CBQL nhà trường, chất lượng đội ngũ giáo viên Toán ảnh hưởng vô cùng lớn đến hoạt động dạy học bộ môn và quản lý hoạt động này ở trường THCS
1.4.3 Đối tượng tuyển sinh
Thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường THCS, chất lượng tuyển sinh đầu vào (lớp 6) có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, công tác tuyển sinh đầu cấp cần thực hiện đúng theo quy chế của ngành và những quy định khách quan của nhà trường và địa phương
Trang 33Hiện nay, học sinh được tuyển vào lớp 6 đều phải hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học và thường tuyển sinh theo địa bàn dân cư để thực hiện công tác phổ cập giáo dục Do đó công tác tuyển sinh đầu cấp THCS thường đạt tỉ lệ rất cao
Tuy nhiên, chất lượng học sinh hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học vẫn còn nhiều bất cập, có thể do khách quan của những cơ sở giáo dục tiểu học còn nhiều yếu tố chưa đạt chuẩn, có thể do chủ quan trong hoạt động giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục ở những cơ sở giáo dục tiểu học có sự lệch chuẩn Vì thế, vẫn còn một
tỉ lệ học sinh được tuyển vào lớp 6 có lực học yếu, mặt bằng chất lượng học sinh được tuyển đầu vào chưa đồng đều
Chính vì vậy, chất lượng tuyển sinh đầu vào, đối tượng tuyển sinh hàng năm của nhà trường có ảnh hưởng rất lớn đến quản lý hoạt động dạy học nói chung và quản lý hoạt động dạy học môn Toán nói riêng nhằm đạt được mục tiêu dạy học
1.4.4 Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học Toán
Cơ sở vật chất (CSVC) và phương tiện dạy học (PTDH) Toán luôn là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện tốt mục tiêu dạy học CSVC, PTDH phục vụ dạy và học của nhà trường THCS hiện nay là hệ thống các phương tiện vật chất, trang thiết bị kỹ thuật được sử dụng để phục vụ cho việc dạy học của nhà trường, bao gồm: trường sở, phòng học, bàn ghế, phòng học bộ môn, thư viện…
Nội dung quản lý CSVC, PTDH trong nhà trường bao gồm:
- Quản lý trường lớp, phòng học và các trang thiết bị phục vụ dạy học
- Quản lý hoạt động của các phòng học bộ môn, phòng chức năng
- Quản lý đồ dùng, thiết bị dạy học bộ môn
- Quản lý thư viện nhà trường…
Trong nhà trường THCS ngoài CSVC và các PTDH phục vụ chung cho dạy và học, PTDH môn Toán có chức năng riêng và góp phần quan trọng tạo điều kiện thuận lợi trong việc tổ chức hoạt động dạy học môn Toán Những PTDH Toán thông dụng trong nhà trường THCS hiện nay có thể liệt kê theo ba nhóm sau đây:
(1) Nhóm phương tiện nghe nhìn:
- Đồ dùng dạy học của giáo viên, đồ dùng học tập của học sinh
- Mô hình trực quan như hình hộp, hình lăng trụ, hình cầu…
Trang 34Ngoài ra, nguồn kinh phí để duy trì hoạt động dạy học có chất lượng cũng cần đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, PTDH Toán thường xuyên là vấn đề rất quan trọng mà CBQL nhà trường phải đặc biệt quan tâm và quản lý tốt
CSVC và PTDH Toán luôn có một vị trí quan trọng và vai trò không thể thiếu trong hoạt động dạy học môn Toán, nó ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động dạy học môn Toán Bởi vì, đảm bảo CSVC kỹ thuật của nhà trường nói chung là điều kiện tiên quyết để triển khai thực hiện đổi mới nội dung chương trình môn Toán THCS đáp ứng mục tiêu dạy học bộ môn; đảm bảo về PTDH Toán nhất là ứng dụng CNTT và truyền thông phục vụ tốt cho hoạt động giảng dạy và học tập bộ môn, hỗ trợ hiệu quả đổi mới PPDH nhằm đạt được kết quả dạy học mong muốn
1.4.5 Môi trường quản lý hoạt động dạy học môn Toán
Cũng như các lĩnh vực hoạt động khác, hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học môn Toán nói riêng ở trường THCS cũng chịu sự ảnh hưởng, tác động không nhỏ của môi trường Môi trường tác động và ảnh hưởng ở đây được hiểu và xác định là: môi trường vi mô và môi trường vĩ mô Môi trường vi mô là môi trường
sư phạm bên trong nhà trường, môi trường trực tiếp tổ chức các hoạt động dạy học môn Toán Môi trường vĩ mô là môi trường cộng đồng bên ngoài nhà trường, môi trường chính trị - văn hóa - kinh tế - xã hội của vùng miền và của đất nước
Hiểu rõ những tác động và ảnh hưởng của môi trường đối với hoạt động dạy học môn Toán ở trường THCS; biết vận dụng, khai thác, phát huy những tác động tích cực, thuận lợi của môi trường và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực, bất lợi của nó sẽ giúp cho công tác quản lý hoạt động dạy học môn Toán có hiệu quả tốt hơn; đảm bảo kết quả dạy và học môn Toán đạt được theo mục tiêu mong muốn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường THCS
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm của mọi nhà trường phổ thông, quản
lý dạy học của Hiệu trưởng là nhiệm vụ quan trọng nhất bởi vì kết quả của hoạt động dạy học là chất lượng giáo dục của nhà trường
Trong chương này chúng tôi đã phân tích và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận
về năng lực, tiếp cận năng lực, dạy học theo tiếp cận năng lực
Tiếp theo là hoạt động dạy học môn Toán ở trường THCS: vị trí, vai trò, mục tiêu của môn Toán trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng; cấu trúc nội dung chương trình môn Toán THCS; hoạt động dạy học môn Toán cấp THCS theo tiếp cận năng lực
Các luận điểm lý thuyết ở chương 1 là cơ sở để chúng tôi đi vào tìm hướng giải quyết những vấn đề thực tiễn vốn là nhiệm vụ nghiên cứu ở những chương tiếp theo của đề tài
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ, HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG TỪ GÓC ĐỘ TIẾP CẬN NĂNG LỰC 2.1 Thực trạng hoạt động dạy học môn Toán ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang từ góc độ tiếp cận năng lực
Trước hết, nhằm hiểu rõ thực trạng dạy học môn Toán ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS huyện Chiêm Hóa từ góc độ tiếp cận năng lực, chúng tôi điều tra và khảo sát tình hình đội ngũ giáo viên Toán của các trường
Bảng 2.1: Số liệu giáo viên dạy môn Toán và trình độ đào tạo
Năm học Tổng số
Nữ Trình độ chuyên môn
Ghi chú
SL % Trung
cấp
Cao đẳng Đại học
Trên Đại học
2011 - 2012 12 08 66,7 0 01 11 0
2012 - 2013 12 08 66,7 0 01 11 0
2013 - 2014 12 08 66,7 0 01 10 01
(Nguồn: Nghiệp vụ - Phòng GD&ĐT huyện Chiêm Hóa)
Qua kết quả tổng hợp bảng 2.17 cho thấy, 100% đội ngũ giáo viên Toán của các trường đều đạt chuẩn, trên chuẩn Trong những năm gần đây, số giáo viên nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng TĐCM, NVSP ngày càng tăng Nhiều giáo viên đã không ngừng học tập, tự bồi dưỡng tham gia các khóa đào tạo để nâng cao trình độ của bản thân Theo nhận định của CBQL thì đội ngũ giáo viên Toán là đội ngũ mạnh về chuyên môn, rất giàu tiềm năng, đại đa số giáo viên có NVSP vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có trách
nhiệm và tâm huyết với sự nghiệp trồng người
Trang 37Bảng 2.2: Cơ cấu theo độ tuổi và thâm niên giảng dạy của đội ngũ
giáo viên Toán ở các trường PTDTBT THCS năm học 2013 - 2014
Cơ cấu theo độ tuổi Thâm niên công tác
Dưới 30
tuổi
Từ 30 đến dưới 50
50 tuổi trở lên
Dưới 10 năm
10 đến dưới
30 năm
Trên 30 năm
SL % SL % SL % SL % SL % SL %
0 0 11 91,7 01 8,3 0 0 12 100 0 0
(Nguồn: Nghiệp vụ - Phòng GD&ĐT huyện Chiêm Hóa)
Theo khảo sát cho thấy, số lượng giáo viên nữ chiếm tỉ lệ cao (66,7%), giáo viên trẻ và giáo viên mới vào nghề chiếm tỉ lệ khá hợp lý so với tổng số giáo viên Toán ở các trường Đây vừa là thuận lợi vừa là khó khăn cho quản lý hoạt động dạy học cũng như quản lý các mặt công tác khác của giáo viên đối với phòng GD&ĐT, ban giám hiệu nhà trường Điều này đòi hỏi CBQL phải khai thác những thuận lợi về
sự kế thừa liên tục trong công tác phát triển đội ngũ; đồng thời khắc phục những hạn chế, bất cập có thể phát sinh cục bộ ở nhà trường để có những tác động tích cực, có những biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn phù hợp và hiệu quả
Để xác định thực trạng dạy học môn Toán ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS huyện Chiêm Hóa từ góc độ tiếp cận năng lực, chúng tôi khảo sát và lấy ý kiến đánh giá của tổ trưởng chuyên môn, giáo viên Toán ở các trường Căn cứ vào kết quả khảo sát, chúng tôi có thể đánh giá từng nội dung cụ thể như sau:
2.1.1 Thực trạng hoạt động giảng dạy của giáo viên
2.1.1.1 Mức độ đáp ứng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của giáo viên
Một giáo viên giỏi không chỉ là giáo viên có bằng cấp đạt chuẩn, thậm chí trên chuẩn mà còn phải là giáo viên tinh thông nghiệp vụ, nắm vững lý luận dạy học đặc trưng của từng bộ môn, hiểu rõ đối tượng học sinh của mình và giảng dạy có hiệu quả cao nhất Có như vậy mới đáp ứng được TĐCM và NVSP của người thầy trước yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học hiện nay
Trang 38Bảng 2.3: Kết quả khảo sát thực trạng về TĐCM, NVSP của giáo viên đáp ứng yêu cầu hiện nay của hoạt động giảng dạy môn Toán
TT Nội dung đánh giá Mức độ thực hiện (%)
5 Kỹ năng sử dụng CNTT và truyền thông, các
PTDH hiện đại vào dạy học 40 10 50 0
6 Mức độ phản ứng TĐCM, NVSP của đại đa số
các giáo viên tham gia hoạt động dạy học 78 22 0 0 Theo kết quả bảng 2.19 cho thấy khi được hỏi về mức độ đáp ứng nhu cầu TĐCM, NVSP của giáo viên đa số các ý kiến tự đánh giá từ mức khá trở lên (100%)
Đổi mới PPDH bộ môn là một hoạt động thường xuyên và được đặc biệt quan tâm quán triệt, triển khai thực hiện rộng rãi trong toàn ngành Tuy nhiên khi được hỏi
về mức độ đổi mới PPDH bộ môn thì chỉ có 50% ý kiến đánh giá tốt
Kỹ năng sử dụng thành thạo PTDH bộ môn cũng là chuyên môn bắt buộc đối với giáo viên Toán, nhưng chỉ có 70% ý kiến đánh giá ở mức độ tốt và khá
Kỹ năng sử dụng CNTT và truyền thông, các PTDH hiện đại vào hoạt động dạy học môn Toán, qua khảo sát có lẽ đây là tồn tại lớn nhất của giáo viên, có tới 50% ý kiến đánh giá ở mức độ trung bình
Căn cứ vào khảo sát mức độ đáp ứng TĐCM, NVSP của giáo viên còn nhiều hạn chế; căn cứ vào thực tiễn hoạt động giảng dạy và quan sát của tác giả tại các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS huyện Chiêm Hóa có thể đi đến kết luận: hiện nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ giáo viên Toán chưa trang bị tốt NVSP cho mình, mặc dù vấn đề đào tạo bồi dưỡng nâng cao TĐCM, NVSP đã được phòng GD&ĐT, Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, có kế hoạch, có biện pháp cụ thể thực hiện trong từng năm học
Trang 392.1.1.2 Mức độ giáo viên thực hiện nội dung hoạt động giảng dạy
Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.20 cho thấy, sự phản ánh chưa đồng nhất ý kiến đánh giá của giáo viên và học sinh về thực trạng mức độ giáo viên thực hiện các nội dung hoạt động giảng dạy bộ môn Kết quả khảo sát thực tế tại các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS huyện Chiêm Hóa cụ thể như sau:
Trong khi 100% ý kiến giáo viên cho rằng luôn thường xuyên và khá thường xuyên chuẩn bị kỹ chuyên môn, bài giảng trước khi lên lớp thì chỉ có 82% ý kiến của học sinh tán đồng với đánh giá này; có 89% ý kiến giáo viên đánh giá thường xuyên
và khá thường xuyên cập nhật, mở rộng với những kiến thức mới trong bài giảng, phù hợp với đối tượng học sinh thì cũng chỉ có 70% ý kiến học sinh tán đồng
Bảng 2.4: Kết quả khảo sát thực trạng về mức độ giáo viên thực hiện các nội
dung hoạt động dạy học
TT Các nội dung hoạt động
Mức độ thực hiện (%) Thường
xuyên
Khá thường xuyên
Đôi khi bao giờ Chưa
GV HS GV HS GV HS GV HS
1 Chuẩn bị kĩ chuyên môn, bài giảng
trước khi lên lớp 75 42 25 40 0 18 0 0
2 Cập nhật, mở rộng kiến thức trong bài,
phù hợp với đối tượng học sinh 56 35 33 35 11 30 0 0
3 Sử dụng PPDH phát huy tính tích cực
trong hoạt động học tập của HS 65 31 12 35 23 25 0 9
4 Sử dụng nhuần nhuyễn và có hiệu quả
7 Quan tâm tìm hiểu những khó khăn HS
hay gặp phải trong quá trình học tập 35 30 45 31 20 39 0 0
8 Yêu cầu đối với học sinh tính tự giác
chủ động và sáng tạo trong học tập 56 32 22 40 22 28 0 0
9 Có hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả
học tập của HS ngay sau bài học 47 30 23 30 30 32 0 8
10 Thu thập thông tin phản hồi từ phía học
sinh về hoạt động dạy học 42 40 22 20 36 40 0 0
11 Đánh giá và cải tiến hoạt động dạy học 40 45 30 30 30 25 0 0
Trang 40Kết quả khảo sát việc sử dụng các PPDH phát huy tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh và sử dụng có hiệu quả các PTDH Toán trong hoạt động giảng dạy cho thấy tỷ lệ giáo viên thực hiện ở mức độ chưa nhiều Có 77% ý kiến giáo viên đánh giá thường xuyên và khá thường xuyên sử dụng PPDH phát huy tính tích cực trong hoạt động của học sinh, cũng có 88% ý kiến giáo viên đánh giá thường xuyên và khá thường xuyên sử dụng có hiệu quả các PTDH Ý kiến của học sinh tương ứng với các nội dung này chỉ có 66% và 70%, cá biệt có 9% ý kiến học sinh cho rằng giáo viên sử dụng PPDH chưa phát huy được tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh
Theo ý kiến của học sinh có tới 26% giáo viên đôi khi có sự thay đổi PPDH và 9% giáo viên chưa bao giờ thay đổi PPDH khi hoạt động học tập của các em không
có hứng thú Trong khi có 88% ý kiến giáo viên cho rằng đã khá thường xuyên và thường xuyên thay đổi PPDH khi hoạt động học tập của học sinh không tích cực
Kết quả khảo sát cũng cho thấy rằng đa số giáo viên vẫn chỉ đơn thuần lo hoàn thành truyền đạt kiến thức mà chưa quan tâm thỏa đáng việc trao đổi và hướng dẫn học sinh về PPHT bộ môn, cách khai thác nội dung kiến thức trong SGK và tài liệu học tập một cách hiệu quả nhất; có 76% ý kiến giáo viên và chỉ có 74% ý kiến học sinh đánh giá thầy cô thường xuyên và khá thường xuyên thực hiện tốt điều này, cá biệt có 7% ý kiến học sinh cho rằng giáo viên chưa bao giờ thực hiện điều này
Quan tâm tìm hiểu những khó khăn học sinh hay gặp phải trong quá trình học tập, đặc biệt đối với học sinh tiếp thu chậm đã được các giáo viên thực hiện nhưng ở mức độ rất hạn chế, 80% ý kiến giáo viên đánh giá thường xuyên khá thường xuyên chú ý quan tâm, song chỉ có 61% ý kiến học sinh tán đồng
Trong quy trình dạy học đổi mới hiện nay, việc chuẩn bị tốt kế hoạch và có những hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ngay sau bài học, tiết học có một ý nghĩa sư phạm hết sức quan trọng Tuy nhiên cũng chỉ có 70% ý kiến giáo viên và 60% ý kiến học sinh đánh giá thường xuyên và khá thường xuyên thực hiện, còn 32% ý kiến học sinh cho rằng giáo viên đôi khi mới thực hiện và có tới 8%
ý kiến học sinh đánh giá giáo viên chưa bao giờ thực hiện điều này